SUY GẪM VỀ SỰ NGHỊCH LÝ NHƯNG LẠI HỢP LÝ…….

 SUY GẪM VỀ SỰ NGHỊCH LÝ NHƯNG LẠI HỢP LÝ…….

Ngược Lại Với Yêu Là Gì Các Bạn???

Một giáo sư đang giảng về “tiểu thuyết” ở một lớp học của các nhà văn trẻ, giáo sư bỗng dừng lại hỏi các học viên:

– Ngược lại với yêu là gì?

– Ghét ạ!

Giáo sư đi đi, lại lại, trầm ngâm, ông bỏ giáo trình xuống bàn và nói:

– Thế này nhé: Ví như anh đang yêu, sau đó chia tay! 50 năm sau anh 70 tuổi, tình cờ gặp lại người cũ trong một chiều đi dạo. Lúc đó bà nọ chằm chằm nhìn anh và nói: “Ông A ơi tôi ghét ông!”. Nếu tình tiết xảy ra đúng như vậy, anh phải mừng cho bản thân mình!

– Vì sao?

– Vì anh là người may mắn mới có người ghét anh hàng nửa thế kỷ.

– May mắn quái gì, phi lý!

– Bình tĩnh, bình tĩnh. Các bạn nghĩ kỹ xem, ghét cũng cuốn hút tình cảm như yêu như thương, tức là tình cảm của ai đó vẫn nghĩ về anh. Có người ghét anh 50 năm, tức là vẫn nghĩ về anh 50 năm, thật là hiếm có đấy! Anh may mắn không nào?

Điều đáng sợ là khi anh gặp lại người cũ, anh hỏi:

– “Bà B ơi có nhớ tôi không?”.

Người nọ đứng đực ra nhìn anh và nói:

– “Thưa ông, tôi nom ông hơi quen quen, ông là ai?”.

Cả lớp cười ồ lên, câu chuyện tưởng tượng này quả là thú vị pha thêm chút ngượng ngùng…

Giáo sư khẳng định:

– “Ngược lại với yêu đâu phải là ghét!”.

Cả lớp đồng ý với giáo sư:

– “Ngược lại với yêu là lãng quên!”

May be an image of text

BÀI HỌC THÂM THÚY TỪ MỘT VỤ CƯỚP NGÂN HÀNG…

Thư giãn một chút cho bớt căng thẳng trong mùa dịch nghen quí vị!

BÀI HỌC THÂM THÚY TỪ MỘT VỤ CƯỚP NGÂN HÀNG…

Trong vụ cướp nhà băng nọ, có một tên cướp hét lên: “Tất cả đứng im, nên nhớ tiền thuộc về Nhà nước, còn mạng sống thuộc về chúng mày!”

Mọi người trong ngân hàng nghe xong liền im lặng nằm xuống.

–> Điều này được gọi là: “Cách thức khai tâm – Thay đổi những suy nghĩ theo lối mòn”

Có cô nhân viên nằm trên bàn trong tư thế khêu gợi, một tên cướp hét lên: “Làm ơn cư xử văn minh, chúng tôi là cướp chứ không phải những kẻ hiếp dâm!”

–> Điều này được gọi là “Hành xử chuyên nghiệp – Chỉ tập trung vào công việc mà bạn được huấn luyện!”

Khi tên cướp quay lại, một tên cướp trẻ hơn (có bằng MBA) nói với tên cướp già hơn (kẻ mới tốt nghiệp hết phổ thông): “Đại ca, có phải đếm xem chúng ta cướp được bao nhiêu?”. Tên cướp già gằn giọng: “Mày ngu lắm, bao nhiêu tiền, đếm thế nào được? Đợi đi, tối nay TV sẽ nói chúng ta cướp được bao nhiêu!”

–> Điều này được gọi là: “Kinh nghiệm – Ngày nay thì kinh nghiệm quan trọng hơn giấy tờ, sách vở”

Sau khi băng cướp rời khỏi, giám đốc chi nhánh định gọi báo cảnh sát. Kế toán trưởng vội vã chạy đến, thì thầm vào tai ngài: “Đợi đã, hay để 5 triệu chúng ta biển thủ vào trong số bị băng cướp lấy mất!”

–> Điều này được gọi là: “Bơi theo dòng nước – Chuyển đổi những tình huống bất lợi trở thành thuận lợi”

Người giám đốc tự nhủ: “Vậy thật tuyệt nếu cứ mỗi tháng lại có một vụ cướp!”

–> Điều này được gọi là: “Hãy loại bỏ những điều khó chịu – Hạnh phúc là điều quan trọng nhất”

Ngày hôm sau, TV đưa tin 100 triệu đã bị cướp khỏi nhà băng. Những tên cướp đếm đi đếm lại thì chỉ có 20 triệu. Chúng rất giận dữ: “Chúng ta mạo hiểm mạng sống của mình chỉ để lấy 20 triệu, giới lãnh đạo chỉ ngồi chơi mà cướp được 80 triệu. Đúng là học hành, có bằng cấp thì chúng nó được ngồi cái ghế đấy, cướp tiền siêu đẳng hơn chúng ta!”

–> Điều này giải thích tại sao: “Kiến thức thì giá trị như vàng”

KẾT LUẬN:

Trong cuộc sống luôn có những điều chúng ta có thể nhanh chóng nhìn ra, có những điều không như chúng ta thấy từ bên ngoài, và chân lý chỉ mang tính tương đối.

Quan trọng nhất là thái độ đối với cuộc sống này, hay cách nhìn chúng ta lựa chọn để mang lại vui vẻ, hạnh phúc cho bản thân, cho những người thân xung quanh mình.

SƯU TẦM

May be an image of 2 people and people standing

GỬI CÔ GIÁO TRẦN THỊ THƠ

FB Mạc Van Trang

GỬI CÔ GIÁO TRẦN THỊ THƠ

(Nguyên Giảng viên, Trưởng bộ môn, Khoa tiếng Anh, ĐH Duy Tân, Đà Nẵng)

Sài Gòn, ngày 12/8/2021

Cô Thơ thân mến,

Là nhà giáo, đồng nghiệp với Cô, thấy Cô bị sa thải chỉ vì một sự cố nghề nghiệp nhỏ nhoi, tôi rất buồn và xin được chia sẻ nỗi bức xúc với Cô.

Tuy nhiên đọc lời chia tay của Cô với các sinh viên, các giảng viên của trường, tôi thấy yên tâm, vì Cô có một tâm thế bình tĩnh, hiểu nhân tình thế thái và giữ vững bản chất nhân cách của mình. Với trình độ và bản tính ngay thẳng của Cô, tôi tin Cô sẽ tìm được công việc và môi trường làm việc xứng đáng với mình. Trong cái rủi có khi lại có cái may đó Cô!

Bây giờ trên tình đồng nghiệp, chúng ta chia sẻ với nhau đôi điều để giải tỏa những bức xúc cho nhẹ lòng.

  1. “Tội” của Cô là nói đúng SỰ THẬT và KHÔNG VÔ CẢM!

Xem đoạn video cô tranh luận với một sinh viên, thấy điều Cô nói là đúng SỰ THẬT. Tôi ở TP HCM, chứng kiến những dòng người lao động nghèo khó hoảng sợ dịch covid-19 chạy tán loạn khỏi thành phố, mà thấy bàng hoàng. Vợ tôi nhìn cảnh sản phụ ôm con chín ngày tuổi, ngồi trên xe máy cùng toàn bộ đồ đạc, trốn chạy; nhìn cảnh cả gia đình 5 người trên chiếc xe máy cùng đồ đạc lỉnh kỉnh rời thành phố; cảnh từng đoàn người nằm vật vã ngủ trên đường… cũng đã rơi nước mắt. Những người Việt Nam ở trong hay ngoài nước và cả người nước khác, có tình thương đồng loại đều cảm thấy đau đớn, xót xa. Cô cũng nói đúng sự thật, là nhiều nước châu Âu, Mỹ bị dịch covid chết rất nhiều người, nhưng chính phủ của họ lo an sinh xã hội rất tốt, không có cảnh mạnh ai nấy chạy đi tìm sự sống, như cảnh diễn ra trên đèo Hải Vân mà Cô thấy… Nhìn cảnh đồng bào cơ cực mà mình bất lực, không làm gì cứu giúp được, cảm thấy nỗi nhục nhã. Đó là tình cảm tự nhiên của một người có lương tri.

Nhưng trong xã hội Việt Nam hiện thời, Cô đã mắc hai “sai lầm” là NÓI THẬT và bức xúc, hổ thẹn, NHỤC NHÃ khi bất lực trước nỗi đau của đồng bào mình. Hai thứ đó ở thể chế này từ lâu đã là thứ xa xỉ! Phải như cậu sinh viên đối thoại với Cô, mới là “hạt giống đỏ” của chế độ!

  1. Cô là một giáo viên chân thành, nhiệt huyết.

Cô dạy tiếng Anh và giảng về Văn hoá phương Tây cho sinh viên. Những điều Cô so sánh hai nền văn hoá và chỉ ra những khiếm khuyết của văn hoá châu Á nói chung và văn hoá Việt Nam nói riêng là rất cần thiết để khai trí cho học trò. Những điều này Cụ Nguyễn Trường Tộ, Phạn Chu Trình, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… đã nói hàng 100 năm trước rồi; nhiều người sau này vẫn nói, Cô cũng nói…Nhưng não trạng của nhiều người Việt đã bị lập trình, chỉ biết phản ứng trước những kích thích quen thuộc, không có khả năng tiếp nhận cái mới, nhất là những giá trị tinh thần cao đẹp.

Cô là một giảng viên muốn thực thi đúng sứ mệnh của một nhà giáo là cố gắng khai mở, truyền đạt những điều mới mẻ cho sinh viên; muốn sinh viên biết độc lập tư duy bằng những sự kiện thực tế do mình tự tìm kiếm và biết so sánh quốc tế; biết tự do suy nghĩ, tự do biểu đạt, tự trải nghiệm để rút ra kết luận cho mình… Sứ mệnh của người giáo viên nói chung, nhất là giảng viên Đại học phải như vậy.

Nhưng nền giáo dục XHCN từ lâu đã giết chết những điều đó. Giáo viên phải trở thành “chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, giáo dục”, là người của Tuyên – Giáo! Giáo viên phải tuyên truyền như đài, báo nhà nước; giáo viên không cần độc lập, sáng tạo, cứ nói đúng giáo trình, học sinh, sinh viên đọc, chép đúng giáo trình. Vậy là Tiên tiến, xuất sắc. Nhiều lớp 100% Tiên tiến cơ mà! Nhờ đó nền Giáo dục XHCN mới đào tạo ra những lớp người ngu trung, chỉ biết tư duy rập khuôn, phục tùng máy móc; chỉ biết căm ghét những gì khác với họ và tự hào về những gì Đảng CS đã làm, dù đó là tội ác… Cô hãy xem vụ án Đồng Tâm, vụ án Hồ Duy Hải… bất chấp sự thật và công lý mà chính quyền vẫn làm nhiều người dân “tin tưởng tuyệt đối” kia mà! Nếu giáo viên nêu vấn đề sinh viên hãy thu thập tư liệu, phân tích trên cơ sở cơ sở pháp lý, đạo lý của vụ án, để tìm sự thật, công lý, thì lập tức giảng viên bị quy kết là “kích động học sinh chống phá nhà nước”… Thân phận người giáo viên khốn nạn thế đó!

  1. Nỗi nhục nhã ê chề không thuộc về Cô

Cô đã cố thuyết phục một sinh viên hãy nhìn thẳng vào sự thật, biết tư duy độc lập trên những sự kiện thật… Nhưng đã thất bại. Chuyện này cũng bình thường trong nghề dạy học. Tôi nhớ một lần nghe một vị lão thành kể, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời là sinh viên trường Đại học Đông Dương, đã tranh luận với giáo sư người Pháp rằng: Những giá trị Tự do, Bình đẳng, Bác ái ông truyền giảng chỉ là lý thuyết suông; người Pháp ở Đông Dương đang chà đạp lên những giá trị đó… Sinh viên Giáp chứng minh hùng hồn bằng những sự kiện thực tế… Thầy người Pháp gật gù, bảo, anh khá lắm. Nhưng ở đây thì anh có quyền tự do biểu đạt, còn ra ngoài kia, anh nói vậy, cảnh sát họ làm phiền đấy… Nhờ trường Đại học của thực dân Pháp có TỰ DO học thuật, tự do tư tưởng, nên mới có được lớp người gây dựng nên nền văn minh hiện đại của châu Âu cho Việt Nam đầu thế kỷ XX, nhất là văn minh tinh thần.

Nay mà sinh viên Võ Nguyên Giáp sống lại, nói, hãy nhìn người dân khổ cực trên đèo Hải Vân kia, khẩu hiệu “không để người dân nào đói ăn, thiếu mặc; không để người dân nào tụt lại phía sau” chỉ là nói xạo, chắc hẳn bị Ban giám hiệu trường Đại học Duy Tân giao nộp ngay cho công an!

