httpv://www.youtube.com/watch?v=nYMFUwrsblM
COVID-19: Hành động của người Mỹ nằm ngoài tưởng tượng của nhiều người | Trí Thức VN

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=nYMFUwrsblM
COVID-19: Hành động của người Mỹ nằm ngoài tưởng tượng của nhiều người | Trí Thức VN
Chia Sẻ với anh em Linh Mục về nội dung các bài giảng về Sự Đau Khổ
LM Matthêu Nguyễn Khắc Hy PSS
05/Apr/2020
Trong tình trạng đại dịch coronavirus đang hoành hành khắp thế giới, và Giáo Hội đang chuẩn bị bước vào tuần thánh mừng mầu nhiệm Thương Khó, Chết, và Sống Lại của Đức Giêsu Kitô qua nghi thức phụng vụ chưa từng có trong lịch sử, đó là, giáo dân tham dự phụng vụ qua màn hình của truyền thông hiện đại, tâm tư giáo dân xoay quanh câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa để những đau khổ này xảy ra? Ngài có thật sự yêu thương con người không? Hay Thiên Chúa có trừng phạt con người vì tội lỗi của họ không?
Một số người còn thêm kịch tính khi cho rằng bí mật thứ Ba của sứ điệp Fatima chưa được tiết lộ… Vì thế, đại dịch covid-19 này là bí mật thứ ba được Đức Mẹ báo trước từ năm 1917.
Anh em linh mục có trách nhiệm giúp giải thích những thắc mắc này trong các bài giảng lễ, nhất là trong tuần thánh này, để giáo dân tăng thêm kiến thức đức tin, và tin tưởng hơn vào Thiên Chúa.
Linh mục chúng ta thường hay bị mắng là trả lời những câu không ai hỏi… Và chúng ta cũng phải thú nhận là nhiều câu trả lời của chúng ta thiếu rõ ràng hay không đúng trọng tâm những gì người khác hỏi. Một số những giải thích thiếu rõ ràng, ngay cả thậm chí sai trái, khiến giáo dân hoang mang.
Tôi muốn chia sẻ với anh em vài điểm đáng chú ý khi chúng ta giải thích tương quan giữa Sự dữ (evil) và Thiên Chúa trong các bài giảng.
Thứ nhất, cần nhấn mạnh: sự dữ và đau khổ là một huyền nhiệm (mystery) . Ta không biết nó đến cách nào, và tại sao nó tồn tại. [2] Ngay cả khoa học cũng không biết tại sao, vì khoa học chỉ cắt nghĩa được những hiện tượng xảy ra mà thôi. Cũng như ta đọc Kinh Thánh, tác giả không hề nói tại sao hay cách nào con rắn đến với con người, mà chỉ đơn giản nói việc con rắn xuất hiện cám dỗ hai ông bà nguyên tổ, một biểu tượng của sự dữ trong đời sống con người.
Thánh Phao lô đã nói: “Điều tôi muốn tôi không làm, và tôi làm điều tôi không muốn” (Rm 7:15), như một thú nhận trước mầu nhiệm cuộc sống. Sự dữ là một huyền nhiệm. Vì thế, ta không thể chấp nhận những câu trả lời đơn giản cho những câu hỏi hóc búa, hay những câu trả lời từ chối trách nhiệm cá nhân (như Satan khiến tôi làm…) hay cho rằng sự dữ không có thực, hay ta không đánh giá đúng mức sự thương khó (đau khổ) của Đức Kitô, Đấng đồng cảm với những đau khổ của con người.
Thứ hai, loại bỏ tư tưởng vô cảm khi cho rằng sự dữ và đau khổ là ý niệm tương đối, nghĩa là, nó không thật sự là sự dữ nếu không gây đau khổ cho ta. Ví dụ, động đất là động đất, và nó không thật sự là sự dữ hay gây đau khổ nếu xảy ra trong vùng hoang vu, không bóng người. Rắn độc tự nó là rắn độc, nhưng không là sự dữ nếu không cắn ta. Ngay cả những lý luận gần hơn như bệnh nhân ung thư chết hàng ngàn người trong một ngày, nhưng ta không quan tâm đơn giản vì ta không biết họ, hay sự dữ không trực tiếp ảnh hưởng đến ta. Chỉ khi nào “xui xẻo” đến với ta hay gia đình, người thân… lúc đó ta mới cho nó là sự dữ (và đau khổ).
Ta cần khơi dậy ý thức cộng đoàn, nghĩa là, tất cả đều là con Thiên Chúa. Đức tin Công Giáo không cho phép ta vô cảm trước những đau khổ của tha nhân, bất kể người đó ở đâu hay đến từ đâu. Chỉ có Đức Giê su mới dạy môn đệ Ngài “hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho ai ngược đãi con” mà thôi (cf. Mt 5:44).
Thứ ba, ta luôn tìm thấy “may trong rủi” . Vì ta không có kiến thức tương lai, và ta bị hạn chế trong những khủng hoảng đang có, nên ta quên những cái tốt do những khủng hoảng này mang lại. Ví dụ, cái chết một người có thể đem lại bình an cho gia đình; việc phong tỏa và cách ly trong thời gian gần đây giúp con người ý thức hơn về giá trị cuộc sống, về những hoang phí thời gian hay tiền bạc họ đã làm, về sự cần thiết gần gũi nhau trong gia đình giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái… Tính lạc quan giúp ta luôn tìm được lý do để tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (1 Tx 5,18). Ta luôn nhớ rằng sự dữ tự nó không có cái kết, mà cuối cùng nó sẽ bị đánh bại, rằng chúng ta không bao giờ bị Thiên Chúa bỏ rơi. Vì thế, hãy nhìn những sự kiện diễn ra trong đức tin vào Thiên Chúa, hơn là tìm Thiên Chúa trong lăng kính của những diễn tiến này.
Thứ tư, cẩn thận khi cắt nghĩa rằng mọi sự xảy ra đều là Ý Chúa. Dĩ nhiên điều này không đúng (nếu hiểu là Thiên Chúa muốn đau khổ cho con người). Cần phân biệt sự khác nhau giữa “Ý Chúa muốn” và “Chúa cho phép xảy ra”. Ý của Thiên Chúa rõ ràng là cho thế gian được cứu chuộc, tuy nhiên Thiên Chúa cho phép chúng ta và vũ trụ được tự do đáp trả lời mời gọi này trong nhiều cách. Không phải mọi sự xảy ra đều là Ý Thiên Chúa, vì còn có tự do của con người đóng góp đưa đến những kết quả này. Vì thế, nếu nói Ý Chúa dẫn đến những đau khổ, liệu ta có vẽ lên một Thiên Chúa độc ác không? Và nếu Thiên Chúa muốn những điều ác độc như thế, Thiên Chúa đó không đáng cho ta tôn thờ.
Thứ năm, tránh từ ngữ Thiên Chúa trừng phạt con người. Quan niệm trong dân gian về sự thưởng phạt nhãn tiền của thần thánh khiến nhiều khi ta dùng từ ngữ cắt nghĩa những hiện tượng trước mắt như sự trừng phạt của Thiên Chúa. Nhiều người còn trích dẫn các câu chuyện Kinh Thánh trong Cựu Ước để chứng minh Thiên Chúa “thưởng phạt nhãn tiền” những ai chống lại Ngài. Giáo lý Công Giáo dạy rằng có sự Thưởng – Phạt ở đời sau. Tuy nhiên, nếu kết án Thiên Chúa (Thưởng) – Phạt thì ta trốn trách nhiệm tự do con người sử dụng. Nếu một người sống đời tội lỗi, và kết quả sau này là phải bị xuống hỏa ngục trầm luân, liệu đây là hình phạt Thiên Chúa áp dụng cho họ, hay chính họ tự chọn cái kết cho chính mình? Trong một đất nước dân chủ và sống theo pháp luật như Hoa Kỳ, những ai ở trong tù không phải bị chính phủ Phạt, cho bằng họ có hành động gì sai, và tự họ Phạt họ trong tù qua sự can thiệp của chính quyền.
Thứ sáu là Số phận. Đây là quan niệm Phật giáo, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân Việt nam, và nhiều người Công Giáo cũng bị ảnh hưởng. Điều bị hiểu lầm nhiều nhất là quan niệm “số phận” hạn chế hay dẹp bỏ tự do định đoạt của con người, và điều này sai với giáo lý Công Giáo. Quan niệm “tiền định” được nhắc đến trong thư Phao lô: “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định.29 Vì những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc.30 Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang.” (Rm 8:28-30)
Tiền định là tín lý thuộc về kết cục chứ không là bắt đầu trong đời sống Kitô hữu, nghĩa là nói đến hậu kết của đời sống mỗi người sau này. Ngay câu đầu “chúng ta biết rằng, Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” được xem là câu tiêu chuẩn để hiểu đúng nhất về tiền định. Tin vào Chúa Kitô là không để bất cứ yếu tố ngoại cảnh nào hủy hoại ý định và mục đích Thiên Chúa dành cho mỗi con người, đó là yêu thương và kết hợp với Ngài muôn đời: “Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào,39 trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giesu, Chúa chúng ta.” (Rm 8:38-39)
Thứ bảy, tránh cực đoan và cuồng tín. Khi Đức Thánh Cha và các giám mục quyết định không dâng thánh lễ để tránh tập trung đông người khiến bệnh dịch có thể lây lan, một số người lên án quyết định này khi cho rằng đây là quyết định sai lầm, hay cho rằng những ai tin vào Đức Kitô thì “dù cầm rắn trong tay, hay uống nhầm thuốc độc cũng chẳng sao” (Mk 16:18). Nghĩa là, họ cho rằng tham dự thánh lễ chung nơi đông người không làm họ lây nhiễm coronavirus. Đây là lý luận “cùn” vì họ quên rằng chính Thiên Chúa là Đấng tạo nên mọi sự (cả coronavirus) và cho nó luật tự nhiên (là gây hại khi nhiễm vào con người). [3]
Vì thế, trong những bài giảng thuyết, chúng ta nên nhắc nhở vài điều quan trọng:
Đầu tiên, sự dữ và đau khổ sẽ được chế ngự bởi tình thương và cảm thông (chia sẻ) . Chúng ta tin Giáo Hội là Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô, và tất cả là anh chị em một nhà. Ông Gióp dù không hiểu tại sao mình chịu đau khổ (bỏ rơi), nhưng chính ông không quên nâng đỡ những người bất hạnh: “Con kêu lên Ngài, nhưng Ngài không đáp, con trình diện Ngài, nhưng Ngài chẳng lưu tâm. 21 Ngài đối xử với con tàn nhẫn… 24 Dù vậy, nào tôi đã chẳng giơ tay trợ giúp, kẻ khốn cùng kêu cứu lúc lâm nguy? Tôi đã chẳng khóc người lầm than vất vả, chẳng động lòng thương kẻ túng nghèo?” (Job 30:20-25) Thánh Phaolô khẳng định rằng Thiên Chúa cũng cảm thông với ta trong mọi hoàn cảnh: “Người [Thiên Chúa] luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó.” (2 Cor 1:4)
Thứ hai, đau khổ cần được san sẻ, và sự dữ (evil) cần phải đối đầu. Đó cũng là lý do cho ông ta dạy khi ai gặp nạn thì mình đến “chia buồn” (còn ai hạnh phúc thì mình đến “chung vui” chứ không lấy bớt đi hạnh phúc của họ). Vì thế, việc thăm viếng, an ủi, cầu nguyện và nâng đỡ nhau trong lúc khốn quẩn vô cùng quan trọng, vì đây là dấu chỉ cụ thể sự hiện diện của Thiên Chúa với những ai đang đau khổ qua trung gian của chúng ta. Trong kinh tin kính các tông đồ, khi tuyên xưng “Đức Giêsu xuống ngục tổ tông” là nói đến chính Đức Giêsu chia sẻ những đau khổ con người, và “ngục tổ tông” là bước cuối cùng con người chịu được trước khi được cứu chuộc để về kết hợp với Thiên Chúa. Chính đau khổ gắn bó con người với nhau, và gắn bó Thiên Chúa với con người, qua Đức Kitô, Đấng sống như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (Heb 4:15).
Cuối cùng, hy vọng là niềm tin Kitô giáo. Chúng ta luôn sống trong hy vọng, và đức tin vào Chúa Giêsu Kitô là động lực của mọi hy vọng. Hy vọng không chỉ nhắm đến đời sau, mà còn ở đời này. Nếu những gì ta mong ước không được như ý ở đời này, thì chính hy vọng cho ta động lực và ý nghĩa sống. Đức Kitô là hy vọng của mọi người (1 Tim 1), và trong Đức Kitô con người hy vọng được cứu rỗi: “Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Kitô, thì không còn bị lên án nữa.” (Rom 8:1). Hơn nữa, chính sự sống lại của Đức Kitô đem lại cho nhân loại hy vọng (1 Cor 15 ff), vì “sự chết là kẻ thù cuối cùng đã bị đánh bại” (1 Cor 15:26), và Chúa Kitô Phục Sinh cho ta niềm tin để sống, cho ta giá trị và lý do để chết.
Một vài những suy tư với anh em linh mục trong dịp đại dịch xảy ra trong tuần thánh năm nay. Tôi có cảm tưởng chúng ta là những người “không nói cũng không được, mà nói cũng không xong” khi đối diện với đau khổ của người khác. Trước “tiến thoái lưỡng nan”, đừng để cám dỗ rút lui im lặng, hay chỉ nói qua loa… hay tệ hơn (dù họ không biết là họ đang làm sai) đi vào vết cũ của lạc giáo Ảo Thân thuyết (Docetism), Ngộ Đạo thuyết (Gnosticism) hay một lạc giáo hỗn tạp của những giải thích bâng quơ, không chính xác.
