tân chính quyền Mỹ công bố bản « Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời », là cơ sở cho Chiến lược An ninh Quốc gia của nước Mỹ, dự kiến hoàn tất cuối năm. Bản chỉ dẫn nhấn mạnh đến việc củng cố nền dân chủ, trước hết ngay tại Mỹ, siết chặt quan hệ với đồng minh, đối tác để đối phó với các thách thức lớn xuyên quốc gia, với các thế lực độc tài. Bắc Kinh bị chỉ đích danh như một mối đe dọa chính.
***
Hôm 03/03/2021, tân chính quyền Mỹ công bố bản « Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời ». Bản chỉ dẫn là cơ sở cho việc soạn thảo Chiến lược An ninh Quốc gia của nước Mỹ, dự kiến sẽ hoàn tất cuối năm.
Bản chỉ dẫn nhấn mạnh đến việc củng cố nền dân chủ, trước hết ngay tại Mỹ, siết chặt quan hệ với đồng minh, đối tác để đối phó với các thách thức lớn xuyên quốc gia, với các thế lực độc tài. Bắc Kinh bị chỉ đích danh như một mối đe dọa chính.
Về mục tiêu của việc công bố bản « Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời » (Interim National Security Strategic Guidance), Nhà Trắng cho biết là để « truyền đạt tầm nhìn của tổng thống Biden về cách thức mà nước Mỹ sẽ làm việc với thế giới và cung cấp hướng dẫn cho các bộ và các cơ quan để điều chỉnh hành động của mình, khi chính quyền bắt đầu xây dựng Chiến lược An ninh Quốc gia ».
« Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời » khẳng định trước hết là, các mối đe dọa hiện nay, từ đại dịch đến khủng hoảng khí hậu, thách thức về công nghệ số, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng nhân đạo, hay chủ nghĩa bạo lực, khủng bố, vũ khí hủy diệt…, không thể được hóa giải, nếu không có các phối hợp quốc tế.
Bản « Chỉ dẫn » cũng đặc biệt nhấn mạnh đến một thách thức sống còn khác, đó là các nền dân chủ trên toàn cầu, bao gồm cả nước Mỹ, đang trong tình trạng « bị vây hãm », bị thách thức « từ bên trong », bởi « nạn tham nhũng, bất bình đẳng gia tăng, phân cực xã hội, chủ nghĩa dân túy và các mối đe dọa phi tự do nhắm vào thể chế nhà nước pháp quyền ».
Bản « Chỉ dẫn » cũng tập trung chỉ rõ các thế lực chuyên chế có xu thế « sử dụng thông tin bóp méo, thông tin sai lệch », để khai thác các điểm yếu và gieo rắc sự chia rẽ « trong nội bộ các quốc gia tự do, và giữa các quốc gia tự do, làm xói mòn các quy tắc quốc tế hiện có và thúc đẩy các mô hình cai trị độc tài như giải pháp thay thế ».
Để « đảo ngược các xu thế » nguy hiểm nói trên, tân chính quyền Mỹ đặt trọng tâm vào việc Hoa Kỳ trở lại dẫn đầu thế giới bằng « sức mạnh nêu gương », trước hết với việc nỗ lực hành động để củng cố các trụ cột nền tảng của nền dân chủ trong nước, với việc giải quyết căn bản tình trạng kỳ thị chủng tộc. Thành công của nước Mỹ sẽ trở thành « ngọn hải đăng » cho các nền dân chủ khác.
Trang mạng Nhật Bản NHK đặc biệt chú ý đến việc bản « Chỉ dẫn » cho biết nước Mỹ sẽ tập trung đầu tư vào Hiệp ước Liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) và các quan hệ liên minh của tổ chức này với Nhật Bản, Úc và Hàn Quốc, được coi là « tài sản chiến lược lớn nhất của Mỹ ».
Tài liệu cho biết thêm chính quyền Biden sẽ làm việc có trách nhiệm để chấm dứt chiến tranh ở Afghanistan và duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Trung Đông ở mức độ phù hợp, đồng thời « duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ nhất ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và châu Âu ».
Tài liệu dài 24 trang của Nhà Trắng cũng khẳng định « sẽ làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác với Ấn Độ, cộng tác với New Zealand, cũng như Singapore, Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN khác, để thúc đẩy các mục tiêu chung ».
Không có người nào cả đời chỉ toàn niềm vui, và cũng không có người nào cả đời chỉ toàn nỗi buồn; nhưng vẫn luôn có những người chờ mong cuộc sống của mình chỉ toàn niềm vui, đâu biết chính sự chờ mong đó vô tình làm khổ họ, khổ khi vừa thoáng thấy nỗi buồn xuất hiện, buồn khi mọi chuyện không được như ý.
Thứ gì có thể làm cho chúng ta vui như vỡ ra thì ngay bên trong thứ đó luôn ẩn chứa một sức mạnh đủ lớn để có thể xé nát chúng ta, và chỉ những thứ từng sưởi ấm chúng ta mới đủ sức làm chúng ta phải co ro lạnh.
Bám vào niềm vui và ghét bỏ nỗi buồn là cách nhanh nhất để đánh mất bình yên trong lòng, và người đời thường đánh mất bình yên của mình theo cách đó.
Người bình yên nhất là người biết trân trọng mọi thứ, kể cả nỗi buồn. Người đi xa nhất là người biết nhặt lấy từng nỗi buồn, nhặt lấy từng nghịch cảnh, nghịch duyên rồi đốt cháy chúng để làm năng lượng cho cuộc hành trình phía trước. Người thương cuộc sống nhất là người thương được cả từng nỗi đau.
Tôi thích nghe những người ngược going, ngược gió để trở về ngồi thật yên dưới hiên chùa kể chuyện, nghe những thứ đã làm họ tổn thương, nghe cách họ chuyển hóa chúng thành thứ có ích cho cuộc sống của mình.
Làm gì có cuộc đời nào không có nỗi buồn, làm gì có một cuộc đời bình yên, chỉ có trái tim bình yên thôi.
Một ngày nọ, Vua Salomon bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông: “Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ Sukkot và ta cho ông sáu tháng để tìm thấy chiếc vòng đó. ”
Benaiah trả lời: “Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thưa đức vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy chắc phải có gì đặc biệt? ”
Nhà Vua đáp: “Nó có những sức mạnh diệu kỳ. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó, sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn, nhìn vào nó sẽ thấy vui”. Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.
Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.
Vào đêm trước ngày lễ Sukkot, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi “Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không? “. Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng rỡ một nụ cười.
Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mừng lễ hội Sukkot.
“Nào, ông bạn của ta, ” Vua Salomon nói, “Ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa? “. Tất cả những cận thần đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cười.
Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: “Nó đây thưa đức vua”. Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó khắc dòng chữ: “Điều đó rồi cũng qua đi”
Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó, ông cũng chỉ là cát bụi.
Năm 1991, Đài Loan có cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên sau 45 năm chịu sự kiểm soát toàn diện của Quốc dân Đảng (KMT). Cạnh tranh giữa các đảng phái bắt đầu xuất hiện.
Một trong những cuộc cạnh tranh quan trọng nhất là về chính sách bảo hiểm y tế. Để giành chiến thắng, các đảng phải đưa ra chính sách sao cho ngày càng có nhiều người dân được hưởng phúc lợi hơn.
