Bởi AdminTD
Jackhammer Nguyễn
11-9-2021
Công cuộc chống dịch Covid-19 của Đảng Cộng sản Việt Nam đang thất bại thảm hại. Minh chứng cho sự thất bại đó là trung bình có hơn 300 người chết mỗi ngày ở Sài Gòn, trong khi các hoạt động kinh tế và xã hội tại thành phố này đã và đang bị phong tỏa hơn hai tháng qua, mà vẫn chưa thấy lối ra.
Với hơn 300 người bị virus giết chết mỗi ngày, dù đã hơn hai tháng phong tỏa, các hoạt động kinh tế, xã hội… bị đóng băng, càng thảm bại hơn khi Việt Nam có những thế mạnh mà không tận dụng được: Hơn một năm rưỡi yên tĩnh để chuẩn bị trong khi các nước trên thế giới và trong khu vực vất vả đối phó với đại dịch; cũng như thái độ tuân thủ chính quyền của dân chúng, và nhất là người dân ở Việt Nam không có tâm lý chống vaccine…
Các viên chức tuyên truyền của Đảng có thể dùng chiến thuật ngụy biện cũ rích là Whataboutism (Thế cái này thì sao), để biện minh rằng thì là Thái Lan thế này, Indonesia thế nọ, Mỹ cũng còn thế kia, Ý còn như thế đó… thiết nghĩ, lần này người dân Việt Nam không còn bị thuyết phục bởi sự ngụy biện đó, bởi cái chết đang đến đầu ngõ, cũng như cái đói đang chực chờ họ.
Sự thất bại này cho người dân Việt những bài học nào?
1/ Xã hội dân sự Việt Nam bị tê liệt
Điều rất quái gỡ là, hơn một tháng sau khi dịch bệnh hoành hành ở Sài Gòn, biến thành phố thật sự trở thành một thành phố chết, người ta mới bắt đầu nói đến việc đưa các bệnh viện tư nhân vào chống dịch.
Đây chỉ là một trong nhiều sự việc cho thấy rằng sức lực và trí tuệ của những thành phần khác nhau trong xã hội không được huy động khi đất nước rơi vào khủng hoảng.
Những thành phần khác nhau ấy thường được gọi là xã hội dân sự. Có thể nói không quá đáng rằng xã hội dân sự chính là một xã hội bình thường, trong đó người dân sống tự do, họ rất linh họat để đối phó và phản ứng với những biến động của xã hội. Nhưng xã hội dân sự không bao giờ được những người cộng sản ưa thích, vì sự tự do của nó thách thức sự toàn trị của Đảng.
Đảng Cộng sản thường tuyên truyền rằng, họ cũng có những cái gọi là các tổ chức quần chúng, như đoàn thanh niên, hội phụ nữ… nhưng những tổ chức này đều là những công cụ chính trị, trở thành những ung nhọt hành chính, không hề thấy bóng dáng của họ ở đâu trong những ngày đại dịch đang hoành hoành người dân trên đất nước này.
Giả sử không có các tổ chức tôn giáo nấu ăn cho dân nghèo trong những ngày giới nghiêm này, những đội thiện nguyện đi hỏa táng hàng trăm người chết mỗi ngày… chắc hẳn Sài Gòn đã trở thành địa ngục.
2/ Nghịch lý của chính quyền toàn trị tập trung
Sự hỗn loạn trong cách điều hành chống dịch của hệ thống chính trị Việt Nam từ trung ương tới địa phương, gợi chúng ta nhớ tới sự sụp đổ của Đông Âu và Liên Xô cũ chỉ trong vài ngày.
Hệ thống chính trị ở Việt Nam và Trung Quốc hiện nay, cũng như Đông Âu và Liên Xô ngày xưa là hệ thống toàn trị, với những tầng nấc chặt chẽ từ trung ương đến tổ dân phố. Nhưng hệ thống này cho thấy, nó chỉ hoạt động được theo lối mòn. Những lối mòn đó là: Công nghiệp hóa với các xí nghiệp nhà nước của Liên Xô cũ, tổ chức mô hình phân phối xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh thế giới thứ hai ở Đông Âu, xã hội chiến tranh ở miền Bắc Việt Nam trước 1975, mô hình tư bản nhà nước của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay.
Một lối mòn rất điển hình nữa của chế độ toàn trị là lạm dụng bạo lực (cái gọi là bạo lực cách mạng) với sự ưu tiên cho các bộ máy công an và bộ đội.
Đại dịch Covid-19, với biến chủng Delta là những điều nằm ngoài những con đường mòn của các chế độ toàn trị, nó cũng giống như vài yếu tố thị trường tự do xâm nhập vào Đông Âu trước kia, làm cho các cán bộ điều hành không biết điều gì đang xảy ra để đối phó.
Việc sử dụng những lọ vaccine hiếm hoi đầu tiên cho công an, bộ đội, thay vì cho những người già, những y tá tuyến đầu, những shipper, những người lao động sống trong những con hẽm chật chội,… đã lợi (cho chế độ) nhưng bất cập hại (cho dân chúng), khi những tầng lớp dân chúng dễ tổn thương đó lần lượt gục ngã, tạo sức ép kinh hoàng lên hệ thống y tế vốn đã quá tải, làm tê liệt hệ thống kinh tế cơ sở ở các đô thị phục vụ dân sinh.
3/ Cán bộ điều hành quốc gia bất tài
Với cơ cấu tuyển chọn cán bộ theo kiểu “quy hoạch”, các nhà nước toàn trị khó lòng đưa ra được những những nhà lãnh đạo có năng lực thật sự, để có khả năng đối phó với đại dịch. Bộ máy tuyên truyền cộng sản thường hay ba hoa rằng, họ trân trọng cái gọi là “có tâm có tầm” (sic) nhưng về thực chất kiểu quy hoạch cán bộ ở các chế độ toàn trị cho ra những thế hệ sau bất tài hơn thế hệ trước, vì người đứng ra “quy hoạch” không thể chấp nhận kẻ nối nghiệp thông minh và tài giỏi hơn mình. Điều đó dẫn tới một sự suy thoái di truyền trong giới lãnh đạo.
Bộ máy cán bộ điều hành tại Việt Nam hiện nay đã và đang lúng túng như gà mắc tóc, cán bộ trung ương thì ba hoa, nói những lời vô nghĩa như bị mê sảng, các cán bộ tại các tỉnh thì ra sức dựng nên các “pháo đài” tại các biên giới tỉnh, đúng theo “chỉ đạo”.
Kết
Kịch bản tồi tệ nhất, theo những gì chúng ta biết về Covid hiện nay là dịch bệnh lây ra cho toàn bộ dân chúng Việt Nam, và sẽ có khoảng hơn 2 triệu người thiệt mạng (theo tỷ lệ 2,5%). Các lực lượng công an, bộ đội, 200 ủy viên trung ương vẫn toàn vẹn vì đã được chính ngừa.
Nhưng có còn Việt Nam nữa không?
