NƠI NÀO CHÍNH QUYỀN SỢ NHÂN DÂN NƠI ĐÓ CÓ TỰ DO, CÓ LUẬT PHÁP. NHÂN DÂN CÓ CÁI GÌ KHIẾN CHÍNH QUYỀN SỢ?

NƠI NÀO CHÍNH QUYỀN SỢ NHÂN DÂN NƠI ĐÓ CÓ TỰ DO, CÓ LUẬT PHÁP.  NHÂN DÂN CÓ CÁI GÌ KHIẾN CHÍNH QUYỀN SỢ?

– Thứ nhất hiến pháp Mỹ đã được viết ra bởi một thế hệ tài năng kiệt xuất của nước Mỹ, qua những cuộc tranh luận không ngừng cho nên nó là những phát kiến vĩ đại để đảm bảo cho khái niệm tự do.Nhưng “tự do không hề miễn phí”. Các bạn vì sự an toàn mà bỏ đi tự do thì các bạn sẽ không có được cả hai : đó là tự do và sự an toàn. Đó cũng là nguyên nhân mà người châu Á bị tấn công. Da trắng thượng đẳng xưa nay vốn kỳ thị da đen nhưng da đen phản ứng mạnh mẽ nên họ quay sang kỳ thị da vàng vì da vàng dễ bị ăn hiếp nhất.

– Thứ hai các bạn lầm lẫn rằng sở hữu súng là để bắn nhau. Nếu như vậy thì mỗi ngày sẽ có hàng trăm hàng ngàn vụ bắn nhau trên toàn nước Mỹ vì dân Mỹ có đến 300 triệu khẩu súng. Nhưng thực tế các vụ nổ súng trên tỷ lệ dân số nổ ra rất ít. Thực sự sở hữu súng là để đảm bảo nguyên lý ” Nơi nào chính quyền sợ nhân dân ,nơi đó có tự do có luật pháp. Nơi nào nhân dân sợ chính quyền,nơi đó có bất công có đàn áp’. Nhân dân không có súng, trên răng dưới dép lấy gì chính quyền sợ? Bạn nghĩ mọi chuyện đều có cảnh sát lo là bạn sai lầm. Cảnh sát tôn trọng hiến pháp, luật pháp là vì họ sợ nhân dân có súng. Nếu nhân dân không có vũ khí họ sẽ là công cụ của chính quyền để tham nhũng, lạm quyền,vi hiến.

– Thứ ba chưa bạn nào trả lời được câu hỏi của mình là nếu Trump và những người ủng hộ Trump ngày 6/1 tấn công vào tòa nhà quốc hội thành công lập nên một chính quyền độc tài với những chính sách bất công sau đó cho cảnh sát đàn áp biểu tình thì các bạn sẽ lấy gì để đối phó? Dân Mỹ cũng sẽ giống như dân Myanmar đưa đầu cho cảnh sát hoặc quân đội bắn và con số người chết tăng lên từng ngày nhức nhối lương tâm. Sở dĩ họ không bắn là vì không dám đối đầu với những người có vũ khí chứ chẳng phải sợ hiến pháp Mỹ.

– Thứ tư các bạn hay so sánh với các nước ở châu Âu không sở hữu súng mà bình an. Đó là sự bình an giả tạo. Đó là vì các bạn không xem các thông số khác về các vụ nổ súng của tội phạm, của cướp của giết người vì các loại vũ khí khác ngoài súng. Đó cũng là vì các bạn không hiểu nền dân chủ của họ sở dĩ đứng vững mà không cần súng là nhờ liên minh quân sự với nước Mỹ.Nếu họ mất vào tay độc tài thì có nước Mỹ giải cứu theo hiệp ước nhưng nếu Mỹ mất vào tay độc tài thì không có nước nào có thể giải cứu được cả.

– Thứ năm tỷ lệ chết vì súng của Mỹ vẫn ở mức thấp nhưng giá trị của luật pháp, hiến pháp, công lý, tự do mà súng mang lại không thể cân đo đong đếm được. Nhưng các giá trị này ẩn bên trong chỉ những trí thức mới hiểu nhưng các vụ thảm sát lại gây xáo trộn ,sợ hãi bên ngoài nên tu chính án trở thành tội đồ.

Thật sự Mỹ là nơi mà hiến pháp, luật pháp được tôn trọng nhất là vì chính quyền sợ nhân dân nhất, cảnh sát trọng chứng hơn trọng cung, phục vụ dân chu đáo là vì họ sợ 3 thứ của dân “lá phiếu, bồi thẩm đoàn và túi thuốc súng”. Khi tước bỏ một trong 3 thứ này thì người dân sẽ giống như dân các nước độc tài khác : bị cướp đất,cướp quyền tư hữu, bị bỏ tù oan, kết án oan, bị tra tấn ,đánh đập, bạo hành, bị coi thường khi đến các cơ quan hành chính hay khi tiếp xúc với cảnh sát.

Sở dĩ các bạn được tôn trọng, được sống trong tự do là vì các bạn có cái khiến chính quyền tôn trọng. Nếu bạn vì mấy thằng khùng mà bỏ đi tự do thì sau này bạn sẽ bị những thằng tỉnh khác (tội phạm, cảnh sát) thảm sát, đàn áp không thương tiếc.

BÍ QUYẾT GIỮ TÂM MÌNH BÌNH AN

BÍ QUYẾT GIỮ TÂM MÌNH BÌNH AN

Đừng ôm ấp hận thù và sự giận dữ. Học cách quên lãng và biết tha thứ.

Đừng ganh tỵ với người khác.
Tránh xa những cuộc đối thoại tiêu cực và người tiêu cực.

Hãy chấp nhận những gì không thể thay đổi.

Hãy kiên nhẫn hơn và tha thứ bao dung với con người và sự việc.

Đừng nhìn sự vật, sự việc với quan điểm cá nhân phiến diện từ 1 phía.

Đừng chìm đắm vào quá khứ mà bỏ quên hiện tại và làm ảnh hưởng đến tương lai.

 Học cách thả lỏng tinh thần, trong một ngày ít nhất dành cho mình là 14’ để nhìn lại, để thoải mái  tinh thần giữa đời sống hằng ngày .

From: TU-PHUNG 

Phục Sinh mùa Covid

Phục Sinh mùa Covid

 Nguyễn Ngọc Duy Hân

Cơn đại dịch Covid 19 kéo dài đã hơn một năm, tổn hại về nhân mạng, tinh thần, vật chất nhiều không sao kể hết. Kế hoạch đóng cửa không gặp nhau để tránh lây lan coi như bắt đầu từ tháng 3, 2020. Lúc đó cộng đoàn của nhà thờ chúng tôi chuẩn bị mừng 10 năm thành lập. Nào là làm kỷ yếu, nào là chuẩn bị tiệc mừng … thế nhưng con vi trùng Corona đã làm buổi lễ bị hủy bỏ. Tiếp theo là tuần Thánh không có thánh lễ ở nhà thờ, lễ mừng Phục Sinh cũng không có. Thật là bàng hoàng, thật là lạ lùng, tất cả sinh hoạt “đời thường” đều bị xáo trộn. Tưởng là chỉ kéo dài vài tháng, thế nhưng tới nay là đã hơn một năm và bây giờ lại là một Tuần Thánh và chuẩn bị Phục Sinh năm 2021. Nhiều nơi vẫn đóng cửa nhà thờ không có thánh lễ. Cộng đoàn chúng tôi may mắn được mở cửa trở lại, nhưng số người tham dự thánh lễ chỉ giới hạn. Để tránh bớt sự tụ tập và giữ giãn cách xã hội 2 mét, người ta tính nếu nhà thờ rộng chứa được 800 người thì bây giờ chỉ được 15% tức là chỉ cho 120 người có mặt. Trong nhà thờ phải giăng dây rào lại, chỉ chừa chỗ cho một số ghế nhất định. Cũng may cộng đoàn chúng tôi bé nhỏ nên số người vừa vặn không cần phải ghi danh sớm mới có chỗ. Chị tôi ở Việt Nam kể trong một vài tuần cũng bị đóng cửa nhà thờ, người ta dậy thật sớm kéo nhau tới nhà thờ thật đông để mong có chỗ, nên người hy sinh bỏ ra về được coi là người có “công nghiệp” nhiều hơn người ở lại dự lễ. Lần đầu tiên khi thấy linh mục phải đeo khẩu trang và mặc áo lễ tôi thấy rất lạ. Bây giờ thì quen quá rồi.

Năm 2021 này, Thứ Năm Tuần Thánh chúng tôi may mắn được tới nhà thờ nhưng sẽ không có nghi thức rửa chân cho các môn đệ của Chúa Giêsu. Hôm rồi Chúa Nhật lễ Lá cũng không có nghi thức cùng nhau tụ họp và rước lá lên nhà thờ, ai lấy tự cầm chiếc lá dừa đứng cách xa nhau hai thước, điều này đâu có giống sự miêu tả trong Kinh Thánh về việc Chúa Giêsu vào thành Jerusalem! Thôi thì có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ, được tới nhà thờ là tốt lắm rồi. Tiếp tới Thứ Sáu Tuần Thánh cũng sẽ không có nghi thức hôn Thánh Giá Chúa Giêsu. Thứ Bẩy vọng Phục Sinh lễ Nến mọi người cũng phải đứng xa xa.

Nhớ lại trong cả năm qua, chúng tôi đã phải tham dự thánh lễ bằng viễn liên, mà chúng tôi gọi tắt cho dễ hiểu là vào “Zoom”. Tính ra thì cũng dễ và tiện, vì đỡ tốn thời gian đi xe tới nhà thờ, nhưng không khí và sinh hoạt thì cũng có một số chuyện lủng củng. Mặc dù chia nhau đọc Thánh Thư, cầu nguyện, ca hát nhưng hệ thống Zoom không cho phép nhiều người đọc kinh chung, vì âm thanh từng nơi khác nhau khoảng vài giây, không thể đọc chung rập ràng được. Thỉnh thoảng lại có người bị “rớt mạng” (may mà không phải “mất mạng”) nên đang nói thì bỗng dưng biến mất tiêu, hoặc giọng nói lúc thì thật nhanh lúc thì kéo dài nhão nhẹt. Nhiều người chê không chịu đi lễ viễn liên, bảo là không tập trung được, không thấy nghiêm trang sốt sắng, nhưng nói chung thì “lễ Zoom” cũng được tới 90%. Chúng tôi còn tổ chức ca hát văn nghệ viễn liên. Gặp nhau ở trên Zoom chúng tôi hỏi nhau hôm nay đi nhà thờ ở đâu. Người kia bảo tôi xem lễ ở nhà thờ Toronto. Chị nọ kể hôm nay đi lễ tiếng Anh tại nhà thờ chính tòa New York với các con. Một chị khác thì hớn hở khỏe hôm nay em đi lễ mãi tận Vatican do Đức Giáo Hoàng chủ tế. Thôi thì trong cái buồn cũng có cái vui, cũng phải chấp nhận và “nín thở qua sông” để xem cơn dịch này như thế nào.

Hiện ở khắp thế giới và Canada đã có nhiều người được chích ngừa chống Covid. Tuy nhiên lứa tuổi của chúng tôi vẫn còn đang sắp hàng chờ chưa tới phiên mình. Chúng tôi còn bàn tán kén chọn xem thuốc nào tốt mới chích cơ! Gặp nhau bây giờ câu hỏi xã giao không phải là “Anh khoẻ không?” mà là “Anh chích ngừa chưa?” Rõ chán, chúng tôi còn thậm chí hỏi nhau “Đã mua đất ở nghĩa trang chưa?”!

