ĂN ĐƯỢC THÌ ĂN, TỘI GÌ KHÔNG ĂN !

Image may contain: 1 person, standing and suit

Ngô Thị Thứ

Nguyen Ngoc Duc

ĂN ĐƯỢC THÌ ĂN, TỘI GÌ KHÔNG ĂN !

Câu nói trên quá đúng cho hiện trạng nước ta ! Đúng một cách đau đớn, xót xa.

Trong khi người nghèo xếp hàng cả cây số, chờ cả ngày để có vài ký gạo ăn trong mùa dịch bệnh, thì có kẻ ăn cả hàng tỷ đồng ngon ơ, không cần chờ đợi, xếp hàng. Vụ “ăn” thiết bị y tế chống dịch tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Hà Nội có thể nói là một tội ác !

Mặc dù hàng loạt tổng giám đốc, giám đốc, trưởng phòng, cán bộ… liên quan đến vụ này đã bị bắt. Nhưng câu hỏi là đã hết chưa những đường dây tội ác như vậy ? Vì Vụ “ăn” này không thể một mình ông giám đốc CDC Nguyễn Nhật Cảm làm được, mà là cả một đường dây, từ tài chính-kế toán, đến công ty vật tư và bộ phận định giá. Vì làm sao một hệ thống xét nghiệm coronavirus giá thị trường chưa tới 4 tỷ, nhưng trung tâm Kiểm soát bệnh tật này có thể mua hơn 7 tỷ ?

Trong mấy tháng qua, để đối phó nhanh với dịch Covid-19, nhà cầm quyền cho phép các cơ sở y tế chỉ định thầu, thay vì đấu thầu, để mua các trang thiết bị, hóa chất, vật tư y tế. Thế là các cơ sở y tế này đã lợi dụng để thiết lập các đường dây nâng giá lên gấp đôi, cho đúng với lề thói nước ta “ăn được thì ăn, tội gì không ăn”.

Đường dây “ăn” thiết bị y tế chống dịch ở CDC Hà Nội không phải là duy nhất. Chắc chắn còn nhiều đường dây khác. Virus corona không có khả năng lây nhiễm ở Việt Nam. Vì nó đã bị một con virus khác khống chế. Đó là virus tham nhũng và hủ hóa. Con virus này đã lây nhiễm cả guồng máy cai trị, ổ dịch lớn nhất là đảng cộng sản Việt Nam (CSVN).

Cách đây mấy hôm, tôi vừa đọc vừa cười muốn té. Báo chí loan tin một cách long trọng là Tổng cục Thuế vừa ban hành văn bản số 1199 bắt buộc toàn thể cán bộ làm cho ngành thuế phải làm “giấy cam kết không tham nhũng”. Hình như các ông bộ trưởng Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn cũng đã từng làm giấy cam kết như vậy.

Hiện nay ông Phạm Văn Đồng đang được dư luận đề cập đến, vì ông là người ký công hàm bán nước năm 1958. Tôi nhớ cuối đời của ông, khi trung ương đảng CSVN muốn phát động một chiến dịch tận diệt tham nhũng trong guồng máy đảng và chính quyền, ông Đồng nói “Nhà đã dột từ nóc dột xuống. Nay Đảng muốn tận diệt tham nhũng, thì chỉ có cách tự cắt cổ mình mà thôi”. Tiếc rằng tôi không lưu và không tìm lại được nguồn báo chí về lời tuyên bố này. Nhưng vì bị ấn tượng bởi lời tuyên bố đó, nên tôi vẫn lưu lại trong trí nhớ.

Ông Phạm Văn Đồng có nói như vậy hay không, không quan trọng. Vì thật sự nạn tham nhũng ở nước ta đúng là “Nhà đã dột từ nóc dột xuống”. Ông Nguyễn Phú Trong muốn “đốt lò chống tham nhũng”, thì chắc phải đốt cả guồng máy cai trị hiện nay, thì may ra, Việt Nam mới hết tham nhũng.

https://www.facebook.com/100000298997773/posts/3231433286876606/

BILL GATES DÍNH ĐÒN HỒI MÃ THƯƠNG CỦA TÀU CỘNG

Thuc Tran
 Nhân Tommy Lê

BILL GATES DÍNH ĐÒN HỒI MÃ THƯƠNG CỦA TÀU CỘNG

Bill Gates bị dính phản đòn hồi mã thương của chính đồng đảng.
Trung cộng dựa vào sự ủng hộ WHO nhiệt tình cùng sự chống đối Tổng thống Donald TRUMP ra mặt của Bill Gates. Trung cộng liền đổ vấy tội cho Bill Gates chính là thủ phạm sản xuất ra virus Corona để chạy tội trước làn sóng lên án của thế giới.

Giờ hối cũng ko kịp nữa rồi BIll Gates à…cả đời làm lụng vất vả, giờ ngậm ngùi cho cái ngu ngục khi dang díu với loài quỷ đỏ tàn bạo.
Cố gắng mà đổ sạch rổ vỏ ốc này nha ông Bill Gates.

Năm 2017, Bill Gates được kết nạp làm thành viên trọn đời của Học viện Kỹ thuật Trung Quốc (CAE), một trong những vinh dự cao quý nhứt ở nước này, nhờ dự án hợp tác hạt nhân nói trên. Nên biết, CAE – trực thuộc Hội đồng Nhà nước, cơ quan quản lý hàng đầu của Trung Quốc – đóng vai trò tư vấn cho chánh quyền Bắc Kinh về phát triển kinh tế và xã hội, và các thành viên của nó phải trải qua quá trình kiểm tra lý lịch chánh trị nghiêm ngặt mới được kết nạp.

Năm 2019, tờ Financial Times đưa tin các chuyên gia của Microsoft đang hợp tác với các nhóm nghiên cứu của Đại học Kỹ nghệ Quốc phòng Trung Quốc, cùng làm việc trong các dự án trí tuệ nhân tạo, mà giới quan sát độc lập cảnh báo là nó có thể được chế độ cầm quyền Bắc Kinh áp dụng cho việc giám sát và cai trị công dân nước này.

Với một lịch sử thân Trung cộng như vậy, dễ hiểu vì sao trong đại dịch lần này, Bill Gates hết lòng ủng hộ Bắc Kinh và WHO, cơ quan ngôn luận của Trung Quốc, chấp nhận tuyên truyền giả dối và cổ xúy một tư tưởng bịnh hoạn rằng chế độ cầm quyền Trung Quốc là hình mẫu chống dịch và đối tác tin cậy toàn cầu!

Nhưng trước sự lên án của thế giới về nguồn gốc và mục đích của con Cúm Tàu. Tàu cộng đã đổ lỗi vấy tội cho Mỹ, cho Ý không được nay vấy tội cho Bill Gates chính là thủ phạm sản xuất ra virus Corona để chạy tội trước làn sóng lên án của thế giới…

Quốc Nguyên

Image may contain: 1 person, text

TÌNH YÊU THỜI COVID-19

TÌNH YÊU THỜI COVID-19

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Năm 1985, văn hào được giải Nobel, Gabriel Garcia Marquez đã viết quyển sách có tên Tình yêu thời Thổ Tả (Love in the Time of Cholera).  Ông kể câu chuyện đầy màu sắc về tình yêu có thể sinh sôi, bất chấp nạn dịch.

Vậy mà thứ đang bủa vây thế giới chúng ta bây giờ không phải là dịch tả mà là dịch coronavirus, Covid-19.  Trong cả cuộc đời của tôi, tôi chưa bao giờ thấy thế giới bị tác động đến tận căn như bởi con vi-rút này.  Nhiều nước đóng trọn cửa, trường học đóng cửa, học sinh về nhà học trực tuyến, chúng ta không còn muốn ra khỏi nhà, không còn muốn mời ai về nhà, và chúng ta xin đừng ai đụng đến mình, và thực hành “cách ly xã hội.”  Bình thường, thời gian ngừng lại.  Chúng ta ở trong một mùa, mà không có thế hệ nào, có thể kể từ nạn dịch năm 1918, từng trải qua.  Hơn nữa, chúng ta chưa biết được khi nào sẽ chấm dứt tình trạng này.  Không ai, kể cả các nhà lãnh đạo, các bác sĩ cũng không có được chiến lược để thoát ra khỏi tình trạng này.  Không ai biết khi nào và cách nào nạn dịch này sẽ chấm dứt.  Tuy nhiên như những người lên con tàu Nô-ê, chúng ta bị nhốt lại và không biết khi nào nước sẽ rút xuống để sống cuộc sống bình thường.

Làm thế nào sống trong giai đoạn lạ thường này?

Vậy mà tôi đã có chỉ dẫn riêng về chuyện này cách đây 9 năm.  Mùa hè năm 2011, bác sĩ cho biết tôi bị ung thư ruột già, tôi phải mổ để cắt bỏ bướu, rồi trải qua hai mươi bốn tuần hóa trị.  Dĩ nhiên tôi hãi sợ khi đứng trước sự hoang mang không biết hóa trị sẽ tác động như thế nào trên cơ thể.  Hơn nữa tôi mất kiên nhẫn khi trong hai mươi bốn tuần là sáu tháng, thời gian tôi phải trải qua mùa “bất thường” này.  Tôi muốn chấm dứt nhanh cho rồi.  Vì thế, tôi đối diện nó giống như đối diện với hầu hết các thất bại khác trong cuộc sống của tôi, tôi có thái độ khắc kỷ: “Mình sẽ vượt qua nó!  Mình sẽ chịu đựng được!”