Sự cạnh tranh còn tạo động lực để các vấn nạn thể chế như tham nhũng được đưa ra ánh sáng, bóc tách và sửa chữa. Dưới áp lực cạnh tranh, các đảng phái cũng buộc phải tự sửa mình.
Trong thời kỳ độc tài, một danh tính Trung Hoa chung được áp đặt lên người Đài Loan. Chỉ đến khi các đảng phái khác xuất hiện, người dân mới bắt đầu lên tiếng đấu tranh cho một căn tính khác của riêng mình.
Công trình nghiên cứu của Dafydd Fell trong quyển “Party Politics in Taiwan” cung cấp bằng chứng cho các thay đổi tích cực mà cạnh tranh đảng phái góp phần tạo ra ở Đài Loan.
Vào năm 1987, khi chính phủ Đài Loan tuyên bố chấm dứt tình trạng thiết quân luật, nước này đã xác lập một kỷ lục không hay ho gì: là quốc gia có tình trạng thiết quân luật lâu nhất trên thế giới tính đến thời điểm đó (kéo dài gần bốn thập niên).
Dưới chế độ độc tài của Quốc dân Đảng, người Đài Loan không có tự do ngôn luận, không được tự do lập hội, và không có quyền bầu ra những lãnh đạo của đất nước. Những tiếng nói đối lập đều bị thẳng tay đàn áp, bỏ tù hoặc giết hại.
Tranh minh họa thời kỳ thiết quân luật tại Đài Loan. Nguồn: Taiwan Times.
Ngày nay, chỉ ba thập niên sau khi bức màn kiểm soát quân sự bị xé bỏ, Đài Loan lột xác trở thành một trong những quốc gia dân chủ tự do nhất thế giới. Thể chế dân chủ của nước này được đánh giá là số một ở châu Á, vượt qua cả Nhật Bản lẫn Hàn Quốc.
Những quả ngọt của quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan đến rất nhanh và rất sớm. Ngay trong những năm đầu tiên kể từ khi cải cách, người dân đã chứng kiến các thay đổi thực tế trong hầu hết các vấn đề, từ quốc kế dân sinh đến chủ nghĩa dân tộc.
Các thay đổi này có thể được tìm thấy trong quyển sách “Party Politics in Taiwan” của Dafydd Fell, một nhà khoa học chính trị chuyên nghiên cứu về Đài Loan. Ông là giảng viên Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế thuộc Đại học London, Anh. Cuốn sách là công trình nghiên cứu của tác giả về sự thay đổi của các đảng phái và quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan từ năm 1991 đến 2004.
Thông qua phân tích các thông điệp tuyên truyền bầu cử, phỏng vấn trực tiếp quan chức cấp cao của các đảng, thu thập ý kiến từ những chuyên gia, tác giả kết luận rằng việc cạnh tranh trong bầu cử đem lại một môi trường tích cực cho toàn bộ xã hội Đài Loan.
Các đảng phái nâng cao năng lực quản trị, người dân có được những đại diện thực chất giúp giải quyết các vấn đề của mình, còn các vấn đề xung đột dần đạt được đồng thuận thông qua tranh luận cởi mở và công khai.
Nghiên cứu của Dafydd Fell tập trung vào ba vấn đề lớn: đưa ra chính sách trợ cấp xã hội, xử lý nạn tham nhũng và xác định danh tính dân tộc.
Trợ cấp xã hội: hướng đến công bằng cho tất cả
Trước thập niên 1990, ngoài tầng lớp lãnh đạo, tại Đài Loan có một nhóm người được hưởng đặc quyền đặc lợi. Nhóm này được gọi là “quân công giáo” (jungongjiao), viết tắt từ quân đội, công chức và những người làm việc trong ngành giáo dục. Đa phần họ đều là đảng viên Quốc dân Đảng, vốn là điều kiện tiên quyết để thăng tiến trong sự nghiệp.
Họ ủng hộ nhiệt thành các chính sách của Quốc dân Đảng, đổi lại nhận được trợ cấp xã hội hậu hĩnh. Trong khi đó, người dân thuộc các ngành nghề khác được hưởng rất ít, hoặc không có được bất kỳ trợ cấp nào từ chính quyền.
Theo thống kê, vào năm 1991, trong số chi tiêu trợ cấp của chính phủ, nhóm “quân công giáo” hưởng đến 74%.
Lịch sử phức tạp của Đài Loan góp phần tạo nên sự thiên lệch này.
Vào năm 1949, khi Quốc dân Đảng thất trận tại đại lục, họ chạy sang Đài Loan, đem theo bộ máy chính quyền cũ và những quân nhân công chức trong hệ thống đó. Những người này được gọi là “người đại lục” (Mainlanders) để phân biệt với “người Đài Loan” (Taiwanese), sinh ra và lớn lên tại đảo quốc. Nhóm người đại lục chỉ chiếm thiểu số, nhưng nắm độc quyền và hưởng đặc lợi. Sự bất bình đẳng này gây ra nhiều mâu thuẫn sắc tộc.
Dưới chế độ thiết quân luật, chính quyền đàn áp đẫm máu những ai dám lên tiếng phản đối. Các mâu thuẫn bị đè nén, không được bàn luận công khai. Chỉ tới khi những đảng phái khác xuất hiện, các chính sách bất công này mới bị thách thức.
Đảng Dân tiến (DPP) là một trong những đảng đầu tiên nêu ra vấn đề cải cách trợ cấp xã hội, với việc yêu cầu phải có chính sách y tế và lương hưu công bằng cho mọi người dân.
Tuy mới thành lập, không có thực quyền, nhưng những yêu cầu của Đảng Dân tiến nhận được nhiều sự ủng hộ từ cử tri.
Nắm bắt được xu thế đó, Quốc dân Đảng nhanh chóng “cướp diễn đàn”, giành quyền ban hành chính sách bảo hiểm y tế. Với lợi thế nắm đa số tại Quốc hội, vào năm 1994, họ nhanh chóng thông qua luật về Bảo hiểm y tế toàn dân (National Health Insurance – NHI). Chính sách này thành công lớn, nhận được hơn 70% sự ủng hộ từ người dân. Trong các cuộc bầu cử sau này, Quốc dân Đảng vẫn thường nhắc lại NHI như một lá bài ghi điểm quan trọng.
Tranh cổ động tham gia chương trình Bảo hiểm y tế toàn dân (NHI) của Đài Loan. Nguồn: nhi.gov.tw.
Đây là trường hợp hiếm hoi một đảng phái “cướp” thành công diễn ngôn của phe đối lập và biến nó thành lợi thế riêng.
Về phần mình, Đảng Dân tiến không từ bỏ cuộc chiến. Họ đưa yêu cầu cải cách về lương hưu, một vấn đề lớn khác của trợ cấp xã hội.
Giống như trường hợp bảo hiểm y tế, Quốc dân Đảng cố gắng đưa ra đề xuất cải cách lương hưu của riêng họ để đáp trả. Tuy nhiên, do các xung đột nội bộ liên quan đến lợi ích nhóm, Quốc dân Đảng không ra được quyết sách nào về vấn đề này.
Đổi lại, khi Đảng Dân tiến nắm quyền vào năm 2002, họ đã thông qua các luật cải cách về chế độ lương hưu cho người dân như lời hứa.