Về kinh tế may mắn chúng tôi được làm việc tại nhà, cũng may công ty ngày càng cải tiến các phương tiện kỹ thuật, nên làm việc tại nhà càng ngày càng ít trở ngại. Công việc công ty vẫn tốt đẹp. Hiện tại thì mọi người đã quen với việc ở ru rú trong nhà, lại đâm ra lười biếng không muốn trở lại làm việc thật ở văn phòng nữa. Họ đang hỏi ý nhân viên, có thể sẽ áp dụng việc đi làm kiểu “hybrid”, cũng như xe Hybrid chạy nửa điện nửa xăng, chúng tôi sẽ đi làm nửa tuần ở nhà, nửa tuần tại văn phòng. Riêng bản thân tôi trước giờ cũng khá năng động, bây giờ chỉ sau hơn một năm cấm cung trong nhà, mà đã thấy ớn đi ra đường, lười biếng không muốn hoạt động chỉ muốn ở trong nhà luôn – dù đôi lúc cũng cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Chúng tôi ai nấy đều trở thành người đẹp theo quan niệm xưa: “Da trắng, tóc dài” Quả thế, ở nhà riết làn da trắng xanh, tiệm cắt tóc bị đóng cửa nên ai nấy tóc thật dài, nhất là phía “liền ông” ai nấy cũng phải theo phong trào Hippy bất đắc dĩ, tóc dài quá mang tai là chuyện thường.

Cái nhìn về cuộc sống cũng thay đổi rất nhiều. Nếu có một bài học rút ra từ đại dịch COVID-19 thì đó là chúng ta cần thích ứng để không chỉ trở lại trạng thái “bình thường mới” mà còn trở thành “bình thường tốt hơn”, tập sống theo các thói quen mới như rửa tay, đeo mặt nạ, vệ sinh cá nhân cẩn trọng hơn, tránh gần gũi, ôm, bắt tay…. Tôi cũng trở thành đầu bếp bất đắc dĩ. Không đi nhà hàng được thì phải tự mày mò vào YouTube học nấu ăn. Đa số là tạm thành công, tuy nhiên nếu có thất bại thì cũng ráng ăn nên mập tròn vo. Bạn bè ai cũng than bị lên cân quá sức, kiểu này sau khi đại dịch qua rồi thì chắc phải nới rộng cửa ra vào, hay ít nhất cũng phải thay quần áo mới. Áo dài không còn chiếc nào mặc vừa nữa, trước đây tôi rất thích mặc áo dài, bây giờ tròn trịa mặc áo dài rất ngại. Chắc phải chế cái gì để che cái bụng. Ra đường không sợ bị chê xấu vì đã có cái khẩu trang che mặt kín mít, nếu có thêm cái gì che bụng nữa thì thật là … khoẻ!  Dù sao cũng tạ ơn đời, tạ ơn Chúa vì vẫn đủ ăn, vẫn còn được đi ra ngoài mua thức ăn dù có lên giá mắc mỏ chút đỉnh, nhưng vẫn còn các chợ mở cửa không phải giành giật. Nhớ hồi đầu mùa dịch, người ta phải dành nhau để mua những cuộn giấy vệ sinh thật là thê thảm. Hơn 2 triệu người đã mất mạng, và sự lây nhiễm đã lên tới con số khủng khiếp. Trước đây thì ít thấy người Việt Nam bị nhiễm Covid và chết, gần đây thì lại bị khá nặng, nhiều bạn bè thân đã bỏ mình ra đi vì con vi trùng Vũ Hán này thật là buồn.

Một số người bị bệnh Covid may mắn thoát chết, đã chia sẻ kinh nghiệm để chống lại cơn bệnh, trong đó cũng có chia sẻ lại nỗi niềm khi bị mọi người xa lánh. Tâm trạng rất buồn và mặc cảm khi bị người khác tránh xa mình vì sợ lây nhiễm, giống như người bị phong cùi khi xưa. Làm sao trách được, ai phải cố gắng đề phòng bệnh chứ. Lại có một câu chuyện cười kể về một người bị Covid đã qua đời, nhưng hai ngày sau lại sống lại. Người nhà rất đỗi vui mừng và ngạc nhiên, hỏi lý do tại sao thì người chết kể lại: “Khi tôi lên tới cửa thiên đàng thì thiên thần bảo tội lỗi của anh ở trần thế cũng không có gì quá đáng, đáng lẽ được vào thiên đàng nhưng vì sợ anh lây vi khuẩn cho chốn thiên đình, nên “sorry” phải mời anh xuống địa ngục. Xuống tới cửa địa ngục thấy đám quỉ gác cửa thật hung hăng, tôi sợ chết khiếp thì chúng lại bảo: “Thằng này chết vì Covid, không thể để ở địa ngục làm lây lan cho mình”. Chúng bàn tán khẩn cấp rồi quyết định trả tôi về trần gian. Thế nên tôi được sống lại là như thế! Thật là câu chuyện cười ra nước mắt.

Mùa Covid, khi có đám tang cũng rất vắng vẻ. Tùy theo thời gian nhưng đa số thì chỉ giới hạn 10 người. Thân hữu muốn tham dự thì phải xem qua hệ thống viễn liên. Đám cưới cũng rất là hạn chế, tối đa là 10 người thì ai đi dự, ai ở nhà? Lại cũng không có tiệc ăn mừng ở nhà hàng. Hôm cuối tuần qua chúng tôi đi dự một Lễ Cưới với khoảng 60 người, và được cho là đám cưới lớn nhất trong suốt năm qua. Thôi thì biết nói gì hơn, đành cố gắng giữ giãn cách xã hội, đeo khẩu trang, tránh bớt đi ra đường để giữ gìn sức khỏe cho nhau. Mong cho mọi người đều được chích thuốc ngừa để mọi sinh hoạt có thể bình thường trở lại.

Chúng tôi và các bạn luôn nhắc tới những kỷ niệm được đi ăn, đi chơi với nhau, rồi hẹn hò trong năm tới này khi đại dịch chấm dứt sẽ cùng nhau đi ăn đi chơi bù lại suốt thời gian dài bị cấm cung bị gò bó. Thế mới biết thương cho những người bị tù tội, đặc biệt những tù nhân lương tâm, những vị hi sinh đi giảng đạo rồi bị bắt bớ cầm tù…. Ít nhất bây giờ chúng ta cũng còn được tự do, no ấm. Ước mong cơn đại dịch sớm chấm dứt, kinh tế mở cửa, mọi người được đi sinh hoạt, làm ăn, được gặp nhau, ôm nhau và được bỏ cái khẩu trang ra. Che kín mất cái mặt rồi lại hơi mập ra, bạn bè chẳng ai nhận ra ai. Đã có lần tôi mang chè tới tặng người bạn sau lễ ở nhà thờ, nhưng lại đưa lộn cho người khác.

Dù sao thì cũng tạ ơn, mong sao cho tinh thần mọi người được vẫn mạnh mẽ, phát triển sự yêu thương nhau quan tâm cho nhau nhiều hơn theo cách mới, và cùng chiến đấu để cơn đại dịch này sớm biến mất.

Mùa Phục Sinh đang đến, chúc bạn niềm vui, sự đổi mới canh tân trong tâm hồn và trong sinh hoạt hằng ngày

Nguyễn Ngọc Duy Hân

Cà-phê không đắng

Cà-phê không đắng

Thân tặng Linh Mục Giuse Maria P.Q.T.

Trịnh Tây Ninh

Khi tuổi còn mơ mộng
anh đã ước mình như dòng sông
tuôn chảy trong lòng người nghệ sĩ
yêu nhạc và yêu chân, thiện, mỹ
để anh đem tiếng hát cho đời
khi ấy tuổi hai mươi
ly cà phê đắng trên môi
anh cũng vấn vương nụ cười tươi
của cô hàng cà phê xinh xắn
nhưng cà phê dù thơm vị lại đắng
ưu tư cuộc đời nhiều cay đắng
thế nên trong một buổi chiều vắng
yêu Chúa, thương người, anh mơ được đem nắng
chiếu yêu thương với tâm tình tươi thắm
nguyện hiến dâng cho đấng cao cả đã hy sinh
trên Thập giá đã phải chịu khổ hình
và anh đã trở thành linh mục trung trinh
rao giảng Tin Mừng, dâng lời nguyện kinh
cho tất cả, cho giáo dân con Chúa
Cà phê anh bây giờ thơm hương lúa
thơm mùi kinh với thánh nhạc tâm tình
Chúa yêu thương luôn ban phát ân tình
để anh rao giảng về Thánh Giá quang vinh
và suy niệm rồi chia sẻ niềm tin
cầu xin cho khắp nơi được an bình
cầu cho tình người luôn được thắm xinh
cho cuộc đời luôn rạng ánh bình minh
và cà-phê không còn đắng vị nhân sinh…

Trịnh Tây Ninh

Huy Phương, nhẹ gánh nợ đời

Huy Phương, nhẹ gánh nợ đời

Apr 4, 2021 

KQ Võ Ý

Những năm trước đại dịch COVID-19, nhà văn Huy Phương thường gọi thăm tôi, có khi mời dùng trưa với vài người bạn khác tại những nhà hàng chuyên nấu những món mà anh ưa thích như cá kho tộ, canh chua cá bông lau, thịt bò lúc lắc…

Nhà văn Huy Phương trong ngày ra mắt hai tạp ghi mới năm 2017. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Năm rồi, anh lâm bệnh và yếu đi. Sau khi từ bệnh viện về nhà, Huy Phương không thể lái xe, anh nhờ tôi đến Anaheim đón anh về Little Saigon thăm gặp bạn bè, nhân thể ghé hàng quán để thưởng thức một tô phở Bắc hoặc một tô bún bò Huế.

Đại dịch COVID-19 bùng phát, ai ai cũng ở yên trong nhà. Khi tình hình dịch bệnh tương đối giảm nhờ chích vaccine (vào khoảng cuối Tháng Hai, 2021), Huy Phương gọi thăm sức khỏe tôi và nhà văn nhảy dù Phan Nhật Nam. Hạ tuần Tháng Ba, Phan Nhật Nam đón tôi thăm Huy Phương. Dịp đó cũng có hai người bạn học của anh ghé thăm. Anh gầy hẳn, chống gậy bước chậm ra mở cửa đón chúng tôi.

Huy Phương cho biết, anh bị ung thư trực tràng, hiện được điều trị tại nhà. Anh không ngờ bệnh tình diễn biến nhanh quá!

Trên đường về tôi miên man nghĩ đến “một món nợ vô hình…”

Tôi biết Huy Phương trước 1975 khi anh phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến. Những dịp từ Pleiku về Sài Gòn công tác, tôi thường ghé cơ quan này để thăm hai nhà văn nhà báo Nguyễn Đạt Thịnh và Phạm Huấn, cũng là niên trưởng của tôi. Tại đây tôi biết Huy Phương và cố thi sĩ Du Tử Lê.

Tôi qua Mỹ theo diện HO sau Huy Phương hai năm. Anh may mắn định cư tại California nắng ấm trong khi tôi lưu lạc tận miền Trung Tây xứ Missouri từ 1992 cho đến 2005 mới chuyển về California và gặp hai cựu chiến hữu ngày xưa. Tôi quen họ trong dịp này.

Một trong những kỷ niệm đáng nhớ với Huy Phương là, qua chương trình Huynh Đệ Chi Binh do anh phụ trách, Phi Đoàn 118 Pleiku chúng tôi may mắn tìm được thân nhân của một hoa tiêu bị lâm nạn vào năm 1972 tại đỉnh núi Mẹ Bồng Con, Dục Mỹ, Ninh Hòa. Vào năm 2014, sau 42 năm lặn lội đi “tìm xác rơi,” đại diện thân nhân của phi hành đoàn sáu người trên chuyến phi cơ U17 lâm nạn đều tham dự thành công vào cuộc cải táng gian nan đầy xúc động này. Đi Tìm Xác Rơi: Tấm Thẻ Bài và Hành Trình Đi Tìm Xác Rơi (ditimxacroi.blogspot.com)

Thế mới biết truyền hình Huynh Đệ Chi Binh lợi hại và hiệu quả đến dường nào!

Tâm huyết của người lính già Huy Phương với đồng đội biểu hiện qua chương trình này cũng như sự đóng góp công sức của anh qua các kỳ Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh hằng năm, thời chị Hạnh Nhơn còn sinh tiền.

Tâm huyết đó còn phảng phất trong 11 cuốn tạp ghi, hai tuyển tập, và một chúc thư. Kể ra, anh viết rất khỏe, rất dễ dàng, lời văn bình dị nhưng sâu sắc trước mỗi góc cạnh của cuộc sống tại quê người.

