Saigon xưa là Hòn Ngọc Viễn Đông! có đúng sự thật hay là nổ?

Một bạn miền Bắc đặt câu hỏi trên diễn đàn Qui Nhơn: “Nghe nói Saigon xưa là Hòn Ngọc Viễn Đông! có đúng sự thật hay là nổ?” Xin trả lời vắn tắt bằng sự kiện thực tế:

Vài điều cần chia xẻ với các bạn trẻ, hoặc các bạn ở “phía bên kia thế giới tự do”, về Việt Nam Cộng Hòa: Trước 1975, tôi là Giám đốc Công ty Xuất cảng Nấm Tây đóng hộp NAM HẢI KỸ NGHỆ CÔNG TY, cơ xưởng tại Suối Lồ Ồ, Dĩ An. Hồi đó, tôi đã mướn 1 kỹ sư Nam Hàn, và 7 chuyên viên người Nam Hàn làm việc cho tôi, chỉ chuyên trồng nấm Tây mà thôi. Nam Hàn thời bấy giờ còn lạc hậu hơn Việt Nam nhiều, nên người Đại Hàn phải sang Việt Nam tìm việc làm. Tư cách họ rất ồn ào, kém văn minh, hay đánh lộn. Những người làm việc cho tôi trong cơ xưởng trồng Nấm, cứ cãi nhau là gầm lên, xắn tay áo xông vào nhau, đánh nhau gẫy răng. Lý do tôi mướn người Nam Hàn là vì người Việt mình không có ai biết trồng Nấm Tây (French Mushroom) theo kiểu kỹ nghệ lớn, mà chỉ biết trồng Nấm Rơm, Nấm Đông cô, nấm Mèo là những thứ trồng theo thủ công, tiểu công nghệ, trồng ngoài vườn. Nấm Tây phải trồng trong nhà kín, có 12 cái máy lạnh, hai lớp tường, hai lớp mái, trồng trên giường sắt 3 tầng, rất công phu, ra vào phải mặc quần áo riêng, giầy dép riêng, mang găng tay. Cơ xưởng của tôi có 7 căn nhà dài 45 mét, ngang 7 mét. Mấy người Đại Hàn chỉ giỏi trồng nấm chứ không biêt gì khác. Về Thái Lan, lúc đó, cũng nghèo nàn, mê tín, không có kỹ nghệ lớn, trong khi miền Nam đã biết đóng xe hơi (La Dalat), nhiều cơ xưởng khổng lồ, chế xe đạp, chế xe gắn máy (Puch), xi măng. Tại Saigon, có Khu Kỹ Nghệ Tân Thuận gồm toàn cơ xưởng lớn, do ngoại quốc làm chủ, nhưng phải theo luật Việt Nam về chính trị, tài chánh, xã hội, nếu vi phạm thì bị xử ngay (không như đặc khu Tầu phù hiện tại, dân Tầu làm chủ cả chính trị, tài chánh luôn, nhà nước Việt Nam hiện tại không dám đung tới.) Về phía Nam, thì Cam bốt (Campuchea) lúc đó cũng khốn khó, và thù người Việt nên thỉnh thoảng “cáp duồn” (chặt đầu người Việt thả trôi sông). Nhưng chính phủ Cam Bốt thì lệ thuộc vào viện trợ của Việt Nam. Nước Lào còn tệ hơn nữa. Nhiều chuyên viên Lào, Cam Bốt, Thái Lan phải sang Việt Nam du học. Singapore thời gian đó cũng không có gì xuất sắc. Indonesia, Miến điện thì cũng thế. Nói chung, Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 là CON RỒNG LỚN NHẤT CHÂU Á. Việt Nam có nền tài chánh vững mạnh, đồng tiền Việt Nam hồi đó giá trị, 1 đô la Mỹ chỉ có 500 đồng VN là tối đa, đôi khi tụt xuống còn 300 đồng VN ăn 1 đô la Mỹ (hiện tại là khoảng 20,000 đồng Việt Nam bằng 1 đô la Mỹ.) Quân đội miền Nam, đứng một mình vẫn mạnh nhất Á châu Các Sĩ Quan Hải, Lục, Không Quân được huấn luyện tại các trường Quân Sự lớn và có thể sang Hoa Kỳ, Úc, Pháp tu nghiệp, nhưng hệ thống chỉ huy không lệ thuộc Hoa Kỳ (Trong khi Quân đội miền Bắc là đệ tử của Trung Cộng, Nga Sô, và các nước Cộng sản khác. Cố Vấn Tầu hồi đó, được phục vụ theo chế độ Đặc Táo, ăn sang hơn bộ đội cụ Hồ gấp trăm lần.) Về Văn Hóa: Văn chương miền Nam Tự do nên phong phú về mọi mặt. Giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế. Về xã hội, có chế độ đặc biệt cho người bất toại, và thương phế binh. Dân chúng được sở hữu đất đai, ruộng cầy, (hiện tại, thì không có người dân nào được sở hữu đất đai, chỉ sở hữu cái phần xây cất bên trên, nên nhà nước có quyền lấy bất cứ lức nào theo chương trình “cưỡng chế”) Nói chung, Saigon ngày xưa đúng là HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG! Vì thế Dương Thu Hương khi vào đến Saigon là ngồi khóc vì thấy rằng cả miền Bắc đã bị lừa dối khi cho rằng miền Nam bị kềm kẹp, đói khổ.

(Trên đây chỉ là sơ lược, nhất thời. Sẽ viết nhiều hơn với tài liệu đầy đủ.)

CHIẾC VALI HÀNH LÝ CUỐI ĐỜI

May be an image of text that says '"Hãy chăm sóc tốt thể xác nếu bạn muốn sống lâu, hãy chăm Soc tốt linh hồn, vì cô the bạn se chết vào ngày mai. -Thánh Augustino-'

 

CHIẾC VALI HÀNH LÝ CUỐI ĐỜI

Một người kia biết mình sắp từ giã cõi thế, ông mơ thấy Chúa đến gần, trong tay Ngài cầm một chiếc vali.

Chúa bảo: “Nầy con, đã đến lúc đi theo Ta rồi”. Ngạc nhiên, người ấy trả lời: “Bây giờ sao ? Mau quá vậy ? Con có bao nhiêu là dự định…” – “Rất tiếc nhưng đã đến giờ đi rồi”.

Người ấy hỏi: “Ngài có gì trong chiếc vali kia vậy ?” Chúa trả lời: “Tất cả những gì thuộc về con”. “Ồ, những gì thuộc về con sao ? Ý Ngài muốn nói những đồ đạc, áo xống, tiền bạc của con ư ?” Thượng Đế trả lời: “Những cái đó đã không phải của con; chúng thuộc về trần gian”.

Người ấy lại hỏi: “Có phải nó là ký ức của con không ?” Chúa trả lời: “Ký ức đã không bao giờ thuộc về con; chúng thuộc vào thời gian”.

“Vậy có phải là những tài năng của con ?”… “Tài năng đã không bao giờ là của con; chúng tuỳ thuộc vào những tình huống con gặp trong đời con phải giải quyết”.

“Phải chăng là bạn bè và gia đình của con ?”… “Rất tiếc, họ đã không bao giờ là của con, họ thuộc về con đường mà con đã đi qua”.

“Hay đó là thân xác con ?”… “Thân xác đã không bao giờ là của con, nó thuộc về cát bụi”.

“Vậy đó là linh hồn của con chăng ?”… “Không đâu, linh hồn của con thuộc về Ta là Đấng đã tạo dựng nên con”.

Đầy hoang mang sợ hãi, người ấy nhận chiếc vali từ tay Chúa và mở nó ra, ông chỉ thấy nó trống trơn.

Một giọt nước mắt lăn dài trên má, người ấy thốt lên: “Trời ơi, vậy là cuối cùng con đã chẳng có gì cả sao ?”…

Chúa trả lời: “Không đâu, con đã có được nhiều lắm chứ, nhưng nó không thể nhìn thấy được bằng mắt thường, nó chính là tấm lòng vị tha của con. Mỗi khi con nói một lời tử tế, mỗi khi con làm một điều dễ thương, mỗi khi con nghẹn ngào trước một mảnh đời khốn khổ, Ta đều cất giữ tất cả vào làm hành lý cho con mang theo về cùng Ta…”

Sưu tầm 

Bầu cử năm 1967 ở miền Nam: Dân chủ nhất trong lịch sử Việt Nam?

Bầu cử năm 1967 ở miền Nam: Dân chủ nhất trong lịch sử Việt Nam?

 24/04/2020

By  VÕ VĂN QUẢN

Các liên danh tranh cử ở miền Nam ra mắt cử tri năm 1967. Ảnh: Chân Trời Mới/Chưa rõ nguồn.

Các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý sau thời kỳ Ngô Đình Diệm nắm quyền không thoát khỏi cái nhìn cú diều của nhiều nhà sử học Việt Nam lẫn một số nhà báo phương Tây cánh tả vốn đã có sẵn định kiến với nhà nước Việt Nam Cộng hòa. Song thiện cảm của giới sử gia và các nghiên cứu khoa học chính trị về tính minh bạch và dân chủ của bầu cử tại miền Nam Việt Nam trong thời kỳ Đệ Nhị và Đệ Tam Cộng hòa đều tăng. 

