Bài diễn văn chỉ vỏn vẹn 375 chữ của luật sư George Graham Vest

Võ Hồng Ly

10.10.2021

Bài từ trang nhà báo Chu Vĩnh Hải:

Năm 1870, luật sư George Graham Vest (1830-1904) nhận bảo vệ cho một người thợ săn kiện người chăn cừu đã giết chết con chó của mình. Bằng những lời ngợi ca con chó, ông đã thuyết phục được toàn thể hội thẩm đoàn và thân chủ của ông đã thắng kiện.

Bài diễn văn được lưu hành trong văn học Mỹ với cái tên “A Tribute to the Dog” và được tờ New York Times bình chọn là bài diễn văn hay nhất trong tất cả những bài diễn văn trên thế giới trong 1000 năm qua. Thậm chí trước trụ sở tòa án tại Warrensburg, bang Missouri, người ta đã dựng tượng đài một con chó kèm theo “A Tribute to the Dog” để đánh dấu sự kiện lịch sử này.

Dưới đây là bài bảo vệ thân chủ chỉ vỏn vẹn 375 chữ của luật sư George Graham Vest:

“Thưa hội thẩm đoàn,

Người bạn tốt nhất mà ta có được trên đời này có thể quay lưng chống lại ta và biến thành kẻ thù của ta.

Con cái mà ta hằng yêu thương chăm sóc có thể trở thành những đứa vô ơn bạc nghĩa.

Những người gần gũi và thân thiết với ta nhất, những người mà ta tin tưởng đem giao phó hạnh phúc và danh dự của mình, một ngày nào đó có thể trở thành những kẻ phản bội.

Tiền bạc mà ta có được có thể sẽ mất đi, mất ngay vào lúc ta cần nó nhất. Danh tiếng của con người có thể tiêu tan trong khoảnh khắc vì một hành vi nông nổi. Những kẻ từng quỳ gối tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể trở thành những kẻ đầu tiên ném vào ta hòn đá hiểm độc khi bóng mây sa cơ lỡ vận phủ xuống đầu ta.

Trên thế gian vụ lợi ích kỷ này, con người chỉ có thể có được một người bạn vô tư không điều kiện, một người bạn không bao giờ rời bỏ ta, không bao giờ vô ơn bạc nghĩa, không bao giờ phản bội, đó là con chó của ta.

Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta, dù ta giàu sang hay ta nghèo khó, dù ta khỏe mạnh hay ta ốm đau bệnh tật. Nó ngủ dưới nền đất lạnh, bất chấp giá rét mùa đông hay bão tuyết, miễn sao được ở gần ta. Nó vẫn hôn vào bàn tay ta dù ta không còn thức ăn gì cho nó.

Nó liếm vào những vết thương và những chỗ ta đau đớn khi va chạm với sự tàn bạo của cuộc đời. Nó canh giấc ngủ cho ta khi ta là kẻ cùng khốn cũng giống như khi ta là một ông hoàng.

Khi tất cả bạn bè đều rời xa ta, riêng con chó thì ở lại. Khi ta mất hết của cải, thân bại danh liệt, thì tình yêu thủy chung của con chó đối với ta vẫn ngời sáng như ánh mặt trời xuyên thấu chín tầng mây.

Nếu chẳng may ta bị cuộc đời ruồng bỏ, rơi vào cảnh không bạn bè không nhà cửa, thì đối với con chó trung thành, không có một đặc ân nào cao hơn là được ở bên cạnh ta, để bảo vệ ta chống lại những hiểm nguy, chống lại kẻ thù.

Và đến lúc cuộc đời ta kết thúc, thần chết rước ta đi và thân xác ta nằm dưới lòng đất lạnh, khi người thân bạn bè đưa tiễn đã quay về để tiếp tục bận rộn với cuộc sống của họ, thì con chó cao quý vẫn còn nằm bên nấm mồ ta, đầu gục xuống giữa hai chân, đôi mắt đau buồn nhưng vẫn mở to cảnh giác, trung thành và chân thực ngay cả khi ta đã chết.”