Tôi lại được tin cậy, chở anh đi bưu điện để gửi Tuyển Tập Huy Phương 2020 (*) cho thân hữu khắp nơi cũng như trao tay “tác phẩm cuối đời” (theo anh) cho bạn bè vùng Litlle Saigon.

Nhìn bóng dáng một ông già chống gậy, chậm rãi thong dong, trao cho đời tâm huyết của mình, tôi chạnh lòng và nghĩ đến lời thơ của Ngô Tịnh Yên trong ca khúc “Nếu Có Yêu Tôi” do Trần Duy Đức phổ nhạc, được người Việt khắp nơi yêu thích. Người nhạc sĩ tài hoa này cũng là bạn văn nghệ của Huy Phương:

-“Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ; Đừng đợi ngày mai…”

Khúc ca như một bài học công dân hay luân lý, xa hơn, một lời kinh cầu…

Từ Tuyển Tập Huy Phương (*) và lời kinh cầu, tôi muốn tâm tình với người lính viết văn Huy Phương về “món nợ” mà anh trăn trở đến tận cuối đời:

Nợ người phế binh lê la kiếm sống/ Nợ lũ cháu ta liếm lá đầu đường

Nợ những người em thất thân làm đĩ/ Nợ nỗi nhục nhằn dày xéo quê hương.

(Món Nợ Lương Tâm – Huy Phương)

 Ý nghĩa chương trình Huynh Đệ Chi Binh, hiệu quả các Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, giây phút bồi hồi qua các Đại Hội Chân Dung HO (*) mà anh đóng góp cùng những tạp ghi, tuyển tập, và chúc thư đều là cách đền ơn đáp nghĩa những đồng đội đã nằm xuống hay còn lây lất quê nhà. Huy Phương và chúng ta, Những Người Muôn Năm Cũ (*) đã thọ ơn họ để được yên bình hay Ấm Lạnh Quê Người (*) ngày nay.

Những tác phẩm cũng là tặng phẩm từ tim óc anh trao gởi cộng đồng người Việt tị nạn, Những Người Thua Trận (*) trên toàn thế giới nói chung và cách riêng, tại Nước Mỹ Lạnh Lùng (*). Ẩn hiện trong tác phẩm là đạo làm người với Tứ Ân (Cha Mẹ, Chúng Sanh, Quốc Gia Xã Hội, Tam Bảo), nỗi Ngậm Ngùi Tháng Tư (*) mà đồng bào đồng đội và bà con quyến thuộc của anh, của chúng ta, cam chịu trong uất hận.

Có cường điệu lắm không khi tôi nghĩ rằng, chữ nghĩa của Huy Phương ngoài tính văn học nghệ thuật còn là sử liệu lưu lại đời sau, một giai đoạn thảm khốc của cả dân tộc sau 30 Tháng Tư, 1975? Chữ nghĩa đó cũng là loại vũ khí mềm khả dĩ góp lửa vào công cuộc chống lại chủ nghĩa cộng sản khát máu tại Quê Hương Khuất Bóng (*).

Huy Phương nhỏ nhẹ với tôi, không còn bao lâu nữa, buồn lắm ông à! Tôi thật sự không biết phải an ủi anh như thế nào cho hợp với tình huống này. Trong nhà anh, nơi phòng khách được trình bày rất nhiều kiểu tượng Phật, tôi nghĩ đến lẽ vô thường, nhưng không dám đá động đến sinh lão bệnh tử đối với sự bén nhạy và kinh nghiệm sống chất chồng của anh. Đắn đo lắm tôi mới nói:

-Anh đã chuẩn bị trước cả rồi, lo buồn làm gì. Ga Cuối Đường Tàu (*), Tuyển Tập Huy Phương (*), nhất là Bản Chúc Thư Của Người Lính Chết Già (*), không phải là những chuẩn bị đó sao?

Anh im lặng. Tôi không nghĩ lời an ủi thô thiển đủ thần lực làm nhẹ lòng Huy Phương, từng dùng chữ nghĩa thay súng đạn nhắm vào chủ nghĩa vô thần. Có thể anh còn trăn trở với Món Nợ Lương Tâm (*). Tôi đồng cảm với những món nợ với người chết sông chết biển, nợ người ở lại để ta ra đi, nợ những nấm mồ thất lạc, nợ máu xương rải rác giữa đồng hoang, nợ những mẹ già suốt đời bất hạnh… (chữ của Huy Phương).

Từ đồng cảm, tôi trân trọng lòng tự trọng và trách nhiệm Bảo Quốc An Dân của người chiến sĩ quốc gia viết văn đầy tính nhân bản của Huy Phương.

Thưa anh Huy Phương, đóng góp của anh cho Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, Lý Tưởng Tự Do Dân Chủ, cho Gia Đình và Đồng Đội, như vậy là vẹn toàn. Đã 80 ngoài, mắt mờ tóc bạc da mồi, tay chân lọng cọng, nghỉ ngơi là điều tất yếu. Mỗi ngày thong dong buông xả, hứng thì ngâm nga vài vần thơ cũ do mình sáng tác, niệm một câu kinh Tịnh Độ để giữ vững niềm tin, ngắm một đóa hoa để “cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy…,” có phải như thế sẽ giúp cho thân tâm được nhẹ nhàng an lạc không, thưa anh!

Phương chi, những tác phẩm của anh, đương nhiên sẽ lưu lại cho con cháu đời sau, thì Món Nợ Lương Tâm âu cũng sẽ vơi đi. Tôi thích thú với những câu thơ nhiệt huyết, đầy cảm khái và hùng khí trong “Lời Phi Khanh:”

Còn chút lửa, cha tiếp con tay đuốc/Hãy đốt lên, cùng triệu triệu con người.

Cha đã nhiều lần rủa nguyền bóng tối/Thì phần con – Hãy thắp sáng cho đời!

Để hy vọng, còn có ngày trở lại/Thấy quê hương, dù phút cuối một lần.

Với quá khứ cha đã đành cúi mặt/Thì đời con – Đừng thẹn với tiền nhân.

Hãy chuyển lửa về quê nhà mong đợi/Thắp yêu thương cho hàng triệu con người.

Để những người đã hy sinh nằm xuống/Dù bên kia thế giới cũng ngậm cười.

(Lời Phi Khanh – Huy Phương)

Tôi “liều mạng” nhắc anh “Tạ ơn em (Chị Huy Phương) đã cho đời anh bóng mát.” Quả vậy, là chinh phụ và tù phụ, chị đã một đời sắt son dũng cảm trong thời chiến, trong tù đày sau 1975 và nhất là trong giai đoạn anh lão bệnh nơi xứ người. Qua hình ảnh chị, tôi theo gương Huy Phương, xin tạ ơn tất cả những người vợ lính đã sắt son dũng cảm, nuôi con chờ chồng trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Huy Phương cũng từng khuyến khích những thế hệ tiếp nối, chuyển lửa về thắp yêu thương hàng triệu con người, thì dù hôm nay hay ngày mai, anh đã tròn trách nhiệm của một công dân, “nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo,” mong anh nở một nụ cười thanh thản…

Và tôi không ngần ngại bày tỏ suy nghĩ của mình là, tôi quý trọng tính thủy chung, lòng tự trọng và nhân cách của nhà giáo, công dân Lê Nghiêm Kính (**). Tôi cũng quý trọng văn tài của đồng đội, người lính viết văn tài hoa Huy Phương.

Phiên khúc đang văng vẳng trong tôi: Có nhớ thương tôi thì đến với tôi bây giờ. Đừng đợi ngày mai… [đ.d.]

Ghi chú:

(*) Tên những tác phẩm của Huy Phương

(**) Tên khai sinh của Huy Phương

Bốn Niềm Vui Lớn Của Một Đời Người…

Tản Mạn Cuộc Sống

Bốn Niềm Vui Lớn Của Một Đời Người…

Đời người thoáng qua thật nhanh, dấu vết thời gian mỗi ngày lại in hằn lên khuôn mặt. Trên đường đời tấp nập ấy, có khi nào bạn tự hỏi: Sống qua ngần ấy năm, niềm vui nào là lớn nhất đời người?

Theo bạn, niềm vui nào lớn nhất trong đời? Thành công, giàu sang hay có được điều mình mong muốn. Tất cả chúng ta đều cố gắng tìm kiếm cho mình những niềm vui trong cuộc sống.

Nhưng khi có được thứ này chúng ta lại muốn có được thứ khác. Quá trình đuổi bắt cứ kéo dài suốt năm này qua tháng khác, chúng ta không dễ gì nhận ra, niềm vui lớn nhất trong đời người lại gần gũi và thân thương biết chừng nào.

  1. Được sống cùng cha mẹ

Trải qua những năm tháng tuổi trẻ bồng bột và ích kỷ, chúng ta lại bộn bề với những toan tính của cuộc đời. Không còn tự do bay nhảy, không còn những suy nghĩ ấu trĩ và ngông cuồng. Giờ đây chúng ta có cả một gia đình cần gánh vác. Lúc ấy mới chợt nhận ra rằng, được sống cùng cha mẹ là một niềm hạnh phúc to lớn.

Được dựa dẫm vào đôi vai của mẹ cha mỗi khi bước chân ta trên đường đời rệu rã, được ăn bát cơm mẹ nấu, được cùng cha đàm đạo mỗi lúc chiều tà. Quãng thời gian đó yên bình và hạnh phúc biết bao.

Không phải chỉ có cười thật to, hét thật lớn thì mới được gọi là niềm vui. Đôi lúc niềm vui bình dị và nhẹ nhàng biết bao, nhưng nó sẽ ngấm sâu vào ký ức của ta, an ủi vỗ về ta mỗi khi mệt mỏi và đau đớn trong cuộc đời.

  1. Được làm công việc mình thích

Niềm vui này sẽ chẳng có niềm vui nào có thể sánh được. Đó là cảm giác thỏa mãn bởi vì chúng ta đã làm được điều mà mình thích. Không ít người không làm được việc mình thích, không dám theo đuổi ước mơ và hoài bão của bản thân. Chán nản, thất vọng để rồi họ nhận ra cuộc sống của mình thật nhàm chán, thật buồn bã.

Chỉ khi chúng ta được làm công việc mình thích, chúng ta mới cảm nhận được niềm vui đến từ những điều bình dị, những điều tưởng chừng như vốn có của cuộc sống nhưng không phải lúc nào cũng cảm nhận được.

Thế nên, nếu bạn cho rằng công việc chỉ là một công cụ để nuôi sống bản thân thì bạn hãy suy nghĩ lại đi nhé. Bởi vì chỉ khi yêu thích công việc của mình chúng ta mới làm tốt nó được. Được làm công việc mình thích là niềm vui lớn nhất trong đời.

  1. Lấy được người mình yêu

Bất kỳ ai trong chúng ta đều muốn có được hạnh phúc trong cuộc sống, vì vậy chúng ta mới trao đi tình yêu của mình. Có người lấy được người mình yêu, trở thành chỗ dựa suốt đời cho mình, có người lại quyết định kết hôn trong lúc nóng vội. Rất nhiều người đã nếm quả đắng vì vội vàng trong tình yêu.

Một trong những niềm vui lớn nhất trong đời đó chính là lấy được người mình yêu và yêu mình. Khi sống cùng nhau, những bất đồng, những mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh, nếu không có một tình yêu lớn dành cho nhau, ít khi chúng ta có thể tha thứ và chấp nhận lẫn nhau được.

Lấy được người mình yêu là niềm vui lớn nhất trong đời. Lớn hơn rất nhiều những niềm vui do tình cảm tạo ra trước đó. Thế nên, hãy trân trọng cuộc sống gia đình và trân trọng người bạn đã lựa chọn.

  1. Sống mỗi ngày trọn vẹn

Đây là niềm vui rất lớn bởi hàng ngày chúng ta đều cố gắng tìm kiếm nó nhưng ít người nắm giữ được nó. Có người lo lắng cho những việc không đâu để rồi cáu gắt với người thân và con cái của mình, làm mất đi một ngày đẹp đẽ.