Như cuộc tổng tuyển cử ngày 3/9/1967 của Việt Nam Cộng hòa, New York Times – một trong những tờ báo cánh tả chống chiến tranh Việt Nam mạnh mẽ nhất cũng đã phải so sánh rằng, so với kiểu bầu cử một đảng “làm cho có” (pro forma affairs) ở Bắc Việt, và những cuộc bầu cử 97, 98% của Diệm, giai đoạn mới của Việt Nam Cộng hòa và nền dân chủ của nó có vẻ đáng được đánh giá cao hơn rất nhiều.

Điều mà rất nhiều người quên là, chính trị miền Nam Việt Nam rối ren hơn hẳn miền Bắc do đặc tính của một vùng đất mới với nền chính trị vẫn còn phải qua một thời gian dài thử sai; giống như sự khác biệt giữa miền Viễn Tây hoang dã và vùng phía Đông công nghiệp hóa của Hoa Kỳ vậy. Bản thân chính quyền miền Nam Việt Nam lại phải đối mặt với sự giám sát không chỉ của báo chí tự do ở đây, mà còn là báo chí Mỹ, người dân Mỹ và các nhà phản chiến người Mỹ; điều mà chính quyền Bắc Việt không hề biết và không cần phải biết. Không chỉ vậy, họ cũng không sở hữu được những công cụ đàn áp tuyệt đối mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có. 

Với một lịch sử lộn xộn của đảo chính quân sự, tướng tá lạm quyền, các cuộc nổi dậy ở địa phương và các cuộc chiến giữa những phe phái tôn giáo, cuộc tổng tuyển cử năm 1967 phải nói là một thành công lớn, khi được tiến hành đúng trình tự, mang lại tính chính danh cho chính quyền mới, tôn trọng đa nguyên (ở một mức độ nhất định) cũng như ổn định nội tại xã hội.

Hình ảnh vận động tranh cử nơi công cộng (từ trái qua phải):
Hàng trên: Ứng cử viên Tổng Thống Phan Khắc Sửu – Ứng cử viên Tổng Thống Phan Quang Đán.
Hàng dưới: Ứng cử viên Tổng Thống Trần Văn Hương – Ứng cử viên Tổng Thống Trương Đình Dzu.
Ảnh: Chân Trời Mới/Chưa rõ nguồn.

Không chỉ đề xuất về việc xây dựng một bản Hiến pháp mới với một cơ chế lưỡng viện quyền lực hơn, có khả năng đối trọng với vai trò của tổng thống nhiều hơn; cuộc bầu cử còn giới thiệu những yếu tố dân chủ đáng quý ngay trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam đang leo thang: từ các cuộc tranh luận toàn quốc giữa các ứng cử viên, cho đến việc các ứng cử viên được cấp thời lượng phát sóng trên truyền hình khiến cho cuộc đua vào các chức danh dân cử trở nên công bằng và sòng phẳng hơn bao giờ hết. 

Các ứng viên thoải mái phê phán chính phủ quân quản ở nhiều phương diện, trong khi bản thân họ cũng đại diện cho các nhóm chính trị đa dạng tại miền Nam Việt Nam: từ các chính trị gia cấp tiến chủ hòa ở đồng bằng sông Cửu Long cho đến những nhóm quân nhân Công giáo tị nạn với lời kêu gọi đưa quân “giải phóng” miền Bắc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại của cả hai miền, không khí thảo luận chính trị lại đa nguyên, đa dạng và được tôn trọng như vậy. 

Báo cáo mật của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cho chính phủ Hoa Kỳ ngay sau cuộc tổng tuyển cử, vốn có rất ít lý do để nói dối về tình hình tại miền Nam Việt Nam, cũng phải thừa nhận rằng cuộc bầu cử diễn ra rất công bằng và đúng tiêu chuẩn. Trong số 11 ứng cử viên cho chức danh tổng thống, chỉ có một người đại diện quân lực Việt Nam Cộng hòa, và 10 người còn lại có nền tảng, thân thế chính trị đa dạng. Họ cũng được tạo điều kiện tiếp cận với công chúng một cách sòng phẳng. CIA ghi nhận chỉ có khoản 11 khiếu nại đơn lẻ về cuộc bầu cử, và hầu hết đều không đủ cơ sở để chứng minh quá trình bầu cử bị thao túng hay chỉnh sửa kết quả. 

Đặc biệt thú vị hơn, luật sư Trương Đình Dzũ, dựa vào các kênh tiếp cận công chúng bình đẳng, nhanh chóng đạt được tỉ lệ ủng hộ đáng nể nhờ vào tài ăn nói và xu thế hòa bình của mình. Ông kết thúc cuộc bầu cử ở vị trí thứ hai – 17% – đánh bật mọi kỳ vọng trước đó của giới quân đội VNCH. Và một tương lai dân sự, công bằng, dân chủ của chính quyền miền Nam Việt Nam mở rộng hơn bao giờ hết. 

Nhưng rồi năm 1968 với trận Tết Mậu Thân đến. Với những sai lầm chiến thuật của cả quân đội Hoa Kỳ lẫn quân lực Việt Nam Cộng hòa, dù bên nhận phải tổn thất kinh hoàng nhất là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (Việt Cộng) và quân đội Bắc Việt, chiến dịch đã khiến cho các kỳ vọng dân sự hóa miền Nam Việt Nam đổ sông đổ bể, và phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ lại bị đẩy lên cao hơn bao giờ hết. 

Có nhiều lý do để cho rằng đây là chủ đích của phe Bắc Việt, và đây cũng không phải là lần duy nhất họ cố gắng phá hoại các nỗ lực dân sự hóa của chính quyền miền Nam Việt Nam (như vụ ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông chẳng hạn). Chiến tranh Việt Nam càng đẫm máu, miền Nam Việt Nam càng rối loạn, có vẻ càng có lợi cho công cuộc “thống nhất đất nước” mà các nhà Marxist chủ nghĩa ở Hà Nội vẽ ra. 

Bầu cử ở miền Nam Việt Nam, đáng trân trọng, cũng vì lẽ ấy.

Một số hình ảnh về cuộc bầu cử năm 1967 của tạp chí LIFE.

Sau đảo chính, kinh tế Myanmar sụp đổ

Sau đảo chính, kinh tế Myanmar sụp đổ

On Apr 10, 2021

Hiếu Chân

Hơn hai tháng sau ngày quân đội Myanmar làm cuộc đảo chính lật đổ chính quyền dân sự và tiến hành cuộc đàn áp tàn bạo những đám đông biểu tình phản đối đảo chính, nền kinh tế nước này đang dần dần sụp đổ, những thành tích phát triển của một thập niên mở cửa, cải cách dân chủ đang dần dần bị xóa sạch.

Khắp nước Myanmar, các chi nhánh ngân hàng đều đóng cửa, nhân viên chính phủ và các công ty không đi làm việc, công nhân các nhà máy bỏ việc về quê, các công ty nước ngoài rút chuyên gia về nước, còn mạng viễn thông internet gần như đã bị cắt.

Từ khi quân đội làm đảo chính ngày 06-01-2021, các đường phố ở Myanmar ngày nào cũng xảy ra biểu tình phản đối, đòi tái lập nền dân chủ và đều bị quân đội đàn áp dã man. Đến hôm nay, thứ Bảy 10-04, đã có hơn 618 người biểu tình bị giết, trong đó có nhiều trẻ em bị bắn chết khi đang ở trong nhà, trong sân, theo số liệu của tổ chức Hội Hỗ trợ Tù nhân Chính trị (AAPP).

Tình hình mất an ninh ở các khu vực đô thị làm cho công việc kinh doanh trở nên hết sức rủi ro, chỉ trừ một số dịch vụ thiết yếu, phần lớn các cửa tiệm, công sở, nhà máy đều đã đóng cửa, các hoạt động sản xuất kinh doanh gần như đều ngưng trệ.

Ngân hàng Thế giới (World Bank, WB) và các chuyên gia kinh tế dự đoán năm 2021 kinh tế Myanmar sẽ bị “co lại” ít nhất 10%, thành quả về xóa đói giảm nghèo bị xóa sạch, các nhà đầu tư nước ngoài cùng với du khách quốc tế – động lực phát triển kinh tế của Myanmar trong thập niên qua – sẽ sợ hãi mà tránh xa đất nước này. Trước đảo chính, World Bank đã dự đoán kinh tế Myanmar trong năm tài chính kết thúc vào tháng Chín 2021 sẽ tăng trưởng khoảng 2%, chậm hơn năm ngoái một chút do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Trước đảo chính, Myanmar đã là quốc gia nghèo nhất Đông Nam Á, với sáu triệu người dân sống trong cảnh khốn cùng có thu nhập chưa tới 3,2 USD mỗi ngày – ngưỡng nghèo đói áp dụng cho những nước thu nhập trung bình thấp như Myanmar; một phần tư số trẻ em Myanmar bị thiếu cân và thấp lùn do suy dinh dưỡng kinh niên. 