______

Nguồn: nhà báo Phương Nam./.

Vô sản thời Covid

Vô sản thời Covid

Bởi  AdminTD

Lâm Bình Duy Nhiên

10-10-2021

Câu chuyện của anh Phạm Văn Hùng cùng vợ và 15 con chó “tháo chạy” từ Long An về quê Cà Mau, đã mang lại sự cảm động nơi nhiều người.

Nhưng điều khiến chúng ta căm phẫn chính là đàn chó của vợ chồng anh đã bị cơ quan chức năng “thủ tiêu” vì lý do chúng bị “dương tính bởi một loại virus nào đó“!

Ai tin vào khả năng và kiến thức của các nhân viên y tế cấp xã, cấp huyện hay cấp tỉnh này?

Từ giết thú đến sát hại con người, con đường tội lỗi chẳng bao xa…

Dẫu sự thật ra sao thì đó cũng là một hành động tàn nhẫn của một chính quyền tàn bạo, từ mọi cấp độ, trong cách hành xử và đối phó với nguy hiểm.

Người dân nghèo khó vì cách phòng chống dịch của chính quyền nên tìm đường bỏ về quê. Gia tài họ vỏn vẹn gói trọn trong những gói đồ hay những con vật thân thương. Tất cả cũng chẳng còn gì sau muôn vàn khó khăn, vất vả!

Giãn cách, phong tỏa nghiêm ngặt nhưng không hề đưa ra một giải pháp nhân văn nào để trợ giúp người dân, nhất là giới lao động nghèo và các hãng xưởng. Bỏ mặt họ trong túng quẫn, đói khổ và căng thẳng về tâm lý chỉ nhằm chống dịch sao cho “hiệu quả” để lấy tiếng với cộng đồng quốc tế. Rất nhiều điều phi lý và nực cười trong những quyết định và chỉ thị phòng chống dịch của nhà nước. Chính quyền dường như không muốn nhìn thấy những bài học của thế giới sau hơn một năm bị Covid hoành hành!

Khi người dân chưa được tiêm vắc-xin một cách kịp thời và chỉ nhận được đôi bao mì gói, ít chai nước tương, nước mắm hay vài ký gạo để “đồng lòng chống dịch” thì những kẻ giàu có, quyền thế vẫn được ưu tiên chăm lo và tiếp tục sống trong nhung lụa. Đó chính là tột đỉnh của sự bất công!

Tựu trung chỉ có dân nghèo đã phải trả giá quá đắt cho cách chống dịch cực đoan, bảo thủ và tàn nhẫn của chế độ.

Giai cấp lao động, vô sản đã góp phần xương máu để giúp người cộng sản nắm quyền. Họ vẫn là con cờ của chế độ trong sự tuyên truyền giáo điều về “sứ mệnh và vai trò lịch sử” của họ trong “công cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản”.

Thực tế thì họ đã bị bỏ mặc vào lãng quên bởi kẻ cầm quyền. “Sống chết mặc bay”, giới cầm quyền tha hồ làm giàu trên mồ hôi và nước mắt của người nghèo! “Cuộc cách mạng vô sản” đã tạo nên một giai cấp tư sản khác, tàn nhẫn hơn, bóc lột hơn, đó chính là “giai cấp tư sản – mafia đỏ”. Những nhóm lợi ích, quan chức và thân đảng, tha hồ làm giàu một cách bất chính. Chính họ đã gây nên sự bất công giữa các tầng lớp trong xã hội. Thao túng quyền lực, kinh tế và tài chính nhằm làm giàu cho cá nhân, gia đình, tập đoàn và cho đảng mới chính là “sứ mệnh lịch sử” của giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Một cuộc cách mạng đẫm máu và dối trá mà nạn nhân chỉ là người nghèo, thấp cổ bé họng.