Sự cạnh tranh của các đảng phái ngày càng giúp nhiều người dân Đài Loan được hưởng lợi ích công bằng từ chế độ phúc lợi xã hội.
Tham nhũng thể chế: Từ trắng sang đen và bị xóa bỏ
Trước thập niên 1990, nhiều hình thức tham nhũng tại Đài Loan được thể chế hóa, hay hoàn toàn hợp pháp mà không ai dám lên tiếng thách thức. Nhiều người còn không nghĩ rằng đó là chuyện xấu cần phải loại bỏ.
Đây cũng là một vấn đề có căn nguyên lịch sử.
Khi chính quyền Quốc dân Đảng bỏ chạy sang Đài Loan, họ là những kẻ mới tới. Để thiết lập được bộ máy cai trị hiệu quả, Quốc dân Đảng cần đến sự hợp tác của các nhóm người có quyền lực tại địa phương (local factions). Một mối quan hệ cộng sinh được thiết lập.
Chính quyền trung ương tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích địa phương thiết lập hoạt động kinh tế độc quyền, cho tiếp cận với nguồn vốn trung ương và giao cho họ các hợp đồng nhà nước béo bở. Các hoạt động làm ăn phi pháp như cờ bạc hay vũ trường cũng được nhắm mắt bỏ qua. Đổi lại là sự ủng hộ tuyệt đối của các băng nhóm địa phương này cho Quốc dân Đảng.
Trong nhiều thập niên, đây là hình thức “tham nhũng trắng” (white corruption), hoàn toàn hợp pháp và không ai dám thách thức sự tồn tại của nó, cho đến khi các đảng phái khác xuất hiện và lên tiếng.
Khảo sát top 10 vấn đề được các đảng lớn nêu ra trong các quảng cáo tranh cử từ năm 1991 đến 2000. Tham nhũng (political corruption) là một trong những vấn đề hàng đầu. Nguồn: Sách “Party Politics in Taiwan”.
Trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên của Quốc hội mới vào năm 1992, Đảng Dân tiến đặt chống tham nhũng là vấn đề trọng tâm, với các khẩu hiệu và chiến dịch quảng cáo trên truyền thông chỉ trích trực diện Quốc dân Đảng đang nắm quyền lúc đó.
Lần đầu tiên các ứng viên giàu có của Quốc dân Đảng bị phe đối lập đặt cho cái tên “bò vàng” (kim ngưu), với cáo buộc họ có nguồn tiền vô hạn, không minh bạch, sẵn sàng chi tiêu xả láng cho việc tranh cử, thậm chí là mua phiếu bầu.
Các “bò vàng” gây ra bất mãn cao trong xã hội, khiến ngay cả nội bộ Quốc dân Đảng cũng lên tiếng phản đối việc đề cử những nhân vật tai tiếng này.
Năm 1993, những người có xu hướng chống tham nhũng trong Quốc dân Đảng liên kết với Đảng Dân tiến cùng thông qua một đạo luật chống tham nhũng, bắt buộc các quan chức cấp cao phải công khai tài sản và nộp vào trong một quỹ quản lý.
Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1995, Đảng Dân tiến tung ra một quảng cáo truyền hình trong đó nhấn mạnh 67,77% số ứng viên của Quốc dân Đảng là những người có quan hệ với các băng nhóm tội phạm hoặc nhóm lợi ích địa phương.
Ngoài ra, tại một cuộc họp báo vào năm 1995, một nhà lập pháp thuộc Đảng Dân tiến công bố số tài sản công mà Quốc dân Đảng tích lũy qua nhiều thập niên cai trị đất nước lên tới 150 tỷ Đài tệ (hơn 5 tỷ USD theo giá trị hiện tại).
Đối diện với các cáo buộc này, Quốc dân Đảng hầu như im lặng.
Tuy vậy, trước sức ép của công luận và phe đối lập, các lãnh đạo của đảng cầm quyền cũng phải lên tiếng.
Bộ trưởng Tư pháp Mã Anh Cửu vào năm 1995 hứa với công luận sẽ “đá bay tệ nạn mua phiếu bầu ra khỏi Đài Loan”.
Năm 1996, tại một Hội nghị phát triển dân tộc, Quốc dân Đảng lần đầu tiên đồng ý sẽ thay đổi các chính sách về tài sản của đảng (theo cáo buộc của phe đối lập là tài sản công), đồng thời cải cách các cuộc bầu cử tham nhũng tại địa phương.
Năm 2000, khi vận động cho cuộc bầu cử tổng thống, ứng cử viên Liên Chiến và cũng là Chủ tịch của Quốc dân Đảng đã hứa sẽ chấm dứt các hoạt động làm ăn kinh doanh của đảng, nộp các tài sản của đảng vào công quỹ và cắt bỏ liên hệ với những ứng viên có dính dáng đến nguồn tiền không minh bạch.
Tại Đài Loan, chống tham nhũng dường như không có vùng cấm. Cả hai cựu tổng thống Lý Đăng Huy (trái) và Trần Thủy Biển đều từng bị truy tố về tội tham nhũng. Ảnh: UDN.
Vấn đề tham nhũng thể chế, hay “tham nhũng trắng”, từ việc được xem là bình thường, sau khi bị dư luận và các đảng phái đối lập nêu ra chỉ trích, đã dần bị đặt lại đúng vị trí “tham nhũng đen”, trở thành mục tiêu mà các chính đảng đều quyết tâm loại bỏ để lấy lòng cử tri.
Danh tính dân tộc: Từ gốc gác Trung Quốc đến căn tính Đài Loan
Trong nhiều thập niên kể từ khi thất trận phải chạy về Đài Loan, chính quyền Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch vẫn luôn nuôi mộng quay về “giải phóng đại lục”.
Họ thiết lập các chính sách kinh tế, giáo dục, văn hóa với mục tiêu một ngày nào đó quay lại phản công quân đội cộng sản. Tiếng phổ thông (Mandarin) là ngôn ngữ duy nhất được sử dụng chính thức. Các tiếng địa phương đều bị cấm. Một căn tính Trung Hoa chung được áp đặt cho toàn bộ người Đài Loan.
Đến khi các đảng phái khác xuất hiện, người dân mới bắt đầu lên tiếng đấu tranh cho một căn tính khác của riêng mình.
Đảng Dân tiến đi đầu trong việc cổ vũ cho một danh tính riêng biệt của người Đài Loan, độc lập hoàn toàn với Trung Quốc đại lục.
Việc có một căn tính khác biệt có liên hệ mật thiết với yêu cầu dân chủ hóa đất nước.
Quốc dân Đảng cho tới cuối thập niên 1980 vẫn từ chối tổ chức bầu cử tự do cho các vị trí trong Quốc dân Đại hội (National Assembly) và Quốc hội (Legislative Yuan). Những thành viên trong các cơ quan này đa số vẫn là những người đã được bầu vào thập niên 1940 tại đại lục, sau đó theo chân Tưởng Giới Thạch chạy sang Đài Loan.
Quốc dân Đảng xem mình là đại diện hợp pháp duy nhất cho toàn bộ đất nước Trung Quốc. Dưới chế độ Quốc dân Đảng, Đài Loan vẫn là một phần của Trung Quốc, nằm trong danh tính chung của toàn bộ đất nước Trung Hoa. Nếu để người Đài Loan bầu ra chính quyền và lãnh đạo mới, các cơ quan này sẽ không còn đại diện được cho “tất cả người dân Trung Quốc”.
