Thói ghen ghét, đố kỵ của người Việt

 Van Pham is with Anh Chi

 Thói ghen ghét, đố kỵ của người Việt

Sự ghen ghét, đố kỵ hình thành khi một người cảm thấy mình thua kém người khác và tức giận vì điều đó. Sự ghen ghét, đố kỵ thường không chỉ dừng lại trong suy nghĩ của con người, nó còn bộc lộ ra ngoài thông qua hành động, lời nói để giải tỏa ẩn ức mặc cảm tự ti.

Điều này làm cho con người càng trở nên thấp kém hơn chứ không mang lại suy nghĩ tích cực cần vươn lên để hoàn thiện bản thân.

Người ta ví người Việt như những con cua bị nhốt trong giỏ không đậy nắp nhưng không con nào thoát được vì mỗi khi có con nào vươn lên liền bị các con khác kéo xuống. Sự ghen ghét, đố kỵ làm cho chúng ta hại người hại mình và cùng chết mà không biết. Nó gây tổn thương, chia rẽ và không thể có được sự đoàn kết.

Thấy đứa bạn trong công ty làm việc giỏi được sếp yêu quý, cất nhắc, lương thưởng cao, ta không coi đó là động lực thúc đẩy bản thân học hành thêm để tiến bộ, ta luôn tìm cách gây hại cho nó phải bị kỷ luật thậm chí mất việc thì mới hả dạ.

Thấy nhà hàng xóm ăn nên làm ra, ta không vui mừng thay cho họ, không học hỏi sự siêng năng cần mẫn giỏi giang hay kinh nghiệm của họ, ta ghen ghét đố kỵ và nhìn họ bằng con mắt ác cảm và tưởng tượng ra đủ thứ xấu xa trong đầu để nhủ họ cũng thường thôi, sao mà giỏi hơn ta được, chẳng qua là vì làm ăn xấu xa bất chính nên mới mau giàu. Và rồi ta bịa đặt, nói xấu, vu khống, thậm chí quăng rác sang cổng nhà hoặc cho chó ỉa một bãi trước cổng nhà nó cho đỡ ghét.

Ai làm được một việc gì đó có ích nho nhỏ, được nhiều người khen ngợi, lập tức sẽ có một số khác cảm thấy không vui và ghen ghét, đố kỵ. Họ sẽ tìm cách chê bai, dè bỉu, thậm chí phá hoại để người khác thấy rằng người kia cũng thường thôi, thậm chí kém hơn họ, có gì đáng mà khen.

Hoạt động trong một nhóm mà ý kiến được nhiều người nghe hơn những người khác, làm nhiều việc tích cực được ngợi khen thì chẳng sớm cũng muộn liền bị cô lập và đẩy văng ra khỏi nhóm.

Con người trong xã hội mất niềm tin vào nhau, luôn nghi ngờ và đề phòng, cảnh giác, không còn dám nói thật, sống thật với nhau vì sợ bị ghen ghét đố kỵ, do đó cũng không dám giúp nhau bởi lo âu người ta sẽ giỏi hơn mình, mình sẽ lép vế hơn.

Trong một cộng đồng xã hội có nhiều người ghen ghét đố kỵ thì xã hội đó sẽ chậm tiến trong mọi lĩnh vực vì không có sự khuyến khích phát triển. Người tài thường bị vùi dập. Sự chia rẽ nghi ngờ và giả dối triệt tiêu mọi yếu tố cần thiết để gây dựng tình yêu thương gắn kết trong cộng đồng.

Cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài cũng không tránh khỏi thói “ghen ăn tức ở” gây ra sự mất đoàn kết. Chỉ trích cá nhân, moi móc đời tư để mạ lỵ, bêu xấu nhau, xâu xé nhau khá khốc liệt. Hoàn toàn không có tính đoàn kết để xây dựng, bảo bọc và giúp nhau. Có những chuyện rất buồn mới xảy ra gần đây. Nhưng khi trao đổi, tôi thấy ai cũng nhân danh sự tốt đẹp, trong sáng và gắn kết thành một cộng đồng vững mạnh & phát triển như nhiều sắc tộc khác. Nhưng thực tế chúng ta không thành một khối vững chắc, mà vẫn là những cá thể mong manh yếu đuối dễ bị bẻ gãy vì đã tự chặt đứt sợi dây cột chặt đám đông bằng sự ghen ghét, đố kỵ.

Bởi thế ca dao Việt có một số câu tiêu biểu như:

– Không phải cứ thân nhau là bạn

Ở đời còn rất nhiều đứa khốn nạn gắn nhãn bạn thân.

– Tiền rách thì vẫn còn giá trị

Nhân cách rách thì chỉ là đồ vứt đi!

– Trong các thể loại buôn bán… Thì bán đứng bạn bè là thứ kinh tởm nhất!

ĐỨC TIN LÀ MỘT SỰ TÍN THÁC

ĐỨC TIN LÀ MỘT SỰ TÍN THÁC

Có một gia đình nọ sống giữa đồng không mông quạnh. Vào đêm kia, nhà bốc cháy dữ dội. Cha mẹ, con cái vội vã chạy ra ngoài sân và đứng bất lực nhìn ngọn lửa thiêu rụi tổ ấm gia đình họ. Bỗng mọi người chợt nhận ra thiếu đứa con bé nhất. Thì ra cậu bé cũng chạy với mọi người, nhưng chưa ra tới cửa, thấy lửa cháy dữ quá, cậu sợ hãi chạy trở lên lầu. Trong lúc cả gia đình hốt hoảng không biết phải làm sao để cứu cậu bé năm tuổi, vì lửa cao ngút tứ phía, bỗng cửa sổ trên lầu mở toang và cậu bé kêu khóc inh ỏi. Cha cậu bé gọi lớn tên con, rồi nói:

– Con nhảy xuống đây? Cậu bé nhìn xuống dưới chỉ thấy khói mù và lửa, nhưng nghe tiếng cha kêu mình, liền trả lời:

– Ba ơi, con không trông thấy ba đâu hết!

Người cha trả lời giọng cương quyết:

– Cứ nhảy đi, có ba trông thấy con là đủ rồi?

Và cậu bé leo lên cửa sổ, rồi nhảy xuống, rơi vào vòng tay yêu thương vạm vỡ của cha mình cách an toàn.

Cuộc thử thách của lòng tin là thử thách của tình yêu thương tín thác, trông thấy đường thẳng mà Chúa đã vẽ qua những đường cong của biên cố trong cuộc sống. Lời Ngài kêu mới là một lệnh truyền, một lời hứa và đồng thời là tiếng nói đòi nơi người nghe thái độ vâng phục và tin tưởng.

ST.

Vì Sao Không Nên Nhìn Vào Khuyết Điểm Của Người Khác?

GÓC SUY GẪM…

Vì Sao Không Nên Nhìn Vào Khuyết Điểm Của Người Khác?

Hãy học cách nhìn vào điểm tốt của mọi người, bao dung hơn với lỗi lầm của họ, bạn sẽ thấy tâm hồn của mình luôn thoáng đãng, an bình.

Nhìn vào khuyết điểm của người khác, sẽ làm tổn thương người khác, cũng làm tổn thương chính bản thân mình…

***

Một ngày nọ, sau khi người cha nghe xong con trai oán trách và kể khổ về cuộc hôn nhân của mình, ông hỏi:

– “Con trai, con có biết vợ con có ưu điểm gì?”

Người con trai phàn nàn nói:

– “Trước khi kết hôn thì cô ấy có, hiện tại thì không có ạ!”.

Ông bố hỏi lại:

– “Trong suy nghĩ của vợ con, con có điểm mạnh nào không?”

Người con trai ngập ngừng nói:

– “Hình như là trước đây con có, giờ thì không có”.

Người cha nói:

– “Vậy con còn giỏi hơn cha, trước khi cha lấy mẹ con, cha còn không biết mẹ có ưu điểm gì nữa”.

Người con ngẩng đầu lên nhìn cha, định nói điều gì đó, nhưng rồi lại thôi.

Người cha đi ra ngoài, cầm lên một viên ngói và một nắm bông rồi mang vào hỏi con:

– “Con xem, vật nào cứng hơn?”.

Người con trai không biết cha muốn làm gì, nhưng vẫn trả lời:

– “Cái này mà cha còn phải hỏi, tất nhiên là ngói cứng hơn”.

Người cha không nói gì, ông cầm viên ngói và nắm bông lên cao rồi thả tay ra, viên ngói rơi xuống vỡ tan, chia năm xẻ bảy, còn nắm bông thì không vấn đề gì cả. Người cha hỏi con:

– “Tại sao vật cứng thì nát, còn vật mềm thì lại không bị sao?”

Người con suy nghĩ nói:

– “Chắc vì bông mềm nên nhẹ, do đó không bị làm sao”.

Người cha vỗ vai con trai, nhẹ nhàng nói:

– “Con trai! Con cần phải như bông mà khiêm tốn lại, không làm tổn thương người khác cũng là không làm tổn thương mình. Như viên ngói kia, có cạnh có góc, nhưng gặp cứng thì vỡ. Khi con làm tổn thương người khác, cũng chính làm tổn thương chính mình đấy con à”.