Tôi giữ những gì có thể được gọi là nhật ký, chỉ đơn thuần ghi lại những gì tôi làm mỗi ngày, ai và những gì tôi gặp trong ngày.  Và thế là tôi anh hùng bắt đầu buổi hóa trị đầu tiên, tôi đánh dấu các ngày này trong nhật ký Daybook của tôi: Ngày Một, rồi Ngày Hai…  Tôi làm con tính và tôi biết phải cần168 ngày để kết thúc mười hai liều hóa trị, liều này cách liều kia hai tuần.  Cứ như thế tiếp tục trong vòng bảy mươi ngày đầu tiên, tôi kiểm con số mỗi ngày, cố giữ cuộc sống và hơi thở để chờ ngày tôi có thể viết Ngày 168.

Rồi một ngày giữa chặng đường hai mươi bốn tuần, tôi có một thức tỉnh.  Tôi không biết chính xác điều gì nảy sinh, một ơn từ trên cao, một cử chỉ tình bạn của ai đó, một cảm giác mặt trời trên cơ thể tôi, một cảm giác tuyệt vời của một loại nước uống mát lạnh, có thể là tất cả những chuyện này, nhưng khi thức dậy, tôi nhận ra tôi đã để cuộc đời treo lơ lửng, tôi không thật sự sống, tôi sống chỉ để chịu đựng mỗi ngày, để kiểm và để cuối cùng đạt đến cái ngày thứ 168, ngày tôi có thể bắt đầu sống trở lại.  Tôi nhận ra tôi đã lãng phí một nửa mùa cuộc đời mình.  Hơn nữa, tôi nhận ra những gì tôi đã sống đôi khi còn phong phú hơn nhờ tác động của hóa trị trong cuộc đời tôi.  Thế là tôi được lên tinh thần một cách đáng kể, dù hóa trị tiếp tục hành hạ nặng trên cơ thể tôi.

Tôi bắt đầu chào đón mỗi ngày với sự tươi mát, phong phú với những gì cuộc sống mang lại cho tôi.  Bây giờ tôi nghĩ lại, tôi xem ba tháng cuối (trước ngày 168) như một trong ba quãng thời gian phong phú nhất đời tôi.  Tôi kết với một số bạn cho cả đời, tôi học một vài bài học kiên nhẫn mà tôi cố bám vào và nhất là tôi học các bài học từ lâu tôi đã học về lòng biết ơn, sự mến chuộng, sức khỏe, tình bạn, công việc, những thứ mình không được xem mỗi khi có là có mãi mãi.  Đó là niềm vui đặc biệt tìm lại đời sống bình thường sau khi đã sống 168 ngày “xa-bát”; nhưng những ngày “xa-bát” này cũng thật đặc biệt dù nó đặc biệt theo một cách khác.

Con coronavirus đã bắt chúng ta nghỉ xa-bát và bắt những người bị nhiễm phải theo một loại hóa trị riêng của nó.  Và nguy hiểm là chúng ta ngưng sống khi qua giai đoạn lạ thường này, chúng ta chịu đựng với những gì xảy ra trong mùa không mời mà đến này.

Đúng, sẽ có thất vọng, sẽ có đau đớn khi sống trong cảnh này, nhưng điều này không phải là không tương hợp với hạnh phúc.  Bác sĩ tác giả Paul Tournier (1898-1986) đã mất vợ, đã chịu cảnh tang chế sâu đậm, sau đó ông hòa nhập nỗi đau đớn này vào đời sống mới, ông mới viết được những hàng chữ sau: “Tôi thực sự nói tôi rất đau buồn và tôi là một người đàn ông hạnh phúc.”  Những chữ đáng suy gẫm để chúng ta chiến đấu chống con coronavirus này.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Nguồn:  http://ronrolheiser.com/tinh-yeu-thoi-covid-19/#.Xp6AiMhKguU

https://www.abccolumbia.com/2020/03/25/students-make-virtual-orchestra-and-sing-what-the-world-needs-now-is-love/

From: Langthangchieutim

ĐỂ LÒNG BÌNH AN GIỮA ĐẠI DỊCH BỆNH

ĐỂ LÒNG BÌNH AN GIỮA ĐẠI DỊCH BỆNH

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Con người luôn có tính xã hội và thường bị ảnh hưởng của đám đông.  Đó là điều rất tự nhiên mà chúng ta thấy khi đại dịch xuất hiện, ngày càng có nhiều người hoang mang.  Nhất là khi gia đình có người là nạn nhân của con virus này, sự buồn bã và lo âu chắc tăng lên gấp bội.  Làm sao để cho tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến là điều không dễ chút nào.  Ai cũng thuộc lòng câu: “Dù ai nói ngả nói nghiêng… lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”, nhưng mấy ai làm được?

Chắc hẳn ai cũng có cách để thích nghi với dịch bệnh.  Khi ở nhà, mỗi người đã có những sáng kiến để giữ cho bầu không khí gia đình được bình an.  Dù virus có đảo lộn mọi thứ, tác động khủng khiếp đến mọi khía cạnh của đời sống, nhưng ai cũng trấn an để mong cùng nhau vượt qua thách đố này trong an bình.  Đó là khao khát muôn thuở của con người.  Không chỉ trong đại dịch lần này, nhưng mọi bôn ba của kiếp người chẳng phải để tìm được bình an đó sao?

Chắc ai cũng hiểu bình an là sự yên ổn, êm đềm của cuộc sống.  Ở đó không có hận thù, sợ hãi và hoang mang.  Bình an trong tiếng Do Thái còn có nghĩa là an lạc, hạnh phúc.  Người Do Thái thường chào nhau với hai chữ: Bình an (Sa–lom).  Chào như thế vì họ không chỉ thể hiện tương quan với nhau, nhưng quan trọng hơn, họ có chung một Thiên Chúa là nguồn bình an cho con người.

Chúng ta thấy khung cảnh lúc Đức Giêsu chết cũng không khác nhiều bối cảnh lúc này.  Các môn đệ hoang mang cực độ.  Nơi các ông ở lúc đó đều cửa đóng then cài.  Phần vì các ông buồn bã trước cảnh tượng người ta giết thầy Giêsu, phần vì sợ người ta có thể ám hại cả các ông nữa.  Tính mạng của các ông không mấy an toàn lúc này, nếu ở những nơi công cộng.  Các ông buộc phải cách ly trong hoang mang!  Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu Phục Sinh đã hiện ra với các ông.

Chúng ta sẽ ngạc nhiên với câu nói đầu tiên của Đức Giêsu: “Bình an cho anh em!” (Ga 20,19).  Đó không chỉ là lời chào thăm, nhưng còn là nguồn động viên, “xốc” lại tinh thần của các ông.  Đức Giêsu biết lúc này các ông thực sự cần bình an.  Dù ngoại cảnh có nhiều nguy hiểm, nhưng một khi tâm hồn được bình an, người ta có thể đón nhận được mọi thứ trong thanh thản.  Kết quả là các ông đã mở toang cửa để loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho toàn dân.  Các ông đến nơi đâu, cũng nói về câu chuyện Đức Giêsu đã chết và nay đã sống lại.  Chính Tin Mừng ấy trao rất nhiều bình an cho thính giả thời bấy giờ.  Bởi thế mà Giáo Hội sơ khai tuy chịu nhiều bách bớ, nhưng người con của Chúa luôn cảm thấy bình an để làm chứng cho Tin Mừng này.

Thật đẹp khi trong cảnh khốn cùng, rất nhiều người thốt lên với Đức Giêsu Phục Sinh: “Lạy Chúa xin ban bình an cho chúng con và toàn thế giới.”  Thiên Chúa là nguồn của mọi bình an (Ep 2,14).  Bình an của Thiên Chúa không như thế gian ban tặng.  Đó là bình an của tâm hồn, của niềm vui nội tâm và của tình yêu giữa thụ tạo với Đấng Tạo Thành.  Đó là quà tặng của Thiên Chúa cho những ai đặt niềm tin nơi Ngài.  Nói cách khác, Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta được một niềm vui sâu xa, một sự bình an bên trong và tự do.  Đừng quên bình an nội tâm là nền tảng của sự bình an trong gia đình, trong xã hội và trên thế giới.

Chắc hẳn khi ở nhà quá lâu, sống trong cảnh dịch bệnh kéo dài, nguy cơ mất bình an là có thật.  Bởi đó, người ta dễ dàng tìm thấy nhiều lời hướng dẫn hữu ích để tạo cho mình được bình an.  Là người Công Giáo, chúng ta may mắn có Thiên Chúa luôn trao bình an cho mỗi người.  Dĩ nhiên bình an ấy không dành cho những ai lười biếng ngồi chờ sung rụng.  Thiên Chúa đòi con người cộng tác một chút, Ngài hứa sẽ ban bình an thật nhiều.  Bằng cách nào?

Trong câu hỏi trên, tôi tin ai cũng có câu trả lời cho riêng mình.  Giáo Hội mời gọi con cái mình cầu nguyện, hướng đến đời sống nội tâm nhiều hơn lúc này.  Mỗi ngày dành cho Thiên Chúa chút không gian và thời gian, để cùng với Chúa vun đắp bình an cho tâm hồn mình.  Thực ra bất kỳ ai liên kết với Thiên Chúa, người ấy đều có được bình an đích thực.  Khi có bình an, người ta sẽ biết mình nên làm gì và cần phải làm gì trong thời gian đại dịch.  Hãy để sự bình an của Chúa cư ngụ trong tâm hồn mình và để Ngài cất bỏ những lo âu phiền muộn.  “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11,28).  

