HÃY CƯỜI ĐỂ CUỘC SỐNG LUÔN ĐẸP

 

HÃY CƯỜI ĐỂ CUỘC SỐNG LUÔN ĐẸP

Có thể bạn sẽ ngất xỉu khi nhìn thấy cảnh một phụ nữ sinh nở – trần trụi và đau đớn. Nhưng bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi chính người phụ nữ ấy, phút trước còn như ở dưới mười tầng địa ngục, bỗng như đã quên tất cả, đón vào vòng tay mình cái sinh linh bé nhỏ thân thương, và mỉm một nụ cười của hạnh phúc thiên đàng, sẵn sàng cho cuộc sống làm mẹ đầy gian nan nhưng cũng rất ngọt ngào sắp tới.

Có thể bạn đã từng cãi nhau với một đứa bạn thân. Hai phía đều tổn thương ghê gớm. Đã có rất nhiều nước mắt. Đã có vô số hờn giận. Bạn tự nhủ rằng từ nay, coi như đã mất đi đứa bạn mà tưởng như sẽ có trọn đời. Vậy mà, chỉ một tuần sau, bạn bỗng thấy nhớ nụ cười của nó ghê gớm. Và khi nhìn thấy nó đang liếc nhìn mình, e dè dò xét, bạn lấy hết sức bình sinh nở một nụ cười cầu hoà. Và bất ngờ đến sững sờ khi lao tới đón nhận nụ cười của bạn là một nụ cười ngỡ ngàng sung sướng của nó. Và những hờn giận bỗng bốc hơi như sương trong một ngày nắng đẹp, chỉ sau có hai nụ cười.

Có thể bạn chưa biết rằng, trong những ngày tăm tối nhất của chiến tranh, có những người lính đã hạ nòng súng khi thấy người lính đối phương đang trong tầm ngắm của mình bỗng mỉm cười khi đọc lá thư nhà. Nụ cười đã khiến con người gặp con người, đã làm nguôi ngoai đi những điều tưởng chẳng thể nguôi ngoai, làm vơi đi định kiến và thù hận.

Có những ngày của thất bại và buồn nản. Tưởng như xung quanh bạn chẳng còn chút gì hy vọng, tương lai là một khối mù mịt không ánh sáng. Bạn bỗng thấy chú mèo con đang đùa nghịch với bóng nắng, nhẩy cẫng lên với một cái đuôi xù lên như một cây thông Noel! Bạn bỗng thấy mình mỉm cười. Và sau nụ cười đó, mọi thứ như sống lại. Những chuyện khủng khiếp bỗng không còn quá khủng khiếp, bạn cảm thấy mình hoàn toàn có thể tiếp tục sống và bước tới.

Nụ cười có thể làm niềm vui sống thức giấc và vươn vai trong bạn, như tia nắng đầu tiên sau đợt mưa dài báo hiệu những ngày sáng sủa, như tiếng gà gáy lúc vẫn còn đêm báo hiệu trời sắp hừng đông, như cơn mưa đầu tiên báo hiệu đã qua thời hạn hán. Một điềm lành do chính bạn tạo nên trên môi mình, nói rằng bạn đã bỏ lại quá khứ không thể thay đổi lại phía sau để sẵng sàng sống cho những điều sắp đến. Nụ cười báo hiệu là bạn đã ra khỏi trạng thái tê liệt, thụ động trước số phận, đang quay lại với cuộc sống, chủ động nắm lấy vận mệnh của mình.

Dù biết rằng, cười trong những khoảnh khắc khó khăn là điều không hề dễ. Nhưng hãy biết rằng trong mỗi chúng ta luôn đủ dũng cảm cho một nụ cười, để rồi ngay từ khoảnh khắc ấy quay lại là chính mình, can đảm mà bước tới.

@ Suy ngẫm

+ Nụ cười sẽ cho bạn một sắc thái tích cực

Khiến người khác thấy thoải mái khi ở bên bạn.

+ Nụ cười xuất từ nội tâm

Là một loại ngôn ngữ đẹp nhất trên thế giới.

Như ánh nắng và nhịp cầu,

nụ cười đem đến sự ấm áp và hòa ái

đến tất cả mọi người.

@ Cầu nguyện

Lạy Mẹ Maria!

Mẹ mỉm cười con dây vững tâm

Bước vui can trường lòng phấn chấn

Vòng tay ôm ấp xóa đau thương

Loan báo Tin Vui sống nhịp nhàng.

Con noi gương Mẹ mỉm cười vui

Rạng rỡ cho đời bớt dỗi hờn

Rộng lượng thứ tha mở lối đi

Nước Trời phía trước miệng vui ca. Amen.

May be an image of 1 person

Nhu cầu xây dựng văn hóa thảo luận công chúng

Nhu cầu xây dựng văn hóa thảo luận công chúng

Phạm Phú Khải

Đối thoại, hay thảo luận, là một hoạt động vô cùng tự nhiên không thể thiếu được giữa con người với nhau.

Thế nhưng, muốn thật sự đối thoại, tuy không khó, cũng lắm rào cản. Nào là tôn giáo, chính trị, ngôn ngữ, phái tính v.v… Nhưng không có rào cản nào lớn hơn định kiến con người.

Đối với người Việt Nam, đối thoại dường như là một thử thách không ngừng. Nó chưa có trong văn hóa hành xử của chúng ta. Thay vì đối thoại, thảo luận, đại đa số dường như độc thoại, kết luận. Thành kiến, định kiến dường như đã có trong đầu trước khi bắt đầu thảo luận. Nhưng trong thế giới con người, sự thật chỉ là tương đối. Sự thật tuyệt đối thuộc về Thượng Đế, cõi tâm linh. Vậy mà con người vẫn tranh giành nhau tính tuyệt đối đó để rồi không thể nào đối thoại và hòa đồng với nhau.

Ngay cả giữa giới trí thức hàn lâm với nhau cũng hiếm khi nào thấy những cuộc đối thoại đúng đắn, sâu sắc. Hồi xưa, cách đây gần 100 năm, vẫn còn có đối thoại giữa Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, giữa Phạm Quỳnh và Phan Khôi, giữa tân/Tây học và cựu/Nho học v.v… Hơn 100 năm qua, bao nhiêu thay đổi trên thế giới, với bao tang thương chết chóc. Nhưng cùng lúc có bao nhiêu quốc gia trước kia phong kiến, độc tài nay trở thành nền dân chủ cấp tiến, như Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan, chẳng hạn. Ngày nay, nhìn những người Việt được xem là trí thức, từ những tiến sĩ đến luật sư tương đối có tiếng tăm, vậy mà khi đọc phải các trao đổi giữa họ với nhau, tôi không nhận ra được tinh thần đối thoại, thảo luận hay tranh luận đúng nghĩa nào. Phần lớn vẫn nói móc, nói xiên xỏ, thái độ trịch thượng và coi thường người đối diện lẫn người quan sát thảo luận, vẫn là đặc tính chung.

Gần đây có vài vụ kiện nhau về tội mạ lỵ, phỉ báng tại Mỹ, ngay cả giữa các trí thức, khoa bảng. Còn trên mạng thì chỉ thấy toàn chửi nhau, hiếm thấy có sự lý luận đối thoại nào. Để tấn công người khác, người ta viết/nói hay làm video với tư thế như một quan tòa nhưng tri thức và chuyên môn thì không có. Trong bầu không khí vẫn đục như thế thì những ai dù có quan tâm và lương tri chắc cũng chẳng muốn nói gì.

Tất nhiên, muốn đối thoại/thảo luận đúng nghĩa thì phải cần mọi bên tham dự tôn trọng nhau, xem nhau bình đẳng trong quyền thể hiện quan điểm/tư tưởng. Đó là điều kiện thiết yếu để vượt qua rào cản. Nếu không có các điều kiện này, đối thoại dễ trở thành độc thoại, hoặc chỉ là một thứ giao tiếp một chiều.

Trong một môi trường lành mạnh, nơi an toàn tâm lý dung chứa, con người sẽ sẵn sàng bày tỏ các ý tưởng của mình mà không ngại hay sợ bị đánh giá. Khi một người, một tập thể, một cộng đồng, hay một đất nước làm được như thế thì những ý tưởng sáng kiến tuyệt vời sẽ được nở rộ. Quốc gia và quốc dân chỉ có thể thăng hoa nếu tư tưởng được tự do, nếu con người có thể tự do bày tỏ suy nghĩ hay chính kiến của mình. Bởi ý kiến, sáng kiến đó, sau khi được trao đổi với nhau, sau khi được thảo luận và tranh luận, thì những gì còn lại được quy trình gạn lọc thành hoa thành trái. Các nền dân chủ cấp tiến (liberal democracy) đều thể hiện rõ các đặc tính này trong mọi mặt đời sống của họ, từ môi trường công sở, giáo dục, doanh nghiệp cho đến ngay tại ngôi nhà mình.

Trong mọi ngành nghề và lĩnh vực, kể cả chính trị, ý/tư tưởng mới thật sự là quan trọng. Xã hội là một thị trường của bao ý tưởng cạnh tranh nhau (market of competing ideas). Người lãnh đạo phải là người có tư tưởng, bởi có tư tưởng mới có tầm nhìn xa. Cho nên không có gì ngạc nhiên khi bà Eleanor Roosevelt đã từng nói như sau: “Những bộ óc vĩ đại thảo luận về các ý tưởng; bộ óc trung bình thảo luận các sự kiện; bộ óc nhỏ bé thảo luận về con người”.

Người dân thuộc các nền dân chủ cấp tiến hiểu rất rõ giá trị của đối thoại, thảo luận. Diễn ngôn công cộng (public discourse) là nơi mà công dân có thể nêu ra các quan tâm của mình và định hình quan điểm sau thảo luận. Nó là đặc tính của một nền văn hóa đề cao sự trao đổi ý kiến với nhau một cách tự do và bình đẳng. Các nền dân chủ không thể hình thành nếu công dân thiếu quan tâm và thiếu hiểu biết để tham gia thảo luận các vấn đề hệ trọng. Cho nên các cuộc thảo luận công cộng diễn ra mọi nơi, đặc biệt là tại tòa thị chính (town hall). Các cuộc họp tại town hall được xem là một định chế chính trị không còn gì quý giá hơn tại Mỹ, nhất là để phát huy năng lực của công dân. Chính khách và người dân đến đó để bàn thảo và tranh luận về mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống con người. Giờ đây các town hall này ở mọi nơi vắng tanh, chẳng còn được dùng như một thời.