Cô chỉ có “Phát ngôn phiến diện về công cuộc phòng chống dịch covid-19” như báo chí đưa tin, vậy mà nhà trường sa thải Cô ngay và làm việc với công an để xử lý! Cái Hội đồng của Đại học Duy Tân không hiểu nó là cái gì? Nó không biết bảo vệ giảng viên của mình; nó sợ hãi trước dư luận vớ vẩn; nó như cái tay nối dài của công an; nó không coi người giáo viên ra gì cả! Rồi cái Công đoàn và các tổ chức mà Cô tham gia của nhà trường này đâu, các đồng nghiệp đâu, sao không lên tiếng bảo vệ đồng nghiệp của mình? Tất cả thật nhục nhã ê chề! Cái trường như vậy mà mang tên “Duy Tân”?

Việc Đại học Duy Tân sa thải Cô, cho thấy thêm một tín hiệu về nền giáo dục ngày càng tha hoá, không hy vọng gì vào công cuộc “Đổi mới căn bản, toàn diện”…

Cô Thơ thân mến,

Nỗi đau buồn của Cô cũng là nỗi đau buồn của tất cả những ai quan tâm đến nền giáo dục nước nhà, đến tương lai của đất nước.

Chúc Cô bình tĩnh vượt qua nghịch cảnh này trong sự đồng cảm của rất nhiều người.

Thân mến

Mạc Văn Trang

Cộng sản Việt Nam đối diện khủng hoảng Covid, viễn cảnh một quốc gia thất bại

Cộng sản Việt Nam đối diện khủng hoảng Covid, viễn cảnh một quốc gia thất bại

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

8-8-2021

Chỉ trong vòng hai tháng, tháng 7 và tháng 8/2021, đại dịch Covid đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người Việt Nam, theo con số thống kê được báo chí nhà nước đưa ra.

Con số thống kê về nhân mạng lạnh lùng không phải là điều tệ hại nhất mà chính quyền cộng sản Việt Nam đang đối diện lúc này. Tình trạng phong tỏa cả nước kéo dài chưa biết đến lúc nào mới chấm dứt, từ đó kéo theo tương lai ảm đạm về khủng hoảng kinh tế, bên cạnh những mâu thuẫn lâu nay được che lấp bằng hào quang của sự phát triển ăn xổi ở thì: Mâu thuẫn chính trị vùng miền, tình trạng nghèo đói kinh niên của đại bộ phận dân chúng, bất bình đẳng xã hội, nông dân ly hương và hồi hương.

Mâu thuẫn chính trị vùng miền đã không được giải tỏa bằng cơ chế “trung ương đảng”, một loại quốc hội De Facto, vì cơ cấu quyền lực lỏi, với cái lỏi, cái chóp bu là bộ chính trị vẫn bị các nhân vật miền Bắc và Thanh Nghệ Tĩnh chi phối. Mâu thuẫn này xuất hiện rất rõ qua cuộc khủng hoảng đại dịch. Các viên chức quan liêu từ trung ương cầm tay chỉ việc các nhân vật địa phương ở Sài Gòn, gây rối loạn trong việc chống dịch, việc phân bổ số vaccine hiếm hoi lại ưu tiên cho Hà Nội, dù nơi đây dân số ít hơn Sài Gòn, và không phải là “tâm dịch” như thành phố phương Nam.

Không lâu trước khi cuộc khủng hoảng Covid bùng nổ, nhân chuyện thành phố Sài Gòn đề nghị được giữ thêm tiền, thay vì nộp quá nhiều cho trung ương, người ta cũng nói đến sự bất bình đẳng chính trị, gây thiệt thòi cho Sài Gòn, nơi đóng góp nhiều nhất cho ngân sách quốc gia, và cũng là nơi mà vết thương xung đột Nam – Bắc thời chiến tranh lạnh vẫn chưa lành.

Tình trạng nghèo đói kinh niên của dân chúng bộc lộ qua việc phong tỏa, tạm dừng các hoạt động kinh tế để chống dịch. Nhiều người dân bị đói, cần sự trợ giúp của người khác. Tức là mấy chục năm “phát triển kinh tế” không tạo ra được một hệ thống an sinh xã hội, một số đông dân chúng không có tích lũy. Việc không có tích lũy này không thể bị đổ thừa rằng “do người dân hoang phí”, mà là do sự duy trì đồng lương chết đói để hấp dẫn đầu tư, là chính sách thuế thất bại, không tái phân phối được của cải cho những thành phần dân chúng bị thiệt thòi.

Bất bình đẳng xã hội được minh chứng rõ ràng nhất qua câu chuyện bi hài vaccine Pfizer “ông ngoại”, trong đó các cán bộ cao cấp được chích vaccine “xịn”, con cái các cán bộ ấy có thể đi tắt, không phải xếp hàng. Việc phân loại thứ tự ưu tiên trong tình trạng khan hiếm vaccine bị thực hiện bất hợp lý để giành chỗ cho công an, bỏ mặc những lớp dân chúng dễ bị tổn thương nhất. Các tập đoàn tư bản địa phương cũng xúm vào giành giật vaccine, các nguồn tin từ Việt Nam cho biết, nhân viên quản lý tập đoàn VinGroup đã được chích vaccine ngay từ khi Việt Nam bắt đầu nhận được nguồn vaccine, dù họ thuộc lớp người trẻ, khỏe mạnh.

Nông dân ly hương và hồi hương. Những dòng xe gắn máy của những người kiệt sức từ Sài Gòn bỏ chạy về quê, chứng tỏ rằng, đã không có một lớp công nhân chuyên nghiệp có thể an cư ở các thành phố và khu công nghiệp lớn, mà chỉ là những đám đông nông dân bám vào các khu ổ chuột để bán rẻ sức lao động giản đơn của mình. Nếu các dòng xe gắn máy này có thể được thông cảm trong những ngày Tết cổ truyền, thì việc nó xuất hiện trong cuộc khủng hoảng Covid, không có cách giải thích nào hơn là chính sách công nghiệp hóa đã thất bại.

Đối diện với cuộc khủng hoảng này, chính quyền cộng sản Việt Nam rất bối rối. Các biện pháp kỹ thuật của họ đưa ra phản khoa học rất rõ ràng như, cấp giấy xét nghiệm âm tính, xịt thuốc khử trùng ngoài đường… Hệ thống báo chí tuyên truyền của họ cũng rơi vào khủng hoảng. Rõ nhất là chuyện vaccine Trung Quốc. Vừa mới đưa tin rằng vaccine Trung Quốc không có hiệu quả, lại phải xoay 180 độ, thuyết phục dân chúng dùng vaccine mua từ Bắc Kinh. Trong tình trạng càng chậm trễ thì virus càng có điều kiện trở nên nguy hiểm hơn, chính phủ Việt Nam chạy tới chạy lui như gà mắc tóc.

Hà Nội không chuẩn bị gì cả cho chuyện chích ngừa cho gần 100 triệu người Việt Nam. Trong suốt một năm khá yên ổn vì chặn được dịch sớm vào đầu năm 2020, họ chỉ lo chuyện trời ơi đất hỡi như là tuyên truyền Việt Nam thắng dịch, ngạo nghễ, mà quên mất chuyện đi ký hợp đồng mua thuốc chủng ngừa hiếm hoi. Khi loại virus Delta xuất hiện, hoành hành, thì các lô thuốc đã bị các quốc gia khác đặt mua hết rồi. Chính quyền CSVN cũng không theo dõi diễn biến dịch bệnh và cách thức chống dịch của các quốc gia khác. Họ thay đổi xoành xoạch “các đối tượng ưu tiên” trong việc chích ngừa.

Có thể nói rằng, nhà nước Cộng sản Việt Nam đang đối diện với cuộc khủng hoảng tương đương với cuộc khủng hoảng trước đổi mới kinh tế vào năm 1986. Nhưng có một sự khác biệt lớn, trước 1986 là cuộc khủng hoảng ý thức hệ. Nguồn nhân lực quản lý quốc gia bị kềm tỏa trong ý thức hệ ấy. Khi ý thức hệ được phá đi, nguồn nhân lực vẫn còn tốt đó phát huy ngay hiệu quả. Nguồn nhân lực này đi từ hai nguồn, số tinh hoa từ miền Bắc chưa nhuốm màu kim tiền, số còn lại từ thể chế Việt Nam Cộng hòa đã quen với kinh tế thị trường.

Cuộc khủng hoảng hiện nay do bộ máy điều hành bất tài gây ra.

Ba mươi năm của cái gọi là “đổi mới”, bên cạnh việc vực dậy nền kinh tế với những nhu cầu cơ bản, lại là một tiến trình hình thành một tầng lớp tư bản bồ bịch, ăn ruỗng cả hệ thống tinh thần của quốc gia, loại bỏ, cho ra rìa một bộ phận dân chúng có khả năng. Một thế hệ mới những nhà điều hành guồng máy quốc gia đầy nhũng lạm không thể đối phó với khủng hoảng. Một số đông thanh niên đi học nước ngoài không quay về, hệ thống giáo dục trong nước bị nhũng lạm, trở nên liệt kháng, không đào tạo được nhân lực tốt.

Những người đang cầm quyền ở Việt Nam hãy tĩnh lại để hành động như những người bình thường, không nên mở miệng thốt ra những lời nói vô nghĩa, hãy để cho dân chúng tham gia vào chính trị, bầu người mình tín nhiệm, kiểm soát bọn tài phiệt trục lợi, để có thể đối diện với những cuộc khủng hoảng chưa từng có tới đây. Nếu không, viễn cảnh một quốc gia thất bại (failed state) là hoàn toàn có thể.

Tỷ Phú & Trọc Phú

Tỷ Phú & Trọc Phú

Tưởng Năng Tiến

Thuở ấu thơ tôi đã được nghe nói đến “giường Hồng Kông” nhưng không hình dung ra được là nó thoải mái hay êm ái hay ra sao cả? Lớn thêm chút xíu thì có dịp chiêm ngưỡng dung nhan nguyên đám tài tử Hồng Kông (Miêu Khả Tú, Trịnh Phối Phối, Lý Tiểu Long, Địch Long, Khương Đại Vệ, Vương Vũ …) trên màn ảnh nhưng cảm thấy ái ngại hơn là ái mộ!

Mãi cho đến lúc già, tình cờ đọc bài báo ngắn (“Hong Kong’s ‘rebel’ tycoon Jimmy Lai has no regrets”) của Jerome Taylor mới chợt phát hiện ra là mình có tình cảm chứa chan đối với một vị phú gia Hương Cảng :

Ông trùm truyền thông triệu phú Jimmy Lai biết rằng sự ủng hộ của ông đối với các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ ở Hồng Kông có thể sớm đưa ông đến sau song sắt, nhưng ông tự hào mô tả mình là “kẻ gây rối” nói rằng ông không hối tiếc.

“Tôi chuẩn bị sẵn tinh thần vào tù”, người đàn ông 72 tuổi nói với AFP từ văn phòng của Next Digital, tập đoàn truyền thông dân chủ lớn nhất và rầm rộ nhất Hồng Kông. “Nếu nó đến, tôi sẽ có cơ hội đọc những cuốn sách tôi chưa đọc. Điều duy nhất tôi có thể làm là suy nghĩ thật tích cực.”

Câu chuyện cuộc đời của Lai là điển hình của nhiều cuộc hành trình làm giàu từ cơ hàn của các ông trùm Hồng Kông. Ông sinh ra ở tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc đại lục trong một gia đình giàu có, người đã mất tất cả khi cộng sản lên nắm quyền vào năm 1949. Vượt biên đến Hồng Kông khi 12 tuổi …

Nhưng con đường của ông đã tách khỏi những người cùng thời vào năm 1989, khi Trung Quốc điều xe tăng đến đè đè bẹp các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ ở Quảng trường Thiên An Môn của Bắc Kinh. Ông đã thành lập ấn phẩm đầu tiên của mình ngay sau đó và các bài viết thường xuyên chỉ trích các nhà lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc. (“Ngạo Khí Của Một Nhà Triệu Phú.” Bản dịch của ThesaigonPost – 6/18/2020).

Cái giá mà Lê Trí Anh phải trả cho “ngạo khí” của mình – tất nhiên – không rẻ, theo tường trình của thông tín viên Florence de Changy (RFI) từ Hương Cảng :

Năm người có trách nhiệm của Apple Daily bị bắt tại nhà, đều vào khoảng 7 giờ sáng nay. Họ bị cáo buộc “âm mưu thông đồng với các thế lực nước ngoài”, một tội danh được xác định theo điều 29 của luật an ninh mới, có hiệu lực tại Hồng Kông từ ngày 30/06 năm ngoái…

Đằng sau Apple Daily, rõ ràng là nhà sáng lập tờ báo bị nhắm đến. Tỉ phú Lê Trí Anh 73 tuổi, là một trong những người chỉ trích đảng Cộng Sản Trung Quốc dữ dội nhất. Ông bị khởi tố với một loạt tội danh, và bị giam giữ từ tháng 12. Tháng trước, cảnh sát đã phong tỏa nhiều tài khoản ngân hàng của Lê Trí Anh liên quan đến các công ty của ông, trong khi ai cũng biết rằng sự tài trợ của nhà tỉ phú rất cần thiết cho sự sống còn của Apple Daily.