Hẳn là chúng ta được an ủi trước câu hỏi này: “Trong kế hoạch, Thiên Chúa có định cho con người phải đau khổ và phải chết không?”  An ủi vì: “Thiên Chúa không muốn cho con người phải đau khổ và phải chết.  Từ khởi thủy Thiên Chúa đã muốn cho con người sống nơi Địa Đàng, được sống mãi mãi, bình an giữa Thiên Chúa, mọi người, và vạn vật chung quanh.  Bình an giữa nam và nữ.” (Youcat số 66).  Tiếc là khi rời Vườn Địa Đàng, người ta luôn có nguy cơ mất sự bình an này.

Với chủ đề trên đây, hy vọng mỗi người nhắc mình cần bình an lúc này.  Thực tế là nhiều người quên mất mình đang sống trong bất an.  Cảm giác ấy khó chịu vô cùng!  Hãy dừng lại đôi chút để đọc xem điều gì đang diễn ra trong tâm hồn mình lúc này?  Những nhà thiêng liêng chỉ cho chúng ta cách để tìm lại được bình an: “Hãy giữ tâm hồn bạn bình an.  Hãy để Thiên Chúa hành động trong bạn.  Hãy đón nhận mọi tư tưởng nâng tâm hồn bạn lên tới Chúa.  Hãy mở rộng cửa tâm hồn bạn.” (Thánh Inhaxiô Loyola).  Nếu bạn đang thực sự bình an, hãy tạ ơn Chúa và tiếp tục vui sống với hồng ân của Chúa. Nếu lòng bạn đang biến động giữa xáo trộn vì Covid–19, thử áp dụng vài phương cách như thế cùng với Chúa xem sao?  

Chúng ta cùng cầu chúc cho nhau để mỗi người đón nhận được lời chúc lành của Chúa Phục Sinh: Bình an cho anh em!  Hy vọng bình an nội tâm sẽ là sức mạnh để mỗi người, cùng với Chúa và với nhau, vượt qua những khó khăn, bức xúc và phức tạp của hoàn cảnh hiện tại.  Mong thay!!!

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Nguồn: https://dongten.net/2020/04/17/de-long-binh-an-giua-dai-dich-benh/

5 câu châm ngôn từ Cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh có thể giúp bạn vượt qua đại dịch coronavirus

VIETCATHOLIC.NET
Cha Thánh Piô là một nhân vật đầy ấn tượng rồi, nhưng ngài có một mối… 

Nguyên bản tiếng Anh: These 5 Maxims from Padre Pio Will Help You Get Through Coronavirus – Laura Dittus, National Catholic Register.

5 câu châm ngôn này có thể được tóm tắt bằng câu nói được Cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh lặp đi lặp lại: “Hãy cầu nguyện, hy vọng và đừng lo lắng”

Laura Dittus

 Đặng Tự Do

Đầu năm nay, tôi đã tìm đọc một số sách tiếng Tây Ban Nha để cải thiện các kỹ năng ngôn ngữ và nghĩ rằng sẽ tốt hơn khi đọc một tiểu sử truyền cảm hứng. Tôi thực không ngờ Chúa đã quan phòng cách kỳ diệu cho tôi, để tôi chọn một cuốn sách nói về Cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh thành Pietrelcina.

Cha Thánh Piô không chỉ là một vị thánh được mang Năm Dấu Thánh Chúa, nhưng còn đặc biệt hơn là ngài còn có khả năng xuất hiện ở cả hai nơi cùng một lúc. Ngài có các đặc sủng khi giải tội và trong nhiều trường hợp khác nữa. Tuy nhiên, có một điều không mấy khi được nhắc đến, nhưng có tính chất thời sự đối với chúng ta trong giai đoạn này, là ngài đã từng sống qua đại dịch cúm Tây Ban Nha kinh hoàng, một đại dịch tàn khốc xảy ra vào đầu thế kỷ 20. Thật là an ủi trong thời đại hiện nay khi có những vị thánh đã sống qua thời kỳ dịch bệnh này để chúng ta chạy đến nhờ các ngài cầu thay nguyện giúp, đồng thời học hỏi từ những vị thánh ấy những câu nói truyền cảm hứng và những tấm gương về một cuộc sống đạo đức. Cha Thánh Piô là một trong những vị này này.

Cha Thánh Piô là một nhân vật đầy ấn tượng rồi, nhưng ngài có một mối quan hệ đặc biệt với thời điểm đại dịch này vì chính ngài đã nhiễm virus H1N1 là con virus đã gây ra đại dịch Cúm Tây Ban Nha, kéo dài từ tháng Giêng 1918 đến tháng 12, 1920, lây nhiễm 500 triệu người, tức là 1 phần 3 dân số thế giới vào thời đó, và giết chết ít nhất 17 triệu người, có các tài liệu còn cho rằng có đến 50 triệu trường hợp tử vong. Ngài đã nhiễm virus H1N1 sau khi có Năm Dấu Thánh Chúa trên người không bao lâu. Một vài vị thánh đã nhiễm virus H1N1 và đã chết vì con virus đó như hai thánh Francisco và Jacinta Marto, là hai trong ba trẻ đã được thấy Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. Cha Piô bị nhiễm virus nhưng đã hồi phục và tiếp tục sống một cuộc đời linh mục đầy hoa trái và hương thơm thánh thiện sau giai đoạn đó của cuộc đời.

Sau khi tìm hiểu một chút về cuộc sống của Cha Piô, tôi muốn tìm hiểu sâu hơn một chút về các tác phẩm của ngài. Khi đọc các bài viết của Cha Piô, tôi tình cờ gặp một số câu thật khôn ngoan, thật đáng khích lệ trong ánh sáng của những gì đang xảy ra trong thế giới của chúng ta ngày hôm nay, mặc dù tôi đã đọc những lời ấy vài tháng trước khi “social distance”, hay “khoảng cách xã hội”, trở nên một cụm từ thông dụng tại Mỹ. Một trong những trích đoạn trong những lá thư của Cha Piô mà tôi đọc lại vào tháng Hai năm nay được viết vào năm 1917 cho một trong những cô con gái tinh thần của ngài, là cô Antonietta Vona. Trong bức thư đó, ngài viết như sau:

Đừng lo sợ về bất kỳ tác hại nào trong tương lai có thể xảy ra với con trên thế giới này, bởi vì có lẽ điều đó có thể sẽ không xảy ra với con, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào nếu nó đến với con, Chúa sẽ cho con sức mạnh để chịu đựng nó… Nếu Chúa để con phải trải qua vùng nước đầy bão tố của nghịch cảnh, đừng nghi ngờ, đừng sợ hãi. Chúa luôn bên cạnh con. Hãy có can đảm và con sẽ được bình an. (Thư III, trang 833)

Đoạn văn này đưa ra cho chúng ta nhiều ủi an. Chúng ta được khuyên đừng “sợ hãi trước bất kỳ tác hại nào trong tương lai” vì nó có thể không bao giờ xảy ra. Chúng ta cũng được khuyên “hãy có can đảm”. Ở đây, ta nhớ rằng những lời mà Cha Piô viết là vào năm 1917, có thể không liên quan gì đến đại dịch sẽ xảy ra sau này ở Ý, từ 1918 đến 1919, nhưng được đưa ra trước sự kiện đó và vì thế chắc chắn đã an ủi cô con gái tinh thần của ngài khi trận dịch xảy ra.

Trong cùng một bức thư, Cha Piô cũng đưa ra cho Antonietta một số cụm từ nhất định để in sâu vào tâm hồn cô: “Đây là điều cha cảm thấy phải nói với con hôm nay trong Chúa: Để có thể sống một cuộc đời đạo đức liên tục, con hãy ghi nhớ một số câu châm ngôn xuất sắc và mạnh mẽ này trong tâm hồn con.” (Thư III, tr. 830)

Năm câu châm ngôn mà Cha Piô dành cho cô trong bức thư này là:

“Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” (Rôma 8:28)

“Thiên Chúa là Cha chúng ta”

“Các con có thiếu thốn gì không?” (Luca 22:35)

“Đời đời”

“Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gal 6:14)

Những câu châm ngôn này tốt cho bất kỳ dịp nào, nhưng ta có thể thấy giá trị đặc biệt của những châm ngôn ấy khi phải sống trong tình huống đại dịch này. Sự thật rằng “Thiên Chúa là Cha chúng ta” mang lại niềm an ủi rằng chúng ta luôn ở dưới sự chăm sóc quan phòng của Ngài, được yêu thương và bảo vệ, và rằng, ngay cả nếu chúng ta phải kinh qua những tình huống khó khăn, Chúa luôn ở với chúng ta.

Tôi thấy các châm ngôn trên thật là hữu ích vào thời điểm này, thêm vào đó tôi cũng muốn nhắc đến một cụm từ thường được Cha Piô lặp đi lặp lại: “Hãy cầu nguyện, hy vọng, và đừng lo lắng.” Những lời này có thể đóng vai trò như một phương châm nổi bật cho thời gian này, và thật sự đối với bất kỳ thời điểm nào trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta luôn được kêu gọi để cầu nguyện, để tin tưởng vào Chúa, và đừng đầu hàng trước những lo lắng của chúng tôi.