Nguyên nhân của tình trạng đói nghèo là do nhiều thập niên, đất nước nằm dưới sự cai trị của các tướng lãnh quân sự với những chính sách kinh tế sai lầm và thảm họa. Khi tập đoàn quân phiệt bắt đầu nhường bớt quyền cai trị cho một chính phủ dân sự, thực hiện cải cách, thì nhiều hoạt động kinh tế được “cởi trói”, dòng vốn đầu tư nước ngoài và du khách quốc tế đổ vào, thúc đẩy sự tăng trưởng. Theo dữ liệu của World Bank, tỷ lệ người nghèo đói trong dân số Myanmar đã giảm từ mức 42,2% năm 2010 (năm trước cải cách) xuống còn 24,8% năm 2017. Nhưng do tình hình trì trệ sau đảo chính, con số này có thể tăng trở lại mức 30% trong năm 2021, sẽ có thêm 1,8 triệu người rơi trở lại cảnh đói nghèo.  

Công ty xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Solutions còn bi quan hơn khi dự báo kinh tế Myanmar sẽ giảm sút khoảng 20%, căn cứ vào các dữ kiện như sức mua của người dân giảm sút, nhà nước thất thu thuế nên sẽ giảm chi tiêu và đầu tư. 

Sự đình đốn được thể hiện rõ nhất trong ngành dệt may – ngành sử dụng nhiều lao động nhất và đóng góp một phần tư doanh thu xuất cảng của Myanmar, một phần nhờ chính sách miễn thuế khi nhập cảng vào thị trường Liên minh châu Âu. Sau vụ đảo chính, các hãng thời trang quốc tế lớn như Hennes & Mauritz AB của Thụy Điển, Benetton của Ý đã ngừng đặt hàng các công ty dệt may Myanmar, buộc nhiều nhà máy may phải đóng cửa. Các vụ biểu tình và đàn áp của quân đội diễn ra ở các khu công nghiệp làm cho người lao động sở hãi, nhiều người bỏ thành phố trở về làng quê, làm cho tình trạng thiếu lao động trở nên trầm trọng ở những nhà máy còn có đơn hàng để hoạt động.

Các ngành dịch vụ như ngân hàng, viễn thông đình trệ vì mạng internet bị cắt trên diện rộng. Ngành du lịch, một thế mạnh của Myanmar nhờ di tích lịch sử và văn hóa Phật giáo phong phú, từng tăng trưởng gấp năm lần trong thập niên vừa qua, nay đang ngắc ngoải, một phần vì đại dịch Covid-19 và các biện pháp phong tỏa biên giới để phòng dịch, một phần vì tình trạng hỗn loạn trên đường phố, du khách không cảm thấy an toàn khi đi du lịch Myanmar. Hàng loạt khách sạn, nhà hàng, dịch vụ du lịch phải đóng cửa, cho nhân viên nghỉ việc, chưa biết đến bao giờ mới hoạt động trở lại được.

Tình trạng đình trệ các hoạt động kinh tế Myanmar còn do chủ ý của những lực lượng đối lập với quân đội; họ vận động người dân thực hiện một phong trào “bất tuân dân sự”, bãi công, bãi khóa, bãi thị trong nỗ lực làm cho tập đoàn quân phiệt cầm quyền không điều khiển được đất nước. Mục tiêu của họ là “từng bước, từng bước làm cho guồng máy của quân đội chao đảo và ngừng hoạt động,” một nhà giải phẫu học lãnh đạo phong trào bất tuân dân sự viết trên Facebook và cho biết những người ủng hộ phong trào, kể cả những người giàu có ở nước ngoài, đã gửi tiền đóng góp vào quỹ hỗ trợ những gia đình gặp khó khăn về đời sống khi tham gia bãi công, bãi thị. 

Hôm thứ Tư, tướng Min Aung Hlaing, tổng tư lệnh quân đội và cầm đầu vụ đảo chính, được báo chí nhà nước trích lời, gọi phong trào bất tuân dân sự “đang tàn phá đất nước” nhưng ông không cho biết tập đoàn quân sự cầm quyền sẽ có biện pháp gì để ổn định các hoạt động kinh tế của đất nước.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thời Nhiễu Nhương

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thời Nhiễu Nhương

09/04/2021

Hơn mười năm trước – chính xác là vào hôm 04 tháng 7 năm 2012 – báo Công An Nhân Dân có một bài viết ngắn (“Ấm Lòng Tình Đảng Chan Chứa Lòng Dân”) của nhà báo Hồng Dung, về chuyến đi thăm dân của ông Nông Đức Mạnh, khiến nhiều độc giả phải rơi nước mắt:

“Bà con ùa ra, vây quanh Tổng Bí Thư, chân tình, ngây ngất như đón người thân trở về gia đình. Những cái bắt tay, những nụ cười rạng rỡ. Tất cả tạo nên sự đầm ấm đến nao lòng…”

Tài đức cỡ Nông Đức Mạnh thì được nhân dân tiếp đãi “như đón người thân trở về gia đình” là chuyện tất nhiên, không có gì để phải suy nghĩ (lăn tăn) hay suy diễn (linh tinh) cả. 

TBT Lê Khả Phiêu, cũng thế. Tình cảm dân chúng dành cho ông cũng rạt rào đến độ nhà văn Thanh Phong ghi lại được cả một tuyển tập (Mênh Mông Tình Dân) dầy tới 284 trang, và đã được nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành vào năm 2008.

Trong buổi “Lễ Trao Huy Hiệu 70 Năm Tuổi Đảng” cho đồng chí Lê Khả Phiêu, đương kim Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng đã không tiếc lời ca tụng thành tích của người tiền nhiệm: “Chúng tôi luôn học tập ở đồng chí về phương pháp, tác phong làm việc sâu sát, cụ thể và hiệu quả.”

Nói thế chả qua là vì quá khiêm tốn mà thôi, chứ tài ba và đức độ tới cỡ như Bác Trọng thì xưa nay hiếm, nếu chưa muốn nói là vô song, cần chi mà phải học tập hay noi gương ai nữa.  

Báo Người Lao Động, số ra ngày 29 tháng 3 năm 2021, vừa hớn hở đi tin (“Đại Biểu Quốc Hội Cảm Động Về Hình Ảnh Của Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước”) khiến cả nghị trường đều cảm thấy nức lòng: 

  • ĐB Ngọ Duy Hiểu: “Mỗi khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước xuất hiện ở đâu, người dân, cán bộ, đảng viên đều rất vui mừng, phấn khởi, được truyền cảm hứng mạnh mẽ, xây dựng tình cảm cách mạng, tạo sự đồng thuận trong toàn đảng, toàn dân và toàn quân.”
  • ĐB Nguyễn Anh Trí: “Tổng Bí thư, Chủ tịch nướcmái đầu bạc trắng hiên ngang, với gánh sơn hà nặng trĩu hai vai, là trung tâm đoàn kết, là ngọn cờ tập hợp, là người khơi nguồn tự hào dân tộc.”

Thiệt là quá đã, và (hoàn toàn) không có gì quá đáng!

Bác Hồ giữ chức Chủ Tịch Đảng kiêm Chủ Tịch Nước từ ngày 19 tháng 4 năm 1948 cho mãi đến khi chuyển qua từ trần, vào hôm 2 tháng 9 năm 1969. Trong hơn hai mươi năm lèo lái đất nước, Người được dân chúng thương mến và ca tụng cả râu lẫn tóc: Đêm qua em mơ gặp bác Hồ, râu Bác dài tóc Bác bạc phơ…

Nửa thế kỷ sau, đất nước mới lại xuất hiện thêm một Người Cầm Lái Vỹ Đại mà tóc tai cũng gợi hứng cho giới văn nghệ sỹ. Nhạc phẩm CÓ MỘT MÁI ĐẦU TÓC BẠC do nhạc sỹ Nguyễn Anh Trí sáng tác, Học Viện An Ninh dàn dựng,  ca sỹ Viết Danh (và nhóm Tốp Ca HVANQG) trình bầy – vào hôm 28 tháng 3 năm 2021 – đã khiến cho cả nước ngất ngây suốt mấy tuần qua:

Có một mái đầu bạc trắng vinh quang!
Có một con người vì nước vì dân
Những nỗi lo cho đất nước thoát nghèo
Những biển Đông sóng cồn… 

Tóc trên đầu ông bạc trắng hiên ngang
Kia nhìn lên mái đầu tóc bạc của ông
Như thấy đỉnh Fanxipan
Như bao lớp sóng biển trùng khơi…

Cùng lúc báo chí nước nhà cũng đều hân hoan và đồng loạt loan tin: NHÂN DÂN VỠ OÀ CẢM XÚC KHI TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÁI ĐẮC CỬ!

Nói nào ngay thì cũng có ít nhất dăm ba “nhân dân” hoàn toàn không có “cảm xúc” gì ráo trọi với bản tin thượng dẫn. Lý do, giản dị, là họ không có cơ hội đi bầu vì đang nằm viện – Viện Tâm Thần.

