NHẬT KÝ CỦA MỘT LINH HỒN SAU KHI CHẾT

May be a meme of ‎text that says '‎Đã biết chốn nay là quán trọ Hơn thua hờn oán để làm chi Thử ra ngồ“i trước bên phần mộ Hỏi họ mang theo được những gi Tiền để ai đây PetysCui ءCuộka khi chết chỉ được mang theo TỘi, Phước mà thôi‎'‎

NHẬT KÝ CỦA MỘT LINH HỒN SAU KHI CHẾT ( rất đáng đọc )

– Vào một ngày, khi hơi thở ta không còn nữa, đứng cạnh thân xác đang nguội lạnh, cứng đờ của ta, ta đã thấy… Người ghét ta, nhảy múa vui mừng, người thương ta, nước mắt rưng rưng.

– Ngày động quan…

Thân thể ta nằm sâu dưới lòng đất. Người ghét ta, nhìn nấm mộ niềm vui hiện rõ. Người thương ta, chẳng nỡ quay đầu nhìn lần cuối.

– Ba tháng sau…

Thân xác ta đang dần trương sình, bốc mùi hôi thối, thuở còn sống ta vô cùng ghét côn trùng, giờ đây giòi bọ đang nhăm nhi cái thân mà ta cả đời nâng niu, tàn sát sinh mạng để cung phụng cho nó đủ thức ngon, mặc đẹp, đắp vào bao nhiêu tiền của.

– Một năm sau…

Thân thể của ta đã rã tan…nấm mộ của ta mưa bay gió thổi…ngày giỗ ta, họ vui như trẩy hội, mở tiệc hội họp ca nhạc, ăn uống linh đình. Người ghét ta, lâu lâu trong buổi trà dư tửu hậu nhắc đến tên ta…họ vẫn còn bực tức. Người thương ta, khi đêm khuya vắng lặng, khóc thầm rơi lệ tìm ai bày tỏ.

– Vài năm sau…

Ta không còn thân thể nữa, chỉ còn lại một ít xương tàn. Người ghét ta, chỉ nhớ mơ hồ tên ta, họ đã quên mất gương mặt của ta. Người yêu thương ta, khi nhớ về ta có chút trầm lặng. Cuộc sống xô bồ dần dần làm phai mờ đi tất cả.

– Vài chục năm sau…

Nấm mộ của ta hoang tàn không người nhang khói, quan tài nơi ta nằm đã mục nát, chỉ còn một mảng hoang vu. Người ghét ta, đã già lú cũng quên ta rồi. Người yêu thương ta, cũng tiếp bước ta đi vào nấm mộ.

– Đối với thế giới này…

Ta đã hoàn toàn trở thành hư vô, không ai biết ta từng tồn tại, bạn bè, đồng nghiệp, người thân, mỗi người một nơi, kẻ già, người chết, những gì ta dùng đã mất, những gì ta dành dụm để lại, rơi vào tay kẻ khác.

Ta phấn đấu, hơn thua, tranh giành cả đời, cũng không mang theo được nhành cây ngọn cỏ. Tiền tài, gia sản mà ta cố giữ, cố thủ đoạn, mưu mô để có cũng không mang được một phần hư danh, vinh dự hão huyền nào.

– Ta nhận ra sống trên đời này, bất luận là giàu sang phú quý hay bần tiện nghèo nàn khi nhắm mắt, xuôi tay phải bỏ lại tất cả, trả hết cho đời. Cái ta mang theo được, chính là cái ta đã cho đi là đạo đức là sự lương thiện.

Bất giác ta có chút ân hận, lòng lâng lâng một nỗi buồn khó tả, cứ da diết, da diết mãi không thôi.

Bao nhiêu phồn hoa, thoáng qua phút chốc.

Trăm năm sau, chỉ còn lại một nắm mồ vô danh

Cuộc đời như nước chảy hoa trôi, lợi danh như bóng mây chìm nổi, chỉ có tình thương ở lại đời.

P/s:

Đã biết chốn này là quán trọ…

Hơn thua hờn oán để mà chi…

Thử ra ngồi xuống bên phần mộ.

Hỏi họ mang theo được những gì…

ST

Ly hương, sự chọn lựa nghiệt ngã!!!

Van Pham

Ly hương, sự chọn lựa nghiệt ngã!!!

Nguyễn Thị Oanh.

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”.

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình. Thật chua chát khi hơn 45 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác.

Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc…

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp.

Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách.

Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về. Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau sáu năm.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ.

Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng!

Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn rau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi?

Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu.

Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội. Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”.

Có thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham ô thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài?

Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp, các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút, các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn…

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo.

Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy?

Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước. 30 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô. Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền. Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ:

“Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng, nhưng vẫn còn cố nấn ná… Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”.

Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này. Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948. Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia. 70 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta? Sau 75 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và tàu bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về?

Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại?

Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái. Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở:

“Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam.

Bánh Tây & Bánh Mì

Bánh Tây & Bánh Mì

Bánh Tây

PHIẾM

Song Thao

Bánh Tây, là cách gọi của miền Bắc, miền Nam kêu là bánh mì. Cả hai chỉ thị cùng một thứ nhưng ngày nay bánh mì tách ra thành một thứ không phải là bánh tây. Chuyện ra sao, xin coi hồi sau sẽ rõ. Bây giờ nói chuyện bánh tây trước.

Bánh Tây là bánh baguette. Của mấy anh Tây rõ ràng. Nếu có dịp tới Pháp, cái đập vào mắt là các cửa hàng bánh boulangerie. Cứ đi vài trăm thước lại thấy boulangerie. Trên toàn nước Pháp có tới 35 ngàn boulangeries. Những ngày ở Paris, sáng sáng tôi bắt gặp những ổ bánh trên tay các ông già bà cả, các thanh niên thiếu nữ, các em nhỏ. Bánh baguette còn ngự trên các giỏ xe đạp, thò đầu ra khỏi những chiếc túi đeo lưng. Dân tây mua bánh mỗi sáng. 

Baguette trên tay. REUTERS

Nhà báo Nguyễn Dũng, trong một lần tới Paris, đã ghi lại: “Rong ruổi qua các phố của Kinh Thành Ánh Sáng, đặc biệt vào buổi sáng, bạn sẽ dễ dàng nhận thấy rằng thủ đô của nước Pháp có cái mùi hương riêng. Đó là mùi bánh baguette phát tỏa ra từ những boulangerie. Mà hầu như phố nào ở Paris cũng có một vài boulangeries…Một ngày vui khám phá Paris của tôi thường bắt đầu với việc thức dậy sớm, rời phòng trọ không sao phía trên một nhà hàng bán thức ăn Hoa, Việt lẫn lộn cực kỳ mini gần nhà ga xe lửa Montparnasse đi mua ly chocolat thơm nóng vừa nhâm nhi vừa quan sát người Pháp chào ngày mới như thế nào. Kế đến là bước vào một boulangerie để mua baguette, loại bánh mì dài như khúc củi…Bình minh ngày bay trở về Sài Gòn, kéo vali trên đại lộ Maine xuôi về phía nhà ga xe lửa Montparnasse, nơi có trạm xe buýt Car Air France chở khách ra sân bay Charles de Gaulle, tôi đi ngang qua tiệm bánh mì, bánh ngọt Paul. Mùi bánh mì tươi nóng tỏa lan thơm lừng góc phố, trong tủ kính là hàng hàng lớp những baguette nướng căng phồng trông thật hấp dẫn. Chợt nhớ và nể phục ông Victor Hugo với cuốn “Những Kẻ Khốn Cùng” (Les Misérables). Đáng thương cho Jean Valjean năm xưa vì ổ bánh mì cứu đói đám cháu nheo nhóc mồ côi bố mà bị án tù chung thân khổ sai. Chắc chắn Jean Valjean cũng đã bị mùi bánh mì cám dỗ ghê lắm”.

Mua một ổ baguette mỗi sáng hình như đã trở thành dân tộc tính của người Pháp. Có lần con gái tôi tổ chức đám cưới ở miền Nam nước Pháp, chúng tôi ngụ trong một château hẻo lánh chẳng thấy phố xá làng mạc chi, vậy mà sáng sáng, bà sui gia, dân địa phương, luôn để một giỏ bánh mì trước cửa phòng. Không biết bà mua ở đâu, khi nào, nhưng bánh nóng hổi, thơm lừng. Theo tổ chức “Observatoire du Pain” chuyên theo dõi bánh baguette thì mỗi giây đồng hồ, dân Pháp tiêu thụ 320 bánh baguettes. Tính ra là 10 tỷ cái mỗi năm.