Nhưng không chỉ trong lĩnh vực công cộng, mà ngay cả trong lĩnh vực riêng tư, đối thoại cũng quan trọng không kém. Ngay trong gia đình, cha mẹ cũng tìm mọi cách để đối thoại với các con, bởi mọi cuộc đối thoại chỉ có giá trị trên tinh thần bình đẳng, ngang hàng. Nghĩa là cha mẹ muốn đối thoại với con cái thì không thể dùng uy quyền của cha mẹ, mà cần xem con cái, dù chưa đủ tuổi trưởng thành, vẫn có những quyền căn bản của một con người. Ngày nay, các quyền trẻ em đã được ghi nhận trong công ước quốc tế, và được nhiều quốc gia đưa vào thành pháp luật hẳn hoi. Quyền trẻ em, như Điều 14, là tự do tư tưởng, lương tâm và chính trị, hay Điều 13, là “quyền tự do ngôn luận; quyền này sẽ bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng dưới mọi hình thức, bất kể biên giới, bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bản in, dưới hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất kỳ phương tiện nào khác mà người trẻ lựa chọn.”

Tuy nhiên, văn hóa tranh luận, và tinh thần thảo luận công cộng, tại các nền dân chủ cấp tiến hiện cũng đang xuống cấp một cách đáng quan ngại. Sự phân hóa trong quan điểm, về chính trị, tôn giáo và các lĩnh vực khác, quá sâu sắc để không thể có sự đối thoại hay tranh luận đúng nghĩa. Công nghệ thông tin, truyền thông xã hội, thuật toán (algorithms) thay thế cho các biên tập viên làm người gác cổng thông tin, cũng như tin giả tràn ngập mọi ngõ hẻm, đã mang lại những thử thách to lớn đối với văn minh nhân loại khắp nơi.

Ngày nay, trong truyền thông và trong quốc hội của các nền dân chủ cấp tiến, hiếm khi thấy lãnh đạo chính trị thảo luận hay tranh luận một cách hài hòa. Hiếm khi thấy tinh thần biết lắng nghe và biết phản hồi một cách thuyết phục dựa trên lý luận và chứng cớ. Cuộc tranh luận trong bầu cử Mỹ năm 2016, 2020 và bao sự kiện chính trị khác cho thấy được điều này. Nhưng nó không chỉ xảy ra trong chính trị, mà hầu như mọi lĩnh vực khác. Người ta không còn kiên nhẫn để lý luận với nhau, mà chỉ muốn kết luận, lắm khi dựa trên thành kiến, định kiến đã có. Lý luận nhường chỗ cho các miếng âm thanh (sound bite), được trích dẫn trên các đài truyền thanh, truyền hình, và nhất là truyền thông xã hội. Không còn mấy ai chịu khó tìm hiểu kỹ càng, và đọc kỹ các quan điểm hay nhận định của một người nào đó một cách đầy đủ. Thông tin tràn ngập cũng là một vấn nạn lớn trong việc tiếp thu và tiêu hóa. Hơn nữa, sự bất toàn của con người cũng bị truyền thông mọi hướng phanh phui làm cho sự nghi kỵ và coi thường nhau ngày càng gia tăng.

Cũng vì tư duy này nên tin giả, từ tin sai lệch (misinformation) đến tin thất thiệt (disinformation), đã trở thành một vấn nạn của thời đại. Nó có khả năng làm sói mòn hay tiêu diệt nền dân chủ trên đường dài nếu một thành phần dân số thiếu sự trang bị, nhất là tư duy phản biện.

Sự ám sát nhân cách (character assassination), tấn công vào cá nhân hơn là chính sách hay tư tưởng của một người, ngày càng lên ngôi.

Trong thời đại công nghệ thông tin, mọi chuyện xảy ra trên thế giới không bao lâu sau đều có thể đến mọi nơi, và có khi được phát đi trực tuyến, nên thời gian không còn là vấn đề. Lằn ranh biên giới hay không gian trước đây bây giờ mang nặng tính vật lý, hơn là tâm lý. Hồi xưa viết một lá thư mất vài tuần hay vài tháng để đến một nước khác. Bây giờ chỉ mất vài giây. Tốc độ và nồng độ ngày càng gia tăng, không phải gia giảm. Tâm lý so sánh và trông chờ của con người, vì thế, cũng thay đổi hẳn. Những trò chơi điện tử tưởng thưởng liên tục để kích thích và thỏa mãn thần kinh con người. Như thế, tâm lý chung là người ta mong đợi mọi thứ mình làm phải có kết quả liền, còn chờ đợi vài tiếng hay vài hôm là quá lâu. Là không thể chấp nhận.

Có thể nói kiên nhẫn là đức hạnh quý hiếm thời đại nay. Sự kiên nhẫn chịu đựng trước kia dường như không còn. Thiếu kiên nhẫn với nhau, con người trở nên thiếu cảm thông, thiếu tôn trọng, và dễ bất đồng. Dù chưa lắng nghe đủ, mà đã vội kết luận nhau. Một xã hội không có sự cảm thông và tôn trọng thì không thể nào có đối thoại. Bởi lẽ đối thoại mà chỉ để vừa lòng nhau, không thẳng thắn đặt ra các vấn đề hay các câu hỏi quan trọng nhưng nhức nhối, thì đối thoại như thế có cần không? Trong khi đối thoại đích thực là không có vấn đề hay khía cạnh gì là cấm kỵ cả, nhất là các điều đó ảnh hưởng hệ trọng đến bao người khác.

Nhưng văn hóa diễn ngôn công cộng không hiện hữu tại Việt Nam hiện nay hay trước đây. Nó phần nào có hiện hữu thoáng qua giữa thành phần ưu tú, trí thức trong một vài thời điểm của lịch sử Việt Nam, nhưng chưa hề đi vào lòng dân chúng. Việt Nam chưa đi qua tiến trình hiện đại hóa đúng nghĩa, và chưa hề có một nền dân chủ cấp tiến đúng nghĩa. Trong 20 năm ngắn ngủi của Việt Nam Cộng Hòa, miền Nam đang trong thời kỳ dầu sôi lửa bỏng của chiến tranh, nên dù muốn cũng không thể nào xây dựng được tinh thần đối thoại, thảo luận đúng nghĩa. Cho nên diễn ngôn công cộng tại Việt Nam không bị mất hay bị sói mòn, như đang diễn ra tại các nước Tây phương. Tuy nhiên trong bối cảnh chính trị mà diễn ngôn công cộng đang bị sói mòn khắp nơi như thế, sự tranh tối tranh sáng trở thành một vấn đề lớn, và việc đề cao xây dựng văn hóa diễn ngôn công cộng là một thách thức cực kỳ to lớn.

Hệ quả là, có người chưa biết nói một cách văn minh mà đã biết chửi một cách hàm hồ. Người ta không cần lý do và luận cứ để lên án kết tội người khác. Tự do ngôn luận, đối với họ, là bất kể phạm trù đạo đức. Ở trong nước bị xiết cổ tự do ngôn luận nên không còn mấy ai dám phê phán chính quyền, trừ phi sống ngoài nước. Nhưng ở ngoài nước, người ta tự tung tự tác chụp mũ vô tội vạ. Bất cứ ai cũng có thể bị vu khống, mạ lị hoặc bị đội nón cối chỉ vì khác quan điểm. Đây là lối hành xử của một số người trên mạng, nhất là Facebook. Chứng kiến những người tôi quen biết vì khác quan điểm với nhau rồi tố cáo chụp mũ nhau làm tôi thật sự sửng sốt và hãi hùng. Trước đó họ đều quen nhau, có khi cũng rất thân với nhau nữa. Còn những người khác thì tuy có học và bằng cấp, họ lại không dùng tư duy phản biện để nhận xét đánh giá vấn đề một cách khách quan. Họ cũng không chịu tìm hiểu điều gì kỹ lưỡng mà lại dễ dàng đi đến kết luận và kết tội một cách vội vàng. Phải chăng người ta quên rằng suy nghĩ là một tiến trình, và trước khi quyết định điều gì hệ trọng, nó cần phải dựa trên chứng cớ và lập luận vững chắc, xuyên suốt. Không có tiến trình đó thì mọi quyết định dễ có lổ hỏng, có vấn đề. Sự nhận định vội vàng đưa đến đánh giá sai lầm như thế xảy ra rất thường xuyên cho cả những người Việt ở đây lâu và nói tiếng Anh khá. Tôi ngạc nhiên và không biết làm sao giải thích hiện tượng này. Chắc có lẽ thói quen, ăn sâu vào trong tiềm thức, đã trở thành phản xạ tự nhiên mà họ không kiểm soát hay kiềm chế.

Nói chung, văn hóa đối thoại thảo luận một cách tương kính hài hòa vẫn còn rất hiếm trong người Việt, dù đã ở xứ sở dân chủ rất lâu. Biết lắng nghe, nhận lỗi, phục thiện, tương kính, và nhất là tinh thần bao dung và tử tế trong cách giao tiếp đối xử với người chung quanh, là nền tảng của một xã hội văn minh. Tôi không nhìn thấy nhiều yếu tố này tại Việt Nam hay người Việt chung quanh tôi, mặc dầu tôi vẫn tin rằng người lương thiện tử tế ở đâu cũng có.

Tôi vẫn nghĩ người Việt đều mong muốn nhìn thấy một nước Việt Nam tự do, dân chủ trong đó quyền con người được tôn trọng. Nhưng chúng ta không thể đóng góp gì được nhiều cả nếu chúng ta không tự thay đổi chính mình. Nếu không thể đối thoại, thảo luận, là bước đầu tiên để cùng tìm ra mục đích chung và con đường chung, và phương án hoạt động chung, thì làm sao có thể đi thêm các bước tiếp theo.

Cho nên thay đổi chính mình và những người chung quanh mình là bước đầu căn bản. Nhân quyền không phải là tranh đấu cho những gì hay những ai xa xôi. Nó phải được diễn ra ngay trước mặt mỗi người, bên cạnh mỗi người, chung quanh mỗi người. Như bà Eleanor Roosevelt từng phát biểu thuyết phục:

“Rốt cuộc, nhân quyền phổ quát bắt đầu từ đâu? Ở những nơi nhỏ, gần nhà – gần và nhỏ đến mức không thể nhìn thấy chúng trên bất kỳ bản đồ nào trên thế giới. Tuy nhiên, chúng là thế giới của mỗi cá nhân con người; khu phố người đó sống; trường học hoặc trường đại học mà người đó theo học; nhà máy, trang trại hoặc văn phòng nơi người đó làm việc. Đó là những nơi mà mọi người nam, người nữ và trẻ em đều tìm kiếm công lý bình đẳng, cơ hội bình đẳng, nhân phẩm bình đẳng, không bị phân biệt đối xử. Trừ khi những quyền này có ý nghĩa ở đó, chúng có rất ít ý nghĩa ở bất cứ đâu. Nếu không có hành động phối hợp của công dân để duy trì chúng gần nhà, chúng ta sẽ vô vọng nhìn ra sự tiến bộ trong thế giới rộng lớn hơn.”