Xin phép được trích dẫn đôi ba đoạn chính, trong thư đề ngày 28 tháng 3 năm 2021 (THƯ GỬI CÁC THẦY THUỐC CÓ LƯƠNG TRI) của CLB Lê Hiếu Đằng– do T.S Mạc Văn Trang chấp bút – để rộng đường dư luận:

Thưa các Bác sĩ, các nhân viên y tế trực tiếp đem nghề nghiệp phục vụ nhân dân.

Chúng tôi biết rằng, ngoài một số người lợi dụng nghề Y để làm những việc bất chính nhằm trục lợi, số còn lại, các thầy thuốc tuân theo lời thề Hypocrates và những quy định về Y đức của Việt Nam, đều hết lòng vì nhân dân phục vụ.

Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng chúng tôi viết Thư này gửi đến các Quý vị vì nỗi lo lắng, tình trạng Công an đã chuyển một số Tù nhân lương tâm, vốn là những người bình thường trước khi bị bắt, vào Bệnh viện Tâm thần. Gần đây là trường hợp các ông Lê Anh Hùng, Phạm Thành, Trịnh Bá Phương, cụ thể như sau:

1 – Tin cho biết ông Lê Anh Hùng khi từ chối uống thuốc, đã bị nhân viên y tế tại Bệnh Viện Tâm thần trung ương đánh đập dã man, trói chân tay vào giường và cưỡng bức tiêm thuốc tâm thần. 

2 – Trường hợp nhà văn Phạm Thành, vợ ông bà Nguyễn Thị Nghiêm, nói với đài VOA: “Ngày 24/11/2020, họ chuyển anh ấy từ trại số 1 Hỏa Lò thuộc Công an thành phố Hà Nội đến Viện pháp y Tâm thần Trung ương ở huyện Thường tín. Ngày 25/11, Điều tra viên báo với tôi rằng như vậy. Trong lòng tôi rất hỗn loạn. Tôi không biết làm thế nào cả”.

3 – Trường hợp ông Trịnh Bá Phương, vợ ông, bà Thu nói với phóng viên Đài Á Châu Tự Do như sau: “Là anh Nguyễn Thế Bắc (công an), chỉ thông báo bằng mồm rằng đã trích xuất chồng em đi tới Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương 1 vào hôm 1 tháng 3 năm 2021”… 

Chúng tôi hy vọng và cầu mong các thầy thuốc có lương tri hãy không tiếp tay cho tội ác, mà bằng Y đức và chuyên môn của mình, hãy cứu lấy các Tù nhân lương tâm thoát khỏi “thảm kịch tâm thần”. Đó sẽ là Quả phúc của Quý vị do hành nghề lương thiện mà có được.

Xin gửi đến các thầy thuốc có lương tri Niềm tin và Hy vọng.

Sài Gòn, ngày 28/3/2021

TM CLB Lê Hiếu Đằng

Mạc Văn Trang

Tôi được tiểu bang California cấp bằng hành nghề trị liệu tâm thần (license number 17705) từ ngày 20 tháng 11 năm 1995 cho đến khi nghỉ hưu, vào hôm 30 tháng 4 năm 2015. Tôi cũng là bạn FB với anh Trịnh Bá Phương, và là độc giả thường xuyên của nhà báo Lê Anh Hùng cùng nhà văn Phạm Thành, từ nhiều năm qua. Chúng tôi thỉnh thoảng vẫn trao đổi đôi điều tâm sự về những vấn đề thời cuộc. Tuyệt nhiên, tôi không nhận thấy có dấu hiệu bất thường nào nơi họ cả. 

Vấn đề, chả qua, là cả ba nhân vật thượng dẫn đều không thích cái thói xu nịnh và đã thẳng thắn nói lên những lời trung thực khiến ông Nguyễn Phú Trọng (và cả giới cầm quyền nghịch nhĩ) nên họ đành phải chịu họa – họa trung ngôn – giữa thời buổi nhiễu nhương. Trong một xã hội mà không có nhân cách người ta vẫn sống (thậm chí còn sống béo tốt hơn) thì những người chính trực bị giam trong Viện Tâm Thần … là phải!

CÒN ĐÂU TÌNH NGƯỜI NHƯ XƯA…

CÒN ĐÂU TÌNH NGƯỜI NHƯ XƯA…

Mấy ngày nay một số Facebook chia sẻ lại câu chuyện (nghe nói là xảy ra năm 2014) về cô bé “ăn cắp” 2 cuốn sách ở một nhà sách ở Gia Lai. Thay vì cảm thông cho cô bé ham đọc sách, và tặng thêm sách sau khi chỉ bảo điều hơn lẽ thiệt, người ta đã bắt cô bé lại, trói 2 tay vào thành lan can, đeo tấm bảng ghi chữ “Tôi là người ăn trộm” trước ngực, rồi chụp hình và bêu rếu lên mạng xã hội.

Cách làm bất nhơn, không chút tình người của những người quản lý ở đây đã thể hiện phần nào một xã hội không tình không nghĩa, phản giáo dục, đi ngược lại sự tiến bộ, văn minh của loài người. Nói chánh xác hơn thì đây là hành vi man rợ của những con người vô văn hoá, những cái xác biết đi chứ khổng biết cư cử đúng mực con người! Âu con người cũng là sản phẩm của nền giáo dục của xã hội đó!

Chợt nhớ lại câu chuyện cậu bé 14-15 tuổi cũng ăn cắp sách trong tiệm sách Khai Trí của bác Nguyễn Hùng Trương, mà người đời hay gọi là ông Khai Trí. Khi thấy lùm xùm, do nhân viên nhà sách định làm dữ với cậu bé, một vị khách ôn tồn hỏi rõ đầu đuôi câu chuyện, tỏ vẻ khâm phục cậu bé vì học giỏi mà không tiền mua sách nên phải ăn cắp, ông đã ngỏ lời xin tha và trả tiền sách cho cậu.

Ngay lúc đó thì ông Khai Trí bước vào…

“Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì. Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân. Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:

– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…

Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:

– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…

Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong.

Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.

….

Một buổi chiều [sau 1975 khá lâu], người ta thấy một “ông già” khoảng ngoài 70 tuổi, ăn mặc theo lối Việt kiều, đứng ngắm trước cửa nhà sách Sài Gòn với nét mặt buồn buồn rồi bước vào hỏi thăm các cô bán sách về ông Khai Trí, các cô nói hình như ông đã mất cách đây đến hàng chục năm. “Ông già Việt kiều” lại ra đứng ngắm trước cửa tiệm sách hồi lâu, lấy khăn giấy lau nước mắt, chắp tay hướng lên trên trời khẽ vái ba vái rồi đi. Không ai biết ông ta là ai cả…”

Đọc chuyện xưa, ngẫm chuyện nay mà sao ngao ngán cho cái tình người trong cái xã hội nhiễu nhương này. Chẳng lẽ sau hơn 45 năm “giải phóng”, đạo đức con người, đạo đức xã hội này không có chút tiến bộ nào, ngược lại còn suy đồi đến mức bất nhân?

(Copy từ Sài Gòn trong tim tôi)

Từ Fb LE VAN QUY

 Khi thế giới không như ta thấy

 May be an image of text that says 'K FACT A AC T'

 Khi thế giới không như ta thấy

“Mặt trận truyền thông” là khái niệm được dùng để mô tả cuộc chiến thông tin khi mạng xã hội xuất hiện. Với sự bùng nổ của Internet, các nguyên tắc kiểm duyệt thông tin dần dần bị vô hiệu hóa. Nếu như trước đây mặt trận truyền thông là sự phân tranh giữa trắng và đen, thì nay, một màu xam xám lờ mờ đã xuất hiện.

Năm 2016 – 2020, tin giả xuất hiện. Công thức để chế biến tin giả ngày càng trở nên điêu luyện. Dựa trên một bản tin thật người chế biến tin giả có thể lọc lại hình ảnh, sự kiện, diễn biến để lồng ghép vào các diễn biến xã hội. Hình ảnh là thật, nhưng nội dung, bối cảnh lại là giả dẫn tới thông tin đưa ra là không có thật. Một cách chế biến tin giả phổ biến nhất đó là dẫn nguồn tin bi ẩn kiểu “ông chú Viettel” hay “người ẩn danh ở bên trong bộ máy quyền lực”. Loại tin này thỏa mãn tâm lý hiếu kỳ của quần chúng.

Nếu như ở Việt Nam, khi mạng xã hội chưa lên ngôi, mặt trận truyền thông đơn giản thì là cuộc chiến giữa lề đảng và lề dân thì nay mọi thứ không như thế nữa.

Khi người xem, người nghe, người đọc cho mình quyền quyết định thông tin “muốn” tiếp cận, họ sẽ tự lựa chọn tin tức mà họ muốn “thấy”. Nắm bắt tâm lý này, gam màu xám trên mặt trận truyền thông bắt đầu chiếm ưu thế. Tất cả những tin tức không có lợi, không hợp nhãn đều bị gọi là “tin giả”. Cụm từ fake news xuất hiện được lặp đi lặp lại bởi những lãnh tụ có uy quyền khiến một bộ phận người dân từ chối tiếp nhận thông tin theo bản chất mà nó vốn có. Và để chứng minh càng thông tin thật là giả, người ta đưa các tin giả đã được chế biến ra để làm luận điểm cho bản thân mình.