Xin Cha Piô cầu thay nguyện giúp cho chúng ta, và cho chúng ta nhận ra đang được sống khoảnh khắc hiện tại trong sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa. Xin cho chúng ta có thể nghe vang vọng những lời này của ngài – “Quá khứ của con, lạy Chúa, xin dâng lên lòng thương xót Chúa; hiện tại của con, xin phó dâng cho tình yêu Chúa; và tương lai con, xin tín thác nơi sự quan phòng của Người” – và hãy lấy những lời này làm những lời cầu nguyện của chúng ta, và phó thác cho sự bảo vệ của Cha chúng ta ở trên trời, cùng với sự cầu bầu của Mẹ Thiên Chúa.

Source:National Catholic Register These 5 Maxims from Padre Pio Will Help You Get Through Coronavirus

Mỹ hôm 20/4 kêu gọi Trung Quốc cho phép luật sư nhân quyền nổi tiếng của nước này, Vương Toàn Chương (Wang Quanzhang), người được cho là đã được thả sau 5 năm bị giam giữ bất công, được đi lại tự do, theo một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

“Chúng tôi vẫn rất quan ngại trước các báo cáo về sức khỏe thể chất và tinh thần đang suy giảm của ông ấy, và về việc ông ấy bị ngược đãi trong tù,” Bộ Ngoại giao Mỹ nói trong tuyên bố, và cho biết thêm rằng họ tiếp tục kêu gọi Bắc Kinh trả tự do cho “tất cả những ai đang bị giam giữ bất công,” cũng như nói rằng Washington vẫn còn lo ngại bởi “luật pháp yếu kém, giam giữ tùy tiện và tra tấn trong khi giam giữ” của Trung Quốc.

Một tòa án Trung Quốc vào tháng 1/2019 đã kết án tù luật sư nhân quyền nổi tiếng này với mức án 4 năm rưỡi vì tội lật đổ chính quyền nhà nước, sau khi ông bị xét xử một tháng trước đó trong một phiên toà mà các nhóm nhân quyền gọi là giả mạo.

Ông Vương, người đã biện hộ cho các trường hợp mà các giới chức Trung Quốc coi là nhạy cảm – chẳng hạn như cáo buộc tra tấn cảnh sát, đã mất tích vào tháng 8/2015 trong một cuộc đàn áp của chính quyền để càn quét các nhà hoạt động và luật sư nhân quyền.

Căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh leo thang trong tháng qua vì đại dịch virus corona, bắt nguồn từ Trung Quốc vào cuối năm ngoái và kể từ đó đã lây nhiễm hơn 2,3 triệu người trên toàn cầu.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã nhiều lần cáo buộc Trung Quốc tìm cách che đậy sự lây lan của dịch bệnh trong những ngày trọng yếu đầu tiên và không chia sẻ dữ liệu chính xác về quy mô của các ca nhiễm.

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link voaviet2019.com hoặc vn3000.info để vượt tường lửa)

 
About this website

VOATIENGVIET.COM

Mỹ kêu gọi Bắc Kinh cho phép luật sư nhân quyền Trung Quốc được tự do đi lại

Mỹ kêu gọi Trung Quốc cho phép luật sư nhân quyền nổi tiếng của nước này, Vương Toàn Chương (Wang Quanzhang), người được cho là đã được thả sau 5 năm bị giam giữ bất công, được đi lại tự do

4 nhân vật dân sự xuất sắc của Việt Nam Cộng Hòa có thể bạn chưa biết

 

4 nhân vật dân sự xuất sắc của Việt Nam Cộng Hòa có thể bạn chưa biết

 
Đồ họa: Luật Khoa.

Đồ họa: Luật Khoa.

Thật vậy, ngay sau cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm năm 1963, hầu hết những cái tên đáng kể trên chính trường miền Nam Việt Nam đều có xuất thân nhà binh. Từ Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh cho đến Trần Thiện Khiêm, Lê Minh Đảo hay Nguyễn Khánh.

Việc tập trung vào những nhân vật này làm cho bức tranh về chính trị Việt Nam Cộng hòa có phần không hoàn chỉnh. Nhấn mạnh quá nhiều vào các nhóm quân sự kiểm soát chính quyền khiến góc nhìn về chính thể và môi trường chính trị của nền cộng hòa miền Nam Việt Nam có phần không lành mạnh, dễ bị bóp méo. Từ đó, bài viết, tư liệu dành cho các lãnh đạo dân sự thật sự của Việt Nam Cộng hòa cũng không còn bao nhiêu. 

Dưới đây là bốn cái tên bạn có thể cân nhắc cho các đối thoại chính trị mới mẻ hơn về Việt Nam Cộng hòa.  

Giáo sư Nguyễn Văn Bông 

Nguyễn Văn Bông từng là một cái tên đầy triển vọng của chính trường miền Nam. Ông không được mấy ai ngày nay ở Việt Nam biết đến. Nếu không có một bài báo chính thống trên tờ Dân Việt phát hành hồi năm 2011 kể về chuyện biệt động thành đã ám sát ông vào năm 1971 thì có lẽ càng ít người biết đến ông hơn nữa.

Sinh năm 1929 tại Gò Công, Tiền Giang trong một gia đình thị dân nghèo, Nguyễn Văn Bông khác biệt với hầu hết các chính trị gia có tiếng của Việt Nam Cộng hòa, vốn đều xuất thân từ các gia đình danh thế, không tư bản thì cũng đại điền chủ. Thông tin về đời tư và tuổi trẻ của Nguyễn Văn Bông hiện nay rất hiếm, và đa phần chỉ còn có thể tìm thấy trong quyển hồi ký “Autumn Cloud: Vietnam War Widow to American Activist”. Quyển này do chính bà Lê Thị Thu Vân, vợ của ông Bông viết, nên có thể xem là một văn bản đáng tham khảo.

Ông bà Giáo sư Nguyễn Văn Bông và các con - Sài Gòn 1964. Ảnh: VOA/Chưa rõ nguồn.
Ông bà Giáo sư Nguyễn Văn Bông và các con – Sài Gòn 1964. Ảnh: VOA/Chưa rõ nguồn.

Nguyễn Văn Bông tốt nghiệp loại ưu cấp cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ tại trường đại học danh tiếng của Pháp Sorbonne Université, chuyên ngành công pháp và sau đó là luật học. Ông trở về Việt Nam vào đầu năm 1963 và trước tiên tham gia vào hoạt động giảng dạy tại Học viện Quốc gia Hành chánh, trung tâm đào tạo nhân viên công quyền cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trong quá trình giảng dạy, tầm nhìn của ông thu hút được đông đảo sự ủng hộ của sinh viên, và trở thành nền tảng cho các hoạt động chính trị của ông sau này. 

Cuối năm 1963, chính quyền hậu Ngô Đình Diệm quyết định bổ nhiệm ông làm Viện trưởng Học viện này. 

Đến năm 1968, khi cả miền Nam Việt Nam chuẩn bị cho đợt tổng tuyển cử đầu tiên của nền Đệ nhị Cộng hòa, Nguyễn Văn Bông thành lập Phong trào Quốc gia Cấp tiến (Progressive National Movement), với sự hậu thuẫn chính trị đông đảo từ sinh viên, công chức và giới trí thức miền Nam Việt Nam. 

Quan điểm chính trị của phong trào thì còn nhiều tranh cãi, song cũng thể hiện được tính độc lập của phong trào này. 

Một số ghi nhận ngắn như của New York Times thì cho rằng phong trào ủng hộ chính phủ đương quyền của Nguyễn Văn Thiệu, nhìn chung có thể vì Nguyễn Văn Bông có thái độ chính trị chống Cộng khá rõ ràng. Một số tài liệu khác, như trong Di cảo cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông ghi nhận lại, thì đường lối mà ông Bông đặt ra là gầy dựng một chính quyền nhân dân phổ quát và dân chủ, hạn chế và từ từ đi đến triệt tiêu chính quyền quân quản đang tồn tại ở miền Nam Việt Nam. Vậy nên cũng có thể xếp phong trào vào nhóm đối lập. 

GS Nguyễn Văn Bông (phía trước) GS Nguyễn Văn Tương,(bên phải) và GS Tạ Văn Tài đên trao bằng Tiến sĩ cho một sinh viên Trường Luật. Ảnh: VOA/Chưa rõ nguồn.

Dù không trực tiếp tham gia tranh cử năm 1968 – 1969, Phong trào Quốc gia Cấp tiến phát triển mạnh mẽ và trở thành một thế lực chính trị đáng nể. Đây là lần đầu tiên một phe nhóm chính trị có ảnh hưởng tại miền Nam Việt Nam không lệ thuộc quá nhiều vào tôn giáo, vùng miền hay là di sản kế thừa từ các chính đảng già cỗi từ thời kháng Pháp. 

Thành công của phong trào khiến sau đó Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mời Nguyễn Văn Bông làm thủ tướng cho nội các mới. Tại thời điểm này, sau khi thực hiện thành công chính sách “Người cày có ruộng”, Nguyễn Văn Thiệu đang mong muốn mở rộng nền tảng hậu thuẫn và tính chính danh cho chính quyền mới, dần dần dân sự hóa và ổn định môi trường chính trị Việt Nam Cộng hòa. 