Cuộc khủng hoảng ở Việt Nam hiện nay có nguồn cơn từ chính cấu trúc chính trị toàn trị của quốc gia. Khi nói như vậy không có nghĩa là ở các xã hội dân chủ, mọi thứ đều có thể diễn ra êm đẹp, vì cuộc khủng hoảng Covid là cuộc khủng hoảng trăm năm có một, không ai biết trước. Nhưng Việt Nam lại là kẻ quan sát suốt hơn một năm rưỡi, khi đại dịch diễn ra trên toàn cầu. Các cán bộ Việt Nam chỉ lo ba hoa những bài ca chính trị, không chuẩn bị gì cả. Các cán bộ lãnh đạo Việt Nam lẽ ra phải biết trước điều gì đang xảy ra ở Sài Gòn và Hà Nội, vì nó đã xảy ra ở New York, New Delhi…
Một điều quan trọng nữa là dân chúng tại các quốc gia dân chủ có thể bãi nhiệm các cán bộ bất tài, chẳng hạn như cha con Donald Trump ở Hoa Kỳ, trong khi người dân ở Việt Nam thì không thể đuổi cổ các lãnh đạo quá tệ hại.
Bởi AdminTD
Blog VOA
Trân Văn
11-9-2021
UBND thành phố Vũng Tàu (thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) vừa rút lại yêu cầu: Người cần cấp cứu và những người vận chuyển họ phải có giấy cho phép đi lại. Yêu cầu vừa kể được nêu trong quy định mới về hạn chế đi lại, được công bố chiều 9 tháng 9 và sau khi bị chỉ trích kịch liệt, đến cuối ngày, trong hướng dẫn thực thi không đề cập đến nữa (1).
Nhiều người biết chuyện xem yêu cầu vừa kể là ngu dốt, song nhận định đó dường như chưa thật sự chính xác.
Dẫu có dấu hiệu ngu dốt nhưng giống như vô số qui định, yêu cầu mà hệ thống chính trị, hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương tại Việt Nam ban hành trong gần bốn tháng vừa qua, nguyên nhân chính dẫn tới bất toàn, bất cập trong ban hành, thực thi các biện pháp ngăn ngừa dịch bệnh lây lan, khiến hậu quả của đại dịch COVID-19 thêm nặng nề, trầm trọng chính là sự tự tin thái quá vào quyền lực nên hành xử tùy tiện, bất kể hậu quả, bất chấp các yêu cầu, qui định đó ảnh hưởng thế nào đến phẩm giá của công dân.
Nếu chỉ vì không đủ tri thức, hiểu biết, thì sau những tình huống “dở khóc, dở cười”, sau hậu quả thê thảm đối với cả kinh tế lẫn dân sinh vì những biện pháp ngăn ngừa lây nhiễm hết sức cực đoan, thiếu viễn kiến ở TP.HCM, Hà Nội đã không vài lần náo loạn bởi các yêu cầu quái gở liên quan tới… giấy đi đường.
Cứ xem thật kỹ những qui định liên quan tới… giấy đi đường ở khắp nơi, chắc chắn sẽ nhận ra sự khinh miệt của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền với thường dân: Xem thường cả cá nhân công dân lẫn những pháp nhân đã ra đời và đang hoạt động hợp pháp, nên tất cả giấy đi đường phải được cơ quan hành chính và công an xem xét, phê duyệt!
Tương tự, bất kể chính quyền TP.HCM đã bị thực tế đẩy vào thế bị buộc phải chấp nhận cho F0 (những người bị nhiễm COVID-19) cách ly và điều trị tại nhà, thậm chí từ trung tuần tháng 7, hết Bộ Y tế tới Thủ tướng bắt đầu nói đi, nói lại về việc phải chuẩn bị hỗ trợ cho các F0 cách ly, điều trị tại nhà nhưng sau đó cả tháng…
Người ta vẫn thấy nhiều nơi như Nghệ An – các viên chức hữu trách ở địa phương cạy cửa thông gió, đột nhập vào tư gia một phụ nữ, phá cửa phòng riêng, dùng bạt cuốn bà lại mang vào khu cách ly chỉ vì bà là F1 (có tiếp xúc với F0) (2)… Hoặc như Cà Mau, Chủ tịch một phường ở thành phố Cà Mau ra lệnh cho thuộc cấp xông vào nhà cưỡng bức một người đàn ông 49 tuổi, đem ông nhốt vào khu cách ly tập trung chỉ vì ông… không hợp tác lấy mẫu test sàng lọc trong cộng đồng (3)…
Tại sao? Hãy nhìn Thủ tướng kiêm Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch COVID của Việt Nam. Ông Chính vừa là người chỉ đạo điều trị F0 ngay tại xã, phường vừa yêu cầu… nhanh chóng phát hiện F0, bóc tách nguồn lây khỏi cộng đồng (4). Ông Chính cũng là người hô hào “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” thực thi nghiêm ngặt truy vết, cách ly, cô lập người nhiễm COVID-19, khu vực có người nhiễm COVID-19 (5), rồi tuyên bố… phải sống chung lâu dài với dịch bệnh, không thể khống chế tuyệt đối (6)…
Chỉ ở Việt Nam, lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền mới dám thản nhiên phô bày sự bất nhất, tùy tiện đến vô lối như thế bởi dẫu có thế nào họ cũng không phải chịu trách nhiệm. Đại dịch là dịp để thiên hạ có thể thấy rõ hơn, trong mắt của các viên chức hữu trách, dân không phải là đối tượng họ phải phục vụ, dân là đối tượng bị trị.
Nếu… đẩy lùi dịch bệnh vì dân, chắc chắn hệ thống chính trị, hệ thống công quyền cấp trên sẽ không thể để thuộc cấp muốn làm gì thì làm. Tuy mỗi nơi một kiểu nhưng rất nhất quán về bản chất: Bất chấp cả sinh mạng lẫn nhân phẩm công dân, bất kể dân sinh sẽ như thế nào. Sau khi được thực thi, thân phận con người chẳng khác gì rơm, rác.
Đó là lý do hồi hạ tuần tháng 8, thị trấn Văn Điển thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội vừa dỡ bức vách bằng tôn cao 2 mét, dài 200 mét, chia đôi ngõ 54 phố Ngọc Hồi để cô lập dân cư phía bên kia ngõ này vì… thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (7) thì sang thượng tuần tháng 9, tới lượt phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, khóa cổng, không cho dân ngõ 56 phố Đặng Xuân Bảng ra đường cho dù chẳng có ai trong ngõ bị nhiễm COVID-19 hay tiếp xúc với F0 (8).
CỨU RỖI CÁC LINH HỒN
“Ai vả con má bên này, thì đưa cả má bên kia; ai lột áo ngoài của con, thì con cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì con hãy cho, và ai lấy gì của con, thì đừng đòi lại!”.
Cuối thế kỷ 18, Adoniram Judson đi truyền giáo ở Miến Điện; suốt 40 năm, Judson vùi mình ở đó, dịch Thánh Kinh ra tiếng Miến. Trong nhật ký của Judson, người ta đọc được những lời này, “Suốt 18 năm, tôi không có một ngày nghỉ; 6 năm đầu, không một người trở lại. Bù vào đó là giam cầm, tra tấn! Chưa bao giờ nhìn thấy một con tàu nào ra khơi mà tôi không muốn nhảy lên để về nhà! Nhưng lạy Chúa, cuộc sống thật ngắn ngủi. Hàng triệu người Miến đang diệt vong. Con gần như là người duy nhất trên trái đất biết tiếng của họ, để rao truyền một Tin Mừng ‘cứu rỗi các linh hồn!’.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay xem ra cũng trăn trở ‘cái trăn trở’ của Judson. Các giá trị Tin Mừng Chúa Giêsu đề cập xem ra cũng đang dấy lên ‘một trăn trở’; đúng hơn, một cuộc ‘cách mạng’, hay ít nữa, một ‘cuộc nội chiến’ vốn sẽ diễn ra trên chiến trường trái tim mỗi người! Với Ngài, dường như có một điều gì đó trong cuộc sống còn quan trọng hơn nhiều, so với nỗi sỉ nhục bị ai đó đánh vào má hay đánh cắp tài sản của mình. Điều quan trọng hơn đó là gì? Phải chăng, là sự ‘cứu rỗi các linh hồn!’.