Để chỉ sự thân thiết giữa baguette và người Pháp, người ta có câu: “Người Pháp luôn đi bộ với baguette kẹp trong nách”. Thân thiết đến như vậy nhưng bánh tây không phải bắt nguồn từ Pháp mà từ Áo. Dưới thời cai trị của vua Louis 16 vào thế kỷ 18, nước Pháp có một hoàng hậu ngoại quốc: Hoàng Hậu Marie Antoinette, người gốc Áo. Qua Pháp, bà mang theo thợ làm bánh giỏi nhất của thủ đô Vienna, để làm đầu bếp cho hoàng gia. Bánh mì Áo bám theo bà Marie Antoinette qua Pháp là thứ bánh mì hình tròn và chỉ có hoàng gia được dùng. Dân chúng chịu khó ngó chơi. Mãi tới khi chế độ quân chủ bị thay thế bằng chế độ cộng hòa, dân chúng mới có quyền bình đẳng và mới được ăn bánh mì. Luật về bánh mì năm 1790 ghi rõ mọi công dân Pháp phải được ăn cùng một loại bánh, không phân biệt giầu nghèo và các tiệm làm bánh phải tuân thủ chung một công thức, theo đúng tiêu chuẩn để cho ra lò một loại bánh đồng nhất. Baguette trở thành một biểu tượng của sự bình đẳng cho mọi công dân.

Hình dáng của bánh mì thay đổi từ tròn ra dài. Người ta không biết nguyên nhân nào làm cho chiếc bánh mì bị kéo dài ra như vậy. Có thuyết cho rằng vì thợ làm bánh Pháp tự ái, không muốn rập khuôn theo bánh của Áo nên thay đổi để dân tộc hóa chiếc bánh có nguồn gốc ngoại lai. Một thuyết khác cho rằng chiếc bánh dài ra như vậy cho tiện chuyên chở và dễ dàng cho dân chúng…cặp nách! Nhưng bánh mì dài ra có lẽ chính xác nhất là vì chiến tranh. Thế kỷ 19, nước Pháp lâm chiến triền miên, hết cuộc chiến của  Napoleon Bonaparte từ năm 1800 đến 1815, tới cuộc chiến giữa Napoleon III và các nước láng giềng, binh lính di chuyển liên miên nên cần cột bánh mì theo chiều dọc, song song với chân, cho dễ di chuyển.

Baguette trên lưng.

Sau Thế Chiến II, kích thước chuẩn của baguette có chiều dài 80 phân và nặng 250 gram. Để bảo đảm cho toàn dân được ăn bánh mì đúng tiêu chuẩn như nhau, một luật quy định về bánh mì được ban hành vào năm 1790. Theo luật, bánh mì chỉ có thể làm bằng bốn thành phần sau: Bột mì, nước, muối và men. Không được để bánh đông lạnh, không được có các chất phụ gia hoặc chất bảo quản.

Ngoài ra, để dân chúng không thiếu bánh mì, các boulangerie phải xin phép chính quyền nếu muốn đóng cửa luôn, đóng cửa để nghỉ hè, du lịch hay nghỉ vì việc gia đình. Nếu được phép, chủ tiệm phải tìm người tạm thay thế để vẫn mở cửa hoặc nếu phải đóng cửa tạm thời cửa hàng thì phải có hướng dẫn cho khách hàng tới tiệm boulangerie gần nhất. Nếu muốn nghỉ hưu, chủ tiệm phải truyền nghề lại cho con cháu hoặc tìm người mua để tiệm tiếp tục mở cửa. Mục đích của điều khoản này là để bảo đảm cho người dân luôn có bánh mì tươi ngon một cách thường xuyên. Luật này được thi hành trong 225 năm và chỉ mới được bãi bỏ vào năm 2015.

Một boulangerie phải tự làm bánh từ A tới Z. Không có ngoại lệ. Mỗi tiệm làm bánh có thể có phương cách chế biến riêng nhưng phải đạt được tiêu chuẩn sau: Vỏ bên ngoài giòn cứng, có màu vàng, ruột bên trong mềm dẻo. Nếu bóp chiếc bánh dẹp xuống thì khi thả tay ra, bánh phải trở lại bề dày ban đầu. Muốn được như vậy, phải mất chừng 4 tiếng đồng hồ từ khi nhào nặn bột cho tới lúc đóng khuôn và cho vào lò nướng. Muốn khách có bánh tươi thơm, thời gian từ khi bánh ra lò đến khi tới tay khách chỉ kéo dài tối đa 1 tiếng. Trên thực tế, đó là thời gian lý thuyết, khách ít khi được có bánh thơm ngon trong vòng 1 tiếng. Nhưng trong thời buổi công nghệ hiện nay, tại các siêu thị hay các chợ, bánh được làm nhanh chóng và ít công phu hơn. Dân sành ăn không chịu dùng thứ bánh công nghệ này. Họ chỉ mua bánh tại các boulangerie, mua về ăn ngay, nóng sốt và thơm tho. Tới Paris, tôi thường tá túc nơi nhà cô em họ ở Wissous, ngoại ô Paris, gần ga metro Anthony. Bước ra vài bước là có boulangerie, bước thêm vài trăm thước nữa, lại boulangerie. Mỗi sáng,  đều có baguette nóng hổi thơm lừng, chỉ cần quẹt thêm chút bơ là ngon thấu trời. Nhiều khi muốn ăn nóng sốt, vừa vào cửa, bẻ ra ăn liền, chẳng bơ biếc chi mà vẫn ngon ơi là ngon, cái thơm ngon này còn lẽo đẽo theo tôi về tới Montreal.

Baguette rất khác với bánh mì Việt Nam tuy bánh tây là thứ tây mang sang Việt Nam. Từ khá lâu. Khoảng năm 1859 đến 1887 lận. Khi đó người Pháp đã cho xây những lò nướng bánh mì bằng gạch tại Việt Nam. Trước tiên ở Hà Nội rồi sau đó mới vào Sài Gòn. Erica Peters, một ký giả chuyên viết về ẩm thực, đã ghi: “Đến năm 1910, những chiếc bánh mì baguette nhỏ, hay còn gọi là “petit pain” được bán trên đường phố và người Việt hay mua trên đường đi làm để ăn sáng”. Trong Thế Chiến I, một làn sóng binh sĩ Pháp đã đặt chân tới Việt Nam khiến nhu cầu baguette tăng cao. Tuy nhiên việc nhập cảng lúa mì rất khó khăn nên người ta đã trộn thêm bột gạo vào. Hình thức chiếc bánh cũng thay đổi ngắn hơn, chỉ chừng từ 30 đến 40 phân, bằng phân nửa bánh ở Pháp. Bánh cũng ít ruột hơn để có thể kẹp nhân vào bên trong.

Bánh mì “Lý Toét” tại Sài Gòn trước 1975.