Để hiểu rõ thêm về thần học Công Giáo dạy gì về sự dữ và đau khổ trong đời sống con người, xin mời anh em đọc thêm bài đính kèm sau.
———–
[1] “Ba Bí Mật Fatima” là cụm từ nói đến những điều Mẹ Maria nhắn với ba em Lucia Santos, Jacinta Marto và Francisco Marto khi hiện ra 6 lần với các em từ ngày 13-5-1917 đến 13-10-1917. Theo Lucia, ngày 13-7-1917 Mẹ Maria trao cho các em Ba Bí Mật. Năm 1941, theo yêu cầu của Đức Giám Mục Jose Alves Correia da Silva, giám mục Leiria, Lucia đã tiết lộ Hai Bí Mật, nhưng không muốn tiết lộ Bí Mật Thứ Ba. Tháng 10 năm 1943, theo yêu cầu của Đức Giám Mục địa phương, chị Lucia tiết bộ Bí Mật Thứ Ba bằng cách viết thư nhưng dán kín, và xin đợi cho đến năm 1960 rồi mới mở ra, vì lúc đó sẽ “rõ hơn.” Bức thư Bí Mật Thứ Ba này được đức thánh giáo hoàng Gioan Phao lô II cho công khai vào năm 2000, nhưng một số vẫn cho rằng đức Gioan Phao lô II đã không công bố toàn bộ lá thư, dù Vatican đã vài lần lên tiếng chính thức là bức thư đã được công khai hoàn toàn.
[2] Một số thường trích thư thánh Phaolô: “Tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” (Rm 5:12), để giải thích đau khổ và sự chết đến thế gian. Đừng quên Đức Giêsu Kitô hoàn toàn vô tội nhưng Ngài cũng chịu đau khổ và chết. Vì thế giáo lý vẫn dạy sự hiện diện của sự dữ và đau khổ là một mầu nhiệm.
[3] Mục sư Jamie Coots của nhà thờ Full Gospel Tabernacle ở Kentucky chết ngày 15-2-2014 khi cầm rắn độc trong tay để chứng minh cho giáo dân rằng nếu tin thì rắn độc không làm hại ông (xem Mark 16:18). Đến tháng 8-2018, con ông nối nghiệp là mục sư Cody Coots cũng bị rắn cắn và phải đi nhà thương, nhưng may mắn được cứu sống.
ĐƯA CHÚA RA XỬ ÁN
Rev. Ron Rolheiser, OMI
Cả trong tâm thức sùng tín lẫn bất khả tri, có những lần chúng ta đưa Chúa ra xét xử, và bất kỳ lúc nào làm thế, cuối cùng chúng ta là người bị phán xét. Chúng ta thấy điều này trong các đoạn Tin mừng về cuộc xử án Chúa Giêsu, nhất là trong Tin mừng theo thánh Gioan.
Như chúng ta biết, Tin mừng theo thánh Gioan họa lên hình ảnh Chúa Giêsu từ góc nhìn thiên tính, chứ không phải nhân tính của Ngài. Như thế, trong Tin mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu không có sự yếu đuối của loài người. Ngài là Thiên Chúa từ dòng đầu cho đến dòng cuối trong Tin mừng theo thánh Gioan. Điều này đúng cho đến từng chi tiết nhỏ nhất. Ví dụ như, trong Tin mừng theo thánh Gioan, trong phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ xem họ có bao nhiêu bánh và cá. Thánh Gioan viết thêm: “Ngài đã biết trước rồi.” Không gì nằm ngoài dự liệu của Chúa Giêsu.
Chúng ta thấy điều này rõ ràng nhất trong cách thánh Gioan viết về cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu. Không như các Tin mừng khác diễn tả Chúa Giêsu lo sợ trước số phận khủng khiếp của mình, trong Tin mừng theo thánh Gioan, xuyên suốt con đường thương khó, Chúa Giêsu không chút sợ hãi, hoàn toàn tự chủ, bình tâm, vác thập giá của mình, hoàn toàn đối ngược với hình ảnh một nạn nhân. Tư thế của Chúa Giêsu luôn là hành động tự do, vì lòng yêu thương, và có uy quyền hoàn toàn trên tình cảnh đó.
Thánh Gioan minh họa rất rõ điểm này. Khi quân lính đến bắt, Chúa Giêsu bước ra và tất cả những ai xáp lại phía Ngài đều ngã gục xuống đất, và trong sự phủ phục đó thể hiện sự tôn kính với Ngài. Và những hình ảnh mang tính biểu tượng còn nhiều nữa. Chúa Giêsu bị tuyên án tử hình vào lúc giữa trưa, đúng vào giờ các tư tế bắt đầu sát tế những con chiên vượt qua. Sau khi chết, Chúa Giêsu được mai táng với dầu thơm và lô hội, vốn chỉ dùng cho vua, và Ngài được đưa vào huyệt đá “mới tinh” (cũng như ngài được sinh ra trong cung lòng trinh nữ.) Thánh Gioan làm rõ rằng, chúng ta đang nhìn vào Đức Chúa.
Với tâm thức đó, hiểu rằng Chúa Giêsu luôn luôn có uy quyền và làm chủ mọi chuyện, chúng ta sẽ có thể hiểu rõ hơn ý định của thánh Gioan muốn nói với chúng ta trong trình thuật tử nạn của Chúa Giêsu. Thánh Gioan tập trung nhiều nhất vào cuộc xử án Chúa Giêsu. Trình thuật thương khó tập trung quanh vụ xử án và các nhân vật chính trong vụ xử án. Nhưng trình thuật này có một điểm đảo chiều đầy mỉa mai: Có vẻ là Chúa Giêsu bị xử án, nhưng thật ra, Ngài là người duy nhất không bị xử án. Philatô, các chức sắc tôn giáo, dân chúng, cả chúng ta ngày nay, mới bị xử án. Tất cả đều bị xử án, trừ Chúa Giêsu.
Philatô bị xử án vì nhiều tội: Biết Chúa Giêsu vô tội nhưng không đủ can đảm để đương đầu với đám đông, rồi để cho sự điên cuồng thất thường vô tri của đám đông quyết định. Philatô bị phán xét vì sự yếu đuối của ông. Nhưng ông còn bị xử án vì chủ nghĩa bất khả tri của ông, cụ thể là ông tin rằng mình có thể xem chân lý và đức tin như những thứ mà ông có thể tránh né, có thể định giá chúng từ vị trí trung lập, xem đó là việc của người khác, không dính dáng gì đến mình. Nhưng ông bị phán xét chính vì lẽ đó. Chẳng ai có thể dửng dưng hỏi rằng: “Sự thật là gì?” như thể câu trả lời chẳng ảnh hưởng gì đến mình vậy. Phiên tòa của Chúa Giêsu xác định Philatô và những người như ông, là có tội, tội bất khả tri, tội tránh né, tội dửng dưng, và cuối cùng là bất lương. Mỉa mai thay, sự yếu đuối của Philatô khi không giải cứu Chúa Giêsu, cuối cùng lại biến ông thành tổng trấn và thẩm phán tai tiếng nhất lịch sử. Với cái tên có trong kinh Tin kính, hàng triệu người đọc tên ông mỗi ngày.
Nhưng không chỉ mình Philatô bị xử án, mà còn các chức sắc tôn giáo thời đó nữa. Trong nỗ lực bảo vệ Thiên Chúa khỏi những gì mà họ xem là bất kính, ngoại giáo, và phạm thượng, họ đã đồng lõa trong tội “giết” Chúa. Phán quyết trong phiên tòa của Chúa dành cho họ, cũng chính là phán quyết cho nhiều chức sắc tôn giáo đến tận thời nay, đó chính là khuynh hướng nhiệt thành bảo vệ Thiên Chúa lại thường góp một tay đóng đinh Chúa trên thế giới này.
Và cuối cùng, vụ xử án những người đương thời với Chúa Giêsu, cũng như chính chúng ta. Trong cơn cuồng loạn vô tri bừng bừng của đám đông, họ đã từ bỏ hy vọng mong chờ Đấng Thiên sai để hô vang: “Đóng đinh nó!” Thật cũng không khác gì mấy nhiều khẩu hiệu tôn giáo và chính trị mà chúng ta hô vang ở những buổi tập hợp thời nay. Phiên tòa xử Chúa Giêsu lại là một phán quyết rất dữ dội cho sự vô tri, thất thường và nguy hiểm của tâm tính đám đông.
Với sự tinh tế của mình, thánh Gioan đã cho chúng ta thấy, bất kỳ lúc nào bằng nhiệt thành lòng đạo sai lầm hay bằng chủ nghĩa bất khả tri lạnh lùng, mà chúng ta đem Chúa ra xử án, thì kết cục, chính chúng ta là người bị phán xét.
Rev. Ron Rolheiser, OMI
From:Langthangchieutim
THÊM NHIỀU NGƯỜI CHẾT LÀ DO ÔNG, TỔNG WHO Ạ!
Khi xảy ra đại dịch tại Vũ Hán, chính miệng ông nhân danh WHO nói rằng loại virus này không nguy hiểm, không phải là đại dịch. Ông còn đánh tráo tên gọi “Virus Vũ Hán” thành các tên gọi khác nhau để che giấu nguồn gốc của đại dịch. Ông cũng đề nghị thế giới không nên đóng cửa đối với Trung Quốc tạo cơ hội cho dịch lây lan toàn cầu.
Phát ngôn của ông làm cho nhân dân toàn thế giới chủ quan. Dù các chính phủ thừa biết gốc con virus này ở đâu ra, đã cảnh giác sự lây lan, nhưng bất lực vì cái phát ngôn nguy hiểm của ông. Các chính phủ không thể đóng cửa biên giới vì dân chúng tin vào miệng của ông, dân nhiều nước dân chủ sẵn sàng biểu tình hay phản ứng nếu chính phủ của họ ban bố lệnh cách ly hoặc tình trạng khẩn cấp. Cái khó của chính phủ các nước dân chủ là ở đấy.
Chính phủ Việt Nam biết rõ sự nguy hiểm của virus Vũ Hán nên cảnh giác kịp thời, nhưng cũng có người tin vào ông. Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên nói loại virus này lây hạn chế từ người qua người, không phải vì tin từ miệng ông thì tin từ đâu? May mà Chính phủ và nhân dân Việt Nam không tin vào phát ngôn của ông Tuyên chứ tin thì đã vỡ trận từ lâu.
Những phát ngôn của ông mang động cơ chính trị rất rõ ràng. Thế giới đang đòi kiện Trung Quốc giấu dịch, trong khi theo tôi, với cương vị là người có trách nhiệm y tế toàn cầu, ông mới là người đáng bị kiện trước, vì đã tiếp tay giấu dịch hay đúng ra là đánh lừa nhân dân toàn thế giới.
Ông gắp lửa bỏ tay người về sự “chính trị hóa dịch bệnh” và còn đe dọa “chính trị hóa dịch bệnh chỉ khiến thêm nhiều người chết”. Ông có bình tâm để suy nghĩ rằng, nếu ông phát ngôn với tư cách nhà chuyên môn phi chính trị, nói đúng sự thật về virus Vũ Hán để cả thế giới có biện pháp cách ly cô lập dịch ngay từ đầu thì dịch bệnh chỉ diễn ra ở Vũ Hán mà không thể lây lan sang nước khác không? Tôi khẳng định, chính miệng ông đã phát tán virus Vũ Hán ra toàn cầu gây nên cái chết của hàng chục vạn người nhưng cho đến lúc này ông vẫn chưa có một lời xin lỗi hay sám hối. Theo Kinh Thánh, ông chính là Satan nhân danh WHO!
Chu Mộng Long

Mất tình người trong Covid-19
========
Tháng 1 năm 2020, Trung Quốc oằn mình trong đại dịch Covid-19, số người chết tăng vọt mỗi ngày, thành phố đóng cửa, không khí tang tóc bao trùm khắp nơi. Mỹ và châu Âu lập tức gửi hàng trăm ngàn khẩu trang, hàng trăm triệu USD và trang thiết bị cho Trung Quốc.
Cuối tháng 3 năm 2020, Mỹ và châu Âu là trung tâm đại dịch. Nhà hàng trung Quốc lập tức trương bảng chúc “Đại dịch Covid-19 đã đến Mỹ và ở lại lâu”. Trung Quốc hăm dọa cắt cung cấp thuốc cho Mỹ trong cơn nguy khốn (90% thuốc trụ sinh tại Mỹ cần các thành phần sơ chế từ Trung Quốc). Sau đó Trung Quốc “gửi” viện trợ cho châu Âu hàng trăm ngàn test thử nghiệm sai lỗi và hơn nửa triệu khẩu trang hư.
Tưởng là sự mất tình người này chỉ đến từ một số ít người Trung Quốc nào ngờ cũng có từ một số rất ít người Việt.
Gần đây, vài bài viết online và trên Facebook hả hê khi thấy nhiều người Mỹ – Âu chết, chê sự “bảo thủ của người Mỹ – Âu” trong đại dịch, không chịu nghe theo lời khuyên đeo khẩu trang, không bắt chước theo kiểu “chống dịch toàn dân” cho nên giờ chết nhiều là phải” và nước Mỹ “lo gom xác thôi”. Nguy hiểm hơn, đây là comment từ những người tự nhận mình là bác sĩ tốt nghiệp từ Việt nam và học thêm ở nước ngoài.