Trong một thế giới mà con người nghi kỵ, bất mãn, chán chường, việc tự nhốt mình với những thông tin mang tính khích lệ, gây hưng phấn tinh thần để có động lực sống khiến người ta ngày càng chuộng tin giả hơn.

Với số đông quần chúng, họ chỉ muốn nghe, muốn thấy đều họ cần, còn thực tế đối chứng, kiểm tra thì chẳng mấy ai có thời gian để thực hiện. Vì vậy, việc quần chúng phó mặc và bị định hướng thông tin là chuyện thường xảy ra ở các quốc gia độc tài, có cơ chế kiểm duyệt thông tin. Và các quốc gia như Nga, Trung Quốc, Iran, Việt Nam sẵn sàng đổ tiền, lên chiến lược, kế sách để phát tán tin giả hòng chứng minh với dân chúng rằng “đừng mơ mộng, hy vọng hão huyền vào các giá trị dân chủ, tự do”. Từng ngày một, chiến lược tin giả khiến quần chúng rơi vào mộng mị. Và khi thế giới không như họ thấy, thì dân chúng ngoan ngoãn, xếp re trở thành những con chiên hiền lành dễ bảo.

Không phải ai cũng có khả năng kiển chứng thông tin nên nạn nhân của tin giả rất đa dạng. Sự thông cảm có thể được giành cho các nạn nhân không có cơ hội tiếp cận nguồn tin đa chiều, nhưng tuyệt đối không thể cảm thông với những người cố tình tiếp tay phát tán tin giả vì muốn quần chúng nhìn thế giới theo cách mà họ muốn.

Vì thế nếu ai đó bảo rằng tôi hãy thông cảm cho những người phát tán tin giả, câu trả lời của tôi là KHÔNG BAO GIỜ. Bởi chính những kẻ phát tán tin giả chính là nguồn cơn hủy hoại niềm tin và các giá trị tự dân chủ và sự thật.

P/s: Sự thật và dối trá đôi khi chỉ xê xích nhau chút xíu. Quan trọng là bạn chọn cách tiếp cận và chấp nhận ra sao mà thôi. Thế giới vốn không như ta thấy, nhất là khi người có thể điều khiển thế giới ấy là những kè độc tài mị dân.

Ảnh minh họa: Internet

LÝ THUYẾT CON GIÁN

LÝ THUYẾT CON GIÁN

Một con gián, không biết từ đâu, bay vào nhà hàng và đậu lên vai một quý bà.

Quý bà vô cùng hoảng hốt. Khuôn mặt sợ đến tái mét, bà vừa la hét, vừa nhảy ra khỏi ghế ngồi, cố lắc thật mạnh để tách con gián ra.

Con gián bay sang đỗ lên vai một quý bà khác. Quý bà này cũng sợ hãi không kém và tạo ra một sự hỗn loạn còn lớn hơn.

Và cứ thế, con gián chuyền từ người này sang người khác. Sự hỗn loạn ngày càng gia tăng.

Cuối cùng người bồi bàn cũng chạy tới. Anh lấy chiếc khăn xua nhẹ và con gián vô tình bay sang vai anh. Rất bình tĩnh, anh chậm rãi đi ra cửa, rồi chạm nhẹ vào nó. Con gián tự bay ra vườn. Sự hỗn loạn kết thúc”.

Sundar Pichai đúc kết:

“Nhìn qua, chúng ta dễ lầm tưởng rằng, sự hỗn loạn là do con gián mang lại. Nhưng qua cách xử lý của người bồi bàn, chúng ta hiểu là không phải thế. Sự hỗn loạn thực tế đã được tạo ra bởi những hành động của các quý bà đối với con gián, chứ không phải bản thân con gián”.

Trong cuộc sống, những chuyện ta không mong muốn vẫn luôn xảy ra. Chẳng hạn, nhỏ thì như chuyện: cơm sống, canh mặn; hoặc lớn hơn như chuyện: trẻ con hàng xóm đánh nhau hay anh chồng nhậu say xỉn… Bản thân chúng chưa phải là vấn đề; chính thái độ và cách xử lý không thích hợp của chúng ta mới thực sự biến chúng thành vấn đề.

St

May be an image of outdoors and text

SUY NGHĨ VỀ “HÒA GIẢI HÒA HỢP DÂN TỘC”

 SUY NGHĨ VỀ “HÒA GIẢI HÒA HỢP DÂN TỘC”

(Nhân dịp 30-4-2010, Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) có gởi tôi 4 câu hỏi liên quan đến “hòa giải”. Dĩ nhiên, tôi trả lời riêng từng câu. Nhưng để anh chị em đọc một dòng từ đầu đến cuối các suy nghĩ có liên quan mật thiết với nhau, tôi ghép cả bốn câu hỏi vào chung một câu và bốn câu trả lời cũng vào chung thành một bài.

Hỏi:

Trước hết, xin anh chia sẻ với thính giả và độc giả đài Tiếng Nói Hoa Kỳ quan điểm của anh về “hòa giải hòa hợp dân tộc”, về câu nói của ông Võ Văn Kiệt “một triệu người vui, một triệu người buồn”, về thắc mắc của nhà văn Vũ Ngọc Tiến “Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy?” và cuối cùng về câu nói của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo “Một dân tộc mà lũ trẻ không biết mơ mộng và người già không biết sám hối, đó là một dân tộc bất hạnh. Hãy trân trọng sự sám hối.” ?

Đáp:

Tuần trước tôi có dịp đến thăm viện bảo tàng lịch sử Mỹ tại Washington DC, trong đó có một khu dành riêng cho tổng thống thứ 16 của Mỹ, Tổng Thống Abraham Lincoln. Ngay trước cổng của khu tưởng niệm TT Lincoln, có treo một tấm bảng nhỏ, trong đó ghi một câu trong Tân Ước mà ông yêu thích và thường hay trích dẫn “A house divided against itself cannot stand”, nghĩa là “Một căn nhà phân hóa chống lại chính nó, căn nhà đó không thể đứng vững”.

Tổng Thống Lincoln quan niệm tinh thần đoàn kết, hòa giải giữa các thành phần quốc gia là điều kiện quyết định giúp quốc gia vượt qua những khó khăn, cũng như dẫn đến sự vững mạnh, thăng tiến lâu dài.

Sự phát triển vượt bực của Hoa Kỳ, từ thuộc địa của Anh trở thành cường quốc hàng đầu thế giới đã chứng minh câu Tổng Thống Lincoln trích dẫn là một chân lý. Chân lý đó cũng đã được thử nghiệm và xác định tại nhiều quốc gia khác như Nam Phi, Cộng Hòa Đức v.v..

Tổng thống Lincoln nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải trong diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ 2, 1865, nghĩa là sau khi quân đội miền bắc đã kết thúc cuộc nội chiến bằng chiến thắng, và TT Nelson Mandela cũng chỉ lập Ủy Ban Sự Thật Và Hòa Giải Quốc Gia sau khi đã đắc cử Tổng Thống Cộng Hòa Nam Phi.

Nếu TT Lincoln bỏ tù hết các cấp sĩ quan, viên chức chính quyền miền nam, chắc chắn quân đội của tướng Robert Lee đã không buông súng dễ dàng, và nước Mỹ có thể không có ngày hôm nay.

Tương tự, nếu TT Nelson Mandela bắt thiểu số da trắng phải trả giá bằng những cực hình đầy đọa giống như dân da đen đã từng chịu đựng dưới ách phân biệt chủng tộc Nam Phi thì hòa hợp hòa giải đã không đến cho quốc gia này.

Từ những bài học quý giá đó, tôi quan niệm hòa giải không chỉ là một tình cảm mà phải dựa trên các nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết, và các nền tảng đó chính là sự thật, tự do, dân chủ và bình đẳng giữa những con người cũng như giữa các thành phần trong xã hội.

Giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam có tất cả những phương tiện để thực thi hòa giải hòa hợp dân tộc nhưng họ đã không làm. Lý do, nếu làm thì họ đã không phải là Cộng Sản.

Hòa giải hòa hợp dân tộc đặt cơ sở trên sự bao dung, bình đẳng vốn đi ngược lại mục tiêu Cộng Sản hóa Việt Nam bằng các phương tiện bạo lực mà đảng đã và đang dùng.

Do đó, ngày nào chế độc độc tài đảng trị, dù tồn tại dưới bất cứ hình thức nào tại Việt Nam, ngày đó chuyện hòa giải chỉ là một chuyện để bàn cho có và cũng sẽ qua đi theo mỗi tháng Tư.

Câu nói của ông Võ Văn Kiệt, ngày 30 tháng 4 “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” có lẽ là câu nói tích cực nhất mà chúng ta được nghe từ một người từng đóng vai trò lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam trong một thời gian dài sau 1975.

Như tôi đã có lần viết trong một tiểu luận về những lời phát biểu của ông Võ Văn Kiệt, tôi tin đó là một câu nói chân thành, kết quả của nhiều đêm trăn trở.