Không biết ai nghĩ ra chuyện kẹp nhân vào trong bánh mì nhưng ngay từ đầu thập niên 1950, bánh mì kẹp nhân đã có mặt tại Hà Nội. Ngày đó, quanh bờ Hồ, đã có những trẻ em  bán bánh mì kẹp jambon. Tôi đã nhiều lần thưởng thức thứ bánh này. Chiếc bánh rất nhỏ được các em ủ vào trong các bao tải để giữ nóng. Khi có khách mua, chú bé lấy bánh ra, dọc một đường rãnh, đặt vào một miếng thịt nguội mà gió nhẹ cũng có thể thổi bay. Rắc thêm tí muối tiêu là xong. Ổ bánh mì đơn sơ, rẻ tiền như vậy nhưng sao mà ngon. Muốn ngon hơn thì tới trước cửa trường Dũng Lạc, bên hông Nhà Thờ Lớn, ăn bánh mì của Lý Toét. Anh chàng bán bánh mì này tên Lý. Lý Toét là biệt danh mà lũ học sinh chúng tôi ngày đó thân ái đặt cho. Lý Toét rất vui tính, vừa bán vừa pha trò khiến chúng tôi vui vẻ chung tiền cho chàng. Bánh mì của Lý Toét được kẹp chả. Chả do chính chàng làm nên rất thơm ngon. Tôi không còn nhớ bánh mì này rắc muối tiêu hay xịt maggie nhưng ngon hết biết. Sau di cư, Lý Toét vào Sài Gòn, tiếp tục bán bánh mì tại góc đường Hai Bà Trưng và Phan Thanh Giản. Tác giả Đỗ Duy Ngọc viết về bánh mì “cụ Lý” như sau: “Cách đây hơn sáu chục năm, sáng sáng ở vỉa hè sát tường rào khúc Hai Bà Trưng với Phan Thanh Giản bên hông một biệt thự cổ có một người dựa chiếc xe, lúc đầu là xe đạp cổ lỗ sau đó là chiếc Mobylette xanh có chiếc thúng tre đằng sau bán bánh mì chả. Người ta gọi là Bánh mì Cụ Lý. Gọi là Cụ thế thôi chứ ông này lúc đấy chỉ trạc tứ tuần, giọng Bắc Kỳ đặc sệt, đầu chải “bri dăng tin” (brillantine) láng mướt, vuốt ra đằng sau để lộ một khuôn mặt lúc nào cũng đo đỏ như người uống rượu với chiếc mũi khá to với mấy sợi râu lún phún. Nhìn ông ta chợt nhớ đến khuôn mặt của nhân vật biếm họa Lý Toét đăng trên báo Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Hay là vì cái sự giống nhau này mà người ta gọi ông là Cụ Lý chăng? Bánh mì Cụ Lý ngon mà giá bình dân. Chả đủ loại: Chả lụa, chả chiên, giò thủ, chả mỡ. Chả nóng hổi, phảng phất mùi hương của thì là. Chả của Cụ Lý không cắt lát như những xe bánh mì khác mà cụ cắt từng miếng lớn, lộn xộn để lung tung trên mẹt lót lá chuối xanh dờn. Từ lúc dừng xe dựa vào hàng rào, cụ cắt không ngơi tay, khách hỏi chuyện, cụ lại nhón miếng chả đưa khách ăn chơi. Xẻ ổ bánh mì, hồi trước bánh mì nướng củi, vỏ bánh vàng, ruột bánh trắng phau chứ không như bánh mì bây giờ, cụ nhét đại mấy miếng chả vào, bốc một nắm hành tây, rắc chút muối tiêu, xì dầu hay nước mắm theo yêu cầu của khách, thế là xong một ổ bánh, không patê, chẳng dưa chua, hành ngò chi cả. Khách chen nhau, lần lượt. Cầm ổ bánh mì nóng, chả tràn trề, cắn một miếng, ngon nhức xương”. Ông Đỗ Duy Ngọc thuộc thế hệ sau, chỉ biết chàng Lý ở Sài Gòn nên không biết biệt danh Lý Toét đã được chúng tôi đặt từ ngày ở Hà Nội. Khi vào Sài Gòn, tôi đã đi làm, có lần đi ngang qua đường Hai Bà Trưng, ghé vào, kêu lớn: “Lý Toét”. Chàng Lý nhận ra tôi, chú học sinh Dũng Lạc ở Hà Nội xưa, mừng tíu tít, cứ như gặp tri kỷ. Ổ bánh mì cho tri kỷ không lý chi tới chuyện tiền bạc. Cũng là một thứ “tha hương ngộ cố tri”!

Cùng với cuộc di tản và vượt biên những năm sau 1975, bánh mì Việt Nam có mặt tại nhiều nước và được dân bản xứ hưởng ứng nồng nhiệt. Bánh mì thịt tại Montreal hiện nay có nhiều thứ. Chắc cũng khoảng hai chục loại. Từ thịt, chả, gà nướng, bò nướng tới nem chua, tàu hũ. Lung tung xòe tất cả. Nơi nào có người Việt thì nơi đó có bánh mì kẹp thịt. Tại Montreal, cảnh các anh chị tây đầm vừa đi vừa…thổi sáo bằng bánh mì là cảnh tôi bắt gặp thường xuyên. Nhưng bánh mì xâm nhập đất Pháp để đọ sức với baguette mới là chuyện đáng nói.

Cái khác của bánh mì tại quê hương của bánh tây là bánh mì dùng ngay bánh tây dài ngoằng chứ không phải những ổ bánh ngắn nhồi nhân như các nơi khác. Không ai có thể ăn được hết 80 phân bánh nhồi thịt nên nhà hàng cắt làm ba. Đây là một cuộc hôn nhân thuận lợi. Bánh baguette Parisienne giòn và thơm nức mũi đi với nhân Việt gồm cả ngò, đồ chua, ớt, tiêu cay chua đủ mùi đời thì đẹp đôi là cái chắc. Muốn có ổ bánh mì thịt để gặm thì phải tới hai khu nhiều người Việt là Quận 13 và Quận 20. Tiệm bánh mì của người Việt đầu tiên tại Quận 13 là tiệm Khai Trí. Cái tên Khai Trí hình như đã dính liền với sách vở tại Sài Gòn. Đúng vậy, Khai Trí bán bánh mì và sách! Hai thứ văn hóa, một phục vụ tinh thần, một phục vụ cuộc sống thường ngày, đã quyện vào nhau. Nhưng đó chỉ là thời gian đầu khi tiệm khai trương vào năm 1984. Sau đó bánh mì nghỉ chơi với sách, một mình hùng cứ trong tiệm. Nhưng cái tên Khai Trí vẫn còn đó với những cuốn sách còn sót lại nằm dọc trên tường như một chứng tích của bên…thua cuộc.

Khách của Khai Trí dĩ nhiên là người Việt nhưng tây đầm cũng rất chịu khó gặm bánh mì. Cô chủ tiệm Khai Trí thổ lộ về thứ bánh mì rất đắt khách của tiệm: “Mình không làm theo lối kỹ nghệ, hàng ngày mình làm nên đồ nó tươi! Một ngày mình nghĩ bán bao nhiêu thì làm bấy nhiêu thôi. Mình muốn làm cho khách hàng ăn rồi trở lại chứ không phải ăn rồi đi luôn. Có nhiều nơi họ mua bánh mì industrielle (kỹ nghệ) thì rất rẻ. Em đặt bánh mì đặc biệt thành ra ổ bánh mì lúc nào cũng ngon. Đặc biệt của tụi em ở đây là có gà, có chả, có thịt, nhưng cái ngon nhất của em là gà chà bông, gà ruốc của em làm rất đặc biệt. Em chỉ có 3 thứ thịt thôi: Thịt heo, gà ruốc và chả lụa. Tổng cộng ba cái lại người ta gọi là bánh mì đặc biệt. Bữa nào em hết gà là người ta hơi thất vọng.”

Một boulangerie.

Tại Quận 20, còn gọi là khu Belleville, có tới ba tiệm bánh mì do người Việt làm chủ. Mỗi tiệm cũng có những thứ đặc biệt. Chị Huỳnh, chủ tiệm Hòa Hưng có từ 21 năm nay, cho biết: “Bánh mì tự nướng để nó ngon, nó nóng. Thịt đùi, chả lụa với gà chà bông. Đó là bánh mì đặc biệt, bánh mì gà thì gà ướp sả, vệ sinh hơn mà ở ngoài thì cũng không có bán”. Khách hàng buổi sáng là người Việt, buổi trưa là người Pháp. Được hỏi về sự khác nhau giữa bánh mì Việt Nam và bánh tây kẹp thịt của Pháp, ông Jean Pierre, một khách hẩu của bánh mì Việt nói : “Sự khác nhau? Đó là món Á Châu, nó đầy đủ hơn, nóng. Tôi ở khu này không lâu lắm, món bánh mì ngon, và làm thay đổi khẩu vị… Món bánh mì nào của Pháp ngon nhất đối với tôi? Tôi không biết! Có lẽ là món bánh mì Vendôme với paté, rất, rất ngon! Nhưng không ngon như bánh mì (Việt Nam). Với bánh mì, chúng tôi khám phá thêm được một món ăn Việt Nam, rất ngon!”. Một ông người bản xứ khác ví von: “Bánh mì Pháp là một cuộc gặp gỡ tuyệt vời giữa hai nền văn hóa Pháp-Việt về khẩu vị và mùi vị. Đó là một cuộc hôn nhân hoàn hảo”.

Cuộc hôn nhân hoàn hảo, tuy hai mà một, nhưng vẫn là hai. Bánh mì Việt Nam đã là một thực thể riêng biệt. Ngày 28/3/2011, tự điển danh tiếng Oxford đã ghi từ “bánh mì” với định nghĩa như sau:  “Bánh mì là một món ăn nhẹ, bên trong kẹp một hoặc nhiều loại thịt, paté và rau củ như cà rốt, dưa leo, ngò…và kèm gia vị như ớt, tiêu”. Vậy là sau hai từ “áo dài” và “phở”, “bánh mì” đã leo được vào từ điển Oxford.