Bạn ơi, hãy đối diện với cuộc sống mỗi ngày, dẫu khó chịu bao nhiêu cũng đừng đổ lỗi lên đầu người khác. Hãy tìm cách chế ngự sự giận dữ của mình và bao dung với người bên cạnh, để mỗi ngày với bạn trọn vẹn hơn.

Có thể bạn không nhận ra, nhưng mỗi sớm mai thức dậy, tâm trạng bạn thoải mái bạn sẽ có một ngày ngập tràn niềm vui.

Vậy nên, hãy mỉm cười khi ánh bình minh chiếu qua cửa sổ, bởi vì ít nhất thì chúng ta vẫn còn một ngày để làm những điều mình muốn.

Hãy sống trọn vẹn từng ngày một với công việc, gia đình, con cái và những niềm đam mê nho nhỏ của bản thân nhé bạn…

Canh tân nước Mỹ: Một “New Deal” thế kỷ 21

Canh tân nước Mỹ: Một “New Deal” thế kỷ 21

Bởi  AdminTD

Nhã Duy

2-4-2021

Nhắc đến Tổng Thống Franklin Delano Roosevelt (1882-1945), người ta thường ghi công ông như vị tổng thống Hoa Kỳ đã lãnh đạo nước Mỹ và thế giới tự do dành được chiến thắng trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Nhưng một nghị sự đối nội quan trọng khác của ông phải kể đến là chương trình tái thiết nước Mỹ “New Deal” rất thành công. Đó là lý do không phải ngẫu nhiên mà ông được xem là một tổng thống cận đại vĩ đại nhất của Hoa Kỳ, chỉ thua Tổng Thống George Washington thời lập quốc và Abraham Lincoln của thời nội chiến Hoa Kỳ.

Tổng Thống Roosevelt thuộc đảng Dân Chủ, là tổng thống Mỹ duy nhất đắc cử bốn nhiệm kỳ, trước khi Quốc Hội thông qua Tu Chính Án 22 chỉ còn tối đa là hai nhiệm kỳ như hiện nay vào năm 1947. Nhậm chức ngay giai đoạn Đại Khủng Hoảng (Great Depression) vào năm 1933 với tỉ lệ thất nghiệp lên đến 25%, trọng trách của ông là phải vực dậy nền kinh tế Hoa Kỳ lúc bấy giờ với bất cứ giá nào. Kế hoạch tái thiết nước Mỹ qua các chương trình xây dựng cấu trúc hạ tầng và tạo công ăn việc làm cho người dân với tên gọi “New Deal” ra đời theo mục tiêu này.

Đây là chương trình liên bang nhằm cải tổ hệ thống tài chính để tránh tái diễn sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1929 rồi dẫn đến cuộc đại khủng hoảng, cũng như tái thiết hệ thống công chánh, xây dựng thêm hàng chục ngàn công trình công cộng, năng lượng, y tế, giáo dục, nghệ thuật, công viên… tại các thành phố lớn nhỏ khắp nước Mỹ.

“New Deal” không chỉ giải quyết công ăn việc làm trước mắt cho người dân thời kỳ hậu khủng hoảng thập niên 1930 mà còn để lại cho các thế hệ sau này nhiều công trình giá trị, có thể nhiều người không chú ý là đã được xây dưới thời Tổng Thống Roosevelt.

Có thể kể ra một vài công trình và kiến trúc công cộng quen thuộc và nổi tiếng của Mỹ trong vô số công trình khác thuộc “New Deal”, như phi trường LaGuardia ở New York, cầu Golden Gate ở San Francisco, phố Riverwalk ở San Antonio, đập Hoover Dam tại vùng ven Las Vegas, cụm kiến trúc Griffith Observatory ở Los Angeles… mà người dân vẫn còn đang sử dụng hiện nay.

Nhắc về “New Deal” để thấy những ảnh hưởng và lợi ích to lớn đến đời sống của xã hội và người dân Mỹ trong nhiều thế hệ sau như thế nào với những chính sách và tầm nhìn của TT Roosevelt hay những tổng thống tiền nhiệm khác. Và nhắc đến nó vì không thể không liên tưởng đến kế hoạch tạo công ăn việc làm và cải tổ cơ sở hạ tầng (American Jobs Plan) của Tổng Thống Joe Biden qua khẩu hiệu “Tái dựng tốt hơn” (Build Back Better) vừa được thông báo trong tuần này.

Đây là một chương trình không chỉ tái thiết hệ thống cầu đường, phi trường, năng lượng, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) mà còn nâng cao đời sống, phúc lợi cho người dân qua các kế hoạch xây dựng, thay thế hay hiện đại hóa hệ thống điện nước, nước thải, gia cư, giáo dục, môi trường, kỹ thuật, huấn nghệ lực lượng nhân công, giúp đỡ người già và tàn tật… lên đến hơn hai tỉ ngàn đô la.

Trong thông báo cùng các số liệu từ Bạch Ốc đưa ra, thì dù là quốc gia giàu có và hùng mạnh bậc nhất thế giới, cơ sở hạ tầng nói chung của nước Mỹ nằm ở hạng 13 và thấp hơn trong một số lãnh vực riêng biệt như hệ thống giao thông công cộng, cầu đường, internet tốc độ cao… Phần lớn hệ thống công chánh đã không được thay thế hay có sự tái thiết quy mô từ thập niên 1960.

Đây là một kế hoạch cần thiết cho nước Mỹ và cho những thế hệ tương lai, cũng như là sự đầu tư chiến lược cho vị thế hàng đầu của Hoa Kỳ trước tham vọng phát triển và muốn dẫn đầu của Trung Cộng. Nó từng nằm trong kế hoạch của các đời tổng thống tiền nhiệm, bất kể đảng phái nào nhưng chưa thực hiện được vì các lý do và ưu tiên khác nhau.

Trong khi cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đồng ý, đây là một nhu cầu cấp bách, kế hoạch giữa hai đảng chưa có sự đồng thuận. Nếu Tổng Thống Joe Biden muốn đệ trình một kế hoạch cải tổ quy mô và toàn diện, liên quan và phục vụ cho phúc lợi người dân thì phía Cộng Hòa chỉ đồng ý những dự án liên quan đến việc tu bổ cầu đường, đặc biệt phản đối việc tăng thuế với các tập đoàn.

Để có ngân sách cho kế hoạch này thì nội các TT Joe Biden cần phải tăng thuế doanh nghiệp lên 28%, mà thật sự chỉ là quay lại mức thuế trung bình trước khi được Donald Trump cắt giảm còn 21% bất kể thu nhập vào năm 2017. Theo số liệu từ Tax Foundation, cho đến năm 1986, các doanh nghiệp có thu nhập trên 1.4 triệu đô la đã chịu thuế đến 46% và năm 2017 thì thu nhập trên 10 triệu là 35%.

Nghĩa là, thực chất không tăng thuế mà chỉ không để các đại tập đoàn hưởng các chính sách thuế ưu đãi quá lớn. Theo nghiên cứu từ Institution on Taxation and Economic Policy, có đến 91 tập đoàn trong nhóm Fortune 500 không phải trả thuế liên bang (zero tax) trong năm 2018 và các tập đoàn trung bình chỉ trả mức thuế khoảng 8% nhờ việc tái đầu tư lợi nhuận tại nước ngoài dù có lợi nhuận to lớn. Với kế hoạch của TT Biden, họ sẽ chỉ được miễn giảm thuế nếu tái đầu tư và tạo công ăn việc làm ngay trong lãnh thổ Hoa Kỳ.

Tổng Thống Joe Biden kêu gọi sự hợp tác và cộng tác từ phía đảng Cộng Hòa tại Quốc Hội, cũng như ngay thành phần cấp tiến trong đảng Dân Chủ muốn thêm bớt những khoản đầu tư to lớn hay các điều khác hơn trong dự luật. Mitch McConnell, Chủ tịch khối thiểu số tại Thượng Viện nói, phía Cộng Hòa sẽ chống tới cùng (fight them every step of the way). Nhưng người ta tin rằng, TT Biden và nội các của ông chắc chắn sẽ thực hiện chương trình nghị sự này với vài thêm bớt, ngay cả khi không có sự đồng thuận từ phía Cộng Hòa.

Tổng thống Franklin Roosevelt bảo rằng, có những kẻ ích kỷ chỉ muốn vặt lông con đại bàng Mỹ để lót tổ cho riêng mình và sự thành công của các chương trình quốc gia tất nhiên phụ thuộc vào sự hợp tác của công chúng, bằng sự ủng hộ có trí tuệ (intelligent support). Chương trình “New Deal” của ông cũng từng bị nhóm bảo thủ phản đối và ngăn chận nhưng sự quyết tâm và nỗ lực của ông đã chứng minh bằng kết quả là đã mang lại cho nước Mỹ một khuôn mặt mới và phục vụ cho lợi ích người dân đến hiện nay.

Chương trình cải tổ cơ sở hạ tầng, một “New Deal” thế kỷ 21 của tổng thống Joe Biden cũng vậy. Nó sẽ mang lại ích lợi to lớn cho quốc gia và người dân Mỹ, một khi được thực hiện. Liệu có lý do gì để chống đối việc người dân cùng con cháu họ sẽ được uống nước sạch, có thêm trường học, chạy trên xa lộ an toàn, có hệ thống giao thông công cộng tiện nghi và sử dụng mạng internet nhanh và rẻ hơn?

Tương lai nước Mỹ nằm trong tay những cấp lãnh đạo quốc gia luôn đặt trách nhiệm của mình với các thế hệ mai sau bằng chiến lược và viễn kiến. Và người lãnh đạo tài ba không chỉ là người mang lại niềm hy vọng về một đất nước phồn thịnh, phát triển và nhân bản mà còn đang ra sức thực hiện điều này. Chương trình này là một thách đố, đồng thời cũng là một di sản to lớn mà tổng thống Joe Biden sẽ để lại cho nước Mỹ, nếu được thực hiện.

Luật đất đai và tài chơi chữ “siêu đểu”

Luật đất đai và tài chơi chữ “siêu đểu”

Bởi  AdminTD

Hà Sĩ Phu

1-4-2021

Trí tuệ của ông tổ Cộng sản Karl Marx thì ảo tưởng, phản khoa học, hoành tráng một cách ngớ ngẩn, khi đem áp dụng thì kết quả đều ngược lại với dự định. Nhưng những kẻ ôm chặt quyền lực CS thì không ngớ ngẩn chút nào mà tinh ranh, đứng về mặt tranh giành quyền lợi thì phải nói thuộc loại siêu đẳng, biết lợi dụng và quyết lợi dụng những điều ngớ ngẩn đẹp đẽ của Marx để mê hoặc và trục lợi.

Chỉ cần soi vào một dòng ngắn ngủi trong Hiến pháp CS đủ thấy rõ sự tinh khôn (tinh ranh) có tính chất bao trùm: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

Thoạt nghe thì thấy bình thường, thậm chí hợp lý, nghiêm túc và… hoành tráng. Nhưng xét kỹ sẽ thấy chữ nọ phủ định chữ kia, mọi giá trị bị mất sạch một cách không nghiêm túc chút nào. Hãy xem:

– Chữ TOÀN đã làm mất giá trị chữ DÂN. Nói “toàn dân, toàn nhân dân, toàn dân tộc” một cách chung chung thì chỉ có lợi cho tầng lớp đại diện tối cao mà không ích lợi gì cho những người dân, những công dân, với tư cách là những số phận, những sinh mệnh của những con người cá nhân cụ thể, mà người dân trước hết lại cần điều thiết thân đó. Nhân danh “toàn dân” mà độc tài đảng trị thì mỗi người dân phỏng có được gì? Ngay trong bản tuyên ngôn độc lập HCM cũng trích một câu về dân quyền, quyền con người của hiến pháp Hoa kỳ nhưng lại “suy rộng” để lái sang quyền của cả quốc gia (mà ĐCS sẽ là người đại diện duy nhất)!

– “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”? Bên cạnh phần đất đai của chung xã hội, người dân trước hết cần quyền sở hữu trên mảnh đất riêng mà mình làm chỗ ở và sản xuất và kinh doanh để sinh sống, thì ĐCS không cho hưởng cái quyền thiêng liêng tự nhiên ấy, cái quyền mà bất cứ một con chim, con thú nào cũng phải tự giành lấy và bảo vệ bằng tất cả sức lực của nó để được sinh sống. Chữ “Sở hữu toàn dân” đã triệt tiêu quyền sở hữu cá nhân về đất đai, là triệt tiêu quyền sống một cách tự nhiên của mỗi con người!