Nhà báo Đào Trường Phúc (phonhonews) cho biết thêm đôi ba tình tiết :

Tất cả các hãng thông tấn và cơ quan truyền thông quốc tế đều gọi Thứ Năm 24 tháng 6-2021 là một ngày đau buồn của 7.5 triệu người dân Hồng Kông, khi Apple Daily – tờ báo ủng hộ phong trào dân chủ có nhiều độc giả nhất – phát hành số báo cuối cùng và quyết định đình bản sau khi bị chính quyền phong tỏa toàn bộ tài sản và vốn liếng…

Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Sans Frontières) cử hành “tang lễ tờ Apple Daily” trước sứ quán Trung Cộng tại Paris để thể hiện thái độ phản đối. Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden gọi ngày Thứ Năm 24 tháng 6 là “một ngày đau buồn cho tự do báo chí tại Hồng Kông và toàn thế giới.”

Cùng thời điểm này, Vietnamnet cũng có một mẩu tin ngăn ngắn (“6 tỷ phú Việt Nam sở hữu gần 17 tỷ USD”) cập nhật về tình trạng tài chánh của những người giầu nhất hiện nay:

Dẫn đầu danh sách là chủ tịch Vingroup Phạm Nhật Vượng xếp vị trí 344 với 7,3 tỷ USD. Đây là năm thứ 9 liên tiếp ông Vượng có tên trong top người giàu của Forbes. Năm ngoái, doanh nhân này xếp hạng 286 với tài sản 5,6 tỷ USD.

Đứng thứ 2 và thứ 3 lần lượt là CEO Vietjet Nguyễn Thị Phương Thảo (2,8 tỷ USD) và Chủ tịch Hòa Phát Trần Đình Long (2,2 tỷ USD).

Ba tỷ phú còn lại của Việt Nam là Chủ tịch Techcombank Hồ Hùng Anh (1,6 tỷ USD), Chủ tịch Thaco Trần Bá Dương (1,6 tỷ USD) và Chủ tịch Masan Nguyễn Đăng Quang (1,2 tỷ USD).

Trong số 6 tỷ phú của Việt Nam, có 4 người lập nghiệp tại Đông Âu gồm ông Vượng, bà Thảo, ông Quang và ông Hùng Anh. Chỉ duy nhất tỷ phú Trần Bá Dương là chưa đưa doanh nghiệp chủ chốt của mình lên sàn.

“Các ‘đại gia’ đó đã trở về Việt Nam từ thập niên 1990 khi đất nước bắt đầu mở cửa để đổi mới. Họ đầu tư chủ yếu vào bất động sản và xây dựng quan hệ là hai thứ tài sản có lợi nhất trong thời quá độ. Với túi tiền và kinh nghiệm tham nhũng ở Liên Xô và Đông Âu cũ, họ là những người cơ hội (như ‘carpetbaggers’) đặc trưng của thời kỳ tích tụ tư bản hoang dã.

Đó là vắn tắt bối cảnh thời kỳ quá độ của kinh tế thị trường và chủ nghĩa thân hữu ở Việt Nam. Hầu hết các tập đoàn tư nhân đầu tư vào bất động sản, tuy một số đa dạng hóa đầu tư vào lĩnh vực khác như ngân hàng (VP, VIB, Liên Việt), hàng không (Vietjet), thực phẩm (Masan), siêu thị (Vinmart), y tế (Vinmec), giáo dục (Vinschool), và xe hơi (Vinfast). 

Các tập đoàn này đã đóng góp đáng kể vào xây dựng hạ tầng, đặc biệt là bất động sản (property development). Từ các triệu phú, nay một số đã nhanh chóng trở thành tỷ phú đầu tiên của Việt Nam. Nhưng có một nghịch lý đáng buồn là trong khi họ làm giàu nhanh thì đa số người dân nghèo đi, và đất nước vẫn tụt hậu, với năng xuất lao động càng thấp.” (Nguyễn Quang Dy. “Chủ Nghĩa Thân Hữu Ăn Sâu Bám Rễ và Đầu Tư Nước Ngoài Chệch Hướng.” Bauxite Việt Nam 06/20/2020).

Nói thế sợ chưa hết lẽ. Giới tài phiệt ở đất nước này hiện đang tạo ra vô số “nghịch lý,” chứ nào chỉ một mà thôi:

Chả trách thiên hạ không ít lời ta thán:

  • Đoan Trang & Trịnh Hữu Long: “Truyền thông chính thống dường như không có bất kỳ bản tin bất lợi nào cho các tập đoàn lớn như Vingroup, Sungroup, hay FLC, mặc dù mạng xã hội luôn có nhiều tin đồn và nghi vấn về các vụ tai nạn, hỏa hoạn hay các vụ thâu tóm đất đai của các tập đoàn này.”
  • Tạ Phong Tần: “Chẳng có quốc gia nào mà dân chúng lại thù ghét người giàu như Ðông Lào, khoảng cách giàu – nghèo càng ngày càng lớn. Hễ ai giàu đều bị nghi là ‘cấu kết nhà nước làm ăn bất chính, cướp đất của dân,’ giàu nhờ lừa đảo.”
  • Trần Hoan : “Tui nói thật dưới xã hội cộng sản tất cả các đại gia tỷ phú đều giàu lên từ buôn bán bất động sản, từ việc phá tài nguyên thiên nhiên như rừng núi, khoáng sản, làm ô nhiễm sông, biển.. hay từ lừa đảo, làm ăn phi pháp…chứ có đại gia tỷ phú nào sáng chế ra được cái gì để giúp dân bớt khổ hay cống hiến được gì cho nhân loại chưa?”
  • Xuyên Việt: “Một trăm thằng đại gia thì có 99 thằng lừa đảo và làm ăn phi pháp.”

Nói thế e có hơi quá lời chăng? Chả lẽ một dân tộc với cả trăm triệu dân lại không xuất hiện được một vị tỷ phú nào ráo trọi mà chỉ có lác đác dăm ba ông (hay bà) trọc phú, chuyên thừa nước đục thả câu, thôi sao?

Tưởng Năng Tiến
7/2021

Đi Hết Cuộc Đời Ta Còn Lại Gì?

 Một bài viết hay, cảm động, đánh thức nhiều suy tư.

(Trích Nhật Ký Từ Một Nữ Tu Phục Vụ Tại Khoa ICU – tgpSaigon.net)

Đã quá nửa đêm, chị em chúng tôi đang lau dọn sàn nhà, một chị điều dưỡng chạy tới giọng hối hả: “Các Sơ ơi, có người mới qua đời. Các Sơ vào cầu nguyện cho ông đi!”

Hai chị em bỏ dở công việc, chạy vội vào góc phòng. Các điều dưỡng đang gỡ máy móc, dây ống ra khỏi cơ thể đã bất động. Tôi nhìn gương mặt ông tím tái rồi nhạt dần. Vị bác sĩ trẻ vẫn chưa rời khỏi, cô lộ rõ nét buồn vì không giữ được sự sống cho ông sau một hồi cấp cứu. Cô đưa tay vuốt mắt cho ông rồi lặng lẽ quay đi. Các điều dưỡng nhanh chóng bọc ông cụ vào bao đựng tử thi rồi điện thoại cho nhân viên nhà xác mang xác đi. Tất cả diễn ra trong tích tắc khi chị em chúng tôi còn chưa đọc xong những lời kinh phó linh hồn.

Từ lúc vào giúp ở khoa ICU này, ngày nào cũng thế, cảnh tượng ấy dần rồi quen thuộc. Lúc đầu, tôi vô cùng ngạc nhiên, thậm chí là hơi sốc.

Ở gia đình, trong nhà dòng, tôi đã quen với việc nhìn thấy phút lâm chung của một người có biết bao người thân vây quanh. Người mất được tắm xác, mặc quần áo chỉnh tề, được tẩn liệm với bao nhiêu nghi thức, bao nhiêu hương hoa, nhang nến, khăn tang, tiếng khóc thương đưa tiễn…

Còn đây là những cơn hấp hối và cái chết hoàn toàn trong cô đơn, lặng lẽ, chẳng có gì. Thật sự là không còn gì! Trong trận đại dịch, trong hoàn cảnh lây nhiễm, nhiều người phải từ giã cõi đời trong cái đau thương ấy! Nếu như tôi không ở đây, không tận mắt chứng kiến những cảnh tượng này, chắc tôi sẽ không có được cảm nghiệm sâu sắc về sự mong manh của phận người. Những ngày qua, tôi cứ suy nghĩ mãi: “Đi hết cuộc đời, ta còn lại gì?”

Những bệnh nhân trong khoa ICU này phần lớn đã hôn mê. Ngày nào tôi cũng đi từng phòng thăm và cầu nguyện cho họ. Họ là những người dân của Thành phố này. Nam có, nữ có, già có, trẻ có, mập có, ốm có… có đủ tất cả. Con virus này chẳng chừa ai. Chúng tấn công đủ mọi thành phần trong xã hội: có những người da dẻ trắng trẻo, mịn màng, trên người còn đeo nhiều trang sức và cũng có những người da nhăn nheo, khắc khổ; có những người giàu có, địa vị, tài giỏi, cũng có những người dân nghèo, bình dị, kém cỏi… Giờ đây, trong phòng Hồi sức Cấp cứu này, tất cả đều bình đẳng, tất cả những sự phân biệt đều quay về con số 0. Mọi người dù là ai đi nữa, chỉ còn là một sự trần trụi trên giường bệnh với nhưng hơi thở khó khăn, thoi thóp.

Và cái chết tinh thần đôi khi còn đến trước cái chết thể lý. Đó chính là sự cô đơn, sợ hãi khi không có lấy một người thân bên cạnh. Đi hết cuộc đời, làm bao nhiêu việc, tìm kiếm bao điều, bao mối tương quan… giờ chỉ còn một mình đối diện với cái chết cận kề. Cảm giác ấy thật không dễ dàng gì đón nhận!

Có lẽ nhiều người trong số các bệnh nhân đã cảm nhận được thân phận bụi tro của mình nên ra đi trong bình an. Nhưng tôi cũng thấy có người vẫn vùng vẫy trong hơi thở cuối cùng như còn điều gì chưa thỏa. Như hôm tôi chứng kiến cơn hấp hối của một cô độ 60 tuổi: Khi các bác sĩ vẫn đang nỗ lực cấp cứu, cô mở mắt ra lần cuối, đưa mắt nhìn quanh như tìm kiếm một người thân nào đó vì mới hôm trước, tôi nghe cô tâm sự: cả nhà đều bị nhiễm, mỗi người cách ly một nơi, cô rất lo vì mất liên lạc với mọi người. Thế nhưng xung quanh cô, giờ đây chỉ là những bức tường trắng xóa, những gương mặt xa lạ trong bộ đồ bảo hộ. Tôi thấy rõ ánh mắt đầy thất vọng và đượm buồn của cô. Máy thở đã không còn tín hiệu, cô ra đi mà mắt vẫn mở đầy thao thức. Thật không thể diễn tả được bao nỗi xót xa đau đớn. Mong manh quá, một kiếp người!

Nơi đây, tôi thấy ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ như một cái nháy mắt. Có người hôm nay còn thấy, ngày mai đã không còn nữa. Tất cả đều ra đi với đôi tay trắng như khi vào đời. Một cuộc đời còn lại gì? Không kèn trống, hương hoa, không một người thân đưa tiễn. Tất cả những bon chen giành giật, tìm kiếm danh vọng, địa vị, tiền bạc, sắc đẹp… không một điều gì có thể theo chúng ta vào cõi vĩnh hằng.

Lời Chúa vang lên soi sáng cho tôi: “Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời…” (Mt 6,20). Quả thật, khi cánh cửa thời gian khép lại, nguồn hy vọng duy nhất đời tôi chỉ còn là Lòng Thương Xót Chúa. Mọi sự thế gian đều phải bỏ lại thế gian. Chỉ có những công việc bác ái mà hàng ngày tôi tích góp mới trở nên kho tàng đích thực cho tôi, là người bạn duy nhất theo tôi đến trước tòa Chúa.

“Đi hết cuộc đời còn lại gì?”, bài học này thật quý giá cho tôi, để ngay lúc này, khi tôi còn hơi thở, tôi kịp thời chọn cho mình kho tàng không bao giờ hư mất.

Đồng Hồ Cát

httpv://www.youtube.com/watch?v=HQZY3vfKRL0&list=RDCMUCtoQh7mQikZsztA1OQRSFvw

Đi hết cuộc đời, ta còn lại gì?

YouTube player

THƯƠNG LẮM MẸ ƠI! | Nhật ký phục vụ tại bệnh viện dã chiến

VĂN HÓA LỪA HIỆN ĐẠI KIỂU TRUNG CỘNG.