Bánh tây qua Việt Nam đã bị Việt Nam hóa và mang trở lại Tây với một vị trí độc lập được ghi nhận chính thức với tên “bánh mì”, chẳng là một hãnh diện cho dân Việt ta sao?

Song Thao 05/2021

     From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

Những Gì Đáng Sợ Hơn Cái Chết?

Nhân đọc tin hàng trăm người chết tại một thôn Phước Thiện, Quảng Ngãi với 90% do bị ung thư. Xin gởi quí bạn chuyện phiếm về cái chết tại XHCNVN sau đây:

***

Những Gì Đáng Sợ Hơn Cái Chết?

“Chết diễm phúc phải là chết già, trên giường, và có người chung quanh khóc ầm ĩ”.

Ít nhất đó là hình ảnh hầu hết người Việt chúng ta được dậy từ thuở nhỏ. Hơn thế nữa, chúng ta còn nghĩ hình ảnh “chết lý tưởng”, “chết êm ả” đó cũng là ước muốn chung của loài người. Chí ít cũng bao gồm mọi người thuộc văn hóa Đông phương.

Nhưng có thật thế không?

Có ngay thí dụ: Một trong những điều giới võ sĩ đạo Nhật sợ nhất là phải chết già, chết trên giường. Họ tha thiết cầu phật khấn thần để đừng phải chết như vậy. Cảnh một samurai lưng còng, chân tay run rẩy, không cử động được theo ý muốn, ngay cả đi đứng cũng phải cậy dựa vào người khác là cơn ác mộng đối với họ. Rõ ràng viễn cảnh trở nên “vô dụng” đối với họ đáng lo hơn cái chết.

Và có thể nói hầu hết chiến binh phương Đông, từ Mông Cổ đến Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, đều khoái được “da ngựa bọc thây” hơn nằm giường.

Sang đến văn hóa phương Tây thì người ta lại càng không thích để lại hình ảnh chết già. Người càng có học, có tài, có tiếng càng muốn cả người thân lẫn công chúng chỉ nhớ tới thời điểm cực thịnh mà họ đẹp nhất, thành công nhất, quyền thế nhất, hay sáng chói nhất về trí tuệ. Rõ ràng họ quan tâm đến di sản họ để lại hơn cái chết rất nhiều.

Do đó, quan điểm ‘chết già là sướng’ chẳng đáng được điểm cao đến thế đâu. Và ngược lại ‘chết lúc chưa già’ cũng chưa chắc đáng sợ như ta vẫn nghĩ. Còn lắm thứ đáng sợ hơn cái chết nhiều.

Nhiều cán bộ lớn tuổi tâm sự điều mà họ sợ nhất vào cuối cuộc đời là phải nhìn lại những gì họ đã làm hay không làm trong những năm dài đã qua. Từ đó, họ sợ những nạn nhân đang chờ họ ở thế giới bên kia hơn sợ cái chết, vì chết chỉ là ngưỡng cửa bước qua trong khoảng khắc.

Với thời đại Internet, chúng ta có thể thấy được khá nhiều lãnh đạo đảng đi qua giai đoạn cuối đời như vậy, kể cả những hung thần một thời như Tố Hữu, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, v.v…..

Cũng có lãnh đạo sợ phải đối diện những người bạn đang chờ họ bên kia thế giới hơn cả cái chết. Đó là những đồng đội mà họ từng phản bội, bỏ rơi hay thủ tiêu để giữ an toàn cho bản thân, kể cả những người đứng lên theo lời kêu gọi của họ. Chúng ta có thể thấy loại ân hận đó ở những ông Võ Văn Kiệt, Võ Nguyên Giáp, …

Và cũng có những lãnh đạo sợ phải thừa nhận mình đã sống qua cả một cuộc đời vô ích, vô nghĩa, vô vị. Vì quá lo an toàn cho bản thân mà chẳng để lại được gì, chẳng hoàn thành được gì. Mà cái chết, tức lằn ranh sau cùng của an toàn, vẫn đến, chẳng né tránh được.

Hơn thế nữa, họ phải thừa nhận chính họ là một phần của cỗ máy đem lại điêu linh cho hàng chục triệu người khác. Chúng ta có thể nhận ra loại tâm tư này ở những ông Phạm Văn Đồng, Trần Quang Cơ, …

Trong tình trạng thê thảm của dân khí hiện nay, chúng ta khó còn cảm được lời dạy của cha ông: Chết vinh hơn sống nhục.

Nhưng 5 chữ đó là kết tinh kinh nghiệm sống của biết bao cuộc đời. Một trong những lý do chết vinh hơn sống nhục là vì “sống nhục” chỉ được một thời gian ngắn rồi vẫn dẫn đến cái chết, mà luôn là “chết nhục”. Mọi hối tiếc vào lúc sắp “chết nhục” đều đã quá trễ.

Qui luật đó ứng dụng cho cả nhân loại chứ không riêng gì người Việt. Gần 80 năm trước, hàng triệu người Do Thái khi gần chết trong trại tập trung của Đức Quốc Xã mới quặn lòng hối tiếc đã không tham gia kháng chiến vì sợ chết; hối tiếc đã không mang thân ra hứng đạn cản đường cho vợ con chạy trốn vì sợ chết; hối tiếc đã riu ríu kéo cả nhà lên xe vào trại tập trung vì sợ chết, … để rồi giờ đây vẫn chết, chết riêng từng người, chết từng phần cơ thể vì kiệt lực, và chết với nhận thức từng người trong gia đình mình ở đâu đó cũng đang chết dần ở mức dưới hàng súc vật như mình. Đối với họ cái đau của hối tiếc lớn hơn cái đau của sự chết.

Ngày nay tại nước ta, cả dân tộc đang bị đẩy vào loại chọn lựa đó. Gần nhất là những bà con không chỉ tại 4 tỉnh miền Trung mà còn lây lan ra cả nước…. đang sống dở chết dở vì thảm họa môi trường do Formosa gây ra. Nhiều người đang phân vân: đứng lên đấu tranh đòi tẩy rửa môi trường bây giờ có thể bị trấn áp nhưng dẫu có chết đi nữa thì vẫn hơn cảnh ngồi nhìn từng người trong gia đình nhiễm ung thư, đau đớn nhiều năm tháng, rồi lần lượt ra đi, kể cả bản thân mình. Cái đau của hối tiếc sẽ lớn hơn nhiều cái đau của sự chết. Còn nếu đứng lên đấu tranh giành lại môi sinh, môi trường sống ngay bây giờ, gia đình mình sẽ sống dù mình có chết

Dĩ nhiên câu hỏi lương tâm này cũng được đặt ra cho từng người chúng ta chứ chẳng riêng gì bà con 4 tỉnh miền Trung. Chất độc nay không chỉ có trong cá mà trong hầu hết mọi loại thực phẩm và không từ một ai trên cả nước. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên mạnh mẽ đòi nhà cầm quyền phải đóng ngay các cánh cửa dẫn chất độc vào Việt Nam, như các nhà máy sản xuất thải ra các chất thải độc hại. Nhữưng nhà máy điện xả thải khí độc và xỉ than đầu độc môi trường sống v.v… hay ngồi chờ ngày ung thư đến đón từng người trong gia đình ra đi?

Và còn nhiều quốc nạn khác nữa, đặc biệt là số phận của đất nước sau thời điểm 2020. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên bảo vệ chủ quyền đất nước ngay bây giờ, bất kể những kẻ cứ nhất định ôm chân quân xâm lược? hay ngồi chờ ngày “chết nhục” dưới chân chủ mới như dân tộc Tây Tạng? Đến lúc đó có muốn chọn lại cũng đã quá muộn.

***

Chẳng ai muốn tìm lấy cái chết nhưng nghĩ cho cùng chết có phải là chuyện khủng khiếp nhất chưa?

Đời người chỉ cần kiên trì được 7 việc này…

Đời người chỉ cần kiên trì được 7 việc này, cuộc sống sẽ tự khắc trở nên thuận lợi, viên mãn

  1. Tươi cười, tính cách sẽ ngày một tốt hơn

Người luôn tươi cười, dù là cười lớn hay chỉ cười mỉm cũng đều sẽ đem lại cảm giác ngọt ngào cho người khác. Khi tâm trạng tốt thì mọi chuyện cũng sẽ đều tốt đẹp; tâm trạng không tốt thì mọi chuyện đều sẽ loạn.

Người thích cười sẽ có được khí chất đặc biệt của riêng mình, loại khí chất này không phải dựa vào tuổi tác, trang phục hay ngoại hình bên ngoài mà xuất phát từ tận sâu trong nội tâm.