Câu chuyện khẩu trang vốn là chủ đề nhạy cảm vì liên quan đến văn hóa chính trị vùng miền và cách tuân thủ ở người dân. Nhưng có một điểm rõ ràng là một mạng người, dù là ở đâu, ở nước nào, cũng đều vô giá.
Nước Mỹ không phải là hoàn hảo, hệ thống Y tế Mỹ chưa phải là tốt nhất, nhưng tình người nước Mỹ luôn luôn có. Thống kê từ Marketwatch cho thấy nước Mỹ là nước cho tiền từ thiện nhiều nhất trên thế giới. Người dân Mỹ đóng góp 428 tỉ đô la cho từ thiện trong năm 2018. Năm nay, Mỹ hỗ trợ Việt Nam 3 triệu USD để chống dịch Covid-19, chưa kể khoản tiền hàng triệu USD từ tổ chức USAID hằng năm cho Việt nam để chữa trị 180,000 người đang mắc lao phổi do hơn 17,000 chết mỗi năm do bệnh này tại Việt Nam.
Covid-19 xảy ra, là phép thử lớn nhất cho sự tử tế, tình thương, và cũng là cơ hội cho những người không tử tế lên tiếng chê trách. Trong khi hàng triệu người Mỹ ở nhà giúp đỡ bác sĩ, hàng trăm ngàn người Mỹ đăng ký thiện nguyện giúp đỡ bệnh viện và các cơ sở y tế, hàng ngàn công nhân nhà máy xe hơi làm việc ngày đêm để chế tạo máy thở, hàng trăm công ty chuyển đổi kinh doanh sang sản xuất hậu cần hỗ trợ y tế, thì có những người ngồi bàn phím cười chê.
Đại dịch rồi sẽ qua.
Chúng ta có thể mất việc. Chúng ta có thể mất nhà. Chúng ta có thể mất mạng. Nhưng chúng ta đừng mất tình người, đừng mất đi sự tử tế, nhất là khi chúng ta tự nhận mình là bác sĩ.
Bài học đầu tiên cho sinh viên Y khoa tại Mỹ là sự tử tế và lòng thương người, vì đấy chính là vũ khí hiệu quả nhất của một BS có được khi đối diện với các bệnh nan y hay cơn đại dịch. Không có hai đức tính quan trọng này, bạn sẽ không được nhận vào trường Y, và dĩ nhiên không bao giờ là bác sĩ.
Dr Wynn Tran , Los Angeles, USA
Trung tuần tháng 2/2020, có một “cơn bão” xuất hiện trên mạng internet Trung Quốc: người ta thảo luận về “bệnh nhân số 0” (người nhiễm đầu tiên) của dịch bệnh viêm phổi Vũ Hán và đổ xô đi tìm cái tên một nhân viên của Viện nghiên cứu virus Vũ Hán. Tuy tin đồn này chưa được xác nhận, nhưng có rất nhiều diễn biến xung quanh đáng quan tâm.
Vào khoảng ngày 14, 15/2, một số kênh truyền thông hải ngoại tiếng Hoa đăng tải tin tức rằng: virus corona mới ở Vũ Hán (COVID-19 hay còn gọi là virus Trung cộng) xuất phát từ một sự cố rò rỉ virus tại Viện Nghiên cứu Virus Vũ Hán, dẫn đến cái chết của một nhà nghiên cứu nữ. Cơ thể của nhà nghiên cứu nữ này đã lây nhiễm virus sang cho một nhân viên tang lễ trong nhà hỏa táng, dẫn đến sự lây lan của căn bệnh.
Tin tức này lập tức gây sự chú ý trên internet. Nhiều cư dân mạng đã đào sâu tìm hiểu thêm thông tin về nhà nghiên cứu nữ này, người có tên là Hoàng Yến Linh (黃燕玲), một sinh viên cao học được nhận vào Viện nghiên cứu virus Vũ Hán năm 2012.

Theo thông tin trên trang web của Viện nghiên cứu virus Vũ Hán (Viện virus học Vũ Hán, hay còn gọi là Phòng thí nghiệm sinh học P4), Hoàng Yến Linh từng theo học tại Đại học Giao thông Tây Nam, chuyên ngành vi sinh.
Trang web của Nhóm Chẩn đoán Vi sinh của Viện Nghiên cứu Virus Vũ Hán cho thấy Hoàng Yến Linh là một thành viên trong nhóm này. Trang web này hiển thị một số hình ảnh của nhóm sinh viên cao học. Nhấp vào tên bên dưới ảnh, người ta cũng có thể xem phần giới thiệu tiếng Trung và tiếng Anh cho sinh viên. Kỳ lạ thay, chỉ có khối của Hoàng Yến Linh không có ảnh, và không có giới thiệu tiểu sử trong tên.

Trang thông tin của Hoàng Yến Linh trên trên trang web của Viện nghiên cứu virus Vũ Hán, trống không.
Nhưng chỉ cần xem mã code của webpage một chút, tên của cô vẫn lưu lại trên đó:
Trên trang web của Nhóm Chẩn đoán Vi sinh của Viện nghiên cứu Virus Vũ Hán, chỉ có khối của Hoàng Yến Linh không có ảnh và không có giới thiệu về cô trong tên:

Trả lời phỏng vấn vào tối ngày 15/2 về tin đồn này trên internet, bà Thạch Chính Lệ, nhà nghiên cứu hàng đầu về virus corona tại Viện virus học Vũ Hán và ông Trần Toàn Giao, nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Virus Cúm, đã nói rằng không biết có một nữ sinh viên cao học tên là Hoàng Yến Linh hay không. Tuy nhiên 2 người nhấn mạnh rằng không có nhân viên nào của Viện Nghiên cứu Virus Vũ Hán bị nhiễm loại virus corona mới.
Trước đó, trên mạng internet đại lục từng có thông tin rằng hơn 1.000 nhân viên và sinh viên của Viện nghiên cứu virus Vũ Hán đều không bị nhiễm loại virus mới. Một số người nghĩ rằng điều này là do nhân viên của viện biết cách ngăn chặn virus, nhưng một số người nghi ngờ rằng điều đó chỉ có nghĩa là virus xuất phát từ viện (nên nhân viên đã biết cảnh giác từ sớm).
Một chi tiết lạ khác là, khi phóng viên của tờ Tin tức Bắc Kinh hỏi Viện virus học Vũ Hán về tin đồn “bệnh nhân số 0”, viện đã phủ nhận rằng ở đó không có nhà nghiên cứu nào tên Hoàng Yến Linh. Nhưng sau khi biết một ít thông tin về cô Hoàng vẫn lưu lại trên mạng, viện lại trả lời rằng cô Hoàng từng làm việc tại đó nhưng đã nghỉ và không còn chịu trách nhiệm gì.
Chính quyền đã đăng một thông báo trên trang web của phòng thí nghiệm, cho biết có tin đồn là cô đã mất tích, nhưng cô vẫn còn sống và khỏe mạnh. Thông báo này không đưa ra bằng chứng gì kèm theo.
Câu chuyện này đã kéo theo tranh cãi lớn trên mạng ở Trung Quốc, nhưng đa số các bài viết đã bị xóa đi nhanh chóng. Nếu cô Hoàng còn sống và không có vấn đề gì thì tại sao thông tin và ảnh của cô trên trang web của Viện virus học Vũ Hán bị xóa, như thể họ không muốn cho ai biết các thông tin về cô?
Trong bối cảnh việc chống dịch đang rất áp lực vào trung tuần tháng 2/2020, chính quyền ĐCSTQ sẽ không muốn có bất kỳ tin đồn nào trong dân chúng. Nếu chính quyền không muốn các tin đồn này lan ra thì rất đơn giản, đó là cho cô Hoàng xuất hiện trên truyền hình, người ta sẽ thôi suy đoán.
Tuy nhiên, có lẽ lựa chọn này đã nằm ngoài tầm với của ĐCSTQ? Khi họ không thể thanh minh, cách làm thường thấy của chính quyền Trung Quốc sẽ là nói dối, che giấu và bưng bít thông tin.
>> Đại dịch Corona và lịch sử dối trá của ĐCSTQ
Hiện tại, không có nguồn thông tin nào xác minh câu chuyện về Hoàng Yến Linh. Tuy nhiên, vào ngày 14 và 15/2, ông Tập Cận Bình và Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc đã liên tiếp đề cập đến tin tức về việc tăng cường luật an toàn sinh học. Điều này làm dư luận bàn tán.
Khi ông Tập Cận Bình chủ trì cuộc họp của Ủy ban Cải cách Trung ương thuộc Ủy ban Trung ương ĐCSTQ vào ngày 14/2, ông nói: “Để đối phó với những sơ hở và thiếu sót do dịch bệnh này gây ra, chúng ta phải sớm khắc phục những thiếu sót và sơ hở;” “cần đưa vấn đề an ninh sinh học vào hệ thống an ninh quốc gia và thúc đẩy đưa ra luật an toàn sinh học càng sớm càng tốt.”
Vào ngày 15/2, “Mạng Hoàn Cầu” của Trung Quốc đã công bố một thông báo nói rằng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành “Hướng dẫn về tăng cường quản lý an toàn sinh học của Phòng thí nghiệm vi sinh học cao cấp đối với virus corona mới”, nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường quản lý các phòng thí nghiệm, đặc biệt là đối với virus, để đảm bảo an toàn sinh học.
Sau khi xem những tin tức nêu trên, cư dân mạng đã bày tỏ rằng chúng có ý nghĩa và ngày càng gần với sự thật.
Viện virus học Vũ Hán là nghi vấn số 1 trong câu hỏi về nguồn gốc của virus Trung cộng. Chi tiết về các điểm nghi vấn đã được trình bày trong một số bài viết trước đây:
Trong rất nhiều các mảnh ghép, cái tên “Thạch Chính Lệ” xuất hiện rất nhiều lần. Một cách trùng hợp, bà là chuyên gia đầu ngành về virus corona ở Trung Quốc, làm việc trong Phòng thí nghiệm P4 hàng đầu – chuyên nghiên cứu các mầm bệnh nguy hiểm nhất, và một loại virus corona “khác với tất cả virus corona khác” bỗng xuất hiện ở thành phố Vũ Hán rất gần nơi bà làm việc?

Bà Thạch Chính Lệ đã tìm hiểu về virus SARS từ tận những năm 2003 và ngày càng tập trung vào tìm hiểu lây truyền virus corona chéo loài (từ dơi sang người) một cách có hệ thống từ những năm 2010.
Bà Thạch từng nhận được giải thưởng vì đã chứng minh được dơi là “kho chứa” tự nhiên của các loài virus corona. Cho tới năm 2018, bà Thạch đã có 3 bài viết khoa học về việc dơi có thể truyền virus corona sang người như thế nào. Đây đều là các thông tin công khai.
Ví dụ, trong một lần tới tỉnh Vân Nam, nhóm của bà đã lấy mẫu máu của 218 dân làng và kiểm tra. Kết quả cho thấy người dân tiếp xúc gần với dơi (sống trong các hang động gần đó) có khả năng lây nhiễm virus corona rất cao. Trong 218 mẫu máu, có 6 mẫu đã nhiễm virus corona.
Vì thế, Phòng thí nghiệm virus Vũ Hán (P4) vẫn thường đăng tải các thông báo tuyển dụng, tìm nhà nghiên cứu về mối quan hệ giữa virus corona và dơi, đặc biệt là vì sao dơi mang virus corona mà vẫn sống lâu được.
>> TT Nghiên cứu Virus Vũ Hán hai lần tuyển người nghiên cứu “virus corona mới” năm 2019
Đáng chú ý là, trước khi có thông tin công khai về loại viêm phổi lạ xuất hiện ở Vũ Hán, Viện virus học Vũ Hán lại đăng tải một thông báo nữa mang nội dung quan trọng vào ngày 24/12/2019. Nội dung có đoạn:
“Sau khi nghiên cứu dài hạn về sinh học gây bệnh của dơi mang virus nghiêm trọng, đã xác nhận rằng các bệnh truyền nhiễm lây qua người như SARS và virus corona gây hội chứng tiêu chảy cấp tính ở lợn (SADS) có nguồn gốc từ dơi, đồng thời đã phát hiện và xác định được một lượng lớn virus mới từ dơi và động vật gặm nhấm.”
Nội dung thông báo ngụ ý rằng họ đã tìm ra một loại virus mới và rất nguy hiểm, muốn tuyển thêm người để nghiên cứu cho nhóm của bà Thạch Chính Lệ.
Thông báo ngày 24/12 xác nhận rằng Phòng thí nghiệm P4 rất có thể đã phát hiện ra khả năng lây nhiễm giữa người với người và cần thêm nhân lực để xử lý.
Mặt khác, Tiêu Ba Đào (Xiao Botao), giáo sư khoa học sinh học tại Đại học Công nghệ Hoa Nam Trung Quốc, đã công bố một báo cáo có tên “Nguồn gốc có thể của các loại virus corona mới trong năm 2019” (báo cáo này sau đó đã bị gỡ bỏ, nhưng vẫn lưu bản sao ở đây). Báo cáo này của ông Tiêu có thể nói là mạo hiểm, cũng giống như trường hợp bác sĩ Lý Văn Lượng.