Cha sống bao nhiêu năm rồi, cả đời cha chỉ hiểu một đạo lí đó là, nhìn vào ưu điểm của người khác sẽ khiến con tim mình ấm áp, còn nhìn thẳng vào khuyết điểm của người khác, thì cũng là làm tổn thương chính tâm hồn của mình.

Con nên học tập bông, bông vì người khác mà ngăn lại gió lạnh, nó giống như ánh mặt trời có thể sưởi ấm cho cuộc đời này. Khi đã kết hôn thì ai chẳng mong hạnh phúc, để làm được điều ấy chúng ta phải vun đắp hàng ngày.

Con trai, lời khen là một bảo bối, một lời khen của con có thể là động lực cho vợ con, còn một câu nói ích kỷ, cay nghiệt có thể khiến vợ con mang hận cả đời, từ đó mà kéo cuộc hôn nhân của con vào nơi bế tắc. Chẳng lẽ con cũng muốn cha đối xử với mẹ con giống như con đang đối xử với vợ con hay sao?”

Người con trai nghe xong, im lặng ngẫm nghĩ…

***

Có người chỉ chăm chăm nhìn thấy cái sai ở người khác, nhưng có người lại nhìn thấy được cả ưu điểm trong những điều sai lầm.

Để có thể trở thành loại người thứ hai, cần phải vừa có lòng bao dung vừa có trí tuệ.

Ai cũng có ưu điểm và nhược điểm. Nếu bạn chỉ chăm chăm vào nhược điểm của người khác và thấy điều tồi tệ ở họ thì cuộc sống của bạn quả thật là tồi tệ.

Hãy học cách nhìn vào điểm tốt của mọi người, bao dung hơn với lỗi lầm của họ, bạn sẽ thấy tâm hồn của mình luôn thoáng đãng, an bình.

từ SecretLife

MẶC CẢM THẤP KÉM VÀ NỔI TRỘI

May be an image of 1 person

Bài hay nên đọc kỹ và suy nghĩ!

Facebook Đặng Bích Phượng:

Mạc Van Trang: Các nhà Tâm lý học nên đọc bài này và đọc sách của nhà tâm lý học Alfred Adler.

MẶC CẢM THẤP KÉM VÀ NỔI TRỘI

Fb Nguyen Tuan

Có khi nào các bạn cảm thấy ngạc nhiên khi thấy mấy người trong vai trò lãnh đạo thốt lên những mệnh đề như ‘Việt Nam anh hùng’, ‘Việt Nam không kém ai’, ‘Việt Nam vinh quang’, ‘Thủ đô ngàn năm văn hiến’, ‘Đồng chí XYZ vĩ đại’, v.v. Tôi tự tìm nguồn cội của cách nói này, và nghĩ rằng đó là triệu chứng của một hội chứng tâm lí có tên là ‘Inferiority Complex’ (hội chứng thấp kém) [1] và ‘Superiority Complex’ (hội chứng nổi trội) [2].

Từ sau 1975 tôi (và chắc nhiều bạn khác) rất ngạc nhiên với cách nói mới mang tính hô khẩu hiệu. Hô theo giới lãnh đạo. Hễ nói đến Việt Nam là phải có thêm ‘anh hùng’; hễ viết về lãnh đạo thì phải ‘vĩ đại’; hễ Hà Nội là ‘ngàn năm văn hiến’; hễ chiến thắng là phải ‘vinh quang’; hễ viết về đối phương là ‘bè lũ’, là ‘bán nước’, v.v.

Lúc đó tôi không biết những cách nói thậm xưng đó xuất phát từ đâu. Khi ra nước ngoài thì mới biết đó cũng là cách nói rất phổ biến ở bên Liên Xô, Tàu, Bắc Hàn, v.v. Ở Bắc Hàn, hễ Kim Jong-Il là phải kèm theo ‘lãnh tụ kính yêu’, ông già là Kim Nhật Thành là phải ‘lãnh tụ vĩ đại’, và ông cháu Kim Chính Ân thì phải là ‘Người thừa kế vĩ đại’.

Khi những chữ này được lặp đi lặp lại nhiều lần, người ta cứ nói theo như là quán tính. Mà, quán tính thì không cần suy nghĩ. Người nghe tưởng đâu đó là sự thật. Nhưng khi ra nước ngoài, tôi không thấy lãnh tụ hay báo chí họ dùng những chữ thậm xưng đó. Suy nghĩ kĩ thì cách nói đó có khi là một hình thức che giấu sự yếu kém mà thôi, tức là Hội chứng mặc cảm thấp kém.

  1. Hội chứng thấp kém

Hội chứng mặc cảm thấp kém là một phát kiến của nhà tâm lí học trứ danh người Áo Alfred Adler. Năm 1907, Adler bàn về hội chứng này lần đầu tiên, mà trong đó ông nêu lên một số đặc điểm có tác động đến cuộc sống hàng ngày. Ông xem hội chứng mặc cảm thấp kém là một rối loạn thần kinh (neurosis).

Adler nghĩ rằng yếu tố căn bản của rối loạn thần kinh là cảm giác thấp kém, và những người mắc chứng này tiêu ra thì giờ để cố gắng đối phó và chiến thắng cảm giác đó mà không biết gì đến thực tế.

Adler cho rằng tất cả trẻ con đều có mặc cảm thấp kém ngay từ khi họ được sanh ra. Trẻ con làm tất cả để được ba má chú ý tới. Những nỗ lực đó của họ (trẻ con) dần dần theo thời gian giúp chúng hình thành những mục tiêu tưởng tượng trong tiềm thức. Những mục tiêu này giúp đứa trẻ phấn đấu chỉnh sửa mặc cảm thấp kém và phát triển khả năng. Khi đứa trẻ được chăm sóc tốt, nó sẽ chấp nhận những thách thức và học cách vượt qua. Ông gọi đó là Quá trình Compensation (Đền bù).

Tuy nhiên, Quá trình Đền bù đôi khi không diễn ra một cách bình thường, và cảm gíac thấp kém trở nên căng thẳng hơn. Đứa trẻ bắt đầu cảm thấy nó không có khả năng kiểm soát môi trường chung quanh. Họ phấn đấu để được đền bù, nhưng không đạt được hiệu quả. Tình trạng này dẫn đến hiện tượng mà Adler gọi là ‘Overcompensation’ (Đền bù thái quá). Đứa trẻ bắt đầu tập trung vào việc đạt được những mục tiêu ngoài khả năng của nó.

Chứng Overcompensation có thể dẫn đến hội chứng mặc cảm thấp kém. Đây là mặc cảm thiếu tự tôn (self-esteem). Theo Adler, đặc điểm chánh của người bị chứng mặc cảm thấp kém là người đó lúc nào cũng phấn đấu tìm một tình huống để chứng tỏ mình nổi trội.

Động cơ làm người nổi trội là một triệu chứng của mặc cảm thấp kém.

Theo sách tâm lí học, người có hội chứng thấp kém thường có những biểu hiện sau đây:

  • cảm giác bất an, không xứng đáng;
  • rụt rè trong các giao tiếp xã hội;
  • hay so sánh mình với người khác;
  • cảm giác thù ghét, nản lòng, bồn chồn, nóng nảy;
  • mất ngủ;
  • không có khả năng hoàn tất công việc;
  • dấu hiệu trầm cảm, lo lắng.

Chẳng hạn như lần tiếp xúc Tập Cận Bình, một ông lãnh đạo VN làm mọi người ngạc nhiên khi ông so sánh trà Tàu ngon hơn trà Việt Nam! Ngạc nhiên là vì ông ấy ở vị trí lãnh đạo quốc gia mà lại thốt ra một câu không cần thiết.

Sau này ông ấy và đồng nghiệp còn có nhiều câu phát biểu mang tính so sánh Việt Nam như là một ‘cường quốc’ trên thế giới. Có thể đó là cảm nhận cá nhân, nhưng cảm nhận đó chắc chắn xuất phát từ tiềm thức hay mặc cảm nào thấp kém.

Thỉnh thoảng, người mắc chứng mặc cảm thấp kém còn tỏ ra tự tin thái quá hay ái kỉ (narcissist) mặc dù trong thực tế họ rất thiếu tự tin. Những biểu hiện này bao gồm:

  • tự trình diễn mình như là một người tài năng;
  • tỏ ra là người hoàn hảo, và do đó rất nhạy cảm với những phê bình;
  • tìm lỗi của người khác;
  • thích được chú ý và tìm sự chú ý của người khác;
  • không có khả năng nhận ra sai sót của mình.
  1. Hội chứng nổi trội

Nhưng Adler còn chỉ ra một hội chứng mặc cảm nổi trội (superiority complex). Người mắc chứng này cảm thấy lúc nào cũng có nhu cầu để chứng minh rằng mình hơn chính mình (để nổi trội hơn người khác). Adler chỉ ra rằng trẻ con cũng hay mắc chứng này, và chúng lúc nào cũng tỏ ra xấc láo, phách lối, và thích gây hấn. Đứa trẻ mắc chứng này chỉ vì nó cảm thấy nó thấp kém hơn người khác.