Đây cũng là lý do Việt Cộng ám sát ông vào cuối năm 1971, lúc ông chỉ mới 42 tuổi. 

Một số tác phẩm mà giáo sư Nguyễn Văn Bông để lại có thể kể đến tham luận “Đảng phái và Đối lập chính trị”, và đặc biệt nhất là quyển “Luật Hiến pháp và Chính trị học” – sách gối đầu giường một thời của sinh viên Học viện Quốc gia Hành chánh VNCH, hiện đã được trang Pro&Contra của nhà văn Phạm Thị Hoài số hóa

Bộ trưởng Cao Văn Thân 

Sinh năm 1934, Cao Văn Thân là Bộ trưởng Bộ Cải cách Đất đai và Phát triển Nông nghiệp dưới thời Nguyễn Văn Thiệu. Ông gần như “tàng hình” trong sử sách chiến tranh Việt Nam, một phần vì bị lấn át bởi thông tin của giới tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa, một phần vì giới cầm quyền đương đại của Đảng Cộng sản Việt Nam tránh nói về các lãnh đạo dân sự của “Ngụy quyền”. Vì lẽ này, rất khó để thu thập đầy đủ thông tin về thân thế và lịch sử hoạt động chính trị của ông.

May mắn là trong các tài liệu rải rác tìm được, chúng ta có thể thấy dấu ấn của Cao Văn Thân trong các thành công bước đầu của chính quyền dân sự miền Nam Việt Nam. Cụ thể, Cao Văn Thân thi thoảng được báo chí phương Tây nhắc đến như là kiến trúc sư trưởng của chính sách “Người cày có ruộng” (Lands to the Tillers), cùng những nỗ lực không mệt mỏi của ông trong việc thi hành thành công chính sách quan trọng này. 

Ông Cao Văn Thân. Ảnh: Amazon.

Trong nghiên cứu có tên “Âm vang Đệ nhị Cộng hòa miền Nam Việt Nam” (Voices from the Second Republic of South Vietnam) của Giáo sư K. W. Taylor thuộc Đại học Cornell – sử gia hàng đầu về Việt Nam của Hoa Kỳ, Cao Văn Thân được ghi nhận là một trong những lứa lãnh đạo đời đầu được đào tạo luật lẫn kinh tế tại Hoa Kỳ, thay thế cho nhóm “cây đa cây đề” gốc Pháp trước đó. 

Ông cũng được khen ngợi là bộ óc sáng giá nhất trong nội các của Nguyễn Văn Thiệu thời kỳ bấy giờ. Hệ thống nhân sự, chương trình đào tạo và tiến trình thực hiện “Người cày có ruộng” là do ông chuẩn bị và soạn thảo trong gần nửa năm. Các chương trình phát triển như tăng cường xuất khẩu nông sản, bảo vệ an ninh lương thực, thử nghiệm giống lúa mới cũng như mô hình sản xuất 5 năm… đều do ông đề xướng và chịu trách nhiệm

Không phải là một nhà nghiên cứu, nhưng ông Thân có để lại quyển Agrarian reform in Vietnam, được xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội đồng Đối ngoại Việt Nam Cộng hòa. Hiện quyển này còn có thể được tìm thấy trong Thư viện Quốc gia Australia. 

Theo thông tin hồi năm 2016 từ đài VOA, Bộ trưởng Cao Văn Thân sinh sống cùng gia đình tại Canada. Tuy vậy, gần đây báo Người Việt ở Mỹ có đăng một số cáo phó nói rằng ông qua đời ngày 14/4/2020 ở Montreal, Canada.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy

Nguyễn Ngọc Huy là một nhân vật chính trị gốc gác dân sự khác bị bỏ quên trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Ông là bạn đồng chí với giáo sư Nguyễn Văn Bông từ lúc là sinh viên học tập tại Pháp, và cũng là tác giả của quyển Di cảo cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông.

Có thể gọi ông Nguyễn Ngọc Huy là một nhà nghiên cứu đi làm chính trị, do khối lượng bài viết và các công trình nghiên cứu đồ sộ của ông. Đáng tiếc là hầu hết chúng đều rơi vào lãng quên. 

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (giữa) và ông Nguyễn Cao Kỳ (phải). Ảnh: virtual-saigon.net.

Giáo sư Huy sinh năm 1924, tại Sài Gòn – Chợ Lớn, gốc ở Biên Hòa. Ông gia nhập Đảng Đại Việt Quốc dân Đảng thuộc xứ bộ Nam kỳ từ khi còn khá trẻ và tiếp tục trung thành với chính đảng này cho đến tận cuối thập niên 60, dù trải qua nhiều lần bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp và phải đi tị nạn chính trị

Sau khi lấy bằng Tiến sĩ Chính trị học ở Pháp vào năm 1963, ông trở về Việt Nam và cùng giảng dạy với GS Nguyễn Văn Bông tại Học viện Quốc gia Hành chánh, và trở thành một nhân vật lãnh đạo chủ chốt của Phong trào Quốc gia Cấp tiến. Cũng trong năm 1969, ông tự mình lập Đảng Tân Đại Việt và trở thành nhân vật chính trị đối lập với chính quyền quân quản. 

Ngoài các thành tựu chính trị mà ông gắn chung tên tuổi với GS Bông, GS Huy cũng cho thấy sức viết và khả năng đóng góp vượt trội về mặt tri thức – học thuật của mình cho phong trào dân chủ tại Việt Nam. 

GS Huy có một lượng kiến thức đáng nể về văn hóa và chính trị Trung Hoa, giúp ông có một cái nhìn đặc biệt hơn về địa chính trị, vai trò của văn hóa, chủ nghĩa dân tộc và tương lai của Việt Nam giữa hai làn đạn Chiến tranh lạnh. Một số tác phẩm của ông về Trung Quốc và văn hóa Đông phương có thể kể đến Đề tài người ưu tú trong tư tưởng chánh trị Trung quốc cổ thời, hay “Lễ trong tư tưởng chánh trị Trung Quốc cổ thời”. 

Trong quyển New Perceptions of the Vietnam War, do Tiến sĩ Nathalie Huynh Chau Nguyen làm chủ bút [Giáo sư của Trung tâm Úc học Quốc gia (National Centre for Australian Studies) của Đại học Monash, và là một trong những sử gia tiếng tăm nhất thế giới về chiến tranh Việt Nam], người ta nhận định Nguyễn Ngọc Huy là một trong những chiến lược gia lớn trong lịch sử Việt Nam đương đại, dù ông không có cơ hội biến chúng thành sự thật. 

Nguyễn Ngọc Huy là chủ bút của tờ nguyệt san Cấp tiến với hàng loạt các bài viết sắc sảo về tình hình chính trị miền Nam Việt Nam. Ông cũng là tác giả của tác phẩm “Sự tồn vong của một quốc gia” (Survival of a Nation). Tác phẩm này được ca ngợi là có thể hóa giải nhiều vấn đề của chính quyền miền Nam Việt Nam, và những cuộc đảo chính chống Ngô Đình Diệm dẫn đến sự thống trị của giới tướng lĩnh trong chính trường cũng sẽ không xảy ra nếu các nguyên tắc quản trị Việt Nam đặc trưng của ông được thừa nhận. Đáng tiếc là hiện nay chưa thể tìm ra bản thảo gốc đầy đủ của tác phẩm này. 

Sau 1975, GS Huy tị nạn ở Hoa Kỳ, và tiếp tục hoạt động đấu tranh dân chủ của mình với kỳ vọng có thể trở về Việt Nam và thúc đẩy các phong trào dân chủ bên trong Việt Nam. Tuy nhiên, ông mất sớm vào năm 1990. Quyển “The tradition of human rights in China and Vietnam, do ông cùng GS Stephen B. Young chấp bút, hiện vẫn còn được lưu hành. 

Nhà báo Từ Chung 

Từ Chung là biên tập viên, là cây bút của tạp chí Chính Luận, một trong những tờ báo độc lập được đón đọc và nể trọng nhất miền Nam Việt Nam thời điểm bấy giờ. 

Cũng như Bộ trưởng Cao Văn Thân, thông tin về thân thế và lịch sử hoạt động của Từ Chung gần như là không tồn tại. Tản mạn trong một vài bài viết trên mạng, như của Hoàng Hải Thủy nói về hai tờ Ngôn luận và Chính luận, Từ Chung có được nhắc đến như là thư ký của tờ báo, từng du học tại Thụy Sĩ. Nhưng còn thông tin về thân thế của ông thì gần như không có. 

Riêng tạp chí Chính Luận thì được bàn khá chi tiết trong nghiên cứu của tác giả Tran Nu Anh có tên  South Vietnamese Identity, American Intervention, and the Newspaper Chính Luận, đăng tải trên tạp chí khoa học Journal of Vietnamese Studies của Đại học California. Được thành lập vào năm 1963, và vận hành cho đến tận khi Sài Gòn thất thủ, Chính Luận là tờ tạp chí tồn tại lâu đời nhất và là tờ báo được đọc nhiều nhất. Trong năm 1974, tạp chí phát hành được hơn 13.000 bản mỗi ngày, cao nhất trong các báo miền Nam Việt Nam. 

Một trang báo Chính luận. Ảnh: sachhiem.net.
Một trang báo Chính luận. Ảnh: sachhiem.net.