Báo cáo chỉ ra rằng “Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Vũ Hán”, nơi có hơn 600 con dơi, vào năm 2017 và 2019 đã từng xảy ra sự cố, trong đó các nhà nghiên cứu bị văng máu và nước tiểu từ dơi, khiến họ phải tự cách ly trong 14 ngày. Hơn nữa trung tâm này chỉ cách chợ hải sản Hoa Nam nơi dịch bùng phát có 300m. Ngay cả lô bác sĩ đầu tiên bị nhiễm virus Vũ Hán cũng thuộc Bệnh viện Union ở gần đó. Điều này đã dấy lên nghi ngờ rằng mầm bệnh có thể đến từ mẫu thí nghiệm và rác thải bị ô nhiễm của trung tâm này.
(Ghi chú của biên tập viên: Virus gây bùng phát viêm phổi Vũ Hán là đến từ Trung Quốc dưới sự cai trị của ĐCSTQ, do chính quyền ĐCSTQ che giấu sự thật dẫn đến dịch bệnh lan ra toàn cầu. Người Vũ Hán, người Hồ Bắc và tất cả người Trung Quốc cùng nhân dân toàn thế giới đều là những người bị hại. ĐCSTQ không phải là Trung Quốc, cũng không đại biểu được cho Trung Quốc, do đó, loại virus xuất hiện dưới sự cai trị của ĐCSTQ này nên được gọi là “virus Trung Cộng.”)

Khoa học đã chứng minh, những người lương thiện, thích giúp đỡ người khác có đời sống hạnh phúc và tuổi thọ lâu hơn. Những người trong tâm chứa đầy oán hận, làm việc ác thì dễ sinh các bệnh tật và “ra đi” sớm hơn. Điều này đã minh chứng cho câu nói “thiện ác hữu báo” thật sự tồn tại.
Cổ nhân giảng: “Không quên việc trước, dùng đó làm tấm gương cho việc sau”, lịch sử không chỉ truyền lại văn hóa mà còn cho hậu thế hiểu thế nào là thiện là ác. “Đường sơ quan tu sử thư” lại ghi: “Trừng trị cái ác khuyến khích cái thiện, ghi lại nhiều chuyện đời xưa, lấy đó làm gương cho hậu thế”. Xưa cũng có câu rằng: “Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà không lọt”, “thiện ác đều có báo ứng, chỉ là sớm hay muộn mà thôi.” Những câu này đều để răn đe kẻ ác là làm việc ác tất sẽ bị báo ứng. Nhìn vào sử sách với một tâm thuần tịnh, không khó để mặc khải ra đạo lý ác giả ác báo này.

Thời Võ Tắc Thiên nắm quyền, có một vị quan tên là Sách Nguyên Lễ thành danh bằng cách tố cáo vu oan giá họa người khác, hại người nhiều vô kể.
Sau này nhiều người tố cáo Sách Nguyên Lễ âm mưu tạo phản nên ông ta bị tống vào nhà lao. Lúc ấy, quan xét xử Sách Nguyên Lễ lại chính là thuộc hạ của ông ta. Thấy Sách Nguyên Lễ không chịu nhận tội, vị quan xét xử này lạnh lùng nói: “Mang cái lồng sắt của Sách công ra đây!”
Vừa nghe thấy câu này, Sách Nguyên Lễ đã toàn thân run rẩy, lập tức cúi đầu nhận tội. Cuối cùng ông ta đã bị chết thảm trong nhà lao.
Một vị quan khác là Chu Hưng dưới thời Võ Tắc Thiên cũng thành danh nhờ ngụy tạo án oan “mưu phản”. Khi ông ta đương chức cũng dùng cách bức cung nhục hình tàn khốc, gây ra vô số án oan, hàng ngàn người bị ông ta hãm hại. Sau này Chu Hưng cũng lại bị kẻ khác tố cáo “tạo phản”.
Người xét xử Chu Hưng là một vị quan khác, tên là Tuấn Thần. Trước đây trong một dịp Tuấn Thần ngồi ăn cùng Chu Hưng có thỉnh giáo Chu Hưng về phương pháp ép phạm nhân nhận tội.
Chu Hưng hãnh diện nói: “Việc này không khó, chỉ cần đệ bỏ phạm nhân vào cái chum to rồi châm lửa đốt xung quanh thì lo gì hắn không nhận tội!”
Sau này khi đến lượt Tuấn Thần xét xử Chu Hưng, ông ta đã nói: “Đệ phụng theo mật chỉ, nói có người tố cáo huynh mưu phản, mời huynh vào chum đi!”
Chu Hưng vừa nghe bốn chữ “mời huynh vào chum” thì hồn bay phách lạc, toàn thân mềm nhũn, liên tục rập đầu nhận tội.
Về sau, Tuấn Thần cũng không thoát khỏi kết cục bị ác báo bi thảm. Thời gian tại vị ông ta cũng làm quá nhiều việc ác, dùng nhục hình giết hại vô số người.
Khi Tuấn Thần tra khảo thì không kể nặng nhẹ đều đổ nước muối vào lỗ mũi để bắt họ nhận tội. Ông ta còn đào đất làm nhà lao dưới nước để ngâm phạm nhân vào trong nước hành hạ, còn bỏ đói không cho ăn khiến phạm nhân vì đói mà phải nuốt y phục thay lương thực. Nói chung, phương sách của Tuấn Thần là chưa chết thì chưa chịu buông tha.
Đến năm 697, Tuấn Thần 47 tuổi cũng bị người tố cáo phạm vào tội danh “mưu phản”. Sau đó không lâu, ông ta bị đưa lên pháp trường xử trảm. Những người căm hận ông ta nghe tin này đều tới pháp trường chứng kiến và tranh nhau xẻ thịt ông ta, chỉ trong ít phút, xác Tuấn Thần đã tan nát.
Bậc quân vương thời cổ đại muốn được lòng dân để có thể giữ giang sơn yên bình vững vàng, thì đều chú ý làm lễ tế trời, cầu xin Thần linh che chở. Thế nhưng trong lịch sử cũng có những bạo quân bất kính với Trời Đất. Trong “Sử ký – Ân bản kỷ” ghi lại một sự kiện như sau:
Vua Võ Ất nhà Ân là vị vua bạo ngược vô đạo, kiêu căng ngông cuồng, bất kính với trời đất. Ông ta từng cho thợ làm tượng gỗ rồi gọi đó là “thiên thần”. Võ Ất còn sai người đóng vai “thiên thần” để cùng nhau chơi cờ phân thắng bại với mình, hoặc bắt người và “thiên thần” giả đánh nhau. Nếu “thiên thần” thua, Võ Ất sẽ bắt mọi người tra tấn và làm nhục “thiên thần”. Ngoài ra, Võ Ất còn làm một cái túi da cho đầy máu vào trong, treo lên cao và giương cung bắn rồi nói rằng đây là ta đang “bắn trời”.
Võ Ất tại vị được 5 năm. Trong một lần đi săn đến chỗ sông Vị Thủy, Hoàng Hà, thì bỗng nhiên sấm sét nổi lên, đánh chết ông ta. Sử sách ghi chép rằng, Võ Ất chết vô cùng thê thảm.
Nhiều vị quân chủ đời sau luôn lấy chuyện này làm tấm gương cho mình. Họ cũng rất coi trọng việc tôn kính Trời Đất, không dám làm việc càn quấy vì sợ bị quả báo giống như Võ Ất.
An Hòa
Tại sao có Sự Dữ và Đau Khổ trong đời sống?
LM Mathêu Nguyễn Khắc Hy PSS
06/Apr/2020
I.Giới Thiệu
Nạn đại dịch covid-19, bắt nguồn từ Vũ Hán, Trung Quốc, đã lan tràn ra khắp thế giới, và đe dọa mạng sống con người khiến cuộc sống thường ngày của hầu hết mọi người bị đảo lộn. Riêng với người Công Giáo, Tuần Thánh năm nay có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử mà giáo dân phải tham dự thánh lễ “từ xa” qua hệ thống kỹ thuật truyền thông hiện đại. Trong bối cảnh đối diện với đai dịch, và người Kitô hữu đồng hành với Đức Giêsu Kitô trong tuần thánh để cảm nghiệm Cuộc Thương Khó, Sự Chết và Sự Sống Lại của Ngài, tôi muốn dùng cơ hội này để ôn lại giáo lý Công Giáo dạy gì về những sự dữ và đau khổ xảy ra trong đời sống con người, và làm thế nào để qua những hiểu biết này, chúng ta tăng thêm đức tin vào Thiên Chúa toàn năng và nhân từ.Câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa để có đại dịch covid-19 khiến hơn 1.2 triệu người nhiễm, và hơn 67 ngàn người tử vong? [1] Tại sao ông A bị ung thư? Tại sao bà B bị chết khi đang đi hành hương hay đang cầu nguyện? Tại sao anh C đang làm việc cho cộng đoàn lại bị xe tông và thành bất toại? Hay trên bình diện lớn hơn: Tại sao có chiến tranh gây thiệt mạng hàng triệu người? Khi Hitler giết sáu triệu người Do thái trong các lò hơi ngạt, Thiên Chúa ở đâu? Và hằng ngày, những người bị tù tội oan ức, Thiên Chúa ở đâu? Công bằng ở đâu?
Giáo Lý Công Giáo số 309 dạy “Nếu Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Ðấng Sáng Tạo nên thế giới có trật tự và tốt lành, chăm sóc hết mọi thụ tạo, tại sao có sự dữ?… Không thể có một câu trả lời ngắn gọn mà đầy đủ được.”
Sự hiện diện của sự dữ trong cuộc sống đã quá rõ ràng. Vì thế, đối diện với đau khổ là vấn nạn căn bản và cũng là mầu nhiệm phức tạp đầu tiên con người tiếp cận khi tìm hiểu đức tin họ đặt vào Thiên Chúa.
Những bất công, bệnh tật, chết chóc, đau khổ v.v… là một phần hiện thực của sự dữ (sự ác) được triết học và thần học quan tâm và tìm cách giải thích cho hợp lý. Câu hỏi ‘tại sao và làm cách nào sự dữ xâm nhập vào thế giới được Thiên Chúa tạo dựng’ vẫn chứa đựng bí ẩn thắc mắc nhiều hơn là câu trả lời.
Với đức tin Công Giáo, chúng ta hiểu gì mầu nhiệm này? Trước khi tìm hiểu thêm sâu rộng thêm về đề tài này, chúng ta cần phân biệt hai hình thức sự dữ được nói đến: một là sự dữ luân lý, hai là sự dữ tự nhiên. Sự dữ luân lý thường là hệ quả của việc con người sử dụng tự do (ví dụ như trộm cắp, giết người, cướp của, hãm hại nhau…). Sự dữ tự nhiên (như động đất, lụt lội, núi lửa, bệnh tật…) không là lựa chọn của con người nhưng họ lãnh hậu quả.
Dĩ nhiên không phải mọi kết quả sự dữ đều dễ nhận dạng theo hai hình thức trên, vì tính phức tạp của thực tế. Ví dụ như sập chiếc cầu Cần Thơ năm 2007 làm chết hơn 50 người, liệu đây là do sự dữ tự nhiên (cầu sập đè chết người) hay sự dữ luân lý khi con người làm lỗi (vì thiết kế cẩu thả, ăn cắp vật liệu, gian dối trong thi công…) gây sập cầu. Dịch Covid-19 là do sự dữ tự nhiên (con người vô tình lây lan từ một virus đang có trong động vật???…) hay sự dữ luân lý (vì con người muốn chế tạo để hại nhau, nhưng sai lầm trong kiềm chế kiểm soát khiến virus bị lọt ra ngoài??). Ngay cả với yếu tố sự dữ tự nhiên, việc lây lan nhanh chóng và quá rộng rãi trên thế giới có thể một phần do sự dữ luân lý khi con người che giấu sự thật về tình trạng nguy hiểm của virus này không?
Điều quan trọng là cho dù sự dữ luân lý hay tự nhiên, chúng ta cũng không dễ dàng tìm ra câu trả lời tại sao lại xảy ra như vậy.
Và tất cả những gì tôi chia sẻ dưới đây là tập hợp của những lý thuyết trong lịch sử tìm cách giải đáp thắc mắc này, nhưng không một giải đáp nào thỏa mãn được mọi thắc mắc của chúng ta. Dù sao, những tổng hợp vắn tắt này cho chúng ta một cái nhìn khái quát phức tạp về vấn nạn sự dữ và đau khổ trong cuộc sống, và giúp chúng ta cẩn thận hơn khi giảng dạy, thay vì cung cấp những câu trả lời đơn giản nhưng chứa đựng nhiều sai lầm.
II. Lịch sử tranh luận về sự dữ
Triết lý và thần học có cùng một câu hỏi, nhưng cách giải thích có nhiều khác nhau. Với triết lý, lý luận logic là nguyên tắc chính. Với thần học Kitô giáo, làm sao để bảo vệ được Một Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, Toàn Thiện mà không thể bỏ qua sự hiện diện của sự dữ trong đời.
Thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, triết gia Epicurus (341-270 BC) đã đặt câu hỏi tương quan giữa Triết học và Thần học khi ông hỏi về nguyên nhân của sự dữ, và được David Hume (1711-1776) lặp lại trong một lý luận ngắn gọn: “Có phải Thiên Chúa muốn ngăn ngừa sự dữ nhưng Ngài không có thể? Vậy, Ngài không Toàn Năng. Nếu Ngài có thể, nhưng Ngài không ước muốn ngăn ngừa? Vậy Ngài không Toàn Thiện. Nếu Ngài vừa có khả năng và vừa ước muốn làm việc đó, vậy tại sao sự dữ lại có mặt trong đời sống?”