Cuộc sống nhờ có những nụ cười mới trở lên tươi đẹp! Bạn tươi cười không phải vì người khác mà chính là vì bản thân mình. Có nhiều người quanh năm suốt tháng luôn bực tức với chính mình, tự tranh đua với bản thân, cho nên chúng ta cần học cách mỉm cười, khi bạn tươi cười với thế giới thì cuối cùng thế giới cũng sẽ dùng nụ cười trả lời bạn.

  1. Không phàn nàn, than vãn, mọi chuyện sẽ thuận lợi hơn

Nhìn thấy điều gì không hợp ý mình, vậy bạn hãy thay đổi nó, nếu không thay đổi được nó, vậy trước hết bạn nên thay đổi thái độ của bản thân. Một người khi gặp chuyện khó khăn, không thuận lợi, nếu chọn cách trách móc, than vãn thì sẽ chỉ khiến cuộc sống càng thêm tồi tệ hơn mà thôi.

Trách móc người thân không đủ chu đáo, trách lãnh đạo không coi trọng sự cố gắng của bạn, trách bản thân không đạt được thành công, đến cuối cùng, trách móc than phiền cũng chẳng thể giúp bạn giải quyết được chuyện gì.

Khi bạn trách móc cuộc đời đối xử bất công với bản thân thì trước đó hãy tự hỏi bản thân mình là viên ngọc hay là hạt cát.

Nếu như bạn vẫn chưa trở thành viên ngọc, thì hãy tiếp tục cố gắng biến bản thân mình thành viên ngọc sáng, vì dù cát có nhiều thế nào cũng chẳng thể che nổi ánh sáng của ngọc. Người không than phiền, trách móc thì tự nhiên cũng sẽ nhận được kết quả tốt hơn.

  1. Thấu hiểu, giúp tình cảm càng thêm tốt đẹp

Là người không có ai là hoàn hảo, mọi việc cũng không có gì là mỹ mãn. Cho dù là trong mối quan hệ nào đi nữa, giữa bạn và bố mẹ, giữa bạn và người yêu, vợ chồng, giữa bạn và con cái hay với bất kỳ ai ở xung quanh, cơ sở quan hệ giữa người với người chính là ý thức chừng mực. Không có cảm giác chừng mực tức là không có sự tôn trọng, sẽ khiến hai bên phát sinh lo lắng, mâu thuẫn và tổn thương lẫn nhau.

Vậy chừng mực là như thế nào? Chừng mực là biết đứng ở vị trí của người khác để suy xét, thay đổi lập trường để hiểu cho nhau, để mối quan hệ hai bên thêm sâu sắc hơn chứ không phải để tranh cãi, làm tổn thương lẫn nhau.

  1. Bao dung, khiến cuộc sống tốt đẹp hơn

Với người thân trong gia đình, bao dung rộng lượng càng nhiều thì hạnh phúc cũng càng nhiều; giữa vợ chồng, bao dung nhiều thì tình cảm càng sâu đậm; với hàng xóm, bao dung nhiều hơn thì chung sống với nhau cũng tốt đẹp hơn; giữa bạn bè, bao dung giúp tình bạn càng thêm bền lâu; với đồng nghiệp, bao dung nhiều hơn thì sự nghiệp cũng thuận lợi hơn.

Cuộc sống không phải là chiến trường, không cần nhất định phải tranh cao thấp, thắng thua. Giữa người với người, thấu hiểu nhau thêm một chút thì sẽ bớt đi hiểu lầm; giữa trái tim với trái tim, bao dung độ lượng hơn một chút thì sẽ bớt đi những tranh chấp.

Mọi người thường quá coi trọng chính bản thân mình nên mới lo được lo mất, không nên dùng ánh mắt, dùng hiểu biết của cá nhân mình để đi đánh giá một cá nhân khác, vì thực sự bao dung độ lượng bao nhiêu thì sẽ nhận được càng nhiều bấy nhiêu.

  1. Coi trọng người khác, nhân duyên sẽ càng tốt hơn

Khổng Tử nói: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư” (nghĩa là: trong ba người cùng đi, ắt sẽ có người là thầy của ta).

Hãy nhìn những người bình thường xung quanh bạn, những người mà bạn chưa từng xem trọng, họ tuy không phải những người nổi tiếng, những minh tinh với ánh hào quang được mọi người chú ý, những họ vẫn đang ngày ngày trải qua cuộc sống, luôn cố gắng làm việc, đối đãi chân thành với mọi người xung quanh.

Họ – những người bình thường ấy, trong đó có người thân của bạn, bạn bè của bạn, đồng nghiệp của bạn và hàng xóm quanh bạn.

Khi trời mưa, họ sẽ kéo bạn cùng trú mưa dưới mái hiên nhà; khi trời nổi gió, họ sẽ khoác thêm cho bạn chiếc áo gió tránh rét. Những người ấy mới là người mà bạn thực sự phải coi trọng trong cuộc sống này.

  1. Lương thiện, giúp thế giới tốt đẹp hơn

Làm người không nhất định phải đỉnh thiên lập địa, quyền cao chức trọng, rầm rộ khoe khoang, nhưng nhất định phải sống lương thiện chân thành.

Bạn trao ấm áp cho người khác, người ta mới mang ánh sáng cho bạn; bạn trao chân thành cho người khác, người ta mới cho bạn sự ôn hòa, nhã nhặn.

Cho dù chưa có ai biết ơn sự lương thiện của bạn, nhưng bạn vẫn nên chọn sống là người có tấm lòng lương thiện.

Bạn chọn lối sống như thế nào, điều đó hoàn toàn là vì bản thân bạn chứ không phải sống vì người khác. Suy cho cùng, thế giới luôn luôn tán dương những người sống lương thiện theo cách này hay cách khác.

  1. Biết ơn, sẽ giúp ta may mắn hơn

Tâm nguyện đầu tiên của tôi chính là trở thành người biết biết ơn. Biết ơn cha mẹ, đã cho tôi cuộc sống này; biết ơn cuộc đời, đã dạy tôi trưởng thành; biết ơn hiện thực, đã giúp tôi học được phải kiên cường, mạnh mẽ.

Biết ơn tình thân, sẽ sưởi ấm trái tim; biết ơn tình yêu, không cách lìa, không chia xa; biết ơn tình bạn, cùng vượt qua khó khăn hoạn nạn; biết ơn chính bản thân mình, dù cuộc sống có đắng cay, cuộc đời có khó khăn vẫn luôn cố gắng nỗ lực vươn lên.

Người hiểu được biết ơn sẽ được ông trời chiếu cố, may mắn nhất định sẽ đến với bạn.

Sưu tầm

MỘT PHÉP LẠ ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP DÀNH CHO TÔI

MỘT PHÉP LẠ ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP DÀNH CHO TÔI

Hôm nay là Lễ kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Tôi yêu mến và sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Mỗi khi có chuyện gì, nhất là những chuyện khó khăn và đau buồn, tôi luôn chạy đến xin Đức Mẹ cứu giúp tôi.

Hồi mới sang Roma, giấy tờ cư trú chưa có, thẻ bảo hiểm y tế cũng không; Cha Bề Trên Giám Tỉnh và Cha Bề Trên tu viện cũng đi Paraguay, tu viện chỉ còn hai cha già gần chết và mấy thầy trẻ.

Đúng lúc đó tôi bị đau lưng. Không hiểu vì nguyên nhân gì mà đau dữ thế! Đau không ăn không ngủ được. Một tuần tôi sụt hơn 3 kg. Mặt mũi hốc hác tiều tụy. Tôi lo và anh em trong nhà ai thấy cũng lo cho tôi.

Xem trong danh sách các linh mục tu sĩ Việt Nam đang sống ở Roma tôi thấy có một dì phước là lương y thì tôi liên lạc xin giúp đỡ, nhưng dì trả lời là dì đang đi phục vụ dịp hè ở Miền Bắc nước Ý nên không giúp gì tôi được.

Hết đường tôi chạy đến Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để xin Đức Mẹ cứu chữa. Tôi đi với ý nghĩ nếu Đức Mẹ không chữa lành tôi, thì đấy là dấu muốn tôi trở về Việt Nam sớm. Tôi quỳ cầu nguyện khá lâu ở trước linh ảnh Đức Mẹ.

Thấy có Cha Bruno người Ý, Giám đốc Đền Thánh, đang trực giải tội, tôi đến xin ngài giúp đỡ. Tôi quỳ trước cung thánh nơi có linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, trong khi ngài đặt tay trên đầu tôi và khẩn cầu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chữa lành tôi.