Nói cách khác, dưới danh tính (là một phần của) Trung Hoa, người Đài Loan không thể có dân chủ.
Bãi bỏ thứ danh tính cũ này, tạo ra một căn tính độc lập vì vậy là một phần của yêu cầu cải cách dân chủ.
Không chỉ có Đảng Dân tiến, ngay cả Quốc dân Đảng và các đảng phái khác cũng tham gia sôi nổi vào quá trình thảo luận và đề xuất lựa chọn ra một hướng đi riêng cho đất nước.
Người Đài Loan biểu tình với khẩu hiệu “Đài Loan không phải là Trung Quốc, Đài Loan là Đài Loan”. Nguồn: Taiwan News.
Cùng với việc mở rộng cửa đón nhận người bản địa Đài Loan gia nhập đảng, Quốc dân Đảng bắt đầu nói nhiều hơn về một “Đài Loan mới” với những đặc điểm riêng biệt. Họ cũng không còn nhắc lại nhu cầu phải “giải phóng Trung Quốc”. Thậm chí theo thời gian, Quốc dân Đảng tự xây dựng hình ảnh tương đối trung lập trong vấn đề này, chống lại chủ trương “thống nhất sớm” với Trung Quốc của các đảng cực hữu lẫn đường lối “độc lập ngay” của các nhóm cực tả.
Về phần mình, Đảng Dân tiến cũng tự biết điều chỉnh. Khi chủ trương tuyên bố độc lập khiến họ nhận thất bại nặng nề trong các cuộc bầu cử năm 1991 và 1996, các lãnh đạo đảng đã giảm bớt mức độ cực đoan. Họ đưa ra các đường lối phù hợp hơn với số đông, như nhấn mạnh đến nguyên tắc “tự chủ” (self-determination) thay vì giương cao ngọn cờ “độc lập” (independence), vốn bị chỉ trích là có thể gây ra chiến tranh với Trung Quốc.
***
Các cuộc thảo luận công khai của những đảng phái giúp người dân có được nhiều lựa chọn. Và bằng lá phiếu của mình, người dân giúp các chính đảng thay đổi để đến gần nhất với nguyện vọng của cử tri.
Ngay cả khi thắng trong một cuộc bầu cử, đảng phái cũng phải tính đến lá phiếu trong tương lai của người dân để thay đổi. Như trường hợp của Quốc dân Đảng, dù chiến thắng cuộc bầu cử năm 1996, nhưng họ vẫn phải đưa ra cam kết thay đổi để chống tham nhũng như chủ trương của phe đối lập.
Hoặc trường hợp của Đảng Dân tiến, khi nhận ra đường lối độc lập của mình không được lòng cử tri, họ bắt buộc phải đổi tông, đồng thời tìm ra các vấn đề dân sinh khác (như trợ cấp xã hội, chống tham nhũng) để giành được sự ủng hộ của người dân.
Thông qua chế độ cạnh tranh công khai và công bằng, tất cả thành phần trong xã hội đều được lợi.
Mấy tuần trước đây, tôi được xem một bài báo Mỹ nói về những người homeless tại một khu phố Bắc Dallas. Người ta than phiền tại nơi đây nay đang xuất hiện thêm nhiều người vô gia cư hôi hám, ăn mặc lôi thôi lếch thếch, họ la cà vào các cửa hiệu hay ngồi tụm năm tụm ba tại các công viên. Các cửa hiệu, nhà buôn than phiền vì bọn nàyï làm cho khách hàng e ngại sợ sệt khi vào mua đồ. Bài báo khiến tôi nhớ lại trước đây khá lâu, tôi hay suy nghĩ về những người homeless, về những con chim không tổ, những người đã đánh mất mái ấm gia đình, lang thang theo kiếp sống đầu đường xó chợ, những kẻ cùng đường đã từ bỏ cuộc sống định cư để chuyển sang đời du mục… . . Tôi nhớ hồi đầu năm 1981 tại Sài Gòn, khi được thả về từ trại giam, y như trên cung trăng rơi xuống, cái gì cũng thấy khác lạ. Ðiều làm tôi ngạc nhiên là Sài Gòn bây giờ sao quá nhiều người ở lề đường: tha ma nghĩa địa, gầm cầu, vỉa hè, công viên. . . chỗ nào cũng có. Có điều là, trước năm1975 tôi không hề thấy bóng một người vô gia cư nào ở Thủ đô hoa lệ này. Có hôm tôi thấy một gia đình ba bốn người, vợ chồng con cái quây quần bên nồi cơm nóng trên manh chiếu tại một vỉa hè đường Võ Tánh, có lần thấy một bà mẹ đang nấu cơm bên chiếc ghế đá công viên, để đứa con độ một tuổi nằm tênh hênh trên chiếu. Tôi được biết họ đa số là những người đi kinh tế mới trốn về, chẳng thà sống ở tha ma, gầm cầu còn hơn tại những nơi sơn lam, chướng khí. Tôi cũng nghe nói trong số ấy nhiều người trước kia là dân sang, có nhà mặt đường, đi vượt biên bị lấy nhà, nay phải kéo lê cái thân tàn ma dại trong cảnh màn trời chiếu đất. Hồi mới vào trại cải tạo được một năm, chúng tôi đọc báo thấy nhân dân nô nức lên xe đò đi xây dựng vùng kinh tế mới. Nhà nước thi hành chính sách dãn dân, hồi ấy nhiều người sợ quá bán tống táng đồ đạc, nhà cửa để hưởng ứng chính sách rồi đi cho nhanh. Họ được đưa lên những vùng đồi núi, đất đai khô cằn như sỏi đá, cầy cuốc bao năm cũng chỉ được vài bao khoai sắn, họ ăn vào vốn, dần dần cho đến khi kiệt quệ, bèn đánh liều trốn về thành phố. Kẻ chiến bại phải chấp nhận cái thân phận của mình, họ đã bị đẩy xuống tận cùng đáy xã hội. Tự cổ chí kim bao giờ cũng thế, kẻ chiến thắng lấy đi tất cả: nhà lầu, biệt thự, xe ngựa xênh xang. Tôi nhìn đám vô gia cư này bằng chút ái ngại nhưng không thấy xúc động xót thương gì nhiều cho lắm vì tôi phải thương cho chính cái thân tôi như trăm nghìn người khác, cuộc đời tôi cũng chỉ là một vở kịch bi đát não nùng. Anh hùng mạt lộ, giang san tiêu điều… Ở tù về, ông thì chẳng ra ông, thằng cũng chẳng ra thằng, đi làm không ai mướn, trong đầu lúc nào cũng vấn vương cái mối lo ghê gớm “không biết nó sẽ bắt lại lúc nào”, và nhất là hình ảnh của những hàng rào kẽm gai đêm đêm lại hiện lên trong trí y như cơn ác mộng… cái giá mà kẻ bại trận phải trả. Họ ở lề đường, màn trời chiếu đất nhưng lại không phải đeo cái mối lo ghê gớm như tôi. Tôi có cảm tưởng như xã hội lúc bấy giờ hoàn toàn không còn có tình thương, con người chỉ thương cho chính cái bản thân của mình. Họ lo sợ, chán chường, đâu đâu cũng chỉ nghe thấy toàn là những tiếng thở dài. Không ai làm gì hơn