1. Triết lý và các thuyết giải thích
Triết lý tìm cách giải thích sự hiện diện của sự dữ mà không nhất thiết phải tin là có Một Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng vũ trụ. Vì thế, một vài lý luận được ghi lại như sau:
Thứ nhất, chủ nghĩa Nhị Nguyên Thuyết (dualism) cắt nghĩa đơn giản rằng trong vũ trụ tồn tại hai thần lực, Tốt và Xấu. Sự đấu tranh này có thể là tạm thời (nghĩa là đến một lúc nào đó, một trong hai Thần sẽ thắng đối tượng kia), hay có tính cách vĩnh viễn (nghĩa là hai thế lực Tốt-Xấu này tồn tại muôn đời). Như thế, sự dữ trong thế gian là điều tất yếu, vì đó là một phần của thụ tạo trong vũ trụ. [2]
Thứ hai, không hề có hiện thực Tốt hay Xấu mà chỉ là những danh từ con người đặt tên cho những sự kiện xảy ra trong đời. Nói cách khác, “hên” hay “xui” không tùy thuộc vào sự kiện cho bằng tùy thuộc vào người đón nhận. Vì thế, không thể coi sự dữ như là một thực thể, mà tốt hơn là coi nó như một tình trạng tâm lý, hay một tình huống được con người diễn dịch theo ý mình. [3]
Thứ ba, thuyết Bất Khả Tri Luận (agnosticism) cho rằng khả năng con người không thể biết được. Thuyết Bất Khả Tri Luận được nhiều người chấp nhận vì mọi lý lẽ giải thích bí nhiệm sự dữ không thoả mãn được óc tò mò của con người, ngay cả vô thần như Voltaire, trong tác phẩm Candide,Ou L’Optimisme, cũng ủng hộ thuyết này. [4]
Thứ tư, thuyết Nhân Quả cho rằng “gieo gió thì gặp bão.” [5] Xuất phát từ tính dễ hiểu, triết thuyết này rất phổ biến trong đời sống con người, và là nền tảng niềm tin Ấn Độ giáo, Phật giáo, Khổng giáo, Nho giáo…. Điều khó cắt nghĩa được kể lại trong Tin Mừng Gioan 9:1-12 là tại sao người mù từ khi mới sinh? Tội của anh ta hay của cha mẹ anh ta? Vì mù từ khi mới sinh nên chắc chắn anh ta chưa làm gì nên tội; còn nếu là tội cha mẹ anh thì câu hỏi: tại sao một người làm mà người khác phải chịu? Bên cạnh đó, ta lại còn chứng kiến nhiều người ác sống thảnh thơi trong khi người lành thánh gặp nhiều hoạn nạn. Thuyết Nhân Quả bị sách ông Gióp loại bỏ và cũng bị Chúa Giêsu lên án (John 9:2-3)
2. Triết lý và lý luận logic
Giáo lý Kitô giáo dạy chỉ có Một Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, Toàn Thiện. Vậy sự có mặt của sự dữ không thể dung hoà với những yếu tố trên của đức tin. Lý luận này được tóm gọn như sau:
a. Nếu Thiên Chúa là Đấng Toàn Thiện, Ngài phải tiêu diệt hết mọi sự dữ.
b. Nếu Thiên Chúa Toàn Năng, Ngài có thể tiêu diệt hết mọi sự dữ.
c. Vì thế, sự dữ trên thế gian chứng tỏ không có một Thiên Chúa vừa Toàn Năng – Toàn Thiện như Kitô giáo dạy.
Trước khi đi sâu vào tư tưởng thần học của lý luận này, chúng ta cùng nhau nhìn lại lý luận này theo phương thức logic của triết lý. Khi thách đố trên dựa vào lý luận để kết luận là không có Một Thiên Chúa như đức tin Kitô giáo dạy, thì chìa khóa giải đáp cũng dựa vào lý luận mà thôi.
Khi ta nói: “Thiên Chúa là Đấng toàn năng, làm được mọi sự” , câu này có nghĩa là gì? Có phải Ngài làm gì cũng được hay sao? Thưa không, vì có nhiều điều Thiên Chúa không làm được. Kinh thánh nói “với Thiên Chúa mọi sự đều có thể” (Mt. 19:26), nhưng Kinh thánh cũng dạy là có nhiều điều Thiên Chúa không làm được, như Ngài không thể lừa dối (Titus. 1:2), không thể phạm tội, hay cám dỗ người khác phạm tội (James 1:13). Nghĩa là Thiên Chúa không thể làm điều nghịch lại bản tính Ngài. Và cũng không thể làm điều gì ngoài định luật Ngài đã đặt ra, như không thể tạo ra một hình tam giác có bốn góc, hay làm sai thành đúng, hay người cao lại “ngắn” hơn người lùn…[6] Với con người, Thiên Chúa không thể cho họ vừa tự do, vừa mất tự do.
Vì thế, lý luận logictrên không thật sự cho chúng ta một thực thể nhưng cho ta một logic lập luận về từ ngữ mà thôi.
Nên trong thần học, chúng ta vẫn tuyên xưng Thiên Chúa Toàn Năng và Toàn Thiện, và dĩ nhiên Ngài có khả năng loại bỏ sự dữ, nhưng Ngài không thể làm mà không huỷ hoại tự do con người.
Còn với sự dữ tự nhiên (như động đất, lụt, bệnh tật…) thì sao? Lý luận trên cũng giúp ta hiểu rằng chúng ta không thể sống theo ý định Thiên Chúa muốn ta sống, nếu ta không có môi trường như ta đang có hiện tại. Nói cách khác, điều kiện sống hiện tại, dù có nhiều sự dữ, nhưng bảo đảm cho ta được tự do, và là điều kiện tốt nhất Thiên Chúa dành cho con người.
3. Sự dữ trong thần học truyền thống
Trong truyền thống thần học Kitô giáo, có vài hình thức giải thích được xem là phổ biến.
Trước hết là không thể hiểu được. Chúng ta không hiểu tại sao có sự dữ trên thế gian, nhưng chúng ta vẫn tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng đời mình, và con người cần kiên nhẫn trong đời sống đức tin. Cách hiểu này được kể lại trong sách ông Gióp khi cắt nghĩa rằng con người không thể hiếu được chương trình bí nhiệm của Thiên Chúa Toàn Năng (xem Job 38-41). Nên nhớ rằng chỉ vì ta không hiểu được lý do nào Thiên Chúa để cho sự dữ xảy ra, không có nghĩa là Thiên Chúa không có lý do để làm chuyện đó. Một em bé không luôn luôn hiểu hết những lý do đằng sau những việc bố mẹ làm cho mình, nhưng không phải vì thế mà bố mẹ không có lý do để cấm đoán hay khuyến khích em làm những gì bố mẹ muốn cho em. Vì thế, là con người mà đòi hỏi hiểu hết mọi mầu nhiệm của Thiên Chúa là điều không thể được, vì ngay cả biết bao điều chung quanh chúng ta mà ta còn chưa hiểu như sức ly tâm, sức hút trái đất, nguyên tử v.v…
Thứ hailà thanh luyện. Cách giải thích này là Thiên Chúa dùng đau khổ, sự dữ để thanh luyện con người ngày càng lớn mạnh hơn.[7] Tư tưởng này khá phổ biến trong thần học các giáo phụ, và ta có thể tìm thấy trong thần học thánh Phaolô, như trong thư gửi tín hữu Roma: “Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta.” (Rom 8:18). Dĩ nhiên tư tưởng thánh Phaolô nhắc ở đây là những đau khổ con người chịu vì danh Đức Giêsu Kitô, chứ không là những đau khổ đến từ những điều kiện mà con người có thể loại bỏ hay thay đổi. Nghĩa là, đừng hiểu lầm rằng thánh Phaolô muốn con người sống thụ động trước đau khổ, nhưng Ngài muốn dạy rằng Thiên Chúa sẽ không để những đau khổ con người chịu đựng vì danh Ngài trở nên vô ích. Với những người chống lại lối giải thích này, họ hỏi rằng: liệu Thiên Chúa còn phải tôi luyện con người đến mức nào? Bao nhiêu thử thách đau khổ xảy ra mới đủ?
Thánh Irenaeus (thế kỷ 2) cho rằng sự dữ đơn giản là một phần của thụ tạo được dựng nên, và là điều kiện cần thiết để con người có thể sử dụng tự do chọn điều Tốt. Chỉ khi có sự dữ như một lựa chọn, con người mới thật sự hiểu tự do là gì khi chọn điều tốt – xấu cho mình. Và khi chọn điều tốt để làm và loại bỏ điều xấu, con người trưởng thành. Như vậy, sự dữ là điều kiện cần thiết để con người được tôi luyện và trưởng thành.[8]
Thứ ba là phó thác theo ý Chúa. Lối giải thích này cho rằng không việc gì xảy ra mà không theo ý Thiên Chúa, nghĩa là, mọi việc xảy ra dù Thiên Chúa cho phép xảy ra hay Thiên Chúa muốn nó xảy ra đều do Thiên Chúa định đoạt. Lối giải thích này cũng không quên nhấn mạnh rằng ý định cuối cùng của Thiên Chúa luôn luôn muốn sự tốt đẹp cho con người, vì những gì không tốt đẹp đều không hợp với bản tính tốt lành, yêu thương và khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa chắc chắn phải có lý do chính đáng khi để những sự dữ xảy ra. Nói cách khác, Thiên Chúa sẽ đem về những kết quả tốt đẹp đến từ đau khổ, và dùng sự dữ như phương tiện để thực hiện mục đích Ngài. Vậy, Thiên Chúa muốn có sự dữ, vì nếu Ngài không muốn thì nó không thể hiện hữu được. Điều đáng chú ý (về thần học) là liệu ước muốn có sự dữ trên thế gian có thuộc về bản tính Thiên Chúa không? Vì theo giáo lý Công Giáo, Thiên Chúa luôn luôn ước muốn điều thiện hảo? Tóm lại, lối giải thích này từ chối công nhận rằng sự dữ là một vấn nạn, và khuyên Kitô hữu chỉ cần phó thác theo ý Thiên Chúa là đủ.
Thứ tư là vũ trụ đang tiến hóa. Một quan điểm khác cho là những sự dữ trong đời như bệnh tật, già nua, thất bại… là một phần của tiến trình tiến hoá trong vũ trụ (như đau khi mọc răng là một phần của sự lớn mạnh của con người). Tựu trung, vũ trụ đang tiến hoá. Và bão tố, động đất… là một phần của tiến trình này. Cha Pierre Teilhard de Chardin, thần học gia người Pháp, là người cổ võ cho tư tưởng này. Hiểu cách này, tất cả những gì xảy ra trên thế giới được coi là chức năng của đời sống vũ trụ. Đây là nghĩa sâu nhất của danh từ “tiến hoá”. Thuyết này có ưu điểm là giải thích những sự dữ tự nhiên (động đất, lụt lội, núi lửa…) là bản năng tiến hoá. Vì thế, sự dữ không là một sản phẩm có mặt ngay từ khi tạo dựng vũ trụ, và vì thế, không là một sản phẩm Thiên Chúa dựng nên. Do dó, sự dữ trong thuyết này không có từ đầu, và sau này cũng biến mất khi vũ trụ hoàn hảo, hết tiến hoá.[9]
4. Thánh Augustine và sự dữ
Thánh Augustine (354-430) được coi là thần học gia tiên phong có những giải đáp khá thỏa đáng liên quan đến câu hỏi này.[10] Lời giải thích của thánh nhân dựa trên đức tin căn bản: Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng (Ngài làm được mọi sự) và Toàn Thiện (Ngài luôn yêu điều thiện, không làm điều ác).[11] Lối giải thích của Ngài thực tế, đáng tin, giải đáp được những hi vọng của Kitô hữu, và giúp những gì ta đang làm có ý nghĩa.
Trước hết, Thiên Chúa tạo dựng nên mọi sự từ hư không, và mọi sự đều tốt đẹp. Vì thế, sự dữ không thể là một sản phẩm (thụ tạo) của Thiên Chúa toàn thiện được, vì Ngài không dựng nên sự dữ.[12] Vậy nếu không là một thụ tạo, sự dữ từ đâu đến? Thánh Augustine giải thích rằng sự dữ tự nó không hiện hữu được, vì Thiên Chúa không dựng nên nó, nhưng sự dữ là do vắng bóng sự thiện mà thôi.[13] Thánh Augustine cũng giải thích thêm rằng vì sự dữ tự nó không tồn tại như một thụ tạo, vì thế con người không chọn sự dữ như một đối tượng (vì không có thực để con người chọn). Nhưng khi con người từ chối và quay mặt lại với sự thiện, hay khi chọn lựa cái kém hơn sự thiện, con người đến với sự dữ. Và thánh Augustine kết luận rằng nguồn gốc của sự dữ nằm ở tự do của con người khi họ lựa chọn điều kém hơn sự thiện.[14]
5. Thần học hiện đại và cái nhìn mới về sự dữ
Từ sau Thế Chiến Thứ Hai, với hơn sáu triệu người Do Thái bị Đức Quốc Xã giết chỉ vì họ là người Do Thái, thần học nhìn về sự dữ thay đổi rất nhiều. Nhiều thần học gia phê bình lối giải thích của thánh Augustine hay lối hiểu trong thần học cũ vì tính không thực tế, xa vời, và không giải thích được vai trò Thiên Chúa trong đời sống con người. Họ đề nghị cần phải có một cái nhìn mới trong vấn đề này. Lối giải thích của những thần học mới này cũng mang theo những yếu tố sau:
Thứ nhất là chất vấn tính toàn thiện của Thiên Chúa. Sự dữ ngày càng nhiều trên thế gian khiến con người mất tin tưởng vào Một Thiên Chúa Là Tình Yêu, như Thánh Kinh dạy. Như vậy không có nghĩa là họ từ chối Thiên Chúa toàn thiện, nhưng họ đặt câu hỏi để “xét xử” Thiên Chúa hơn là luôn bênh vực Thiên Chúa như trong thần học truyền thống.