Được khoảng 5 phút. Ngài nhấc tay tính thôi! Tôi bảo: “Không! Con còn đau lắm! Xin cha tiếp tục!” Mấy phút sau ngài lại muốn bỏ! Tôi lại bảo: “Không! Con vẫn chưa khỏi! Cha làm ơn cầu nguyện nữa! Xin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chữa lành con!”

Vài phút sau đó, bỗng dưng tôi cảm thấy có cái gì đó như một dòng điện chạy rất nhanh từ đỉnh đầu xuống xương sống. Một cảm giác nóng ran và tiếp theo là một cảm giác mát lạnh. Tôi thấy người nhẹ bẫng, rất dễ chịu. Tôi khỏi bệnh tức thì. Hoàn toàn không còn đau đớn gì!

Tôi tin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chữa lành tôi! Cũng như tôi tin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã dẫn đưa tôi vào Dòng Chúa Cứu Thế và đã giúp tôi giải gỡ bao nhiêu khó khăn, vượt qua bao nhiêu thử thách để tiếp tục là một thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế cho đến ngày nay.

Tạ ơn Đức Mẹ.

27.06.2021

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT

Ai cho quan làm người lương thiện?

Ai cho quan làm người lương thiện?

Bởi  AdminTD

 Dương Quốc Chính

26-6-2021

Vụ anh Cảm cựu giám đốc CDC Hà Nội được 500 anh em Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ đồng loạt xin giảm án với lý do anh là người tận tâm với công việc, chuyên môn tốt… cho thấy rằng anh Cảm chính là một nạn nhân của chế độ, đen thì nhập kho chứ đỏ thì có khi thành anh hùng lao động thời kỳ mắc dịch chứ chả đùa.

Sở dĩ anh được anh em, đồng chí, toàn trí thức hàn lâm trong giới y khoa và dịch tễ thương xót là do họ chỉ nhìn thấy một mặt của tấm huân chương. Mỗi người trí thức, nhất là cán bộ xã nghĩa, nằm trong hệ thống đều là tù nhân dự khuyết.

Người cán bộ thời nay không thể vừa tài năng vừa tử tế mà lại trung thành được. Người tài thì tham mà người có tử tế thì ngu, thế mới éo le. Các đồng chí chức to, có tài, thì thực ra là chưa bị lộ mà thôi.

Đã dấn thân vào quan trường thì đương nhiên phải tham nhũng. Bởi tham nhũng là để kiếm sống, chứ lương TBT mới gần 20 ‘củ’ thì cán bộ sống bằng khí trời và quang hợp, nếu không được nhân dân tin yêu, nuôi nấng, gọi một cách tế nhị là xã hội hoá tiền lương cho anh em quan lại.

Thời buổi bây giờ muốn tiến bộ, thành đạt thì ngoài hồng và chuyên thì cần phải có ‘tài’, tài ở đây là tiền ý. Không có tiền chạy chức thì cùng lắm chỉ làm culi cao cấp, cỡ phó phòng cấp Sở hoặc phó chủ tịch xã. Nếu không thì cũng phải có ô dù nâng đỡ, lúc đó không phải chạy tiền nhưng bản chất là cũng là sự mua bán, ân huệ của ô dù với cấp trên của đương sự.

Công bằng mà nói, bần nông chúng ta nếu rơi vào vị trí của anh Cảm thì cũng phải đục đẽo như anh thôi. Lý do như trên. Ngoài ra, với tình hình nước sôi lửa bỏng của dịch bệnh, được phép bỏ qua nhiều quy tắc đấu thầu, thì việc thổi giá, đục đẽo là đương nhiên phải có. Việc này mình đã viết tút dự báo khi mới có dịch. Dịch bệnh là cơ hội cho cánh tả và CS trỗi dậy cũng là cơ hội cho anh em đục đẽo mà nhân dân vẫn tin yêu.

Vấn đề là cơ chế nó tạo điều kiện cho quan lại ăn tiền. Nếu làm quan mà lương 15 ‘củ’ thì lấy đâu ra cán bộ? Vì thế, tham nhũng là phần thưởng cho cán bộ, là động lực cho anh em phấn đấu tiến thân và cống hiến. Vấn đề là tham nhũng tới mức độ nào để an toàn và quan hệ với những ai để không bị làm củi mà thôi.

Vì thế 99,69% anh em quan lại là củi dự khuyết hết. Anh Cảm không ngoại lệ, anh phải hi sinh sự nghiệp để giữ uy tín cho chế độ được phần nào. Để nhân dân tin rằng bác cả đốt lò không có vùng cấm.

Ngành y tế lâu nay vẫn có tiếng là dễ đục đẽo thiết bị y tế. Chứng tỏ đây là bất cập lớn của ngành. Thông thường, quan lại vẫn kiếm ăn nhất khi đầu tư xây dựng, vì đó là món to để chi tiêu công. Nhưng kiếm tiền qua xây dựng cơ bản giờ cũng khó, vì thổi giá không thể quá 30-50%, ăn bớt quá hay thổi giá quá đều dễ bị lộ. Nhưng với tiền mua sắm thiết bị y tế thì anh em thổi giá từ 300% trở lên là trong tầm tay. Vì thiết bị đặc biệt mua đi bán lại lòng vòng thậm chí chính hãng bên giãy chết cũng sẵn sàng nhập hàng Tàu về dán mác Tây để giúp anh em thổi giá. Chính vì chuyện đó nên anh Cảm phải vào lò để răn chúng. Khi có tin anh Cảm và các anh em vào lò thì lập tức CDC các tỉnh đều công bố giá máy móc y tế tụt xuống khủng khiếp, thậm chí có tỉnh còn MƯỢN được máy của nhà cung cấp. Doanh nghiệp bây giờ tốt bụng quá!

Sau vụ anh Cảm thì một mớ BS khác vào lò như lãnh đạo BV Bạch Mai, Viện Tim HN… Nếu mà cứ mò vào thanh tra tất cả các BV và các CDC về thiết bị y tế thì chắc cũng hết sạch cả cán bộ lãnh đạo, lấy ai chống dịch nữa? Thế nên chắc bác cả chỉ giơ cao đánh khẽ?

Quay lại chuyện các GS, TS, BS xin giảm án cho anh Cảm. Mình cho là hầu hết họ đều làm trong các Viện, BV, CDC nhà nước. Cùng là trí thức hàn lâm ngành y chắc họ đều thấy bóng dáng mình trong đó nên đứng ra xin cho đồng chí?

Nhưng sống dưới chế độ này thì ai cho quan làm người lương thiện?

Ông Trump từng muốn quân đội Mỹ “đập bể sọ” những người biểu tình!

Ông Trump từng muốn quân đội Mỹ “đập bể sọ” những người biểu tình!

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

26-6-2021

Lại một minh chứng nữa cho chuyện quân đội đứng ngoài chính trị có ích như thế nào cho một thể chế dân chủ.

Ngày 25/6/2021, truyền thông Mỹ đưa tin về một quyển sách của nhà báo Michael Bender, mang tựa đề “Frankly, We Did Win This Election”, tạm dịch, “Thật sự chúng ta đã thắng cuộc bầu cử”.

Ông Bender là phóng viên của tờ báo khuynh hữu Wall Street Journal, ông phụ trách tin tức từ tòa Bạch Ốc. Trong quyển sách mới mà nhiều nhà bình luận gọi là một tiếng sấm giữa trời quang, ông Bender tường thuật một buổi họp tại tòa Bạch Ốc, tìm cách đối phó với những cuộc biểu tình đòi bình đẳng của người da đen, sau khi ông Georges Floyd, một người đàn ông da đen bị một cảnh sát da trắng là Derek Chauvin đè chết (ngày 25/6/2021, Chauvin bị kết án 22 năm rưỡi tù giam).

Những cuộc biểu tình giận dữ bùng nổ khắp nước Mỹ, làm cho uy tín tổng thống đương nhiệm là Donald Trump lúc đó sa sút, trong khi chỉ còn vài tháng là đến ngày bầu cử.

Ông Trump giận dữ, đòi quân đội Mỹ can thiệp, “đập vỡ sọ” những người biểu tình, và bắn họ chết hết.

Tướng Mark Milley, Tham mưu Trưởng Liên quân Mỹ lúc đó từ chối và nói rằng, đó là những cuộc biểu tình. Ý ông Milley nói rằng, đó là vấn đề chính trị, không dính dáng tới quân đội.