Dân chủ là một tiến trình; là một văn hóa hành xử; là cách thể hiện tinh thần thấu cảm và bao dung trước những khác biệt về sắc tộc, tôn giáo, chính kiến, phái tính, v.v… Dân chủ là tôn trọng quyền tự do, hay nói chung là các quyền căn bản của con người. Xây dựng văn hóa diễn ngôn/thảo luận công cộng nơi tự do biểu đạt và tư tưởng được tôn trọng là điều tối quan trọng trong thời gian tới. Đó là con đường không thể bỏ qua. Không tôn trọng các nguyên tắc và giá trị này, như chế độ cộng sản Việt Nam và các nhà nước độc tài đang làm, thì đừng mong Việt Nam hay thế giới sẽ thay đổi tốt hơn. Bởi mọi sự thay đổi lớn nhỏ đều phải bắt nguồn từ những cá nhân nhỏ nhoi như mỗi chúng ta.

– Trên mạng thì chỉ thấy toàn chửi nhau, hiếm thấy có sự lý luận đối thoại nào.

May be an image of text that says 't twitter facebook'

Hình minh họa.

Miệng lưỡi thế gian

Miệng lưỡi thế gian.

Nhà họ Mã ngày trước chuyên nghề nuôi dạy ngựa và bán ngựa. Có một dạo gia đình ông suy sụp vì con ông bị bệnh nặng, đã vét hết tiền trong nhà mà con ông vẫn không khỏi. Ông bán hết số ngựa nuôi để lo thang thuốc cho con. Con ông sống được. Từ đó ông bắt đầu dành dụm, tằn tiện được một số tiền. Ngày nọ Mã ông nghe ở Hương Lâm có bán một giống ngựa quý, ông đến nơi đó xem tướng ngựa thật kỹ, biết đó là giống ngựa hay, thuộc loại Hoàng Phiêu, mặc dù nó có phần hơi gầy. Mã ông thích quá, nên chịu mua với giá đắt. Ông về nhà bàn lại với con:

– Phụ thân xem biết nó rất quý, dù hơi gầy, thuộc giống Hoàng Tuyết Phiêu của người Khương. Nhà ta gây được giống này sẽ làm giàu không mấy hồi.

Ngặt vì xa ngót ngày đường, qua đèo truông e có cướp, nên cha con ta cùng đi. Hai cha con họ Mã thử ngựa và ngã giá xong, tra yên cương, cha con đồng lên ngựa ra về, lòng thấy hoan hỉ.

Họ đi qua một xóm nhà, Mã ông khiêm tốn cho ngựa đi nước kiệu, dân làng đón ông lại nói:

– Mã lão! Ông là người nuôi ngựa, sao không biết thương ngựa? Con ngựa gầy thế kia, còn cha con ông cọp ăn bảy ngày không hết, nỡ nào cả hai lại đè trên mình nó?

Ông Mã nói với con mình:

– Họ nói phải đấy con ạ! Vậy cha nhường cho con cưỡi. Cha cầm cương cho.

Thế là một mình Mã công tử ngồi ngựa, ông Mã đi bộ theo. Họ yên tâm đi xóm nhà khác, bây giờ trời đã khá trưa, những người ngồi mát trên đường thấy cảnh cha con họ Mã như vậy, họ kéo ra đón đầu ngựa, xỉ vả người con:

– Ai dạy công tử về cách hiếu đạo như thế? Con thì ngồi ngựa kênh kiệu, để cha chạy bộ theo đổ mồ hôi! Qua cánh đồng kia có học hiệu Khổng Môn, chắc họ đánh công tử trào máu ra mất!

Mã công tử lật đật nhảy xuống ngựa, chắp tay thưa với cha:

– Họ nói phải đấy cha ạ! Nãy giờ con cũng khỏe rồi, cha hãy cưỡi nó cho đỡ mệt. Người cha lên ngựa đi, ngang qua “Khổng Môn học hiệu”, một số học trò ở đó biết mặt ông già, chúng chạy lại đón ông nói:

– Mã lão bá! Lão bá lâu nay mạnh giỏi chứ? Nghe nói lệnh lang lâu nay bệnh thập tử nhất sinh, nay mới vừa hơi bình phục lão bá để lệnh lang nhọc nhoài cho đành. Mã lão nhảy xuống ngựa nhìn con rồi thì thầm:

– Kể ra họ nói cũng phải. Kể không còn bao xa, ta dắt ngựa đi vậy. Hai cha con xuống ngựa dắt bộ, hồi lâu đến xóm khác, có ai đó nhìn ngựa rồi chửi:

– Đúng là cha con một lão vô học. Đây là giống Hoàng Tuyết Phiêu, một loại thiên lý mã, mua về để cưỡi hoặc làm giống, nào phải mua về để thờ, sao có ngựa lại không cưỡi?

Cha con họ Mã thiếu điều muốn khóc. Lão nói với con:

– Cưỡi ngựa cũng bị chửi, mà không cưỡi cũng bị chửi! Ta chịu hết nổi! Thôi thả quách cho xong! Hai người dắt đi một đoạn cho khuất mắt mọi người, rồi tháo cương, cởi yên, đánh một roi, ngựa dong tuốt vào rừng mất dạng. Về đến nhà, bà cụ nghe đón đầu ngõ. Ông cụ thuật lại mọi chuyện. Bà cụ nghe qua đấm vào đầu bình bịch, vừa khóc vừa nói:

– Ngu sao là ngu! Có bao nhiêu tiền nong vét đi mua ngựa, rồi thả ngựa đi! Xưa nay miệng lưỡi thế gian. Việc mình mình cứ làm, chiều ý, nghe lời họ làm gì? Rồi đây lấy gì mà sinh sống, lấy gì mà cưới vợ cho con? Ngu ơi la ngu!…

Lời bàn:

Ðôi khi chúng ta cũng bị ảnh hưởng rất nhiều vì những lời khen chê của thiên hạ. Dĩ nhiên chúng ta cần phải biết lắng nghe những ý kiến xây dựng của những người có thiện chí muốn giúp đỡ chúng ta. Tuy nhiên chúng ta không nên để mình bị “rung động” bởi những lời dèm pha thiếu nền tảng của người khác.

Quả là, không “ở sao cho vừa lòng người”! Ông già họ Mã hiền hậu đến mức thiếu tự tin. Những người ngoài nhìn vào làm sao hiểu được tình trạng của họ Mã và con ngựa kia như thế nào?

Ý kiến nào họ nói cũng phải, nhưng trước nhất họ Mã phải biết đánh giá được cái việc của mình. Tục ngữ có câu: “Chín người mười ý”, thì ý thứ mười là ý mình vậy. Mua ngựa là quyết tâm, mà giữ được “quyết tâm” (chỉ con ngựa) là thiếu quyết định. Thiếu một trong hai cái đều hỏng.

(Hoài Nguyễn chuyển bài)

May be an image of ocean

Đại dịch, bản năng đổ lỗi, và những cuộc săn dê tế thần

Đại dịch, bản năng đổ lỗi, và những cuộc săn dê tế thần

Khi chọn được vật tế thần, ta yên chí rằng chỉ cần loại nó đi, tất cả sẽ sạch tội.

  04/06/2021

By  HIỀN MINH

Ảnh gốc: Thanh Niên. Đồ họa: Luật Khoa.

Ảnh gốc: Thanh Niên. Đồ họa: Luật Khoa.

 Bên dưới bức thư xin lỗi đăng trên trang Facebook Muối và Ánh sáng của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng ngày 30/5/2021 là hàng loạt các bình luận chửi bới, mỉa mai, công kích.[1]

“Tắt văn dùm, vì sự vô ý thức, thái độ thiếu trung thực của các ông các bà mà ảnh hưởng đến bao người. Thay vì cảm ơn chúa thì hãy cảm ơn các y bác sĩ ấy.”

“Nếu ngay từ đầu hợp tác và khai báo trung thực thì hậu quả đâu đến mức này? Giờ viết thư xin lỗi để làm gì trong khi biết bao nhiêu con người ngoài kia đang phải chịu ảnh hưởng và gồng mình chống dịch […]”

“Thay vì viết cái lá thư sáo rỗng này thì ông bà nên thành thật khai báo đã tiếp xúc những ai để cho chính quyền còn biết mà khoanh vùng dịch cho đúng. Khỏi bệnh rồi thì bán hết tài sản để nộp cho quỹ phòng chống dịch bệnh đi, nguy hại mà gia đình ông bà gây ra cả mấy triệu dân ở thành phố này đang phải gánh chịu đấy. Đừng có nói mồm hay viết tay suông.”

“Tụ tập đông người trong phòng kín, không đeo khẩu trang (mặc dù đang có dịch và có quy định phải đeo khẩu trang nơi công cộng và chỗ đông người) thì lỗi của ai đây? Thiệt hại của hàng triệu con người cả thành phố do hậu quả của việc này thì ai chịu trách nhiệm đây?”

Giữa đợt bùng phát dịch lần thứ tư tại Việt Nam, tất cả sự chú ý dường như đang dồn vào một cái tên: Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng. Từ ba ca nhiễm được phát hiện vào hôm 26/5, họ bị quy kết trách nhiệm cho hàng ngàn ca nhiễm mới trong thành phố. Truyền thông đưa tin dồn dập về họ. [2] Các phản ứng chính sách diễn ra liên tiếp chỉ trong vài ngày: khởi tố vụ án (30/5), đề nghị đình chỉ hoạt động và rút giấy phép hoạt động tôn giáo (1/6). [3] [4] Ban Tôn giáo còn lên tiếng cả về cách họ gọi tên tổ chức mình (không phải hội thánh!), cách họ gọi tên chức sắc tôn giáo của mình (không phải mục sư!). [5]

Các bài viết về chuyện xử lý vụ việc này thu hút hàng loạt bình luận cho rằng nhà nước thật “anh minh”, và việc quản lý các điểm nhóm tôn giáo phải được siết chặt hơn nữa.

Cảnh phong tỏa ở khu vực nơi tín đồ của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng sinh hoạt. Ảnh: Kênh 14.

Cảnh phong tỏa ở khu vực nơi tín đồ của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng sinh hoạt. Ảnh: Kênh 14.

Những dữ kiện bị phớt lờ

Có một vài dữ kiện mà những người đang nhiệt tình kết án nhóm sinh hoạt chỉ có hơn 50 thành viên kia bỏ qua.