– Chữ “Nhà nước đại diện chủ sở hữu” đã triệt tiêu giá trị của chính chữ “sở hữu toàn dân” ngay trước đó, vì toàn dân tuy có “sở hữu” về danh nghĩa hờ nhưng “chủ sở hữu” tức cái “sổ đỏ” mang tính luật pháp thì lại nằm trong tay Nhà nước. Một Nhà nước dù có dân chủ cũng không thể chiếm mất cái “sổ đỏ sở hữu” của mỗi người dân, chứ huống chi cái Nhà nước CS thì chỉ là công cụ của ĐCS để cai trị dân, việc bầu cử ra Nhà nước chỉ là trò giả tạo do ĐCS bày ra mà ai cũng biết, thì trao cái “sổ đỏ sở hữu” cho một Nhà nước như thế là dân mất trắng!

– Chữ “quản lý đã triệt tiêu giá trị của chữ “sở hữu, vì tuy có sở hữu mà không được quyền quản lý thì cũng không có giá trị gì. Ví dụ như ông chồng CỦA tôi, bà vợ CỦA tôi nhưng lại do người khác QUẢN LÝ, việc đi-đứng-nằm-ngồi-thức-ngủ… lại do người khác chỉ huy, thì …có ai chịu được không? Ông chủ, bà chủ như thế thì cũng bị “lão quản lý” nẫng tay trên một cách ngang nhiên.

– Sau khi đã dùng chữ TOÀN để vô hiệu hóa chữ DÂN, dùng chữ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU để vô hiệu hóa chữ SỞ HỮU, dùng chữ QUẢN LÝ để vô hiệu hóa chữ SỞ HỮU, thì còn thêm chữ THỐNG NHẤT để đóng chốt bất di bất dịch, đồng thời gây ảo tưởng rằng toàn xã hội, tức dân và chính quyền đã đồng thuận, đã nhất trí, đã “thống nhất” với nhau như vậy rồi, không thay đổi gì nữa nhé! Thế là sự gian trá đã được “đổ bê tông”, kẻ nào chống lại chỉ là húc đầu vào đá. Ôi chỉ có một dòng chữ ngắn ngủi nhưng xảo trá tinh khôn một cách tuyệt hảo, đủ để chiếm sạch một quyền sống tự nhiên của tất cả đám dân đen.

Chẳng những chiếm đoạt về mặt kinh tế mà cả về chính trị và văn hóa-tư tưởng, vì một khi đã mất đi cái mảnh đất riêng bất khả xâm phạm, tức mất đi cái “hòn đá tảng” để đứng trên đó mà sinh sống thì người dân chỉ còn cách phục tùng, nói theo, làm theo một cách tuyệt đối, vì nhu cầu sinh tồn. Cho nên cái dòng chữ ngắn ngủi trong Hiến pháp “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” thật ra là hòn đá tảng, là cương lĩnh, là mẹo để ĐCS tồn tại trên đầu nhân dân. Tuy cũng gọi là có Luật, nhưng thuật cai trị của ĐCS thực chất là bằng nhũng Mẹo rất tài tình.

– Chơi chữ tài tình để cướp đất! Xin bái phục Bậc thày của sự ranh ma!

– Thế mới biết: Trí tuệ Cộng sản tập trung hết vào ĐẤT và GHẾ vậy!

Xin đồng tình với ý kiến của CLB Lê Hiếu Đằng [1]: nếu không sửa cái chìa khóa là Luật đất đai này thì mọi sự sửa đổi cũng là vô ích.

[1] https://baotiengdan.com/2021/04/01/tuyen-bo-cua-clb-le-hieu-dang-ve-cai-cach-tu-phap-va-chinh-sach-so-huu-dat-dai/

NGƯỜI MỸ NHẬN XÉT VỀ NGƯỜI VIỆT NAM

NGƯỜI MỸ NHẬN XÉT VỀ NGƯỜI VIỆT NAM

Trần Kinh Nghị

Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:

1.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.

2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.

3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.

4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.

5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).

[when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]

  1. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.
  2. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương). [to save face or to show off].

8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.

9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.

10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc).

[one person can complete a task excellently; 2 people do it poorly, and 3 people make a mess of it].

Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?

Người xưa cũng đã nhận ra.

Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người Việt lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này.

Trong bài tựa, ông nói ngay:

“Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: «Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!»

“Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?”

Trong nước, tiêu chuẩn của cuộc sống là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học ngoại quốc… Tiêu chuẩn ở hải ngoại cũng thế thôi: Đi dâu cũng nghe khoe nhà trên cả triệu bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư… Gần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.

[…]

Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.

Trong khi người Việt nhiễm văn hoá Trung Quốc đã trở thành như đã nói trên, người Hoa khi ra hải ngoại lại thích ứng rất nhanh nên vươn lên khá nhanh và khá cao. Những đặc tính của người Hoa ở hải ngoại được mô tả như sau:

1.- Cần cù, việc gì cũng làm

2.- Tiết kiệm, không sống khoe khoang hay xa hoa.

3.- Khởi sự từ buôn bán nhỏ.

4.- Đơn vị kinh tế gia đình: Gia trưởng đóng vai trò quan trọng. Tài sản có thể truyền từ đời nọ sang đới kia.

5.- Hình thành những xí nghiệp không theo một hình thức chặt chẽ, không theo những quy luật nhất định, tất cả đều dựa vào chữ TÍN.

6.- Không làm những công việc có tính cách phức tạp hay quá to lớn, chỉ thích kinh doanh vào những lãnh vực đơn giản. Khi cần làm ăn lớn thường chia ra làm nhiều công ty con.

7.- Móc nối với chính quyền và cá nhân khác rất giỏi. Không tham gia chính quyền hay đảng phái nào, nhưng thường nắm được các nhân vật có địa vị quan trọng có thể bao che hay hổ trợ cho làm ăn.

(Tại Indonesia, người Hoa chỉ chiếm từ 3% đến 4% dân số, nhưng làm chủ 70% tài sản ở đất nước này với khoảng 160 trong số 200 xí nghiệp lớn của Indonesia. Gia đình ông Liem Sioe Liong, làm chủ xí nghiệp Salim với số vốn khoảng 9 tỷ mỹ kim, nhờ quen biết lớn với Suharto).

8.- Không thích tranh tụng, kiện cáo. Thường tìm cách dàn xếp mỗi khi có đụng chạm hay bị bắt vì vi phạm luật pháp.

9.- Phạm vi hoạt động gần như không biên giới.

10.- Thích ứng rất nhanh với những biến đổi của thời cuộc.

Trong bài “Mạng lưới kinh tế của người Hoa hải ngoại”, ông Phạm Văn Tuấn đã nhận thấy như sau về các hoạt động kinh doanh của người Hoa ở hải ngoại:

“Khi bắt đầu bước vào ngành thương mại, các người Hoa hải ngoại đã nhận được sự giúp đỡ từ các nhóm, các bang hay các cộng đồng của họ. Các hội tương trợ này được tổ chức căn cứ vào gia đình, hay nguồn gốc địa phương, hay thổ ngữ, chẳng hạn như các bang người Hẹ, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến. Các hội hay các bang này đã hoạt động như một thứ ngân hàng nhờ đó người Hoa có thể mượn tiền, trao đổi tin tức, tuyển mộ nhân công, giới thiệu thương nghiệp, hay thương lượng các dịch vụ. Người Hoa hải ngoại thường tôn trọng chữ Tín, họ làm ăn bằng ước hẹn miệng và sự tin cẩn lẫn nhau, và họ không cần phải ký kết các văn bản, các giao kèo. Nếu một thương gia nào vi phạm lời hứa, người đó sẽ không bị truy tố ra pháp luật mà bị ghi vào sổ đen của các nhóm, các bang, đây là một tệ hại hơn, vì tất cả mạng lưới làm ăn của các cộng đồng người Hoa đều sẽ biết rõ sự việc, và việc kinh doanh của người vi phạm kể như bị chấm dứt.”

Số vốn của người Hoa hiện đang sống ở ngoại quốc được ước lượng khoảng 4.000 tỷ USD.

Cuộc kiểm tra năm 2010 cho thấy ở Mỹ hiện nay người Hoa chiếm 1%, còn người Việt là 0,5%, tức 1.548.449. Người Việt ở Cali là 581.946 nguời.

[…]

Trong khi người Việt đang chuẩn bị ra tranh cử các chức vụ dân cử tại địa phương, thành phố, tiểu bang và có thể liên bang, trong cuộc bầu cử sắp đến. Mục tiêu được mô tả là để bảo vệ và nói lên tiếng nói của cộng đồng. Thì, chúng tôi không thấy có một tổ chức chính trị nào của người Tàu hoạt động ở đây và không nghe nói họ sẽ đưa ai ra tranh cử.

Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2004, lúc đó liên danh George W. Bush đang tranh với liên danh John Kerry. Tôi có nhờ ông Tăng Kiến Hoa dẫn đến gặp một vài bang trưởng Tàu xem họ bầu cho ai. Họ cười và nói: Quy luật bầu cử là phù thịnh bất phù suy. Cứ thấy ai chắc thắng là đóng tiền cho người đó, không cần biết đường lối họ như thế nào. Họ đã nhận tiền là khi đắc cử họ sẽ giúp mình. Nếu hai người ngang ngữa, đóng tiền cho cả hai. Tôi hỏi người Tàu không có ai ra tranh cử dân biểu hay nghị sĩ gì sao. Họ cũng cười và nói: Người mình có vào được quốc hội cũng chẳng làm được chuyện mình muốn. Cứ thấy người nào có thế lực là đóng tiền cho người đó.

Thì ra người Tàu bầu cử bằng tiền chứ không phải bầu cử bằng phiếu như người Việt!

Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử năm 2000, vì hai liên danh George W. Bush và Albert A. Gore ngang ngữa, nên người Tàu đóng tiền cho cả hai. Tây An Tự và Thiền Sư Thanh Hải ở Los Angeles đã đóng tiền cho liên danh Gore nhưng lập danh sách giả những người góp tiền, bị đổ bể nên chúng ta mới biết được.

Chúng ta không mong người Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như John V. Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs…, chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và nhân loại nhiều hơn. Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận xét:

Người Việt vì những lý do vớ vẩn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice important goals for the sake of small ones]

Người Việt thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc!

Chúng ta trông chờ vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới tốt đẹp hơn.

May be an image of one or more people

Việt Nam hôm nay giàu hay nghèo?

May be an image of outdoors and text that says 'Việt Nam hôm nay giàu hay nghèo LâmGăn Bé'

In Retrospect – Nhìn Lại Của Cha và Con Steinbeck Giữa Chiến Tranh Việt Nam – Phần 2.

In Retrospect – Nhìn Lại Của Cha và Con Steinbeck Giữa Chiến Tranh Việt Nam – Phần 2.

***

STEINBECK VÀ 2 CUỘC GẶP GỠ CHƯA GHI LẠI – (tiếp theo & hết)

Cần Thơ, Việt Nam, Ngày… Tháng 12 Năm 1966

BS Hoàng Ngọc Khôi, YKSG 1960:

“Khi John Steinbeck được giải Nobel văn chương 1962, tôi – Hoàng Ngọc Khôi và anh DS Nguyễn Phúc Bửu Tập đang làm tại Trường Quân Y và cùng phụ trách tờ Tập San Quân Y (TSQY). Anh Bửu Tập mua được cuốn Of Mice and Men (OMAM), đọc xong đưa cho tôi đọc.

Khi trả lại, Bửu Tập bảo: Hay là chúng mình dịch rồi đăng vào Tập San. Chúng tôi bắt đầu dịch và cho đăng vào TSQY khoảng giữa năm 1963, dựa theo cuốn tiếng Anh OMAM nhưng vẫn có thêm cuốn tiếng Pháp Des souris et des hommes để tham khảo. Nhà văn Trần Phong Giao, lúc đó là Thư ký Tạp chí Văn, tình cờ đọc được vội tìm hai chúng tôi đặt cọc là khi viết xong giao cho Tạp chí Văn xuất bản. Tôi không biết Nxb Văn có liên lạc với John Steinbeck hay không, nhưng hình như hồi đó chưa có thoả hiệp về tác quyền giữa hai nước.