được. Khoảng hơn một năm sau, vì số người vượt biên chết chìm ngoài biển đầy cả ra, Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức nhân đạo khác đã thực hiện được chương trình ra đi trong trật tự. Tôi vội vã nộp đơn ngay, nhưng diện anh em ưu tiên thấp lắm, nó chỉ cho mình một chút hy vọng mong manh, nhưng có cũng còn hơn không. Tôi theo dõi hồ sơ hết tháng này sang tháng khác, năm nọ đến năm kia, chừng mấy năm sau tôi làm đơn khiếu nại được biết hồ sơ đã nằm ở phố Hàng Bài Hà Nội. Thế rồi một buổi chiều… thật y như một phép lạ, khi sắp bước sang thập niên 90, tôi nhận được giấy của Sở Ngoại Vụ mời đi sơ vấn, phỏng vấn. Khi ấy mới biết là hai bên đã thỏa thuận thực hiện chương trình ra đi chính thức dành cho người cải tạo và những người có thân nhân bảo lãnh được ưu tiên đi trước. Thế là tôi được đi ngay trong đợt đầu, toàn bộ danh sách kỳ này vào khoảng trên 3000 người. Hầu hết những người có tên trong danh sách này có thân nhân bảo lãnh, họ đã nộp đơn xin đoàn tụ trước đây, chỉ có một số rất ít không có thân nhân tại Mỹ. Khi chuẩn bị ra đi, một ông cải tạo không có thân nhân đến nhà chơi bảo tôi: -Tôi chắc là được cấp nhà, vì tôi không có thân nhân, tôi biết ở đâu? Anh có thân nhân, anh ở nhà người thân. Ông ấy lý luận dài dòng văn tự, tôi lấy làm lạ hồi xưa ông ấy đã là sĩ quan cao cấp mà sao có thể dễ tin như thế. Những tin đồn về việc cấp nhà đã loan truyền từ lâu, nhiều người lạc quan tin tưởng nhưng cũng có nhiều người đả phá kịch liệt những tin vịt cồ. Có người nói: -Mấy ông này được voi đòi tiên, đã không mất đồng xu nào, được đi cả gia đình, ngồi máy bay đánh vù một cái ngon lành, người ta đi vượt biên mất bao nhiêu tiền, chết chìm chết bắn cả đám mà còn chưa tới nơi được. Ðược đi máy bay sướng như tiên mà còn đòi cấp nhà nữa! Ối giời đất ơi! Khi sang Bangkok Thái Lan, trong những ngày tạm cư chờ vào Mỹ, sở USCC và sở di trú đã cho các cô nhân viên người Việt hướng dẫn chúng tôi những điều cần biết khi vào Mỹ, có một ông cải tạo hỏi về việc cấp nhà, ông nghe nói diện cải tạo được cấp nhà, cô nhân viên đáp: -Thưa Bác, chắc là không có đâu, vì cái nhà nó to tát lắm. Vợ chồng cháu qua Mỹ đã lâu vẫn chưa mua được nhà! Chắc không có đâu bác ạ! Tôi vào Mỹ đúng vào ngày mùng bốn Tết Nguyên Ðán, đầu thập niên 90. Hôm sau tôi hỏi người nhà: -Nghe mấy ông cải tạo ở Việt Nam cứ đồn sang đây có một số được cấp nhà… Tôi chưa nói dứt câu thì thân nhân tôi gạt đi ngay: -Ối giời ơi! Mỹ mà còn ở lề đường đầy cả ra, bữa nào đưa ông lên Dallas xem, trắng có, đen có. . . Nhà ở đâu mà cấp cho các ông? Rồi người nhà tôi kể dông dài thêm: -Vào những ngày lễ lớn, nhà thờ làm đồ ăn cho người nghèo, dân vô gia cư, ở đây gọi là homeless xếp hàng chờ dài dài, trắng có đen có nhưng không thấy có người mình. Tôi lấy làm lạ: một đất nước giàu có sung túc nhất thế gian, đã tiêu thụ một phần ba nhiên liệu trên thế giới, một nước đã có số xe hơi bằng số xe của tất cả các nước trên thế giới cộng lại. . . thế mà vẫn còn có người ở đầu đường xó chợ, thế mới biết trên thế gian này, ở bất cứ xã hội nào đâu đâu cũng có những kẻ cùng đinh khố rách. Tôi bèn viết thư về cho bạn bè ở Việt Nam để nói cho họ biết rằng Mỹ trắng, Mỹ đen còn ở lề đường đầy cả ra, con ruột người ta mà họ chưa lo được huống hồ chúng mình. Có người viết thư sang cám ơn đã cho họ biết những điều kỳ thú, họ nói chưa thấy ai nói đến cái thế giới của những người cùng đinh khố rách ấy. Hồi ấy, tôi hay tò mò tìm hiểu về những người homeless. Tôi lấy làm lạ, ở cái xứ thời tiết khắc nghiệt như thế này mà sao họ có thể sống ngoài đường. Tình cờ, tôi đọc được một bài trong tờ tập san Mỹ cho biết, họ ước lượng có vào khoảng từ 1 cho tới 3 triệu người vô gia cư, đa số tập trung tại những thành phố lớn, riêng tại Nữu Ước có tới gần một trăm ngàn ăn mày homeless. Phần nhiều họ bị mất việc, hết tiền, khánh tận, cũng có nhiều người lười biếng không chịu đi làm. Họ có phỏng vấn một ông homeless, ông ta nói mới đầu ông chỉ tưởng ở lề đường vài tháng thế mà thời gian cứ vô tình lững lờ trôi đến nay đã được ba năm. Cũng có giả thuyết nói họ là những người có tiền án hình sự trộm cướp, nay đi làm không ai mướn, ở đây người ta kỵ nhất tội phạm, một xã hội trông rất là đầy tình người nhưng kỷ luật lại cứng rắn như sắt thép. Tôi nghĩ nếu như vậy lại càng đẩy người ta vào chỗ cùng đường, kẻ đã cùng đường lại dễ sa chân phạm tội. Họ được nhà thờ, hội từ thiện cho quần áo, thỉnh thoảng cho ăn, vào những đêm đông giá lạnh họ được vào nhà trú shelter của tòa tỉnh, bần hàn nhưng được cái tự do, mặc kệ cho cuộc đời trôi theo dòng nước. Họ cũng có thể là những người mang tâm hồn thi sĩ, triết gia, nhìn cuộc đời phù du mong manh như cơn gió thoảng: Cuộc đời là cái quán trọ, người chỉ là khách qua đường, nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ… Khoảng gần một năm sau, lần đầu tiên tôi thấy một người homeless tại một ngã tư có nhiều xe qua lại, đó là một cô Mỹ trắng, trông có vẻ cũng đàng hoàng, ăn mặc tươm tất, tay cầm cái bảng “hungry, need help”, tôi đói, giúp tôi với. Rồi một thời gian sau, tôi gặp một đôi vợ chồng Mỹ trắng tại cửa thư viện, trông họ cũng đàng hoàng, người vợ chạy lại xin tôi bảo: “I’m so hungry! Tôi đói quá!” Người Mỹ ít khi cho tiền người nghèo hay homeless, chắc họ cho là bọn này lười biếng. Tôi thì không bao giờ từ chối, gặp họ xin tôi đều