Thứ nhất, không có bằng chứng cho thấy nhóm sinh hoạt này giấu thông tin hay vi phạm các quy định phòng chống dịch. Các thông tin trên báo chí về chuyện đeo khẩu trang hay không, tập trung bao nhiêu người đều rời rạc và thiếu căn cứ. Người quản nhiệm hội thánh khẳng định rằng họ đã tuân thủ các quy định và không giấu thông tin. [6] Cho dù viết thư xin lỗi và mong được lượng thứ, họ không hề thừa nhận làm lây lan dịch bệnh. Vụ án mới chỉ bắt đầu được điều tra, chưa đưa ra kết luận gì.

Thứ hai, chưa rõ nguồn lây nhiễm và thời điểm lây nhiễm của những ca bệnh thuộc hội thánh này. Những dấu hiệu đầu tiên của đợt lây nhiễm mới nhất đã xuất hiện từ tháng Tư, nhưng các hoạt động vẫn diễn ra bình thường. Người dân cả nước vẫn nghỉ lễ và du lịch khắp nơi trong kỳ nghỉ 30/4 và 1/5. Đến ngày bầu cử 23/5, khi dịch đã bùng phát mạnh ở các tỉnh phía Bắc, nhà nước truyền đi thông điệp quyết tâm tổ chức thành công kỳ bầu cử trong mọi tình huống của dịch. [7] Ngay cả tâm dịch Bắc Ninh và Bắc Giang cũng hô hào quyết tâm. [8] Các cán bộ mang luôn cả thùng phiếu vào trong bệnh viện, tới tận giường của những bệnh nhân nằm liệt tại chỗ để họ bỏ phiếu. [9]

Nếu như mầm bệnh đã có trong cộng đồng từ lâu, chỉ với hai sự kiện nói trên, việc truy nguyên là gần như bất khả. Các ca nhiễm từ hội thánh hoàn toàn có thể là lây chéo từ những chuyến du lịch trong kỳ nghỉ lễ, hay những điểm bầu cử mà họ tham gia trước đó. Việc gán nguyên nhân của chuỗi lây nhiễm mới với các sinh hoạt tôn giáo của hội thánh này, cho đến nay, là vô căn cứ.

Thứ ba, có sự phân biệt đối xử đối với Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng. Khi dịch bùng phát ở các khu công nghiệp tại Bắc Giang, Bắc Ninh, không cá nhân nào bị đem ra chỉ trích. Khi có ca nhiễm từ tổ bầu cử ở Goldmark City, Hà Nội, chẳng ai chất vấn ai đã vi phạm quy định. [10] Thế nhưng, khi một nhóm sinh hoạt tôn giáo tiếp tục hoạt động và có ca nhiễm, vụ việc lại bị khởi tố.

Ngày 21/5/2021, Bộ Y tế ra một công văn yêu cầu không cung cấp cho báo chí danh tính, lịch trình di chuyển và quá trình tiếp xúc của bệnh nhân, nhằm tránh xâm phạm đời tư của người bệnh.11 [11] Quy định này sau đó được báo chí tuân thủ, nhưng đến trường hợp của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng thì lại như chưa từng tồn tại.

Các tờ báo chạy đua với nhau đăng thông tin cá nhân, [12] lịch trình di chuyển của những ca nhiễm là thành viên của nhóm. [13] Giữa hàng trăm ca nhiễm mới được đánh số, bỗng dưng lại có vài nhân vật có danh tính, tôn giáo, địa chỉ rõ ràng. Không khó hiểu tại sao tất cả sự căm ghét dồn về phía họ.

Từ việc quy kết mọi lỗi lầm cho một tổ chức tôn giáo, người ta bắt đầu chất vấn cả loại hình tổ chức của họ. Kết quả là khi sự việc chưa ngã ngũ, hội thánh đã bị dọa rút giấy phép hoạt động. Các điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tương tự thì bị đưa vào đối tượng nguy cơ cao cần xét nghiệm đầu tiên. [14] Những lời yêu cầu nhà nước tăng cường quản lý điểm nhóm tôn giáo xuất hiện ở nhiều diễn đàn, bất chấp một thực tế rằng chính sách quản lý tôn giáo ở Việt Nam đã luôn khắt khe đến mức báo động trên thế giới. [15]

Người dân đi bầu ở quận Gò Vấp, TP. HCM ngày 23/5/2021. Ảnh: hcmcpv.org.vn.

Người dân đi bầu ở quận Gò Vấp, TP. HCM ngày 23/5/2021. Ảnh: hcmcpv.org.vn.

“Ai chịu trách nhiệm đây?” (Không phải tôi)

Con người không được tạo hóa thiết kế để thấy dễ chịu trong những tình huống rủi ro và bất định. Khi có chuyện gì xấu xảy ra, bản năng đổ lỗi (blame instinct) sẽ được kích hoạt để tìm ra một nguyên do đơn giản, rõ ràng cho nó. Như một cơ chế tự vệ, bản năng này có nhiệm vụ tìm ra ai đó chịu trách nhiệm cho việc này, nếu không thì thế giới sẽ thật khó đoán, rối bời, đáng sợ. [16]

Đại dịch COVID-19, đặc biệt là đợt lây nhiễm mới nhất với những biến chủng nguy hiểm và khó lường, rõ ràng đã đặt chúng ta vào một tình thế bấp bênh chưa từng có.

Mark Schaller, giáo sư tâm lý tại Đại học British Columbia, tác giả cuốn “Social Psychology of Prejudice” cho rằng mối liên quan giữa đại dịch và việc đổ lỗi có nguồn gốc tiến hóa. [17] Phản ứng đó là một phần của khái niệm mà ông gọi là hệ miễn dịch tâm lý hành vi (behavioral immune system), tương tự như hệ miễn dịch của cơ thể. Ta đẩy lỗi cho ai đó khác để bản thân có thể yên tâm rằng mình vô can. Và để khiến cho sự đùn đẩy của mình có lý lẽ, chúng ta tự động gán cho đối tượng những đặc tính tiêu cực.

Cơ chế này dường như khớp với cách mà chúng ta đang đòi Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng chịu trách nhiệm cho đợt lây lan dịch tại thành phố Hồ Chí Minh, trong khi mọi thứ còn đang là dấu hỏi. Từ vài lời kể rời rạc, chúng ta vội vàng quy kết rằng họ làm sai quy định, họ giấu giếm không hợp tác. Suy nghĩ đó dựa trên một niềm tin rằng nếu tuân thủ quy định thì hẳn là đã không sao rồi.

Niềm tin đó rõ ràng là mong manh, chỉ cần xét riêng một chuyện là hàng chục triệu người dân cả nước vẫn đi du lịch khắp nơi và đi bầu khi dịch đã bắt đầu bùng phát. Thực tế cho thấy, các diễn biến xảy ra bất ngờ, và tất cả mọi người, bao gồm cả các đơn vị chuyên trách, đều đang ở thế căng mình để chống chọi. Phần lớn có lẽ đều đang ở trong trạng thái như người quản nhiệm Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng chia sẻ khi biết chuyện: “Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra”. [18] Nhưng thừa nhận sự bất lực này lại không phải thói quen của bản năng đổ lỗi. Bằng cách chỉ ngay ngón tay vào người đã dám “không biết”, dư luận khước từ gánh nặng của việc phải chấp nhận một sự thật khó nhằn.

Lựa dê tế thần

Nếu đổ lỗi là một bản năng tự vệ của từng cá nhân, thì việc lựa chọn ai làm người gánh chịu tội lỗi lại phản ánh những định kiến, niềm tin, lý tưởng của cộng đồng. Hành vi này gọi là “scapegoating”.

“Scapegoat” trong tiếng Anh được ghép từ “escape” – chạy thoát và “goat” – con dê. Từ này có nguồn gốc từ Kinh thánh, mô tả một nghi thức đền tội của người Do Thái với Thiên Chúa của họ, trong đó có hai con dê được chọn. [19] Một con bị giết để dâng lên làm vật đền tội, con còn lại thì gánh tất cả tội lỗi của một cộng đồng và sau khi cầu nguyện thì được thả vào trong hoang mạc. Bằng cách đó, tất cả được sạch tội.

Dê tế thần. Ảnh: cruciformcoc.com.

Dê tế thần. Ảnh: cruciformcoc.com.

Các nhà tâm lý học xã hội mượn từ này để xác lập lý thuyết vật tế thần (scapegoat theory). Theo Peter Glick, giáo sư Đại học Lawrence, khái niệm này mô tả một hình thái định kiến cực đoan, trong đó một nhóm ngoại lai bị đổ lỗi cố tình gây ra tai ương cho một nhóm nội bộ. [20]

Các phong trào tế thần (scapegoat movement) trong một cộng đồng thường diễn ra khi họ phải đối mặt với những tình huống phức tạp, trong đó, chướng ngại vật để vượt qua là không rõ ràng. Các cuộc săn linh vật tế thần thu hút nhiều người tham gia là do nó có thể đưa ra một câu trả lời đơn giản hơn. Trong cuộc săn tìm đó, người ta thường đưa ra các lựa chọn phi lý trí, do nỗi sợ và tâm lý vội vàng ảnh hưởng đến năng lực nhận thức, và do thiếu thông tin.

Trong chương 15 của cuốn sách “On the Nature of Prejudice: Fifty Years after Allport”, Peter Glick tổng hợp các lý do giải thích cho lựa chọn vật tế thần trong các lý thuyết tâm lý xã hội đương đại. [21] Theo đó, vật tế thần thường là một nhóm thiểu số với các tiêu chí: (1) quyền lực không quá mạnh để có thể phản kháng, nhưng cũng không quá yếu (vì yếu quá thì không thể gây ra tai ương), (2) khớp với những định kiến có sẵn trước đó trong cộng đồng và (3) tiện lợi.

Thử dùng lý thuyết này để xem xét vụ việc Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng bị chỉ trích, ta thấy nhóm này thỏa các điều kiện đã nêu của một “vật tế thần”. Họ là một nhóm tôn giáo thiểu số, không có tổ chức mạnh nhưng đã được công nhận hoạt động điểm nhóm, thuộc tầng lớp trung lưu (không quá mạnh, không quá yếu). Hoạt động của các nhóm sinh hoạt tôn giáo tự phát từ lâu đã nhận nhiều định kiến từ phía dư luận, bị nhà nước xem là “tà đạo” (định kiến). Thông tin về họ được công bố theo cách vừa đủ để dư luận suy đoán và đánh giá (tiện lợi).