Giáo huấn của Chúa Giêsu hẳn đã gây sốc cho các môn đệ đầu tiên và cho cả chúng ta hôm nay. Chưa bao giờ, trong thực tế, lý tưởng tình yêu lại được đặt cao, đòi hỏi một nhân đức anh hùng như vậy! Bởi lẽ, nó khơi dậy một cuộc chiến giữa ‘con người cũ’ và ‘con người mới’ bên trong mỗi người, một ‘con người cũ’ luôn chống lại và không dễ chấp nhận những gì nghịch với lẽ thường. Thế nhưng, ai chấp nhận giáo huấn của Chúa Giêsu, trái tim người ấy sẽ vươn tới một trương độ mới; vói thấu một tầm cao mới, một tầm cao mang dáng dấp ‘Giêsu’. Vậy, câu hỏi đặt ra là, làm sao tôi có thể hoàn toàn chấp nhận những lời dạy mang tính cứu rỗi này, ‘cứu rỗi các linh hồn?’.
Nếu Kitô hữu cứ nằng nặc đòi công lý trần thế và sự trừng phạt của nó, chúng ta sẽ không tập trung vào điều quan trọng nhất, đó là cứu rỗi những người đã làm điều sai trái với mình. Thật dễ dàng để yêu những người tốt với mình; thế nhưng, tình yêu Chúa Kitô lại đòi hỏi chúng ta mở rộng đến mọi người; và đôi khi, yêu thương mà chúng ta trao tặng chính là chấp nhận vô điều kiện những bất công mà người khác gây ra cho mình. Quả là mạnh mẽ trong hành động yêu thương này! Và nếu ước muốn sâu xa nhất của chúng ta là ‘cứu rỗi các linh hồn’, cứu đời đời, chúng ta chỉ có thể yêu theo cách này, cách ‘Giêsu yêu!’. Còn nếu tất cả những gì chúng ta muốn là công lý người đời và sự thoả đáng cho những sai trái, thật dễ, chúng ta sẽ đạt được nó; nhưng điều này có thể trả giá đắt, chính sự cứu rỗi của họ. Chúng ta có thể chiến thắng, nhưng họ thì mất linh hồn!
Trong thư Côlôssê hôm nay, thánh Phaolô kêu gọi, “Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau”, nghĩa là Kitô hữu phải nên giống Ngài; “Trong lời nói cũng như trong hành động, tất cả mọi chuyện, anh em hãy làm vì danh Chúa Giêsu Kitô, nhờ Ngài mà tạ ơn Thiên Chúa Cha”. Những lời Phaolô nói đây, thật phù hợp với tâm tình ngợi khen của Thánh Vịnh đáp ca, “Hỡi toàn thể chúng sinh, ca tụng Chúa đi nào!”.
Anh Chị em,
Nhìn lên thánh giá Chúa Giêsu, chúng ta có tất cả. Thánh giá và cái chết của Con Thiên Chúa mang lại ơn cứu độ đời đời, không chỉ ‘cứu rỗi các linh hồn’ những ai tin nhận Ngài, nhưng còn cứu rỗi cả những người đã đóng đinh Ngài; và ơn cứu độ ấy còn được ban tặng cho toàn thể nhân loại, trong đó có chúng ta. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa thật thâm trầm! Cũng thế, về phía chúng ta. Thiên Chúa biết rằng, một hành động thương xót và tha thứ sâu sắc chúng ta dành cho người khác, đặc biệt với những ai đã gây ra những tổn thương nghiêm trọng cho chúng ta, là một trong những món quà lớn nhất chúng ta có thể tặng trao. Và đó là một trong những hành động mang tính biến đổi lớn nhất mà chúng ta có thể làm trước hết cho chính linh hồn mình; tiếp đến, khi tha thứ cho người khác, hoàn toàn buông bỏ sự bất công, thì hành động yêu thương của chúng ta có một sức mạnh vĩ đại để thay đổi họ. Và nếu hành động yêu thương đó quả đã thay đổi được họ, thì đây sẽ là nguyên nhân đem lại cho chúng ta một niềm vui vĩnh viễn, niềm vui thiên đàng.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, nhờ ân sủng Chúa, xin biến đổi con; nhờ đó, con cũng trở nên công cụ ‘cứu rỗi các linh hồn’, cách riêng cứu rỗi những ai đã xúc phạm con, Giáo Hội của con”, Amen.
From: KimBang Nguyen
TRÊN ÐƯỜNG VỀ
Lm. Nguyễn Tầm Thường

Trên đường về với Chúa, tôi đã bao lần cất cánh bay lên, nhưng có mưa phùn làm đôi cánh lạnh giá.
Ðã bao lần tôi muốn đi tới, nhưng lối về có gai góc cản ngăn.
Ðã bao lần muốn giang tay ra, cho đi nhiều hơn, nhưng có nuối tiếc bảo đừng.
Vì thế, trong mơ ước có gian nan. Và, trên đường về với Chúa vẫn là khúc đường xa xăm.
***
Trong cuộc sống, những giấc mơ chưa trọn vẹn là những giấc mơ buồn. Vì không trọn vẹn nên mới buồn. Nhưng đặc tính của những giấc mơ buồn lại thường là những giấc mơ lớn. Vì lớn nên mới khó trọn vẹn. Bởi đó, cái buồn của giấc mơ không trọn vẹn dường như vẫn là cái buồn giá trị, giá trị vì nó mang một hoài bão rất cao.
Cái không trọn vẹn đó thúc bách, mời gọi đi tới. Con đường tình yêu không bao giờ có giới hạn thì giấc mơ tình yêu không bao giờ cùng. Do đấy, sự chưa được trọn vẹn trong ước mơ đi về với Chúa là sự chưa trọn vẹn dễ hiểu trong thân phận làm người của tôi nơi trần thế này. Ðường tình yêu càng dài thì giấc mơ tình yêu càng sâu. Tình yêu càng sâu thì trên đường ấy, tôi cần miệt mài đi mãi.
Trên đường về với Chúa, tôi chỉ hỏi lòng tôi là tôi đã đi xa tới đâu, đã bay cao thế nào. Chứ không thể có câu hỏi tôi đã yêu Chúa trọn vẹn chưa. Từ ngàn xưa, Ngài đã biết hồn tôi là dang dở, những lời thề của tôi là những lời đoan hứa dập gẫy. Bởi đấy, tôi không thể yêu Ngài trọn vẹn nhưng Ngài đòi tôi đi về trọn vẹn.
Trọn vẹn là một mơ ước. Dang dở vì chưa trọn vẹn có chiều sâu của nó là nó làm cho mơ ước tiếp tục còn là ước mơ. Tôi có thể cầu Chúa cho tôi đạt được mọi mơ ước không? Khi đạt được mọi mơ ước rồi thì tôi không còn mơ ước nữa. Không còn mơ ước thì còn gì để mà đi tới, còn gì để mà bay lên. Trong ý nghĩ ấy, đường về với Chúa nếu còn dang dở chỉ là lời gọi tôi đi tới. Mỗi lần sa ngã chỉ là bảo tôi nhìn lên cao. Tôi không thất vọng vì chưa đạt được mơ ước.