VĂN HÓA LỪA HIỆN ĐẠI KIỂU TRUNG CỘNG.

(Bùi Văn Bông – Minh Diễn)

Nhóm chúng tôi có 12 người đi du lịch Trung Quốc, khởi hành từ Sài Gòn, theo chương trình sẽ đi thăm Bắc Kinh, Tô Châu, Quế Lâm. Hầu hết thành viên trong nhóm đều là cán bộ nghỉ hưu, gom góp mấy đồng tiền còm trong sổ tiết kiệm, và con cái phụ thêm cho chuyến tham quan. Người “có máu mặt” nhất là chị Lâm, vợ một ông tướng công an đương chức. Chị bao cho mẹ đẻ và mẹ chồng trong chuyến đi … “dối già”.

Đến Bắc Kinh, nhóm chúng tôi nhập vào một nhóm du lịch khác cũng từ Việt Nam sang hơn hai chục người, được một hướng dẫn viên người Trung Quốc đưa đi tham quan các nơi theo chương trình.

Phải nói Bắc Kinh là một thành phố vĩ đại, giàu bản sắc văn hóa Trung Quốc, nhiều công trình kiến trúc đẹp, nhiều di tích lịch sử rất đáng được chiêm ngưỡng và suy nghiệm. Thành phố này trật tự, nền nếp hơn Sài Gòn, Hà Nội, không chen chúc xe máy, không có người ăn xin, chụp giựt níu kéo du khách chặt chém từ vài quả cóc, lon nước đến bịch lạc rang như ở bờ Hồ Gươm.

Nói như vậy không phải người Trung Quốc thật thà, mà họ thuộc … hạng siêu lừa. Họ lừa có bài bản, lừa theo kiểu “kích dục mê tâm” – kích thích cái tham, làm cho lòng người mê mẩn thiếu sáng suốt rất dễ bị lừa. Phải thừa nhận là họ có “văn hóa lừa” hẳn hoi, ăn sâu, ăn đậm, và không ăn vặt.

Khi chúng tôi lên xe đi thăm Cố Cung, tay hướng dẫn viên du lịch nói nói:

– Thưa các bạn Việt Nam, Cố cung, là nơi các triều đại nhà Minh, nhà Thanh ngự trị suốt mấy trăm năm, lịch sử Trung Quốc trải qua bao thăng trầm xuất phát từ chốn cung vàng điện ngọc này… Viện bảo tàng Cố Cung.

Tay hướng dẫn viên nói như hát. Hắn mới khoảng hai nhăm tuổi, ăn mặc lịch sự, nói tiếng Việt làu làu, nhớ không ít tục ngữ ca dao Việt Nam, biết cả chửi thề, khoe rất thích ăn món thị chó rựa mận rìa đê Yên Phụ, Hà Nội và món cà pháo canh cua quán cơm bà Cả Đọi, Sài Gòn.

Nghe hắn nói Cố Cung hấp dẫn, ai cũng háo hức, nhưng hắn không cho vào thăm ngay, mà cho xe chạy qua cổng Bắc thành. Tôi hỏi sao lại đi vòng thế, hắn nói:

– Muốn vào thành phải được sự chấp thuận của các quan gác cổng, hôm nay tôi dẫn đoàn qua cổng Bắc, vượng khí đang ở hướng đó.

Nghe hắn như rót mật vào tai, ai cũng gật gù.

Vừa tới cổng thành, đã thấy bộ tứ linh Long, Ly, Quy, Phượng rực rỡ nhảy múa đón rước. Rồi cả một ban tiếp tân, ăn mặc chỉnh tề, ân cần mời đoàn thăm quan lên lầu. Một căn phòng sang trọng, những dãy ghế đánh vec-ni bóng nhoáng.

Các du khách vừa an vị, tay hướng dẫn viên trịnh trọng giới thiệu vị giáo sư lịch sử ra nói chuyện với đoàn. Nhìn vị giáo sư, … thấy nghi nghi, hình như đây là một diễn viên đóng thế, bởi gương mặt non choẹt. Nhưng anh ta tỏ ra một diễn viên có tài, từ điệu bộ đến lời nói rất đĩnh đạc, nghiêm trang. Hắn nói một mạch về lịch sử Cố cung, về các triều vua, rất uyển chuyển không hề vấp váp, rồi chốt lại bằng câu chuyện con Tỳ Hưu thật hấp dẫn. Hắn nói:

– Thưa quý vị, đời vua Minh Thái Tổ, giữa lúc quốc khố bị rỗng, một đêm ngài nằm mơ thấy một con vật mình rồng, đầu to, ngực to, mông to, có sừng nhọn, lông dày, đứng hút nhanh từng thỏi vàng sáng chói vào bụng. Sau giấc mơ đêm ấy, nhà Minh hưng thịnh, quốc khố đầy vàng, nhà vua cho làm con đường vào thành theo trục Bắc Nam, hướng tài lộc, cho xây cổng Bắc thành này và dùng ngọc phỉ thúy tạc tượng con vật trong mơ, gọi là Kỳ Hưu, nghĩa là kỳ diệu, sau gọi là Tỳ Hưu đặt tại đây, gọi là tài môn, cổng tài lộc.

Hôm nay may mắn đoàn du khách Việt Nam được qua cổng tài lộc vào Tử Cấm thành, may mắn hơn vì quý vị sẽ được chiêm ngưỡng con Tỳ Hưu bằng ngọc phỉ thúy, tạc từ thời Minh Thái tổ…

Mọi người vỗ tay rào rào. Vị “giáo sư” mỉm cười nhã nhặn, ra hiệu mọi người ngồi xuống, nghe nói tiếp về sự mầu nhiệm của Tỳ Hưu:

– Tỳ Hưu là một con vật cực kỳ linh thiêng, mầu nhiêm, có đầu to, ngực to, mông to, nhưng bụng nhỏ và không có … hậu môn, chỉ hút vàng bạc châu báu của trời đất vào mà không nhả ra, chỉ làm giàu cho chủ mình chứ không để thất thoát đi đâu một đồng nào. Vì thế người đời xưa gọi là con Thiên Lộc. Từ đời nhà Minh đến đời nhà Thanh, vua ban sắc lệnh chỉ có vua và Hoàng hậu mới được thờ Tỳ Hưu, các hoàng tử, công chúa không được thờ. Đặc biệt nghiêm cấm các quan trong triều tuyệt đối không được thờ Tỳ Hưu, vì sợ quan sẽ giàu hơn vua.

Có một người dấu vua thờ Tỳ Hưu, là Hòa Thân, thời Mãn Thanh, đời Càn Long. Hòa Thân, tạc một con Tỳ Hưu bằng ngọc phỉ thúy, to hơn con Tỳ Hưu của vua, trưng trong biệt phủ của mình. Nhờ con Tỳ Hưu ấy Hòa Thân làm quan đến tột đỉnh, chỉ dưới một người trên muôn người, vơ vét hết của cải thiên hạ.

Theo thống kê thời ấy, Hòa Thân có biệt phủ 3.000 phòng, 6000 gia nhân, 600 thê thiếp, 32 km2 đất, 42 ngân hàng, 75 tiệm cầm đồ 600 cân sâm Cát Lâm, 60.000 lạng vàng, 100 thỏi vàng lớn mỗi thỏi 1.000 lạng, 56.000 thoi bạc mỗi thỏi 100 lạng, 90.000.000 lạng bạc lẻ, vân vân… Ước tính tài sản của Hòa Thân gấp 15 lần ngân quỹ quốc gia.

Có tiếng xuýt xoa của du khách. Mấy người cười khúc khích, nói với nhau: “Việt Nam mình cũng có vài Hòa Thân rồi đấy!”. Vị “giáo sư” ra hiệu mọi người im lặng rối nói:

– Không chỉ có Tỳ Hưu sinh tài, còn nhiều loại Tỳ Hưu khác mầu nhiệm không kém, như Bồ Lao, Trào Phong, Toàn Nghê, Bi Hi, Bế Ngạn, Phu Hi… Ai muốn con cháu văn hay chữ tốt thì thờ Phu Hi, muốn yên ổn bình an thì trưng Tiêu Đồ, muốn quyền cao chức trọng tiếm loát thiên hạ thì trưng Bế Ngạn…

Mấy vị du khách, mắt sáng lên, lấy sổ tay ghi tên loại Tỳ Hưu hợp với mình. Bà vợ ông tướng công an, không ghi kịp hỏi tôi:

– Cái con gì giữ quyền cao chức trọng anh nhỉ?

Tôi nói:

– Tên nó là Bế Ngạn chị ạ! Hình dáng nó như con hổ, loài chúa sơn lâm đấy.

Vị “giáo sư” đưa mắt nhìn khắp lượt, rồi bằng một thái độ hết sức trịnh trọng, anh ta mời mọi người qua phòng bên xem con Tỳ Hưu ngọc phỉ thúy, anh ta nhắc đi nhắc lại, chỉ được đi lướt qua, liếc mắt nhìn, tuyệt đối không sờ tay vào con vật linh thiêng. Tay hướng dẫn viên cúi rạp người xuống cám ơn vị “giáo sư”, rồi dẫn mọi người qua cái cửa hẹp vào phòng lớn.

Bốn người mặc quần xanh nẹp đỏ, đội mũ quan thời Minh, đứng canh cái bệ gỗ, trên bệ phủ mảnh vải đỏ. Sau khi thắp hương vái, bốn người cầm bốn góc tấm vải hất lên, phía dưới hiện ra con Tỳ Hưu lung linh dưới ánh đèn mầu nhấp nháy. Mọi người không được nhìn kỹ, nên chả biết con Tỳ Hưu bằng ngọc hay bằng đá? Thì tay hướng dẫn viên hối sang phòng bên.

Căn phòng rộng thênh thang, bày la liệt đủ các loại Tỳ Hưu to nhỏ lớn bé, trên kệ gỗ, trong tủ kính. Gần chục cô gái bán hàng sốt sắng chào mời khách. Tay hướng dẫn viên nói, chỉ ở đây mới có các loại Tỳ Hưu “thứ thiệt”, mỗi con vật linh thiêng này được đưa vào Cố Cung bày trước anh linh vua Minh Thái Tổ xin ban phúc lộc, rồi mới mang ra đây bán cho du khách.

Mọi người như bị mộng du, bước chân đi rón rén, không dám nói cười, và cứ ngoan ngoãn móc ví đếm tiền mua Tỳ Hưu. Bà vợ tướng công an mua một lúc bốn con Bế Ngạn bằng ngọc, giá mỗi con 9.000 tệ. Bà ta nói với tôi:

– Trưng ở nhà hai con, chỗ làm việc của nhà em hai con bác ạ!

Một con Tỳ Hưu nhỏ nhất ở đây có giá 3.200 tệ, tương đương 500 đô la Mỹ, tức 11.000.000 đồng Việt Nam. Tôi nói nhỏ với ông bạn đi cùng nhóm:

– Hình như không phải bằng ngọc ông ạ? Tôi trông giống hệt mấy con Tỳ Hưu bán ở Hà Nội, Sài Gòn, giá chưa đến một triệu một con?

Ông bạn vênh mặt lên:

– Không có tiền nên nói thế!

Ông rút một nắm tiền ném lên mặt tủ kính. Tôi vội lánh sang chỗ khác, nhìn những cô gái tíu tít đếm tiền, miệng cười tươi như hoa.

Khi đã bán được 26 con Tỳ Hưu, thấy không ai mua nữa, tay hướng dẫn viên du lịch mời mọi người lên xe vào Cố cung.

Đến đây mọi người chỉ được xem qua, vì kỷ luật bảo vệ di tích của Trung Quốc rất nghiêm khắc, hơn nữa theo chương trình còn đi thăm Vạn Lý Trường Thành.

Cách điểm thăm quan Vạn Lý Trường Thành không xa, tay hướng dẫn viên nói với du khách:

– Thưa quý vị, Vạn Lý Trường Thành được Hoàng đế Tần Thủy Hoàng xây dựng từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, dài 3.980 dăm, nơi đây, Mao Chủ tịch đã đến khắc bảy chữ vàng “Bất đáo trường thành phi hảo hán” nghĩa là chưa đến Vạn lý trường thành thì chưa phải là một anh hùng.

Muốn lên Vạn Lý Trường thành phải có sức khỏe tốt, vì vậy cơ quan y tế Trung Quốc đã thành lập một Trung tâm khám sức khỏe “miễn phí” cho du khách. Hôm nay trước khi lên Vạn Lý Trường Thành tôi xin giúp quý vị kiểm tra lại sức khỏe, cô bác nào có bệnh sẽ được điều trị ngay tại chỗ.

Cái trung tâm ấy là một tòa nhà bốn tầng, khang trang. Cũng như ở cổng Cố Cung, các bác sỹ ra tận cửa đón rước, mời chúng tôi lên phòng khám bệnh thênh thang, từng hàng ghế kê ngay ngắn. Các nhân viên mang nước mời mọc ân cần. Rồi năm, sáu người mặc blu-trắng xuất hiện, giới thiệu rất trịnh trọng, đây là giáo sư tiến sỹ Lu Zeng Ung nổi tiếng nhất Trung Quốc (?), đây là bác sỹ Hua Twen Xuang nổi tiếng nhất Bắc Kinh (?).