So sánh với các nguồn lây nhiễm khả thi khác, như một tổ chức tôn giáo lớn hơn, những nhóm công nhân yếu thế, hay các hội đồng bầu cử, ta thấy việc đổ lỗi cho hội thánh nhỏ này “tiện lợi” hơn nhiều.

Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng có phải là vật tế thần hay không chỉ là một giả thuyết. Vẫn tồn tại khả năng họ thực sự đã cố tình làm sai, xem nhẹ an toàn của cộng đồng. Nhưng việc các nhóm tôn giáo thiểu số trở thành mục tiêu đổ lỗi trong đại dịch COVID-19 thì không phải là chuyện lạ trên thế giới, và còn có tính lịch sử. [22]

Các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Phát triển (Institute of Development Studies – Anh) đã tư liệu hóa sự phân biệt đối xử và đổ lỗi mang tính hệ thống với người Hồi giáo ở Ấn Độ, người Yazidis, Kaka’i và các nhóm theo đạo Cơ Đốc ở Iraq, và người Khmer theo đạo Hồi ở Campuchia. [23] Những cộng đồng này thường bị cáo buộc làm lây lan dịch bệnh. Họ trở thành nạn nhân của các chiến dịch thù ghét trên mạng xã hội, với sự tham gia của cả các chính khách và giới báo chí. Đáng chú ý, họ đều đã là nạn nhân của định kiến phổ biến từ trước đó, khớp với lý thuyết được giáo sư Peter Glick nêu phía trên.

Đơn cử, vào tháng 3/2020, khi một nhóm người Hồi giáo trở về Campuchia sau khi tham gia một sự kiện ở Malaysia, họ được phát hiện dương tính với COVID-19. Thông tin về tôn giáo của những người này được chính bộ trưởng y tế Campuchia tiết lộ trên Facebook cá nhân, trong khi Bộ Y tế yêu cầu truyền thông cẩn trọng khi công bố thông tin người bệnh. Chi tiết về tôn giáo lập tức tạo nên một làn sóng thù ghét và đổ lỗi nhắm vào người Khmer theo đạo Hồi, vốn đã là nhóm yếu thế so với những người Khmer theo đạo Phật ở Campuchia. [24]

“Họ nên bị nhốt trong nhà”, một người dùng Facebook viết.

“Tại sao mấy người có thể ngu ngốc và vô tâm đến mức mang lại phiền toái cho biết bao người khác”, một người khác bình luận.

Các bình luận dạng này cũng xuất hiện nhiều trong phong trào đổ lỗi cho người Hồi giáo ở Ấn Độ, cùng thời điểm tháng 3/2020. [25] Khi một số nhà truyền giáo Ấn Độ được phát hiện nhiễm virus SARS-coV-2 sau một sự kiện quốc tế tổ chức tại Delhi, bộ trưởng phụ trách các vấn đề của cộng đồng thiểu số đã công khai gọi những người tổ chức sự kiện này là “tội phạm Taliban”. Những làn sóng chỉ trích, lăng mạ đi kèm với thông tin sai lệch lan rộng với phạm vi khoảng 170 triệu tài khoản Twitter.

“Đại dịch đã cho thấy người Hồi giáo Ấn Độ là những kẻ phản bội và không trung thành với tổ quốc.”

“Ấn Độ cần được tự do khỏi Corona và Jihad (từ ám chỉ những người Hồi giáo với nghĩa tiêu cực) vì cả hai đều là những vũ khí chết người.”

Khi đã chọn được con dê tế thần, người ta được trấn an với ảo giác rằng chỉ cần loại nó ra khỏi cộng đồng thì mọi chuyện sẽ được giải quyết.

Cơn say đổ tội thường sẽ khiến chúng ta ngừng tìm hiểu các nguyên nhân khác, cũng như giải pháp để ngăn chặn các vấn đề tương tự xảy ra trong tương lai. Đối tượng được chọn làm vật tế thần thì chẳng biết mình có tội gì, nhưng vừa phải chịu đau đớn thể xác vì nhiễm bệnh, lại vừa phải chịu hành hạ về tinh thần trước những lời nhẫn tâm không ngừng trút xuống lúc này, mà chắc chắn để lại hậu quả kỳ thị dài lâu.

Hơn ai hết, chúng ta hiểu rằng đại dịch không thể được giải quyết bằng những cách hành xử phi lý trí đó.

From: Luật Khoa

CHÚ CHÓ…

CHÚ CHÓ…

Một người đàn ông vừa mất, và con chó thân thích của ông ấy được người con trai chăm sóc….

Mấy ngày sau, anh mới phát hiện ra rằng:

– Con chó đã biến mất…

5 ngày sau! Từ nghĩa trang điện thoại báo với anh ấy rằng… Có một con chó đã đào mộ của cha anh ấy và cứ lẩn quẩn ở đó không chịu đi.

Anh ra nghĩa trang bắt chó về, lấp đất lại cho ngôi mộ Nhưng hôm sau nó lại bỏ đi… và lại đào mộ lên.

Và cứ như thế nhiều lần…

Anh đành bỏ chó lại bên ngôi mộ cha mình và hàng ngày chịu khó đem cơm nước ra cho nó.

Nhưng tuyệt nhiên, con chó không đụng đến cơm nước và không cho ai bước gần tới ngôi mộ…

Một tuần sau, nó chết trên mộ của người chủ sở hữu mình.

– Bạn thấy đấy, chó là sinh vật duy nhất trên trái đất này… sẵn sàng hy sinh cho bạn vì bạn mà quên thân mình.

BÙI NGỌC THUẬN

May be an image of outdoors, monument and text

CÁNH CỬA MỚI

 CÁNH CỬA MỚI

Cách đây, hàng thế kỷ, tại một đất nước nọ có một họa sĩ. Anh muốn tạo ra một bức tranh thực sự tuyệt vời có thể tỏa ra sự thiêng liêng, một bức tranh về một gương mặt có ánh mắt tỏa ra sự bình yên vô hạn. Anh lên đường để tìm kiếm một người nào đó có gương mặt vượt ra khỏi giới hạn của đời sống này, một cái gì đó siêu việt.

Anh lang thang khắp đất nước, hết làng này đến làng nọ, hết cánh rừng này đến cánh rừng khác nhắm tìm một người như thế. Cuối cùng anh gặp một người chăn cừu trên núi có sự ngây thơ trong trắng trong đôi mắt sáng và gương mặt thanh tú với nét siêu linh. Chỉ cần liếc nhìn anh cũng đủ để tin rằng Thượng đế tiềm ẩn nơi nhân loại.

Người họa sĩ vẽ một bức họa về người chăn cừu trẻ tuổi này. Hàng triệu bản sao của bức họa này đã được bán sạch, thậm chí ngay cả ở những khu vực xa xôi. Mọi người cảm thấy hạnh phúc khi có thể treo bức họa này trên tường nhà mình.

Hai mươi năm sau, người họa sĩ đã già, một ý tưởng khác chợt nảy ra trong tâm trí ông. Theo kinh nghiệm sống của ông, nhân loại không hòan toàn ngoan đạo; ma quỷ vẫn tồn tại trong họ. Ý tưởng này làm nảy sinh dự định vẽ một bức tranh nhằm phản ánh hình ảnh ma qủy trong con người. Hai bức họa này, ông nghĩ, sẽ bù trừ cho nhau, đại diện cho toàn nhân loại.

Ở tuổi già, ông lại lên đường tìm kiếm. Lần này ông muốn tìm một người không phải là người mà là ma quỷ. Ông đến các khu nhà ổ chuột, các quán rượu, các nhà thương điên. Người này cần phải có ngọn lửa của địa ngục; gương mặt của anh ta phải thể hiện được nét tàn bạo, xấu xí, ác dâm. Ông tìm kiếm hình ảnh của tội lỗi. Trước đây ông đã vẽ nên hình ảnh về sự hóa thân của loài quỷ dữ.

Sau khi tìm kiếm thật lâu, cuối cùng ông tìm được một tù nhân. Người tù này phạm bảy tội giết người và bị kết án treo cổ trong vài ngày tới. Ngọn lửa địa ngục đang bùng cháy trong mắt hắn; hắn trông giống như hiện thân của tội ác. Gương mặt của hắn là gương mặt xấu xí nhất mà bạn có thể hình dung ra. Người họa sĩ bắt đầu vẽ hắn.

Khi hoàn tất bức họa, ông mang bức họa trước đây ra đặt bên cạnh để đối chiếu. Nhìn từ góc độ nghệ thuật thì thấy khó có thể xác định được bức họa nào tốt hơn bức họa nào; cả hai đều là kiệt tác. Người họa sĩ đứng đó, mắt nhìn trừng trừng vào hai bức họa. Chợt ông nghe thấy tiếng khóc thút thít. Ông quay lại và trông thấy người tù bị xiềng xích đang khóc nức nở. Người họa sĩ vô cùng bối rối. Ông hỏi: “Này chàng trai, tại sao anh lại khóc? Hai bức tranh này khiến anh buồn sao?”

Người tù đáp: “Tôi vẫn luôn cố gắng che đậy một điều trước mặt ông, nhưng hôm nay tôi không thể giấu diếm được nữa. Bức họa thứ nhất cũng là bức họa về tôi. Cả hai bức tranh này đều vẽ khuôn mặt của tôi. Tôi chính là người chăn cừu mà ông đã gặp cách đây hai mươi năm trên ngọn đồi kia. Tôi khóc vì sự suy vong của mình trong suốt hai mươi năm qua. Tôi đã rơi từ thiên đàng xuống địa ngục.”

@ Suy ngẫm

Cuộc sống con người đều có hai mặt. Trong mỗi con người cả thiên thần lẫn quỷ dữ tồn tại; trong mỗi con người luôn có thiên đàng lẫn địa ngục Trong mỗi con người luôn tồn tại những bông hoa xinh đẹp lẫn những đầm lầy xấu xí. Mỗi người đều liên tục dao động giữa hai thái cực này, nhưng hầu hết mọi người đều xuất hiện bên bờ địa ngục. Rất ít người có đủ can đảm để thiên đàng phát triển trong chính mình.

@ Cầu nguyện

Lạy Mẹ Maria!

Lòng người hay luôn đổi thay

Khi là thiên thần khi thay quỷ ma

Chúa muốn con là thiên thần

Ngài luôn trợ giúp từng ngày cho con.

Mỗi ngày chọn lựa tự do

Sống sao cho tốt sống cho tình Ngài

Xin Mẹ phù giúp cho con

Chọn lựa cách sống cho trọn yêu thương. Amen.

May be art of 1 person

Tâm Vạn Biến…

GÓC SUY GẪM

Tâm Vạn Biến…

Người ta sinh ra thi yếu mềm,khi chết thì cứng lại .

Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu,khi chết thì khô cứng,

Cho nên cứng rắn,cáu giận là biểu hiện của chết,mềm dẻo,khiêm nhường là dấu hiệu của sự sống…

Ta hãy thay đổi 1 chút về quan niệm sống .

Để biết cho đi là nhận, là còn mãi….

Để biết tha thứ cũng là tự giải thoát cho mình.

Để biết mở rộng trái tim ra sẽ dễ chịu hơn là khép lại nó sau những tổn thương.

Để ta học được chân thành với người khác,cũng là đối với bản thân ta….

Để ta biết rằng yêu thương không bao giờ là dư thừa cả…

Đừng mất thì giờ phân định việc thị phi cho rành mạch đen trắng trong khi tất cả đều chỉ là tương đối trong tục đế mà thôi.

Cái đúng với người này có thể sai với người khác,

Cái phải ở chỗ kia có thể trái ở nơi nọ,

Cái đang đúng lúc này không hẳn sẽ đúng về sau…

Duyên phận giữa người với người thật sự rất sâu,

có thể gắn bó đến ngàn năm,

mặc cho phong trần lên xuống,

ôm mãi một mối tình không đổi.

Duyên phận giữa người với người cũng rất cạn,

chẳng qua là một khoảnh khắc gặp gỡ,

xoay người liền vĩnh viễn thành người lạ.

Duyên sâu sẽ hợp, duyên cạn sẽ tan,

Vì thế, phải chăng là nên lấy tư thái an tĩnh,

mỉm cười nhìn chuyện người chuyện đời chuyển biến,

nhìn lá rụng rời cành hôm nay …

thành mầm non nảy xanh biếc trên đầu cành ngày mai?

Sưu tầm

May be an image of body of water and text

Lenin & Andropov

Lenin & Andropov

 Theo thứ tự alphabetique xin được ghi lại đôi dòng về Andropov trước. Tôi cũng chỉ mới được nghe nhắc đến tên trong tập bút ký (Đồng Bằng) của nhà văn Nguyên Ngọc, qua những trang viết về một địa phương hẻo lánh – có tên là Rạch Gốc – nằm tuốt luốt dưới cái mỏm đất cực Nam của đất nước mình.

Rạch Gốc chẳng chợ búa gì hết, mọi thứ phải chạy đò lên Năm Căn mua… Một buổi sáng, bước ra trước sân Ủy ban, tôi ngạc nhiên thấy treo cờ tang.

Hỏi sao vậy … trả lời: Ông Andropov chết.

Tôi hỏi lại: Ông Andropov là ai thế?

Trả lời: Không biết, nghe đài Hà Nội biểu treo cờ tang thì mình treo…

Cờ tang cho ông Andropov nào đó treo rất đúng quy cách, chỉ kéo tới nửa cột, thòng kèm một dải vải đen nhỏ phất phơ trong gió biển…”

Cái ông (“Andropov nào đó” ) nghe tên cũng có vẻ hơi quen quen nhưng tôi không nhớ được chính xác là cha nội nào cả. Nhẩy vô google chút xíu mới hết hồn, hết vía. Té ra đây là đồng chí lãnh đạo (“thứ dữ”) trong Thế Giới Vô Sản, kẻ kế nhiệm Leonid Brezhnev, chớ đâu phải thường dân.  

Dù chỉ tại chức một thời gian rất ngắn (rồi qua đời vì trọng bệnh) nhưng nhân vật này vẫn rất nổi tiếng vì có… bàn tay sắt:

  • Andropov là giám đốc KGB đầu tiên trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô.
  • Andropov là chính phạm trong vụ đàn áp cuộc nổi dậy của dân chúng Hungary, Tiệp Khắc, và tất cả những hoạt động của giới bất đồng chính kiến tại Liên Xô.
  • Andropov cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định tiến đánh Afghanistan, vào năm 1979.

Hung hăng và hung dữ dễ sợ! Hèn chi mà nhà đương cuộc Hà Nội ra lệnh cho cả nước phải treo cờ rũ, sau khi thằng chả chuyển qua từ trần, vào ngày 9 tháng 2 năm 1984. Đúng cái hôm mà Nguyên Ngọc ghé qua Rạch Gốc.

Nhà văn của chúng ta cho biết thêm:

“Sau thất bại Nam Kỳ Khởi nghĩa, mấy chục ngư dân Rạch Gốc – Cà Mau đều phải đi tù Côn Đảo… mấy chục người ấy đã có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu, ở tù Côn Đảo họ chỉ làm một nhiệm vụ: mỗi khi ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng và các ông đầu lĩnh cộng sản bị mang ra đánh thì các ông xông ra chịu đòn thay.”

Vậy mà sau khi cách mạng thành công thì các ông “đầu lĩnh” – kể cả bác Lê, lẫn bác Tôn – đều quên béng cái mảnh đất thấm đậm tình nghĩa (và ơn nghĩa) này. Gần mười năm sau, sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Rạch Gốc vẫn chưa có điện nước và “chợ búa gì hết” ráo.

Ấy thế nhưng lệnh lạc từ Hà Nội, dù chỉ được truyền đi qua đài phát thanh, vẫn được chính quyền địa phương tuân hành răm rắp. Các anh ở trên “biểu treo cờ tang thì mình treo” liền, dù không ai biết Andropov là thằng cha (mẹ rượt) nào cả, vì “có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu ” – vẫn theo như lời Nguyên Ngọc.

Ngay tại Thủ Đô thì các đồng chí lãnh đạo cấp trung ương còn nhanh nhẩu hơn nhiều. Dù tượng đài của Lenin đã bị đập vỡ đầu, sứt trán ở rất nhiều nơi, và dù đài phát thanh từ Moscow chưa bao giờ nhắc nhở các nước chư hầu phải kỷ niệm cuộc Cách Mạng Tháng Mười (và ca tụng công đức của cha đẻ ra nó) nhưng Hà Nội vẫn nghiêm trang tổ chức lễ lạc đều đặn từ ấy hơn nửa thế kỷ qua.

Báo chí vẫn long trọng loan tin: Sáng nay 5-11, tại Hà Nội, 3.500 đại biểu đã tham dự Lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga được tổ chức trọng thể tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia… Đọc diễn văn kỷ niệm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Cách mạng Tháng Mười Nga đã “làm rung chuyển thế giới” phá tan một mảng lớn trong hệ thống chủ nghĩa tư bản, đế quốc, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại.… đã sáng tạo ra một kỷ nguyên mới của nước Nga…

Loa, đài vẫn không ngớt tung hô khẩu hiệu:

Lenin – Ngọn hải đăng vĩ đại của nhân dân lao động

Lenin – nhà tư tưởng vĩ đại

Sự kiện này, xem chừng, có khiến cho nhà báo Từ Thức hơi bị phiền lòng:

“Cái anh Lenin khát máu của một thời đại tưởng đã thuộc về dĩ vãng đó, tập đoàn cầm quyền Hà Nội đã dựng dậy làm bùa hộ mệnh… Trong dịp tưởng niệm 100 năm Cách mạng Tháng 10, hiện tượng không đâu có, kể cả ở Nga, là cả tập đoàn lãnh đạo VN, không thiếu một mạng, đã kính cẩn xếp hàng tri ân và nguyện sẽ trung thành với chủ nghĩa Lenin.”

Cùng lúc, nhà báo Chu Vĩnh Hải cũng gửi đến độc giả xa gần một status ngắn, ghi lại vài dòng tóm lược về cuốn Lenin A New Biography (của Dmitry Volkogonov) với dăm ba tình tiết tuy không “thú vị” nhưng khá bất ngờ:

“Phân tích những tài liệu chưa từng được xuất bản trước đó, Volkogonov cho rằng rõ ràng lãnh tụ giai cấp vô sản trên thực tế rất khác với chân dung huyền thoại mà những người cộng sản tôn vinh. Một số trong những minh chứng cho kết luận đó là:

– Sắc lệnh của Lenin về phá hủy hơn 70.000 nhà thờ Chính thống giáo.
– Vào lúc cuối đời, Lenin đã yêu cầu cho xyanua để tự vẫn.
– Lenin đã đồng ý nhượng hàng triệu km vuông lãnh thổ, khi Đức đe dọa chiếm đóng Nga nhằm duy trì quyền lực bằng bất cứ giá nào.
– Đáp lại cuộc tấn công xảy ra năm 1918 nhằm vào ông, Lenin đích thân ra lệnh hành quyết hàng nghìn đối tượng … Cuộc ‘thanh trừng Đỏ’ đó được Stalin tiếp tục cho đến khi ông này qua đời với kết quả là hàng triệu người đã bị thiệt mạng.
– Lenin đã ủng hộ việc lập ra GULAG, phát triển hệ thống lao động cưỡng bức và quyết định đuổi trí thức cũ ra nước ngoài, gọi những người này là ‘cứt’ ….

Thực sự thì cũng chả cần đến qúi vị nhà văn, nhà báo, sử gia nhắc nhở hay nhắc nhỏ gì đâu. Cứ nghe đồng dao trên hè phố Việt Nam cũng đủ biết là ngay cả đến nhi đồng ở xứ sở này cũng đã tỏ tường về Lenin tự lâu rồi:

Ông Lê Nin ở nước Nga
Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này
Ông vênh mặt, ông chỉ tay:
Tự do hạnh phúc chúng mày còn xa
Kìa xem gương của nước Nga
Bảy mươi năm lẻ có ra đếch gì!

Tuy không “ra đếch gì” cho dân chúng nhưng lợi quyền mà cuộc Cách Mạng Vô Sản mang đến cho các đồng chí lãnh đạo thì không hề nhỏ. Bởi thế, họ vẫn giữ gìn lá “bùa hộ mệnh” hết sức cẩn thận với khói nhang thờ cúng rất trang nghiêm.

Hai thập niên trước, Phó Chủ tịch HĐBT Trần Phương phàn nàn: “Cho đến trước khi Liên Xô sụp đổ đầu óc của bọn mình vẫn bị cầm tù trong sự giáo điều của chủ nghĩa Marx – Lenin.” Đến nay thì vẫn y như thế chứ nào có khác chi, và đây là “tình trạng chung của cả nước,” chớ chả riêng gì cái đám ngư dân Rạch Gốc.

Why?

Các anh ở trên cần thêm một con ma xó để giữ ghế cho nó chắc ăn, dù giữa làng Ba Đình đã có một con ma nằm sẵn trong lăng rồi. Ma nhà xem chừng mỗi lúc một kém thiêng nên cần thêm tới ma … quốc tế.