Khi Steinbeck sang Việt Nam thì tôi đang làm Y sĩ trưởng Quân y viện Trương Bá Hân tại Sóc Trăng. Lúc đó, có một Đại úy cố vấn Mỹ thuộc Cục IV Tiếp Vận phụ trách tiếp vận cho Quân y viện TBH cứ khoảng hai tháng lại tới kiểm tra xem QYV có nhu cầu gì không và không hiểu sao ông ta lại biết tôi có dịch cuốn OMAM.

Bỗng một hôm, cuối năm 66 hay đầu năm 67 gì đó, cũng viên Đại uý cố vấn ấy (mà nay tôi quên mất tên) bay trực thăng ghé thăm QYV bảo tôi là John Steinbeck đang ở Cần Thơ và có hẹn gặp ông ta ngày mai đi uống cà phê trưa từ 2 tới 3 giờ chiều và hỏi tôi có muốn gặp Steinbeck không? Ông bảo tôi có thể lên ngay trực thăng đi cùng nhưng khi về phải tự lo. Tôi mừng quá nhưng trả lời sáng mai tôi sẽ lấy xe Jeep đi và về cho tiện vì từ Sóc Trăng sang Cần Thơ chỉ khoảng hơn một giờ lái xe.

Hôm sau đúng giờ, viên đại uý Mỹ đã đợi tôi tại QYV Phan Thanh Giản, Cần Thơ và rồi ông chở tôi tới một câu lạc bộ sĩ quan Mỹ. Tới nơi thì Steinbeck cũng vừa tới, ông ta mặc đồ như một quân nhân tác chiến, có khoác cả áo giáp, có bộ râu lẫn ria cắt tỉa gọn ghẽ.

Khi gặp Steinbeck tôi còn là Y sĩ Đại uý, ông ta gọi tôi là Doctor và hỏi tôi có sang Mỹ bao giờ chưa và sao lại chọn dịch cuốn sách OMAM của ông? Tôi nói tôi đã sang Mỹ hai lần rồi và lần nào tôi cũng muốn mau trở về vì nhớ quê nhà và bằng hữu. Ông cười bảo vậy đúng là điều ông muốn nói trong cuốn truyện rồi, ước vọng sao có một mảnh đất, một khu vườn và ngày ngày gặp bạn bè tán gẫu với nhau.

Tôi mang theo hai cuốn truyện dịch, một cuốn OMAM và một cuốn Des souris et des hommes để ông ký cho tôi và Bửu Tập, còn tôi cũng tặng ông một cuốn truyện dịch Của Chuột và Người. Tôi chỉ được viên Đại uý cố vấn nhường cho nửa giờ nên tôi chỉ hỏi ông một câu duy nhất là ông có dự tính gặp một nhà văn Việt Nam nào không? Ông trả lời chuyến đi này của ông không có liên quan gì tới văn chương cả, mà là quan sát tại chỗ về tình hình miền Nam xem có cơ thắng trận hay không.

Hôm đó viên Đại uý cố vấn có chụp cho tôi với John Steinbeck một tấm hình polaroid lấy liền. Nửa giờ quá ngắn ngủi và Steinbeck chỉ ở Việt Nam có sáu tuần mà phải đi khắp bốn vùng chiến thuật và viết bài hàng ngày cho tờ báo Newsday mà ông là đặc phái viên. Steinbeck ủng hộ Mỹ đem quân tới Việt Nam để chống sự bành trướng của CS và rất ghét nhóm phản chiến. Ngược lại con ông, đang phục vụ tại Việt Nam trong đoàn Truyền thông quân sự Hoa Kỳ thì lại chống chiến tranh VN. Những bài báo của ông viết từ Việt Nam sau được in lại thành một cuốn sách: John Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the war. Và anh cũng đã biết rồi.

Đêm 29–04–1975 do tôi di tản nhờ tàu Hải quân rất bất ngờ nên đã không mang theo được gì. Sau 1975 có người nhà bên Việt Nam gửi cho tôi cuốn Của Chuột và Người do Hội Nhà Văn in lại và đây là lần xuất bản thứ hai, đề năm 1997. Cuối sách có lời viết như sau: “Chúng tôi đã nhiều lần liên lạc với các ông Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu Tập. Rất tiếc cho đến nay chúng tôi vẫn không nhận được tin tức cụ thể từ hai dịch giả”.

Sau đó bên nhà lại gửi cho cuốn Của Chuột và Người nhưng lần này do nhà Xuất bản Văn Học ấn hành năm 2001. Và tôi nghe nói cuốn truyện được tái bản nhiều lần vì được dùng làm tài liệu tham khảo trong các trường Đại học về môn Anh ngữ. Người bạn cùng dịch sách OMAM với tôi, DS Nguyễn Phúc Bửu Tập, thì nay cũng đã mất [1930-2020]. BS Hoàng Ngọc Khôi, Toronto, Email ngày 21-03-2021

*******

Tây Ninh, Việt Nam, Ngày… Tháng 01 Năm 1967

BS Trần Văn Khánh, YKSG 1965

BS Khánh nguyên cựu nội trú các bệnh viện, anh là bạn đồng khoá YKSG 1965 và rất thân với Nghiêm Sỹ Tuấn, trong Ban Quan Điểm báo SVYK Tình Thương. Ra trường bị động viên với cấp bậc Y sĩ Trung uý, là bác sĩ chuyên khoa giải phẫu thần kinh / neurosurgeon hiếm hoi, anh được bổ nhiệm về làm trưởng khoa Giải Phẫu QYV Tây Ninh. Anh Khánh kể: Giai đoạn ấy, do đụng độ hai bên thương vong nhiều, ngày đêm tôi làm việc trong Quân y viện và cả sang giúp bên Dân y viện! Tôi mổ đủ thứ; có thể tưởng tượng là tôi đã làm cả giải phẫu thần kinh Stellectomie, với những dụng cụ dã chiến!

“Tôi có diễm phúc gặp văn hào John Steinbeck tại Tây Ninh năm 1967, không nhớ rõ ngày tháng trong một dịp bất ngờ khó tin! Như một “duyên khởi” vào một buổi sáng sau vòng thăm các bệnh nhân sau mổ, rất tình cờ tôi gặp nhóm người Mỹ trên một xe Jeep chạy vào Quân y viện, hai người đàn ông và một phụ nữ. Họ cần có nước rửa tay và khu vệ sinh. Trong đám người ấy, tôi nhận ra ngay nhà văn Steinbeck qua chùm râu và ria mép trên khuôn mặt nông dân của ông ấy. Steinbeck trông phong trần trong bộ quân phục GI’s với cả áo giáp và nón sắt.

Qua vài câu trao đổi, Steinbeck quá đỗi ngạc nhiên khi có một người bản xứ xa lạ nói tiếng Anh lưu loát và nhận ra mình; hơn thế nữa anh ta còn là độc giả từ bao năm của ông. Khánh nhắc tới cuốn sách The Grapes of Wrath, nhắc tới cảnh tượng một người mẹ vừa sẩy thai đã cố gắng cứu sống một người đàn ông sắp chết đói và cho ông ta bú bầu sữa từ chính nơi ngực mình. Khánh nói với Steinbeck, trang sách cuối ấy không chỉ vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng và cả tuyệt đẹp, đã đọc rồi không sao có thể quên.

Chỉ bấy nhiêu thôi, Steinbeck đã hoàn toàn bị chinh phục. Steinbeck thân thiết mời Khánh – mà ông gọi là “young man” lên chuyến xe Jeep cùng ông trong chuyến thăm đi một trại Lực Lượng Đặc Biệt không xa chân núi Bà Đen mà lính Mỹ gọi đó là Black Virgin Mountain, cũng là nơi mà Steinbeck tưởng như đó là điểm cuối của con đường mòn Hồ Chí Minh.

Ấn tượng sâu đậm nhất nơi Khánh: Steinbeck nói nhiều như là một war advocate / bênh vực chiến tranh, ông tin rằng với vũ khí tối tân như hiện nay Mỹ sẽ thắng đám lính VC hỗn tạp và cả quê mùa. Trong khi đó thì cô Mỹ tóc bạch kim ngồi phía sau – không biết có phải là vợ mới cưới của ông hay không, đi theo làm stenodactylo / tốc ký ghi xuống những điều Steinbeck đang nói.

Không phải là không nhớ, nhưng Khánh không muốn nói nhiều về chuyến field trip ngày hôm ấy với Steinbeck, Khánh coi đó như một chút riêng tư mà Khánh muốn giữ cho riêng Anh. Khánh viết: “Tôi xin được phép không làm nhân chứng lịch sử của một giai đoạn chiến tranh tương tàn mà rốt cuộc miền Nam bị miền Bắc cưỡng chiếm”. Sau này sang Mỹ, Khánh đã có dịp tới thăm The National Steinbeck Center ở Salinas, tới thành phố Carmen, cả ôm pho tượng Steinbeck. Trần Văn Khánh, Oklahoma, Email: ngày 7 tháng 3, 2021

MỘT CUỐN SÁCH GÂY TRANH CÃI

“Những bức thư gửi Alicia” trên tờ Newsday được tập hợp trong một cuốn sách có tên là Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War, nhưng rồi đã không được in ra vào thập niên 1960s, do những e ngại danh tiếng của Steinbeck bị thêm tổn thương và mãi tới 44 năm sau khi Steinbeck mất (1968), cuốn sách mới được University of Virginia Press xuất bản (2012), với Thomas Barden giáo sư Đại học Toledo, Ohio từng là cựu chiến binh ở Việt Nam và là một học giả chuyên về Steinbeck viết lời Dẫn Nhập và Kết Từ cho tác phẩm cuối đời của Steinbeck.

Theo Barden, chính TT Johnson cũng muốn Steinbeck tới Việt Nam tường trình tại chỗ những gì đang diễn ra lúc đó. Steinbeck muốn có một chuyến đi độc lập, nhưng qua nội dung các bức thư viết từ chiến trường, rõ ràng Steinbeck có quan điểm ủng hộ cuộc chiến tranh, phản ánh chính sách của TT Johnson lúc đó với chủ thuyết Domino, và tính tất thắng / winnability của Mỹ trong cuộc chiến này. Giữa Cha và Con Steinbeck đã có đụng độ với cách nhìn khác nhau về cuộc chiến tranh Việt Nam. John IV con trai Steinbeck cho rằng đây là một cuộc chiến sai lầm, “đa số lính Mỹ thì nghiện ngập, con số thương vong thì không chính xác, và rằng chúng ta – người Mỹ phải rút chân ra khỏi cuộc chiến tranh này.”

Sau thời gian ở Việt Nam trở về Mỹ và trong những trao đổi riêng tư, Steinbeck đã tỏ ra bất bình về những tin tức sai lạc về cuộc chiến tranh hàng ngày cung cấp cho dân chúng Mỹ. Chính Elaine vợ ông cũng khuyên Steinbeck cần thay đổi cách nhìn về cuộc Chiến tranh Việt Nam, nhưng Steinbeck đã không còn sống lâu hơn để viết thêm gì khác về cuộc chiến tranh ấy.

Đồng ý với John Steinbeck hay không, thì sự nghiệp của ông đã hoàn tất. Tất cả những trang viết của ông trước sau, thì nay vẫn hiện diện trên các kệ sách trong các thư viện và trường học. Sẽ vẫn là một bài học cho các thế hệ tương lai.

IN RETROSPECT – NHÌN LẠI

Năm 1972, thời gian tôi đi tu nghiệp ở San Francisco về chuyên ngành Y Khoa Phục Hồi, John Steinbeck đã mất trước đó 4 năm (1968). Tiếp sau Lyndon B. Johnson, Richard Nixon là Tổng thống Mỹ, đang theo đuổi chính sách Việt Nam hoá cuộc chiến tranh – mà báo chí Mỹ gọi đó là kế hoạch đổi màu da trên xác chết, chuẩn bị cho Mỹ hoàn toàn rút chân ra khỏi Nam Việt Nam.