Vô sản muôn đời vẫn “vô sản”! Khốn nạn thay!

Covid 19 đã phơi bày, một lần nữa, bản chất thật, thú tính của chính quyền.

Tại Nó Chớ Ai 

Tại Nó Chớ Ai 

Tưởng Năng Tiến

 Có lẽ không người ngoại quốc nào đã để lại ấn tượng sâu đậm nơi nước Việt, như bác Lê Nin. Chỉ riêng bức tượng của Người tại Hà Nội (thôi) cũng đủ khiến cho lắm người thắc mắc: Ông Lênin ở nước Nga/ Cớ sao ông đến vườn hoa nước này?

Cớ sao ư? Báo Nhân Dân, số ra ngày 23 tháng 04 năm 2010, nêu rõ: “Sự gặp gỡ của Nguyễn Ái Quốc với chủ nghĩa Lê-nin là một cuộc gặp lịch sử… Chủ tịch Hồ Chí Minh hồi tưởng: Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên.”

Sau đó, sau khi “phát khóc” và lau nước mắt/nước mũi xong, bác Hồ liền thỉnh ngay bác Lê về thờ nên mới có Suối Lê Nin (với Núi Các Mác) cùng hình ảnh – cũng như tượng đài – của cả hai ông trưng bầy khắp mọi nơi, để lập ra một tôn giáo mới, thay thế cho Phật/Chúa/Thánh Thần/Ông Bà/Tiên Tổ … các thứ.

Ngoài Lenin và Karl Marx, bác Hồ còn “nhập khẩu” nhiều vỹ nhân khác nữa (Engels, Stalin, Mao Zedong …) và tất cả đều được “mạ đồng/mạ kền” sáng chói khiến không ít người dân Việt đã hết lòng sùng kính:  

 “Năm ấy anh mười tám tuổi. Cả làng đói lăn chiêng. Ai cũng lo đi kiếm miếng ăn hàng ngày. Thế mà bỗng nhiên anh đi biền biệt suốt nửa tháng trời, đêm không ngủ ở nhà. Thỉnh thoảng anh mới về nhà lấy cái quần cái áo, rồi lại đi ngay…

Có một lần nhà vắng người, anh rút trong người ra một cuốn sổ to bằng bàn tay, dày chừng một trăm trang, rồi bảo tôi ngồi ngay ngắn trên ghế đẩu, đưa cuốn sổ cho tôi xem. Anh không cho tôi sờ tay vào, mà tự tay anh giở từng trang.

Tôi hồi hộp dán mắt vào: Chà, thích quá, toàn ảnh, trang nào cũng dán vài tấm ảnh. Những tấm ảnh thiêng liêng: Các Mác, Ăng- ghen, Lê-nin, Mao Trạch Đông, Sta-lin … (Võ Văn Trực. Cọng Rêu Dưới Đáy Ao. NXB Hội Nhà Văn: Hà Nội, 2007. Bản điện tử do talawas thực hiện).

Cái đám “cầm lái vỹ đại” này chỉ hết “thiêng liêng” sau khi bào huynh của tác giả – Võ Quang Hiền – tham gia vào Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất (1953 – 1956) ngay tại làng quê của mình. Từ đó, ông “tự diễn biến/tự chuyển hóa” rất nhiều và cũng rất nhanh:

 “Con đường tham gia công tác xã hội của anh xuống từng nấc thang: sĩ quan quân đội, cải cách ruộng đất, cán bộ thông tin xóm, Đảng viên trơn… và cuối cùng là phó thường dân! Tưởng là ‘dứt bỏ đường công danh’, vui thú điền viên tham gia việc làng việc xóm cho vui, đến bây giờ anh mới nhận thức ra rằng việc làng việc xóm cũng là việc xã hội, mà làm ‘việc xã hội’ là thế nào cũng bị va chạm, xô xát.

Anh hoàn toàn dành thì giờ lo việc gia đình nhưng vẫn bị Đảng uỷ để ý, cho là ‘phần tử bất mãn’, là ‘cố ý chống đối’… Thì ra cái ‘cọng rêu dưới đáy ao’ mà anh tưởng là ‘yên thân’ như các nhà nho ngày trước, có ngờ đâu cái cọng rêu ấy trong thời buổi này cũng phải đối mặt với mọi biến động của xã hội…”

Chung cuộc, kẻ “bất mãn” và “cố ý chống đối” bị các đồng chí của mình … “hành” cho đến chết luôn:

“Tôi đặt lên ngôi mộ tấm ảnh của anh – không phải tấm ảnh gày gò của ông lão sáu mươi, mà là tấm ảnh người thanh niên cường tráng những năm tháng hào hùng ở Việt Bắc: mặc áo trấn thủ, đội mũ lưới đính quân hiệu. Hàng trăm cặp mắt chăm chăm nhìn vào tấm ảnh, chợt thức dậy trong tiềm thức của họ những kỷ niệm về anh và về làng xóm thuở Cách mạng sơ khai.”

Nhà văn Võ Văn Trực quả là khéo nói (hay khéo lách) chớ cách mạng thì bao giờ mà chả thế – bất kể “sơ khai” hoặc “thoái trào” – và lúc nào mà không “chuyên chính” với những kẻ đi trật đường ray Cộng Sản.

Vi Đức Hồi – nguyên trưởng ban tuyên giáo, giám đốc trường đảng, thường vụ huyện ủy huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn – là một nạn nhân tiêu biểu của Đảng và Nhà Nước VN, vào giai đoạn “thoái trào” này. Tuy thuộc thế hệ đến sau nhưng ông vẫn trưởng thành với niềm tin (hừng hực) không khác chi lớp tiên phong.

Hồi ký (Đối Mặt) của ông ghi lại không ít những câu chữ “sung sướng” đến ngất ngây:

“Khi tôi đọc cương lĩnh đầu tiên của đảng năm 1930, tôi thật sung sướng vì đảng chỉ ra rằng: Khi cách mạng giải phóng dân tộc thành công, đảng đưa cả nước ta tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Xã hội mà đảng hướng tới là một xã hội đỉnh cao của sự văn minh nhân loại, ở đó sẽ không còn chế độ người bóc lột người, mọi người sống với nhau bình đẳng bác ái, nhà nước là của dân, do dân và vì dân…”

Nội dung Cương Lĩnh Đầu Tiên của Đảng (ta) e chỉ là bản copy Luận Cương Của Lenin thôi chớ không có chi khác cả, ngoài vài chỗ ngắt câu, và mấy dấu chấm phẩy. Bởi thế nên Vi Đức Hồi không “sung sướng” được luôn, và cũng chả được lâu. Những trang sau trong cuốn hồi ký Đối Mặt, không thiếu những cụm từ vô cùng cay đắng: “đảng nói không biết ngượng, đảng nói một đàng làm một nẻo, đảng nói như hát hay…”

Mỗi lúc ông một thêm xa lánh Đảng, rồi trở nên “đối mặt” với nó, và bị khai trừ. Sau đó – cũng như ông Võ Quang Hiền, hồi giữa thế kỷ trước – Vi Đức Hồi cũng quyết định biến mình thành một “cọng rêu dưới đáy ao,” nơi làng quê khốn khó của mình:

 “Quê tôi, một trong những Xã nghèo nhất Nước ta, là một trong 9 Xã của Tỉnh Lạng sơn và là một trong hai Xã duy nhất của Huyện Hữu lũng chưa có bóng dáng điện lưới quốc gia; là Xã vùng sâu,vùng xa, Xã đặc biệt khó khăn …

Tôi mua được một chục cặp lợn con, giúp cho 10 hộ nghèo nhất ở làng tôi để họ chăn nuôi, khi nào lợn xuất chuồng bán thì hoàn trả gốc cho tôi, để tôi chuyển cho hộ khác. Nhiều người phấn khởi, nhận lợn và cảm ơn.

Tin này Xã báo cáo Huyện… Thường trực Huyện uỷ triệu tập cuộc họp cán bộ chủ chốt ở xã Tân lập (quê tôi) để nghe cơ sở báo cáo tình hình. Huyện uỷ quán triệt: đây là một trong những âm mưu rất nguy hiểm của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, hơn lúc nào hết, chúng ta phải nêu cao cảnh giác cách mạng, chặn đứng mọi hành động nhằm lôi kéo quần chúng nhân dân, gây mất ổn định an ninh chính trị…”

Thế là thay vì trở thành một cọng rêu để có thể được nằm yên dưới đáy ao, Vi Đức Hồi phải nằm trong lòng nhà tù cách mạng.

Câu chuyện của các bác Mác/Lê qua hai thế hệ người Việt thượng dẫn (tưởng) cũng đã đủ ê chề nhưng chưa hết. Cuối tháng 9 năm 2021, báo đài Nhà Nước đều đồng loạt và hớn hở loan tin:

Con cái nhà ai mà quá đã (và quá đáng) vậy, Trời? Thiệt là vô phúc. Cũng tại NÓ hết trơn chớ còn ai vô đây nữa!

Tưởng Năng Tiến
10/2021

KHÔNG HIỂU, CŨNG KHÔNG DÁM HỎI

 KHÔNG HIỂU, CŨNG KHÔNG DÁM HỎI

“Con Người sẽ phải bị nộp vào tay người đời!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, khi Chúa Giêsu tiết lộ lần thứ hai cuộc thương khó của Ngài, “Con Người sẽ phải bị nộp vào tay người đời!”; thánh Luca cho biết, “Các môn đệ không hiểu lời đó, vì nó còn bị che khuất”. Và thật thú vị, các ông ‘không hiểu, cũng không dám hỏi’ Ngài về lời ấy!

Nếu Chúa Giêsu nói, ‘Ngày mai Thầy sẽ đăng quang, làm vua’; các môn đệ sẽ hiểu ngay! Vậy tại sao ở đây họ không hiểu? Trước hết, vì lòng trí họ đang bận tâm về lợi lộc trần thế; điều Chúa Giêsu nói, quá nghịch thường với điều họ kỳ vọng. Thứ đến, họ quá gắn bó với Chúa Giêsu về mặt tình cảm; dẫu đây là điều tốt. Vì một khi tình cảm lấn át lý trí, họ sẽ không hiểu được kế hoạch tiềm ẩn của Chúa Cha trên Thầy mình. Tình cảm phải luôn được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần. Họ ‘không hiểu, cũng không dám hỏi’ chỉ vì tình cảm đã trở nên vật cản, ngăn họ thấu hiểu một ý nhiệm lớn lao nơi Thầy mình, dâng mạng sống cho công trình cứu độ vĩ đại của Chúa Cha!

Phần chúng ta, mỗi khi đối mặt với thập giá, chúng ta thường phản ứng như các môn đệ. Được mời gọi tự do ôm lấy một thập giá nào đó, sự thường, chúng ta sẽ chống lại nó; chúng ta trở nên bối rối, thậm chí, lo sợ tương lai. Vì vậy, cách duy nhất để chiến thắng nỗi sợ là thinh lặng, nhìn lên thập giá Chúa Giêsu; tìm giải pháp để đối mặt với nó, và xin ơn trợ giúp; đồng thời, phó dâng mọi cảm xúc, gắn bó và tình cảm của mình cho ý muốn trọn hảo tối thượng của Thiên Chúa; để làm sao, ý muốn của chúng ta có thể giao thoa trong cùng một quỹ đạo với ý muốn của Ngài.

Bên cạnh Acutis, Boccolini, Giáo Hội còn có một vị thánh trẻ dễ thương khác, đó là chân phước người Ý, Chiara Luce Badano. Luce qua đời 1990, khi cô vui lòng chấp nhận cái chết lúc 18 tuổi, những mong kết hiệp với Chúa Giêsu trên thập giá. Luce sinh động, hồn nhiên, yêu đời. Mùa hè 1988, trong khi chơi tennis, Luce đau nhói ở vai, đó là biểu hiện của ung thư xương. Cô tuyên bố, “Con xin dâng đau khổ này cho Chúa, ôi Giêsu! Chúa muốn thế, con cũng muốn thế!”. Luce từ chối morphine để được dễ chịu; với cô, quan trọng là có thể dâng Chúa đau khổ của mình, “Tôi muốn được chia sẻ càng nhiều càng tốt các đau khổ của Ngài”. Một người bạn nói, “Lúc đầu chúng tôi nghĩ rằng, cần phải đến thăm Luce; nhưng ngay sau đó, chúng tôi hiểu, chúng tôi cần cô. Cuộc sống của Luce như một nam châm thu hút chúng tôi”. Luce luôn giữ tinh thần vui vẻ; một lọn tóc rơi, Luce đơn giản thân thưa, “Này đây, quà con dâng Chúa!”. Cả sau khi liệt toàn thân, cô nói, “Nếu phải lựa chọn giữa việc đi bộ một lần nữa và lên thiên đàng, tôi sẽ chọn thiên đàng!”. Luce tặng số tiền tiết kiệm cho một người bạn truyền giáo ở châu Phi, “Tôi không cần nữa. Tôi đã có mọi thứ!”. Với mẹ, Luce lên kế hoạch cho ‘đám cưới’ của mình; từ bài hát, bông hoa đến các bài đọc Lễ an táng; một chiếc áo trắng với thắt lưng hồng, bởi cái chết sẽ cho phép Luce thành ‘cô dâu’ của Đức Kitô. Trước khi chết, Luce nói với mẹ, “Oh Mamma, những người trẻ, những người trẻ! Họ là tương lai. Mẹ biết không, con không thể chạy được nữa, nhưng con nóng lòng truyền cho họ một ngọn đuốc như trong thế vận hội! Những người trẻ chỉ có một cuộc sống, và nó đáng giá để sống cho tốt!”; “Chào tạm biệt mẹ, mẹ phải vui lên vì con đang rất vui!”.

Anh Chị em,

Giây phút cuối đời, Luce nóng lòng truyền lửa cho người trẻ; nhờ đó, họ biết sử dụng cuộc đời, kể cả đau khổ, cho có ý nghĩa; Chúa Giêsu cũng đã nóng lòng như thế khi tiết lộ cuộc thương khó của Ngài, nhưng các môn đệ ‘không hiểu, cũng không dám hỏi’. Luce hiểu! Mẹ Maria hiểu hơn! Dĩ nhiên, Mẹ biết, Mẹ đau buồn, nhưng là một nỗi đau buồn thánh thiện! Chính sự hoàn hảo nơi Mẹ khiến Mẹ không chỉ hiểu và chấp nhận cuộc thương khó của Con, nhưng Mẹ còn muốn điều đó xảy ra trong trái tim bị đâm thâu của Mẹ. Bởi lẽ, trong Mẹ, không có một mâu thuẫn nào giữa thánh ý Thiên Chúa và ý muốn thánh thiện của Mẹ. Mẹ được gọi là “Nữ tử Sion, có Chúa ở cùng!” như bài đọc Zacharia hôm nay tiên báo; Mẹ tin, “Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên!” như lời Thánh Vịnh đáp ca. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta ôm lấy thập giá đời mình, mặc cho nó một ý nghĩa cứu độ như Luce, như Maria, như bao tâm hồn thánh thiện!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trước thập giá đời con, nhiều lúc con ‘không hiểu, cũng không dám hỏi’. Xin cho con biết quỳ gối chiêm ngắm thập giá Chúa, hầu con đủ sức ôm lấy nó, để đền tội con, đền tội các linh hồn; cứu rỗi chính con và cứu rỗi cả thế giới!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: ngocnga_12 & ThuNNguyen

TÔI PHẢI LÀM GÌ?

TÔI PHẢI LÀM GÌ?  

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Một bạn trẻ đã đến với Chúa Giêsu và đặt câu hỏi: Thưa Thày, tôi phải làm gì?  Bạn trẻ này là đại diện của số đông những người đang đi kiếm tìm hạnh phúc và ý nghĩa cuộc đời.  Quả vậy, cuộc sống là một hành trình liên lỉ kiếm tìm hạnh phúc.  Có điều là quan niệm về hạnh phúc nơi mỗi người lại khác nhau.  Chàng thanh niên trong Tin Mừng được kể là một người đạo hạnh.  Từ thuở nhỏ, anh nghiêm túc tuân giữ những gì Chúa dạy trong luật Môisen: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt; hãy thảo kính cha mẹ.  Anh rất tự tin để khẳng định với Chúa Giêsu về những thực hành đạo đức của mình.  Tuy vậy, Chúa muốn cho anh tiến xa hơn trên con đường trọn lành.  Xem ra Chúa chưa hài lòng về những gì anh đã và đang làm.  Người đặt ra một điều kiện: ai muốn theo Chúa thì phải từ bỏ mọi sự.  Khi Người yêu cầu người thanh niên bán hết mọi gia sản, tức là Người đòi hỏi anh phải từ bỏ những gì gắn bó, thậm chí từ bỏ chính bản thân để theo Chúa.

Tôi phải làm gì?  Đó cũng là câu hỏi mà chúng ta phải đặt ra thường xuyên, để lượng giá những việc mình đang làm, và mục đích mình đang hướng tới.  Câu hỏi này cũng giúp chúng ta nhìn lại bản thân, để nhận ra sứ vụ mà Chúa muốn mình phải thực hiện trong cuộc sống.  Sống trên đời, mỗi người có một sứ vụ phải hoàn thành.  Tuy vậy, để nhận ra sứ vụ đích thực của cuộc đời là một vấn đề khó khăn.  Có nhiều người long đong lận đận, ôm nhiều ảo mộng, nên đã ở tuổi xế chiều vẫn chưa xác định được sứ mạng cuộc đời của mình.

Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?  Thưa cần có ơn khôn ngoan.  Bài đọc I chỉ cho chúng ta thấy sự cần thiết của ơn khôn ngoan.  Tác giả đã nói đến giá trị của sự khôn ngoan như sau: “Đem so sánh sự giàu sang với sự khôn ngoan, tôi kể sự giàu sang như không.  Tôi cũng không so sánh nó với kim cương, vì mọi thứ vàng đem so sánh với nó thì kể như hạt cát nhỏ bé, và bạc đem để trước nó thì kể như đất bùn.”  Theo giáo huấn của Giáo Hội, ơn khôn ngoan là một trong bảy ơn của Chúa Thánh Thần.  Ơn này giúp chúng ta nhìn rõ bản chất của sự việc hay của một con người, chứ không quan sát theo cảm tính hay theo vẻ hào nhoáng bên ngoài.  Vì những gì bóng bẩy bên ngoài thì hay đánh lừa giác quan.  Giống như cách tiếp thị của dịch vụ quảng cảo trên các phương tiện truyền thông.  Trong số những quảng cáo này, có nhiều sản phẩm là hàng giả hoặc kém chất lượng, nhiều người đã bị lừa và tiền mất tật mang.

Cũng theo giáo huấn của Giáo Hội, sự khôn ngoan đích thực là Thiên Chúa.  Sự khôn ngoan ấy được ngôi vị hoá nơi Ngôi Lời nhập thể là Chúa Giêsu Kitô.  Người là sự khôn ngoan của Thiên Chúa.  Người là Đấng Cứu độ trần gian.  Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Tôi là đường, là sự thật và là sự sống.”  Qua lời tuyên bố này, Người khẳng định những ai tin vào Người sẽ được Người dẫn tới Chúa Cha, là nguồn mạch của mọi ơn phúc.