Tưởng Năng Tiến
5/2021

Không nên

  1.  Không nên đánh giá người khác tốt xấu thế nào, bởi vì tốt xấu của họ không ảnh hưởng tới miếng cơm manh áo của bạn.
    2. Không nên đánh giá đức hạnh của người khác, bởi vì có thể có những khía cạnh họ còn cao quý hơn bạn.
    3. Không nên đánh giá gia đình của người khác, bởi vì những người đó và bạn không có quan hệ.
    4. Không nên đánh giá học vấn của người khác, bởi vì trên đời này kiến thức là mênh mông.
    5. Không nên đánh giá bất kỳ người nào, cho dù người đó là người bạn xem thường nhất.
    6. Không nên lãng phí tiền bạc, bởi vì ngày mai bạn có thể thất nghiệp.
    7. Không nên vênh váo, tự đắc, bởi vì có thể ngày mai bạn thất thế.
    8. Không nên nói quá phô trương, phải biết rằng bạn cũng chỉ là một người nhỏ bé.
    9. Không nên dựa vào người khác, bởi vì cuộc sống nhiều gánh nặng, ai cũng muốn sống nhẹ nhõm.
    10. Không nên làm tổn thương người khác, nhân quả sớm muộn đều sẽ đến.
    11. Không nên quá chú tâm giải thích đúng sai, hãy làm bậc trí giả. Trên đời chúng ta thường nghĩ cách giải thích cái gì đó. Nhưng mà, một khi giải thích, ta lại phát hiện rằng, bất kể ai giải thích đều là người yếu ớt, thậm chí sẽ càng bôi nhọ mình hơn.
    Núi dẫu không nói rõ độ cao của mình, thì độ cao của nó cũng không hề bị ảnh hưởng; biển không nói rõ độ sâu của mình, thì việc dung nạp trăm sông đổ dồn về nó cũng không có gì là trở ngại; mặt đất dẫu không nói rõ độ dày của mình, thì cũng không có ai có thể thay thế nó làm chỗ dựa cho vạn vật được…Đừng đánh giá thấp bất kể ai, bạn không có nhiều khán giả, đừng mệt mỏi như vậy.
    12. Không nên tự nhiên nổi giận, vì không phải ai cũng là “con nợ” bạn. Có thể hiện tại bạn đang rất thống khổ, nhưng khi vượt qua khoảng thời gian ấy, nhìn lại bạn sẽ phát hiện kỳ thực điều đó cũng chẳng là gì. Chúng ta thường phàn nàn cuộc sống bất công với mình, nhưng thực ra cuộc sống căn bản không biết được chúng ta là ai.
    13. Không nên nói rằng ai tu luyện tốt hay không tốt. Tu hành là việc cá nhân, người khác chính là một cái gương phản chiếu chính cái thiếu sót trong tu luyện của bản thân mình.                                                                                                                VietBF@sưu tập                                                                                                         From: Tu-Phung

Sau 40 năm sống dưới chế độ cộng sản, Tiệp Khắc đã sửa sai. Còn Việt Nam?

Sau 40 năm sống dưới chế độ cộng sản, Tiệp Khắc đã sửa sai. Còn Việt Nam?

Nếu kiên trì tranh đấu, người Việt Nam cũng có thể có một tương lai khác.

 24/05/2021

By  THANH NGỌC

Một người biểu tình phất cờ Cộng hòa Czech trong cuộc biểu tình chống chính phủ tại thủ đô Prague ngày 16/11/2019, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Cách mạng Nhung. Ảnh: EPA-EFE/Martin Divisek.

 Một ngày tháng 10/2017, Jan và tôi đi dạo trên Quảng trường Wenceslas, thành phố Prague (người Việt Nam thường gọi là Praha), nơi người dân biểu tình kết liễu chế độ độc tài cộng sản tại Tiệp Khắc vào năm 1989. Jan không ngừng nói về những thứ tồi tệ dưới chế độ cộng sản. Anh nói như một nhân chứng của quá khứ, dù Jan sinh ra ở thời kỳ đầu của nền dân chủ.

Prague năm 2017 mới bước vào thời kỳ dân chủ được chừng 28 năm, chỉ bằng hơn một nửa thời gian đất nước này chìm trong chế độ cộng sản. Đâu đó trong những cửa hàng, trên những con đường, bạn có thể cảm thấy hơi thở cộng sản vẫn chưa tắt hẳn ở nơi này.

Chúng tôi đến trước bức tượng người phụ nữ khỏa thân đứng trong tư thế la hét ai đó. Bức tượng này sẽ không bao giờ tìm thấy chỗ đứng dưới chế độ cộng sản vì sẽ bị cho là bệnh hoạn.

Jan đọc từ điện thoại cho tôi nghe về kết quả bầu cử nghị viện mới. ANO 2011, đảng dân túy của tỷ phú Andrej Babiš đã giành chiến thắng (“Ano” trong tiếng Czech nghĩa là “yes”). Jan thất vọng nói: “Sớm thôi, ở quảng trường chúng ta đang đi đây sẽ đầy người biểu tình để phản đối nhà tài phiệt Babiš làm thủ tướng”.

Tôi nói với Jan, ít ra ở Czech cơ hội tham gia chính trị còn mở ra cho nhiều người. Ở Việt Nam, chỉ có người cộng sản mới có thể tham gia chính trị, hơn 90 triệu người Việt phải đứng nhìn một nhóm nhỏ quyết định số phận của họ.

Jan gật đầu và chúng tôi bước tiếp về phía viện bảo tàng.

***

Ở đầu quảng trường này, phía sau tượng thánh Wenceslas và phía trước tòa nhà bảo tàng, có một nơi mấp mô trên vỉa hè, trông xa giống như một ngôi mộ. Vào ngày 16/1/1969, ở nơi mấp mô đó, một sinh viên tên Jan Palach đổ xăng tự thiêu. Ba ngày sau, anh chết trong bệnh viện. Lúc đó, khối Warszawa đứng đầu là Liên Xô đưa quân vào kiểm soát Tiệp Khắc. Jan Palach đã tự thiêu để phản đối cuộc xâm chiếm, “làm người dân thức tỉnh” trước nền chính trị bị ngoại quốc giật dây.[1]

Nơi tưởng niệm Jan Palach tại Prague, thủ đô của Cộng hòa Czech. Ảnh: Pbase.com.

Dân chủ có thể đến bất ngờ

Ngọn lửa của Jan Palach không tạo được tác động gì vào lúc đó. Thế lực của Liên Xô đã củng cố quyền lực gần như tuyệt đối cho chính quyền cộng sản Tiệp Khắc. Mùa xuân Prague, kế hoạch của thủ tướng thuộc nhóm cấp tiến Alexander Dubček với những hứa hẹn cải cách nhân quyền mới chớm nở đã phải lụi tàn. Liên Xô đã thay một vị thủ tướng khác mà họ tin tưởng hơn.

Người Tiệp Khắc tiếp tục sống. Họ không biết khi nào chế độ cộng sản do chính họ bầu chọn mới thực sự kết thúc. Sự lựa chọn đó của người Tiệp Khắc đã phải trả giá bằng chính đời sống của họ.

Đầu những năm 1970, The Plastic People of the Universe làm điên đảo giới trẻ Tiệp Khắc bằng thứ âm nhạc mê hoặc và phong cách trình diễn ấn tượng. Ban nhạc này được thành lập một tháng sau khi khối Warszawa xâm chiếm Tiệp Khắc. Những ca từ phóng khoáng và tinh thần độc lập của ban nhạc khiến chính quyền ngày càng khó chịu.[2]

The Plastic People of Universe năm 1974. Ảnh: Stray Satellite.

Không lâu sau, The Plastic People of the Universe mất tư cách biểu diễn chuyên nghiệp, mất nhạc cụ (vốn khi đó thuộc sở hữu nhà nước) và nơi diễn tập. Việc này nằm trong chương trình chấn chỉnh các hành vi đạo đức và xã hội của chính quyền.

Đến năm 1972, ban nhạc bị cấm biểu diễn công khai. Chính quyền cho rằng âm nhạc của họ là “bệnh hoạn” và “tác động tiêu cực đến xã hội”. Ban nhạc chuyển sang biểu diễn chui ở ngoại ô. Khán giả chỉ biết chính xác địa điểm trước một ngày, hoặc phải đợi cho đến ngày biểu diễn. Người hâm mộ sẽ lần mò trong mưa gió, tuyết rơi để tìm đến các trang trại hay nhà kho bị bỏ hoang được chọn làm địa điểm biểu diễn.

Vào tháng 3/1974, hơn một nghìn khán giả tìm đường đến nghe The Plastic People of the Universe biểu diễn. Họ chẳng thấy ban nhạc ở đâu, thay vào đó là cảnh sát. Cảnh sát đánh đập khán giả ở một đường hầm và đưa một lên tàu chở về Prague. Sáu sinh viên bị bắt giữ, nhiều sinh viên khác bị đuổi học.

Tháng 3/1976, cảnh sát Tiệp Khắc quyết định tiêu diệt bằng được ban nhạc sau một cuộc biểu diễn chui. Cảnh sát mật đã thẩm vấn hơn 100 người hâm mộ, xét nhà, tịch thu nhạc cụ, bắt giữ 27 nhạc sĩ.

“The Second Festival of the Second Culture”, sự kiện âm nhạc do The Plastic People of the Universe (đứng ngoài cùng bên phải) tổ chức tại Bojanovice ngày 21/2/1976. Chỉ trong một tháng sau đó, 27 nghệ sĩ có mặt trong bức ảnh này đã bị bắt. Ảnh: Ondrej Nemec/ martinfryc.eu.

Dưới áp lực của quốc tế, hầu hết các nhạc sĩ sau đó đã được thả. Tuy nhiên, chính quyền kiên quyết đưa bốn người ra xét xử tội gây rối, trong đó có hai thành viên của The Plastic People of the Universe, một nhạc sĩ và một ca sĩ khác.

Các kiểm sát viên đã chỉ trích từ ngữ thô tục trong các bài hát của họ và cho rằng chúng làm băng hoại giới trẻ Tiệp Khắc. Những người bị bắt đã trả lời rằng họ quyết bảo vệ quyền sáng tác và hát những ca khúc mà họ muốn. Bốn người đã bị tuyên án từ 8 tháng đến 18 tháng tù giam.[3]

Phiên tòa bị giới nghệ sĩ, kịch gia, văn sĩ chỉ trích kịch liệt, trong đó có Vaclav Havel, người sau này trở thành tổng thống đầu tiên của nền dân chủ Tiệp Khắc.