Và cũng chưa bao giờ phong trào phản chiến với teach-in, sit-in lên cao và lan rộng ra khắp các đại học trên toàn nước Mỹ như vậy. Nơi sân trường Đại học Berkeley, đám sinh viên “con ông cháu cha” từ miền Nam Việt Nam sang du học Mỹ cũng hoà nhập vào đám phản chiến ấy, chúng mặc bộ áo bà ba đen tổ chức các nhạc hội hát “Quảng Bình Quê Ta ơi” quyên tiền ủng hộ Hà Nội và Mặt trận Giải Phóng. Và ở đâu đó, hai con trai của John Steinbeck cũng đang hoà nhập vào dòng người đó.

Cũng trong năm 1972 và cả sau này, tôi đã hơn một lần tới thăm Monterey, Salinas quê hương của Steinbeck. Steinbeck mất ở New York, tro cốt của ông được đưa về California và chôn cất lặng lẽ trong khu nghĩa trang của gia đình. Ba mươi năm sau khi ông mất, một National Steinbeck Center được khai trương (27-06-1998) nơi thị trấn Salinas, nơi quê hương ông sinh ra.

Trung tâm Quốc gia Steinbeck, [địa chỉ 1 Main Street, Salinas, CA 93901] nơi thị trấn Salinas quê hương của Steinbeck. Trung Tâm Steinbeck được xây dựng và khai trương (1998) 30 năm sau khi ông mất (1968)

Câu trích dẫn của John Steinbeck được phóng lớn và trưng nơi sảnh đường của National Steinbeck Center Salinas, California.

Trong một lần đã tới thăm, điều vẫn còn lưu lại trong trí nhớ là câu trích dẫn của John Steinbeck được phóng lớn và trưng bày nơi sảnh đường của National Steinbeck Center Salinas, California.

“Nhà văn phải tin tưởng rằng điều hắn đang làm là quan trọng nhất trên thế giới. Và hắn phải giữ ảo tưởng ấy cho dù khi biết được điều đó là không thực.”

Dĩ nhiên đây không phải là câu văn hay nhất của Steinbeck nhưng có lẽ phản ánh đúng nhất về cuộc đời 66 năm đầy thăng trầm và cả nghịch lý của Steinbeck mà ông đã bướng bỉnh lựa chọn để đi tới vinh quang và cả đôi khi chống lại chính mình.

Bức tượng đồng John Steinbeck, nơi thành phố Monterey, California, quê hương ông.

California 28-03-2021

*******

– Hình trái, Of Mice and Men, của John Steinbeck bản tiếng Anh; giữa: Des souris et des hommes bản tiếng Pháp; phải: Của Chuột và Người, bản dịch của Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu Tập, Nxb Văn Sài Gòn 1967. Từ sau 1975, bản tiếng Việt này đã được tái bản nhiều lần ở Việt Nam.

– Hình bìa cuốn sách“Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War” đã không ra mắt vào thập niên 1960s, mà mãi tới 44 năm sau khi Steinbeck mất. University of Virginia Press (2012).

– Câu trích dẫn của John Steinbeck được phóng lớn và trưng nơi sảnh đường của National Steinbeck Center Salinas, California.

– Bức tượng đồng John Steinbeck, nơi thành phố Monterey, California, quê hương ông.

Thời mạt pháp

 

Thiên Đức

Thời mạt pháp

– Mọi xã hội đều được xây dựng trên nền tảng pháp luật, hưng thịnh hay suy vong cũng từ đó mà ra. Một chế độ vững bền hay suy thoái rồi đi đến cáo chung cũng từ nền pháp luật của thể chế đó, bởi một điều dễ hiểu là bất cứ một chính thể nào, chế độ nào cũng từ nhân dân. Từ ngàn xưa cũng thế, không có dân thì lấy đâu ra vua? Vua cũng từ một con dân mà có chứ đâu phải từ trên trời rơi xuống? chớ lạm dụng hai từ “thiên tử” (con trời) mà áp đặt câu “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” hay “Trung thần bất sự nhị quân” cho dù vị vua trước mà mình phụng sự là hôn quân vô đạo và vị vua sau (đổi thời) là một minh chúa hoặc như ngày nay với kiểu thần thánh hóa cá nhân để rồi núp bóng áp đặt cho xã hội, cho người dân với nhiều ý đồ đen tối khác của giới cầm quyền. Cái trung đó là “ngu trung” mà ý thức đó, nét văn hóa đó nó đã chìm sâu vào lòng đất, vào quá vãng tự xưa rồi.

Ta lật từng trang sử loài người từ thời cổ đại cho đến ngày nay cũng thế, tuy rằng mỗi triều đại, thời gian có những gam màu khác nhau. Từ thời xa xưa ngôn ngữ, văn minh còn hạn hẹp phôi thai nhưng nền văn hóa của những thời đại đó vẫn có những dấu ấn khó phai mờ, cho dù dưới hình thức này hay hình thức khác thì quyết định tồn vong của một chính thể, một chế độ đều hoàn toàn ở người dân. Nền pháp luật nơi đó có tồn tại hay không cũng từ lòng dân, cho dù những bộ luật đó có là luật thành văn hay bất thành văn. Nói tóm lại từ cổ chí kim mọi chính thể đều phải có hiến pháp và pháp luật. Mà hiến pháp và pháp luật đó phải xuất phát từ người dân, hợp lòng dân, trái với lòng dân thì cho dù dưới chế độ nào, hình thức cai trị nào rồi cũng tiêu tan và sụp đổ.

Có phải ngày xưa dưới chế độ phong kiến có những triều đại hà khắc bạo tàn, người dân trong tay không một tấc sắt, nhưng cuối cùng chế độ đó cũng phải sụp đổ khi quần chúng nhân dân nổi dậy rồi sao? Đó là sự khẳng định rằng, không một chính thể nào cho dù là bạo cường cách mấy cũng không thể ngồi trên đầu dân một cách lâu dài được. Một nền hiến pháp, pháp luật không hợp lòng dân không bao giờ được áp dụng lâu dài và tồn tại. Mà đã không hợp lòng dân, trái lại ý chí của người dân thì không còn sửa chữa được nữa mà phải cáo chung và khai tử nó. Và lẽ đương nhiên đi theo nó là cả một hệ thống cầm quyền núp sau những trang hiến pháp ngụy trang đó mà thực hiện mưu đồ trong thời gian cai trị.

Nói thẳng vào chế độ và hiến pháp, pháp luật CSVN. Hiến pháp, pháp luật hiện hành ở VN là của riêng tập đoàn đảng CSVN, không phải là của toàn dân VN. Do đó không thể đem một ý thức hệ, một ý chí riêng của một tập đoàn, một nhóm hơn 3 triệu người trong xã hội mà áp đặt lên toàn dân hơn 90 triệu người và mạo nhận là ý chí của toàn dân? Chính quyền này là do Đảng CSVN cướp đoạt và áp đặt chính sách cai trị “ngoại nô” sau khi cướp được chứ không do nhân dân VN trao cho. Nếu đảng CSVN rêu rao rằng chính quyền này là “của dân, do dân và vì dân” thì bằng chứng nào để chứng minh cho được cái “của, do và vì” đó? Từ năm 1945 đến nay cơ quan nào của bộ máy cầm quyền nhà nước CSVN mà đích thực là của dân?

Công an nhân dân ư? Chúng đánh đập, giết chết, cầm tù người dân chân chính và yêu nước như một cô bé SV Phương Uyên ở tuổi 20 trước đây với chỉ một lời “Cháu ghét TQ”, tức thì còng trói giam cầm, kéo đi như phường thảo khấu lục lâm mà không cần minh bạch lý do đồng thời chối bỏ mọi hành động, cùng với nhiều nhà yêu nước khác như Minh Hạnh, Bùi Hằng, Như Quỳnh, Huy Chương, Quốc Hùng, Duy Thức… cùng hàng hàng người dân vô tội khác trong xã hội đã và đang bị công an CS giết chết, cầm tù từng ngày mà không hề chùn tay.

Quân đội nhân dân ư? Quân đội tại sao phải tuyệt đối trung thành với đảng? Trong lúc đó không lo đi bảo vệ biên cương, đất nước, khi non sông hải đảo đang bị quân xâm lược Bắc Kinh lấn chiếm cõi bờ? Không lo bảo vệ nhân dân đang bị ngoại bang giết chóc, hà hiếp đe dọa cuộc mưu sinh, hủy hoại môi trường sống từng giờ từng phút? Mà đi bảo vệ giặc (Formosa), bảo vệ đội quân thứ 5 của Tàu cộng đang tiềm ẩn trên đất nước ta? Trong lúc quân đội chính là con của nhân dân đẻ ra và nuôi khôn lớn bằng mồ hôi, nước mắt, đôi khi pha cả máu nữa?

Tòa án nhân dân ư? Tại sao phải theo ý đảng mà xử tù oan nghiệt cho những người yêu nước, thương dân? Đã gọi là thẩm phán cầm cân nảy mực đại diện cho công lý mà khi xử án nhất là những án có liên quan đến người yêu nước thì tuyên bằng bản án bỏ túi do đảng đã phán trước? trong đó có cha mẹ con cái người thân của các quan tòa cũng là dân tộc VN?…v.v và v.v… Rất nhiều cái mà chúng gọi là của nhân dân nữa.

Một điều tôi cũng muốn xin hỏi đảng CSVN rằng cái gọi là quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân là đại diện cho toàn dân. Thế thì trong 500 vị được gọi là đại diện cho nhân dân ai thực sự là người dân? Trong đó hết 98% là đảng viên CS, 2% còn lại là các sư sãi ăn bã CS hoặc là đảng viên csVN trá hình trong người lận thẻ máu, dân tộc thiểu số giả danh anh hùng “núp lén” bị che mắt bịt tai để làm tay sai, lừa mỵ là đại diện cho các sắc tộc anh em và những con cừu con dê theo đóm ăn tàn và chỉ nói ngọng nghệu, bước đi tập tễnh theo sợi dây thừng mà đảng viên CS nắm và dắt đi. Thế thì những tiếng nói đó đại diện cho ai? thay mặt cho ai mà nói? Bao cuộc bầu cử quốc hội, HĐND các cấp, các đại biểu người dân được quyền lựa chọn, tự do bầu ra những người có đức, có tài để lãnh đạo quốc gia ư? Ai đã ăn nuốt xương máu của nhân dân hơn ngàn tỉ đồng cho mỗi lần lừa gạt nhân dân và quốc tế như vậy? Tôi nói không sai bởi các ông cho rằng dân bầu thì tại sao ngày bầu cử chưa đến mà trước đó hàng nhiều tháng thậm chí cả năm ai, vị nào, con cừu, con dê, thằng điếm, con đĩ nào ở vị trí nào đã có sẵn mà toàn dân VN, truyền thông quốc tế đã biết và loan lên? Y như rằng, sau ngày bầu cử lừa đảo đó tất cả đều không sai! Ai vào chỗ nấy. Từ gã chủ tịch nước đến tên thủ tướng rồi tới thằng, con chủ tịch quốc hội và các tay sai khác đều đúng vị trí như mọi người đã biết trước với kịch bản và sự đạo diễn của đảng. Thế cho nên những cái gì mà đưa ra từ “cái gọi là quốc hội” đều là ý đảng và trái ngược lòng dân. Soạn thảo bản hiến pháp ư? Ban soạn thảo hiến pháp thì 100% là đảng viên CS viết theo ý đảng chứ đừng lừa mỵ đèo thêm cái đuôi là “lòng dân – ý đảng”. Lòng dân ư? XHCN xạo hết chỗ nói. Đây, lòng dân đây:

– Đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân, nhà nước thống nhất quản lý. Một bản án tử hình cho toàn dân từ nông thôn đến thành thị, bởi tất cả mọi công dân đều ăn, ở, sống trên mảnh đất của mình qua bao đời mà quyền quản lý là của đảng? khi đảng muốn cưỡng đoạt mà người dân phản kháng ư? Chống người thi hành công vụ à? Đánh đập, còng trói và tống vào tù. Và anh Đoàn Văn Vươn cùng gia đình đã phải chịu án oan…cả gia đình chị Cấn thị Thêu phải chịu cảnh ngục tù tra tấn vì dám đấu tranh cho quyền lợi của mình và của nhân dân Dương Nội đã và đang bị đảng cướp? Chị Trần ngọc Anh ở Vũng Tàu cũng cùng cảnh ngộ bi thương. Từ Nam chí Bắc không đâu là không có phiên bản Đoàn văn Vươn, Cấn thị Thêu, Trần ngọc Anh…

– Tự do ư? Tự do trong khuôn khổ pháp luật. Đã tự do mà trong khuôn khổ? mà pháp luật là gì? là điều 79, 88, 258… của bộ luật hình sự? Các điều luật mơ hồ đánh lận con đen để phủ đầu người yêu nước, người muốn nói lên chính kiến hợp pháp của mình một cách bỉ ổi và vô liêm sỉ.