Tôi vui mừng bởi vì ông đã góp phần tạo nên một môi trường thảo luận những vấn đề sinh tử của đất nước mà trước đây không có được. Các thế hệ trẻ Việt Nam, qua những lời phát biểu của ông, có cơ hội biết đến một quãng lịch sử dân tộc đen tối do chính một trong những người chịu trách nhiệm lớn nhất của đảng và nhà nước trong giai đoạn đó kể ra.

Con đường mà dân tộc đã trải qua trong suốt hơn 30 năm không phải là “con đường vinh quang” như các em đang học ở trường, những ngày mà cha chú các em đã sống không phải là “những ngày đẹp nhất dù mai sau đời vạn lần hơn”, nhưng là con đường nhuộm bằng máu và nước mắt, trong đó, “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” như ông Võ Văn Kiệt đã nhắc lại.

Ngoài ông Võ Văn Kiệt đã qua đời, một số cán bộ Cộng Sản nổi bật trong giai đoạn chiến tranh như cựu đại sứ Cộng Sản Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung trong buổi phỏng vấn dành cho VietNamNet mới đây cũng nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải bằng những câu phát biểu thật “thắm thía”: “Lúc này nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có lỗi với tương lai của chính con cháu mình.”

Thế nhưng, cả ông Võ Văn Kiệt lẫn ông Võ Văn Sung, về khái niệm, đều lầm lẫn giữa hòa giải và đầu hàng, giữa hòa hợp và phục tùng, giữa bao dung dân tộc và thương xót người chiến bại.

Hòa giải hòa hợp là con đường hai chiều, là chiếc cầu nhiều nhịp. Và như tôi đã phát biểu ở trên, phải dựa trên nền tảng bình đẳng, tự do, dân chủ.

Không ai có quyền bắt người khác phải bơi qua sông để hòa giải với mình.

Những người lính miền nam cần công lý chứ không cần thương xót.

Trong lúc tôn trọng sự khác biệt về cách giải thích nguyên nhân của cuộc chiến Việt Nam, tôi thông cảm những trăn trở của nhà văn Vũ Ngọc Tiến trong bài viết mới đây Tùy Bút Tháng Tư “Trong số 3,2 triệu người Việt định cư ở hải ngoại hiện nay, số ra đi trước ngày 30/4/1975, kể cả số di cư từ thời thuộc Pháp chỉ khoảng 1 triệu, số còn lại hơn 2 triệu người chủ yếu rời bỏ đất nước từ nửa cuối thập niên 70 và cả thập niên 80 của thế kỷ trước. Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy?”

Tôi nghĩ câu hỏi này nhà văn đặt ra cho giới lãnh đạo đảng chứ không phải cho độc giả của ông.

Tuy nhiên, với tư cách là một trong số hơn hai triệu người ra đi sau 1975, tôi nghĩ, lý do cũng rất là đơn giản. Họ ra đi sau 1975 là vì tự do. Nếu Liên Hiệp Quốc và các quốc gia Đông Nam Á không đóng cửa các trại tỵ nạn đầu thập niên 90 thì không chỉ 2 triệu mà có thể 4 triệu, 6 triệu hay nhiều hơn nữa đã bỏ xứ ra đi.

Quê hương Việt Nam sau 1975 là quê hương để nhớ để thương chứ không phải để sống.

Và sau 35 năm, ngoài trừ một số rất ít, 300 ngàn người thành đạt như nhiều nguồn ước tính và nhà văn Vũ Ngọc Tiến có trích dẫn trong bài viết của ông, đã không về phục vụ đất nước.

Nhà văn thắc mắc tại sao họ lại không về. Câu trả lời cũng không khó lắm. Thứ nhất, dù chia rẽ, kèn cựa, chống đối lẫn nhau, về căn bản họ vẫn là những người chống lại chế độ độc tài Cộng Sản, và thứ hai, họ không muốn thấy những đóng góp của họ chỉ để làm giàu thêm giai cấp tư sản đỏ đang như giòi bọ sinh sôi từ xương máu nhân dân chứ không đem lại lợi ích gì cụ thể cho đại đa số đồng bào đang sống trong nghèo khó.

Tôi cũng rất tâm đắc với suy nghĩ của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo trong bài viết Đừng Thêm Những Tháng Tư: “Một dân tộc mà lũ trẻ không biết mơ mộng và người già không biết sám hối, đó là một dân tộc bất hạnh. Hãy trân trọng sự sám hối.” và “Hòa giải là nguyện vọng cấp thiết của người Việt Nam dù trong hay ngoài nước”.

Đúng vậy, những ai có trách nhiệm cho điêu tàn, đổ nát, đói nghèo, lạc hậu, mất đất, mất biển phải sám hối trước tiên linh ông bà và xin lỗi trước nhân dân.

Trải qua một cuộc chiến dài với quá nhiều những hy sinh xương máu, tôi tin, không một người Việt Nam yêu nước nào không muốn sống trong cảnh hòa bình, không mong đất nước mình cường thịnh, hội nhập vào dòng phát triển của cộng đồng nhân loại.

Không chỉ những người lính miền nam, người dân miền nam mà ngay cả những người lính miền bắc, người dân miền bắc, cũng chỉ mong có cơ hội được trở về căn nhà xưa, với ruộng lúa nương dâu, với cha mẹ già đang chờ đợi.

Cuối cùng, như các chúng ta thấy, không ai thương dân tộc Việt Nam bằng chính người Việt Nam. Bên trong những vòng hoa chiến thắng, mặt trái của những tấm huân chương là máu thịt của hàng triệu người Việt Nam đổ xuống, là đói nghèo lạc hậu.

Việt Nam phải vượt qua. Việt Nam phải thăng tiến. Nhưng chướng ngại lớn nhất trên con đường dẫn tới một tương tốt đẹp, tự do, dân chủ, giàu mạnh không phải vì thiếu hòa giải, hòa hợp mà quan trọng hơn vì cơ chế độc tài đảng trị như một bức tường đang chắn ngay trước lối đi lên.

Một khi cơ chế độc tài sụp đổ, hòa giải hòa hợp tự nhiên sẽ đến dù lúc đó chưa chắc còn cần thiết nữa.

Trần Trung Đạo

(Ảnh sưu tầm trên internet “hòa giải tại Mỹ”, “hòa giải tại Nam Phi”, “hòa giải tại Việt Nam” )

NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI ANH EM

NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI ANH EM

 Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Đức Giêsu đã phục sinh.  Nhưng điều này đâu có quan hệ gì đến tôi, nếu Đức Giêsu cũng tương tự như bao người khác, cũng chỉ là một người như bao người khác: họ được nhưng đâu có nghĩa rằng tôi được?  Đức Giêsu Phục Sinh chỉ ảnh hưởng tuyệt đối đến tôi, nếu Ngài là Thiên Chúa.

Qua các tông đồ Thiên Chúa của Đức Giêsu Phục Sinh hiện diện

 Sau khi Đức Giêsu phục sinh, với sự trợ giúp của Thánh Thần, các tông đồ đã nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa.  Và dưới tác động của Thánh Thần các tông đồ đã can đảm tuyên xưng, rao giảng Đức Giêsu bị đóng đinh đã sống lại.  Và hôm nay sách tông đồ công vụ cho thấy những người tin vào Đức Giêsu đã trở thành một nhóm đặc biệt, trở thành dấu chỉ của Đức Giêsu Phục Sinh cho con người thời đó.

Thánh Phêrô trở thành khí cụ Thiên Chúa dùng để ban ơn cho con người.  Bóng của Ngài ngả xuống trên bệnh nhân nào thì người đó được khoẻ lại.  Có người nghĩ: không chừng các tông đồ còn làm được những điều lớn lao hơn cả Đức Giêsu.  Chính Đức Giêsu cũng nói: “Kẻ tin vào Ta, thì các việc Ta làm người ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa, vì Ta về cùng Cha” (Ga.14, 12).

Ngày xưa khi Chúa về trời, các tông đồ đã thành dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện; và ngày nay qua Hội Thánh nơi các tín hữu, Thiên Chúa cũng hiện diện với con người hôm nay.

Đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa

 Đức Giêsu khi còn tại thế, Ngài đã nói những lời người Do Thái không thể chấp nhận được, như Ngài nhận Ngài có quyền tha tội (Mc.2,7), Ngài có trước Abraham (Ga.8, 58), Ngài là một với Thiên Chúa Cha (Ga.10, 30), Ngài ngang hàng với Thiên Chúa Cha (Mc.14, 62).  Người Do Thái không thể chấp nhận những lời đó, nên đã lấy đá định ném chết Ngài.  Nếu Ngài không là Thiên Chúa, quả thật Ngài phạm tội “phạm thượng”: là người phàm mà dám nhận mình ngang hàng với Thiên Chúa.

Ngài đã sống lại, nghĩa là, những điều Ngài nói là thật, vì nếu Ngài nói dối, Thiên Chúa đâu có phục sinh Ngài!  Như vậy, Ngài có quyền tha tội (mà chỉ Thiên Chúa mới có quyền tha tội), Ngài ngang hàng với Thiên Chúa, Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa thật.