Donald Trump và tướng Mark Milley (phải), Tham mưu Trưởng Liên quân Mỹ. Nguồn: Mark Wilson/ Getty Images

Stephen Miller, cố vấn thân cận của ông Trump, nói rằng, quân đội phải thiết lập những vùng chiến sự, tướng Milley nói ông Miller, hãy câm miệng lại, theo Michael Bender.

Sau khi thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 3/11/2020, ông Trump liên tục tung tin vịt là ông bị gian lận. Ngày 6/1/2021, ông ta kích động những người ủng hộ ông một cách cuồng tín, làm loạn, tấn công vào điện Capitol, trong lúc Quốc hội Mỹ chuẩn bị tuyên bố chính thức, ông Joe Biden là tổng thống. Cuộc nổi loại đã bị cảnh sát và vệ binh quốc gia dẹp tan. Đến nay có khoảng 500 người bị bắt, chờ ngày ra tòa.

Gần 1 tháng sau, ngày 1/2/2021, quân đội Miến Điện lật đổ chính quyền dân sự của bà Aung San Suu Kyi và cầm quyền cho đến nay. Miến Điện thật sự bước vào một cuộc nội chiến mới.

Hãy tưởng tượng rằng, tướng Mark Milley nhúng tay vào chính trị, ủng hộ ông Trump “đập bể sọ” những người biểu tình, rồi sau đó cùng nhóm bạo loạn ngày 6/1 bắt nhốt hết các dân biểu và thượng nghị sĩ Mỹ, chuyện gì sẽ xảy ra? Chắc chắn nước Mỹ sẽ xảy ra nội chiến như ở Miến Điện!

Nhưng nước Mỹ không phải là Miến Điện. Tường trình của Michael Bender cho thấy, vị trí phi chính trị của quân đội đủ mạnh đến mức vô hiệu hóa tham vọng độc tài của những kẻ như Trump, Miller.

***

Các nhà lãnh đạo Việt Nam hãy nhìn vào đó để đừng mắng chửi những người mong muốn phi chính trị quân đội Việt Nam. Quân đội Việt Nam phải trung thành với tổ quốc Việt Nam, không nên trung thành với đảng Cộng sản Việt Nam.

Chuyện gì sẽ xảy ra, khi ông Nguyễn Phú Trọng với ông Nguyễn Tấn Dũng tranh quyền hồi Đại hội đảng 12, quân đội đứng về phía ông Dũng, lật đổ ông Trọng? Chắc chắn Việt Nam sẽ rơi vào trường hợp nội chiến như Miến Điện hiện nay.

Quân đội Mỹ đứng ngoài chính trị, nên những cuộc chuyển giao quyền lực luôn xảy ra êm thắm từ nội chiến (1861-1865) đến nay. Tham vọng của một kẻ độc tài như Donald Trump, kích động bạo loạn, cũng không qua được cấu trúc nhà nước dân chủ đó.

Không chỉ đảng Cộng sản Việt Nam nên đọc quyển sách của Michael Bender, mà những người đối kháng với đảng Cộng sản cũng nên đọc quyển sách ấy, vì có một số “nhà bất đồng chính kiến” Việt Nam ủng hộ Donald Trump, ủng hộ cả chuyện quân đội Mỹ nên can thiệp để giúp Trump tiếp tục nắm quyền.

“Những nhà bất đồng chính kiến” mà ông Trương Nhân Tuấn gọi là những nhà “dân chủ xà bần” này không hiểu gì về một thể chế dân chủ, trong huyết quản của họ vẫn chảy một dòng máu quân phiệt độc tài, y như những người mà họ chống.

Tựa cuốn sách của Michael Bender như một lời tán thán, chúng ta thắng cuộc bầu cử rồi, chúng ta ở đây là tất cả những người dân Mỹ, nền dân chủ Mỹ, không phải Donald Trump.

Cuộc bầu cử Quốc hội ở Việt Nam cũng vừa diễn ra hồi tháng Năm, nhưng ngược lại, dân tộc Việt Nam thì thất bại.

ÂN TÌNH

ÂN TÌNH.

Lawrence Anthony sinh ra ở Nam Phi, từ nhỏ đã yêu thích động vật và thiên nhiên. Giữa những năm 1990, ông quyết định từ bỏ sự nghiệp bảo hiểm và bất động sản đang trên đà phát triển, cùng với vợ mua một mảnh đất và xây dựng Khu bảo tồn sinh thái Thula Thula ở Zululand, tỉnh KwaZulu-Natal, Nam Phi.

Nơi đó, họ xây cho mình một căn nhà gỗ nhỏ để ở, tận hưởng không khí yên bình cùng thiên nhiên và các loài động vật hoang dã như tê giác, trâu, báo, hươu cao cổ và chim…

Vào năm 1999, một cuộc gọi điện thoại đã phá vỡ cuộc sống bình yên của họ. Người quản lý của Công viên Quốc gia Kruger gọi điện cho Lawrence và nói với ông rằng, họ có 7 con voi đã thoát khỏi hàng rào do bị thợ săn tấn công, bắt đầu phá hủy mùa màng và đe dọa con người xung quanh.

Họ hỏi Lawrence có thể tạm thời giữ chúng trong khu sinh thái không, hoặc những con voi sẽ bị bắn chết vì chúng gây nguy hiểm cho dân làng.

Với tình yêu thương động vật, đương nhiên ông Lawrence không cho phép bi kịch xảy ra và đã đưa chúng về chăm sóc tại khu bảo tồn của mình.

Do đã từng bị tấn công bởi những người thợ săn, đàn voi dường như mất niềm tin vào con người và luôn cố gắng trốn thoát hết lần này đến lần khác. Mặc dù vậy, Lawrence cũng không hề nản lòng.

Ông chuyển đến sống bên ngoài nơi ở của chúng, cùng ăn, cùng ngủ, xem chúng như bạn, trò chuyện, ca hát và thổi kèn harmonica cho chúng nghe.

Đối với con voi đầu đàn Nana, ông Lawrence dành nhiều tâm huyết hơn cả. Ông không chỉ chăm sóc kỹ càng mà còn kể chuyện cho nó nghe nhiều hơn các con khác. Mỗi ngày ông đều chăm sóc chúng bằng tình yêu thương vô bờ bến.

Và ông đã thành công, những chú voi hung dữ trở nên thân thiện. Nana đã chủ động đến gần Lawrence, vui đùa cùng ông. Khoảnh khắc này khiến ông cảm động rơi nước mắt.

Sau này, vì đàn voi không ngừng tăng lên về số lượng, Thula Thula đã không còn đủ chỗ cho chúng nữa, ông Lawrence đành phải đưa đàn voi đến khu bảo tồn bên cạnh. Khi muốn thăm chúng ông sẽ phải lái xe đến, mà mỗi lần thấy ân nhân đến thăm, chúng đều vui mừng chào đón ông.

13 năm sau, năm 2012, đàn voi đã phát triển từ 7 con lên thành 21 con. Nhưng đó cũng là lúc tai họa giáng xuống gia đình Lawrence. Ông qua đời vì một cơn đau tim ở tuổi 61.

Ngày ông mất, Nana dẫn đàn đến từ sáng sớm. Chúng đứng xếp hàng trước căn nhà gỗ của vợ chồng ông, chĩa vòi lên trời, phát ra tiếng kêu bi ai giống nghi thức tiễn đồng loại của chúng, để tiễn đưa ông Lawrence. Chúng ở quanh căn nhà suốt 2 ngày rồi mới rời đi.

Và đó không phải là lần duy nhất đàn voi làm điều này. Suốt 7 năm trôi qua, cứ vào ngày giỗ của ông Lawrence, đàn voi lại xuất hiện trước căn nhà gỗ để tưởng nhớ người bạn già đáng kính.

Được biết, đàn voi bình thường sống ở rất xa, chúng phải mất 12 tiếng đi bộ mới đến được ngôi nhà của hai vợ chồng.

Không ai có thể giải thích tại sao đàn voi ở một nơi xa xôi lại biết đến sự ra đi của ông Lawrence, tại sao một đàn voi lại nhớ ngày giỗ của con người.

Nhưng vợ ông Lawrence và những người làm ở Khu bảo tồn Thula Thula tin rằng giữa đàn voi và ông Lawrence đã có mối dây liên kết tâm linh kì lạ đủ để chúng có thể cảm nhận được việc người bạn thân yêu của chúng đã ra đi.

Câu chuyện của ông Lawrence và đàn voi khiến nhiều người nhận ra rằng động vật không phải là loài vô tri, chúng cũng có đời sống tình cảm và biết quan tâm thậm chí đau buồn trước sự ra đi của những người thân thiết với chúng.