– Nhân quyền ư? Thế quyền tự do đi lại là việc cấm xuất cảnh để ra nước ngoài nhận các giải thưởng cao quí, danh dự trên thế giới mà người dân VN có được như gia đình Huỳnh Thục Vy, Nguyễn ngọc như Quỳnh và nhiều người ra nước ngoài vì những lý do chính đáng khác? Đáng lý ra đảng cũng là người VN phải tự hào và vinh dự chứ? Và không những cấm cản mà còn cao giọng phản bác việc thế giới trao giải danh giá tôn vinh cho các Anh Thư như Tạ Phong Tần, Nguyễn Hoàng Vi, Huỳnh Thục Vy, và vừa qua là Nguyễn ngọc như Quỳnh?

– Tự do ngôn luận ư? Chỉ câu nói “Cháu ghét TQ” mà cô bé Phương Uyên đã phải vào tù khi mới 20 tuổi. Hay những người vạnh trần bọn tham nhũng, lên tiếng bảo vệ tổ quốc khi bị Trung cộng xâm lăng, nếu nhẹ thì bị sách nhiễu, nặng thì mục xương trong tù.

Tự do báo chí ư? Cái này thì đảng “hoàn toàn đúng và nhân hậu “ bởi đảng đang lo lắng chăm sóc các nhà báo, nhà dân chủ của chúng ta thật kín kẽ và chu đáo. Trước đây như Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Ls. Cù Huy Hà Vũ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Việt Khang, Đỗ Thị Minh Hạnh, Ls Nguyễn văn Đài, Ls Lê quốc Quân, Ls Lê công Định, Ks Trần Huỳnh duy Thức… và nhiều vị khác nữa kẻ thì còn đang thu mình trong nhà đá, kẻ tuy đã thoát ra khỏi nhà tù nhỏ nhưng vẫn bị câu lưu, theo dõi, truy bức nơi nhà tù lớn gọi là nhà nước CHXHCNVN. Sợ các thế lực thù địch hãm hại nên đảng đã cất dấu các vị này thật kỹ nơi tường cao rào kín, cơm nước hàng ngày, thuốc men đầy đủ và gia đình không cần phải thăm nuôi, hỏi han sức khỏe. Thậm chí còn đưa đi thật xa đến nơi núi rừng hẻo lánh như Phạm Thanh Nghiên, Đỗ thị minh Hạnh, Trần Huỳnh duy Thức … và nhiều vị khác nữa để được an toàn và không khí trong lành hơn, cũng để không bị ô nhiễm môi trường từ các sáng kiến của các GS – TS, Nhà Xí CSVN. Đặc biệt là đảng độc quyền yêu nước. Một thứ quyền thiêng liêng cao cả. Trên đời này nếu ai không có lòng yêu nước là như kẻ không có trái tim và bị xem như là phản quốc, có khi là tội đồ của dân tộc.

Cũng chính vì cái gọi là quốc hội này nên từ đó đã đưa ra những dự luật thật khôi hài và quái đản chưa nói là ngu si dốt nát nữa vì những con rối này tất cả đều giả danh mang những tước hiệu, học vị, học hàm rất là lổn cổn và hào nhoáng nào GS – TS, nhà nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu kinh tế, triết học, nhà lý luận, viện sĩ nọ, viện sĩ kia…

Dự luật tiếp dân, bắt buộc người dân đang lang thang khiếu kiện với cảnh màn trời chiếu đất, một miếng ăn qua ngày để kéo dài thêm sự sống mà đuổi theo tờ đơn kiện chạy lòng vòng khắp các tỉnh thành cho tới thủ đô còn không có mà phải đặt “tiền cọc” rồi mới được kêu oan? Thật là kiểu bày trò rút ruột, xương máu của nhân dân cho tới tận cùng trong chất bã của nhà khoa học tiến sĩ giấy chủ nhiệm cái gọi là UBKHCN và môi trường xưng danh là đại tiểu, đại tiện của nhân dân thật là vô tiền khoáng hậu. Chỉ có những đầu óc bã đậu của các “đỉnh cao trí tệ” quá cao siêu mới có những tối kiến vô cùng quái đản như vậy mà thôi.

Nhận thấy tình hình mạng sống của nhân dân VN mỗi ngày một treo lơ lửng trên cành cây cho nên cộng đồng các dân tộc và các chính phủ tiến bộ trên thế giới đã nhiều lần lên án nhà cầm quyền CSVN. Tưởng rằng bọn mặt người dạ thú mang trái tim của quỉ kia cũng phần nào dè dặt hay rụt tay hãm bước. Nhưng với bản chất man rợ, thú tính chúng không hề động tâm mà còn tiếp tục trắng trợn gia tăng giết người một cách dã man hơn, nó đang diễn ra trên toàn cõi đất nước như ở Vĩnh Yên, Vinh rồi Đắc Nông và gần đây công an Gia Lai dùng súng tiểu liên đuổi theo và bắn người không đội nón bảo hiểm. Thậm chí người ta sợ súng đạn chạy trốn vào một công ty gần đó mà tụi công an côn đồ vẫn bắn vào phá cửa, hành hung và gây ra thương tích cho những người nơi đó. Đúng là bọn “kiêu binh thời @” xem trời đất bằng vung thật là kinh khủng và rừng rú, luật bắn dân chưa ra (tính sẽ đưa ra) mà chúng đã ngang nhiên xả đạn tiểu liên giữa đường phố, giữa công ty đang làm việc như trên, thì đúng là“thời mạt pháp”. Chưa hết, trước đây một học sinh 16 tuổi cũng bị đánh hành hung gây thương tích ngay đường số 9 cư xá Bình Thới phường 8 quận 11 Sài Gòn cũng chỉ vì không đội nón bảo hiểm. Hay ngay thủ đô Hà Nội, nhiều người dân Dương Nội – Hà Đông khi cản trở việc cưỡng đoạt đất đai của tập đoàn, phe nhóm lợi ích cho đảng, thì cũng bị công an phường Dương Nội đánh đập dã man rồi tống lên xe bus để cùng nhau đánh tiếp, đánh dài dài, đánh cho đến thập tử nhất sinh. Thậm chí dùng gàu xe xúc đất xúc chị Cấn thị Thêu để bắt nhốt vào tù khi chị cùng người thân và nhân dân Dương Nội quyết tâm giữ đất của cha ông bao đời để lại nay bị đảng cướp! Những cảnh như thế thì ai là người còn mơ hồ ngây thơ tin vào pháp luật của CSVN?

Chưa dừng lại ở đó. Bộ công an còn âm mưu, manh nha đưa vào luật điều khoản được phép bắn dân khi thi hành công vụ mà bị chống lại. Thật khốn nạn và dã man vô cùng. Lúc nào là lúc thi hành công vụ? Và hành động thế nào là chống thi hành công vụ? Cướp đất cướp tài sản cá tôm, phá nhà hợp pháp của nhân dân là thi hành công vụ sao? Phiên tòa xét xử Đoàn Văn Vươn, Cấn thị Thêu và người thân đã diễn ra tại Hải Phòng, Hà Nội là câu trả lời rõ nhất cho bản chất những kẻ thi hành công vụ và nỗi oan tình của người dân. Nạn nhân biến thành tội phạm giết người, chống người thi hành công vụ chỉ vì bảo vệ tài sản, nhà cửa hợp pháp của mình. Còn kẻ cướp giết nhân dân giữa ban ngày được trang bị đầy đủ vũ khí và mọi lực lương hổ trợ thì được xem là công trạng đáng ghi vào phim sách. Rồi những vụ Văn Giang, Vụ Bản, Dương Nội, đồng bằng sông Cửu Long là những minh chứng. Trong khi đó tên 3 ếch cựu “tưởng thú” ra vẻ an dân và xoa dịu lòng dân bằng cách trực tiếp chủ trì cuộc họp vụ Tiên Lãng, nhưng lại giao nhiệm vụ cho tên cầm đầu cuộc cưỡng chế đất là tên Đỗ Hữu Ca đi điều tra ai làm nên chuyện phá nhà cướp hại nhân dân? Rồi cũng chính hắn giao cho lãnh đạo côn an Hưng Yên điều tra ai đã đàn áp nông dân Hưng Yên trong vụ cưỡng chế đất trong khi cả ngàn côn an, bộ đội, dân quân, côn đồ xh đen và cả chó nghiệp vụ với vũ khí tận răng tham gia đánh đập dân oan. Lực lượng này không phải của csVN, cs Tàu thì là âm binh từ địa ngục hiện lên??? Thật khôi hài.

Cuối cùng tôi xin hỏi đảng CSVN một câu chót là với lực lượng gần 5 triệu đảng viên CS của các ông đó là chưa cộng thêm vợ, chồng con cái, anh em mẹ cha dòng họ bè nhóm đã cùng hùa với các ông cướp bóc hút máu dân lành, con số có thể hơn mười mấy triệu bản mặt mà lại sợ “đa nguyên, đa đảng”? Tôi thiết nghĩ cho dù có vài ba đảng phái chính trị nào khác để ra cạnh tranh sòng phẳng nơi chính trường với các ông đi chăng nữa thì con số đó có lẽ cũng kém hơn các ông xa. Nhưng có một điều duy nhất và chắc chắn hơn hẳn và khác các ông xa là người ta có trí thức và chính nghĩa. Đối diện với trí thức và chính nghĩa thì dốt nát và tà quyền bá đạo sẽ lòi mặt chuột ra. Do đó các ông “sợ” như virus sợ ánh sáng, xì-ke sợ nước hay ma quỷ sợ ban ngày vậy. Các ông dư biết rằng nếu đảng phái đối lập có trí thức và chính nghĩa thì sẽ được lòng dân, có dân đứng sau lưng khoảng gần 80 triệu người VN cả trong và ngoài nước sau khi đã trừ đi gần mười mấy triệu người thân và bè nhóm của các ông ra thì con số nhân dân yêu nước, khát khao tự do nhân quyền dân chủ này sẽ là cơn bão lũ nhấn chìm các ông, sẽ là biển lửa thiêu rụi các ông trong một sớm một chiều nên các ông run sợ là phải.

Mấy năm trước các ông bày trò sửa đổi hiến pháp mà lại đi từng nhà, gặp từng người dân trao bản dự thảo hiến pháp sửa đổi của các ông và tờ mẫu in sẵn áp đặt ký tên đồng ý với bản dự thảo điếm lừa nêu trên và sau đó cho là ý dân! Đến giờ phút này mà các ông còn lừa dân một cách xảo trá, mạt hạng rẻ tiền đến thế sao? Cặp mắt của người dân VN và cả thế giới đâu có đui mù và đâu còn bị các ông che chắn như trước đây được nữa. Do đó nhân dân VN cương quyết khai tử bản hiến pháp hiện hành là hoàn toàn đúng đắn, vì nội dung của nó thể hiện ý chí của đảng CSVN đi ngược lại ý chí và quyền lợi của toàn dân. Hiến pháp lẫn chế độ CSVN không thể nào sửa đổi được mà phải cáo chung, đào thải, thay đổi hoàn toàn mà thôi. Bài viết này tôi chỉ gói gọn trong sự nhận xét của tôi về lĩnh vực hiến pháp và pháp luật của csVN đã đến thời MẠT PHÁP.

GS David Tran