Ngài là Thiên Chúa thật, nghĩa là Ngài là Thiên Chúa nhập thể.  Và do đó, người ta biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng, vì nếu không yêu con người, tại sao Thiên Chúa nhập thể làm người?  Tại sao Ngài phải chấp nhận cái chết ô nhục trên thập giá?  Tại sao Ngài mãi mãi là người?  Chính vì tình yêu, vì yêu con người, mà Thiên Chúa trở thành một người như bao người.  Thiên Chúa làm tất cả cho con người.

Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con

 Khi hiện ra với các tông đồ vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu nói với các tông đồ: “như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con.”  Như vậy, các tông đồ, và sau đó là các Kitô hữu, có cùng sứ mạng với Đức Giêsu.

Sứ mạng của Đức Giêsu, của Ngôi Lời nhập thể, là làm sao để con người nhận biết và tin vào tình yêu Thiên Chúa!  Để làm được điều này, Lời Thiên Chúa đã nhập thể, đã sống như một người hoàn toàn, đã hiến mình làm của ăn cho con người, đã chấp nhận cái chết ô nhục trên thập giá vì yêu con người, đã yêu con người đến chết.

Sứ mạng của các tông đồ, của Hội Thánh ngày nay, của mỗi người tín hữu, là làm chứng cho tình yêu, làm cho thế gian biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ vô cùng.  Để làm được điều này, cũng đòi tín hữu phải hy sinh, phải yêu thương con người ngày nay đến độ quên mình như Đức Giêsu.  Thập giá minh chứng tình yêu.  Lửa thử vàng, gian nan thử tình yêu.  Tình yêu cải biến, chinh phục lòng người.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

From: Langthangchieutim

Sống Vui Hiện Tại…

 SUY GẪM

Sống Vui Hiện Tại…

Chúng ta đôi lúc nhớ, sống với những kỷ niệm của quá khứ đã qua và lo sợ, thắc mắc về tương lai sắp đến.

Nhưng cho dù bạn và tôi có sống nhiều về quá khứ hay lo lắng về tương lai … thì hiện tại hoa vẫn nở, mây vẫn bay thì giây phút sống vui với hiện tại vẫn là niềm vui quan trong nhất trong ngày hôm nay. Tại sao bạn và tôi không tận hưởng? Let smiling!

***

Hạnh phúc thật là khó cắt nghĩa quá, phải không bạn?

Hạnh phúc khi ẩn khi hiện, khi có khi không tùy theo quan điểm, hoàn cảnh sống và cách nhìn của mỗi người về hạnh phúc. Vì chưa hẵn người giàu ở nhà cao cửa rộng là người có hạnh phúc và cũng chưa chắc người nghèo ở nhà tranh vách lá là người không có hạnh phúc, bạn nhỉ?

Nhiều cuộc khảo cứu cho thấy rằng: “Những người không hạnh phúc là những người thường lo nghĩ, luôn bất đồng và không chấp nhận ý kiến của người khác. Người có hạnh phúc là nguời dễ hòa đồng với mọi người chung quanh, có thể chấp nhận những điểm bất đồng một cách dễ dàng, uyển chuyển, có lòng thương yêu, cảm thông và tha thứ.”

Cũng có thể những người không có hạnh phúc là những người thích so sánh, ghen tị với người khác những gì mình chưa có hay muốn mình.

Ví dụ như chúng ta không bằng lòng với ngôi nhà chúng ta đang ở, cái xe chúng ta đang đi vì thấy người bạn của ta mới mua một căn nhà to đẹp hơn, đi xe BMW sang trọng hơn cái xe Honda ta đang đi trong khi khả năng tài chánh của mình lại không thể đáp ứng với ước muốn của mình!

Thế là chúng ta buồn bực, thế là chúng ta đau khổ!

Bạn có đồng ý với tôi chăng: – Có những ước muốn có thể làm thăng hoa cuộc sống nhưng cũng có những ước muốn quá sức và không chính đáng sẽ làm mất đi hạnh phúc mà mình đang có … vì ước muốn thì vô giới hạn, không có điểm ngừng?

Những sự so sánh đó, những ước muốn đó sẽ đem đến những “phiền não”. Nếu ta bớt đi được những phiền não đó thi ta sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn.

Hãy hạnh phúc với những gì mình đang có trong tầm tay và tự nhủ rằng: “Những người ở nhà to, đi xe đẹp kia có thể là những người đang mắc nợ như “Chúa Chổm”, nếu mất việc thì họ sẽ mất nhà mất xe ngay.”

Tình hình kinh tế suy thoái vi đại dịch đã chứng minh điều này là đúng vì không thiếu gì nhà to đẹp đã ở trong tình trạng “Foreclosure” và nhiều chủ nhà đó đã trở thành dân “homeless” vì bị mất việc, doanh nghiệp bị đóng cửa!

Vậy bạn hãy cùng tôi vui sướng đi khi bạn và tôi còn đang còn ở trong ngôi nhà nhỏ bé nhưng ấm cúng hiện tại, bạn nhé!

Bạn và tôi hãy cùng vui cười sống vui trong hiện tại nếu chúng ta có cùng một suy nghĩ như ông lão trong câu chuyện dưới đây:

Ba điều sướng nhất.

Ngày xưa, có ông lão cứ vui cười ca hát suốt ngày. Thấy lạ, có người hỏi:

– Tại sao ông vui tươi mãi như thế?

Ông lão đáp:

-Trời sinh ra muôn loài muôn vật, trâu chó dê ngựa… Người là sinh vật cao nhất, “Tối linh ư vạn vật”. Ta được làm người. Ấy là điều sướng thứ nhất.

-Trời sinh có người tàn tật, đui què. Ta được lành lặn, ấy là điều sướng thứ hai.

-Người đời thường vì sự giàu có, danh vọng mà phải gian khổ. Ta có ăn đủ một ngày ba bữa, không lo lắng gì cả. Ấy là điều sướng thứ ba.

Còn như sinh lão bệnh tử là điều không ai tránh được. Ta cũng như mọi người, thì việc gì phải buồn.

May be an image of 1 person and text that says 'LIFE is Beautiful One Day One Hour One Min It's Not Come Again So Please Avoid Fight Avoid Angry Speak Lovely and Spread Your SMILE. quotes-central.com'

Gia đình tôi và ngày 30.04

Gia đình tôi và ngày 30.04

BS.Trần Văn Tích

Vào ngày 30.04.75 tôi đang giữ chức vụ Y sĩ trưởng Bệnh xá Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo. Nhân viên tình báo an ninh được xếp vào thành phần bị đe doạ tính mệnh nếu Miền Nam rơi vào tay cộng sản. Theo tác giả Frank Snepp trong “Sauve qui peut“, bản dịch tiếng Pháp cuốn “Decent Interval“ thì Kissinger yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ biểu quyết chấp nhận cho 130.000 công dân Đông Dương nhập cảnh Hoa Kỳ, trong số có 50.000 người được xem là ở hoàn cảnh “chí nguy“ (de haut risque). Nhân viên Mỹ thuộc cơ quan DAO phải làm việc 24 giờ trên 24 để tiến hành thủ tục di tản các thành phần này*i.

Tuy nhiên cầu di tản hàng không bằng trực thăng (chiến dịch Gió Tới Tấp, Frequent Wind) chỉ hoạt động từ 2 giờ chiều ngày 29 đến 4 giờ 42 sáng ngày 30 thì chấm dứt và chỉ bốc đi được hầu hết người Mỹ và 5.500 người Việt, chí nguy hay không. Trong khi đó thì nhiều tàu Hải quân lúc rời bến di tản vẫn còn rất rộng chỗ. Cuộc di tản bằng đường thuỷ kéo dài nhiều ngày. Ở Sài Gòn đến chiều ngày 30-4, khi VC đã vào chiếm Đô thành rồi, vẫn có những tàu Hải quân bắt đầu nhổ neo di tản. Cả những tàu đã nằm ụ từ lâu ở bến Bạch Đằng hay đang tu bổ ở Hải quân Công xưởng cũng được sửa chữa vội vàng để làm sao có thể chạy thì thôi.

Những ngày cuối tháng tư năm 1975 đó, trong không khí hoang mang lo sợ của toàn Miền Nam, các ông Trưởng ban – chức vụ tương đương với Giám đốc – thuộc Phủ Đặc uỷ thường xuống bệnh xá ngồi nói chuyện với tôi. Họ cho biết phía Mỹ đã yêu cầu Phủ Đặc uỷ thiết lập một danh sách toàn thể nhân viên của Phủ. Các cô nữ thư ký đang đánh máy không ngừng nghỉ danh sách đó, qui tụ đến vài ngàn nhân viên và gia đình. Danh sách đã hoàn tất kịp thời và một phái đoàn của Phủ, gồm một Trung tá và một Đại uý, đã mang danh sách sang Guam để chuẩn bị đón tiếp nhân viên Phủ. Từ ngày 28.04 trở đi, tôi được thông báo phải thường xuyên liên lạc với Phủ để nếu có lệnh tập họp di tản là phải chở vợ con đến địa điểm tập họp ngay tức khắc. Ngày 28 và ngày 29 tôi vào Bệnh xá Phủ và cùng với nhân viên Bệnh xá ngồi chờ lệnh. Chiều ngày 29 tôi không vào trụ sở Phủ ở bến Bạch Đằng mà đến một cơ quan phụ thuộc của Phủ đóng trụ sở tại đường Trần Bình Trọng gần nhà tôi để cùng các nhân viên khác của Phủ ngồi chờ. Rất nhiều nhân viên của Phủ Đặc uỷ không tìm cách khác để chạy trốn cộng sản vì tin tưởng vào lệnh của Phủ bảo phải chờ để được di tản chính thức, hợp lệ. Chúng tôi cùng có chung tâm trạng là người Mỹ đã hứa thì không thể phủ nhận sự tin cậy vào lời hứa của họ để tự minh dấn thân theo những con đường di tản ngoài dự trù.