Thật vậy, mặc cảm nổi trội được phát sanh từ mặc cảm thấp kém. Nó (mặc cảm nổi trội) là một cách thức mà bệnh nhân hay dùng để thoát khỏi sự khó khăn và thấp kém của chính họ.

Những biểu hiện của Hội chứng nổi trội bao gồm:

  • tự đề cao mình hay tự đánh giá mình quá cao;
  • tuyên bố những điều khoác lác không đúng với thực tế;
  • chú ý đến bề ngoài;
  • tự xem ý kiến của mình là quan trọng;
  • cố gắng trình diễn mình như là một người ưu việt và có thẩm quyền;
  • không lắng nghe người khác;
  • hay so sánh mình với người khác để ngầm cho thấy mình hơn họ;
  • nhưng tự trong lòng thì thiếu tự tôn và cảm thấy mình thấp kém.

Nguyên nhân của Hội chứng nổi trội thì có nhiều. Nhiều tình huống dẫn đến Hội chứng nổi trội. Chẳng hạn như họ đã bị thất bại nhiều lần trong quá khứ, nên họ cố gắng ‘nổ’ để bù đắp cho những thất bại đó. Cũng có thể họ đang bị căng thẳng nên giả bộ rằng mình đã vượt qua sự căng thẳng. Nói tóm lại, nguyên nhân chánh của Hội chứng nổi trội là họ tìm cách thoát khỏi thực tế và giả bộ rằng họ hơn người khác.

***

Hôm trước, tác giả Nguyễn Hữu Liêm viết một bài rất hay nhưng rất đụng chạm, trong đó anh nhận định rằng người Việt Nam như là một quần thể đang ở tuổi thiếu niên. Đoạn bạn Liêm viết về mặc cảm thấp kém như sau [3]:

“Nguyễn Trãi là một trường hợp điển hình. Dù là tác giả của Bình Ngô Đại Cáo oai phong, tuyệt vời cả về văn ngữ lẫn tinh thần nội dung, nhưng khi đọc Trung Quân Từ Mệnh Tập mà Nguyễn Trãi đã viết thay mặt Lê Lợi gởi cho nhà Minh, chúng ta cũng không khỏi ngậm ngùi cảm nhận được cái nhục nhã, cái thái độ khom mình cúi đầu thần phục đối với phương Bắc. Thế nhưng dần dần chiến thuật nhún nhường cần thiết với nghi thức phong kiến và ngôn ngữ của kẻ yếu đã trở nên một bản chất cá tính của tầng lớp chính trị Việt.

Bản sắc cá tánh muốn được công nhận ảo này còn thành ‘yếu tố di truyền’ trong văn hóa bằng cấp, học hàm , học vị của người Việt.

Với truyền thống thi đỗ thì được làm quan để cho cả họ được nhờ, học vị khoa bảng đã trở thành chìa khóa cho thực tại tiến thân trong xã hội – cũng như cho tâm ý được coi trọng và công nhận giá trị nhân bản bởi tha nhân và đại thể khách quan. Ta chỉ là một công dân khi được có bằng cấp, hay chức vị trong triều đình. Ta chỉ hiện hữu khi Ta được công nhận bởi tha nhân. Từ đó, cái Ta được định hình bằng cái không-Ta, mà bản chất là một biện chứng tiêu cực có gốc rễ từ một tâm ý nô lệ. Bệnh cầu cạnh khoa bảng danh vọng còn đang rất thịnh hành trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Bạn hãy suy nghẫm về kinh nghiệm bản thân khi tiếp xúc, giao tiếp, làm ăn, sinh hoạt với người Việt ta. Không ít người lớn tuổi, bằng cấp học vị, học hàm, chức vụ, nghề nghiệp, kể cả giới tu sĩ các tôn giáo hay lãnh đạo chính trị, nhà nước, trong hay ngoài nước, vẫn mang tính tình niên thiếu.

Nếu bạn có dịp giao tiếp hay làm việc với người Âu Mỹ thì sẽ thấy rằng họ – người phương Tây – chững chạc, trưởng thành hơn chúng ta nhiều, kể cả khi họ không có bằng cấp cao, hay khi còn rất trẻ tuổi. Dĩ nhiên là cũng có những thành phần quần chúng lao động Mỹ chẳng hạn, vẫn còn mang nặng tính tình trẻ con.

Thế nhưng tôi dám nói rằng nhìn tổng thể, đại đa số dân Việt khắp thế giới, vẫn là một tập thể chưa chín chắn, rất bồng bột, hơi ngây thơ và nhiều hoang tưởng. Nhìn vào các cộng đồng mạng xã hội mấy năm nay để thấy được cái tệ hại của sự thiếu trưởng thành và tính trẻ con thích cãi lộn. Có người đã nhận xét rằng hãy lên Facebook để thấy cái bản mặt xấu xí của dân Việt – the truly ugly side of Vietnameseness – với tính tình nặng chất trẻ con của họ là như thế nào.”

Tôi nghĩ anh ấy viết quá đúng.

Có thể lấy cách viết danh thiếp của giới có học Việt Nam ra làm một ví dụ. Chẳng biết từ khi nào mà người ta có cách viết như “PGS TS BS” trước tên một người. Tôi tự hỏi có cần thiết dài dòng như vậy không? Có lẽ đối với họ mấy chữ viết tắt đó là bùa cá nhân chăng? Nếu tôi mắc bệnh, tôi đi gặp BS, chớ chưa chắc tôi đi gặp mấy vị TS, còn PGS là chức vụ mấy bác ấy tôi không quan tâm.

Đôi khi chính tôi cũng vì mặc cảm dân tộc nên cũng có vài phát ngôn có thể xem là mặc cảm thấp kém. Hôm trong một hội nghị ở Singapore năm 2019, thấy mọi nước chung quanh phát biểu về những việc làm của nước họ làm tôi cũng tự ái dân tộc và nói rằng “Việt Nam tuy là nước nghèo, nhưng chúng tôi đã làm những nghiên cứu mà các nước trong vùng chưa làm.” Đêm về khách sạn, nằm suy nghĩ lại thấy phát biểu của mình có chỗ không cần thiết và trẻ con. Tại sao phải so đo với các nước khác? Nói vậy là mình đã thiếu tự tin. Đó cũng là thể hiện của hội chứng mặc cảm nổi trội vậy. Tôi tự điều chỉnh mình sau đó.

Câu chuyện nó cũng giống như trải nghiệm thời trẻ con ở dưới quê. Nếu chú ý cách đối thoại của bọn trẻ con, chúng ta dễ thấy chúng có cách nói ‘cương’, chúng hay tìm một điểm nào đó để làm điểm tựa. Chẳng hạn như nếu bị chê là học dở, thì y như rằng chúng sẽ nói ‘Nhưng nhà tao lớn hơn nhà mày.’ Khi bị chê là nghèo, chúng sẽ nói ‘Anh tao học giỏi hơn anh mày.’ Rất trẻ con.

Quay lại những mệnh đề như ‘Việt Nam anh hùng’, ‘Việt Nam không kém ai’, ‘Việt Nam vinh quang’, ‘Thủ đô ngàn năm văn hiến’, ‘Dân tộc ta vĩ đại’, v.v. tôi nghĩ không cần thiết có mặt trong các nghị luận công chúng. Những kiểu gân cổ hay phùng mang trợn mắt bằng ngôn ngữ như thế chỉ là biểu hiện của tâm lí thiếu tự tin, của hội chứng nổi trội và hội chứng thấp kém. Lãnh đạo đáng lí ra là người trưởng thành, nhưng cách nói của họ thì không phù hợp với giả định đó. Người phương Tây biết là trò trẻ con, nhưng họ không nói ra, còn ta thì chỉ tự ru ngủ mình.

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1265111097282821&id=100013518285955

Đời Người Tựa Như Một Giấc Mộng, Tuyệt Đối Đừng Ỷ Rằng Bạn Có Tiền, có Quyền…

GÓC SUY GẪM…

Đời Người Tựa Như Một Giấc Mộng, Tuyệt Đối Đừng Ỷ Rằng Bạn Có Tiền, có Quyền…

Con người được sống khỏe mạnh chính là hạnh phúc nhất rồi, những thứ khác đều là phù du cả. Đừng cho rằng bạn có tiền, nếu không có sức khỏe thì tiền nhiều cũng chẳng có chút gì đáng giá.