Mơ ước đã được rồi là hạnh phúc đã được đóng khung trong một bến bờ. Tôi muốn thứ hạnh phúc vô cùng. Tôi muốn hoài hoài mơ ước. Tôi muốn vào một không gian hạnh phúc mà càng bay cao thì càng bắt gặp trời thênh thang tự do. Càng bắt gặp thì càng si mê, càng si mê thì càng nuôi mộng đi tới nữa. Tôi tin rằng hạnh phúc ấy có thật. Ðó là chính Chúa. Bởi tôi biết, tôi không bao giờ uống cạn được ân sủng của trời cao. Vì thế, tôi không xin cho tôi đạt được điều tôi mơ ước mà chỉ xin cho tôi được mãi mãi, hoài hoài đi về Ngài, sống trung thành với mơ ước đó thôi.
Và vì thế, linh hồn tôi có vì bất toàn mà lầm lỗi, thì đấy chẳng thể là lý do làm tôi thất vọng, xuôi lòng. Trên đường về nhà Cha, nếu vì yếu đuối mà dừng nghỉ. Thì, đường về nhà Cha có xa xăm thật. Xa xăm ấy vẫn là xa xăm có Chúa. Nếu vì sa ngã mà làm cho giấc mơ gian nan. Thì, đường về nhà Cha có gian nan thật, gian nan ấy vẫn là gian nan ấm lòng.
***
Lạy Cha,
Cha cầu xin cho con không thuộc về thế gian, nhưng Cha đã chẳng đem con ra khỏi thế gian. Ngày nào con còn trong thế gian thì con còn nghe thấy tiếng dỗ dành của những rung cảm đam mê. Từ trong bào thai của mẹ, con đã là lỗi phạm. Con có thể vấp ngã vì bóng đêm, nhưng con có thể không thuộc về đêm tối. Con không thất vọng vì những đám mưa phùn làm con ướt cánh. Con không ủ dột vì bờ đá chênh vênh giữ chân con đi tới. Vì con biết, khi Cha dìu con, thì tình trời sẽ sưởi ấm chiều mưa lạnh ảm đạm, và ân sủng sẽ gieo trên gai nhọn. Khi Cha dìu con thì ước mơ sẽ nên tha thiết, và dù có vất vả cánh ong vẫn bay về được với mật ngọt của hoa. Khi Cha dìu con thì con có thể trung thành. Khi Cha dìu con thì thánh giá sẽ là sức sống.
Lạy Cha,
Ðấy là mơ ước và cũng là lời cầu nguyện của con trên đường về.
Có giấc mơ nào đẹp mà không phải trả giá bằng thương đau? Có giấc mơ nào lớn mà không phải trả giá bằng thử thách? Có thập giá nào lên đồi Golgotha mà không quỵ ngã? Có chiều nào trong vườn Giệtsimani mà không lo âu rướm máu. Những áng mây trời chỉ bay trên đỉnh đồi. Gió lộng chỉ ở ngoài biển khơi. Tôi phải đi lên. Tôi phải miệt mài bước tới. Và Ngài đã nói với tôi: “Cha ở cùng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt. 28: 20).
Tiếng gọi của trời cao là bảo tôi trung thành với ước mơ. Cho dù lầm lỗi có làm tôi đau khổ vì mất giá trị nhưng chẳng vì thế mà Người chê trái tim tôi nghèo nàn xấu xí. Ðôi cánh con chim sẻ sẽ chẳng bay cao được như con phượng hoàng. Nhưng một ly nước nhỏ mà đầy thì ý nghĩa hơn một ly nước lớn mà vơi.
Dù có yếu đuối cản đường. Dù có lầm lẫn che lối. Dù ngày tôi chết, tôi vẫn chưa leo được tới nửa đồi của thập giá, nhưng nếu tim tôi vẫn hồng lửa ước mơ, hồn tôi vẫn vất vả đi tìm cõi vô biên thì đấy là đường mở lối vào vườn hạnh phúc rồi.
Cha trên trời sẽ chạnh lòng khi thấy một con chiên què mà cứ xiêu vẹo trèo lên. Cha trên trời sẽ chạnh lòng khi thấy một đôi cánh đang lầm than vì gió lạnh, mưa ướt, mang thương tích vì gai rậm mà cứ nhất quyết tìm đường về. Và vì đó, dù trong yếu đuối của tôi, tôi vẫn thấy biển rộng, trong dòng xót thương của Cha, tôi tới đồi cao.
Lm. Nguyễn Tầm Thường
– Trích trong “Con Biết Con Cần Chúa”
From: Langthangchieutim
MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI LỚN TUỔI
(Bài viết vô cùng giá trị của TS Thái Công Tụng)
Thưa các anh chị,
Xin chuyển lại các anh chị bài viết vô cùng giá trị của 1 người bạn mà tôi hết sức quý mến và kính trọng, anh Tiến sĩ giáo sư Thái Công Tụng.
Anh TS Tụng lâu nay vẫn gửi tới chúng ta những bài giá trị về Sinh Thái (Ecology) về Thảo mộc, về sông ngòi, về phong tục, về những bông hoa, về những cây ăn quả etc…
Chúng ta cũng có 1 người bạn khác, anh TS Mai Thanh Truyết, cũng hay viết về Sinh Thái và về Chính Trị.
Tôi có may mắn gặp TS Mai Thanh Truyết gần đây tại Houston, nơi mà anh Truyết chọn làm nơi sống khi về hưu.
Anh TS Truyết tới thăm tôi và tặng tôi tác phấm mới nhất, gần 600 trang, viết về những khắc khoản của anh khi tìm một “Lối Thoát Cho Việt Nam”.
Những ai yêu Vietnam cần phải có tác phẩm giá trị này.
Bài viết “Môi Trường Và Sức Khỏe Người Già” như tựa đề của nó, chú trọng nhiều về sức khỏe của những người lớn tuổi , sống tại vùng Quebec, Montreal, Canada.
Tôi nghĩ hơn 90% những lời bàn soạn của anh TS Thái Công Tụng có thể áp dụng cho tất cả các người lớn tuổi bên Mỹ và tại Âu Châu.
Tôi không dám bàn về Việt Nam vì đã lâu lắm, tôi không về Việt Nam.
Tôi thấy bài viết này là bài viết giá trị nhất xưa nay của anh TS Tụng.
Bài viết gói ghém trong mấy trang tất cả cái khôn ngoan, cái tinh hoa, cái kiến thức uyên thâm của cuộc đời tác giả.
This article epitomizes all the wisdom of its author.
It will be a reference document for many people (myself included) for many years to come.
TS Thái Công Tụng cho chúng ta 1 cái nhìn ít quen biết, ít phổ thông về người già.
Xã hội Canada, cũng như xã hội Hoa Kỳ và Pháp, tỷ lệ các người già càng ngày càng tăng.
Tại Canada, năm nay có 6,840,000 người trên 65 tuổi.
Tộng cộng dân chúng Canada: 38 triệu
Tỷ lệ người lớn tuổi trên 65 tại Canada: 17%.