Tối 30.04, tôi được nhân viên y tá thông báo phải đưa vợ con đến tập trung tại một ngôi nhà an toàn của Phủ nằm ngay sát cạnh Toà Đại sứ Hoa Kỳ trên đường Thống Nhất để chuẩn bị được di tản. Tại địa điểm này tôi đã gặp mặt đầy đủ các giới chức cao cấp phục vụ tại Phủ Đặc uỷ mà tôi từng quen biết hàng chục năm qua. Chúng tôi nằm ngồi la liệt trên sàn nhà. Riêng gia đình tôi được dành cho một cái bàn làm việc. Bà xã tôi và thằng con út nằm nghỉ trên bàn còn tôi và hai đứa con lớn thì chỉ có sàn nhà mà thôi. Cổng ra vào được bộ phận an ninh mang súng M16 canh gác chặt chẽ. Càng về khuya càng sốt ruột vì tiếng máy bay trực thăng lên xuống nóc nhà toà Đại sứ Mỹ ầm ĩ liên miên mà phía chúng tôi không nhận được chỉ thị gì cả. Không thể nào ngủ được và để bớt hoảng sợ, hai ba ông Trưởng ban rủ tôi ra ngoài đến gần Toà Đại sứ Mỹ xem cơ sự ra sao. Chúng tôi đã đứng nhìn cảnh trực thăng vần vũ hạ xuống rồi bay lên trên nóc toà Đại sứ. Chúng tôi đã đứng nhìn cảnh bàn dân thiên hạ đổ xô chen chúc nhau thành một khối người đông kinh khủng trước hai cánh cổng bằng sắt đóng im ỉm của Toà Đại sứ.

Rồi máy bay trực thăng không xuất hiện nữa trong khi trời bắt đầu hửng sáng. Chúng tôi đối diện với sự thực phũ phàng và chỉ còn cách thất thểu ai về nhà nấy. Riêng tôi thì xe Lambretta tôi chở vợ con đến nơi tập trung đã bị đánh cắp. Chúng tôi ra đứng bên lề đường chờ tắc xi nhưng mãi chẳng thấy. Bỗng một chiếc Volkswagen đậu xịch cạnh tôi. Hoá ra đó là xe của một vị Trung tá biệt phái phục vụ trong Phủ. Gia đình tôi lủi thủi lên xe nhờ vị Trung tá chở về nhà.

***

Theo wikipedia thì có 1.932 nhân viên tình báo đã tham gia trình diện “học tập cải tạo”. Hãy tạm chấp nhận con số gần hai ngàn người vào tù mút mùa sau 30.04 vì tin vào lời hứa di tản của phía Mỹ. Trong thực tế, có một số người tránh trình diện mà không ai có thể biết rõ là bao nhiêu. Sau khi tôi ở tù cộng sản về, có vài ba anh em đã đến thăm tôi và cho biết rằng họ giấu biệt gốc gác tình báo nên không bị tù. Trái lại, có nhân viên của Phủ Đặc uỷ nằm trong tù cộng sản đến mười bảy năm và chỉ được “cấp giấy ra trại“ cùng thời điểm với một số sĩ quan cấp tướng Việt Nam Cộng Hoà.

Những ngày cuối tháng tư, thấy phía Tình báo có vẻ im lìm, Hải quân Việt Nam Cộng Hoà đã gọi điện thoại hỏi Tình báo có cần phương tiện di tản bằng đường thuỷ không, nếu cần Hải quân rất sẵn sàng cung cấp. Lúc này phụ trách lãnh đạo Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo là Ông Nguyễn Phát Lộc, Quyền Đặc uỷ trưởng. Người nhấc máy điện thoại để Ông Nguyễn Phát Lộc trả lời phía Hải quân là một vị Đại uý biệt phái, hiện nay đang ở bên Cali. Nhưng Ông Nguyễn Phát Lộc chỉ biết cám ơn Hải quân và từ chối lời mời gọi di tản vì phía Mỹ đã hứa sẽ đảm trách chuyện này rồi. Các chi tiết này tôi được nghe kể lại vào những dịp tôi hội ngộ trên đất Hoa Kỳ cùng cựu nhân viên Phủ Đặc uỷ. Họ sang Mỹ theo diện HO. Có người còn cho biết là Colby, đầu sỏ CIA ở Sài Gòn năm 1975, đã xin lỗi Tướng Nguyễn Khắc Bình vì tổ chức di tản nhân viên tình báo Việt Nam Cộng Hoà thất bại!?

Kết quả là hầu như toàn bộ nhân viên Phủ Đặc uỷ vào tù cộng sản và một số chết trong tù. Ông Quyền Đặc uỷ trưởng Nguyễn Phát Lộc và Ông Trưởng ban T Nguyễn Kim Thuý là hai nhân vật cao cấp nhất hy sinh trong vòng ngục tù Việt cộng. Ông Nguyễn Phát Lộc vốn xuất thân từ Trường Quốc gia Hành chánh. Ông có tài đặc biệt về xem tử vi. Ông đã biên soạn hai ba cuốn sách xem tử vi được giới độc giả rất hâm mộ. Các anh em cùng ở tù với Ông kể cho tôi nghe là Ông Nguyễn Phát Lộc bảo rằng theo tử vi thì số Ông không chết trong tù. Quả nhiên khi Ông lâm bệnh nặng sắp mất thì giặc di chuyển Ông ra khỏi những hàng rào kẽm gai lớp lớp bao quanh trại giam và đưa Ông ra ngoài khu giam giữ tù nhân để cho Ông vào nằm cái gọi là bệnh xá của trại cải tạo và Ông lìa đời tại đây, dẫu sao thì cũng ở ngoài khuôn viên nhà tù cộng sản. Ông Nguyễn Kim Thuý rất thân với tôi khi chúng tôi cùng phục vụ tại Phủ Đặc uỷ. Ông mang nhiều bệnh khá trầm trọng nên thường được tôi khám bệnh cấp thuốc. Khi biết tin Ông vào tù, tôi rất lo cho sức khoẻ của Ông. Quả nhiên Ông đã không thể sống sót để trở về với vợ con. Bà vợ Ông Thuý là Hiệu trưởng một trường Trung học ở Sài Gòn trước 75.

***

Năm 1954, khi giao Miền Bắc cho Việt Minh, người Pháp đã thương thuyết để những người không chấp nhận sống với cộng sản có đủ, thậm chí có thừa, thời gian di cư vào Miền Nam. Do đó đã có chừng một triệu người dân Miền Bắc chọn di cư và tự do. Hải quân và Không quân Pháp phải cáng đáng và đã chu toàn mọi công việc chuyển di, với sự hỗ trợ của chừng ba mươi chiếc tàu thuỷ Mỹ và Anh. Đến lượt mình, năm 1975, người Mỹ đã không làm được như người Pháp.

Họ dự trù ngân khoản, phương tiện, cơ sở để đón những người không được cộng sản cho tiếp tục sống trong chế độ mới. Nhưng họ tính một đàng mà làm một nẻo. Thậm chí vì tin tưởng vào lời hứa của Mỹ nên Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng Hoà đã từ chối lời mời gọi di tản bằng đường thuỷ của Hải quân Việt Nam.

Chiến dịch di tản người Mỹ và nhất là người Việt do phía Mỹ tổ chức ngày 30.04.75 là một chiến dịch tiến hành trong hỗn loạn. Có thể người Mỹ đã rút quân trong danh dự theo Hiệp định Paris nhưng Đại sứ Mỹ Martin thì lại phải ôm quốc kỳ Mỹ tháo chạy trối chết trên nóc toà Đại sứ. Còn người Việt Nam thì chẳng những cả ngàn nhân viên tình báo đã bị kẹt lại mà bên cạnh còn có nhiều nhân vật hoạt động chính trị chống cộng rất tích cực cũng chẳng được ai đoái hoài nên đã không thoát được thân.

Đành rằng Hoa Kỳ đã có những chương trình thương thuyết với Việt cộng để đón tiếp một tập thể rất đông đảo quân cán chính Miền Nam không chấp nhận sống chung với cộng sản. Nhưng cái giá mà người Việt Miền Nam phải trả vì cung cách bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà của Mỹ vẫn là một cái giá quá cao. Hơn nữa, sau Nam Việt Nam, đã có những tình huống bỏ mặc, không quan tâm đến đối với một số các sắc dân hay quốc gia khác đã từng cộng tác với Hoa Kỳ.

Theo suy tư của cá nhân tôi, đây là một cục diện hết sức đáng buồn và đáng tiếc.

06.04.2021

From: Tu-Phung