Nỗi tức giận về phiên tòa đã khiến hơn 200 người thuộc giới trí thức Tiệp Khắc thành lập một tổ chức nhân quyền không chính thức và phát hành một kiến nghị chỉ trích những hành vi đàn áp nhân quyền vào tháng 1/1977, được gọi tắt là Hiến chương 77. Bản hiến chương gây được tiếng vang lớn, được nhiều tờ báo lớn như Le Monde, The New York Times phổ biến.[4]

Tuy nhiên, giống như vụ tự thiêu của Jan Palach, nền chính trị độc tài ở Tiệp Khắc vẫn không có gì thay đổi. Thay vào đó, Vaclav Havel và một số nhà bất đồng chính kiến phải ngồi tù.

Phải mất thêm 12 năm nữa, người Tiệp Khắc mới làm nên số phận của mình. Tháng 11/1989, hàng trăm nghìn người biểu tình ở Quảng trường Wenceslas trong cuộc Cách mạng Nhung (Velvet Revolution). Cuộc biểu tình lịch sử đó được châm ngòi vào dịp kỷ niệm 20 năm ngày sinh viên Jan Palach tự thiêu.[5]

Cuộc Cách mạng Nhung năm 1989. Minh họa: Czechleaders.com.

Đó chỉ là một trong số vô vàn sự kiện đấu tranh với chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc. Dường như thành công hay thất bại đều không phải là mục tiêu quan trọng đối với họ. Điều quan trọng là họ kiên trì tranh đấu.

Ngay sau khi Cách mạng Nhung thành công, Điều 4 trong Hiến pháp Tiệp Khắc, vốn khẳng định vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản, đã bị xóa bỏ. Một cuộc bầu cử tự do được tiến hành. Tiệp Khắc thoát khỏi bóng tối cộng sản và tiến đến nền dân chủ.[6]

Kiên trì tranh đấu ở Việt Nam

Vào đêm ngày 15/8/2018, một đêm nhạc ở thành phố Hồ Chí Minh đã bị công an giải tán bằng dùi cui, mũ bảo hiểm, hung khí tự chế. Đó là đêm nhạc của ca sĩ Nguyễn Tín, nơi anh hát những bài hát trước năm 1975.

Ca sĩ Nguyễn Tín và người tổ chức đêm nhạc Nguyễn Đại nói với RFA là họ bị công an bịt mắt đưa về đồn tra tấn. Sau đó, cả hai người bị đạp ra khỏi xe giữa đường.[7]

Nhà báo Phạm Đoan Trang cũng tham gia đêm nhạc và kết thúc bằng việc bất tỉnh trong bệnh viện. Cô kể, có sáu công an mặc thường phục đánh đập cô bằng nón bảo hiểm, hung khí tự chế.[8]

Đoan Trang nhập viện sau đêm nhạc của ca sĩ Nguyễn Tín. Ảnh: Phạm Đoan Trang.

Đầu tháng 5/2021, hai mẹ con nhà hoạt động Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư đã bị tòa tuyên án 8 năm tù giam và 3 năm quản chế cho mỗi người. Họ bị buộc tội đã đăng những đoạn phim bị cho là sai sự thật về tranh chấp đất đai lên mạng xã hội.[9]

Thay vì giải quyết thấu đáo những tranh chấp đất đai, chính quyền chọn cách bỏ tù những người cất tiếng nói phản đối. Thay vì thực thi quyền tự do biểu đạt, xuất bản, hiệp hội như đã cam kết, chính quyền lại chọn cách bỏ tù những người dám thực hành những quyền ấy.

Những hành động bất nhất đó có thể mang lại lợi ích ngắn hạn cho chính quyền, nhưng không dập tắt được sự phẫn nộ nén sâu trong lòng người dân.

Những bản án tù của các nhà hoạt động Việt Nam không phải là vô ích. Chúng có thể ngăn họ trực tiếp tranh đấu cho nhân quyền, nhưng đổi lại, hoạt động tranh đấu của họ đi xa hơn đến đông đảo quần chúng. Trần Huỳnh Duy Thức, Hòa thượng Thích Quảng Độ, nhà báo Phạm Đoan Trang, và rất nhiều nhà hoạt động đã gặp nạn khác luôn là những ngọn lửa soi sáng cho những người đi tìm sự bình đẳng, nhân quyền cho Việt Nam.

Cuộc biểu tình khổng lồ kết liễu chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc có lẽ đã không xảy ra nếu cuộc cải cách Mùa xuân Prague của Thủ tướng Dubček được thực hiện. Việt Nam đã bỏ qua bài học này.

Ảnh Hưởng Dây Chuyền (Chain Reaction)

Ảnh Hưởng Dây Chuyền (Chain Reaction)

Một bạn tôi kể 2 câu chuyện về ảnh hưởng dây chuyền:

Một buổi sáng, ông giám đốc vào sở với vẻ mặt mệt mỏi vì tối qua bà vợ ông cằn nhằn, lải nhải chuyện không đâu ra đâu.  Vì ngủ không ngon, nên ông có vẻ bực bội với nhân viên.  Anh Tám bị rầy về một lỗi rất nhỏ.  Anh về nhà, lúc giờ ăn, thấy cơm nhão hơn bình thường, anh trút nỗi bực mình lên vợ.  Khi đứa con gái lớn, Thúy,  làm đổ chén canh, chị Tám rầy con khá gay gắt vì chị đang mang mối bực bội trong lòng.  Con Thúy thấy em nó là thằng Thăng lục lọi túi xách của nó, nó vì bực bội quá không kềm được cơn giận nên kí đầu em nó khá mạnh tay.  Thằng Thăng đau quá, đá con chó đứng lảng vảng gần đó.  Con chó sợ hãi chạy phóng ra đường.  Chiếc xe hơi chạy trườn tới, bà lái xe lách để tránh con chó, không ngờ bà bị lạc tay lái, chiếc xe đâm xầm vào một căn nhà.  Sau đó, người ta mới biết người cầm tay lái chính là vợ ông giám đốc và căn nhà bà ủi vô chính là nhà của ông bà.  May mà không có ai bị thương.

Chuyện thứ hai:

Hôm nay, anh Tư được ông chủ cho một trái cam to như để thưởng cho anh vừa giúp cho ông giải quyết một nan đề nhỏ trong sở.  Anh Tư nghĩ tới vợ với bao công việc vô danh ở nhà: dọn dẹp, nấu nướng, chăm sóc con… Anh mang trái cam về tặng vợ.  Vợ anh nghĩ tới đứa con trai đang lúc học thi, chị muốn con ăn để có thêm chất bổ dưỡng.  Thằng Tâm nghĩ tới em gái nó, con Tú, mà nó thường hay chọc.  Nó tặng cho em nó như một cách chuộc lỗi.  Con Tú nhận trái cam, lại nghĩ tới tặng ba nó.  Nó thương ba nó đã chịu khó, chịu cực đi làm nuôi cả nhà, mà tánh ba rất hiền không hề lớn tiếng với vợ con.  Anh Tư nhận trái cam từ con gái, quan sát kỹ thấy đúng là trái cam anh mang về tặng vợ ngày hôm qua.  Anh tụ họp vợ con lại tối hôm đó, hỏi lại câu chuyện từ từng người và mọi người cười vui vẻ khi thấy trái cam chạy vòng vo rồi về chỗ cũ.  Chị Tư bổ trái cam ra làm 4, mỗi người ăn một góc tư và thấy tình thương yêu, niềm vui, hạnh phúc gia đình tăng lên gấp 4.

Con người là một sinh vật xã hội, hay sống bầy đàn, thích nối kết, chịu ảnh hưởng nhau.  Một người có tin mừng, cả sở cũng mừng lây.  Tương tự, một người ho khạc bừa bãi, vi trùng, vi rút từ phổi mình có thể bay vào phổi người khác.

Ảnh hưởng dây chuyền còn được gọi là Hiệu ứng Domino.  Người ta xếp những cây bài domino gần nhau, khi một cây ngã xuống thì kéo theo hàng loạt ngã theo.  Năm 1972, người ta có thêm quan niệm “Hiệu ứng cánh bướm” (Butterfly effect) khi có người đặt câu hỏi:  Liệu cái đập của cánh bướm từ rừng Ba-Tây có thể khiến cuồng phong ở Texas xảy ra? (Does the flap of a butterfly’s wings in Brazil set off a tornado in Texas?).

Tương tự, tục ngữ Việt Nam có câu: “Bứt mây động rừng” hay: “Sấm đằng đông, động đằng tây, Tuy rằng nói đấy, nhưng đây động lòng”.

Bất cứ việc gì mình làm đều có ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, nhất là với thân nhân và bè bạn.  Lời nói, thái độ của mình đều có tác dụng hay hoặc dở, xây dựng hay phá hoại.   Cha mẹ, thầy cô giáo ảnh hưởng tới tinh thần, tâm tính con trẻ rất nhiều.  Cha mẹ không biết có thể mang thiên đàng đến cho con cái không, chứ chắc chắn lời nói, thái độ có thể tạo địa ngục trần gian cho con khi chúng còn nhỏ.

Câu: “Một con ngưa đau cả tàu không ăn cỏ” làm chúng ta nhớ đến lời ông Phao-lô diễn ý trong thư thứ nhất gửi cho tín hữu Hội Thánh Cô-rinh-tô: “Trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng” (12:26) .  Xin Chúa giúp cho chúng ta với mỗi lời mình thốt ra là lời lành, những gì mình làm là những việc thiện tác dụng tích cực lên người khác.

Ảnh Hưởng Dây Chuyền

“Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người.” -1 Cô-rinh-tô 12:6

“Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng.” – 1 Cô-rinh-tô 12:26

“Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa.” – Phi-líp 2:4

Ngẫm suy xử thế con người,

Đôi khi bất cẩn nói lời làm đau!

Việc làm tuy có khác nhau,

Nhưng là một Chúa trên cao tạo thành!

Chúng ta hãy thử nhìn quanh,

Bà con cô bác chị anh em mình,

Có cùng một Đức Thánh Linh,

Một Thân liên kết giống hình ảnh Cha!

Ta nên hết sức thuận hòa,

Việc làm, lời nói thật thà giúp nhau,

Chứ đừng nóng giận, càu nhàu,

Phàn nàn, trách móc, thêm vào bất an!

Học Lời Kinh Thánh Chúa ban,

Nói làm ích lợi, sẻ san tình Trời,

Dây chuyền ảnh hưởng mọi người,

Gia đình, Hội-thánh vui tươi theo Ngài!

Nguyện làm nguồn phước hôm nay,

Nói lời khích lệ, giúp ngay đúng thì,

Thánh Linh chỉ dạy ta đi,

Làm theo Ý Chúa chẳng chi lo phiền!

Tiểu Minh Ngọc

From: Tu-Phung