Tuyệt đối đừng nói rằng bạn có tiền là sẽ có được mọi thứ. Suy ngẫm 8 câu châm ngôn dưới đây, bạn sẽ hiểu rõ ràng tất cả:

  1. Đừng có xem áp lực thành động lực, lao động quá sức, để rồi tổn hại bản thân.
  2. Đừng quên sức khỏe mới là tiền vốn, không có sức khỏe, thì không cách nào tận hưởng được hết niềm vui của đời người.
  3. Đừng xem nặng danh lợi quá, sau khi hào nhoáng qua đi, mới nhận ra mọi thứ đều chỉ là mây khói thoáng qua.
  4. Đừng có nghĩ rằng bác sĩ là người có thể cứu lấy mạng sống của bạn, thật ra không phải như vậy, chính bạn mới là người quyết định, dưỡng sinh quan trọng hơn cứu mạng.
  5. Đừng mong nghĩ rằng cho đi sẽ được báo đáp lại, chỉ có không kể báo đáp, mới có thể thực hành được việc hành thiện, lấy đức báo oán.
  6. Chớ nghĩ rằng làm quan thì “ngầu” hơn dân, một khi bị mất chức, cuối cùng vẫn chỉ là một thường dân thôi.*
  7. Đừng bỏ mặc những người có duyên với bạn, bởi vì sau khi vinh hoa qua đi, bạn mới hiểu được rằng rất nhiều người sẽ rời xa bạn, khi ấy bạn mới thấy tri kỷ thật khó tìm.
  8. Đừng nghĩ rằng hỏi han là quấy rầy, những người thường gửi tin nhắn cho bạn nhất định là người ở trong tâm có hình bóng của bạn.

Một nhà doanh nghiệp rất nổi tiếng, cứ cách một đoạn thời gian, ông lại dẫn theo vợ con đến nơi hỏa táng để xem. Có người không hiểu, hỏi ông nguyên do. Ông nói rằng, chỉ cần đến nơi hỏa táng, cái tâm nóng nảy sẽ rất mau chóng an tĩnh lại, thấy danh lợi tiền tài thật nhẹ nhàng.

Ở nơi hỏa táng này, không kể bạn là quan to quý tộc quyền cao chức trọng, uy danh hiển hách hay là một người dân bình thường, nghèo rớt mồng tơi, không ai biết đến, cuối cùng đều sẽ phải đến đây, chung một tư thế, lặng yên nằm xuống, sau đó bị đưa vào bên trong lò hỏa táng đang bốc cháy ngùn ngụt, khi trở ra lần nữa, thì chỉ là một chiếc hộp vuông nho nhỏ được bọc trong tấm vải đỏ.

Khi đến chẳng mang theo thứ gì, khi đi chỉ như một làn khói. Đời người chính là đơn giản như vậy! Vinh hoa phú quý phút chốc thoáng qua, ân ái tình thù cũng chỉ như cát bụi.

Hôm nay sống trong một thế giới vật chất dục vọng tràn lan, bên cạnh chúng ta là đầy những cám dỗ mê hoặc: quyền lực, địa vị, tiền bạc, mỹ sắc…, hễ không cẩn thận, thì trong tâm sẽ dậy sóng. Nội tâm chúng ta vốn dĩ trong sáng, thuần tịnh, bình lặng sẽ trở nên ngông cuồng, ngạo mạn và tư lợi.

Khi bạn cảm thấy hiện thực và lý tưởng có sự chênh lệch,

Khi bạn cảm thấy uất ức thương tâm, không có người hiểu bạn,

Khi bạn vì ân oán tình thù mà canh cánh trong lòng,

Khi bạn vì lợi ích được mất mà so đo tính toán,

Khi bạn khom lưng chau mày đối với quyền thế,

Khi bạn vì địa vị cao thấp mà mưu tính hại nhau…, sao bạn không đi đến nơi hỏa táng xem thử, đối diện với một nắm tro bụi, bạn còn có gì không buông xuống được đây?

Đời người tựa như một giấc mộng! Tuyệt đối đừng nghĩ rằng bạn có tiền, có quyền!

Tham khảo từ Secretchina*

Facebook nhắc 1 chuyện.

Facebook nhắc 1 chuyện.

PGS.TS Ngôn Ngữ Học Hà Quang Năng là tác giả của một cuốn từ điển chính tả tiếng Việt.

Khi được Hoàng Tuấn Công – “một tay khuyến nông” ở Thanh Hóa chỉ ra tùm lum, và rất thuyết phục người đọc, các lỗi sai của cuốn từ điển, thì ông Năng đưa ra nhiều biện hộ, một trong các biện hộ ấy là:

– “Ngay chính tả cũng cần một thái độ bao dung đa chuẩn mực” !

– “Lưỡng khả”

Điều này có nghĩa là gì?

Có nghĩa là, ví dụ, “Xét Xử” là việc của tòa án, còn ông viết “Xét Sử” là việc xem xét lại lịch sử. Tùy theo mà ta dùng.

Thế thì,

“Trừu mến” là mến con Trừu (nhiều nơi gọi con Cừu là con Trừu mà, đa chuẩn mực đi) còn “trìu mến” là phiên bản khác. Ai muốn dùng sao thì dùng

Còn tôi gọi là “triều mến” cũng chả sao, cu ca sĩ xăng pha nhớt ông hoàng gì đó còn hát “…con tiêm yêu thương vô tình chợt gọi” mà.

Và đó là nhận thức về chuẩn mực Chính tả của ông giáo sư.

Nhưng buộc lòng phải nói điều này.

  1. Các sai lầm chính tả giữa s-x, tr-ch, gi-d, r-d, l-n, v.v… nói xin lỗi, là đặc trưng nổi bật của miền đó.

Đừng cố cãi, tôi chính là người miền đó đây. Và tôi cũng nói ngọng l-n đây.

  1. Các ông viết sai, nói ngọng là đặc thù, là rất phổ biến và phù hợp với trình độ các ông, nhưng đừng bắt tiếng Việt phải sai ngọng theo các ông và rồi các em học sinh, khi dùng cuốn từ điển rác rưởi đó, cũng sẽ sai theo các ông.

Từ với chả điển.

Nhà xuất bản Từ điển Larousse danh tiếng thành lập năm 1852.

Năm 1991, ấn bản in màu the Petit Larousse en Couleurs ra đời có 1 mục từ sai. Chỉ một mục từ thôi.

Đó là in sai tên 1 loại nấm độc mọc ở Pháp và nói đó là loại nấm không nguy hại.

Chỉ với 1 lỗi sai này, Larousse đã phải ngưng phát hành trên 6,000 tiệm sách ở Pháp, và phải thực hiện 1 chiến dịch quảng cáo rầm rộ để nói ai đã lỡ mua cuốn từ điến 1,700 trang này thì tới đổi cuốn mới.

Larousse gọi là “an engraving error”. (một sai sót khắc ghi vào trí óc).

Loài giáo sư vịt cỏ, thạc sĩ gà què mà dám bặm trợn viết từ điển thì không biết những chuyện thế này đâu.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thư Về Làng & Giấc Mơ Hồi Hương Của Những Kẻ Tha Phương

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thư Về Làng & Giấc Mơ Hồi Hương Của Những Kẻ Tha Phương

Ảnh của tuongnangtien

Thứ Sáu, 06/11/2021 – 03:04 — tuongnangtien

Tôi tình cờ tìm được ấn bản Lá Thư Về Làng của nhạc sỹ Thanh Bình, do nxb Lúa Mới phát hành, năm 1956. Vào thời điểm đó, tuy chưa đủ tuổi để cắp sách đến trường nhưng tôi cũng đã thuộc lời của nhạc phẩm này rồi vì nghe mấy bà chị và radio hay hát:  

 Từ miền Nam, viết thư về thăm xóm làng
Sắt son gửi trong mấy hàng
Thăm bà con dãi dầu năm tháng
Từ Tiền giang thương qua đèo Cả thương sang
Đêm đêm nhìn vầng trăng sáng
Thương những già khuya sớm lang thang
Em thơ ơi có còn học hành sớm tối
Áo nâu tươi gái làng còn che môi cười
Và đàn bò còn nghe chim hót lưng đồi
Nhớ nhung rồi thương quá lắm bé thơ ơi!

Ruộng đồng yêu ơi!
Thôn làng ruộng đồng yêu ơi!
Đường về làng tôi
Lúa đồng rạt rào đón mời.

Và người yêu quê
Đau sầu từ ngày anh đi
Có sớm anh về
Mừng mừng ướt má hoen mi.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn bình luận:

Trong sinh hoạt âm nhạc của chúng ta, thỉnh thoảng lại thấy xảy ra hiện tượng: Không vì lý do nào cả, bỗng nhiên một ca khúc hay một tác giả nào đó, bị quên lãng, không thấy ai hát hay nhắc tới nữa. Sự việc có thể kéo dài hay chỉ trong một thời gian ngắn.

Thanh Bình không hẳn ở trong trường hợp ấy.

Nhưng, trong số các băng, đĩa nhạc được thu ở hải ngoại trong mấy chục năm rồi, hình như chỉ thấy có một bài, do Khánh Ly hát, đó là bài “Tình Lỡ”.