Thứ hai là quy trách nhiệm gián tiếp cho Thiên Chúa khi để sự dữ hiện diện trong thế gian. Vì Thiên Chúa cho con người tự do, và họ đã làm điều xấu (cướp của, giết người…) mà Thiên Chúa không ngăn cản được, nên Thiên Chúa chịu trách nhiệm gián tiếp cho hành động con người gây ra sự dữ. Dù Thiên Chúa luôn ước mong những gì tốt đẹp nhất cho con người, và không muốn họ đau khổ, nhưng Ngài phải chịu một phần trách nhiệm trong thế giới Tốt-Xấu lẫn lộn này.
Thứ ba là con người trưởng thành và hoàn hảo qua chính những lựa chọn của mình. Lối giải thích này cho rằng mỗi con người sinh ra đều có một mục đích mong đạt được. Không như Augustine cho rằng sự dữ là kết quả của tội lỗi, hay như thánh Irenaeus cho rằng sự dữ tôi luyện đời sống đức tin, John Hick (người đại diện cho lối hiểu này) cho rằng chính sự dữ giúp con người có kinh nghiệm khi có những quyết định đúng đắn để xây dựng tư cách của mình. Chính những quyết định đúng đắn hằng ngày giúp ta sống trọn vẹn, đúng nghĩa Thiên Chúa đã ước định cho ta.
Cuối cùng là thần học giải phóng nhắm đến giải thoát con người khỏi những bất công hiện tại. Chính bất công gây ra nghèo đói, tội ác… và những đàn áp, bóc lột là hiện thân của sự dữ. Lối giải thích này không cắt nghĩa nguyên nhân sự dữ, nhưng mời gọi con người thông phần với Đức Kitô là nạn nhân của xã hội bất công, và luôn nhớ rằng Sự Sống Lại là chiến thắng của Thiên Chúa trên sự dữ.
III. Giáo lý Công Giáo và thần học về sự dữ
Trong sách giáo lý Công Giáo, Giáo Hội luôn khẳng định rằng sự dữ (kết quả dẫn đến đau khổ) trong đời sống con người luôn luôn là một mầu nhiệm. Vì thế, Giáo Hội không cho ta một câu trả lời rõ ràng, rành mạch theo lý luận bình thường cho câu hỏi “Tại sao Một Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện lại để cho sự dữ hoành hành trong đời sống con người”. Dù công nhận là một mầu nhiệm, Giáo Hội cũng đưa ra nhiều giải thích để chúng ta có thể hiểu và sống có ý nghĩa khi đương đầu với sự dữ. Một vài tư tưởng hiện tại:
Trước hết, vũ trụ và con người đang trong qúa trình tiến hoá. Giáo lý số 310 dạy: “Tại sao Thiên Chúa không tạo dựng một thế giới thật hoàn hảo để không có một sự dữ nào xuất hiện?” Giáo hội trả lời là cho dù Thiên Chúa quyền năng vô biên có thể làm được việc này, nhưng Ngài đã không làm, mà tạo dựng một thế giới “trong tình trạng lên đường” hướng về sự hoàn hảo sau cùng. Nghĩa là cả vũ trụ đang tiến triển, lớn mạnh để đi đến hoàn hảo. Vì thế, sự lớn mạnh khi “cái này xuất hiện, cái kia biến đi” (như núi lửa xuất hiện tạo nên núi mới trong khi núi già biến đi) là quá trình tiến hoá của mọi loài. Giáo hội kết luận: “Vì vậy bao lâu mà công trình tạo dựng chưa đạt được mức trọn hảo của nó, thì cùng với điều tốt thể lý, cũng có sự dữ thể lý.” Nói cách khác, lớn mạnh để đi đến hoàn hảo đòi hỏi thay đổi, thay đổi đòi hỏi nhiều đau khổ mà ta gọi là sự dữ[15].
Thứ hai, tự do là nguyên nhân gây sự dữ. Và dù Thiên Chúa không tạo dựng sự dữ, Ngài cho phép sự dữ xâm nhập thế gian. Giáo lý số 311: “Thiên thần và con người có tự do…trong thực tế, họ đã phạm tội… Tuy nhiên, vì tôn trọng tự do của thụ tạo, Người để nó xảy ra, và một cách mầu nhiệm, Người biết cách rút lấy điều lành từ sự dữ.” [16] Giáo hội khẳng định “Thiên Chúa không bao giờ, bằng bất cứ cách nào, trực tiếp hay gián tiếp, là nguyên nhân của sự dữ luân lý.” Nhưng trong và qua sự dữ, Thiên Chúa biến nó thành những gì lợi ích cho con người. Giáo lý 313 dạy: “Mọi sự đều sinh lợi ích cho ai yêu mến Thiên Chúa” (Rm 8, 28). Và giáo lý 312 khẳng định: “Thiên Chúa dẫn đưa ta tới điều thiện hảo từ những hậu quả của sự dữ.”
Thứ ba, Thiên Chúa sẽ toàn thắng. Sách giáo lý số 314 dạy rằng hiện tại chúng ta không hiểu được mầu nhiệm đau khổ, nhưng ta tin rằng Thiên Chúa sẽ toàn thắng mọi sự trong ngày sau hết. Trong ngày “mặt đối mặt” đó (1 Cor 13:12), chúng ta hiểu trọn vẹn đường lối Thiên Chúa dẫn con người qua những thảm kịch của sự dữ và tội lỗi. Nói cách khác, cuối cùng ta sẽ hiểu trọn vẹn. Vì thế hãy cứ vững lòng tin.
IV. Kết Luận
Đau khổ mà thế giới đang gánh chịu vì nạn đại dịch Covid-19 khiến mọi người đặt câu hỏi về sự hiện diện của sự dữ, và câu hỏi này chắc chắn vẫn còn là vấn nạn ngàn đời cho mọi người. Là những Kitô hữu, dù chúng ta không biết tại sao mình bị đau khổ hay tại sao sự dữ khống chế cuộc sống, nhưng chúng ta tin những đau khổ mình chịu không vô nghĩa, vì chính Đức Giêsu Kitô đã chịu đau khổ cách bất công. Điều chúng ta TIN chắc chắn là Thiên Chúa luôn yêu thương con người, và Ngài đã tạo dựng một thế giới tốt nhất có thể được, để con người sinh hoạt.
Tôi mượn lời dạy của giáo lý Công Giáo số 324 để tóm kết: “Việc Thiên Chúa cho phép có sự dữ thể lý và sự dữ luân lý là một huyền nhiệm mà Thiên Chúa làm sáng tỏ nhờ Con của Ngài là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã chết và sống lại để chiến thắng sự dữ. Ðức tin giúp chúng ta xác tín rằng, Thiên Chúa đã không cho phép sự dữ xuất hiện, nếu Ngài không làm phát sinh điều thiện hảo từ chính sự dữ đó, bằng những đường lối mà chúng ta chỉ biết được trọn vẹn trong đời sống vĩnh cửu.”
——————-
Chú thích:
[1] Con số tính đến ngày 5-4-2020.
[2] Nhiều Kitô hữu nhầm lẫn cho rằng Nhị Nguyên Thuyết đến từ Kinh thánh, nhưng thực ra thuyết này đến từ Gnosticism (Vô Ngộ Thuyết) và Manichaeism (Thuyết Mani). Thuyết Nhị Nguyên được tìm thấy sớm nhất được tìm thấy trong lời dạy của Zarathustra (thể kỷ 6 trước công nguyên) và được Mani (chết 276) khai thác thêm. Thuyết này chủ trương vũ trụ tồn tại có Bóng Tối – Ánh Sáng, Trắng-Đen, Nóng-Lạnh…
[3] Lý luận này được triết gia Baruch Spinoza (1632-1677) cổ động và được gọi là Duy Danh Luận Chủ Nghĩa (nominalisticism).
[4] Triết gia Gottfried W. Leibnitz lý luận rằng thế giới hiện tại là chọn lựa tốt nhất mà Thiên Chúa đã dựng nên cho dù có sự hiện diện của Sự Dữ. Lý luận này nhằm đáp lại logic của triết lý mà nhiều người nói là câu trả lời của Leibnitz cho Descartes. Nhưng Voltaire, trong tác phẩm Candide,Ou L’Optimisme, đã bắt đầu với lời lẽ ủng hộ quan niệm của Leibniz về cách giải thích hiện hữu của sự dữ cho rằng vũ trụ này là chọn lựa tốt nhất mà Thiên Chúa có thể làm ra. Nhưng cuối tác phẩm, ông kết thúc bằng lời lẽ cổ võ cho thuyết Bất Khả Tri Luận, cho rằng bí nhiệm này vượt trên khả năng con người.
[5] Thuyết Nhân Qủa được người Do Thái chấp nhận vì tính dễ hiểu của nó. Gioan 9:1-2 kể chuyện khi gặp người mù từ khi mới sinh, một số môn đệ Chúa Giêsu cho là do tội của anh ta hay của cha mẹ anh ta. Chúa Giêsu dùng cơ hội này để sửa sai niềm tin của họ. Kitô giáo chưa bao giờ chính thức dùng thuyết Nhân Qủa để cắt nghĩa nguồn gốc sự dữ, nhưng nhiều người hiểu lầm lời dạy cho rằng sự trừng phạt Thiên Chúa áp đặt trên Adam và Eva vì bất tuân là hình thức Nhân Quả (xem Gen 3:16-18). Dù giáo lý Giáo Hội dạy rằng đau khổ là kết quả của tội lỗi, nhưng luôn nhắc nhở đây là một mầu nhiệm hơn là một sự kiện được cắt nghĩa cách đơn giản theo thuyết Nhân Quả.
[6] Đừng lầm tưởng lý luận “toàn năng” này với phép lạ. Dĩ nhiên Thiên Chúa có thể làm cho đá nổi trên mặt nước, hay cho trâu bò bay nhanh hơn chim, nhưng khi đã là phép lạ, thì thực chất của hiện vật thay đổi, nghĩa là, đá được phép “nhẹ” hơn nước, hay trâu bò được phép “bay” nhanh hơn chim. Điều Thiên Chúa không thể làm được là khi tốc độ bay 50 km/giờ lại nhanh hơn 100 km/giờ, hay 10 kg lại nhẹ hơn 5 kg. Tất cả những định luật tự nhiên này được chính Thiên Chúa định đoạt.
[7] Giáo phụ Origen, thế kỷ 3, giải thích rằng những thử thách là để ta được tôi luyện và lớn lên (xem De principiis, sách I, V,1). Thể xác con người như phương tiện qua đó ta được “huấn luyện và hướng dẫn” để được ơn cứu chuộc (xem De principiis, sách I, V,3). Sự Dữ bài học Thiên Chúa dạy con người.
[8] John Hick, một học giả nổi tiếng hiện đại của thế kỷ 20, khai thác tư tưởng này của thánh Ireneaus trong cuốn Evil and the God of Love (San Francisco: Harper San Francisco, 1978).
[9] Xem Pierre Teilhard de Chardin, The Future of Man, New York: Harper & Row Publisher, 1964, p. 261.
[10] Cho đến cuối đời thánh Augustine vẫn còn tranh luận vấn đề này với Julian. Xem John M. Rist, Augustine (New York: Cambridge University press, 1994) p. 261.
[11] Khi còn trẻ, Augustine theo nhóm Manichean chủ trương Nhị Nguyên Thuyết, cho là vũ trụ có Tốt-Xấu cùng tồn tại. Sau khi đã trở nên Kitô hữu, Augustine chống lại lạc thuyết này trong những bài viết của Ngài.
[12] Xem De Civitate Dei, ch. xII.
[13] Xem Augustine, De Civitate Dei, XI, CHAP. 9, và Confessiones, VII: [XII] 18. Thánh Augustine sửa đổi một phần tư tưởng của Hậu Plato (Neo-Platonism) khi trường phái này nhấn mạnh rằng sự dữ không là hữu thể tự hữu nhưng là vắng bóng của Sự Thiện.
[14] Xem Augustine, De Civitate Dei, XII, CHAP. 6, và Confessiones, VII: [III] 5.
[15] Giáo lý Công Giáo 310 – Tại sao Thiên Chúa không tạo dựng một thế giới thật hoàn hảo để không có một sự dữ nào xuất hiện? Xét theo quyền năng vô biên Thiên Chúa vẫn có thể tạo dựng được điều tốt hơn (x. T. Tôma Aquinô tổng luận 1, 25, 6). Nhưng trong sự khôn ngoan và nhân hậu vô biên của Ngừơi, Thiên Chúa đã tự ý sáng tạo một thế giới trong “tiến trình” hướng về sự trọn hảo tối hậu. Theo ý định của Thiên Chúa, sự tiến hóa này gồm có việc vật này xuất hiện và vật khác biến đi, có cái hoàn hảo hơn và có cái kém hơn, có xây đắp và cũng có tàn phá trong thiên nhiên. Vì vậy bao lâu mà cuộc sáng tạo chưa đạt được sự trọn hảo của nó, thì cùng với điều tốt thể lý, cũng có sự dữ thể lý (x. T. Tôma Aquinô, s. gent 3. 71).