Những vị giáo sư, bác sỹ vạch miệng, vạch mắt, nghe tim phổi và bắt mạch cho từng người trong hai nhóm du khách với thái độ rất thân thiện, khi nheo mắt tỏ vẻ lo lắng, khi mím môi tỏ vẻ nghiêm trọng, rồi nhoẻn miệng cười đầy vẻ cao đạo.

Khốn nạn thân chúng tôi, ở nhà khỏe re, mà đến đây ai cũng có bệnh. Không cao huyết áp thì phù thận, suy tim, có người bị chứng xơ gan mới khiếp chứ!? Nhưng lại … “mừng vì phát hiện ra bệnh sớm” và vị giáo sư, tiến sỹ nói, đã tới đây thì bách bệnh sẽ được tiêu trừ hết, bởi Trung tâm này đã từng chữa bệnh cho nhiều vị nguyên thủ quốc gia Trung Quốc và thế giới.

Chúng tôi được kê đơn thuốc, có chữ ký của vị giáo sư tiến sỹ đàng hoàng, có con dấu của Viện Đông y thế giới Bắc Kinh đỏ choét. Ai cũng cảm thấy hả hê vì may mắn. Ở nhà đi bác sĩ tư thì bị chặt chém, đi bệnh viện công thì bị hành, chuyến đi này, vừa được thăm quan du lịch vừa khám chữa bệnh bốc thuốc, được tiếp đón ân cần như bố người ta thì còn gì sướng bằng?

Nhưng ít phút sau thì mọi người hơi ngán, bởi các giáo sư, bác sỹ, chỉ khám miễn phí, còn thuốc phải mua, mà đây là một Viện y học nổi tiếng, nên thuốc rất “đắt”. Mỗi bịch thuốc theo toa của “giáo sư, bác sĩ” rẻ nhất là 1.000 tệ tương đương 160 đô la Mỹ.

Như bị ma ám, ai cũng bỏ tiền ra, ôm một mớ thuốc nam và mấy hộp … “cao đơn hoàn tán”. Các vị giáo sư tiến sĩ Trung tâm y dược vẫn chưa chịu buông tha các con mồi. Họ kéo mọi người sang phòng bên ngồi xung quang cái sân khấu hình tròn.

Một anh chàng nhảy lên sân khấu, hung dữ như một thằng du đãng. Hắn hét toáng lên, rồi chạy xuống lôi một thanh niên đang ngồi lẫn trong đám du khách lên sân khấu. Chả rõ nguyên cớ vì sao, thù hằn gì mà hắn thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đánh anh thanh niên ghê thế. Đến nỗi du khách phải la lên phản đối. Thằng du đãng bỏ anh thanh niên nằm lăn lóc, lủi mất. Bấy giờ một bác sỹ chạy tới vén quần, vén áo anh thanh niên lên. Ôi cha mẹ ơi, từ ngực trở xuống, từ đít trở lên thâm tím như những quả đa mồi.

Anh ta không ngồi dậy được, rên ư ử như sắp chết. Bà bác sỹ lấy một viên thuốc cho anh ta uống, lấy một lọ thuốc nước đổ lên các vết thương, và … thật “mầu nhiệm”, thuốc chảy đến đâu vết thương lành đến đấy. Chai thuốc hết, anh thanh niên đứng dậy, khỏe re, toe toét cười. Tiếng vỗ tay vang lên và sau đó, tiếng xuýt xoa thán phục râm ran trong nhóm du khách.

Tiếp theo, một phụ nữ lên sân khấu, đổ cồn vào tay, châm lửa cháy đùng đùng. Khi lửa tắt bàn tay chị phồng rộp lên, Vị giáo sư liền mang lọ thuốc nước trong suốt ra, rưới vào tay chị, và chao ơi thuốc thần thuốc thánh cũng không hiệu nghiệm bằng, rưới đến đâu da tay chị phụ nữ hết phồng, trắng hồng trở lại đến đấy.

Thế là mọi người nhắm mắt, nhắm mũi, xỉa tiền mua thuốc bỏng, thuốc trị thương. Tôi thách bạn nào đi trong nhóm du lịch ấy, trong hoàn cảnh ấy, mà không mua một thứ gì. Mình cũng được khám bệnh như mọi người, bác sỹ nói mình có bệnh, kê đơn đàng hoàng sao mình không mua thuốc. Nói không có tiền giữa đám khách du lịch với nhau thì mắc cỡ lắm. Tôi đã bị người đàn ông trong nhóm khinh thường nên vội tránh đi nơi khác.

Lên Vạn Lý Trường Thành, nhìn núi non trùng điệp bao la, hiểu thêm, đất nước Trung Hoa vĩ đại bao nhiêu thì ta càng thấy … tham vọng của Trung Nam Hải càng dữ dội bấy nhiêu, mưu sâu kế hiểm bấy nhiêu, lừa lọc, lòng dạ rất hẹp hòi, lừa đảo như chớp, không rộng rãi như miệng lưỡi họ nói.

Những người đóng vai quân lính, người hầu cận vua chúa ngày xưa đứng bên những chiếc kiệu, sẵn sàng phục vụ du khách, những nhiếp ảnh viên đon đả mời chụp ảnh kỷ niệm, ân cần lắm, nhưng nhìn sâu vào mắt họ không có … chút chân thành nào.

Một người ra dáng thi nhân ngồi sau cái bàn viết thi pháp bán cho du khách. Tôi mua tờ giấy hoa văn hai mươi tệ, mượn bút viết mấy câu bằng chữ Hán: “Thử địa nhược đại mông. Bá đạo nhân thực nhân” – Nơi này ôm mộng lớn, toàn quân ăn thịt người!. Tôi tặng lại người viết, anh ta vái một vái, rồi gập tờ giấy lại đút vào túi.

Nhóm chúng tôi đến Tô Châu vào một buổi chiều. Thành phố cổ kính nổi tiếng bởi nhà thơ Trương Kế, thời vua Đường Túc Tông, với bài “Phong Kiều Dạ Bạc”:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cộ tô thành ngoại hàn sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Cụ Tản Đà đã dịch cực hay là:

Trăng tàn tiếng quạ kêu sương

Lửa chài cậy ánh sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

Trước khi được đi thăm Hàn sơn tự, xây dựng 70 năm trước khi Trương Kế ra đời, để viết Phong kiều dạ bạc, chúng tôi được “mời” uống trà Loa Xuân, nổi tiếng Tô Châu. Hướng dẫn viên du lịch là một cô gái trẻ, miệng lưỡi không thua kém anh chàng Bắc Kinh, lại hấp dẫn hơn bởi sự duyên dáng. Cô nói:

– Mời các anh các chị, các chú các bác vào uống trà, tại nơi sản xuất loại trà Loa Xuân, nổi tiếng Trung Quốc.

Trong hoa viên lộng lẫy, ban giám đốc và nhân viên xếp hai hàng, ăn mặc chỉnh tề đón tiếp khách du lịch như đón nguyên thủ quốc gia. Một dãy sa lon bọc vải đỏ chót trong căn phòng mát lạnh. Uống trà khác với uống cà phê, càng khác với cà phê đá, trà đá, ở chỗ tĩnh, mát. Người Tô Châu hiểu như vậy, nên làm phòng trà mát lạnh.

Khách vừa ngồi ấm chỗ, nước được bưng lên, những gói trà được mang tới, và những cô gái trẻ trang phục bằng loại lụa tuyệt đẹp xứ lụa Tô Châu, nhanh nhẹn pha trà bằng các động tác chuẩn xác đến mức, một cô cầm chiếc ấm có cái vòi dài gần hai mét rót nước vào miệng cái bình trà nhỏ xíu mà không rớt ra ngoài giọt nào. Hàng chục cặp mắt cứ trố ra nhìn, tấm tắc khen, sao họ khéo thế.

Từng ly trà được mời từng vị khách. Giám đốc nhà máy cúi gập đầu chào mọi người, rồi nói xuất xứ loại trà Loa Xuân, sự kỳ công trong trồng tỉa, chế biến và tác dụng của nó. Kết thúc câu chuyện, là mời du khách mua trà với giá … khuyến mãi đặc biệt.

Được tiếp đãi như thượng khách, đã uống trà của người ta mời, chả nhẽ “nhổ đít” bước ra tay không? Có mà ê mặt! Hơn nữa lại là khách đi theo đoàn, đoàn Việt Nam hẳn hoi, chơi không đẹp ảnh hưởng quốc thể chứ đâu bỡn. Lại sợ người cùng đi nhìn mình, khinh mình kẹt sỉn, thế là đồng loạt rút ví.

Cũng phải thừa nhận uống tách trà họ vừa pha ngon thật, bập vào môi có vị hơi đắng , mùi thơm thoảng, uống vào có vị ngọt trong cổ họng. Tôi nói với người giám đốc, xin mua chính những gói trà vừa bóc ra pha cho chúng chúng tôi uống, hắn ta “hảo hảo” rồi lánh đi, không tiếp chuyện nữa!

Từ Tô Châu về Quế Lâm, ăn món tương ớt và món mỳ thịt ngựa nổi tiếng, nhưng sau mới biết bị lừa , ăn phải mỳ thịt … chuột.

Nhưng rồi cũng cho qua chuyện để đi thăm công viên Thất Tinh, núi Tượng Tị, đồi Trăng Khuyết… Đến mả Mã Viện, thấy tượng hắn đúc bằng đồng, cưỡi trên lưng con ngựa chiến, mặt hắn vênh váo, hai con mắt trừng trừng, miệng như đang gào thét, chẳng biết muốn đâm chém ai, hay đang đau đớn vì bệnh ỉa chảy, tôi vụt nhớ câu thơ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tới đây gần nửa thế kỷ trước: “Trăm năm mới đến nơi này, Ngàn năm mới thấy mặt mày ở đây!”.

Chúng tôi chia tay nhau ở sân bay Tân Sơn Nhất. Hầu như các loại thuốc quý đều vứt lại khách sạn bên Trung Quốc. Bà vợ viên tướng công an nói với tôi:

– Bác Minh Diện ơi, mấy sợi dây chuyền ngọc trai là đồ dỏm bác ạ, cái con Tỳ Hưu tử tiệt cũng dỏm. Sao bác biết mà không bảo em?

Tôi đưa mắt nhìn ông bạn cùng nhóm, ông nhếch miệng cười như mếu:

– Nó lừa mình khéo quá anh ạ! Mả cha cái bọn Tàu!

Bọn Trung Cộng nổi tiếng cả thế giới về hàng dỏm, hàng giả, hàng nhái; đã nhiều lần bị quốc tế lên án vì các thực phẩm độc hại… Bị phỉ nhổ vì các hành vi ăn cắp các công trình nghiên cứu và phát minh của Hoa kỳ.

Việt nam, thật đáng thương khi không may ở gần anh Trung Cộng xấu xa, là thùng rác khổng lồ để Trung Cộng tuôn hàng dỏm, hàng độc hại có nguy cơ gây ung thư, không ngừng giết hại dân ta từ từ mỗi ngày.

Chưa hết, chúng còn có âm mưu thâm độc và to lớn hơn khi được chính quyền Việt cộng tham lam và ngu dốt tiếp tay, đó là âm mưu sửa lại lịch sử, địa lý, văn hóa… của nước ta bằng cách in và phát hành hàng lọat các sách giáo khoa cho các trẻ thơ, trắng trợn dạy dỗ trẻ em: VN là một phần đất của Trung Cộng!

Qua bài viết trên đây, tác giả đã lột tả những hành động lừa lọc rất tinh vi của Ngành du lịch TC nhằm móc túi của du khách.

Trước sự xâm lăng biển, đảo, đất đai của VN một cách ngang ngược, đầy hiếu chiến; tàn phá môi trường thiên nhiên, biến đất đai của chúng ta thành những “tô giới” của Trung Cộng ngay trên quê hương của chúng ta, ở đó họ tự ý đưa người của họ vào VN, xây dựng nhà cửa, đường xá, trường học, bệnh viện, phố xá, hoàn toàn sử dụng tiếng Hoa, có luật pháp riêng… Không một người dân Việt nào, kể cả bộ đội, chính quyền địa phương được bén mảng tới.

Bùi Văn Bông – Minh Diễn

From: TU-PHUNG

“TÙ TÚNG” TRONG CHIẾC QUAN TÀI

“TÙ TÚNG” TRONG CHIẾC QUAN TÀI

Đường phố Sài Gòn thênh thang vắng lặng không một bóng người bởi thực hiện lệnh giãn cách xã hội nghiêm ngặt thời dịch Covid.  Có một lối vào lại đông đúc và chật hẹp chẳng thể thông giao.  Trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa những ngày vừa qua bế tắc bởi xác người quá nhiều.  Đoàn xe đưa đám nối đuôi nhau đợi chờ hàng giờ hầu giải phóng cái gọi là “tù túng” cho cả đôi bên: người nằm trong và kẻ ở ngoài.  Cảnh “một cõi đi về” thời Covid sao nó vong thân đến tột cùng!