Nhớ lại những năm sau 54, bài “Lá Thư Về Làng” của Thanh Bình đã gây xúc động trong lòng bao người vừa rời bỏ miền Bắc trong cuộc di cư vào Nam. Càng cảm nhận ra rằng mình được bao dung, yên ổn, trong vùng đất mới, người ta càng xót xa nhớ thương quê cũ.

Thanh Bình từ trần vào ngày 23/05/2014 tại Sài Gòn. Tháng 5 vừa qua, FB  Lâm Ái có ghi lại đôi ba chi tiết (đau lòng) về những tháng ngày cuối cùng và cái chết của ông:

Ở cái tuổi 80, ít ai tin rằng một nghệ sĩ nổi tiếng nhưng không nhà không cửa, lang thang xin ăn ở chợ, bến xe. Các anh công an đưa ông về trại dưỡng lão thì phát hiện ra là nhạc sĩ Thanh Bình và đưa ông về ở với cháu gái (con gái của chị ruột).

Vợ chồng cháu gái làm công nhân, làm thuê đời sống hết sức khó khăn. Đầu năm nay ca sĩ Ánh Tuyết đã tổ chức đêm nhạc cho ông, chị cũng đã làm được 2 sổ tiết kiệm. Nhưng vì ông đột ngột mất, con gái đang đi tù nên không thể rút được tiền làm đám tang.

Ca sĩ Ánh Tuyết lại là người bên ông, lo cho đám tang của ông. Điều đáng buồn, dù ca sĩ Ánh Tuyết có kêu gọi hỗ trợ nhưng dường như số tiền vẫn không đủ để lo cho đám tang, đành xin quan tài lục giác của chùa để an nghỉ.

Sau cuộc hý trường 1975 thì có biết bao nhiêu cảnh đời bầm dập, và biết bao nhiêu mảnh đời tan nát. Nhọc nhằn, đắng cay, tủi nhục (nào có chừa ai) chứ đâu riêng chi nỗi bất hạnh của một người nhạc sỹ. Tuy thế, sao tôi vẫn xót thương cho cái ước vọng nhỏ nhoi của Thanh Bình, vào thuở thanh xuân, khi vừa bước chân vào đến miền Nam: “Có sớm anh về/Mừng mừng ướt má hoen mi.”
Cho mãi đến cuối đời Thanh Bình vẫn chưa bao giờ “có sớm” trở về, giữa “lúa đồng rạt rào đón mời”, bên cạnh cô em “ướt má hoen mi”, như mong đợi cả. Thời cuộc đã biến ông thành một lão ăn mày, sống vất vưởng ngoài bến xe, rồi chết dấm dúi trong một ngôi chùa (nào đó) ở miền Nam.

Đồng nghiệp (và đồng thời) với Thanh Bình, có những người tuy không đến nỗi sa chân đến bước đường cùng nhưng lắm kẻ cũng rơi vào cảnh bẽ bàng tương tự. Lúc rời bỏ “phần đất quê hương tù đầy,” Hoàng Anh Tuấn và Phạm Đình Chương (tác giả của nhạc phẩm Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội) cũng đều thiết tha mong chờ một ngày hồi hương với …  mây trắng vui tươi và tự do phơi phới. Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành an vui không kém: Tắm nắng hồng của một sớm  mai/ Say hương thanh bình khắp nơi.

Chiến tranh tuy đã chấm dứt gần nửa thế kỷ qua nhưng “hương thanh bình” chưa bao giờ thoáng hiện tại bất cứ nơi đâu. Khi ra đi nhạc sỹ Thanh Bình đã để lại những cô “gái làng” (còn che môi cười) và những “em thơ” (còn học hành sớm tối) cùng những “đàn bò” (còn nghe chim hót lưng đồi)…

Nay thì làng quê ở miền Bắc Việt Nam đã hoàn toàn đổi khác, theo như ghi nhận của một nhân chứng thế giá – nhà văn Nguyễn Khải: “Ai cũng giàu có hơn trước, nấu cơm bằng nồi cơm điện, tối xem tivi mầu, giờ rảnh thì xem phim bộ. Mỗi xóm đều có cửa hàng cho thuê băng vidéo, có gái điếm cho ngủ chịu đến mùa trả bằng thóc, có cờ bạc, có hút thuốc phiện và chích heroin, thành phố có gì ở làng quê đều có…”

Thị thành cũng thế, cũng đã đổi thay ngoài sức tưởng tượng của bất cứ ai. Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường, dường như, không còn nữa. Bây giờ chỉ toàn là những  đường phố lạ:

Chả trách mà nhà thơ Cao Tần cảm thán: Với danh thiếp những tên đường đã đổi/ Những số nhà chớp mắt bỗng tang thương.

Điều an ủi là Phạm Đình Chương, Vũ Thành,  Hoàng Anh Tuấn … đều đã qua đời trước khi “Bún Mắng Cháo Chửi Đang Ngày Càng Phổ Biến Ở Hà Nội” – theo như (nguyên văn) tiêu đề bản tin của báo Dân Trí, số ra ngày 21/01/2016.

Tuy “phát triển” nhưng nước Việt  – xem ra – mỗi lúc một thêm khó sống với rất nhiều người. Hai mươi năm trước, sau khi biến động xẩy ra vào tháng 2 năm 2001 tại Cao Nguyên Trung Phần, thanh niên Y Bion cùng 905 người dân bản địa khác đã rời bản làng để ra nước ngoài lánh nạn.

Khi được hỏi về dự tính của mình cho tương lai, Y Bion cho biết: “Khi vùng Tây Nguyên được tự do, tôi sẽ quay về.” (“Người Thượng Sẽ Ði Mỹ Ðịnh Cư Nhưng Trở Về Khi Quê Hương Tự Do.” Nhật báo Người Việt – 02/05/2002).

Y Bion không phải là người Việt tị nạn đầu tiên (hay cuối cùng) đến Mỹ. Anh cũng không phải là người duy nhất (vừa bước chân đi) đã ôm mộng trở về xây dựng lại quê hương. Tâm sự của Y Bion, chắn chắn, đã làm nao lòng rất nhiều người – những người vượt biên vào cuối thập niên 70 (và đầu thập niên 80) khi phong trào vuợt biển tìm tự do lên đến điểm cao nhất, cũng đã cắn răng rời bỏ quê hương, và cũng đều đã nhủ lòng rằng: Mai này chúng ta cùng về Việt Nam.”

Từ đó đến nay, hàng triệu người đã “cùng về Việt Nam” nhưng phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, đều chỉ về qua (hay về chơi) chút xíu thôi!

Kẻ ly hương mới nhất, B.S Hồ Hải, cũng vừa phát biểu (qua livestream) vào hôm 19 tháng 5 năm 2021 rằng: “Tôi sẽ về và đem đến những gì tốt đẹp đến với quê hương, nơi chôn rau cắt rốn của mình trước khi tôi trở về với cát bụi.”

Lời lẽ gan ruột của ông lại khiến tôi nhớ đến “Thư Về Làng” của Thanh Bình và “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành. Hết thế hệ này đến thế hệ khác, những kẻ đành đoạn quay lưng đều tự xoa dịu nỗi đau bằng những ước vọng rất chân thành.

Với thời gian, mọi ước vọng đều trở nên những niềm hoài vọng xa xăm trong khi  cái mảnh đất quê hương khốn khổ (và bao người ở lại) thì vẫn ngóng trông … mỏi cổ!

Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc?

Van Pham

Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc?

GS Nguyễn Văn Tuấn

Nếu được hỏi thời đại hay triều đại nào là huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, bạn sẽ trả lời ra sao? Trả lời câu hỏi này hơi khó, vì đòi hỏi kiến thức lịch sử tốt và đánh giá khách quan. Thế nhưng đối với ngài Tổng Trọng thì câu trả lời đã dứt khoát: Thời đại Hồ Chí Minh.

Trong bài diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1). Ông giải thích rằng sở dĩ thời đại HCM là vàng son nhất vì VN từ một nước thuộc địa trở thành độc lập, tự do; vì phát triển theo xã hội chủ nghĩa; vì nhân dân từ nô lệ thành người làm chủ đất nước; vân vân.

Cố nhiên, đó là nhận xét và quan điểm của ngài. Có người đồng tình, nhưng tôi nghĩ số người không đồng tình chắc cũng ngang ngửa thậm chí cao hơn số người đồng ý. Những người không đồng tình chắc chắn xem xét đến những sự thật sau đây trong cách nhìn của họ:

Có ai dám chắc là nước ta đã độc lập, khi khái niệm này còn rất mơ hồ. Trong thực tế, VN lệ thuộc vào Tàu một cách đáng sợ về kinh tế và chính trị. Nước ta vẫn theo cái chủ nghĩa đã hết sức sống, mà chỉ cần đọc cái tên của chủ nghĩa đó là làm thế giới nhăn mặt. Khi mà người dân chưa được quyền đi bầu để chọn người xứng đáng thay mặt mình quản lí đất nước thì rất khó nói rằng người dân đã thật sự làm chủ đất nước.