Như nghiên cứu chỉ ra, tờ Chính Luận là diễn đàn lớn nhất bàn luận về danh tính Việt Nam giữa “cơn bão” văn hóa Mỹ và tiền Mỹ. Các bài viết đặt ra những câu hỏi về danh tính người Việt, vai trò của người Mỹ, rồi cả hình ảnh và vai trò của người phụ nữ trong sự giao thoa giữa phương Đông và phương Tây.

Song đồng thời, đây cũng là tờ báo hiếm hoi dành thời gian chỉ trích những sai lầm của chính phủ Việt Nam Cộng hòa lẫn hành vi khủng bố thường trực của phe Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam (hay Việt Cộng). 

Sự trỗi dậy của tờ báo phần lớn nhờ vào tầm nhìn và chủ trương của ông Đặng Văn Sung, một dân biểu có tiếng, và hoạt động quản trị của thư ký – biên tập viên Từ Chung. 

Cuối năm 1965, sau nhiều loạt bài chỉ trích hành vi tấn công dân thường và các hoạt động quân sự không phù hợp của phe Việt Cộng, Đặng Văn Sung và Từ Chung nhận tối hậu thư của phe này: một là im lặng – hai là chết. 

Vài ngày sau khi nhận được tối hậu thư, Từ Chung thay mặt tòa soạn viết thư trả lời phe Việt Cộng đăng trên Chính Luận. Theo ghi nhận của Vietnam Information Notes do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lưu trữ, Từ Chung khẳng định rằng Chính Luận là một tờ báo trung lập và từng vạch trần tất cả sai phạm của mọi bên trong chính trường miền Nam, song duy chỉ có Việt Cộng là đưa ra kiểu đe dọa vô pháp như vậy. Ông khẳng định: Các anh có thể giết chúng tôi, nhưng tinh thần của chúng tôi sẽ còn sống mãi. 

Ngày 30 tháng 12 năm 1965, sau hai năm quản lý tờ báo, Từ Chung bị Việt Cộng (nhiều khả năng là biệt động Sài Gòn) bắn chết ngay trước cửa nhà ông bằng bốn phát đạn.

Hết chiến tranh sao phải dạy “đả đảo”, “căm thù”?

Hết chiến tranh sao phải dạy “đả đảo”, “căm thù”?

Võ Ngọc Ánh

18-4-2020

Trước chiến tranh cha thoát ly đi làm du kích. Con về vùng tản cư tìm sự an toàn, được học hành.

Từng đêm con tránh đạn cha pháo kích từ trên núi xuống, trong căn cứ ra. Cũng lại qua màn đêm cha mò về bắn giết trong vùng tản cư. Nơi những người dân đang ngày đêm bảo vệ, dạy dỗ con. Nơi con cùng gia đình đang tìm sự an toàn.

Đâu chỉ pháo kích, phá đồn, cha còn phá cầu, phá đường, phá trường, phá tất cả những gì bên này cố gắng xây dựng lên để có một cuộc sống được bình thường.

Vì vậy, nơi con ở, dân gọi hành động của những người như cha là “giặc”.

Trường con học đêm qua vừa bị cha pháo kích. Tường đổ. Mái sập. Bàn ghế gãy chỏng chơ. Nơi con vẫn nhận được bữa ăn lót dạ mỗi buổi đến trường. Con vẫn được khen, được thưởng, có bảng danh dự hằng tháng.

Cha có biết không?! Đầu tháng 3/1974, những người phe cha đã pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, tại thị trấn Cai Lậy, tỉnh Định Tường (nay là Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).

Ngôi trường đó đâu có may mắn như trường con học. Khi vụ pháo kích làm hơn 30 người chết và gấp đôi con số đó bị thương. Trong đó có nhiều bạn cùng học sinh, đồng tuổi như con cha à!

***

Khi chiến thắng, cha bắt con phải quên điều Mỹ – Ngụy dạy về tinh thần nhân văn, tự do, dân chủ và lấp vào đó bằng “khí thế cách mạng”. Cha dạy con từ nay phải biết “Đả đảo Mỹ – Ngụy”, “Đời đời căm thù”.

Cha ơi, thật không dễ “đả đảo”, “căm thù” những người, chính quyền đã từng cưu mang, giúp con tránh đạn, dạy con học, trao cho con sự an toàn, cho con không phải chịu cảnh đói.

Cha chiến thắng rồi, nhiều ngày con đến trường nhưng không phải học. Thay vào đó con phải cầm cờ đi bộ dọc theo con đường chính ở xã, ở huyện hô vang: “Đả đảo Mỹ – Ngụy”, căm thù người từng cưu mang con và tung hô đảng của cha, lãnh tụ của cha.

Cha bảo, đó là nhiệm vụ chính trị của thời đại mới – thời đại XHCN con phải làm.

Chiến thắng rồi, phe cha xây dựng lên không biết bao nhiêu tượng đài của “khí thế cách mạng” chỉa súng, vung gươm, tượng mạo hung hăng, mặt đầy sát khí… vào lòng người. Cha bảo, đó là những tượng đài giáo dục cách mạng.

Liệu con có thể trở thành người tốt bởi phải học, nuôi dưỡng sự căm thù, nhìn cảnh bạo lực qua các tượng đài mỗi khi ra đường không cha?!

Cha mở ra cái thời, dân trong làng, trong xã đi làm không phải được tính lương, hiệu suất lao động, mà tính bằng điểm, sự có mặt. Để rồi đâu chỉ có cơm độn, con còn phải tập ăn bo bo.

Con đói hơn. Quần áo con rách nhiều hơn. Cả xã hội miền Nam mọi thứ trở nên thiếu thốn hơn thời chiến tranh con sống cha à!

Con lại phải hô cho chính mình:

“Đả đảo Mỹ – Ngụy ăn gạo bao.

Hoan hô bác Hồ ăn ‘lúa điểm’.”.

Ăn ‘lúa điểm’ – “liếm đũa”, đó là thực tế phe cha mang lại.

Con hôm nay chẳng còn trẻ để xuống đường xuống đường hô “đả đảo”, “căm thù”, nhưng nhìn những bảng đỏ, bang rôn ăn mừng chiến thắng lòng con đau thắt khi dân tộc này vẫn đầy chia rẽ cha à!

Giáo sư Luc Montagnier: Virut Cúm Vũ Hán ( COVY 19) chắc chắn là nhân tạo,

Image may contain: 1 person, text that says 'Quand le mensonge prend l'ascenseur la vérité prend l'escalier. Même si elle met plus de temps, la vérité finit toujours par arriver! Prof Luc Montagnier remet en question les informations officielles du covid19 i YOUTUBE.COM Professeur Luc Montagnier : Le virus covid19 est une manipulation humaine'

 Hôm  nay cả Thế giới rung chuyển vì Giáo sư Luc Montagnier – Nhà Vi Rút học nổi tiếng hàng đầu Thế giới, được trao giải Nobel Y học năm 2008, Viện sĩ Viện Hàn Lâm Khoa Học Pháp -, nhà Khoa học thuộc Viện Pasteur Pháp, người vào năm 1983 đã cùng 2 nhà khoa học cộng sự nghiên cứu & tìm ra virut HIV gây bệnh SIDA & ông đã được trao giải Nobel Y Học năm 2008 cho công trình này- GS Montagnier vừa công bố kết quả nghiên cứu của ông là virut Cúm Vũ Hán ( COVY 19) chắc chắn là nhân tạo, do con người bằng các kỹ thuật chuyên môn tạo ra.

Ông đã tìm ra một đoạn gen của Virut HIV trong Virut COVY và ông nói việc gen virut HIV xâm nhập vào virut Covy là không thể tự nhiên mà diễn ra được, chỉ trừ khi do con người cố tình và chủ ý tạo ra

Nếu con người lén lút nghiên cứu tạo ra loại virut có khả năng hủy diệt cả bao nhiêu mạng sống trên khắp toàn cầu như thế này thì dù cho ngay cả họ ko cố tình gieo giắc nhưng do sơ xuất mà thành đại dịch như hiện nay thì nguy hiểm đến mức nào

Trước đây người ta cũng nêu ra chuyện này nhưng ko có cơ sở, chỉ là nghi vấn thôi nên ko đáng tin cậy và ko chính phủ nào thực sự có phản ứng

Còn đây là công bố kết quả nghiên cứu với đầy đủ cơ sở khoa học và bằng chứng của nhà vi rút học nổi tiếng, đã từng tìm ra virut HIV, và đã nhận giải Nobel Y học nên mang tính xác quyết rất cao ko dễ dàng phủ nhận. Không biết mọi việc sẽ tiếp diễn ra sao.

Hiện giờ Giáo sư Montagnier đang bị tấn công sức ép tứ bề, bị phản bác, chửi bới và xúc phạm, tất nhiên rồi, nhưng mình tin một nhà Khoa học và Y khoa người Pháp, người dành cả cuộc đời cho các công trình khoa học để cống hiến cho nhân loại, sẽ giữ đúng đạo Đức Khoa học và ko thoả hiệp Chính trị hay bất cứ thế lực nào, ko lùi bước trước sự tấn công của những nhà khoa học cơ hội, đố kỵ đang tìm cách phủ nhận bịt miệng ông bằng mọi giá…

Trong video này Giáo sư Montagnier nói rằng ông là nhà khoa học và ông ko đứng về phe nào hay có chủ ý nói ai là người đã tạo ra virut này với mục đích gì mà chỉ xác quyết COVY là nhân tạo.