cho vì nghĩ rằng cực chẳng đã chứ ai muốn làm cái nghề bị xúc phạm nặng nề đến nhân phẩm như thế, vả lại họ cũng phải cần sống, cần được giúp đỡ. Mỗi lần cho tiền, đều được nghe họ cầu chúc God bless you, cầu Chúa ban ơn phước cho ông, họ còn biết tin Thượng Ðế, chắc là những người tốt còn có lương tâm. Tôi ngày càng được biết nhiều hơn về cái thế giới của những người homeless. Có lần theo dõi chương trình trên TV được biết những chuyện thật ghê rợn của kiếp sống du mục này. Hôm ấy họ nói về những người sống dưới đường hầm xe điện ngầm và đặt tên cho bọn này là mole, chuột cống, vì sống y như chuột. Họ phỏng vấn một một người mole đã sống ở đường hầm bẩy năm, anh ta nói nhiều người tối ngủ say lăn ra đường rầy bị xe điện cán chết. Cách đây khoảng bốn, năm năm lần đầu tiên tôi thấy cuộc đời của một người homeless được đưa lên trang nhất của một tờ báo Mỹ tại địa phương, hôm ấy tôi vào chợ thực phẩm Mỹ mua đồ ăn và tự nhiên chú ý đến bài báo. Ðây là một vụ án mạng tại tỉnh Grand Prairie ở gần đây, nạn nhân là một người đàn bà da trắng, 38 tuổi, homeless, gái mãi dâm bị đâm chết tại một nhà kho bỏ hoang gần đường Abram. Nạn nhân từ nhiều năm nay sống vất vưởng trong khu vực này. Một cái chết thê thảm của một người đàn bà đầu đường xó chợ, nghiện ngập, được coi như cặn bã xã hội, nhưng kẻ nạn nhân khốn cùng ấy vẫn còn may mắn hơn hàng trăm nghìn nạn nhân khác ở cái xứ nghèo đói lạc hậu bên nước tôi vì bà ta còn được nhắc tới trong khi hàng nghìn người khác cũng đã chết thê thảm như thế mà không được ai biết tới. Người ta đăng cả hình ảnh của nạn nhân, khuôn mặt đầy phong sương nhưng vẫn còn giữ được những dáng nét của một dân tộc văn minh. Ðôi mắt trông mất hết vẻ tinh anh, đôi mắt người đà bà đau khổ thật chẳng khác nào một vùng đất khô cằn như sỏi đá. Mái tóc hung vàng chờm xuống trán, gò má cao, thoáng trông người ta cũng thấy được bao nhiêu năm tháng ê chề chồng chất. Ðây là một bài báo dài, người ký giả kể lể khá đầy đủ về lai lịch kẻ xấu số. Vì có lẽ đây là một vụ án mạng và nhất là cuộc đời thật bi thảm của một con người tại một xứ sở văn minh sung túc, cũng có thể họ coi đó là một trường hợp hy hữu. Một bài viết rất khách quan nhưng không kém phần ý nghĩa về cuộc sống xã hội và định mệnh con người. Ông ký giả biết được cả tên tuổi, lý lịch nạn nhân: Nàng sinh ra trong một gia đình Mỹ trắng có cha mẹ đàng hoàng, được đi học, rồi trưởng thành, có công ăn việc làm, có bạn trai… rồi một mối tình chớm nở, nàng có chồng, hai con. Người ký giả nói đó là điều lý tưởng của nhiều người Mỹ. Rồi không hiểu vì sao gia đình đổ vỡ, chuyện này tại Mỹ xảy ra như cơm bữa vậy. Chồng đem hai con đi một nơi, vợ một nẻo, một hai năm sau bị đuổi ra khỏi nhà, không rõ lý do, tôi chắc bà ta mất job không có tiền trả tiền nhà. Ở cái xứ tiền trao cháo múc này, không có tiền là a lê hấp đi chỗ khác chơi! không như bên mình thuê nhà rồi chiếm nhà luôn. Người đàn bà lang thang ngoài hè phố, có lẽ nàng tưởng rằng chỉ sống bên lề đường vài tháng và một ngày nào sẽ tạo dựng lại được mái ấm gia đình, có lẽ nàng cũng nghĩ rằng mình sẽ được hưởng hạnh phúc của đời người. Nhưng đến một lúc nào con người sẽ không còn khả năng để lái cuộc đời theo ý mình và đành buông xuôi cho định mệnh, có dè đâu nạn nhân ngày càng kéo dài cuộc đời vô gia cư, lâm vào cảnh nghiện hút, rồi mãi dâm, ăn mày để kiếm sống, và ngày càng lún sâu trong vũng bùn lầy nhơ bẩn, và cứ mặc cho đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt… …Nạn nhân hay lui tới trong mấy con đường ở phía tây thành phố từ bao lâu nay và rồi bị đâm chết tại một nhà kho, hai nhát ở cổ, một nhát ở lưng, chắc cũng lại do phường cặn bã xã hội gây nên và có lẽ người ta cũng chẳng cần điều tra cái chết của những người cùng đinh vô tích sự. Bà ta cũng đã từng có một mái ấm gia đình, có hạnh phúc lứa đôi nhưng . . . ngày ấy đã xa lắm rồi, cái thời ấy nay còn đâu? Nghe nói trước đó mấy năm nạn nhân có gặp một bà cô, bà thím gì đấy, còn chồng con thì biệt tăm biệt tích. Tôi thường nghe nói điện ảnh Mỹ hết đề tài, họ quay lại những đề tài cũ, đây cũng là một đề tài hiếm có thuộc loại drama bi thảm hiện thực, nhưng điện ảnh Mỹ lại không chú ý đến những đề tài hiện thực xã hội như điện ảnh Ý mà chỉ quay những phim hoạt động “action” như trinh thám, bắn giết. Người đàn bà đã một thời là con người tốt của xã hội, có gia đình hạnh phúc, nay chết thê thảm, tứ cố vô thân, trên không rễ dưới không chằng. .. . Và rồi người ký giả lạnh lùng kết luận: BURNED BEYOND RECOGNIZATION
Hỏa thiêu vô thừa nhận…
Quá Khứ Dù Tốt Cũng Đã Qua, Tương Lai Có Gian Nan Vẫn Phải Tiến Tới
Thời gian đã trôi qua thì không thể nào níu giữ được. Chuyện vui buồn ngày hôm này, ngày mai sẽ trở thành quá khứ. Đừng đắn đo, đừng tiếc nuối, hãy trân quý hiện tại, sẵn sàng đối mặt với tương lai.
Không ai có thể làm bạn phiền muộn, trừ khi bạn lấy lời nói và hành động của người khác rồi tự làm mình buồn. Trên đời này không có gì không thể bỏ, trừ khi bạn không muốn buông bỏ mà thôi!
Thời gian sẽ trôi đi theo tâm trạng, cuộc sống cần một chút bản lĩnh để đương đầu. Gặp chuyện thì không loạn, chuyện lớn không lo sợ, chuyện nhỏ không chần chừ.
Thăng trầm, ngọt bùi cay đắng của cuộc đời, đều ở tại tâm. Tâm thái tốt, vực sâu núi thẳm nào cũng có thể qua. Làm việc với tâm trạng thỏa mái, dù có khó khăn đến mấy cũng sẽ hoàn thành.