Câu chuyện “shipper buồn nhất thế giới” trên đường Âu Cơ – Lạc Long Quân những ngày qua làm cho người ta quặn đau bởi thân phận con người thời dịch hãi quá ư “bèo bọt” trong nắm tro tàn.  Đúng là thân phận con người, đi đến “mỏi gối chồn chân” của kiếp bụi tro tưởng được an yên phút giây biệt ly, nào ngờ vẫn còn đó sự mệt nhoài nghe tiếng ai oán gõ nhịp không nguôi.  Đọc những câu thơ trong bài “Cát Bụi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, chúng ta mới thấm thía và chua xót cho cái “tù túng” của phận người trong “hũ tro cốt” như một món hàng giao dịch thời công nghệ 4.0: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi, ôi cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp không nguôi.” 

Mạng xã hội truyền đi những video với thân phận “nhạt nhòa” của con người trên những chiếc xe tang dồn ứ quan tài.  Lò thiêu hoạt động ngày đêm vẫn không thể đưa những xác người “vượt qua ranh giới của cái hình hài” mà về với mẹ đất trong cái bụi.  Nằm trong chiếc quan tài “chập hẹp, gò bó, tù túng” có bao giờ vẫn có một cảm thức linh thiêng nơi ấy không được “thoải mái.”  Người ra đi còn đâu một nhịp thở trong hai tiếng hiện sinh; người đang sống “với hoài” cũng thấy xa tít chân trời một đoạn đường đưa tiễn.  Nỗi đau vẫn còn mãi và day dứt bởi cái chết mùa này sao “cách ly” đến cả đường về thế giới bên kia lẫn lời tiếc thương phân ưu của người thân ruột rà.  Thế mới đau!  Đau trong cái “chật hẹp” của phận người, đắng trong cái “gò bó” của thời cuộc, và xót xa trong cái “tù túng” trên đoạn đường cuối cùng của cuộc đời.

Trong thời đại dịch, “nghĩa tử là nghĩa tận” sao nó phong trần đến khó tả.  Cha mẹ mất con cái không thể gặp gỡ bày tỏ “nghĩa tận” của đạo hiếu.  Vợ chồng “có nhau” đến chẳng thể rời, “xương bởi xương tôi thịt bởi thịt tôi,” phút giây tạ thế cũng “nhân tình thế thái” đến lạ thường trong cái thực tại khốn cùng tạo ra.  Lời trần tình trên trang facebook Hạnh Maria cũng làm cho chúng đau tận cõi lòng: “Thế là xong một kiếp người.  Cô em dâu ra đi không một người thân là hai đứa con gái, người chồng thì chỉ đứng từ xa nhìn vào vì dịch, cũng vì dịch mà em bỏ lại hai đứa con thơ.  Không biết từ mai hai cháu sẽ bám víu vào ai.  Xin mọi người hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn Maria mau hưởng tôn nhan Thiên Chúa.”  Nhìn chiếc quan tài đổ lệ, người ở lại tiếp tục gồng mình với thời đại dịch “tù túng” trong mọi sinh hoạt thường ngày.

Chết thời Covid vẫn là cái chết của phận người.  Chết trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng là thực tại chân thật nhất mà ai cũng sẽ trải qua.  Bởi đó, sinh ra là nguy cơ tiềm ẩn một ngày sẽ chết đi.  Sinh tử là một cặp “hữu thể thực hữu” nghe thì xa xôi nhưng thực chất rất gần, gần đến mức biên thùy của nó giống như khoảng không giữa hai nhịp thời gian hiện tại và tương lai.  Hầu như các triết gia hiện sinh ngắm nhìn cái chết không mấy mặn mà.  Và cả chúng ta nữa, trong giây phút đau buồn trước cái chết của anh chị trong đại dịch, chúng ta cảm thấy đắng lòng.  Sự “tù túng” trong chiếc quan tài kia có thể người đời gọi đó là định mệnh không thể cưỡng lại và chẳng chút nào khiên cưỡng với phận người.  Trong lối tâm thức này, chết đúng là tuyệt vọng thật. 

Tuy nhiên, tinh thần Kitô Giáo khả dĩ giúp chúng ta nhìn về tương lai bên kia bờ trần gian.  Chết không phải là định mệnh đưa con người vào hư vô, mà là “sự sống chỉ thay đổi chứ không mất đi,” là đưa ta vào sự sống vĩnh cửu.  Chết là sống lại cách bất diệt nơi Thiên Chúa, Đấng là uyên nguyên sự sống.

Thật vậy, cần một lời nguyện cầu cho người quá cố an vui bên kia nấm mồ, và lại cần một niềm hy vọng vào tương lai tươi đẹp cho con người nguy nan trong cơn đại dịch.  Thiên Chúa là nơi ta tìm gặp, là Đấng giải thoát muôn sự “tù túng” cho phận người cả đời này và đời sau.  Lời Chúa trong Chúa Nhật 19 thường niên hôm nay đặt chúng ta trong ơn gọi “cứu rỗi” cho cả hai cảnh vực này.  Niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, và ăn bánh hằng sống nơi Người sẽ giúp chúng ta hóa giải tất cả mọi đau khổ trong quá khứ, ngay lúc này và cả tương lai.  Chính Chúa Giêsu đã nói: “Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời.  Tôi là bánh trường sinh.  Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết.  Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.  Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.  Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6, 47-51).

Chúng ta chẳng thể có kinh nghiệm về cái chết của chính mình, nhưng cái chết của người bên cạnh giúp chúng ta gẫm suy về ý nghĩa cuộc đời.  Những khoảnh khắc “tù túng” trên đường về bên kia thế giới của những người ra đi trong thời dịch bệnh này, có làm cho cuộc đời chúng ta thay đổi không?  Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta vượt thắng với sự trân trọng “ơn hoán cải” mà Người khơi gọi lên trong lòng chúng ta qua những “dấu chỉ thời đại” của ngày hôm nay.

Phan Hiếu

Nguồn: https://dongten.net

From: Langthangchieutim

Khi người chết vẫn ‘sống’ trên mạng xã hội

 Kimtrong Lam asked a question in Lương Văn Can 75.

  Khi người chết vẫn ‘sống’ trên mạng xã hội

Lê Tây Sơn

8 tháng 8, 2021

Ảnh đại diện (avatar) trên tài khoản mạng xã hội sẽ sống mãi với thời gian, dù chủ nhân của nó không còn. Lúc đó avatar giống như ảnh trên bia mộ ngoài đời thật. Không ai thoát khỏi cái chết, nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có thể sống mãi dưới hình thức “avatar ảo” (digital avatar) để những người sống có thể thảo luận những câu chuyện, những suy nghĩ và những gì bạn đưa lên mạng giống như trò chuyện với bạn lúc còn sống?

Mạng xã hội, di sản để lại sau khi chết

Khác với di sản trong thế giới thật, việc khai thác di sản trong thế giới ảo hầu như không gặp trở ngại gì và nằm ngoài vòng can thiệp của pháp luật.

Rõ ràng, công nghệ thông tin đã làm thay đổi cách suy nghĩ cũ về “di sản” và cách chúng ta viết “tự truyện” về mình. Tài khoản Facebook chính là nơi lưu giữ tự truyện của chủ nhân.

Một cuộc khảo sát mới nhất cho thấy, mỗi tài khoản mạng xã hội bỏ ra khoảng 12 giờ mỗi tuần để viết “nhật ký” trên Facebook bằng ngôn ngữ, hình ảnh hay video. Cuốn “tự truyện ảo” này vẫn còn nguyên vẹn sau khi chúng ta qua đời nếu chúng ta không chủ động xoá nó trước khi bị chết. Có người xem “nhật ký số” là “linh hồn số” (digital soul). Những đứa cháu có thể tìm hiểu về bà nội của chúng thông qua các post để ở chế độ “public” hay “friends” trên Facebook của bà. Trừ phi mạng xã hội này giải thể và đóng cửa.

Những biến cố lớn và đáng nhớ trong cuộc đời của bà nội đều được bà tự đưa lên Facebook hàng ngày hay hàng tuần. Những sở thích của bà cũng được đưa lên. Rồi cả những bức ảnh, video và những “chia sẻ” sống động. Người ta có thể dễ dàng biết được xu hướng văn hoá, tôn giáo và quan điểm chính trị của nhau qua Facebook.

Trong vài năm trở lại đây, nhiều công ty công nghệ mở rộng ý tưởng về “digital soul”. Software Eterni.me, phát hành năm 2014, sẽ tạo ra “phiên bản ảo về bạn” (digital version of “you”). Phiên bản này sẽ tồn tại mãi sau khi bạn qua đời. Nếu những software như Eterni.me thành công, thế hệ cháu chắt không chỉ biết nhiều về cuộc sống của ông bà mà còn có thể hỏi họ những câu hỏi và nhận được câu trả lời về những vấn đề mà chúng quan tâm giống như đang ngồi trước mặt.

“Nói vậy để thấy, giao tiếp sau khi chết là điều hoàn toàn có thể xảy ra” – một nhà tương lai học nói. Hãy nhìn qua robot Bina 48 được sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nhân Martine Rothblatt. Robot gần giống diện mạo vợ của Rothblatt và chứa các dữ liệu về ký ức cũng như giọng nói, cách nói của bà.

Rothblatt là tác giả cuốn sách “Virtually Human” và là Giám đốc điều hành của United Therapeutics. Là kẻ chuyển giới (transhumanist), châm ngôn cuộc sống của ông: “Chết là sự chọn lựa” (death is optional). Rothblatt tiên đoán trong tương lai gần người chết có thể hồi sinh nhờ vào software nhân bản (cloning) tư tưởng trong đó cho phép avatar suy nghĩ và phản ứng giống như người nó đại diện lúc còn sống.

Được hỏi, kỳ vọng này bao giờ mới trở thành hiện thực, Rothblatt nói: “Theo tôi, software nhân bản tư tưởng sẽ nhân bản hoàn hảo hơn chúng ta tưởng. Nói rõ hơn, avatar và người nó đại diện không khác biệt nhiều về tư duy và phản ứng trước một vấn đề”. Thậm chí có người còn nói đến việc “sao lưu não” (back-up brain) để bất tử hoá bộ não của các thiên tài. Lúc đó, “linh hồn ảo” sẽ không cho phép con người xóa bỏ quá khứ, quá khứ vẫn tồn tại và những người thân yêu đã qua đời sẽ tiếp tục sống với chúng ta. Quan hệ giữa người sống và người chết trong thế giới thực không còn nữa nhưng trong thế giới ảo vẫn còn nguyên. Sự đau đớn và thương tiếc quá đáng sẽ trở thành không cần thiết.

Trong The Memorius, truyện ngắn của nhà văn Jorge Luis Borges, nhân vật trung tâm Funes mất khả năng quên sau khi bị tai nạn xe cộ. Funes có thể kể lại vanh vách những cuốn sách ông đọc và nhắc lại chi tiết những gì ông trải qua mỗi ngày. Nhưng khả năng này đã biến bộ nhớ của ông thành “đống rác khổng lồ” không thể giải phóng được. Cuối cùng, Funes bị thất lạc trong bộ nhớ của mình, không thể phân biệt giữa nhớ và quên.

“Không thể để quá khứ lại phía sau đang trở thành bi kịch của con người trong thời đại kỹ thuật số” – nhà nghiên cứu Mayer-Schonberger nói. “Công nghệ số buộc chúng ta không được quên người chết. Đây vừa là sự may mắn vừa là điều bất hạnh – nhà xã hội học Jean Baudrillard cảnh báo – Bạn không cần phải đến nhà thờ hay nghĩa trang để tưởng nhớ người chết mà có thể vào thẳng mạng xã hội, nơi có những nghĩa trang khổng lồ và sống động như Facebook”.

Câu chuyện của Brandon Ambrosino

Theo một nghiên cứu đáng tin cậy, số người chết trên Facebook (hay số người dùng Facebook đã qua đời) đang gia tăng nhanh: khoảng 30 triệu người và còn tăng nữa. Năm 2012, chỉ tám năm sau khi Facebook ra đời, đã có 30 triệu người dùng qua đời, tám năm sau, con số chết cũng tương đương. Ước tính cho thấy có hơn 8.000 người dùng Facebook chết mỗi ngày. Trong thế giới ảo đang xâm lấn thế giới thật với tốc độ chóng mặt, mạng xã hội Facebook (và cả các mạng xã hội ít phổ thông hơn) là một lăng mộ ảo khổng lồ và không ngừng phát triển (a growing and unstoppable digital graveyard).