Ông cũng nói trước ông đã từng có 1 nhóm nhà Khoa học người Ấn độ đã nghiên cứu COVY 19 và tiến rất gần đến cùng kết quả này và khi nhóm nhà Khoa học đó công bố thì đã bị sức ép bắt rút lại.

“ Tuy nhiên tôi là nhà nghiên cứu Tự do, tôi cũng từng được trao giải Nobel Y Học nên tôi không dễ bị sức ép” Giáo sư Mongtanier nói

Ông cũng nói thêm là cũng có thể do người ta muốn nghiên cứu ra một loại virut để chữa bệnh SIDA nên cấy ghép như vậy nhưng đây chỉ là 1 trong những giả thuyết có thể thôi

Ông cũng nói khi dịch COVY 19 xuất hiện thì đã có giả thuyết nó là nhân tạo và khoảng tháng 1/2020 rất nhiều nhà Khoa học đã bắt tay vào nghiên cứu và họ hầu như ko tin vào giả thuyết trên. Nhưng cho đến hiện nay thì các nhà khoa học đang nghiên cứu về con virut COVY này lại ngày càng nhiều người có xu hướng tin vào điều đó và ông tin sẽ có nhiều nghiên cứu tiếp tục khẳng định việc COVY 19 là Virut nhân tạo

Câu nói trong avatar của video: “ Sự lừa dối đi bằng thang máy còn sự thật thì leo thang bộ. Tuy cần thời gian nhưng cuối cùng thì sự thật sẽ luôn luôn đến đích”

#PrMontagnier
#Covy19humainmanipulate
https://www.youtube.com/watch…

NGƯỜI GIÀ TRONG MÙA DỊCH

        NGƯỜI GIÀ TRONG MÙA DỊCH

Có tiếng gõ cửa. Con gái mở cửa phòng tôi, ló đầu vào và nói:
– Hồi chiều con thấy má ho vài tiếng. Má bị sặc nước hay ho thật? Má có đau cổ hay khó chịu gì không?

Tôi trả lời:
– Má bị sặc nước, sức khỏe má bình thường.

– Như vậy không sao. Nếu má thấy có gì lạ, má phải nói với con liền nha. Đừng có nghĩ không sao rồi dấu. Bệnh viện hai đứa con làm việc lúc này đã nhận nhiều bệnh nhân nhiễm virus Corona rồi. Cho nên má tránh tiếp xúc và lại gần tụi con để bảo vệ an toàn cho má.

 – OK.
Tôi gật đầu và cũng không rời khỏi giường. Con gái nhẹ nhàng đóng cửa phòng. Tiếng bước chân của con đi về hướng phòng nó. Có tiếng cửa đóng và tôi nằm đó suy nghĩ vẫn vơ.

Từ ngày bệnh dịch tràn lan tới nay, tôi đã tự cách ly mình với thế giới bên ngoài. Cả mấy tháng tôi chỉ ra ngoài một lần để đi Bác Sĩ gia đình và một lần siêu âm theo định kỳ. 
Quên nữa còn một lần tôi đi chợ.

Số là trường đóng cửa, cháu ngoại phải ở nhà học online. Tin tức, video tràn lan trên mạng xã hội, nói về tình hình người dân tranh nhau mua hết đồ ở các chợ làm mình cũng nôn nao.

 Buổi sáng thứ hai cháu ở nhà chưa ngồi vào máy để học, các con đi làm cả, tôi nói với cháu chở ngoại đi chợ một bửa để “xem dân cho biết sự tình”.
Thế là cháu chở tôi đi chợ Wal Mart gần nhà. Đúng như lời đồn, những thịt tươi, thịt đông lạnh gần như hết sạch, đồ hộp, thức ăn đông lạnh cũng hết, rau quả còn nhưng không nhiều. 
Riêng giấy đi cầu và giấy lau tay đương nhiên là không có. 

Tôi mua một ít thức ăn rồi nói cháu chở ngoại qua chợ 99 Cent. Tôi nghĩ chắc ở đây cũng còn ít giấy lau tay. Tôi thật nhẹ dạ, cái kệ trống trơn. 
Thế là hai bà cháu dẫn nhau qua chợ 99. Đây là chợ của người tàu có bán thức ăn VN. Chợ cũng không còn nhiều đồ như những lần tôi đi trước. Mì ly thiên hạ cũng gom hết. 

Không có giấy, không có gạo… Nói chung những thứ cần thiết để ăn lâu dài đã hết. Thiên hạ chả ai đeo khẩu trang nhưng nói chuyện xí xô xí xào ít hơn. Mọi người như ngầm nói với nhau “Cẩn thận”.
Chiều đó, con gái đi làm về la cho tôi một trận. Nó la cũng đúng vì thương mẹ. Nó sợ tôi ra ngoài bị người khác lây bệnh thì rất nguy hiểm. 

Khi Thống Đốc Cali tuyên bố tình hình khẩn cấp, người già trên 65 tuổi không nên ra đường. Con gái tôi cười và tuyên bố “Thiết quân luật bà ngoại. Không được rời khỏi nhà trước khi có lệnh mới.” 
Xong dường như cũng thông cảm với mẹ, cháu nhìn tôi giọng trầm hẳn xuống: “Má cần gì nói với con. Con sẽ mua đem về. Ra ngoài má lớn tuổi dễ bị lây nhiễm.”

Tôi mỉm cười và đành chấp nhận hai chữ “cấm cung”. 
Bây giờ tôi mới thấy mình quan trọng trong gia đình. Nếu mà tôi bị dính Virus thì cuộc sống các con hoàn toàn đảo lộn, cơ may về lại mái nhà thân yêu này chắc hẳn khó khăn. 

Tôi đã đi gần cuối đoạn đường đời. Cũng như tôi phải chấp nhận bốn chữ: “Tuổi già sức yếu” Vì bởi sức yếu nên Virus Wuhan mới mê. Chúng mà gặp lứa tuổi  “già háp” của chúng tôi thì bám chặt như mèo thấy mỡ, như gái xuân tới thì mà gặp trai tơ.

Cũng may hai vợ chồng con tôi đều làm về thuốc trong bệnh viện, việc tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân không nhiều. 
Mặc dù cơ hội bị nhiễm bệnh không cao nhưng mấy ai biết được con virus tiềm ẩn ở ngõ ngách nào và bám theo mình lúc nào. Cho nên đối với các con, tôi cũng phải tự cô lập mình, tránh tiếp xúc nhiều với chúng.

Từ ngày ông nhà tôi mất đi, căn nhà trống vắng và thiếu tiếng cười. Tự dưng tôi cũng ít nói tếu vì không còn ai để chọc cười cho không khí vui tươi quên đi bệnh tật.  

Cháu tôi hai đứa đều học trung học và theo lớp huấn luyện Volleyball ở trường. Mỗi ngày sau giờ học là tập huấn tới chiều mới về nhà. Đôi khi có lịch đấu tại sân nhà hay ở các trường khác, xe chở về nhà trời đã tối. Ăn qua loa mấy miếng là hai đứa rúc vào phòng làm homework cho kịp mai đi học. 

Con gái, con rễ làm hai bệnh viện khác nhau, sau giờ làm cũng cần nghỉ ngơi. Phòng nào cũng đóng kín cửa. Họa hoằn lắm hai vợ chồng mới được xếp lịch cùng nghỉ một ngày, gia đình có một bữa cơm chiều sum họp, ấm cúng.

Cuộc sống thời dịch bệnh rất buồn tẻ và căng thẳng, loanh quanh ăn rồi ngủ. Trong phòng ngủ, xuống lầu, ở phòng ăn, phòng khách, lên lầu vào phòng ngủ. Cái vòng tròn nho nhỏ theo nhịp sống mỗi ngày của người già là như thế

Thường thường tôi cũng vào thế giới của riêng tôi. Căn phòng với cái giường nho nhỏ, máy desktop với cái monitor thật lớn. 
Tôi có bạn bè trên khắp thế giới. Tôi cười, tôi đùa, tôi trò chuyện, tôi làm thơ, tôi viết … tôi bằng lòng và trân quý những gì mình có được ở tuổi hoàng hôn.

Ngày xưa ông xã tôi bệnh. Tôi cẩn thận giữ vệ sinh cá nhân cho hai vợ chồng rất tốt. Việc đó ngoài là giữ vệ sinh chung còn là sự tự trọng.
Bây giờ trong thời kỳ vô cùng nguy hiểm của dịch Vũ Hán, giữ vệ sinh còn là bảo vệ mạng sống cho mình, cho gia đình và đáp ứng nhu cầu xã hội.

Ở nhà, tự cách ly còn là tham gia chống dịch,  không làm cho hao tốn tiền bạc quốc gia. Nói cho lớn chuyện đi một chút, mình ở nhà không ra đường còn là tỏ lòng cám ơn và trân trọng những người Bác Sĩ, y tá, nhân viên trong bệnh viện đã dốc hết sức để đối phó với dịch cúm, dành sinh mạng cho những bệnh nhân.

Hiện nay Virus Wuhan đã làm cả thế giới như bị đóng băng. 
Mọi phương tiện đời sống, mọi sinh hoạt cá nhân đều hướng về đề phòng và chống dịch. 
Ngồi suy nghiệm cuộc đời, tôi thấy trước cái chết, tiền bạc, danh vọng, sắc đẹp đều không còn giá trị. 
Sức khỏe là trên tất cả. Nghị lực và niềm tin là cứu cánh để duy trì sức khỏe của mình. 