[16] Giáo lý Công Giáo 311 – Thiên thần và con người là những thụ tạo thông minh và tự do, nên phải tiến về cùng đích bằng một sự lựa chọn tự do và yêu chọn cái tốt hơn. Do đó họ có thể lầm lạc. Trong thực tế, họ đã phạm tội. Như vậy, sự dữ luân lý, vô cùng nghiêm trọng hơn so với sự dữ thể lý, đã xâm nhập vào thế giới. Thiên Chúa không bao giờ là nguyên nhân của sự dữ luân lý, cho dù trực tiếp hay gián tiếp (x. T. Âu-tinh, lib 1, 1, 1; Th. Tôma Aqu, s. th, 1-2, 79, 1). Tuy nhiên, vì tôn trọng tự do của thụ tạo, Người để nó xảy ra, và một cách mầu nhiệm, Người biết cách rút lấy điều lành từ sự dữ.
LM Mathêu Nguyễn Khắc Hy PSS

Saturday, April 04, 2020 Bình Luận , Bùi Phạm Thành , ĐSLV
Bắt đầu từ tháng 12 năm 2019, một số tin tức và video clip về nạn dịch cảm cúm có thể biến chứng gây viêm phổi làm chết người ở Wuhan (Vũ Hán – thủ đô của tỉnh Hồ Bắc, Hubei, có dân số trên 11 triệu) bên Tàu khiến nhà cầm quyền Tàu ra lệnh quản chế, giam lỏng cả tỉnh Hồ Bắc, dân số trên 58 triệu, “trong không được ra, ngoài không được vào”, nhà kín cửa, phố im lìm, đường xá vắng tanh như thành phố ma. Thế giới đã quá quen thuộc với dịch cảm cúm hàng năm, nên không lấy gì làm lạ và đã gửi lời chúc lành đến dân chúng Vũ Hán. “Cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại”, vì chuyện xảy ra ở một tỉnh mãi tận bên Tàu, và như thường lệ, người dân Vũ Hán và người Tàu ở khắp nơi trên thế giới cứ thản nhiên “về quê ăn Tết”. Rồi sau Tết thì cũng thản nhiên trở lại với công ăn việc làm, trong nước cũng như ngoại quốc, không biết rằng họ đã được “gài bom vi trùng” trong người.
Đó là một bi kịch được dàn cảnh tuyệt vời bởi nhà cầm quyền Tàu cộng để thế giới nghĩ rằng cảm cúm là chuyện bình thường vẫn xảy ra hàng năm, và năm nay nước Tàu bị nặng. Tuy nhiên, sau khi dân Tàu đã bung ra tứ tán trên thế giới thì nhà cầm quyền Tàu cộng mới tuyên bố đây là một bệnh dịch do một loại siêu vi khuẩn mới gây cảm cúm và viêm phổi. Trong khi dân Tàu, mang coronavirus đi khắp thế giới thì người đứng đầu WHO vẫn “nể tình” Tàu cộng nên vẫn chưa chịu tuyên bố tình trạng đại dịch. Cho đến khi các nhân viên xưởng may Tàu ở Ý đã phát tán virus khiến dân Ý chết hàng loạt thì ngày 11 tháng 3 năm 2020, WHO mới tuyên bố đó là đại dịch. Nhưng đã quá trễ, con coronavirus đã được dân Tàu đem đi khắp thế giới từ hơn 2 tháng qua (sau Tết âm lịch) và số quốc gia bị lây nhiễm đã là 114 quốc gia với hơn 4 ngàn người chết.
Một quả bom tự sát của chiến binh quá khích Hồi giáo có thể giết hàng chục người, thế nhưng một “quả bom vi trùng” được cấy vào người dân Tàu để đem đi khắp nơi trên thế giới thì hậu quả thật khó lường.
Thành ngữ Việt có câu “chỗ nào có khói là có Tàu”, do đó nỗi kinh hoàng đã tràn lan khắp thế giới, kinh tế đình trệ và khắp nơi vắng tanh vì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đóng cửa biên giới cũng như giới hạn dân chúng trong nước về vấn đề di chuyển.
Khi kinh hoàng đã bao trùm thế giới thì chính quyền Tàu cộng tuyên bố họ đã ngăn cản được nạn dịch trên lục địa Tàu. Tiếp theo đó là “mở rộng vòng tay” cứu trợ các quốc gia nghèo ở Đông Âu và ngay cả nước Ý, quốc gia đã mở cửa đón hàng chục ngàn nhân công Tàu vào làm ở các hãng xưởng may quần áo đã bị thương gia Tàu dùng tiền lũng đoạn hoặc mua đứt. Đồng thời bắt chẹt Hoa Kỳ về thuốc men và dụng cụ y khoa, vì tất cả những thứ này đều đã được các hãng xưởng của Hoa Kỳ đem qua Tàu để chế tạo vì nhân công rẻ.
Quả bom vi trùng cấy vào dân Tàu là một dàn dựng tinh vi và khủng khiếp nhất trong lịch sử của nhân loại.Chỉ với những quả “bom sinh học – quả bom vi trùng” gài vào dân Tàu rồi tung ra khắp nơi, trong ba tháng đầu năm 2020, Tàu cộng đã đánh gục toàn thế giới, kể cả Hoa Kỳ, một quốc gia có nền kinh tế và văn minh đứng đầu thế giới. Hiển nhiên, đây là một dàn dựng tinh vi và khủng khiếp nhất trong lịch sử của nhân loại. Như thế thì làm sao Tàu cộng tránh khỏi sự trả đũa của tây phương?
Việc đầu tiên là áp dụng theo sách vở tuyên truyền của Nga Xô là “tung hoả mù”, đưa ra những tin đồn đoán, những giả thuyết (conspiracy theory) để đánh lừa dư luận.
Đảng Cộng sản Tàu đã dành cả tuần lễ của đầu tháng Ba để đưa ra những giả thuyết nhằm gây nghi ngờ về nguồn gốc của coronavirus, và do đó làm chệch hướng sự chỉ trích về việc Tàu cộng che dấu và gian dối về dịch coronavirus, lúc này được biết đến với tên COVID-19.
Đây là một chiến lược rõ ràng được phát xuất và điều khiển bởi Bắc Kinh như những lần trước, đồng thời báo hiệu cho những hành động tích cực để đánh lạc hướng nghi ngờ nguồn gốc và nguy hiểm của bệnh dịch, đồng thời duy trì ảnh hưởng của Tàu trên chính trường quốc tế.
Tàu cộng đã dùng phương tiện thông tin xã hội Twitter để tung ra những giả thuyết về nguồn gốc của coronavirus.
Một giả thuyết, được tweet nhiều lần liên tiếp bởi phụ tá của phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Tàu là Zhao Lijian, được tiếp tay bởi giới truyền thông của chính phủ Tàu, rằng coronavirus có thể bắt nguồn từ một phòng thí nghiệm của quân đội Hoa Kỳ.
Một giả thuyết khác cho rằng bệnh dịch bắt đầu vào tháng 11 năm 2019 ở Ý, rồi được công nhân Tàu đem về Vũ Hán.
Nhiều lời đồn đoán và giả thuyết khác từ các nhân viên trong chính phủ Tàu cho rằng coronavirus không bắt nguồn từ thành phố Vũ Hán của Hồ Bắc.
Trên thực tế thì các khoa học gia cho biết coronavirus không bắt nguồn từ phòng thí nghiệm, mà là từ thiên nhiên, do các động vật hoang dã truyền qua người, bắt đầu được phát hiện từ các chợ bán thịt thú rừng ở Hồ Bắc.
Những nhà nghiên cứu chính trị cho biết những giả thuyết và đồn đoán được tung ra từ phía Tàu cộng là rập khuôn theo “sách vở” tuyên truyền của đảng cộng sản Nga nhằm mục đích gây hoang mang, hỗn loạn và bất hoà trong dân chúng qua việc truyền bá các giả thuyết trên các phương tiện truyền thông:
Tung ra nhiều giả thuyết mâu thuẫn nhau.
Phổ biến rộng rãi, khuếch đại, các giả thuyết trên bằng phương tiện truyền thông xã hội qua mạng lưới internet toàn cầu. Đồng thời mua chuộc giới truyền thông không có cảm tình với chính phủ tây phương, như các giới truyền thông thiên về đảng Dân Chủ ở Hoa Kỳ, để đẩy mạnh những giả thuyết và đồn đoán.
Phối hợp việc sử dụng phương tiện ngoại giao, sứ quán, và phương tiện truyền thông được nhà nước tài trợ để đẩy mạnh các giả thuyết nói trên.
Song song với việc “tung hoả mù”, Tàu cộng và Nga đã bắt tay vào một chiến dịch được khua chiêng, gióng trống, tuyên bố rầm rộ về việc trợ giúp các quốc gia châu Âu và đông Âu với các vật dụng y tế để phòng chống coronavirus. Hành động này, cộng với những lời tuyên truyền là Liên hiệp Âu châu không giúp đỡ các quốc gia nghèo trong liên hiệp, khiến các quốc gia này ngả về phía Tàu cộng và chỉ trích Liên hiệp Âu châu, đặt mầm mống cho sự tan vỡ, hay ít ra cũng suy yếu, của Liên hiệp Âu châu.
Tuy nhiên các nhà phân tích cho rằng Tàu cộng chỉ gây được ảnh hưởng với các quốc gia trong Liên hiệp Âu châu khi họ đang ở trong tình trạng khó khăn nhất thời hoặc trong trường hợp không thể ngăn chặn sự tàn phá của coronavirus.
Trường hợp của Anh quốc, một bài viết trên trang báo Sydney Morning Herald cảnh cáo Tàu cộng sẽ phải đối diện với chính phủ Anh về sự “tính toán” liên hệ với coronavirus, sau khi thủ tướng Anh, ông Boris Johnson, được khám nghiệm và chẩn đoán là đã bị nhiễm COVID-19.
Khối bảo thủ của Anh cho rằng Tàu cộng là kẻ tội phạm trong việc reo rắc dịch coronavirus trên khắp thế giới, đồng thời lên tiếng nghi ngờ về con số lây nhiễm và chết của dân Tàu do nhà cầm quyền Tàu cộng công bố. Ông Boris Johnson ngỏ ý sẽ xem xét lại dự án 5G với công ty Huawei của Tàu.
Cho dù thế giới gọi tên đại dịch coronavirus là COVID-19, Wuhanvirus, Chinavirus hay Tàu cộng có đưa ra bao nhiêu giả thuyết hoặc tung tiền cứu trợ để mua chuộc Âu châu thì chắc cũng khó có thể thay đổi được cái nhìn đầy ác cảm của Hoa Kỳ và một số cường quốc của Âu châu như Anh, Pháp và Đức. Có lẽ như thế cũng đủ để có một liên minh chống lại sự bành trướng của Tàu cộng, nhất là tìm ra thủ phạm đã phát tán coronavirus, gây hoảng loạn và xụp đổ kinh tế trên toàn thế giới. “Trong cái rủi có cái may” chắc là như thế.
Bùi Phạm Thành
(Đặc San Lâm Viên)
Tú Kép
– Sách Đông Châu liệt quốc là một bộ tiểu thuyết lịch sử Tàu viết về chuyện hoàng đế nhà Châu và nhiều nhứt là chuyện vua các nước nhỏ (tiểu quốc) là chư hầu của hoàng đế nhà Châu, trong thời kỳ phong kiến Đông Châu, từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, gồm có 108 hồi (ngày nay gọi là chương). Phong kiến là phong hầu kiến địa. Hoàng đế nhà Châu ở trung ương, dưới hoàng đế là vua các nước nhỏ, trên danh nghĩa thần thuộc hoàng đế nhà Châu.
Các hồi từ 80 đến 82 viết về việc vua nước Việt là Câu Tiễn trả thù vua nước Ngô là Phù Sai. Xin chú ý là nước Việt nầy không phải là Việt Nam chúng ta ngày nay. Nước Việt của Câu Tiễn nằm ở vùng Triết Giang bên Trung Hoa.
Câu chuyện như sau: Việt vương Câu Tiễn bị Ngô vương Phù Sai bắt cầm tù và hành hạ khổ sở. Khi được thả về nước, Câu Tiễn nuôi chí phục thù, âm thần rèn luyện binh mã. Nhân một năm mất mùa, đại phu nước Việt là Văn Chủng đề nghị vua Việt Câu Tiễn cử người qua xin Ngô Phù Sai giúp lúa cho dân Việt ăn. Chính Văn Chủng cầm đầu đoàn sứ giả đi mượn lúa.
Triều đình nước Ngô không đồng ý, nhưng Ngô Phù Sai nghĩ rằng Câu Tiễn trung thành với mình, nên vẫn quyết định cho nước Việt mượn lúa. Nhờ thế dân nước Việt vượt qua được nạn đói năm đó. Năm sau, nước Ngô bị mất mùa, dân tình đói kém. Trong khi nước Việt của Câu Tiễn lại được mùa và bội thu. Việt vương Câu Tiễn dự tính đem trả lại số lúa vay mượn để đền ơn đáp nghĩa.