Đến một thời điểm nào đó, số người dùng Facebook chết sẽ đông hơn số người sống. Đối với những người còn ở lại, cái chết trên mạng xã hội của các “friend” gồm người thân, bạn bè và người xa lạ không hẳn là cái chết như trong thế giới thật mà sự tương tác vẫn còn qua hình ảnh, video và bài viết còn lưu lại. Facebook sẽ không có lời chia buồn và lưu ý về một chủ tài khoản đã chết nếu nó không được thông báo.

Một ngày sau khi cái chết của người dì, tôi (Brandon Ambrosino) khám phá ra dì đã viết cho tôi một lá thư thương yêu ở trang trước cuốn sưu tập những tác phẩm của văn hào Shakespeare mà bà tặng tôi. “Dì biết những lời dì viết cho con là quan trọng thế nào. Vì nó là quà tặng cho con với tất cả tình yêu. Bên con mãi mãi. Dì Jackie”.

Bức thư gây xúc động sâu sắc trong tôi. Tôi liền mở laptop của mình và tìm đến trang Facebook của dì giống như lúc bà còn sống và hy vọng sẽ khuây khỏa nỗi nhớ thương khi nhìn thấy những bức ảnh của dì và đọc những gì dì viết. Thậm chí tôi còn tưởng tượng dì đang trò chuyện với mình bằng giọng nói thánh thót quen thuộc trên những post video live.

Trên đầu trang Facebook dì để lại, có một video do người em họ chia sẻ (share) cảnh hai con voi con chơi đùa trong nước. Dì rất yêu loài voi nên có hàng ngàn bức ảnh voi treo khắp nhà. Bên dưới một số bức có lời bình của các sinh viên cũ của dì và cả một cáo phó của người em dâu cho một con voi bị chết. Tôi dùng chuột cuộn trang lên và lý lịch trích ngang của dì hiển thị.

Dì Jackie học Khoa Giáo dục tiếng Anh tại Đại học Frostburg State University và là cựu Trưởng khoa tiếng Anh tại một số trường học của thành phố Baltimore, tiểu bang Maryland, nơi dì sinh sống. Không có dòng chữ hay dấu hiệu nào cho thấy dì đã chết. Nhưng dì Jackie của tôi đã thực sự từ giã thế giới này trước sự chứng kiến của những người thân.

Không có cáo phó trên Facebook, chủ tài khoản được mặc định là vẫn còn sống. Vì hầu như chẳng có mấy ai thông báo với Facebook là chủ tài khoản đã qua đời và xin hủy trang cá nhân. Như vậy là xét về lý lẽ, dì Jackie chưa từ giã trên thế gian.

Dì vẫn hiện diện trên mạng xã hội dù dì không có hoạt động mới nào trên đó. Thậm chí, nếu muốn, dì vẫn có thể nhờ người thân thay mặt mình để cập nhật trang cá nhân và thổi sức sống cho nó. Tôi nhớ lại cái đêm tôi cùng gia đình đứng quanh giường của dì Jackie khi những dây nhợ và máy móc giúp duy trì cuộc sống còn nguyên vị để chờ dì trút hơi thở cuối cùng.

Facebook, nghĩa trang không cần đất

Như vậy, việc một người tiếp tục “sống không ngừng” trên không gian mạng đã làm thay đổi thế nào đến cách chúng ta nghĩ về cái chết? Và sự thương tiếc có còn nhiều như cũ khi người chết vẫn hiện diện trong không gian ảo? Chỉ cần quan sát những gì xảy ra đối với người dùng mạng xã hội sau khi họ qua đời cũng đã thấy lắm điều thú vị.

Ở đây là dì Jackie của tôi, người tôi yêu, trò chuyện, nắm tay và chứng kiến những đường hiển thị màu xanh lá chậm dần và biến thành một đường thẳng khi dì chính thức giã từ cuộc sống sau vài ngày hôn mê. Sự ra đi của dì là “rõ ràng và không thể đảo ngược”. Vậy mà dì vẫn sống nhờ một dịch vụ máy tính từ xa điều hành hoạt động của mạng Facebook.

Những suy nghĩ, tâm sự, kỷ niệm, hình ảnh và những mối quan hệ của dì tiếp tục hiển thị trên trang cá nhân. Facebook không tự xoá nên nó sẽ tồn tại mãi với thời gian. Các post video dì Jackie cười nói vẫn yên vị ở đó để chờ người xem. Trong khi con người không thể hồi sinh thì sự kỳ diệu của công nghệ thông tin đã giúp họ tồn tại mãi trên trái đất này.

Chúng ta chết ngoài đời thật nhưng vẫn sống trên Facebook. Cuộc sống này sẽ kéo dài nếu chúng ta có “kẻ tiếp nối” trang cá nhân của mình. Vào trang Facebook của dì Jackie tôi có cảm giác là dì còn sống. Từ khi mạng xã hội trở nên phổ biến, số người chết trên Facebook không ngừng tăng với tốc độ nhanh. Như vậy, Facebook đã trở thành “nghĩa trang lớn nhất thế giới” và sự bành trướng của nghĩa trang này là không có điểm dừng.

Khi một tài khoản Facebook công bố chủ nhân của nó đã chết, Facebook sẽ gắn chữ “remembering” lên “profile” để tưởng niệm họ. Tài khoản của họ cũng thôi xuất hiện tại những không gian “public” như “People You May Know” giới thiệu kết bạn hoặc nhắc bạn bè ngày sinh nhật. Rất ít người dùng Facebook tự thông báo hay nhờ người khác thông báo với dịch vụ là họ… sắp chết.

Kerry, một trong những người bạn sống chung với tôi trong ký túc xá thời đại học đã tự tử cách nay vài năm. Tuy nhiên, vợ của anh, gia đình và bạn bè vẫn thường xuyên post bài hay hình ảnh lên trang của anh. Profile của Kerry tiếp tục xuất hiện trên Facebook và các không gian “công” vẫn có tên anh.

Cả Kerry và dì Jackie đều không có tên trong danh sách “tưởng niệm” của Facebook. Điều đó có nghĩa là, cái chết của họ không được Facebook biết và dịch vụ vẫn cư xử với họ như người còn sống. Những hoạt động quá khứ của họ được duy trì và không tự xoá.

Trên giường chờ chết của bệnh viện, những dấu hiệu sự sống trọng yếu của dì Jackie đã mất nhưng cỗ máy điều hành Facebook ở cách xa hàng ngàn dặm không hề biết người dùng dịch vụ của nó đã chết.

Mạng xã hội cho chúng ta thấy quyền năng của sự nối kết toàn cầu mỗi khi xảy ra một sự kiện đáng chú ý, từ đêm trao giải Oscar đến vòng chung kết World Cup, từ một bộ phim truyền hình nhiều tập đình đám đến các tin tức thời sự nóng hổi.

Nhưng mạng xã hội còn có vai trò lớn trong việc lưu giữ “di sản” của người dùng trong thế giới ảo thay cho di sản trong thế giới thật. Những gì bạn để lại trên Facebook sau khi chết chính là di sản của bạn.

(Theo The Atlantic Unbound 2021)

Nghe lời cao cả, sao chỉ thấy rùng mình

Nghe lời cao cả, sao chỉ thấy rùng mình

Tuấn Khanh

8 tháng 8, 2021

Bác sĩ Khoa không thấy xuất hiện nữa, sau sự kiện gây sốt dư luận mạng xã hội mà bác sĩ Khoa kể rằng anh đã quyết “rút ống thở” của cha mẹ già, để nhường cho hai đứa trẻ sơ sinh vừa mới chào đời. Bản tin lan nhanh đến khủng khiếp trong đêm 7 Tháng Tám 2021. Bên dưới lời tâm tình gây chấn động đó, không ít các nhân vật tên tuổi để lại lời kính trọng và cám ơn. Thậm chí, có người còn ghi rằng họ nợ anh, về mạng sống của cha mẹ già mà anh đã quyết hy sinh.

Nhưng rồi chỉ đến rạng sáng hôm sau, mọi thứ bày ra một sự thật khủng khiếp: hóa ra đó là trò bịa đặt. Nó có giá trị như một cú hích truyền thông được tổ chức, nhằm tạo một luồng tâm lý mới trong xã hội đang quá bất mãn và đầy tiêu cực về những câu chuyện mất mát, khốn khó của người dân thời phong tỏa. Cùng với thực trạng bộ máy y tế Sài Gòn đang kiệt sức trước các mệnh lệnh chống dịch bất hợp lý và bế tắc.

Người ta tìm thấy vị bác sĩ tên Khoa ấy – tự xưng là làm việc tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Thế nhưng trả lời báo Tiền Phong, Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy là ông Nguyễn Tri Thức đã khẳng định là không có bác sĩ nào tên Khoa và Bệnh viện Chợ Rẫy cũng không có khoa sản. Câu chuyện hai em bé sinh đôi cũng được vạch ra: là hình ảnh được ăn cắp từ trang Facebook của bác sĩ Cao Hữu Thịnh, về một ca mổ do chính bác sĩ này đảm trách.

Tâm lý đám đông bị hành hạ khủng khiếp vì kịch bản truyền thông này. Người Việt ở mọi nơi bị sững sờ và khuất phục bởi hình ảnh không khác gì những giai thoại trong truyện Tàu cũ – vốn đã ăn sâu vào tình cảm người Việt nhiều đời.

Hãy tự hỏi, có cái gì “cao quý” hơn việc một bác sĩ trong thời đại xã hội chủ nghĩa đã quyết hy sinh cả ba mẹ để cứu cho những đứa trẻ vừa ra đời? Nhất là chuyện đó xảy ra trong lúc đại dịch khốn khó, rõ là hình tượng sáng ngời và mẫu mực của đám đông đang cắn môi ứa lệ để giơ cao tay đi cùng thủ tướng, quyết “chống dịch như chống giặc”, sẵn sàng vượt qua mọi nỗi đau để chiến thắng. Kịch bản này đau đớn và đẹp đẽ tương tự như Tỷ Can chấp nhận ăn bánh bao thịt con mình, để thoát khỏi tay Trụ Vương, nghĩ đến ngày khởi nghĩa. Chuyện cũng bi phẫn như Quách Cự tự tay chôn sống đứa con ba tuổi để dành thêm cơm nuôi mẹ trong Nhị Thập Tứ Hiếu.

Không đến 24 giờ đồng hồ sau, tâm lý đám đông lại bị hụt hẫng, đặc biệt với những người bị tác động khủng khiếp bởi đã để cảm xúc kiểm soát mình hơn là lý trí. Rất nhiều người nói mình đã cúi đầu, khóc thương hay ngưỡng mộ bác sĩ Khoa, nay lại rơi vào trạng thái tức giận và buông lời nguyền rủa.

Báo chí Nhà nước lao vào cải chính, vạch trần sự kiện này cũng nhanh đến mức bất ngờ. Nhưng có lẽ mọi thứ sẽ sớm qua đi, vì có vẻ như mọi nguồn cơn tìm thấy, xuất phát mạnh mẽ từ một người làm báo chuyên phát ngôn cho nhà nước, và cũng hay tổ chức sự kiện truyền thông để phục vụ mục đích chính trị mỗi khi có yêu cầu. Bên cạnh việc trang cá nhân của “vị bác sĩ trẻ tên Khoa” này biến mất, khiến nhà báo cũng phải xin lỗi và rút lại những gì đã đăng, mặc dù vẫn chống chế rằng “đã huy động tòa soạn kiểm tra nguồn tin đến 2 giờ sáng”.

Ở Việt Nam, đã có hàng trăm người bị gọi làm việc với công an, phạt tiền, bị bỏ tù… với các câu chuyện của họ trên Facebook từ năm 2020 đến nay, bởi các Điều khoản 117, 331 hoặc theo Nghị định 15 về viễn thông. Thế nhưng, không chắc là sẽ có ai liên quan bị khiển trách gì sau vụ này, nhất là với vị trí lãnh đạo của một sếp tờ báo về Pháp Luật.

Phải “khâm phục” là câu chuyện cổ tích giữa đời thường của “bác sĩ Khoa” phối hợp với một vài nhân vật KOL có chủ ý dẫn dắt dư luận trên Facebook, đã chọn đúng điểm rơi tâm lý của người dân lúc này.

Cả một đất nước đang lo lắng trước những câu chuyện đau thương, và vật vã trước những những đòn ngăn sông cấm chợ điên loạn của một lực lượng kiêu binh nổi lên, nhân danh Chỉ thị 16, thì rõ là mọi người đang khao khát được nghe những điều tử tế, những sự cao cả và lương thiện của con người dành cho nhau. Chính câu chuyện này có tác dụng làm ai nấy chùng lòng lại. Thậm chí những người đang kêu gào cho quyền lợi của mình hay cho người khác, đều có ít phút giây tự vấn về sự thấp hèn của mình khi nghe chuyện.

Nếu không bị vạch trần, chuyện của “bác sĩ Khoa” có tác dụng không nhỏ trong việc kềm hãm sự bức bối quyền lợi cá nhân, và nhu cầu bản thân bị thiệt thòi của đám đông bất bình đang ngày càng tăng trong phong tỏa. Và thậm chí, câu chuyện có thể trở thành sách khoa của giới tuyên truyền về việc dẫn chứng sự hy sinh bản thân của thế hệ mới xã hội chủ nghĩa cho tương lai đất nước.