Hãy tha thứ và dễ dãi một chút trong cuộc sống để dễ buông bỏ phiền não và nhẹ nhàng trong tâm.

Chưa có lúc nào như bây giờ người lại sợ người đến như vậy. 
Việt Nam ta thường “gặp nhau tay bắt mặt mừng”, người tây phương ôm hôn nhau thắm thiết. 
Bây giờ thì “Xưa rồi Diễm” phải đứng cách xa nhau 2 thước, đưa tay ngoắc ngoắc làm dấu chào nhau.
 Đám ma không thể đến chia buồn, đám cưới phải đình lại. 
Cha mẹ chết, con cái cũng phải giới hạn không được tập trung quá 10 người.

Như vậy cho thấy sinh mạng con người thật nhỏ bé trước tạo hóa. Không có gì là bền vững vĩnh viễn. 
Khi bệnh dịch tấn công mãnh liệt, người chết quá nhiều, chính phủ không thể trở tay thì ai cũng như ai.
 Tất cả nghi lễ đều vô nghĩa và không thể thực hiện. Có nhìn hàng loạt chiếc quan tài chờ đi hỏa táng ở nước Ý mới rùng mình sợ hãi.

Nhìn hình những đoàn xe sáng tinh mơ nối đuôi nhau di chuyển quan tài ra khỏi thành phố, ai trong chúng ta không ngậm ngùi và nghĩ đến riêng mình.

Nước Ý

Này nhé, ngồi nhà chán quá mình đi ra phố, nói chuyện vu vơ với một người vừa quen. Họ thân thiện và bặt thiệp, nhưng họ đang bị nhiễm bệnh mà họ lẫn mình đều không biết. 

Con Virus Wuhan ác ôn đó gặp ta già rồi mà vui tính, mừng rỡ reo lên: “Tình cờ gặp được nhau đây…” Chúng bám lấy ta, yêu ta ngàn năm, lưu luyến không rời, sinh con đẻ cháu. Ôi! Người tình không chân dung gặp gỡ giữa đàng mà vì nói chuyện thân mật nó bám chặt lấy ta. 

Ta phải đau khổ cưu mang và gắn bó với nó, chết sống vì nó. Ta già rồi, không còn nhiều kháng thể để bảo vệ bản thân. Ta hết sức chống cự muốn đẩy nó đi xa. 
Muốn giết nó như giết người trong mộng. Ta không thở được, không nói được, đau đớn và bất lực.

Vì nó ta bỏ lại tất cả những gì bên ta: Con cái, gia đình và tình yêu thương của những người xung quanh. Khi nó thề sinh tử ôm nhau cùng chết thì chỉ vài tuần thôi, ta đành xuôi tay ra đi nhanh chóng.

Ta gia nhập vào hàng ngũ những vong hồn bại trận vì dịch Covid-19 ( China Original Virus In December 2019).

Cái nguy hiểm là ta đã vô tình lây lan thêm cho con, cháu và những người ta tiếp xúc.

Nghĩ thôi đã rùng mình vì vô hình chung mình là mầm dịch, là tội nhân gieo tai họa cho cộng đồng, làm phiền lụy cho Bác Sĩ và những người trong bệnh viện.

Chưa bao giờ con người thấy mạng sống của mình bị đe dọa như lúc này. Nhìn đâu cũng sợ bị lây nhiễm. Hai bàn tay mỗi ngày rửa không biết bao nhiêu dạo, nhưng rồi rờ vô cái gì cũng sợ virus.

 Từ nắm cửa đến thư từ, bưu phẩm, báo chí, quảng cáo đều có bàn tay của ai đó đụng  vào.
 Đi ra ngoài mua thức ăn, trong những người đứng xếp hàng biết ai là người đang mang mầm bệnh.

 Người nhìn người e dè, sợ nhau lây. Tình người bỗng chốc nhạt nhẽo và nghi kỵ. Dịch bệnh xuất xứ từ Vũ Hán bên Tàu. 
Người Việt Nam mình dân Á Châu vô tình bị đánh đồng với người Tàu nên nhận những cái nhìn, cử chỉ và lời nói kỳ thị.

Thật tình con virus này nhỏ chưa từng nhỏ hơn mà sức công phá của nó lớn hơn vũ khí hiện đại. 
Nó làm điên đảo loài người trên trái đất. 
Nó từ một tỉnh của Tàu đi khắp năm châu không cần visa hay hộ chiếu. 
Nó không hình, không dạng mà đi tới đâu người ta chết đến đó. 
Nó khiến phi cơ không thể lên trời, những du thuyền dù sang trọng thế mấy cũng chẳng thể ra biển. 
Nó san bằng giàu nghèo, chức vụ trước bệnh dịch và cái chết. 
Nó đã làm  con người và xã hội có sự liên đới bằng sự lây lan. 
Nó gieo sự mất mát, sợ hãi để con người  quay về với niềm tin và tín ngưỡng.

Nó đó, nó là kẻ thù của nhân loại ở thế kỷ này. 
Nó khiến cho nhịp sống tất bật của con người chậm lại, sự ăn chơi phung phí xa hoa phải ngưng, những tiệc tùng phải dẹp. 
Mọi quốc gia trên thế giới đều liên đới mang gánh nặng ngàn cân vì nó. Nó cảnh báo loài người về ăn tạp, về âm mưu hũy diệt lẫn nhau. Nó là hiện thân của ma quỷ và tội ác.

Có một người nói với tôi như thế này:” Ngày xưa tuổi thọ con người không cao, loài người sống chan hòa với thiên nhiên, trái đất không hề bị ô nhiễm. 
Bây giờ văn minh vượt bậc, khoa học đã tiến tới những bước thần kỳ. Con người đã tận dụng tất cả những gì có trong thiên nhiên để cung phụng cho cuộc sống, hầu thỏa mãn những phát minh, những khao khát khám phá và hiểu biết. 
Tài nguyên cạn kiệt, không khí ô nhiễm, thú vật bị tàn sát, môi trường sống chật chội và thiếu tình người. 
Người già lại được chăm sóc bằng những phương tiện tối tân nhất, thuốc men tốt nhất để kéo dài tuổi thọ. 

Có nhiều nước, người trẻ lao động ít hơn người lớn tuổi. Dân số càng ngày càng lão hóa nên mất cân đối cho tương lai. 
Trận dịch này vô hình chung thu xếp được điều đó. 
Nó chọn người già để khuếch tán và hủy diệt. 

Trong những người ra đi vì dịch bệnh Virus Vũ Hán tại Trung Cộng, tại Ý và các nước khác, có phải chăng người già chiếm đa số. Trong bệnh viện, lúc phương tiện y tế không đủ, Bác Sĩ đành phải dành ưu tiên cứu người trẻ, hy sinh người già.”

Nghe qua thì thật mũi lòng, nhưng phải công nhận đó là sự thật. 
Cho nên, muốn không phải là một tử thi nằm ở  một trong số những quan tài sắp từng dãy kia, tôi chọn tự mình cách ly tại nhà. 

Tuy rằng ở nhà nhưng chưa phải là an toàn 100%. 
Thí dụ như con tôi đi làm trong bệnh viện, có chắc chắn gì là nó không mang virus trong người. 
Ở cơ thể, ở áo quần, ở túi xách, ở bình nước…  Biết đâu một ngày đẹp trời nào đó, con Virus Vũ Hán sẽ qua thăm tôi và gắn bó với tôi. 
Biết thân biết phận mình, tôi đã cách ly với con bằng cách không va chạm vào bất cứ đồ dùng đi làm của nó. 

Khi ăn mỗi người mỗi dĩa, tôi thường ăn trước và đi nghỉ sớm. Nếu ăn chung tôi ngồi ở đầu bàn. Không ngồi coi phim chung ở ghế salon và nhất là không ôm hôn con như ngày xưa thân ái.

Người già cơ thể sẽ yếu và dễ nhiễm bệnh. Tôi tự nhủ như vậy và sống lạc quan, tích cực mỗi ngày. 
Chuyện gì đến phải đến. Hãy bảo vệ lấy mình vì con cháu, còn chết hay sống đều do số mạng.

Nói tới bệnh này, tôi xin gọi cái tên trung thực nhất: ‘Virus Wuhan”. Bởi vì dịch họa này xuất phát từ Wuhan bên Tàu và  chính Trung Quốc nói Vũ Hán là nơi khởi đầu của Virus.

Theo tôi Trung Quốc thiếu thế giới một cái cúi đầu xin lỗi vì đã làm cho dịch này phát tán, Trung Quốc  cố tình ém nhẹm, dấu diếm nên thế giới không kịp phòng ngừa, dịch bệnh lan tràn không thể chận đứng kịp.

Virus theo chân người Trung Quốc đi khắp nơi trên thế giới trở thành bệnh dịch toàn cầu.  Giết hại không biết bao nhiêu sinh mệnh và làm tê liệt mọi hoạt động của dân chúng.

Ngoài ra Trung Cộng thiếu nước Mỹ hai cái cúi đầu.
 Cái cúi đầu thứ nhất xin lỗi đã đem dịch bệnh đến các tiểu bang của nước Mỹ. 
Cái thứ hai xin lỗi nước Mỹ vì đã vu khống dịch họa này là do quân đội Mỹ đưa Virus vào Trung Quốc.

Sự thật bao giờ cũng là sự thật.

Nguyễn Thị Thêm

From: TU-PHUNG