Sinh mệnh, dù ngắn hay dài, mỗi người chỉ có một lần. Cuộc sống, dẫu buồn hay vui, mọi người vẫn đang tiếp tục. Đường đời, lúc lên lúc xuống, nhưng ai cũng phải bước đi trên cuộc hành trình đầy gian nan này.
Gặp tiểu nhân, không cần thiết phải so đo, so đo sẽ phiền não. Gặp rắc rối, chẳng cần quá để ý lưu tâm, bởi quá lưu tâm sẽ càng thêm mệt mỏi.
Thế gian rộng lớn, lòng người phức tạp, không thể tránh gặp tiểu nhân. Cõi trần thâm hiểm, nhân thế phù hoa, làm sao mới có thể không phiền não?
Đơn giản hóa một chút, xem nhẹ một chút. Chịu oan khuất, trẫm tĩnh im lặng, bị hiểu lầm mỉm cười bỏ qua.
Không có ánh mặt trời, thì nghe gió thổi, nhìn mưa rơi. Không có hoa tươi, thì ngửi hương thơm của cỏ cây, bùn đất. Không có tiếng vỗ tay, thì hưởng thụ sự thanh tĩnh yên bình. Giữ được tâm trạng tốt, bước đi sẽ vững vàng.
Trân quý niềm hạnh phúc hiện tại, hưởng thụ những khoảnh khắc đẹp nhất này. Thời gian luôn xoay chuyển, tuổi đời sẽ qua đi, đừng phàn nàn, than khổ; đừng ưu tư, chùn bước.
Đối mặt với chính mình, tấm lòng rộng mở, tha thứ lỗi lầm, sống thật thản nhiên. Tu thành người độ lượng, tích được cả một đời hạnh phúc!
Nói thì dễ… nhựng liệu có thực hành được & nếu thực hành được đó là điều đáng qúy…
Ở Mỹ cũng như ở các nước pháp trị khác nếu nhân viên chấp pháp tiến hành điều tra sai trình tự luật pháp thì luật sư của bị cáo có thể kiện ra tòa và cho dù có bằng chứng thực sự thì bị cáo vẫn được tuyên vô tội và được phóng thích.
Do quy định nghiêm ngặt như thế nên các nhân viên chấp pháp phải hết sức tuân thủ tiến trình này nếu không muốn bị cáo thoát tội. Và các luật sư bị cáo đêm về ngồi vắt óc suy nghĩ xem bên cảnh sát, công tố có làm sai bước nào hay không.
Thế nhưng với nền tư pháp Việt Nam thì lại có chuyện “Kỷ luật công an sai. Nhưng không thay đổi bản chất vụ án”.
Đây là lập luận của xứ luật rừng. Khi ba ngành hành pháp, lập pháp, tư pháp ở chung một nhà.
Trong tiến trình điều tra nếu công an ngụy tạo chứng cớ thì đó không còn là chứng cớ, nếu xác định sự ngoại phạm về thời gian của bị cáo sai thì bị cáo không thể có mặt tại hiện trường vào thời điểm gây án. Và như thế nghi phạm không thể là thủ phạm. Còn thủ phạm thật sự là ai thì phải tiến hành điều tra lại từ đầu.
Không thể vì không tìm ra thủ phạm thực sự mà có quyền dùng kẻ chết thế.
Tuy nhiên đây là cái giá phải trả của người dân Việt Nam.
Khi họ không xuống đường bất tuân dân sự để tạo ra đối lập, tam quyền phân lập ,tư pháp độc lập thì họ sẽ bị xem là những kẻ chết thế cho con cái của những kẻ có quyền có chức.
Trong chiến tranh họ sẽ là những con tốt bị nướng đầu tiên, con cái quan chức sẽ đi du học chờ ngày về tiếp quản quyền lực sau khi chốt đã nướng xong.
Trong hòa bình, nếu có một vụ án mạng do con quan là thủ phạm, họ sẽ hình nhân thế mạng để dẹp yên dư luận.
Hôm nay là Hồ Duy Hải ngày mai sẽ đến lượt bạn. Nếu đời bạn có tránh được thì chưa chắc đời con, đời cháu bạn có thể tránh được.
Không biết tôi gọi được tiếng mẹ từ bao giờ, nhưng nghe mẹ tôi kể lại từ khi bi bô tập nói, tiếng ba là tiếng gọi đầu tiên của tôi. Tôi gọi tiếng ba rất sớm, ai gọi, nói gì tôi cũng chỉ biết “ba ! ba !”, nhưng khi lớn lên người mà anh em tôi quấn quýt nhiều nhất không phải là ba, mà là mẹ tôi.
Mẹ là lá chắn bảo vệ, che chở cho con.
Thuở ấy gia đình chúng tôi nghèo lắm, sống ở vùng ven của thành phố, không có điện, nước sinh hoạt; Thế là nghề gánh nước mướn ra đời. Mẹ tôi tham gia vào đội quân đó, có lẽ do không ràng buộc nhiều về thời gian, để có thì giờ chăm sóc anh em chúng tôi và lo toan việc gia đình.
Sáng nào cũng vậy! Mẹ tôi dẫn bốn anh em chúng tôi ra gánh hàng ăn sáng, tôi và anh tôi tự ăn, bà phải đút từng muỗng cho hai đứa em gái của tôi, ăn xong bốn anh em tôi dắt nhau về nhà, lúc ấy bà mới bắt đầu gánh nước cho những người hàng xóm. Nhưng một hôm chúng tôi đang ăn, một tiếng nỗ lớn rung chuyển mặt đất, bà hốt hoảng ôm bốn anh em tôi vào lòng, như che chở, bảo vệ. Bỏ cả gánh nước, hai tay bà ẳm hai đứa em gái của tôi, miệng thét gọi hai anh em tôi chạy theo mẹ, đến hiên một căn nhà tương bên cạnh. Mẹ ngồi phía ngoài che chắn chúng tôi. Cả ngày hôm ấy, bà không rời chúng tôi nửa bước. Sau này tôi mới biết, ngày hôm đó là ngày đảo chính chính quyền Ngô Đình Diệm.
Lần đó, tôi nô đùa với lũ trẻ hàng xóm té gãy tay trái, tôi vừa về tới nhà, thấy con gãy tay, bà hốt hoảng hỏi lớn:
-Ai làm con gãy tay?
Trong ánh mắt của mẹ, tôi nghĩ xấu số cho ai dám đụng đến con cưng của bà! Với số tiền ít ỏi mẹ tôi không dám đi xe, bà cõng tôi đi bó bột. Về tới nhà đau nhức lắm, tôi khóc rất nhiều, không ngủ được, bà phải ôm tôi suốt đêm, trong vòng tay của mẹ, tôi thiếp đi không biết từ lúc nào .
Mẹ lao động cần cù vì các con.
Ba tôi làm không đủ để nuôi sống một gia đình có sáu miệng ăn. Vì thế mẹ tôi phải làm đủ mọi việc nặng nhọc lo cho cuộc sống gia đình. Bà gánh nước mướn, gánh đất sang lấp nền nhà, phụ hồ, nhặt phế liệu trong bãi rác . . .