Có người nêu câu hỏi, để dựng nên câu chuyện này, vì sao “bác sĩ Khoa” có thể giỏi đến mức tạo nên một khung hình cao thượng-nhẫn tâm thú vị như vậy, để hớp hồn nhiều tầng lớp dân chúng?

Thật ra, mọi thứ đều có tính truyền thống của nó, soi chiếu lại quá khứ sẽ thấy không khó nhận ra. Trong mỗi giai đoạn kiểm soát đất nước, tùy theo tình hình, các nhà lãnh đạo vẫn có khuynh hướng mị dân và thao túng bằng những câu chuyện được dựng thêm, hay sáng tác ra. Việt Nam đã có những chuyện đầy cảm hứng của thời chiến tranh như Kim Đồng, Lê Văn Tám, Tô Vĩnh Diện… Và chẳng phải từ xa xưa, Lê Lợi đã thành vua trong suy nghĩ mê tín của người dân, qua việc cho viết bằng nước cơm trộn mật lên lá Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần, để kiến đục thành chữ?

Những điều như vậy, cũng quen thuộc với tinh thần “Thép đã tôi thế đấy” của N.A.Ostrovsky: trung thành và sẵn sàng hy sinh theo mệnh lệnh, theo thời cuộc sắp đặt và tương lai mà cộng sản kêu gọi.

Chắc nhiều người còn nhớ tác phẩm “Người thứ 13”, truyện về cô gái Hồng quân bị kẹt trên đảo với một sĩ quan Bạch vệ đẹp trai. Gần nhau nên cả hai nảy sinh tình yêu. Nhưng đến khi một nhóm Hồng quân đến đảo và yêu cầu cô gái giết tên sĩ quan Bạch vệ, vì mệnh lệnh và nhân danh lòng phụng sự cao cả, cô đã bắn người yêu của mình.

Việt Nam cũng có, sách vở vẫn ghi lại rất nhiều trong năm 1945, trong đợt Cải cách ruộng đất. Để chứng tỏ trái tim đỏ và cao quý, nhiều thanh niên đã từ chối cha mẹ mình, thậm chí quay mặt khi họ bị bắn, đánh đập. Mục đích là để bản thân mình vươn cao hơn trong đám đông – một kiểu kiếm views thời chưa có internet – để lọt vào tầm mắt bề trên, và chấp nhận mình là con bài cần thiết của thời cuộc.

Nếu thật sự có một sự thật hy sinh vĩ đại như “bác sĩ Khoa” đã nói, sao anh ấy còn tỉnh táo đến mức dành thêm thời gian để khoe chuyện như vậy trên Facebook, và còn ăn cắp ảnh trẻ sơ sinh từ trang người khác để minh họa cho mình? Ấy là máu lạnh chứ đâu là sự thánh thiện – một người bạn tôi nhắn như vậy.

Đời người ngày càng khó biết, và khó đoán. Thật không dám nói gì thêm về cái gọi là sự thật trong những ngày tháng này. Nhưng trong tầm nhìn hạn hẹp của mình, thật lòng tôi không cảm thấy xúc động từ lúc đầu được biết về câu chuyện của vị bác sĩ tên Khoa. Nhưng rồi khi nhìn lại từ những gì lịch sử ghi lại, đã có đến nay, câu chuyện ấy chỉ khiến tôi lại thấy rùng mình.

Chuyến ‘di tản thứ ba’ của lịch sử Việt Nam: Bỏ chạy khỏi Sài Gòn

Chuyến ‘di tản thứ ba’ của lịch sử Việt Nam: Bỏ chạy khỏi Sài Gòn

August 3, 2021

Kalynh Ngô/Người Việt

QUẢNG TRỊ, Việt Nam (NV) – Là một trong hàng trăm ngàn người dân tứ xứ vừa thực hiện chuyến bỏ chạy khỏi Sài Gòn, vùng “đất lành chim đậu,” để về tận miền Trung nắng gió bằng xe gắn máy để tránh dịch COVID-19, cô Phan Thị Cẩm Nhung cho biết trước khi đi, cô đã đi xét nghiệm COVID-19, vì đó là tờ giấy thông hành của cô ở mỗi trạm kiểm soát.

Đoàn người “tháo chạy” khỏi Sài Gòn bằng xe gắn máy trong đêm. (Hình: Facebook Quỹ Từ Thiện Bông Sen)

Khuya Chủ Nhật, 1 Tháng Tám, từ khu cách ly ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, cô gái 32 tuổi kể lại với phóng viên nhật báo Người Việt về cuộc hành trình xa thẳm này: “Sáu giờ tối ngày 25 Tháng Bảy, em chạy xe gắn máy từ Gò Vấp về Quảng Trị. Lúc đó trời đang mưa. Qua những chốt, trạm kiểm soát đều có công an đứng chặn hỏi thì em đưa tờ giấy xét nghiệm [COVID-19] ra và họ cho đi. Suốt đường không có gì bán. Trước khi đi em chuẩn bị nước uống, bánh kẹo chứ trên đường không có bán đồ ăn thức uống gì cả. Mình cũng không dám tấp vào đâu hết. Họ sợ mà mình cũng sợ.”

“Di tản” bằng xe gắn máy

Không muốn ảnh hưởng đến giấc ngủ của những người đang cùng phòng cách ly, cô Nhung bước ra ngoài để nói chuyện. Đến Chủ Nhật là ngày cách ly thứ tư của cô ở Cam Lộ, sau hơn hai ngày hai đêm chạy xe gắn máy. Cái thời dịch giã, cái thời của Chỉ Thị 15, 16, 16+, không có hàng quán, nhà nghỉ nào hoạt động, chỉ trừ các cây xăng dọc đường.

“Em và một chị bạn chạy suốt đêm, lúc nào mệt thì tấp lại ven đường, nằm ngủ chút rồi chạy tiếp. Người ta đâu có cho mình nghỉ lại nhà nghỉ. Từ Sài Gòn về đến đây em mang theo 1.7 triệu đồng ($74). Tiền xăng, mua đồ ăn đi đường và đóng tiền cách ly cho 14 ngày (80,000 đồng [$3.5]/ngày), giờ em còn 100,000 đồng ($4.3),” cô nói qua điện thoại.

Vì sao cô phải quyết định “di tản” giữa lúc mọi chuyện ngổn ngang như thế? Chắc gì quê nhà (Quảng Trị) yên ổn hơn hoặc tốt hơn? Thân gái “dặm trường” biết bao là nguy hiểm? Cô trả lời nhanh: “Em vào Sài Gòn phụ người chị bán hàng. Từ khi dịch xảy ra, tiệm đóng cửa, không có việc, nhà trọ thì không giảm tiền thuê nhà nên em chọn cách về lại quê.”

Một gia đình “di tản” khỏi Sài Gòn bằng xe gắn máy nghỉ lại ven đường trong đêm. (Hình: Phan Thị Cẩm Nhung cung cấp)

Cùng một tuyến đường, nghĩa là từ Sài Gòn về Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị… cô Nhung gặp rất nhiều bạn “đồng hành.” Họ đều là những người “di tản” bằng xe gắn máy. Trước đây, họ là những người phải rời quê hương để tìm đường mưu sinh cho cuộc đời mình và cho gia đình đỡ vất vả hơn. Rồi giờ đây, cũng chính họ đang phải “tháo chạy” khỏi vùng đất ấy. Nơi đó không còn là “vùng trời bình yên” của những người dân lao động tứ xứ như cô nữa.

Vì không có hàng quán nào mở cửa trên suốt đoạn đường, nên bữa ăn của cô Nhung, và những người “di tản” khác chủ yếu là thức ăn đã chuẩn bị sẵn để mang theo. “Ngoài ra thì tụi em nhận được những phần cơm, nước uống từ bà con giúp đỡ dọc đường,” cô nói.

“Tháo chạy” bằng mọi cách

Từ Sài Gòn chạy về Quảng Trị hai ngày hai đêm, đó là bằng xe gắn máy. “Phi thường” hơn, là hai vợ chồng “chạy nạn” bằng cách đi xe đạp từ Lâm Đồng về Thanh Hóa trong ba tuần lễ. Người dân Phú Yên ghi lại được cảnh vợ chồng ông đang nhận nước uống từ nhóm thiện nguyện tại quốc lộ 1A, xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Hình ảnh trong video cho thấy ông luôn miệng cảm ơn khi nhận chai nước suối và hộp cơm từ người dân ven đường. Phía sau yên xe của người vợ là chiếc chiếu cói. Có lẽ đó là “giường ngủ” của hai vợ chồng ở dọc đường. Chiếc xe đạp cao quá khổ so với người phụ nữ. Bà phải “nhấp” vài nhịp mới leo lên được yên xe. Cuộc hành trình “di tản” của hai vợ chồng tiếp tục quay đều theo vòng xe nhọc nhằn.

Bữa cơm của cô Phan Thị Cẩm Nhung được người dân tiếp tế dọc đường. (Hình: Phan Thị Cẩm Nhung cung cấp)

Mạng xã hội những ngày qua tràn ngập hình ảnh đoàn người “dắt díu nhau chạy trốn.” Họ là những người cha, người mẹ vào đất Sài Gòn mưu sinh để nuôi gia đình. Họ là những người trưởng thành, chọn Sài Gòn là nơi kiếm sống.

Họ là những những đứa trẻ được sinh ra ngay chốn Sài Gòn hoa lệ, nhưng, như câu nói của cô Nhung: “Hoa cho người giàu, lệ cho người nghèo.”

Họ là đứa bé chỉ mới vừa được sinh ra chín ngày tuổi, ánh mắt chưa kịp quen với ánh sáng cuộc đời. Họ là những người nằm mệt lả ngay giữa đèo Hải Vân, tạm nghỉ trên đoạn đường về nhà xa thẳm.

Họ, nói chung, là những người dân nghèo từ các vùng miền xa xôi tìm việc ở Sài Gòn. Đó là anh thợ hồ, chị lao công, cô gái phụ bán quán, anh thanh niên chạy “shipper”… Đó là những người làm nên một phần bản sắc của Sài Gòn.

Một trạm tiếp tế người đi xe gắn máy về quê của Quỹ Từ Thiện Bông Sen-VietBay Group. (Hình: Quỹ Từ Thiện Bông Sen)

“Người đi càng đêm càng đông dần” (lời trong ca khúc Kinh Khổ của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng). Dòng người “tháo chạy” khỏi Sài Gòn càng ngày càng nhiều hơn. Cho đến khi họ không thể “chạy” được nữa vì chỉ thị đưa ra nghiêm ngặt hơn: Người dân không được tự ý rời khỏi địa phương, nơi cư trú.

Lúc này, các doanh nghiệp tư nhân như xe khách Phương Trang, hoặc các hội đồng hương bắt đầu vào cuộc để giúp người dân về quê. Các chốt, trạm tiếp tế của người dân và nhóm thiện nguyện lập ra trên quốc lộ 1A cũng ngày càng nhiều.

Những đoàn người từ Sài Gòn đi xe gắn máy về Quảng Trị đêm 31 Tháng Bảy được cả cảnh sát giao thông đón, dẫn đường, với thông điệp “để bảo đảm an toàn.” Tại mỗi chốt kiểm soát, dòng người được tiếp tế thức ăn, nước uống và xăng.

Dù rằng, hình ảnh thật “hùng tráng” với xe cảnh sát hú còi, quay đèn chạy trước, theo sau là đoàn xe gắn máy trật tự, ngay hàng thẳng lối, tạo ra một bức tranh ánh sáng thật đẹp. Bất cứ nhiếp ảnh gia nào cũng có thể tạo ra một tác phẩm nghệ thuật với những dòng ánh sáng như thế.

Nhưng, những ánh sáng của đèn xe và nơi chốt kiểm soát vẫn không “làm mờ” được ánh mắt hoang mang, mệt mỏi của người đàn ông trong đêm tối, bế đứa bé nhỏ, có lẽ chỉ mới vài tháng tuổi đang ngủ ngon trên tay.

Giữa lúc chính phủ Việt Nam loan tin đón nhận thêm những lô vaccine viện trợ từ nước ngoài, hàng ngàn người dân nghèo vẫn tiếp tục “tháo chạy.” Trong dòng người quy cố hương ấy, có những đứa bé, sau này, sẽ là nhân chứng kể lại cho thế hệ sau biết về một lần quy cố hương. 

Chợt nhận ra bài hát “Đường Về Nhà” của ca nhạc sĩ Ái Phương chưa bao giờ buồn đến thế: “Trở về nhà bên mẹ cha có con sông chảy bên hiên nhà/ Có cánh diều đàn em bé thơ thả bay la đà/ Những buổi chiều xanh khói bếp, có khoai ngon mẹ ấp lửa vàng/ Có em cười ngây ngô sáng vang lên cả khúc sông…”  [qd]

—–
Liên lạc tác giả: ngo.kalynh@nguoi-viet.com