Còn tự do thì chắc chắn nhiều người không đồng ý. Các tổ chức thế giới xếp VN vào những nước có hạn chế tự do báo chí nhất thế giới. Các nước cứ liên tục nhắc nhở VN nên tôn trọng quyền con người của công dân. Còn về kinh tế, cho đến nay, VN vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới, và đang bị rớt vào cái bẫy thu nhập trung bình. Chẳng những nghèo, mà khoảng cách giữa người giàu và nghèo càng gia tăng. Người dân hiện đang gánh trên vai hàng trăm loại thuế và chi phí, khổ hơn cả thời VN còn là thuộc địa của Pháp.

Một vị thiếu tướng QĐND mới đây phát biểu rằng “Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa” (2).

Vị thế của VN vẫn còn rất thấp. Người VN cầm hộ chiếu VN ra nước ngoài không được chào đón thân thiện như người Nhật, Singapore, Hàn, Thái, Mã Lai, v.v. Hiện nay, VN đứng hạng 81 về hộ chiếu được chấp nhận trên thế giới, tức miễn visa, và thứ hạng này còn thấp hơn cả Lào (hạng 80) và Campuchea (hạng 79).

VN đang ở thế bất lợi trên trường quốc tế và không được cộng đồng quốc tế kính trọng. Ngay cả nước láng giếng nhỏ là Kampuchea đã bắt đầu khinh thường và lên lớp VN! VN còn bị xếp hạng vào nước bủn xỉn nhất nhì trên thế giới, chỉ biết ăn xin mà chẳng giúp ai.

Và, người ta khinh VN ra mặt. Mới đây thôi, một viên chức Nhật Bản đặt câu hỏi trước báo chí VN [mà có thể hiểu nôm na] rằng “các anh còn ăn xin đến bao giờ nữa”? Viên chức này còn lên giọng mắng VN như mắng con: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN”. Bất quá tam. Là người Việt Nam có tự trọng ai cũng cảm thấy nhục trước lời mắng mỏ đó.

Rất khó nói là thời đại huy hoàng khi mà đất nước đã bị mất mát về biển đảo cho giặc Tàu mà ngài xem là “anh em đồng chí”. Ngài cũng không nhắc đến những mất mát trên đất liền cũng cho cái đất nước mà một số người Việt ngọt ngào gọi là “đồng chí”, là “bạn”.

Ngài tổng không nói đến một thực tế rằng chưa có thời đại nào trong lịch sử dân tộc mà hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi, và hàng trăm ngàn người chết trên biển cả và rừng sâu trên đường tìm tự do. Đó là chưa nói đến hơn 3 triệu người bỏ mạng trong cuộc chiến huynh đệ mà đến nay vẫn chưa được đặt tên.

Chưa có thời đại nào mà hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam bỏ quê đi làm vợ cho ngoại nhân Hàn, Đài, Tàu như hiện nay. Cũng chưa có thời đại nào mà nhân phẩm của người phụ nữ VN bị rẻ rúng và nhục nhã như hiện nay, được quảng cáo trên báo chí quốc tế như là những món hàng.

Những sự thật trần trụi và gần gũi đó (vẫn chưa đủ) cho thấy chúng ta khó có lí do để tự tuyên bố rằng thời đại HCM là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Vậy thì câu hỏi là thời đại nào đáng tự hào và huy hoàng nhất?

Thoạt đầu, tôi nghĩ ngay đến triều đại Nhà Lý, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy triều đại Trần Nhân Tông mới là huy hoàng nhất. Ông là một vị vua anh hùng, vì đánh thắng quân Tàu và bảo vệ đất nước. Ông là một vị vua nhân từ, không trả thù giặc và đối xử đàng hoàng với đối phương trong nước. Ông là người có công chấn hưng Phật giáo và xiển dương văn học. Quan trọng hơn hết, ông là người xây dựng một nước Việt cường thịnh và bảo vệ sự vẹn toàn của tổ quốc. Ông còn nổi tiếng với câu nói

“Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.”

Rất tiếc là ngày nay trong những người cầm quyền có còn mấy ai nhớ đến lời căn dặn của vua Trần Nhân Tông.

____

(1) Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại kỷ niệm sinh nhật Bác (VOV). http://vov.vn/…/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu

(2) “Cưỡi lên đầu nhân dân còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản…!?” (DT). http://dantri.com.vn/…/cuoi-len-dau-nhan-dan-con-kinh

SỐ PHẬN CỦA DOANH NHÂN VÀ NGHỆ SĨ XỨ VIỆT 

SỐ PHẬN CỦA DOANH NHÂN VÀ NGHỆ SĨ XỨ VIỆT 

VIETTUSAIGON

“…Bài học các nghệ sĩ từng được tung hô, bưng bê lên đài vinh quang của đảng và từng được phong danh hiệu nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân… cho đến một ngày bị bóc phốt và nguy cơ trắng tay, khóc mếu, giả bệnh, đổ bệnh… là bài học trước mắt…” 

woman&bird_juri_Arrak

Điều này không loại trừ một ai, đã là doanh nhân hay nghệ sĩ xứ Việt từ quá khứ đến hiện tại dưới thời Cộng sản xã hội chủ nghĩa, có một qui ước chung: Hoặc là làm con hát mua vui cho giới chính trị nếu là nghệ sĩ, làm con lợn thịt cho giới chính trị nếu là doanh nhân. Vấn đề là bao giờ sẽ vứt bỏ con hát ra đường và bao giờ sẽ thịt con lợn. Đây là một thứ số phận nghiệt ngã, là mẫu số chúng của doanh nhân và nghệ sĩ.

Bởi có một vấn đề mà cả giới nghệ sĩ và giới doanh nhân đều không nhìn thấy hoặc cố tình không nhìn thấy hoặc giả có nhìn thấy nhưng cố né tránh bằng một thứ ánh sáng huyễn hoặc khác: Đảng Cộng sản không bao giờ chấp nhận ai hơn mình!

Và ngoài tính chất căn bản này ra, tính vụ lợi của một hệ thống đảng hình thành và tồn tại hoàn toàn dựa vào lý thuyết chống bất công do tư bản gây ra sẽ không bao giờ chấp nhận sự tồn tại của tư bản cho dù đó là tư bản đỏ. Bởi một khi tư bản tồn tại, lựa chọn của con người hoặc giả chia làm hai hướng trong câu hỏi: Tư bản hay Cộng sản? Và, khi kinh tế thị trường phát triển đến ngưỡng chạm tư bản, tức các mối quan hệ giao lưu kinh tế đều tương tác mật thiết với thế giới tư bản, lúc đó sự tồn tại của Cộng sản sẽ rơi dần về số không. Với qui luật này, chắc chắn người Cộng sản muốn tồn tại, họ phải triệt tiêu tư bản hoặc giả vỗ béo con lợn tư bản đỏ dưới trướng của họ cho đủ to, đủ mập để họ có thể ngồi ăn tiệc ngay trên lưng của nó bằng cách khoét từng mảng thịt của chính nó mà dùng. 

Bởi tư bản không bao giờ là bạn hay là đồng minh của Cộng sản, nó càng không được tiếm quyền của Cộng sản. Chính vì vậy, các doanh nhân tại Việt Nam, cho dù họ có thể hô mưa gọi gió tứ phương nhưng chắc chắn một điều, khi cần thiết, đảng sẽ thu hồi mọi phép màu của họ và không ngần ngại cho vào lò quay trước một bữa tiệc có tính đại sự của họ. Điều này có gì đó tương đồng với giới nghệ sĩ, giới hoạt động tinh thần, thiên về tâm hồn và có khả năng tạo ra những xung động tình cảm về phía công chúng, đương nhiên một khi giới nghệ sĩ có chỗ đứng trong lòng công chúng thì tiếng nói của họ chi phối xã hội không hề nhỏ. Đây là một bài toán khó đối với nhà độc tài. Họ buộc phải lựa chọn hoặc là nuôi giới nghệ sĩ trong chuồng trại nghệ thuật xã hội chủ nghĩa để biến giới này thành con hát xun xoe, ca ngợi và ton hót họ, hoặc là đẩy ra khỏi xã hội, triệt tiêu mọi khả năng chi phối và tác động xã hội của nghệ sĩ. Đương nhiên, cho dù được đảng vỗ béo trong chuồng trại nghệ thuật xã hội chủ nghĩa chăng nữa, thì số phận của người nghệ sĩ cũng khó mà thoát được bi thảm. 

Bài học của hàng loạt nghệ sĩ cũng như một số doanh nhân Việt trong thời gian gần đây vô hình trung gợi nhắc đến những gì đã từng xảy ra trong lịch sử hình thành và hoạt động của đảng Cộng sản. Từ những vụ trước năm 1975 ở miền Bắc với cái tên mỹ miều là “vận động sức dân” bằng các cuộc kêu gọi góp gạo nuôi quân, góp vàng xây dựng chính phủ, tuần lễ vàng… cho đến những cuộc đánh tư sản ở miền Nam sau 1975 đã khiến cho hàng trăm doanh nhân máu mặt phải tả tơi, không còn đất dung thân và chết tức tưởi… Rồi với giới văn nghệ sĩ, từ những cuộc thanh trừng với Tự Lực Văn Đoàn cho đến Nhân Văn Giai Phẩm, rồi những Lộc Vàng, Toán Xồm và Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh… Mọi khổ nạn và cái chết của các nghệ sĩ đều nằm trong một kịch bản rất ư chi tiết, rành mạch và tính toán kĩ lưỡng. Nhưng đó là những cái chết rành mạch, không mờ ám.