Tại Hoa Kỳ năm 2021, các người trên 65 tuổi – tuổi về hưu , không làm việc, không sản xuất – là 18% dân chúng,
Tại Pháp, tỷ lệ này là 16%
Tại Hoa Kỳ, năm 1950 thì tỷ lệ này chỉ là 8%. mà thôi
Nói 1 cách khác, tại Hoa Kỳ 4.55 người đi làm để nuôi họ và gia đình họ, cộng thêm nuôi 1 người già trên 65 tuổi.
Bên Canada thì 4.90 người đi làm để nuôi gia đình, và nuôi thêm 1 người già trên 65 tuổi nữa.
Càng đẻ ít con, thì tỷ lệ người già càng tăng và tỷ lệ người trẻ càng giảm.
Bên Canada cũng như Mỹ và Pháp, các bà đông gấp đôi các ông khi tới 85 tuổi.
TS Thái Công Tụng nhấn mạnh với chúng ta quan hệ giữa tuổi già và Xã hội rất quan trọng.
Người già mà cứ sống lẻ loi 1 mình thì dễ chết,
Người già mà chịu khó ra các nơi đông người để chuyện trò, trao đổi những mẩu chuyện về gia đình, con cái, không những sống lâu hơn, mà còn sống khỏe hơn, ít bị Tiểu Đường, Cao Máu, Yếu Thận, Yếu tim, Gan và nhất là bệnh lãng trí Alzheimer Disease.
Vấn đề này hết sức quan trọng, các người lớn tuổi càng nhiều bạn thì càng sống lâu.
Nhạc phụ tôi sống thọ 104 tuổi.
Khi cụ sắp sinh nhật 100 tuổi, cụ điện thoại cho chúng tôi cho biết là cụ muốn có 1 bữa tiệc Sinh Nhật sang trọng, tại một nhà hàng lớn tại Hanoi, và mời bạn hữu lại tham dự.
Tôi hỏi cụ tai sao không làm Sinh Nhật tại Saigon, nơi cụ đang sống hồi đó, thì cụ trả lời tại Hanoi có nhiều họ hàng, có các cháu của thân phụ cụ là cụ Cử Dương Bá Trạc mà lâu nay nhạc phụ tôi không gặp.
Chúng tôi và các em vô cùng ủng hộ ý kiến Sinh Nhật này.
Vợ chồng tôi và các em tới Hanoi 1 ngày trước Sinh Nhật,
Các người khách tham dư đi theo cụ từ Saigon ra Hanoi vào khoảng 20 người đi cùng máy bay với cụ,
Phần lớn là các nhà văn, các họa sĩ, các nghệ sĩ nhiều ngành khác nhau, có nhiều người kém tôi cả chục tuổi, có người là bệnh nhân của tôi thời xa xưa.
Trong bữa tiệc Sinh Nhật, Nhạc Phụ tôi cầm Microphone nói cám ơn 160 vị khách tham dư, cụ nói lưu loát không cần giấy tờ trong 30 phút, rất có duyên làm tất cả khách thích thú.
Sau đó tôi đi theo cụ lại từng bàn để cám ơn từng người.
Nhìn cụ vui vẻ bắt tay nói chuyện với từng người làm cho vợ chồng tôi hết sức sung sướng, đã toại nguyện niềm vui cho Nhạc Phụ.
Bốn năm sau, cụ qua đời, thọ 104 tuổi,
Chúng tôi di chuyển cụ ra Nghĩa Địa giòng họ Dương tại Hưng Yên, để cụ nằm yên nghỉ bên cạnh ngồi mộ thân phụ là cụ Dương Bá Trạc và người chú ruột là học giả giáo sư Dương Quảng Hàm.
Nhìn lại cuộc đời cụ, tôi thấy cụ đã làm tất cả những gì mà anh TS Thái Công Tụng khuyên mỗi người chúng ta làm để có 1 tuổi già khỏe mạnh, yên vui, sung sướng.
Một điểm anh TS Tụng có nhắc tới là không oán hận, thù ghét ai trong tuổi già cả,
Vì oán hận, thù nghét chỉ làm khổ chính mình trước tiên.
Muốn sống sung sướng, theo TS Tụng, phải “xả” tất cả nhửng ý niệm tiêu cực đi, xí xóa hết.
Người nào xử thế xấu với mình thì mình lánh xa, nhưng không thù hận vì chỉ làm khổ mình mà thôi
Cher anh Tụng. Merci.
Tu as beaucoup de Sagesse, de Générosité et de Dignité,
Je t’embrasse bien fort
Nguyen Thuong Vu
MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI LỚN TUỔI
Thái Công Tụng
Thời tuổi trẻ thì giáo dục là trung tâm còn đến tuổi già thì trung tâm phải là sức khỏe. Hai vấn đề giáo dục và sức khỏe chính là bận tâm nhất của chính phủ Quebec hiện nay nên trong ngân sách hàng năm của Quebec, hai Bộ chiếm ngân sách nhà nước nhiều nhất chính là Bộ Giáo Dục và Bộ Y tế.
Xã hội Tây phương càng ngày càng lão hoá vì tuổi thọ càng ngày càng tăng do nhiều yếu tố như tiến bộ khoa học kỹ thuật nhưng người càng già thì chi phí y tế càng nhiều hơn vì người già thì dĩ nhiên hay đau ốm hơn. Đau ốm này không những thể chất mà còn tinh thần. Thế giới thay đổi quá nhanh, cấu trúc gia đình truyền thống cũng đổi thay song song với các biến chuyển về kinh tế xã hội. Gia đình xưa kia là ba bốn thế hệ ở chung một mái nhà, ngày nay tháp dân số đảo ngược với gia đình hạt nhân, ở riêng hết nên người già lại thêm nhiều vấn nạn: vấn nạn sức khỏe, vấn nạn tinh thần như lo âu, buồn rầu, rồi từ đó là trầm cảm. Do đó, trước đây người ta nói không bệnh tật là sức khỏe. Ngày nay, quan điểm về sức khỏe đã mở rộng hơn vì sức khỏe phải gồm 3 phần: sức khỏe cơ thể: khỏe mạnh; sức khỏe tâm thần: vui đời, lạc quan; sức khỏe xã hội: hòa hợp với xã hội, cộng đồng. Nói khác đi, sức khỏe phụ thuộc nhiều vào môi trường. Môi trường không chỉ là môi trường thiên nhiên mà còn bao gồm cả môi trường nhân văn
Môi trường thiên nhiên:Nó bao gồm những yếu tố thiên nhiên như trái đất, khí hậu, mưa, gió, mặt trời, cây cỏ, chim muông v.v..
-Khí hậu tác động lên trồng trọt hoa màu đã đành mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Vài ví dụ: xứ Canada mỗi năm có bao nhiêu tháng nắng. Mùa lạnh kéo dài với băng tuyết ngoài đường khiến người già không những dễ đau nhức khớp xương, dễ té, dễ bổ mà người già càng dễ bị buồn rầu. Tại Pháp, cách đây 2 năm, có trên 25 000 cụ ông, cụ bà chết vào mùa hè vì nóng… Đầu mùa đông, người lớn tuổi đều đi chích ngừa trị cảm cúm. Các danh từ thông dụng như cảm lạnh, cảm nóng vô hình chung cũng nói lên ảnh hưởng khí hậu đến sức khỏe con ngưòi. Các sự thay đổi khí hậu toàn cầu chỗ này gây lụt lội nhiều hơn, bão gió mạnh hơn, chỗ kia hạn hán gắt hơn, mùa màng bị thất bát, khiến nhiều nơi dân phải chọn di cư đi nơi khác tạo ra một thứ di dân mới được mệnh danh là di dân môi trường
-Không khí ô nhiễm với khói xe, khói nhà máy làm các bụi lơ lửng trên không cũng nhiều, gây dị ứng và khó thở. Mỗi năm, vào đầu xuân, chúng ta dễ bị dị ứng với các phấn hoa với sổ mũi, chảy nước mắt. Đọc báo gần đây hơn, có nhiều cuộc tụ họp dân Quebec phản đối sự thiết lập các trại nuôi heo vì sợ không khí các vùng xung quanh bị hôi hám ô nhiễm, sợ dòng nước cuối nguồn bị ô nhiễm. Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Âu châu cho thấy các người dân sống trong các khu vực ô nhiễm thường bị mắc bệnh về đường hô hấp, phổi và ngoài ra, còn bị mắc bệnh tim mạch cao hơn 40% so với nhóm dân sống ở nơi có không khí trong lành.
-Mặt trời cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Chẳng thế mà dân Canada hàng năm nhất là người già phải di chuyển xuống Florida ở 5-6 tháng để có bầu trời nắng ấm, tiêu pha hàng tỷ Mỹ kim, giúp cho nền kinh tế tiểu bang Florida. Nhiều người đi Cuba, Dominican Republic, Mexico như Cancun cũng chính là đi tìm nắng ấm mặt trời.
-Nước cũng tác động lên sức khỏe con người. Trong thành ngữ dân gian Việt Nam có những danh từ như vùng nước độc, lam sơn chướng khí, vô hình chung cũng cho thấy nhận định người dân với tác động của môi trường. Đọc báo ta thấy gần đây, chính phủ Canada đã phải di chuyển nhiều làng thổ dân trên miền Bắc Ontario vì dòng nước uống bị ô nhiễm. Người da đỏ ở Canada hàng ngàn năm nay thường nói ‘nước là dòng máu của Trái Đất’, đủ thấy tầm quan trọng của nước.
-Rừng cây cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Như vậy là vì rừng toả ra oxy trong lành và cũng hút bớt khí cacbonic độc hại, giúp cho hô hấp. Rừng là buồng phổi thứ hai con người. Rừng giúp bảo vệ đất mà nếu đất mất phì nhiêu do xói mòn thì không có thực phẩm, gây ra nạn đói kém.
Rừng không phải chỉ là tài nguyên hay môi trường vật lý mà rừng là tâm linh, là cõi vĩnh hằng, là cõi sâu thẳm của nội tâm, là ‘một cõi đi về’.
-Đất là một yếu tố quan trọng trong môi trường thiên nhiên vì đất là nơi nuôi dưỡng loài người, cây cỏ, muông thú. Nếu ta bảo vệ đất, chăm sóc thì đất sẽ giúp nhân loại khỏi đói, khỏi khát. Nếu ta làm hư đất như phá rừng thì đồi núi sẽ trọc, hoa màu sẽ thiệt hại, gây ra đói kém. Động đất, núi lửa cũng làm chết hàng chục, hàng trăm ngàn người.
Trên kia là những yếu tố quan trọng của môi trường thiên nhiên. Với cảnh phố phường chật hẹp, người đông đúc, với sự đô thị hoá, con người hầu như đã sống trong một môi trường giả tạo, với các nhà ximăng, với các toà cao ốc mênh mông nên không có cơ hội tiếp xúc với mặt đất. Thành phố thiếu không gian xanh, không khí ngột ngạt sau một ngày làm việc, về nhà lại ở trong 4 bức tường, với ánh sáng đèn điện, với máy điều hoà không khí, quạt điện … tạo ra con người mệt mỏi, mất năng lượng, chán nản …Trong các đô thị lớn thì đâu đâu cũng có hiện tượng BMW (Bus, Metro, Work) nên lại càng ít vận động. Con người miệt mài phố thị với cát bụi đô thành chẳng bao giờ nghe được tiếng ve, cảnh mặt trời lặn, những con đường lẫn vào mây, quờ tay là hái được sương mù, ‘người ngồi xuống mây ngang đầu’, không còn được nghe tiếng sáo diều trong đồng vắng, không còn thấy trăng lên với cảnh ‘đêm qua ra đứng bờ ao, trông cá cá lặn, trông sao sao mờ’, không còn cảm nhận các cảnh ‘sông dài trời rộng bến cô liêu ‘ và cuộc sống đô thị, thì nhà nào biết nhà đó, chỉ lo bon chen, tiêu thụ quá sá, mà không nhận ra cái kiếp mong manh của kiếp người, cái mong manh của hạnh phúc thoáng qua ‘đời sao im vắng, như đồng lúa gặt xong, người về soi bóng mình, giữa tường vắng lặng câm ‘ .
Do đó, muốn lấy lại thăng bằng, con người ngày nay lại càng cần đi tìm những khu rừng, những ngọn núi cao vì chỉ ở đó, họ mới cảm thấy mình tan biến trong cái tĩnh lặng uyên nguyên:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Chính vì sống xa rời thiên nhiên là nơi cưu mang của con người nên thân tâm biến loạn do đó, ta cần tìm lại mối liên hệ chân chính với thiên nhiên, tìm lại niềm yêu thương lặng lẽ của đất, những khoảnh khắc đầy phù sa của dòng sông đang trôi khuất, những giọt sương mai lấp lánh, những dòng sông hiền hoà, những cánh đồng ngào ngạt đơm bông, để tinh thần được thảnh thơi như Nguyễn Công Trứ đã viết:
Người ta ở trong phù thế
Chũ vô cầu là chữ thiên nhiên
do đó chúng ta nên tiếp xúc với thiên nhiên như rừng cây, suối nước, màu xanh của bầu trời vì thiên nhiên là bà mẹ của ta.
Đi bộ trong các công viên, thiền hành tìm được sự yên tĩnh, thanh thản nội tâm, giữ được trạng thái tâm lý cân bằng trong nhịp sống xô bồ căng thẳng, mệt mỏi nhờ vậy an định nội tâm, an lạc. Nó giúp đẩy lùi và làm chậm lại tiến trình suy thoái cơ thể: bớt bệnh vì có không khí thở, bớt đau nhức, bớt phì nộn là điều kiện dẫn đến các bệnh khác như tiểu đường, cao huyết áp…
Đi bộ ra đi khi trời vừa sáng, đi bộ dưới vòm cây, trong công viên giúp điều hoà hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hoá, ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm hồn, cả Thân lẫn Tâm… Ngoài đi bộ, người lớn tuổi phải vận động cơ thể như tập thể dục, tập Tai Chi, tập khí công v.v.
Chính vì con người càng xa rời Thiên Nhiên nên hiện nay trào lưu trở về với Thiên Nhiên càng mạnh:
Các tu viện Thiền, các làng Thiền, các môn phái sử dụng Thiền như là trọng tâm sinh hoạt nẩy nở càng ngày càng nhiều, chính là để phản ứng lại với nếp sống xa rời các chuẩn mực của thiên nhiên. Các môn yoga, tập thở, y khoa mềm (médecine douce), các sách về tâm linh, nói về sự tu dưỡng tinh thần cho vững chãi trước những vòng xoáy của cuộc đời đầy cung bậc ngọt bùi cay đắng, đầy chuỗi vui, buồn, yêu thương, giận hờn … bán rất chạy. Thiền hành trong những chốn âm u tĩnh mịch, du lịch sinh thái giúp con người tìm lại mối liên hệ với thiên nhiên.
Nếu ‘người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” thì ngược lại ngoại cảnh nghĩa là môi trường sống xung quanh ta cũng ảnh hưởng đến con người, không những về tinh thần mà còn thể chất.
Ngoại cảnh không bị ô nhiễm, với không khí trong lành, nước chảy, thông reo giúp cho tâm an bình, tạo điều kiện giúp con người thoát tục dễ dàng hơn, tâm hồn không khuấy động, không tà kiến, buông xả được các bụi bặm phù du phiền muộn của cái tôi để hoà mình vào nhịp sống bao la của vũ trụ, giúp ta dễ đồng nhất với vũ trụ, cảm nghiệm lẽ trời trong tĩnh lặng để buông xả, để phá chấp và giúp con người tìm về bản tâm thanh tịnh của mình, tìm lại được thăng bằng thảnh thơi và nhờ vậy, giúp con người bớt ưu phiền, bớt căng thẳng. Thế nhưng, với sự gia tăng dân số, với kỹ nghệ hoá, thăng bằng thiên nhiên mà Tạo hóa đã phú cho Trời Đất càng ngày càng bị thương tổn nên tạo ra các biến đổi khí hậu toàn cầu, gây các hậu quả như ngày nay với các trận bão nối tiếp nhau không dứt, rồi hạn hán, sa mạc hoá v.v tạo ra một ‘en-trô-pi sinh thái ‘.(ecological entropy)
Môi trường nhân văn
Vẽ những vòng tròn đồng tâm, môi trường nhân văn từ trong ra ngoài có thể kể con cháu, bạn bè, người đồng hương, láng giềng, hội đoàn v.v.
Người lớn tuổi thường cô đơn thể chất (vợ chết/chồng chết) và cô đơn tinh thần (buồn phiền, bi quan), chưa kể đến bệnh già, nên càng dễ bị tổn thương. Các nỗi cô đơn này vừa là cái nhân, vừa là cái quả của nhiều đau khổ. Con cái hoặc ở xa hoặc không có thì giờ chăm sóc cha mẹ. Người già mà ở nhà già, gặp toàn người bản xứ không cùng cảm thông vì văn hoá khác, ngôn ngữ khác thì tinh thần lại càng xuống mà tinh thần xuống thì cơ thể cùng xuống theo.
Ngày nay, đô thị hoá, kỷ nghệ hoá giúp con người thoát khỏi cảnh lam lũ đồng áng, đầu tắt mặt tối ở chốn bùn lầy nước đọng, đem đến cho ta nhiều tiện nghi văn minh: liên lạc nhanh hơn, thông tin nhanh hơn. Con người ở thời đại công nghiệp này có tâm trí luôn luôn bị động như robot suốt ngày, làm việc lắp ráp các bộ phận trong dây chuyền sản xuất từ máy điện toán đến ráp xe hơi, máy bay, mọi công đoạn đều lớp lang, có thời lượng quy định. Sự tiến bộ kỹ thuật từ nhiều thập niên gần đây với sự tăng tốc, cái gì cũng Express, nào là ExpressPost, Fast food, Café Express… làm phá vỡ cấu trúc các xã hội cổ truyền làm con người không có thì giờ rãnh rổi tìm lại mình, tra vấn về cuộc đời mình.
Và chính sự phát triển này lại cũng manh mún hoá những cá nhân.
Cuộc sống xô bồ ngày nay làm con người cứ chạy đua theo vật chất, theo tiêu thụ, y như người cứ uống nước mặn ngoài biển khơí, mà càng uống thì càng khát:
Chúng ta ngày nay sống thọ hơn nhưng sống ít ý nghĩa hơn
Chúng ta chinh phục được vũ trụ nhưng không thắng được cõi lòng
Giải trí thì nhiều mà niềm vui thì ít
Đây là thời đại của thu nhập gấp đôi nhưng chia ly thì lại nhiều
Cuộc sống tiện nghi hơn nhưng ít thời gian nhàn rỗi hơn
Và đó chính là nghịch lý của thời đại ta đang sống, hôm nay và bây giờ. Phát triển kỷ thuật cũng có nghĩa là thời gian bị đo lường, chắt bóp làm biến đi nhịp sống an nhiên tự tại. Sự gia tăng các phuơng tiện truyền thông đi cùng với sự nghèo nàn về truyền thông giữa các cá nhân: con người sống bên cạnh nhau nhưng không sống với nhau. Hai giới từ ‘bên cạnh’ và ‘với’ nghe tuy đơn giản biết bao nhưng lại có tầm quan trọng biết bao!
Bữa cơm sum họp trong gia đình vắng dần, vì người về trước, kẻ về sau, các người cùng gia đình không có dịp trò chuyện để chia sẻ. Người già ít được trò chuyện với con cái, ở trong không gian nhỏ hẹp không mấy khoáng đảng, làm xuất hiện bệnh mất trí, lú lẩn sớm.
Trong các làng mạc xưa kia, do điều kiện sống cần tương trợ lẫn nhau nên tối lửa tắt đèn có nhau, họ xem nhau như người trong một gia đình. Họ cùng nhau thực hiện trồng trọt, cấy cày. Ngày nay, đô thị hoá, hàng triệu người chen chúc trong các thành phố lớn, họ sống để làm việc cho có tiền; gặp gỡ, thảo luận, chuyện trò cũng xem như mất thời gian. Với các phương tiện hiện đại với điện thoại, truyền hình, xe hơi riêng, con người càng cá nhân hơn, phát triển tính nghi ngờ ngay cả với người ở ‘ấp’ bên cạnh rồi từ đó tăng thêm nỗi cô đơn.
Do đó xã hội ngày nay ngày càng đánh mất tình người và cuộc sống hoạt động như một cỗ máy vô tri
Tiếp xúc với môi trường nhân văn: chuyện trò, giải khuây, cười vui có thể hoá giải buồn và cô đơn, tìm an lạc tâm hồn. Đó là sức khoẻ tinh thần. Người lớn tuổi cảm thấy hạnh phúc khi còn có thể giúp đỡ cho con cháu: giữ cháu, đưa cháu đi học về, dạy dỗ cho cháu học thêm Việt ngữ giúp người già giảm bớt căng thẳng vì thấy nụ cười của đứa bé, trao tình thương. Đến đây, người viết nhớ lại chuyện có thực 100% ở Phi Châu. Năm 1987, tôi có dịp đi làm ghé qua thủ đô Dakar xứ Senegal. Đang lướt qua tờ báo địa phương ngày đó (hình như báo đó tên là Le Soleil), tự nhiên tôi thấy các dòng chữ Saigon, Gia Định, Lăng Ông, Dalat v.v. Bèn hỏi lân la thêm thì biết tác giả truyện ngắn đó là một phụ nữ lai hai dòng máu: Sénégal và Việt. Tôi có phone hỏi thăm bà ấy thì bà kể qua lai lịch và nói được tiếng Việt nhờ bà ngoại và chính nhờ bà ngoại kể các chuyện củ nên mới vận dụng trí tưởng tượng để viết !!Tập truyện ngắn của bà này sau đó được giải thưởng văn học Sénégal.
Người lớn tuổi cũng phải có niềm tin, niềm tin vào các bậc tối cao như Phật, như Chúa, như Thượng đế v.v. Những con mắt buồn phiền, xin cấy lại niềm tin vì mất nìềm tin là mất tất cả. Có niềm tin, giúp ta chuyển hoá các loạn tâm, loạn tưởng giúp tâm an nhiên tự tại trước các cơn bão tố trong cuộc đời.
Tiếp xúc với bạn bè, với người đồng hương cũng giúp ta có những hoài niệm chung, giải toả căng thẳng, hoá giải nỗi buồn. Làm thiện nguyện giúp trẻ em, trò chuyện với người già cô đơn trong khu phố mình ở, chở người cần đi bệnh viện, đi xin tiền già cũng giúp ta phát triển tâm Từ, tâm Bi.
Từ là hiến tặng hạnh phúc. Bi là làm cho người ta bớt khổ.Về phương diện tâm thần, ta nhận thấy khi ta từ bi hơn thì tâm ta dễ bình an hơn. Nên nhớ muốn gia đình hạnh phúc thì trước tiên mình phải hạnh phúc trước đã vì nếu người lớn tuổi cảm thấy luôn luôn mệt mỏi, bất an, cáu kỉnh, hạnh phúc sẽ không bao giờ đậu ở bậc thềm nhà bạn.
Đau khổ đi liền với kiếp nhân sinh. Chẳng thế mà nhà Phật thường nói: đời là biển khổ. Bác sĩ trị được cái đau, còn cái khổ chỉ cá nhân ta mới tự chữa lấy.
Sống trên đời như trong một quán trọ, sống gửi thác về, đúng như các câu hát:
-Con chim ở đậu cành tre
Con cá ở trọ trên khe nước nguồn
-Chiều nay em đi phố về
thấy đời mình là những quán không
Bàn im hơi bên ghế ngồi
-Em đi qua chuyến đò ơi a thấy con trăng đang nằm ngủ
Con sông là quán trọ mà trăng tên lãng du
Em đi qua chuyến đò ới a vui như ngày hội
Tôi xin làm quán đợi buồn chân em ghé chơi
-Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời (Ở trọ )
Biết cuộc đời chỉ là một quán trọ, sống gửi thác về nên xin cứ thanh thản như mây, xin đừng quá vui cũng chẳng quá buồn, rắc rối làm chi những điều đơn giản, nên buông xả, phá chấp, an nhiên tự tại, giúp thân và tâm cả an lẫn lạc. Tâm an là yếu tố quan trọng để ta khoẻ mạnh.
Khi chúc nhau sức khỏe, có nghĩa không những sức khỏe thể chất mà còn sức khỏe tinh thần. Sức khỏe tinh thần có nghĩa tinh thần lạc quan, thoải mái, thư giãn. Bác sĩ cần cái lạc quan của mình thì dễ chữa trị hơn vì lạc quan tinh thần giúp cơ thể đề kháng với bệnh tật dễ dàng hơn.
Trong Phật học, ta thường nghe Từ, Bi, Hỉ, Xả. Trên kia đã nói về Từ và Bi . Còn Hỉ là có niềm vui trong lòng.
Xả trong cụm từ Từ, Bi, Hỉ, Xả. Xả tuy là chữ cuối cùng trong cụm từ đó nhưng không có nghĩa là không quan trọng. Không chấp ngã, không cố chấp mà phải phá chấp, nghĩa là Xả, xả bớt các sân hận, tị hiềm, từ đó nẩy sinh thái độ phóng khoáng.
Xả là tập sống trong sự bao dung, bao dung rộng lượng với mọi người vì nhận thức đuợc là:
Thôi về đi, đường trần đâu có gì
Tóc xanh mấy mùa
Có nhiều khi, từ vườn khuya bước về
Bàn chân ai rất nhẹ, tưởng hồn những năm xưa (Phôi pha)
Đường trần đâu có gì! ‘Đâu có gì’ vì:
Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi
để một mai tôi về làm cát bụi
‘Đâu có gì’ vì: mọi vật trên thế gian này đều vô thường, trống rỗng, không có thực thể. ‘Đâu có gì’ vì : cuộc đời như một giấc chiêm bao và rất ngắn:
‘Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua’, một câu trong bài hát nhan đề Phôi Pha .
Đời người như gió qua nên lại càng phải buông xả, tâm không bám vào sự vật để dần dần tâm được thanh tịnh, mà tâm thanh tịnh, sống an nhiên tự tại chính là vectơ đến giải thoát.Tâm thanh tịnh giúp tránh các ô nhiễm của tâm hồn
Ngày nay, những người sống ở chốn ít ô nhiễm về bụi bặm, về tiếng động, về nước, về không khí thì bớt căng thẳng và sống lâu hơn người sống trong môi trường đầy các loại ô nhiễm trên. Như vậy cũng có nghĩa là phần lớn các bệnh hoạn không phải chỉ có uống thật nhiều thuốc để trị bệnh mà thể dục, thư giản, ăn uống cũng góp phần vào sự lành bệnh. Như vậy, có sự tương quan giữa phương thức sống (mode de vie) và sức khỏe. Các phương thức sống như không hút thuốc, tránh phì nộn, thư giãn… giúp bớt các bệnh tim mạch và các bệnh do stress đem đến.
Xin tóm lược các điều vừa nói trong công thức sau cho dễ nhớ :
1 trung tâm: sức khoẻ;
5 phải: phải vận động, phải có niềm tin, phải lạc quan, phải buông xả, phải hoà ái;
3 quên: quên tuổi tác, quên bệnh tật, quên quá khứ (mà chỉ sống trong hiện tại)
Chúng ta đang may mắn ở Canada là xứ đất rộng, người thưa, rừng vàng, bạc biển.
Dù biết xứ này lạnh lẽo, nhưng lại không có bão nhiệt đới như Florida, Louisiana, Mexico với các lụt lội hư hại nhà cửa.
Dù biết lạnh nhưng xứ này không nằm trên vòng đai núi lửa, động đất như Pakistan.
Dù lạnh lẽo nhưng nhờ cái lạnh mà chu kỳ lây lan của các muỗi mòng, chuột bị gián đoạn.
Canada là nước giàu nhất trong G8. Canada tiếp nhận di dân 9 lần nhiều hơn Pháp, 3 lần nhiều hơn Đức. Nói ra đây là để vinh danh xứ Canada đã đành nhưng cũng muốn nói là ta không nên than vãn vì xứ này đất lành chim đậu nên mọi sắc dân từ A (A như Angola) đến Z (Z như Zimbawe) đều sinh sống bình đẳng ở xứ này.
Trong sinh hoạt người lớn tuổi ngày nay, cần kiếm thăng bằng giữa người và người trong xã hội: đó là nhân quyển; giữa người và thiên nhiên: đó là sinh quyển và có đời sống tâm linh sung mãn: đó là tâm quyển. Nếu xã hội đạt được sự thăng bằng của ba phạm trù vừa kể, thì chính đó là cõi cực lạc của môi sinh và cõi cực lạc của tâm hồn. Tiền bạc không tạo nên hạnh phúc vì có tiền mà đau ốm, có tiền mà môi sinh ô nhiễm, cướp bóc bạo hành tràn lan, thì đó không phải an lạc. Bài hát Tôi muốn của cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà cũng nói lên các điều vừa kể :
.. Tôi muốn mình tìm đến thiên nhiên, Tôi muốn sống như loài hoa hiền, Tôi muốn làm một thứ cỏ cây, Vui trong gió và không ưu phiền. Tôi muốn mọi người biết thương nhau, Không oán ghét không gây hận sầu v.v.
Thái Công Tụng
From: thanhlamle.le & NguyenNThu