Đại phu nước Việt là Văn Chủng lúc đó mới bày mưu, đề nghị mượn bao nhiêu thì trả bấy nhiêu, lựa lúa hạt tốt và to mà trả, nhưng trước khi trả, thì đem luộc hết số lúa đó, để dân nước Ngô không trồng lại lúa được. Thấy lúa hạt to, giống tốt, vua Ngô Phù Sai phát cho dân nước Ngô dùng làm giống gieo trồng.
Những hạt lúa do Câu Tiễn trả lại đã bị luộc chín, nên không mọc được. Năm đó nước Ngô mất mùa, mà không biết lý do vì sao lúa không mọc được. Dân Ngô lại thêm đói kém. Về sau, nước Ngô bị Câu Tiễn thôn tính để trả thù. Ngô Phù Sai tự tử.
Trên đây là sơ lược câu chuyện theo Đông Châu liệt quốc của Phùng Mộng Long, do Nguyễn Đỗ Mục dịch, các hồi 80 đến 82. Chắc chắn tóm lược nầy còn thiếu sót nhiều chi tiết. Khi đọc chuyện nầy, ai cũng nghĩ rằng đây chỉ là chuyện tiểu thuyết bên Tàu cổ xưa về âm mưu trả lúa đã luộc chín, nhằm hại người của Câu Tiễn để trả thù.
Ngày nay, từ cuối năm ngoái, đầu năm nầy, xuất hiện đại dịch tại Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc (Trung Cộng). Đại dịch Vũ Hán nhanh chóng lan truyền khắp thế giới. Vị bác sĩ phát hiện ra dịch nầy tại Vũ Hán lên tiếng báo động, liền bị nhà cầm quyền Trung cộng bịt miệng ngay.
Thiên hạ đồn rằng đây chính là chiến tranh tranh sinh học do Trung Cộng phát động, nhưng vì nhân viên nghiên cứu của Trung Cộng bất cẩn, làm sẩy ra con virus nầy ngay tại Vũ Hán, khiến cho người Tàu bị nạn trước, rồi mới truyền ra khắp thế giới và làm cho thế giới hỗn loạn.
Trên tạp chí National Review số ngày 3-4-2020, có bài của tác giả Bruno Macaes nhan đề “China Wants to Use the Coronavirus to Take Over the World” (Tạm dịch: “Trung Quốc muốn sử dụng siêu vi khuẩn Corona để nắm quyền kiểm soát thế giới”), đã tố cáo rằng “the medical equipment provided by Chinese companies and even the Chinese state turned out to be faulty”. [tạm dịch: “những dụng cụ trang bị y khoa do các công ty Trung Quốc và ngay cả của nhà cầm quyền Trung Quốc sản xuất đều hư hỏng.”] (Vào Google, chữ khóa: “China Wants to Use the Coronavirus to Take Over the World”.)
Sự tố cáo nầy hữu lý ở chỗ chẳng những Trung Cộng bịt ngay tiếng nói trung thực của vị lương y trên đây, mà Trung Cộng còn tính trước rằng các nước trên thế giới sẽ rất cần các thiết bị y tế chống virus corona, như khẩu trang, bộ thử vi khuẩn cho kết quả nhanh để chống dịch, nên Trung Cộng tích trữ sẵn khẩu trang, sản xuất sẫn thiết bị y tế để thử nhanh virus Vũ Hán, hoặc thuốc trị virus Vũ Hán là chloroquine, vốn được dùng để trị bệnh sốt rét.
Khi dịch virus Vũ Hán lan tràn khắp thế giới, thiên hạ chạy đôn chạy đáo tìm kiếm khẩu trang ngừa bệnh. Thế là Trung Cộng tung khẩu trang do Trung Cộng sản xuất ra bán với giá rẻ. Ai lại không ham rẻ, liền đặt mua hàng. Tuy nhiên, sau đó tin tức các hãng thông tấn quốc tế nhanh chóng loan tin rằng Hòa Lan thu hồi 600,000 khẩu trang do Trung Cộng bán, vì hoạt động không đúng cách, mặc dầu có ghi nhãn hiệu đúng tiêu chuẩn chất lượng. Còn các nước Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Tiệp Khắc thì phàn nàn rằng 80% các dụng cụ xét nghiệm virus Vũ Hán của Trung Cộng cho kết quả nhanh sai.
Thế là thế nào? Trong vụ nầy, có người nghĩ rằng thông thường hàng rẻ là hàng dỏm, hay Trung Cộng thường sản xuất hàng nhại nên rẻ tiền và xấu? Tuy nhiên cũng có người cho rằng chính Trung Cộng chủ ý cung cấp hàng không đúng chất lượng để làm cho bệnh dịch càng dễ lây lan nhanh chóng, vì đây là chủ ý của ông chủ của con virus khó trị nầy? Để tăng cường phát tán virus Corona nhanh hơn, nhiều hơn, Trung Cộng bán hàng dỏm cho thiên hạ dùng để bệnh càng tăng, như chuyện Câu Tiễn trả lúa đã luộc rồi cho Phù Sai để dân Ngô càng đói?
Trong bài viết kể trên, tác giả Bruno Macaes nhắc lại câu nói của Mao Trạch Đông “[When] everything under heaven is in utter chaos, the situation is excellent.” (Tạm dịch: “Khi mọi thứ dưới bầu trời nầy hoàn toàn hỗn loạn, hoàn cảnh thật tuyệt vời.”] Đó là cơ hội tuyệt vời bằng vàng để cho Trung Cộng lợi dụng nước đục thả câu, khuynh đảo thiên hạ. Phải chăng Trung Cộng muốn phát tán con Virus Corona để làm thế giới xáo trộn, theo lý thuyết của Mao Trạch Đông, tạo cơ hội cho Trung Công thoát khỏi thế bí hiện nay do chiến tranh thương mại với Hoa Kỳ đưa đến?
Nếu như vậy thì độc quá, quá độc, quá ác. “Sông sâu còn có kẻ dò, / Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.” (Ca dao Việt) Đúng là theo thuyết âm mưu bí hiểm không phải chỉ chuyện Câu Tiễn, mà nhan nhãn trong truyện Đông Châu liệt quốc, hay trong truyện Tam quốc. Không biết thiên hạ sáng mắt chưa? Từ nay phải canh chừng hàng hóa Trung Cộng, sụp bẫy khi nào không hay. Thật khó biết được! Hãy coi chừng!!!
NGÀY THỨ SÁU TUẦN THÁNH CỦA RIÊNG CHÚNG TA
Rev. Ron Rolheiser, OMI
Khi người Rôma thiết lập đóng đinh thập giá là phương thức tử hình, họ không chỉ nghĩ đến việc giết một ai đó. Họ muốn đạt được một điều khác nữa, cụ thể là khiến cái chết này thật ghê gớm để làm nhụt chí người ta, khiến bất kỳ ai chứng kiến nó sẽ phải nghĩ lại về chuyện phạm cùng tội như tội của người đang bị đóng đinh đó.
Thế nên, đóng đinh thập giá được thiết kế để làm vài điều khác nữa, chứ không chỉ giết ai đó. Nó được thiết kế để gây ra đau đớn ghê gớm nhất mà thân thể con người có thể chịu nổi. Do đó, đôi khi họ cho người bị hành hình thuốc an thần, không phải để đỡ đau, mà để người đó tỉnh táo nhằm phải chịu nhiều đau đớn hơn nữa. Có lẽ điều tàn ác nhất, là đóng đinh thập giá được thiết kế để sỉ nhục tận cùng thân thể của người bị đóng đinh. Người đó bị lột trần, những phần phải giấu kín giờ phơi ra hết, và khi cơ thể co thắt chắc chắn bộ ruột của người đó sẽ phơi rõ toàn bộ. Còn sự sỉ nhục nào tệ hơn thế?
Tôi tin là có những đau khổ của con người gần hoặc tương đương như thế, và đáng buồn là những thứ này ngày càng phổ biến. Những trường hợp bạo lực xảy ra hằng ngày trong thế giới chúng ta (bạo hành gia đình, bạo lực tình dục, tra tấn, bắt nạt nhẫn tâm, và tương tự thế) đang bắt chước sự sỉ nhục của thập giá. Và đôi khi, chúng ta thấy dạng sỉ nhục thân thể này nơi những người chết vì ung thư, và những chứng bệnh gây suy kiệt khác. Người đó không chỉ chết, mà còn chết trong đau đớn, thân thể bị sỉ nhục, phẩm giá bị xói mòn, những gì phải giấu kín giờ bị phơi bày, hệt như Chúa Giêsu khi chết trên thập giá.
Tôi ngờ rằng đây là lý do Thiên Chúa để cho (dù không dự tính) Chúa Giêsu chịu đựng đau khổ và sỉ nhục như thế trong giờ chết. Nhìn cách Chúa Giêsu chết, thật khó để ai đó nói: “Quá dễ cho Ngài, Ngài đâu có chịu đau khổ như tôi!” Sự sỉ nhục của thập giá khiến Chúa Giêsu đồng cảnh ngộ với tất cả những ai từng biết đến đau khổ và nỗi hổ thẹn khi bị sỉ nhục.
Nhưng hoa trái của việc Chúa Giêsu đồng cảnh ngộ với chúng ta không chỉ là sự an ủi khi biết rằng chính Chúa Giêsu đã chịu đau khổ trước, nhưng nó còn cho chúng ta chia sẻ những gì diễn ra sau khi đóng đinh thập giá, cụ thể là theo lời Thánh kinh, chia sẻ sự an ủi với Ngài. Những lời thật không dễ nghe. Có sự an ủi khi bị sỉ nhục chứ? Được gì khi phải chịu đau đớn tủi hổ như thế? Nói đơn giản, điều ta đạt được là sự sâu sắc của linh hồn.
Không gì, tuyệt đối không điều gì, thúc đẩy chúng ta đi vào chiều sâu của tâm hồn và linh hồn cho bằng sự sỉ nhục. Cứ hỏi mình câu này đi: Điều gì cho tôi chiều sâu cá tính? Điều gì cho tôi chiều sâu tâm hồn con người? Điều gì cho tôi nhận thức sâu sắc hơn? Tôi ngờ rằng, câu trả lời trong mọi trường hợp là một điều gì đó mà bạn hổ thẹn không dám nhắc đến, một sự sỉ nhục nhức nhối với nỗi đau và nỗi xấu hổ của nó đẩy bạn vào chốn thâm sâu hơn trong lòng.
Tôi tin rằng, các Tin mừng dạy chúng ta điều đó. Ví dụ như, khi hai tông đồ Giacôbê và Gioan đến với Chúa Giêsu và hỏi xem liệu khi đến ngày vinh quang họ có thể được ngồi bên tả và bên hữu Ngài hay không, Chúa Giêsu đã không nhân cơ hội đó mà dạy họ về sự khiêm nhượng. Thay vào đó, Ngài dạy họ rằng họ thiếu hiểu biết về ý nghĩa của vinh quang và con đường dẫn đến vinh quang. Dĩ nhiên, họ đã nhầm lẫn khái niệm về vinh quang là mọi thứ đối ngược với sự sỉ nhục, yếu đuối và đồng cảnh ngộ. Với họ, và tôi cho rằng với tất cả chúng ta nữa, vinh quang được xem là tách biệt với quần chúng, vượt trên quần chúng, được là cầu thủ xuất sắc nhất, là giành giải Nobel, là ngôi sao điện ảnh mà ai cũng ghen tị, là người hấp dẫn không dễ gì bị sỉ nhục, là người vượt trên muôn người. Và Chúa Giêsu hỏi Giacôbê và Gioan xem họ có thể “uống chén đắng”, và chén đó như chúng ta đã thấy nơi cuộc đấu tranh của Chúa Giêsu trong Vườn Giếtsêmani, chính là chén sỉ nhục.
Theo Chúa Giêsu và theo những gì chân thật nhất trong cảm nghiệm của chính chúng ta, uống chén sỉ nhục, chấp nhận thập giá, chính là những gì cho chúng ta vinh quang, cụ thể là, chiều sâu tâm hồn, chiều sâu linh hồn và chiều sâu nhận thức và cảm thông. Tuy nhiên, như Chúa Giêsu đã cảnh báo, uống chén sỉ nhục này, dù nó tự động cho chúng ta chiều sâu, nhưng không tự động bảo đảm cho chúng ta vinh quang (như Chúa Giêsu đã nói, “vinh quang đó ta không ban cho được”). Sự sỉ nhục cho chúng ta chiều sâu, nhưng nó không cho chúng ta chiều sâu theo cách đúng đắn. Nó cũng có thể cho chúng ta tác động ngược lại.
Đây chính là phép tính cho chúng ta: Như Chúa Giêsu, chúng ta đều sẽ chịu sỉ nhục trong đời, chúng ta đều sẽ uống chén đắng, và nó sẽ cho chúng ta chiều sâu, nhưng rồi chúng ta phải có một lựa chọn: Sự sỉ nhục này sẽ cho chúng ta sâu sắc trong sự cảm thương và thông hiểu, hay nó sẽ khiến chúng ta sâu sắc trong giận dữ và cay đắng. Đây quả thật là lựa chọn luân lý cao nhất mà ta đối diện trong đời, không phải chỉ là trong giờ chết mà là vô số lần trong đời. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, và những gì nó đòi buộc nơi chúng ta, là điều mà chúng ta phải đương đầu hằng ngày.
Rev. Ron Rolheiser, OMI
From: Langthangchieutim