Ai thuê gì cũng làm. Ấy thế! Mà bà chuẩn bị ngày tựu trường cho chúng tôi rất sớm, rất chu đáo; Bà dẫn bốn anh em tôi mua sắm quần áo, giầy dép, tập, bút viết . . . Chúng tôi tung tăng, rỉu rít theo mẹ như đàn gà con, hết sạp này đến sạp khác. Đặc biệt áo quần, bà kĩ lưỡng, tỉ mỉ từng đường kim, mũi chỉ. Về nhà thỉnh thoảng bà mang ra bắt anh em chúng tôi mặc thử, rồi đi qua đi lại cho bà ngắm nghía, sửa lai chỗ nay, chỗ khác vì bà rất chú tâm đến sự hoàn hảo của món đồ mình đã chọn. Có lẽ mẹ tôi đã phải dành dụm khoãn tiền này lâu lắm!
Lao động cật lực, làm cho mẹ tôi già trước tuổi. Chỉ hơn 30 mà trông bà già lắm. Bà quên đi tuổi thanh xuân của mình vì các con. Cả xóm đông thế !Mà có mấy gia đình cho con ăn học như gia đình tôi. Anh em tôi tự hao vì có mẹ !
Mẹ tận tụy, hi sinh, chịu thương, chịu khó vì chồng con.
Trong các nghề, có lẽ gánh nước mướn là việc làm thường xuyên nhất của mẹ. Gánh được dăm ba đôi nước là bà lại ghé vào nhà chăm sóc anh em tôi, bắt nồi cơm, làm con cá, lặt một mớ rau xanh . . . Vì thế mà bữa ăn của gia đình tuy đạm bạc nhưng cũng khá tươm tất. Thỉnh thoảng ghé nhà nghỉ mệt, bà nựng nịu, ôm hôn từng đứa. Chúng tôi bá cổ mẹ, cười ngắt nghẻo; Bao nhiêu nỗi nhọc nhằn và vất vả của mẹ đều vơi đi ít nhiều, bởi tình thương yêu đã chấp thêm cho mẹ đôi cánh. Buông chúng tôi ra, bà tiếp tục công việc gánh nước mướn của mình.
Vừa gánh nước mướn, vừa lo buổi cơm cho gia đình, dọn dẹp nhà cửa, mẹ tôi thường không gánh đủ số nước cho từng nhà được và công việc này bà phải tiếp tục vào đầu buổi chiều, sau khi bắt chúng tôi lên giường ngủ trưa. Lúc xong việc, bà phải loay hoay với một thau quần áo dơ không sao kể xiết, cao ngùn ngụt. Thế là, chúng tôi có dịp nghịch xà bông thỏa thích bên mẹ. Buổi tối bên chiếc đèn dầu leo lét mẹ tôi cặm cụi khâu từng chiếc áo, chiếc quần, đơm từng chiếc nút. Tôi thầm nghĩ sao mẹ lại tận tụy, hi sinh, chịu thương, chịu khó đến thế. Mẹ ơi!
Tình thương của mẹ là chổ dựa, giáo dục các con.
Cái vùng ven đô nghèo khó của chúng tôi lúc nào cũng tiếp nhận người cùng hoàn cảnh, cùng số phận trôi dạt từ tỉnh lên thành thị kiếm sống. Lần đó, mẹ tôi giúp dì Ba, người mới chuyển đến, ở cạnh nhà tôi như cho mượn gánh nước, tập vào nghề, nhường mối nước quen, nhờ ba tôi tìm việc làm cho chồng ổn định cuộc sống . . . nhất là việc học của mấy đứa nhỏ. Từ đó, dì Ba xem mẹ tôi như một ân nhân!
Những cơn mưa đầu mùa, cũng là lúc bọn trẻ chúng tôi chuyển sang “Mùa đá dế”.Tôi và anh tôi trốn mẹ vào ruộng bắt dế, đựng đầy cả thùng thiếc, bắt chúng đá với nhau để xếp hạng từ hạng nhất đến hạng mười. Tôi kiêu hảnh với những chú dế chiến của mình. Lần đó, tôi mang dế chiến ra đá với dế của lũ trẻ hàng xóm, nhưng lần lượt dế chiến hạng tư, hạng ba, hạng nhì, hạng nhất của tôi đều thua cuộc. Tôi nỗi cáu, chụp chú dế tội nghiệp ngắt đầu, ném mạnh xuống sàn nhà, thân dế rung bần bật, hai chân sau duỗi thẳng và bất động. Chứng kiến cảnh đó mẹ tôi “đét” tôi mấy cái vào mông, ném mấy hộp đựng dế ra đường và trách mắng tôi là không có nhân tính,”ác nhân, sát đức”. Khi ấy, tôi điếng người, bàng hoàng, loáng thoáng chỉ nhận ra mình sai nhưng không sao lí giải nỗi. Mãi sau này tôi mới hiểu tình cảm của mẹ có cả tình yêu loài vật nửa. Và tôi nhận ra chính đạo đức của mẹ đã tạo dựng nên tình yêu thương chúng tôi hôm nay.
Mẹ chăm chút gìn giữ hạnh phúc gia đình.
Như bao gia đình Việt Nam khác, gia đình tôi hạnh phúc nhất là buổi cơm chiều, lúc ấy gia đình tôi quây quần bên mâm cơm đạm bạc, sao mà ngon lạ! Không hiểu vì sao, hể ba tôi gấp mon nào là chúng tôi tranh nhau ăn món đó đến hết sạch! Nên mẹ thường nhắc khéo ba:”Món này ngon lắm ! Ông ăn thử đi, cho tụi nhỏ nó ăn”.Trong bữa ăn, chưa bao giờ chúng tôi bị mẹ mắng vì tranh ăn, đỗ tháo, cải nhau . . . chỉ được nhắc khéo “cẩn thận” , “đừng giành” . . . “để mai mẹ nấu nữa”. Chúng tôi hạnh phúc vì có mẹ.
Ngày ấy, khu vực nhà tôi chưa có điện, nhà nào cũng ngủ sớm. Bà nằm giữa, chúng tôi gối đầu lên tay mẹ, nghe mẹ kể chuyện cổ tích. Chuyện mẹ kể không nhiều, được kể đi, kể lại nhiều lần, nhưng chúng tôi vẫn háu hưc nghe mà thiếp đi lúc nào không hay.
Bây giờ mỗi lần về thăm mẹ, bàn tay bà vuốt nhẹ lên vai tôi, sửa lại cổ áo, rót cho tôi li nước, tôi vẫn còn cái cảm giác bé bỏng trong vòng tay chăm sóc, bảo vệ của mẹ ngày nào. Nhìn mẹ, tôi không thể nào quên được hình ảnh của bà ngày xưa, mẹ tôi mặc chiếc áo bà ba, hai tay tì hai đầu gánh nặng trĩu, hai thùng nước đầy quằng vai là sát đất. Dáng mẹ tôi nhanh nhẹn, uyển chuyển, thanh thoát, bước đi nhịp nhàng. Đòn gánh và cặp móc sắt cọ nhau rít lên nghe kẻo kẹt. Tôi lặng người hạnh phúc quá, nhớ “Dáng mẹ yêu !” của tôi.
Đi khắp thế gian không ai tốt bằng Mẹ, Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng Cha. Nước biển mêng mông không đong đầy tình Mẹ, Mây trời lồng lộng không phủ kín tình Cha. Tần tảo sớm hôm Mẹ nuôi con khôn lớn, Mang cả tấm thân gầy Cha che chở đời con. Ai còn Mẹ xin đừng làm Mẹ khóc, Đừng để buồn lên mắt Mẹ nghe không!