Bởi, khi người Cộng sản tràn vào miền Nam, ngoài chủ nghĩa Cộng sản, họ còn mang vào miền Nam thứ tính chất giảo hoạt và tinh ranh. Chính cái tính chất giảo hoạt và tinh ranh này của họ đã ảnh hưởng không nhỏ đến giới nghệ sĩ trẻ. Thay vì chống đối hay thể hiện quan điểm, phần đông các nghệ sĩ trẻ chọn con đường đen trắng lẫn lộn miễn sao có được thứ mình muốn. Và cái thứ mình muốn trong thời đại kim tiền này không có gì khác là quyền lực sàn diễn và thu nhập tài chính. Hai thứ này vừa là chất xúc tác vừa là mục đích tối thượng của người làm nghệ thuật xã hội chủ nghĩa. Đây là cơ hội để đảng chơi nước đôi với các nghệ sĩ, vừa thẳng tay loại bỏ những nghệ sĩ không “cùng chí hướng” như Thành Lộc, Kim Chi, Tuấn Khanh… (Những người không chấp nhận nhuộm đen mình để nhảy vào ao bùn), đảng cho nuôi thả vườn các nghệ sĩ khác, sẵn sàng lăng xê họ thành những ngôi sao đắt giá trong làng showbiz và đương nhiên, về chất lượng nghệ thuật của họ thì không có gì đáng bàn. Bởi có một thứ tâm lý rất rõ, nghệ sĩ càng sâu sắc càng không dễ thỏa hiệp với nhà cầm quyền và những người càng ham tiền, háo danh càng dễ trở thành tay sai của thế lực lớn. 

Bài học các nghệ sĩ từng được tung hô, bưng bê lên đài vinh quang của đảng và từng được phong danh hiệu nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân… cho đến một ngày bị bóc phốt và nguy cơ trắng tay, khóc mếu, giả bệnh, đổ bệnh… là bài học trước mắt. Bởi chắc chắn không có bất kỳ nghệ sĩ nào được bỏ qua và những nghệ sĩ bị bóc phốt không hẳn xấu hơn các nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa còn lại nhưng vì họ không may mắn, họ cá tính hơn các nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa khác và họ bị biến thành lời đe nẹt của đảng trước đám đông nghệ sĩ đang phục tùng, phụng sự, làm con hát chính trị.

Có một thứ chu kì, vòng giáp ranh của nó không giới hạn, có khi mười năm, hai mươi năm hoặc ba mươi năm dành cho giới doanh nhân và nghệ sĩ. Và điểm chung của chu kỳ này là triệt tiêu, mất dấu. Bởi sau mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, khi mà các doanh nhân, nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa đủ trưởng thành, đủ nguôi ngoai về những cái chết và khổ nạn của đàn anh, đàn chị, họ lạc quan và quên mất mình là ai trước sức hút tiền bạc và quyền lực, lúc đó, chu kỳ ấy sẽ lặp lại. Mỗi vòng chu kì càng tinh vi hơn.

Cái chết của chu kỳ trước tức tưởi bao nhiêu thì cái chết của chu kỳ sau nghe hợp lý và chịu ném đá của đám đông bấy nhiêu, bởi khi cái bẫy quyền lực và kim tiền được giăng ra, con mồi sẽ chết trong kinh sợ và hết đường thoát. Đó là số phận chung của doanh nhân và nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa, ngoài những số phận khác chúng tôi chưa nhắc tới.

VietTuSaigon

Hoàng hậu lâm bồn – Thái tử bất dục!

Hoàng hậu lâm bồn – Thái tử bất dục!

Bởi  AdminTD

Mai Bá Kiếm

12-6-2021

Lưu Ngao – vua thứ 12 nhà Hán (12 TCN) cường dương nhưng không có con nối dõi. Khi mỹ nhân Triệu Phi Yến được tiến cung, Lưu Ngao hàng đêm “cuồn cuộn” với nàng, bỏ bê Hứa Hoàng hậu.

Để đoạt ghế của Hứa Hoàng hậu, nàng móc nối với Thái giám tung Fake News “Triệu Phi Yến có thai”. Nàng độn bụng ngày càng to, nhai cơm nguội pha giấm, khi vua đến thăm thì ói đầy xiêm y, rồi quỳ xin vua đừng chạm vào nàng mà ô uế long thể.

Ngự y đến khám thai, nàng dọa bụng nàng do vua sở hữu, nên Ngự y khám “lâm sàng từ xa”, ngồi ngoài rèm thò ngón tay vào bấm mạch cổ tay nàng, rồi tâu vua “bà dính bầu”.

Bụng nàng lớn, Thái giám ra ngoại thành tìm 5 thai phụ đặt cọc để mua con trai. Nhờ cung thất Triệu Phi Yến ở sát nhà bếp, Thái giám đục tường một lỗ to để đút đứa bé qua.

Đúng giờ G, thằng Bếp gánh rau vào kinh thành, bên dưới có 1 bé trai sơ sinh. Thái giám tâu vua “Hoàng hậu lâm bồn”, nhưng trời xui khi thằng bếp tới cổng thành thì bé khóc, phải quay lại chỗ vắng để mẹ ruột cho bú, nhưng khi đến cổng nó lại khóc, thằng bếp sợ lính canh nghi, quay ra trả thằng bé.

Liên tục ba ngày đổi 3 bé, nhưng chúng đều khóc, hoàng hậu cứ “lâm bồn” mà đẻ không ra. Ngày thứ 4, thằng bếp bỏ thằng bé vô hộp kín, gánh một đoạn giở ra xem thì bé chết, thằng bếp vứt bé xuống hào.

Triệu Phi Yến diễn hết nổi vở tuồng dài 9 tháng. Nàng sai thái giám bắt con thỏ lột da làm cascadeur thái tử, rồi tâu vua “hoàng hậu khai hoa, thái tử bất dục (chết)”.

CÁT LINH “XUỐNG ĐỜI” – ĐƯỜNG SẮT NÁO HOẠT!

Lại nói ở nước Việt, sáng 10/10/2011, Thượng thư Kiều lộ Đinh La Thăng phát lệnh cho “người đẹp” Metro Hà Nội (Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội) “kết duyên” cùng Tổng thầu EPC Trung Quốc để thai nghén đứa con đầu lòng “Đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông” (ĐS CL-HĐ).

ĐS CL-HĐ chỉ dài 13,08 km, chi phí ban đầu 8.770 tỷ đồng, thời gian mang thai 4 năm, tức năm 2015 ĐS CL-HĐ chào đời! Nhưng nó khó đẻ gấp trăm lần Fake Pregnant Triệu Phi Yến. Trải qua ba đời Thượng thư Kiều lộ Đinh La Thăng, Trương Quang Nghĩa, Nguyễn Văn Thể có 9 lần dời ngày chào đời, chi phí “sinh đẻ thiếu kế hoạch” tăng từ 8.770 tỷ lên 18.000 tỷ đồng, tăng 205%.

Suốt 9 tháng Fake Pregnant, Triệu Phi Yến lo sợ bị phát hiện và bị chém đầu. Nhưng trong 6 năm chưa đẻ ra “ngày khánh thành” ĐS CL-HĐ, Thượng thư Thể luôn “hồ hởi sảng” và “lạc quan tếu”.

Bằng chứng, ngày 30/11/2019, VOV đăng bài “ĐS CL- HĐ sử dụng công nghệ Trung Quốc nhưng có tiêu chuẩn kỹ thuật tương thích với tiêu chuẩn Châu Âu”. Đó là lời ông Vũ Hồng Trường TGĐ Metro Hà Nội vỗ ngực khoe tại Hội nghị Ủy ban ATGT QG.

Khi báo chí đăng Tư vấn Pháp nêu ra 16 khuyến cáo không bảo đảm an toàn… Tổng thầu EPC TQ không cung cấp đủ tài liệu liên quan tới an toàn vận hành hệ thống. Khi thử nghiệm 10 quy trình khẩn cấp của hệ thống thì có 8 quy trình thất bại.

Bộ Kiều lộ phải thanh minh, dự án thực hiện phần lớn theo tiêu chuẩn của Trung Quốc. Trong khi đó, Tư vấn ACT lại đánh giá theo tiêu chuẩn Châu Âu nên mới xảy ra sự “lệch pha” giữa tiêu chuẩn.

Cuối cùng, thượng thư Thể cho phép “đẽo chân” (Tiêu chuẩn Châu Âu) để “vừa giầy” (công nghệ Trung quốc), giống như hàng “Made in Hongkong bên hông Chợ lớn”.