(Trang sự thật kỳ bí)

May be an image of 1 person, elephant, outdoors and text that says 'KY T BI MỘT ĐÀN VOI ĐỨNG XẾP HÀNG TRƯỚC CAN NHÀ GÓ, CHĨA VÒI LÊN TRỜI, PHÁT RA TIÊNG KÊU BI AI GIỐNG NGHI THỨC TIỀN ĐỐNG LOẠI CỦA CHÚNG, ĐỂ TIÊN ĐƯA ONG LAWRENCE. CHÚNG ở QUANH CĂN NHÀ SUỐT 2 NGÀY RỐI MỚI RỜI ĐI. MỖI NĂM ĐẾN NGÀY GIÓ, ĐÀN VOI ĐI BỘ 12H ĐE ĐỂN NGÃI NHÀ GO, TƯỚNG NHỞ NGƯỜI BẠN GIÀ ĐÁNG KÍNH.'

Đây là cách mà người ta làm tượng tưởng niệm.

Đây là cách mà người ta làm tượng tưởng niệm. Giản dị nhẹ nhàng mà sâu sắc nhường bao. Nhìn một lần nhớ mãi, bồi hồi mãi.

Trăm tỷ nghìn tỷ xứ mình như những núi nợ đè lên vai dân. Nhà nghèo mà cứ thích đồ sộ, càng đồ sộ càng tỷ lệ nghịch với giá trị thông điệp. Tôi nhìn tượng đài xứ mình, khó thở vô cùng.

– Nguyễn Tiến Tường

May be an image of sculpture, outdoors and monument

ĐỐI DIỆN VỚI GIỜ PHÚT KHÓ KHĂN CỦA CHÚNG TA

ĐỐI DIỆN VỚI GIỜ PHÚT KHÓ KHĂN CỦA CHÚNG TA

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Phân định không phải là chuyện dễ dàng.  Chúng ta thử giải quyết vấn đề nan giải này: khi chúng ta thấy lòng mình ở trong tình trạng lo âu cực độ, liệu chúng ta có lơ đi cho rằng một đau đớn như thế là dấu chỉ rằng đây không phải là nơi phù hợp với chúng ta, rằng có cái gì đó sai lầm ở đây không?  Hoặc, như Chúa Giêsu, chúng ta chấp nhận ở lại và nói với chính mình, với người thân, với Chúa: “Con sẽ nói gì bây giờ, cứu con khỏi giây phút này sao?”

Khi Chúa Giêsu đối diện với cái chết sỉ nhục trên thập giá, Tin Mừng Thánh Gioan có ám chỉ đến việc Ngài được đề nghị một cơ hội để trốn thoát.  Một phái đoàn người Hy Lạp, qua trung gian thánh Philiphê đề nghị Chúa Giêsu đi với họ, đến một nhóm sẽ đón Ngài và thông điệp của Ngài.  Như thế Chúa Giêsu phải chọn: Chịu đựng nỗi thống khổ, tủi nhục và chết với cộng đoàn, hay từ bỏ cộng đoàn này để đến với cộng đoàn sẽ chấp nhận mình.  Chúa Giêsu đã làm gì?  Chúa Giêsu cũng sẽ đặt câu hỏi: “Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao?

Dù câu này được xem là câu hỏi, nhưng đó là câu trả lời.  Ngài đã chọn ở lại, đối diện với lo âu, với sỉ nhục, với đau đớn vì Ngài thấy đây là lòng trung tín chính xác, Ngài được mời gọi trong chính tình yêu mà Ngài rao giảng.  Ngài xuống thế để nhập thể, để giảng dạy thế nào là tình yêu thực sự và bây giờ cái giá phải trả cho những chuyện này là sỉ nhục, là lo âu, Ngài biết và chấp nhận những gì đòi hỏi Ngài bây giờ.  Nỗi đau Ngài chịu không có nghĩa là Ngài đã làm cái gì đó sai, Ngài ở không đúng nơi, hoặc cộng đoàn này không đáng để Ngài chịu đau khổ này.  Ngược lại: nỗi đau được hiểu là cách thể hiện lòng trung tín sâu thẳm nhất của chính sứ vụ và thiên chức của Ngài.  Cho đến lúc này, chỉ có những lời kêu xin Ngài, bây giờ chúng ta xin Ngài nâng đỡ chúng ta trong thực tế; Ngài cần phải nuốt khó khăn để làm.

Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao?  Chúng ta có đủ khôn ngoan và quảng đại để nói những lời này khi, trong sự dấn thân riêng của mình, chúng ta bị thách thức chịu đựng nỗi lo âu nóng bỏng trong lòng này không?  Khi Chúa Giêsu đặt câu hỏi này, những gì Chúa phải đối diện là tấm gương gần như hoàn hảo cho các tình huống mà đôi khi chúng ta phải đối diện.  Trong hầu hết mọi dấn thân, nếu chúng ta trung thành thì sẽ có khi chúng ta phải phải chịu đựng một nỗi lo âu trong lòng (và cũng có khi do hiểu lầm bên ngoài), chúng ta phải đối diện với một quyết định khó khăn: nỗi đau và sự hiểu lầm này (dù cho đó là do sự non nớt của chính mình) có phải là dấu chỉ tôi ở không đúng chỗ, tôi phải ra đi và tìm một ai khác, một cộng đoàn nào khác cần đến tôi không?  Hoặc bên trong nỗi lo âu nội tâm này, hiểu lầm do bên ngoài, do sự non nớt của cá nhân tôi, tôi được gọi để nói: Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao?  Đây là điều tôi đã được gọi!  Tôi sinh ra để làm điều này!

Tôi nghĩ câu hỏi này rất quan trọng vì thường nỗi lo thường xuyên trong lòng có thể làm lung lay các cam kết dấn thân chúng ta, thúc đẩy chúng ta buông bỏ.  Các hôn nhân, các ơn gọi sống đời sống thánh hiến, các dấn thân làm việc cho công lý, cho cộng đoàn tu sĩ và các dấn thân cho gia đình, bạn bè có thể bị buông bỏ vì đương sự nghĩ rằng không ai được gọi để sống trong lo âu tột độ, bị sầu khổ và hiểu lầm như vậy.  Thật vậy, ngày nay nỗi đau, sầu khổ, hiểu lầm chung chung được xem như dấu chỉ để từ bỏ những chuyện mình đã dấn thân để đi tìm một ai khác, một cộng đoàn khác sẽ khẳng định mình, thay vì xem đây là dấu chỉ, bây giờ, chỉ có bây giờ, chỉ có giờ phút này, bên trong sự lo âu đặc biệt, sự hiểu lầm này, chúng ta mới có dịp mang lại ân sủng cho đời sống dấn thân của mình.

Tôi đã chứng kiến nhiều người từ bỏ hôn nhân, từ bỏ chức thánh, từ bỏ đời sống tu trì, từ bỏ cộng đoàn tôn giáo, từ bỏ bạn bè thân yêu, từ bỏ các dấn thân phục vụ cho công lý và hòa bình vì có một lúc nào đó họ cảm nhận mình quá đau và bị hiểu lầm.  Và trong nhiều trường hợp này, tôi cũng thấy thực tế hóa ra là một điều tốt.  Tình huống họ gặp không tốt cho họ cũng như cho người khác.  Họ phải được cứu khỏi “lúc này.”  Trong một vài trường hợp, điều ngược lại là đúng.  Họ đau đớn tột cùng, nhưng nỗi đau đó là lời mời đến một nơi sâu đậm hơn, mang lại sự sống hơn trong đời sống dấn thân của họ.  Họ rời đi, ngay lúc họ nên ở lại.

Chắc chắn, phân định không phải là chuyện dễ.  Không phải lúc nào cũng vì thiếu quảng đại mà chúng ta từ bỏ dấn thân.  Một số người quảng đại nhất, vị tha nhất mà tôi quen biết đã từ bỏ hôn nhân, chức thánh, đời sống tu trì hay bỏ giáo hội của mình.  Nhưng tôi viết điều này vì ngày nay, nhiều tài liệu tâm lý và thiêng liêng đáng tin cậy không đủ làm nổi bật thách thức, như Chúa Giêsu đã trụ vững bên trong nỗi đau đớn tột cùng, hiểu lầm, nhục nhã của mình, thay vì bỏ đi để đến với một ai đó, một cộng đoàn nào đó chấp nhận và hiểu nỗi khao khát của mình, thì chúng ta chấp nhận nó sẽ mang đến sự sống hơn khi nói: Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao?

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim