Phúc họa

Van Pham

GÓC SUY GẪM…

Đời Người, Đơn Giản Chỉ Là Hiểu Được Những Điều Dưới Đây, Rồi Nhất Định Sẽ Thảnh Thơi

Đời người, vì có quan tâm, nên có thống khổ. Có hoài nghi, nên mới tổn thương. Có xem nhẹ, nên mới vui vẻ. Chúng ta đều là những vị khách qua đường, rất nhiều sự tình, chúng ta đều không thể làm chủ được, hết thảy đều nên để tùy duyên…

  1. Phúc họa

– Tích đức, làm việc tốt mặc dù không ai thấy, nhưng trời biết đất biết.

– Con người làm việc thiện, phúc dù chưa đến, họa đã rời xa;

– Con người làm việc ác, họa dù chưa đến, phúc đã rời xa;

– Người làm việc thiện, như cỏ mọc giữa vườn xuân, dù không ai trông thấy, vẫn ngày ngày tăng trưởng;

– Người làm ác, như hòn đá mài dao, không thấy tổn hại gì, nhưng ngày qua ngày sẽ thấy chỗ hao mòn.

– Là phúc hay họa đều tại tâm. Điều đáng sợ khi hành ác, không phải sợ người phát hiện, mà ở chỗ tự mình nhận biết;

– Làm điều tốt đẹp khi hành thiện, không phải là ở chỗ người khác tán dương, mà là ở chỗ chính mình thanh thản.

Tâm đơn giản, thế giới cũng trở nên đơn giản, hạnh phúc mới có thể sinh sôi.

Tâm tự do, cuộc sống sẽ tự do, đến nơi nào cũng là hạnh phúc.

May be an image of lake and tree

LĂNG MỘ NGÔ QUYỀN

May be an image of outdoors and tree

LĂNG MỘ NGÔ QUYỀN.

Cái lăng bé nhỏ này chính là Lăng Ngô Quyền, vị vua đầu tiên đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938, giúp dân tộc ta kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc, giành nền độc lập.

Lăng của Ngài ở quê hương là làng Đường Lâm, Sơn Tây (Hà Nội), lăng có diện tích chỉ vài m2, có mái che chỉ cao 1,5 mét, bia đá được khắc thời Tự Đức, có ghi bốn chữ Hán “Tiền Ngô Vương lăng”. Ngài mất năm 944, hưởng dương 47 tuổi.

Hàng cây duối cổ thụ màu xanh biếc ở gần đó tương truyền là nơi xưa Ngài buộc ngựa chiến và voi chiến mỗi khi về làng. Những cọc gỗ mà Ngài cho quân lính đóng dưới lòng sông Bạch Đằng nay vẫn còn nguyên…

Một vị vua hào hùng như vậy, có tên tuổi ghi dấu đậm nét trong lịch sử Việt Nam mà chỉ an nghỉ trong một khoảnh đất nhỏ nơi làng quê. Nhưng uy danh của Ngài thì có ở khắp nơi trên đất Việt.

Đền thờ khiêm tốn của Ngô Quyền ở ngay trên đất Đường Lâm cũng đời đời được dân ta ngưỡng vọng và thờ phụng.

Tổ tiên ta thật khiêm cung, mà cũng đầy hiển hách. Không có lăng mộ, tượng đài nào là vĩnh cửu mà chỉ có lòng yêu mến, kính trọng của dân chúng là vĩnh cửu trường tồn…

Góc Nhìn An Nam.

Tôi đang thay đổi chủ yếu ở 12 điều dưới đây:

 Ha Nguyen  

Một bạn vừa tổ chức sinh nhật 70 tuổi, tôi hỏi người ấy có thay đổi không?

Người bạn trả lời: Tôi đang thay đổi chủ yếu ở 12 điều dưới đây:

  1. Trước đây tôi yêu bố mẹ, anh em, bà xã, con cái, bạn bè, giờ tôi bắt đầu yêu chính mình.
  2. Tôi đã hiểu ra mình không phải Thượng đế, mình không thể gánh nổi cả thế gian.
  3. Không mặc cả với những người bán rau bán cá nữa, trả thêm cho họ ít tiền không làm tôi nghèo túng, biết đâu số tiền đó lại góp phần nhỏ bé trong học phí của con cái của họ.
  4. Tôi không chờ lấy tiền thối lại khi đi taxi, tiền boa đó biết đâu đổi lại được một nụ cười, dù sao anh ta cũng sống vất vả hơn mình mà.
  5. Tôi không nói với các cụ rằng “câu chuyện này đã nghe nhiều lần rồi, biết rồi, nói mãi.” Hãy để các cụ thoải mái ôn lại kỷ niệm xưa và cảm thấy hạnh phúc.
  6. Tôi thôi không bắt lỗi khi người khác sai, bởi vì mình không có trách nhiệm làm cho họ trở nên hoàn hảo.
  7. Tôi luôn miệng khen tặng người khác, khiến người ta vui mình cũng được vui lây.
  8. Thôi không bận tâm những vết bẩn trên áo quần, dù sao nhân cách vẫn quan trọng hơn vẻ bên ngoài.
  9. Ngày càng xa lánh những kẻ xem thường mình, bởi có hay không có họ, giá trị thực của tôi cũng chẳng thay đổi.
  10. Không vì bảo vệ quan điểm của mình mà đánh mất tình bạn, hãy để mọi người cùng vui hơn là thoả mãn một mình.
  11. Tôi sẽ xem mỗi ngày là ngày cuối cùng của đời mình, trước sau gì ngày ấy cũng sẽ đến.
  12. Tôi luôn làm những gì mình yêu thích để tận hưởng cuộc sống, đó chính là trách nhiệm lớn nhất dành cho chính mình.

Lược dịch: Thomas Y

Cộng đồng Việt và chính sách dân sinh Hoa Kỳ

KHÔNG CHỈ CỘNG ĐỒNG VIỆT TẠI MỸ MÀ GẦN NHƯ TRÊN TOÀN THẾ GIỚI, ĐẶC BIỆT TẠI ÚC. NƠI MÀ NHIỀU GIA ĐÌNH LÃNH ĐỦ MỌI LOẠI TIỀN TRỢ CẤP TỪ NGÀY ĐẶT CHÂN TỚI ÚC TỚI HÔM NAY… NHƯNG CÓ 2 HAY 3 CĂN NHÀ ĐỨNG TÊN MÌNH, TÊN CON, TÊN CHÁU…

***

Cộng đồng Việt và chính sách dân sinh Hoa Kỳ

Nhã Duy

Trên số báo Cal Matters vào ngày 19 tháng Tám 2019, dân biểu tiểu bang California Tyler Diệp thuộc đảng Cộng Hòa đã kể lại cùng ký giả Dan Morian rằng, “Tôi còn nhớ tấm chi phiếu trợ cấp cho chúng tôi là $800. $500 để trả tiền thuê nhà, $100 trả tiền vé máy bay và $200 tiền chợ. Tôi không nhớ có tem phiếu thực phẩm hay không nhưng có (nhận) trợ cấp xã hội và Medicare”.

Đến Mỹ năm 1991 lúc 8 tuổi, dân biểu Tyler Diệp trở thành Giám Đốc Sở Vệ Sinh thành phố Midway sau khi tốt nghiệp đại học, rồi nghị viên, Phó Thị Trưởng thành phố Westminster cho đến khi đắc cử vào Hạ Viện California vào năm 2018. Đó là một câu chuyện thăng tiến tiêu biểu khá phổ biến trong các gia đình tị nạn và di dân đến Mỹ trong vài thập niên qua, cách riêng là trong cộng đồng gốc Việt.

Nhắc đến câu chuyện của DB Tyler cùng vấn đề phúc lợi xã hội để thấy rằng, ông cùng gia đình cũng như phần lớn làn sóng người tị nạn gốc Việt cho đến các gia đình HO, ODP đến Mỹ, đã từng thụ hưởng những phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục trong những năm đầu tiên đến Mỹ rồi từng bước tạo dựng, đi lên và đáp trả, đạt được thành công trong nhiều lãnh vực khác nhau ra sao.

Theo như bài báo có tựa “More Vietnamese Immigrants Reaching End of Benefits” trên tờ Los Angeles Times vào năm 2003 khi California thay đổi luật trợ cấp CalWORKs trước đó, thì có đến 80 % số người trưởng thành nhận trợ cấp đã liên tục trên năm năm là thuộc cộng đồng Việt Nam, cho dù người Việt chỉ chiếm khoảng 5 % tại Quận Cam lúc bấy giờ.

Các chương trình phúc lợi xã hội sau này có phần giới hạn với những ràng buộc khác nhau nhưng với riêng cộng đồng gốc Việt thì số gia đình vẫn còn đang nhận phúc lợi xã hội là khá cao so với tỉ lệ chung tại Mỹ.

Theo số liệu từ Cục Dân Số Hoa Kỳ thì có khoảng 16 % hay 60,949 gia đình gốc Việt (theo American Community Survey- ACS 2018) bị xem thuộc nhóm nghèo khó trên giấy tờ để có thể đủ tiêu chuẩn hưởng một phần hay toàn bộ các chương trình phúc lợi xã hội.

Bảo rằng trên giấy tờ vì bên cạnh nhóm người Việt cao niên đang được hưởng chương trình SSI cho người già hay tàn tật, thì trên thực tế cần ghi nhận rằng, một số gia đình có nghề nghiệp tự do hay cơ sở thương mại tư nhân không khai báo thu nhập đầy đủ và thật sự vẫn có thể được xem là “nghèo khó” để được nhận trợ cấp tiền mặt (TANF), thực phẩm (SNAP, WIC), chương trình gia cư (Section hay y tế (Medicaid, CHIP hay Obamacare), giáo dục (Financial Aid – FAFSA). Đó là tình trạng khá phổ biến, dễ bắt gặp trong cộng đồng.

Chẳng những không phải đóng thuế thu nhập, hàng năm các gia đình này còn được cho thêm một khoảng tiền mặt khá lớn qua chương trình tín thuế EITC cho các gia đình có thu nhập thấp. Dù rằng, cộng đồng gốc Việt lại là nhóm sở hữu nhà với tỉ lệ 68 %, cao nhất so với tỉ lệ chung và bất cứ sắc dân nào (theo ACS 2019)

Đến Mỹ khi các đạo luật về phúc lợi xã hội đã ra đời nên nhiều người từng hay đang thụ hưởng những phúc lợi nói trên có lẽ không chú ý chúng đã có ra sao, lúc nào và những ai đã tranh đấu để mình được thừa hưởng. Tìm hiểu về điều này không chỉ để nhìn lại hành trình của mình trên đất Mỹ mà còn hiểu hơn về các chính sách liên đới đến các tuyên truyền chính trị ra sao.

Luân phiên điều hành và bổ sung cho nhau trong các chính sách quốc gia, nhìn chung thì đường hướng của hai đảng phái chính trị chính tại Hoa Kỳ không giới hạn ở một vài điểm chính yếu có thể kể ra. Nếu đảng Cộng Hòa thường thiên về quốc phòng, đối ngoại và kinh tế thị trường thì đảng Dân Chủ chú tâm vào các vấn đề dân sinh, cải tổ y tế, giáo dục. Đó là lý do hầu hết các đạo luật về an sinh xã hội hay chương trình phúc lợi xã hội nói trên thường được các dân biểu cùng đảng Dân Chủ đề xướng.

Như việc trợ cấp thực phẩm qua chương trình tem phiếu thực phẩm là do dân biểu Leonor Sullivan thuộc đảng Dân Chủ trình dự luật (H.R. 10222) và được quốc hội thông qua, ký thành sắc lịnh năm 1964 (Food Stamp Act on 1964) mà hiện nay được gọi là SNAP.

Năm 1965, chương trình trợ cấp y tế quan trọng nhất cho đến nay là Medicare và Medicaid ra đời, do dân biểu Wilbur Mills của đảng Dân Chủ trình dự luật (H.R. 6675). Hiện có khoảng 31.8 % người gốc Việt đang có bảo hiểm y tế các loại từ các chương trình chính phủ (theo ACS 2019).

Chương trình trợ cấp tiền mặt và y tế SSI (Supplemental Security Income) cho người già trên 65 tuổi hay người tàn tật được Tổng Trưởng Sở An Sinh Xã Hội là Robert M. Ball thuộc đảng Dân Chủ soạn thảo và trình quốc hội thông qua và ký thành luật vào năm 1972 (Public Law 92-603). Không có phúc lợi SSI này thì chắc chắn giới cao niên gốc Việt sẽ rất khó khăn khi không có thu nhập lẫn bảo hiểm y tế miễn phí cho tuổi già nhiều bịnh tật.

Về trợ giúp giáo dục thì những người đã quay lại trường lớp khi đến Mỹ ắt không quên chương trình hỗ trợ tài chính Pell Grant, được đặt theo tên Thượng Nghị Sĩ Claiborne Pell của đảng Dân Chủ đưa ra năm 1975 (S.2657). Đây là một trong những trợ giúp quan trọng bậc nhất để giúp những người tị nạn gốc Việt cùng con em mình có được thành công hôm nay thông qua con đường học vấn. Hiện nay chương trình này vẫn đang giúp cho vô số gia đình gốc Việt tiếp tục xin tiền học cho con cái mình dựa theo tình trạng thu nhập gia đình.

Một số chương trình quen thuộc và có nhiều người Việt thụ hưởng như TANF tiền mặt (hay CalWORKs tại California), CHIP, WIC… cũng đã ra đời dưới thời tổng thống Bill Clinton hoặc do các dân biểu đảng Dân Chủ đệ trình.

Kể từ sau chương trình cải tổ y tế Obamacare ra đời 10 năm trước cùng các ý định về miễn phí giáo dục bậc đại học cộng đồng hai năm thì phía đảng Cộng Hòa bắt đầu chỉ trích và gán đặt đảng Dân Chủ là đang muốn đưa nước Mỹ vào con đường “xã hội chủ nghĩa”. Điều này ngày càng mạnh mẽ hơn trong bốn năm qua dưới thời tổng thống Donald Trump cùng chiến dịch tranh cử đang diễn ra.

Bởi đơn giản rằng, với đường hướng kinh tế thị trường và biện pháp cắt giảm ngân sách nhắm vào các chương trình dân sinh, việc miễn phí y tế, giáo dục, trợ cấp xã hội… bị xem là đi theo đường lối xã hội chủ nghĩa, một hệ thống dân sinh mà Canada, Úc… cùng một số nước Châu Âu giàu có khác đang thực hiện cho người dân mình.

Đây là vấn đề dân sinh, xã hội hơn là đường hướng chính trị như nhiều người được nghe hay hiểu lầm. Nhưng đáng tiếc là một số người gốc Việt dù đã từng hay vẫn còn đang nhận các phúc lợi xã hội này lại tin theo để tấn công ngược lại đảng Dân Chủ đã và đang bảo vệ quyền lợi cho chính họ.

Chính vì vậy, điểm lại một số chương trình dân sinh này là điều cần thiết và để thấy rằng hành trình phát triển của cộng đồng gốc Việt tại Hoa Kỳ đã có được, bên cạnh sự cố gắng thì một phần cũng nhờ vào các chính sách, sự trợ giúp bước đầu từ nhiều đời tổng thống tiền nhiệm khác nhau trong suốt 45 năm qua.

Hãy thực lòng trả lời rằng nếu cộng đồng gốc Việt đến Mỹ và khởi dựng lại từ đầu ngay vào thời điểm từ bốn năm qua với vô số những chính sách kỳ thị di dân và cắt giảm quyền lợi dân sinh thì liệu họ có tạo dựng được những gì như đang có hay không?

Những câu chuyện lịch sử cần được kể lại và lắng nghe để không biến chúng ta thành những kẻ vô ơn. Từ những trải nghiệm được đánh đổi bằng máu và nước mắt, từ những vòng tay đón chào và cưu mang đầy tình người trên xứ lạ cho đến sự thành công hôm nay, cộng đồng Việt đã có cơ hội để thể hiện sự công bằng và bác ái hơn so với dăm thái độ đang xảy ra trên đất Mỹ hiện nay.

09/17/2020

Nhã Duy

Ảnh: Camp Pendleton, California-1975

  May be an image of 7 people and people standing

3 điều nên “Tránh” khi đau khổ

Giáo xứ Cần Giờ – DCCT

3 điều nên “Tránh” khi đau khổ

Đừng điều tra “tại ai”. Hãy cám ơn dụng cụ Chúa dùng thánh hóa con.

Đừng than thở với bất cứ ai. Chúa Thánh Thể, Đức Mẹ là nơi con tâm sự trước hết.

– Khi đã qua, đừng nhắc lại và trách móc, hận thù. Hãy quên đi, không nhắc lại bao giờ và nói “Alleluia!

Đau khổ không những giúp con can đảm, nhẫn nại, nhưng còn có giá trị cứu chuộc rất lớn lao, nếu con hiệp với sự thương khó Chúa Giêsu.

Trên Thiên Đàng, con sẽ tiếc: “Phải chi tôi đã có thêm nhiều dịp mến Chúa và chịu khổ vì Chúa hơn ! ”

Đức Hồng Y PX. Nguyễn Văn Thuận.

Bắc/Nam Giữa Thời Mắc Dịch

Bắc/Nam Giữa Thời Mắc Dịch

Tưởng Năng Tiến

Tuy chào đời tại Sài Gòn – trước Hiệp Định Geneve – tôi vẫn có mặt trong đoàn người di cư từ Bắc vào Nam hồi năm 1954. Tuy đây không phải là một “giai thoại” ly kỳ hay thú vị gì sất cả nhưng vẫn xin được phép ghi thêm đôi dòng (cùng dặm thêm chút đỉnh mắm muối) để câu chuyện được tỏ tường, và đỡ phần nhạt nhẽo.

Tác giả Lê Duy San cho biết:

“Ngày 12/7/1946, theo lệnh của Trường Chinh, Việt Minh âm thầm cho công an đột nhập trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng ở số 9 phố Ôn Như Hầu. Hằng trăm người bị giết bằng cách trói lại và bị quăng xuống những con sông để họ chết chìm rồi loan tin là những người này bị VNQDĐ thủ tiêu.

Vụ này đã làm cho VNQDĐ tan rã, nhiều người phải chạy trốn sang Tầu trong đó có cụ Nguyễn Hải Thần, Huỳnh Thúc Kháng, Vũ Hồng Khanh, Hoàng Đạo, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và nhiều lãnh tụ của Việt Quốc và Việt Cách khác. Hàng ngàn người khác bị chúng bắt đem di giam giữ tại Hỏa Lò Hà Nội và nhiều nơi khác trong đó có nhà văn Khái Hưng Trần Khánh Giư.”

Tôi sinh sau đẻ muộn nên không được tường tận về những sự kiện thượng dẫn nhưng biết chắc rằng – ngoài những nhân vật nổi tiếng vừa nêu – còn có vô số những đảng viên cấp địa phương (của cả Việt Quốc lẫn Việt Cách) cũng bị truy lùng hay sát hại vì không “bung” kịp, hoặc không tìm được đường để ra đến nước ngoài.

Thân phụ tôi là một trong những kẻ thuộc cái đám đông vô danh tiểu tốt này. Thay vì chạy sang Tầu, như phần lớn những đồng chí ở trung ương, ông trốn vào Nam. Tuy tay trắng, không có chi để lận lưng, ngoài cái bằng tiểu học (Certificat D’Étude Primaires Complémentaires Indochinoises, C.E.P.C.I) ông vẫn kiếm được đôi ba chỗ kèm trẻ, và một nơi để trú thân, trong một cái xóm lao động nghèo nàn –  có tên là Xóm Chiếu – bên Khánh Hội.

Trong Thư Về Làng (viết năm 1956) nhạc sỹ Thanh Bình tâm sự: Từ miền Nam, viết thư về thăm xóm làng/ Sắt son gửi trong mấy hàng/ Thăm bà con dãi dầu năm tháng/ Từ Tiền giang thương qua đèo Cả thương sang/ Đêm đêm nhìn vầng trăng sáng …

Bố tôi không phải là nghệ sỹ nên ông chỉ đề cập đến chuyện cơm, áo, gạo, tiền … Thư ông viết: “Trong này có khi cơm ăn không hết, người ta đổ cho gà hay cho lợn”. Mẹ hiền, tất nhiên, không thể nào tin vào một chuyện “hoang đường” cỡ đó!

Bà vùng vằng, tức tối xé nát tờ thư trong tay (ấy là tôi đoán thế, nếu sai, xin má thứ tha và bỏ qua cho thằng con út) lầu bầu: “Lại phải lòng con đĩ nào trong ấy rồi, và chắc là định trốn vợ trốn con luôn đây, chứ thức ăn ở đâu ra mà lại phí phạm như vậy được?”

Nói xong, bất chấp mọi sự can ngăn/khuyên giải của họ hàng nội ngoại, bà tức tốc lặn lội vào Nam. Tới nơi, hiền mẫu tìm quanh quất mãi nhưng chả ra một con đĩ  (ngựa) nào ráo trọi mà nhìn đâu cũng thấy phố xá tấp nập, hàng quán tùm lum, và đồ ăn thức uống ê hề khắp chốn.  

Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến.

Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó :

– Người từ là từ phương Bắc đã qua dòng sông, sông dài/ Tìm đến phương này, một nhà thân ái/ Ơi! Tình Bắc duyên Nam là duyên tình chung muôn đời ta đắp xây… (“Khúc Hát Ân Tình.” Xuân Tiên & Song Hương).

– Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa/ Em đất Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mâu/
Đồi nương thương sức cần lao/ Se duyên Nam Bắc ngọt ngào tình yêu, ngọt ngào tình yêu
… (“Đất Lành.” Phạm Đình Chương)

Chuyện se duyên Nam Bắc có ngọt ngào tình yêu (thiệt) không thì chả ai dám chắc, và cũng không có chi bảo đảm cả nhưng với thời gian – rồi ra – ai cũng biết cái mền là cái chăn, cái mùng còn gọi là cái màn, cái phong bì với cái bao thư là một, cái bật lửa đã trở thành bựt lửa, cái hôn và cái hun cùng một nghĩa (và cùng đã) như nhau.

Cuộc chung đụng giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm … tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.

Kết quả của mối giao duyên tốt lành này là một phần tư thế kỷ sau – dù chả cần ai tuyên truyền, hay cổ động gì ráo nạo – chàng trai Biên Hoà Nguyễn Tất Nhiên vẫn cứ si mê “cô em tóc demi garçon,” và mê chết bỏ: Đôi mắt tròn, đen, như búp bê/ Cô đã nhìn anh rất… Bắc Kỳ/ Anh vái trời cho cô dễ dạy/ Để anh đừng uổng mớ tình si. (“Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ.” NXB Nam Á: Paris 1982).

Nền Đệ I Cộng Hoà ở miền Nam cũng có không ít những khiếm khuyết (vô cùng đáng tiếc) nhưng việc ổn định hằng triệu người dân di cư phải được coi là một điểm son của chế độ này, nhờ vào sự trợ giúp tận tình của cả nước Hoa Kỳ. Không phải thế lực ngoại bang nào đến Việt Nam cũng chỉ với mục đích xâm chiếm, cùng với chính sách chia để trị.

Chủ trương phân biệt vùng miền, mỉa mai thay, lại là đường lối xuyên suốt và nhất quán của cái nhà nước được mệnh danh là cách mạng hiện hành – theo như lời của nhiều công dân Việt :

  • FB Trần Đình Thu: “Để kỳ thị hai miền Nam Bắc xẩy ra ngày càng nghiêm trọng là do những chủ trương tuyên truyền hung hăng của nhà nước VN.”
  • Blogger Ku Búa: “Ai là người gây ra nạn phân biệt Bắc Kỳ Nam Kỳ? Đó không phải là sự khác biệt trong tư duy, trong môi trường sống, trong quan niệm sống hay con người. Mà chính là sự phân biệt trong chính sách chính phủ hiện tại.”
  • FB Thuc Tran: “Bất công là nguồn gốc của mọi sự thù ghét nhau giữa dân chúng hai miền và có lẽ đó cũng là ý đồ của đảng khi chia để trị.”

Họ có quá lời chăng?

Không dám “quá” đâu. Từ cuối thế kỷ trước, ông Vũ Đình Huỳnh (một nhân vật quan trọng của ĐCSVN) cũng đã từng nói những điều tương tự: “Sài Gòn là một thành phố bị chiếm đóng. Không phải là một thành phố được giải phóng. Chỉ vài năm thôi, nó sẽ giống Hà-Nội.” (Nguyễn Chí Thiện. Hỏa Lò. 7th ed. NXB Cành Nam, Virginia: 2007).

Thực sự thì Sài Gòn chưa bao giờ được Bên Thắng Cuộc xem “giống như Hà Nội” cả. Sự thực phũ phàng này được nhìn thấy rõ hơn trong những ngày tháng vừa qua.

Tác giả Nguyễn Khoa nhận xét:

“Dịch bệnh cũng làm bộc lộ mâu thuẫn chính trị vùng miền, với sự thống trị của miền Bắc, vốn là nơi phát xuất những đội quân chiến thắng năm 1975. Trong những năm 1990, người ta dành kinh phí quốc gia để xây dựng đường số 5 Hà Nội – Hải Phòng, hay đường số 18 Hải Dương – Quảng Ninh, thay vì con đường nhiều hàng hóa hơn là Quốc lộ 1 Sài Gòn – Mỹ Tho, hay liên tỉnh số 8 Sa Đéc – Long Xuyên.

Việc này có thể được thông cảm vì hệ thống đường sá miền Bắc quá tệ hại. Nhưng vào năm 2021, với một dân số gấp đôi, số người nhiễm bệnh gấp ba Hà Nội, mà số liều vaccine phân phối về Sài Gòn lại ít hơn là điều không thể tha thứ được.”

Bao giờ mà kẻ thống trị còn giữ được quyền bính thì họ chả cần đến sự “tha thứ” của bất cứ ai. Câu hỏi đặt ra là cái đạo quân chiếm đóng hiện nay sẽ còn tiếp tục duy trì được quyền lực ở Việt Nam thêm bao lâu nữa, và chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?

Tưởng Năng Tiến
8/2021

GANH GHÉT & ĐỐ KỴ…

Van Pham

GÓC SUY GẪM

GANH GHÉT & ĐỐ KỴ…

Con người được thượng đế tạo dựng, vì thế mỗi người là cá thể duy nhất trên thế giới này và đều có giá trị của riêng mình. Bạn đừng tự ti, mặc cảm về bản thân nếu chẳng may lâm cảnh nghèo hay ít học. Nhưng bạn cũng đừng tự kiêu, ngạo nghễ xem thường người khác khi bạn may mắn giàu có hay ăn học thành tài. Thế giới này đều dung chứa tất cả trong nó, và bạn phải chung sống với nó dù muốn hay không….

Một người vĩ đại sẽ để cho người khác dựa trên đôi vai của mình; cũng như biển lớn dung chứa trăm sông, nếu có tâm phân biệt, chê sông này đục, sông kia trong thì biển cũng không thể trở nên vĩ đại như thế.

Tâm phân biệt so sánh là khởi nguồn cho lòng đố kỵ. một cái tâm xấu xa có thể gây ra nhiều hậu họa.

“Những kẻ đố kỵ bao giờ cũng có một cái gì đó để buồn phiền, khiếu nại! Bởi vì anh ta bị giày vò không chỉ vì những thất bại của bản thân anh ta mà cả vì những thành công của người khác”.

Tâm rộng lượng thì lúc nào cũng cảm thấy vui vẻ.

Thiên đường luôn rộng mở, chỉ là chúng ta tự khép mình.

So sánh hơn thua, dìm người khác để đưa mình lên, không những không giúp chúng ta hạnh phúc hơn… mà nó còn khiến ta mệt mỏi hơn.

Vốn dĩ trước mắt chúng ta là bầu trời rộng lớn, vậy nhưng chỉ vì tật đố kỵ mà bây giờ nó chỉ còn hình ảnh đáng ghét của đối phương. Như vậy chẳng phải là quá ngu ngốc hay sao?

“Thật may mắn cho ai học được cách:

– Khâm phục mà không ghen tỵ

– Đi theo mà không bắt chước

– Khen ngợi mà không tâng bốc

– Dẫn đường mà không thao túng”.

Buông tha cho đối phương cũng là mở ra cho mình thêm một con đường.

Thiên đường lúc nào cũng mở cửa, chỉ là chúng ta tự đóng kín tâm tư của mình!”

Tự Do cho TNLT Trần Huỳnh Duy Thức

May be an image of 1 person and text that says 'TỰ DO CHO TNLT TRẦN HUỲNH DUY THỨC "TÔI CẦN CÔNG LÝ VÀ NHÀ NƯỚC PHẢI THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT!" LUA "Tôi không LẬT ĐÓ CHÍNH QUYỀN gì cả tôi chỉ CHỐNG CƯỜNG QUYỀN và sẽ còn CHỐNG nó đến khi nào còn THẤY nó"'

Lê Vi

Tôi có thói quen tìm kiếm sự vô lý trong mọi thứ xung quanh mình, có anh bạn mỗi lần gặp mặt thường than túng thiếu trong khi mỗi ngày anh hút hết một gói Marlboro giá khoảng 11 đô Mỹ. Khi tôi nói ông túng thiếu vậy sao ngày nào cũng đốt khơi khơi 11 đô chỉ để rước bệnh vô người chi vậy thì anh bảo “Chứ giờ bỏ hổng được biết làm sao?”

Xưa lúc mới qua đi làm chung với một bà đồng nghiệp da đen, chồng bà ấy làm nghề rửa xe dạo nhưng mượn tiền tậu một chiếc BMW gần 60 ngàn đô rồi đem về trùm mền lại chứ không dám chạy, lần đó xe bả bị hư phải sửa nên bả phải đi nhờ xe tôi, tôi hỏi sao không lấy xe BMW đi cho nó oai thì bả bảo chồng bả không cho bả đụng đến chiếc xe cưng đó, tôi cười và hỏi “Chiếc xe mua chỉ để ngắm thì mua làm gì?”

Hai vợ chồng ông bà bảo trợ cho gia đình tôi ngày xưa là giáo viên về hưu, họ sống giản dị và chi tiêu mọi thứ rất cẩn thận nên chỉ với số tiền hưu ít ỏi mà họ vẫn có thể đi du lịch khắp nơi trên thế giới. Một lần họ đem hình họ chụp ở Miến Điện cho tôi xem, chỉ vào những cái chùa vàng chùa bạc gì gì nơi xứ ấy họ bảo cái xứ này nghèo bởi vì họ xài sang quá, họ đổ quá nhiều tiền vào những nơi như thế này.

Mỗi khi về Việt Nam chơi tôi hay bị người nhà nhắc nhở “…thôi mày đừng chê nữa, làm mất cuộc vui…”. Thực tình là không phải tôi thích chê bai nhưng mỗi khi thấy chuyện gì vô lý mà không nói thì bức rứt khó chịu bởi ở xứ mình sự vô lý hiện diện ở khắp nơi.

Chẳng hạn như mới sáng sớm gặp mặt mấy thằng em tụi nó đã rủ “nhậu đi!”, giờ làm việc mà quán cà phê đông nghẹt người, đến nơi công quyền mới một giờ chiều đã thấy thằng cán bộ mặt đỏ gay vì cữ nhậu giữa trưa, con đường thì nhỏ mà cái lề đường lại quá rộng và không có đường cho xe lăn leo lên leo xuống, mỗi cái cổng chào hoành tráng cho mỗi huyện chẳng biết để làm gì? Đi từ Sài Gòn ra Nha Trang mà đếm không hết mấy cái tượng đài với cổng chào luôn, ủy ban nhân dân một toà nhà vĩ đại thì đảng uỷ cũng một toà vĩ đại không kém, thác Cam Ly lại chỉ có toàn nước cống và nước đái ngựa hôi rình, chợ Đà Lạt thì ngập ngụa rác, xuống tắm biển thì mới vừa lặn xuống trồi lên đã vướng cái bịt ni lông ở trên đầu…

Còn nhiều lắm, ở đâu cũng có sự vô lý nhưng ở xứ mình thì nó nhan nhản xung quanh ta, nó hiện diện ở tất cả các ngành trọng yếu của đất nước từ giáo dục, y tế, tư pháp, lập pháp, hành pháp, công an, quân đội, du lịch, thể thao…nói chung là nhiều lắm. Một con người mà cứ ôm khư khư những điều vô lý thì cuộc đời con ngưòi đó khó mà khá lên được, một dân tộc mà mãi bám víu vào những điều vô lý thì dân tộc đó khó có thể bằng bạn bằng bè, một đất nước mà nhìn đâu cũng thấy đầy sự vô lý thì đất nước đó khó thoát phận tiểu nhược nghèo hèn.

Một chính quyền mà không dẹp bỏ được những điều vô lý là một chính quyền không chính danh, một chính quyền mà dung dưỡng những điều vô lý chỉ với mục đích duy trì quyền lực thì chính quyền đó là thứ chính quyền vô đạo không xứng đáng được tồn tại. Công an nhân dân mà hợp tác với côn đồ đi liệng cứt vào nhà dân là vô lý, quân đội nhân dân mà đi ra hỗ trợ doanh nghiệp cướp đất của dân là vô lý, nhân tài của đất nước đã không được trọng dụng lại còn bị giam cầm oan ức là vô lý, hạng dốt nát tham lam mà nhảy lên làm quan với lương ba cọc ba đồng nhưng thằng nào cũng sở hữu biệt phủ lầu đài là một điều hết sức vô lý không tài nào hiểu được.

Thấy điều vô lý mà không lên tiếng thì xứng đáng được hít khói bụi khi đi ra đường, bị bỏ mặc cho chết trong phòng cấp cứu nếu không có tiền, bị tra tấn khi phải nín tiêu nín tiểu khi không có toilet, bị hành xác khi kẹt xe, bị đè đầu móc bóp khi qua hải quan, bị chặn xe làm tiền khi lưu thông trên đường, bị đánh đập đến chết khi vào đồn công an…

Thấy điều vô lý mà không lên tiếng để thay đổi nó thì sẽ sống chung với những điều vô lý như cái anh chàng nói ở đầu bài lúc nào cũng ca bài ca túng thiếu trong lúc miệng phì phèo thuốc lá và ho sù sụ, thế thôi.

Đất nước nào cũng cần người tài ra lãnh đạo để phát triển nhưng ở VN lại giam cầm người tài là một điều hết sức vô lý cần phải lên tiếng.

Free Trần Huỳnh Duy Thức

Fb Thuc Tran

Lăng tẩm và câu chuyện thây ma biết ăn

Lăng tẩm và câu chuyện thây ma biết ăn

Bởi  AdminTD

 Đỗ Ngà

15-9-2021

Các vị vua với quyền lực bao trùm khi còn sống, tuy nhiên khi chết đi thì hầu hết trong họ đều bị người đời sau lãng quên. Công trình kiến trúc trường tồn là một dấu ấn làm cho người đời sau phải nhớ đến một vị hoàng đế. Công trình kiến trúc trường tồn là loại công trình dốc cạn sức dân mới có thể xây dựng được. Mà để ép toàn dân bỏ sức bỏ mạng ra xây công trình thì phải bạo chúa mới có thể làm được điều đó. Đó là lý do tại sao lăng mộ thường gắn liền với tên tuổi bạo chúa là vậy.

Lăng mộ cho bạo chúa thường phải là công trình kiến trúc vĩ đại có thể trường tồn để giữ tên tuổi và giữ xác các vị vua không mai một, Kim tự Tháp hay mộ Tần Thủy Hoàng đều tồn tại hàng ngàn năm. Cái vĩ đại của lăng mộ thể hiện quyền uy của người chết, cái vững chắc công trình nhằm mục đích là để trường tồn.

Từ khi chế độ dân chủ thay thế phong kiến, thì mốt xây lăng tẩm cũng cáo chung theo cái thể chế lỗi thời đó. Tuy nhiên khi nhà nước CS – một loại Phong Kiến trá hình xuất hiện thì phong trào xây lăng tẩm đã “đội mồ sống dậy”. Từ thời Tần Thủy Hoàng đến thời Tào Tháo ngót 5 thế kỷ mới lại xuất hiện lăng tẩm thì giờ đây thời đại CS lăng tẩm nổi lên như nấm. Lenin, Stalin, Kim Il Sung, Mao, Hồ Chí Minh… vv đều là các bạo chúa khét tiếng và tất cả đều đã nằm trong lăng to mộ lớn.

Lăng tẩm được xem là một loại lâu đài cho người chết, nên những kẻ tham quyền, háo danh rất thích. Mà nói đến tham quyền và háo danh thì không ai bằng bạo chúa. Đến thành thây ma cũng “phải nằm trong lâu đài mới chịu” thì có thể nói đó là tột cùng của bệnh háo danh. Trí tuệ thì CS không có, đạo đức thì CS không có, tuy nhiên tính háo danh thì có thừa. Háo danh đến mức mà đến chết vẫn háo thì trong ĐCS nhiều như rươi. Và đó là lý do tại sao lăng tẩm cho quan chức mọc như nấm mưa: lăng Võ Nguyên Giáp, lăng Trần Đại Quang, và bây giờ là lăng của Phùng Quang Thanh rồi còn nữa và còn nữa… Để có những lăng mộ ấy, thì người dân Việt Nam phải làm bán mạng nhưng vẫn thiếu ăn.

Rồi đây lịch sử Việt Nam sẽ ghi lại thời CS là thời mà bệnh háo danh lên đến cực độ, bọn quan tham bòn rút tiền dân xây lăng to mộ khủng. Thời CS, thời đại mà thây ma biết cướp phần ăn hàng triệu người sống.

Loạn ngôn !

Loạn ngôn !

Lm. Anmai, CSsR

Còn nhớ Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Ephêsô:
“Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe. Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc. Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Ki-tô” (Ep 4,29-32)

Công – dung – ngôn – hạnh là những đức tính không chỉ dành cho nữ giới dẫu ta nghe nói có vẻ cho nữ giới. Thế nhưng rồi, khi đã làm người và nhất là là người thì bất cứ ai cũng thật cẩn trọng về phát ngôn của mình.

Lời phát ngôn của mỗi người, tùy vào vị trí của mình sẽ lan tỏa, sẽ ảnh hưởng đến tùy mức độ, tùy vị thế của người đó. Thế nhưng rồi, dù bất cứ một ai, khi phát ngôn sẽ làm ảnh hưởng đến những người nghe dù bất cứ người đó là ai.

Nhiều ngày tháng qua, ta thấy có những người loạn ngôn. Ta thấy những phát biểu, những câu từ của họ xem chừng là chướng tai gai mắt vì như họ nói mà không biết họ nói cái gì.

Những ngày gần đây, cộng đồng lại được nghe một người đem đạo Công Giáo ra để cười đùa với câu chuyện quá tục tằn về chuyện giải tội. Người nói cười hả hê đắc thắng như là đắc thắng với bao nhiêu chuyện mà người đó đã làm và sẽ làm.
Nhưng không, có thể đụng đến bất cứ ai nhưng đến tôn giáo là điều cấm kỵ. Loạn ngôn phát ra từ người này đã để lại biết bao nhiêu bức xúc, phẫn nộ trong cộng đồng. Dĩ nhiên chuyện bức xúc và phẫn nộ là bộc lộ tâm lý hết sức bình thường của người bình thường. Chỉ có những người nào đó khác thường mới có thể im lặng hay ủng hộ hay thỏa hiệp với cung cách loạn ngôn của con người đó.

Thế nhưng rồi, ta hãy hết sức bình tĩnh vì lẽ công mãi mãi vẫn là công và quạ mãi mãi vẫn là quạ.

Văn là người mà ! Từ xưa đến giờ ai ai cũng biết vậy để rồi khởi đi từ ngôn từ, từ giọng nói của ai đó ta có thể biết được tâm trạng, tâm tính và tính cách của người đó.
Ở đời ! Ai dám nói mình trong sạch, ai dám nói mình sạch tội để đi xét đoán và bươi móc người khác : “Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi”. (Ga 8, 7)
Và ta nên nhớ trong thư của Thánh Giacôbê tông đồ : “Chỉ có một Đấng ra Lề Luật và xét xử, đó là Đấng có quyền cứu thoát và tiêu diệt. Còn anh là ai mà dám xét đoán người thân cận?”

Với tất cả những điều đó, ta thấy chỉ có một mình Thiên Chúa là Đấng thấu suốt tâm can của con người mới có quyền xét xử con người mà thôi.

Tiếc thay nhiều người trong cuộc sống tự cho mình là có quyền trên người khác để xét xử, để moi móc, để thóa mạ người khác. Phải nói là thương cho thể loại người như vậy. Ta có thể nói họ là những người vô minh và nhất là không biết mình là ai.
Ngày nay, ở cái thời đại bùng nổ truyền thông, ta thấy mạnh người người nói, mạnh nhà nhà nói và họ không biết lời đó mang lại sự hiệp nhất yêu thương hay gây chia rẽ. Cứ thích là cho lên mạng những lời bất chấp để gây tổn thương cho người khác. Và tiếc thay là nhiều người khác không xem xét cũng như không cân nhắc mà hùa theo những loạn ngôn ấy.

Ta thấy một người nữ như đang gây sóng gió hay bão trên mạng. Bình tĩnh và hết sức bình tĩnh vì ta cũng chưa hiểu được những gì đàng sau lưng của người nữ đó. Có khi cũng là chiêu trò để kéo sức hút về mình để làm cho nhiều người quên đi mình là ai cũng như quên đi những điều cần thiết trong đời mình.

Hiện tại, giây phút này là giây phút mà ta cần nhìn lại mình, cần phải sám hối vì cái chết có thể đến với ta bất cứ điều gì.

Và với những loạn ngôn mà ta nghe được như là lời nhắc nhở ta để ta hết sức cẩn trọng khi nói ra bất cứ lời nào. Không cân nhắc, không suy nghĩ, không lựa lời thì ta cũng sẽ đi theo vết xe đổ của những loạn ngôn của con người đang cuồn cuộn như thế này.
Nên nhớ ở đời không ai thoát khỏi quy luật nhân quả. Thế thì những lời mình nói, những việc mình làm trước tiên phản tĩnh về con người của mình cũng như sẽ là những lời tự kết án mình.

Ta cũng chả cân phải đao to búa lớn, cũng chả cần phải thóa mạ những kẻ loạn ngôn. Những người đó không sớm thì muộn cũng phải lãnh tất cả những lời mình nói và những việc mình làm. Phần chúng ta, chuyện cần nhất đó chính là sự bình an trong tâm hồn.

Để được như thế, ta cần có sự bình an ngay trong tâm hồn của ta.
Ngày còn bé, Mẹ tôi vẫn dạy chúng tôi : “Ngậm máu phun người là dơ miệng mình”. Lời của Bà vẫn còn đó để tôi, chúng tôi không bao giờ nói ra những lời độc địa hay làm gì đó hại ai.

Cũng tương tự ý nghĩa lời dạy đó : “Bạn đừng lấy bùn ném vào người khác vì đôi khi không trúng người khác mà tay bạn đã bẩn”.

Vâng ! Với tất cả tâm tình, ta được mời gọi hãy chọn cung cách sống sao để được bình an. Tưởng nghĩ trước hết để được bình an đó là ta phải có tâm an và nhất là cái miệng cũng phải an. Nghĩa là ta xin Chúa cho ta đừng bao giờ thốt ra lời độc địa, thóa mạ hay mạt sát bất cứ ai.

Ngày đầu tháng 9 năm 2021

Lm. Anmai, CSsR
ảnh: trên mạng

NGƯỜI LÍNH MIỀN BẮC CÓ “ĐÁNH THUÊ” KHÔNG?

 Tôi Yêu Miền Nam

NGƯỜI LÍNH MIỀN BẮC CÓ “ĐÁNH THUÊ” KHÔNG?

Trần Trung Đạo

Các bạn trẻ tại Việt Nam nghe ba chữ “lính đánh thuê” từ khi mới tập đọc nhưng chắc không hiểu rõ định nghĩa quốc tế của ba chữ này.

Theo Nghị định thư (Protocol) 1977 được Liên Hiệp Quốc công bố ngày 8 tháng 6 năm 1977 để đính kèm theo Công Ước Geneva quy định các nguyên tắc hành xử trong một xung đột võ trang ra đời năm 1949, những điểm căn bản định nghĩa lính đánh thuê (mercenary) gồm (1) không thuộc quân đội chính thức của chính phủ, (2) được tuyển dụng tại địa phương hay nước ngoài để tham gia một cuộc xung đột võ trang chỉ vì ước muốn riêng tư và được hứa đền bù cao hơn một người lính cùng cấp trong lực lượng võ trang của chính phủ mướn người đó, (3) không phải thành viên hay đang cư ngụ trên lãnh thổ được kiểm soát bởi chính phủ.

Theo định nghĩa trong Nghị định thư 1977, người lính miền Nam không đánh thuê cho ai cả mà chỉ chiến đấu trong một cuộc chiến tranh tự vệ trên mảnh đất mà chính họ chọn làm quê hương và nhiều trong số họ đã chết trên mảnh đất đó.

Nếu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa là lính đánh thuê cho Mỹ vì Mỹ trang bị vũ khí, tài trợ là không đúng với các định nghĩa quốc tế cũng như thực tế chiến tranh.

Trong Thế chiến Thứ hai, phần lớn trong khoảng 60 quốc gia trực tiếp hay gián tiếp đứng về phía đồng minh, trong đó có Liên Sô và đã nhận vũ khí của Mỹ qua đạo luật Lend-Lease Act nhưng không ai gọi họ là “lính đánh thuê” vì họ có kẻ đối đầu chung là Khối trục. Tương tự, từ khi bắt đầu cuộc chiến cho đến khi Hiệp định Paris ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, quyền lợi và mục đích chiến lược của Mỹ và VNCH giống nhau là ngăn chận làn sóng CS tràn xuống phía Nam Việt Nam. Sau khi Mỹ thay đổi trục chiến lược bằng việc thỏa hiệp với Trung Cộng, VNCH phải chiến đấu trong cô đơn và cô thế.

Nói rộng hơn, ngoại trừ các hoạt động gián điệp mà bất cứ cuộc chiến tranh lớn nào cũng có, Việt Nam Cộng Hòa không chủ trương đánh chiếm miền Bắc. Nếu CS miền Bắc, tính luôn các thành phần CS cài lại ở miền Nam sau 1954, để yên cho miền Nam ổn định và phát triển về mọi lãnh vực thì đã không có gì xảy ra.

Nếu áp đụng Nghị định thư 1977 trong Công Ước Geneva 1949, câu hỏi “Người lính miền Bắc có đánh thuê không?” lại có vẻ thích hợp hơn và đáng phân tích hơn.

Những người lính miền Bắc thỏa mãn các điều kiện căn bản của định nghĩa “lính đánh thuê” vì (1) “không thuộc quân đội chính thức” mà là các thành phần khủng bố, xâm lược, được lén lút đưa vào Việt Nam Cộng Hòa từ một quốc gia khác, trong trường hợp này là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), (2) vô thừa nhận, đảng CSVN có một thời không thừa nhận những thanh niên nói giọng Hà Nội, Nghệ An, Hà Tỉnh, Cao Bằng v.v.. bị quân đội VNCH bắt được là từ miền Bắc mà cho họ là “nhân dân miền Nam tự đứng dậy”, (3) chỉ phục vụ cho quyền lợi của những kẻ trả lương và cung cấp vũ khí trong đó gồm đảng CSVN, Liên Sô và Trung Cộng.

Không chỉ rút ra từ Công ước Geneva mà từ cấp cao nhất của đảng CSVN cho đến cấp cao nhất của nhà nước VNDCCH đều thừa nhận “lính miền bắc là lính đánh thuê”.

Lấy các phát biểu của Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Nguyễn Mạnh Cầm để chứng minh.

Về phía đảng, Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng CSVN thừa nhận quân đội CSVN là quân đội đánh thuê.

Nhân dịp “40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam”, Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ trưởng Ngoại Giao CSVN, khi trả lời phóng viên Tuần Việt Nam đã nhắc lại câu nói của Lê Duẩn: “Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!”.

Để công bằng và trung thực cho câu nói của Lê Duẩn, xin lưu ý, một số tài liệu khi viết lại đã cố tình bỏ chữ “cả” để vạch ra bộ mặt đánh thuê của CSVN là “đánh cho Trung Quốc và Liên Sô”. Thật ra, trong câu đó có chữ “cả” nữa, nhưng “cả” gồm những ai, xin đọc tiếp.

Câu trả lời của Lê Duẩn có thể phân tích đầy đủ hơn gồm “cho ta”, “cho Trung Quốc” và “cho Liên Sô”:

(1) Quân đội CS miền Bắc “đánh cho ta” nhằm CS hóa toàn cõi Việt Nam. Nếu theo dõi dòng lịch sử đảng CS từ thập niên 1920 khi Hồ Chí Minh nước mắt chảy dài đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lenin viết ngày 5 tháng 6, 1920 cho đến hôm nay rồi đem so sánh giữa thực tế đất nước qua cách sống như vua chúa của tập đoàn cai trị CS bên cạnh những mái tranh nghèo của hơn 90 triệu dân còn lại, sẽ thấy “ta” trong câu của Lê Duẩn là đảng CSVN chứ không phải toàn dân Việt Nam.

(2) Quân đội CS miền Bắc đánh thuê cho Trung Cộng để bảo vệ vùng an toàn phía nam quan trọng của Trung Quốc và cửa ngõ ra Biển Đông. Chính sách bành trướng nhanh chóng của Tập Cận Bình ngày nay một phần do quan điểm Trung Quốc và Việt Nam như anh với em, như môi với răng, như nước với sữa mà CSVN đã lặp đi lặp lại từ lâu.

Nếu CSVN biết cứng rắn như Philippines hay kiên quyết như Bắc Hàn thì dù không chận đứng hẳn ít ra đã làm họ Tập chậm chân chứ không có những căn cứ, những phi trường quân sự trên đảo Chữ Thập của Việt Nam như ngày nay.

(3) Quân đội CS miền Bắc đánh thuê cho Liên Sô để giảm áp lực của Mỹ bằng một mặt trận nóng trong Chiến Tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Sô. Giới lãnh đạo CS Liên Sô biết không sớm thì muộn Liên Sô sẽ nguy khốn nếu không làm chậm cuộc chạy đua võ trang với Mỹ.

Về phía chính phủ CS, Phạm Văn Đồng, thủ tướng CSVN, cũng thừa nhận quân đội CS đánh thuê cho Trung Cộng.

Đoạn đối thoại dưới đây giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng trích trong tác phẩm On China của Henry Kissinger. Chu Ân Lai nói với Phạm Văn Đồng: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam.” Phạm Văn Đồng cam kết: “Chúng tôi càng quyết tâm để đánh bại đế quốc Mỹ bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam.” Chu Ân Lai thỏa mãn: “Đó chính là lý do chúng tôi ủng hộ các đồng chí.”

Như vậy, cả đại diện cho đảng và nhà nước CS đều thừa nhận những người lính từ Bắc Việt và các thành phần cài lại ở miền Nam đều là lính đánh thuê, đúng theo tinh thần của Công ước Geneva 1949.

Quan điểm Mao Trạch Đông về chiến tranh tại Việt Nam phù hợp với cách giải thích của Lê Duẩn. Theo đó, giống như trong chiến tranh Triều Tiên, là tạo một vùng độn trong biên giới phía nam Trung Quốc. Để thực hiện chủ trương này, Trung Cộng đã chi dụng gần như hầu hết võ khí, đạn được cho CSVN. Trung Cộng là mẹ đỡ đầu của các chính sách và chiến lược chiến tranh của đảng CSVN từ 1949 đến 1954.

Giai đoạn đầu của chiến tranh, Mao chỉ muốn miền Bắc là phên giậu và thỏa mãn sau khi đạt được mục đích đó.

Theo nghiên cứu của Chen Jian trong China’s Involvement in the Vietnam War, 1964-69, Bành Đức Hoài, 24 tháng 12, 1955 thông báo cho Võ Nguyên Giáp biết các đoàn cố vấn quân sự Trung Cộng sẽ rút về nước hết vào tháng 3, 1956. Tuy nhiên khi chiến tranh leo thang, Trung Cộng cảm thấy vùng an toàn phía nam lần nữa bị đe dọa nên đổi ý và gia tăng viện trợ cho CSVN cho đến khi chấm dứt chiến tranh.

Quan điểm Liên Sô về chiến tranh Việt Nam xác định chủ trương mướn người Việt đánh người Mỹ.

Mặc dù trước đó tỏ ra lạnh nhạt trong nhưng khi cuộc chiến leo thang, Liên Sô từng bước trở thành phe có lợi trong chiến tranh tại Việt Nam. Liên Sô vượt qua cả Trung Cộng trong việc cung cấp vũ khí, viện trợ kinh tế và các phương tiện tuyên truyền cho CSVN. Để làm gì? Ngày nay các tài liệu cho thấy, Liên Sô muốn (1) dùng người Việt để đánh Mỹ, (2) cố gắng nhận chìm bộ máy quân sự của Mỹ, (3) cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Cộng trong các nước thuộc phe “xã hội chủ nghĩa”, và (4) quan trọng nhất là giảm ưu thế của Mỹ trong cuộc chạy đua vũ trang.

Tóm lại, quan điểm của Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Trung Cộng và Liên Sô về lý luận lẫn thực tế đều giống nhau.

Nhưng nếu đem câu “người lính miền bắc có đánh thuê hay không?” để hỏi một cựu cán binh CS đã từng chiến đấu ở miền Nam trước 1975, chắc chúng ta sẽ nhận câu trả lời “không phải.”

Nếu ai đó tiến bộ về nhận thức chính trị thì nhiều lắm chỉ thừa nhận họ bị gạt, bị lừa nhưng vẫn cho khẩu hiệu “đánh bại chính sách thực dân mới của đế quốc Mỹ” là đúng và “thống nhất đất nước” là tình cảm tự nhiên. Tuy nhiên, cho tới nay, chắc không bao nhiêu người hiểu “chủ nghĩa thực dân mới” là gì và tình cảm “thống nhất đất nước” kia từ đâu mà có.

Một số khác cũng trả lời “không”, không có nghĩa là họ không thấy, không biết, không nhận ra sự thật sau nhiều nghìn đêm mất ngủ, nhưng chỉ vì không đủ can đảm để từ chối một phần đời trai trẻ của mình và nhất là mất đi những gì họ đang có hôm nay.

Trần Trung Đạo

Câu chuyện hôn nhân của con gái tôi

Le Tu Ngoc

Dưới đây là câu chuyện của một bác đã về hưu, đăng trên một diễn dàn mạng Internet;

Câu chuyện viết về con gái út của bác; một câu chuyện buồn nhưng có hậu. Hy vọng câu chuyện này có ích cho nhiều người có hoàn cảnh tương tự như gia đình của bác ấy.

***

Câu chuyện hôn nhân của con gái tôi

Khi biết tin chồng sắp cưới của mình nghiện ma tuý, con gái tôi suy sụp tinh thần mà có lúc tưởng rằng sẽ hoá điên. Vậy mà gần một năm sau cháu vẫn kiên quyết đi tới hôn nhân. Và ông trời đã không phụ lòng của cháu…

Đấy là câu chuyện về đứa con gái út của chúng tôi. Cháu là một cô gái duyên dáng, học giỏi và rất hiền thảo. Vợ chồng tôi rất tự hào về cháu và tin tưởng cháu.

Vào năm cuối cùng của đại học, cháu đưa về nhà một chàng trai và giới thiệu với gia đình đấy là người yêu cháu. Gia đình tôi có cảm tình ngay với chàng trai đó. Đấy là một chàng trai khôi ngô và thông minh, đã tốt nghiệp đại học và có công việc ổn định với mức thu nhập khá cao.

Sau khi con gái tôi tốt nghiệp đại học, gia đình chàng trai đặt vấn đề làm lễ thành hôn cho hai cháu. Chúng tôi thấy các cháu đã trưởng thành, nghiêm túc đi đến hôn nhân và quan trọng là cả hai cháu đều đã có công ăn việc làm, nên gia đình rất ủng hộ.

Nhưng cuộc đời thật lắm chuyện éo le. Ba tháng trước khi cưới, con gái tôi đã phát hiện chồng chưa cưới của mình nghiện ma tuý. Có lẽ đây là nỗi đau đớn nhất mà con gái tôi phải gánh chịu trong cuộc đời cháu. Cháu hoàn toàn gục ngã, mất ngủ và sút cân. Đêm nào cháu cũng âm thầm khóc một mình.

Vợ chồng tôi tìm mọi cách để an ủi và khuyên nhủ cháu. Chúng tôi thống nhất khuyên cháu hủy bỏ cuộc hôn nhân này. Tôi đã đến gặp gia đình chàng trai và nói rõ sự thật. Bố mẹ chàng trai vô cùng đau khổ nhưng cũng nhất trí với quyết định này. Họ cũng hiểu rằng con trai họ không còn xứng đáng với con gái tôi.

Bố mẹ chàng trai cũng đã nói chuyện với con gái tôi. Họ động viên cháu quên đi nỗi đau đớn đó và khuyên cháu chấm dứt quan hệ với con trai họ. Vợ chồng tôi cũng hy vọng thời gian sẽ làm cho con gái tôi bớt đi đau đớn về người yêu của mình với cuộc hôn nhân không thành.

Nhưng một điều khó tưởng tượng đã xảy ra. Đó là việc con gái tôi vẫn quyết định đi đến hôn nhân với người yêu của mình. Nghe tin ấy, vợ chồng tôi thực sự bàng hoàng. Người đau đớn và suy sụp lúc đó lại không phải con gái tôi mà chính là vợ tôi. Vợ tôi đã khóc nhiều ngày và nói với con gái tôi nếu nó cứ quyết định lấy chàng trai nghiện ma tuý kia thì vợ tôi sẽ quyên sinh.

Tôi thực sự lo sợ. Tôi đã nói chuyện với con gái tôi nhiều lần. Lần nào con gái tôi cũng nói với tôi là cháu vô cùng yêu thương chàng trai kia. Cháu nói với tôi nếu cháu bỏ chàng trai thì chàng trai sẽ chết. Cháu cần phải giúp người yêu mình đứng dậy. Lúc đầu, cháu cũng có ý định cắt đứt quan hệ với chàng trai. Nhưng vì tình yêu và có lẽ lúc đó là tình thương vô hạn đối với người yêu của mình mà cháu đi đến một quyết định mà vợ chồng tôi, bố mẹ chàng trai và chính chàng trai không thể nào ngờ tới.

Vợ chồng tôi, đặc biệt là vợ tôi đã tìm mọi cách ngăn cản cuộc hôn nhân này. Tôi hiểu và thông cảm với vợ tôi, vì chẳng người mẹ nào lại có thể đứng nhìn con gái mình đi đến tương lai với một con người nghiện ngập như thế. Vợ tôi đến nhà chàng trai và xin gia đình chàng trai hãy khuyên bảo con trai họ tha cho con gái chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã hoàn toàn “thất bại” trong việc ngăn cản cuộc hôn nhân của con gái tôi.

Tôi chưa bao giờ thấy con gái tôi lại quyết tâm đi đến hôn nhân của mình như vậy. Khi biết tin chồng chưa cưới của mình nghiện ma tuý, con gái tôi đã suy sụp tinh thần mà có lúc tôi lo sợ con gái tôi có thể hóa điên. Nhưng sau này, tôi lại không thể tưởng tượng nổi con gái tôi lại quyết tâm và bình tĩnh đến như vậy. Trong lúc đó, chính chàng trai kia lại tìm mọi cách chối từ tình yêu của con gái tôi với nỗi đau khổ và ân hận.

Nhưng chuyện gì phải đến vẫn cứ đến. Một năm sau đó, gia đình tôi không còn cách nào là phải chấp nhận cuộc hôn nhân của con gái tôi. Những ngày trước khi cưới, tôi không thể nào hiểu được con gái tôi. Cháu rất hạnh phúc. Cháu chuẩn bị cho đám cưới của mình một cách vui vẻ và hồ hởi tưởng như không hề có chuyện gì xảy ra. Mặc dù lúc đó, lòng tôi hoang mang và buồn vô cùng. Đặc biệt là vợ tôi. Bà ấy phải chấp nhận cuộc hôn nhân này của con gái mình nhưng bà ấy sống như một người mất hồn.

Vợ tôi không bao giờ tin chàng trai có thể từ bỏ được ma tuý. Tôi an ủi vợ tôimặc dùtrong lòng tôikhông hề tin. Tôi nghĩ đến một ngày cuộc hôn nhân của con gái tôi sẽ tan vỡ. Tôi nghĩ con gái tôi quyết định đi đến hôn nhân với chàng trai kia vì sự bồng bột và bất cần trong tình yêu của những người còn quá trẻ.

Cuối cùng đám cưới của con gái tôi cũng đến. Tôi vui hơn một chút vì thấy con gái tôi rất hạnh phúc. Không một ai nhận thấy trên gương mặt của con gái tôi một chút ưu phiền hay buồn bã. Ai đến dự đám cưới cũng thấy cháu vô cùng hạnh phúc.

Cưới xong, vợ chồng con gái tôi thuê một căn hộ ở riêng. Chúng tôi lo lắng từng ngày đời sống vợ chồng của con gái mình. Cứ hai ngày vợ chồng tôi lại đến thăm con gái tôi. Nhưng chẳng khi nào chúng tôi thấy một chút suy tư hay buồn chán trên gương mặt cháu.

Quả thực tôi không làm sao hiểu được tình yêu của con gái tôi và người con rể “bất đắc dĩ” kia. Vợ tôi chẳng hề thay đổi thái độ với con rể của mình. Bà ấy không cả chào lại khi người con rể đến thăm chúng tôi. Thi thoảng vợ tôi lại tỉnh giấc trong đêm và ngồi khóc trên giường.

Thời gian cứ lặng lẽ trôi qua. Tôi phải thú thực là trong lòng tôi có nhiều lúc chờ đợi con gái tôi về nhà vàtrên tay làquyết định ly hôn. Tôi rất khó tin một người đã nghiện ma tuý như thế mà bỏ được. Vì thực tế có những người nghiện mà tôi biết không làm sao dứt ra được mặc dù gia đình và xã hội tìm mọi phương pháp để giúp đỡ họ cai nghiện.

Sau ba năm chung sống, con gái tôi vẫn chưa có con. Vợ tôi uất ức nói “nghiện như thế thì làm sao mà sinh con được” và bà ấy cầu mong chúng nó cũng đừng có con.

Thế rồi một ngày, vợ chồng con gái tôi có mời bố mẹ hai bên đến ăn cơm để thưa với gia đình hai bên một câu chuyện quan trọng. Vợ tôi đoán rằng có thể đây là bữa cơm để chúng nó nói lời chia tay. Lòng tôi lúc ấy rối bời. Tôi nửa không muốn con gái tôi phải đứt gánh giữa đường, nửa lại muốn con gái mình rời bỏ người chồng nghiện ngập.

Nhưng thật bất ngờ đó lại là một bữa cơm mà cả hai vợ chồng nó và bố mẹ hai bên đều rất hạnh phúc. Sau bữa cơm, con gái tôi đứng lên thưa chuyện chồng của cháu đã cai nghiện được hơn một năm nay và hoàn toàn không quay lại với ma tuý nữa. Bây giờ chúng nó chuẩn bị cho kế hoạch sinh con. Tất cả chúng tôi sững sờ. Chúng tôi đã khóc vì sung sướng.

Bây giờ cháu ngoại chúng tôi đã đến tuổi cắp sách đến trường. Cho đến lúc này chúng tôi mới hoàn toàn tin tưởng chắc chắn thằng “con rể bất đắc dĩ” ấy không bao giờ có thể mắc nghiện lại nữa.

Chúng tôi hỏi làm thế nào để chồng cháu có thể dứt bỏ hoàn toàn ma tuý. Nghe hỏi cháu chỉ cười. Nhưng chồng cháu đã kể cho chúng tôi tất cả những năm tháng con gái chúng tôi giúp chồng cai nghiện như thế nào.

Đôi vợ chồng trẻ này đã sống trong nước mắt biết bao ngày tháng và trong vật vã đau đớn. Nhưng con gái tôi đã mang hết tình yêu thương và lòng can đảm để giúp người bạn đời của mình vượt qua thách thức vô cùng khó khăn. Con rể tôi nói nếu không có tình yêu thương chân thành và mãnh liệt của con gái tôi thì cháu cũng khó lòng vượt qua được.

Đỗ Văn Th.

#gota #gotacoffee