Nhiều người hỏi, Bộ biết hai tiêu chuẩn không tương thích, tại sao mời Tư vấn Pháp chi tốn tiền? Sự thật là Bộ không biết một tí gì về tiêu chuẩn đường sắt đô thị, cho nên năm 2008 khi thương thảo với EPC, bộ chấp nhận tiêu chuẩn TQ.

Đến năm 2017, Luật Đường sắt ban hành có thêm Điều 77: “Đường sắt đô thị xây dựng mới hoặc nâng cấp trước khi đưa vào khai thác phải được đánh giá, chứng nhận an toàn hệ thống; thẩm định, cấp Giấy chứng nhận thẩm định hồ sơ an toàn hệ thống đường sắt đô thị”.

Đến lúc này, thượng thư Thể cũng chưa biết tiêu chuẩn đường sắt Châu Âu cao hơn tiêu chuẩn của TQ, nên “lạc quan tếu” đi thuê Tư Vấn Pháp và “hồ hởi sảng” tuyên bố: “công nghệ TQ nhưng tương thích tiêu chuẩn Châu Âu”.

Giờ anh Thể mới ngộ ra: “tiêu chuẩn tàu điện đô thị của TQ chỉ yêu cầu đánh giá và cấp chứng nhận an toàn với hệ thống tín hiệu điều khiển chạy tàu; không đánh giá và cấp chứng nhận an toàn cho các hạng mục hệ thống điện kéo, phanh điện của đoàn tàu và các hệ thống còn lại của dự án, như tiêu chuẩn Châu Âu yêu cầu đánh giá”.

Nhớ Hề Minh hồi xưa ca: “Thôi, thôi bà đã lỡ đò, thì ngồi xuống đó chớ đừng bò ra sông…”

CÁI CHẾT CỦA NHÀ SÁNG LẬP APPLE – LUẬT LỆ VÀ NHÂN CÁCH MỸ LÀ ĐÂY.

CÁI CHẾT CỦA NHÀ SÁNG LẬP APPLE – LUẬT LỆ VÀ NHÂN CÁCH MỸ LÀ ĐÂY.

Steve Jobs: The Exclusive Biography

Steve Jobs được làm phẫu thuật ghép gan vào năm 2009 – 2 năm trước khi ông qua đời.

Vào năm 2009, CEO của Apple Steve Jobs được phát hiện mắc ung thư gan giai đoạn cuối. Bác sĩ nói với ông rằng, cần phải lập tức làm phẫu thuật ghép gan mới có thể giữ được sinh mạng.

Steve Jobs đồng ý với phương án phẫu thuật ghép gan. Phía bệnh viện lập tức đăng ký cho ông tại trung tâm ghép gan California và chờ đợi nguồn gan.

Tuy nhiên phía bệnh viện thấy rằng, số người phải làm phẫu thuật ghép gan quá đông, nếu xếp hàng thì ít nhất, nhà sáng lập Apple phải đợi ít nhất là 10 tháng.

Để cứu chữa cho Steve Jobs một cách nhanh nhất có thể, bệnh viện đã tiến hành đăng ký cho ông ở các bang khác của nước Mỹ và việc này được luật pháp chấp nhận, mục đích là để tranh thủ từng giây, từng phút để cứu người bệnh.

Trong số các bang được phía bệnh viện đăng ký thì Tennessee là bang nhanh nhất, chỉ cần đợi 6 tuần. Và như thế, Steve Jobs là bệnh nhân cuối cùng trong số các bệnh nhân cần ghép gan trong vòng 6 tuần đó.

Đối với các bệnh nhân cần ghép gan, mỗi giây đều vô cùng quý giá. Và do đó, có người đã tìm gặp riêng viện trưởng của Viện Cấy ghép Bệnh viện Đại học Methodist ở Memphis, Tennessee nơi Steve Jobs sẽ phẫu thuật, hi vọng ông có thể dùng đặc quyền của mình một chút để nhà sáng lập Apple được làm phẫu thuật trước.

Thế nhưng nghe xong lời đề nghị đó, vị viện trưởng cau mày, nét mặt lộ rõ vẻ kinh ngạc. Ông nhún vai trả lời: “Tôi làm gì có đặc quyền để Jobs được làm phẫu thuật trước? Nếu để ông ấy làm trước, vậy thì những bệnh nhân khác phải làm sao? Tất cả các sinh mệnh đều bình đẳng kia mà?”

Người kia nghe vậy đành phải lầm lũi rời khỏi phòng của vị viện trưởng.

Lại có người tìm gặp thống đốc bang Tennessee – Phil Bredesen, hi vọng ông có thể giúp đỡ, sử dụng một chút đặc quyền của mình để nói với phía bệnh viện một tiếng, hoặc phê chuẩn một công văn để Jobs được làm phẫu thuật sớm hơn, nếu không, tính mạng của Jobs sẽ bị đe dọa.

Phil Bredesen nghe xong, nụ cười trên gương mặt ông lập tức vụt tắt. Ông nghiêm nghị nói:

“Tôi làm gì có đặc quyền đó? Nói với bệnh viện ư? Hay phê chuẩn một công văn ư? Ý của anh là gì? Tôi không hiểu! Không ai có đặc quyền có thể cho phép ai làm phẫu thuật ghép gan trước, ai làm phẫu thuật ghép gan sau. Tất cả mọi sinh mệnh đều bình đẳng, mọi người chỉ có thể chờ đợi lần lượt theo trình tự mà thôi.”

Rồi lại có người nói với Steve Jobs: “Anh xem có thể bỏ thêm chút tiền cho người có liên quan để họ sắp xếp cho anh làm phẫu thuật trước hay không?”

Steve Jobs nghe xong, ông cũng kinh ngạc không kém những người trước: “Điều này không thể được? Vậy chẳng phải là phạm pháp sao? Tính mạng của tôi và tính mạng của những người khác đều như nhau, mọi người chỉ có thể đợi theo đúng trình tự thôi!”

Không ai có thể giúp đỡ Jobs kể cả bản thân ông. Những người đang chờ đời ghép gan trước ông, có người là nhân viên công ty, có người là chủ gia đình, có người già, người thất nghiệp, họ cũng đều phải đợi theo thứ tự để được làm phẫu thuật.

Sáu tuần sau, cuối cùng Steve Jobs cũng nhận được một lá gan. Tuy nhiên, do thời gian chờ đợi lâu, các tế bào ung thư của Steve Jobs đã di căn sang các bộ phận khác trên cơ thể ông. Ca ghép gan chỉ kéo dài sự sống của ông được khoảng 2 năm.

Tuy nhiên, ông không hề hối tiếc..

Trong 2 năm cuối đời, ông vẫn tiếp tục phát triển ngày càng nhiều sản phẩm sáng tạo cho Apple, cứ như thế cho đến phút cuối của cuộc đời.

Walter Isaacson – một nhà văn và cũng là một nhà báo người Mỹ đã nói rằng: “Sinh mạng không phân biệt giàu nghèo, đẹp xấu, tất cả đều bình đẳng. Bình đẳng không phải là khẩu hiệu, càng không phải là sự trao đổi. Nó là biểu hiện sinh động nhất, cụ thể nhất trong cuộc sống này.”

Cho dù bạn là ai, ông chủ một tập đoàn danh tiếng, người quét rác bên đường, hay một ông cụ đã ở tuổi gần đất xa trời, thì khi đứng trước sự sống và cái chết, ai cũng như nhau.

(An Le)

CON NGƯỜI KHỔ TRIỀN MIÊN LÀ VÌ TÂM CHẤP GIỮ QUÁ NẶNG

 

CON NGƯỜI KHỔ TRIỀN MIÊN LÀ VÌ TÂM CHẤP GIỮ QUÁ NẶNG

Hòa thượng Thích Thanh Từ

Con người sở dĩ đau khổ triền miên là vì tâm chấp giữ quá nặng. Cứ nắm hoài. Nắm rồi chứa. Khi nghe một câu nói không vừa ý thì ghi khắc trong lòng, mà ghi sâu chừng nào thì mệt chừng ấy. Còn giận ai thì giận suốt đời không quên. Như vậy làm sao mà vui được. Lâu lâu ra đường gặp mặt người đó cười được không? Nếu trong lòng giận chừng mười người như vậy thì sao? Ở kia gặp người này không ưa, xuống miền tây gặp người kia không hợp, thì trong lòng chắc là ít có mùa xuân.

Chúng ta nhớ rằng chẳng lẽ mình sống trên đời để giận để hờn nhau hay sao? Đó là điểm để chúng ta kiểm lại, đánh thức mình. Có khi mười năm, hai mươi năm về trước, người đó đối xử tệ xấu với mình, bây giờ đã thay đổi không phải như xưa, nhưng chúng ta cứ nhớ chuyện người ta đã xử tệ ngày trước, rồi theo đó mà đối xử buồn vui với họ.

Nguồn : Www.thuongchieu.net

May be an image of 1 person and outdoors