Tin vào Đức Giêsu Kitô, đó là bí quyết để đạt được khôn ngoan và cũng đạt được hạnh phúc đời này và đời sau.  Khi nghe Chúa Giêsu so sánh việc vào nước trời khó khăn giống như con lạc đà chui qua lỗ kim, thánh Phêrô đã nói với Chúa: “Đây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy.”  Lời thánh Phêrô diễn tả mối băn khoăn của ông khi theo Chúa.  Đó cũng là mối băn khoăn của chúng ta: theo Chúa thì được gì?  biết bao nhiêu người không theo Chúa mà cũng hạnh phúc sung sướng.  Chúa hứa với thánh Phêrô và các môn đệ: họ sẽ được gấp trăm những gì họ đã từ bỏ vì Chúa.  Thực tế đã chứng minh: đối với linh mục và tu sĩ, là những người từ bỏ mọi sự trần gian để theo Chúa, Chúa ban cho họ gấp trăm, thậm chí gấp ngàn lần.

Cùng với tác giả Thánh Vịnh 89, chúng ta cầu nguyện: “Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con.”  Giữa thời buổi bất an và tràn ngập những ưu tư lo lắng, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn khôn ngoan và nghị lực để chúng ta can đảm chọn lựa Chúa, với xác tín Chúa sẽ thưởng gấp trăm những gì chúng ta dám hy sinh vì Ngài.

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

VIẾT TÀO LAO TRONG BUỔI CHIỀU

   VIẾT TÀO LAO TRONG BUỔI CHIỀU
         (Đỗ Duy Ngọc)

 Con người ta hình như đến một tuổi nào đó sẽ ngộ ra rằng cuộc đời thật ra chẳng có gì quan trọng. Cuối cùng rồi như nhau cả. Bạn có thể có một cuộc đời sung sướng, hạnh phúc hay bạn đã phải lầm than, nghèo túng, khổ đau. Cuối con đường có khác gì nhau đâu. Lúc xuôi tay, quân vương hay kẻ cơ hàn đều là sự giã biệt. Có thể có kẻ sẽ có tiền hô hậu ủng, kèn trống vang trời. Có người bó trong chiếc chiếu rách đi giữa mưa rơi. Nhưng cả hai đều chẳng còn biết gì, tất cả đều đang làm cho người sống.

 Đến một tuổi nào đó, người ra sẽ nghiệm thấy rằng cuộc đời chỉ là con số không to tướng. Sinh ra, lớn lên, già đi rồi mất hút. Mọi thứ danh vọng chỉ là trò hư ảo. Mọi thứ của cải làm ra cũng chỉ là thứ phù phiếm có rồi mất. Mọi thứ hoan lạc hay khổ ải cũng chỉ là gia vị của cuộc đời. Sinh ra thì phải sống, phải chiến đấu để tồn tại, phải khát vọng để vươn lên. Thế rồi, khi tuổi già đã tới, những bi kịch của tàn phai tác động đến mỗi người, sẽ thấy hoá ra mình đã bỏ cả tuổi thanh xuân để chạy theo toàn những thứ ảo vọng. Tranh dành nhau cái danh, lấn lướt nhau đoạt lợi. Được danh lợi rồi lại tham vọng nhiều hơn, lớn hơn. Cuối cùng cũng chỉ là một cuộc chơi, để rồi trắng tay lúc trở về cát bụi.

 Đến một thời điểm nào đó của cuộc sống, nhìn lại đọan đường ta đã đi, ta phát hiện ta chỉ để lại lắm điều lầm lỗi. Lầm lỗi với cha mẹ, với những người thân yêu. Lầm lỗi với bạn bè, với xã hội. Lầm lỗi với những người ta đã gặp, những người đã đi qua đời ta. Tất cả đều do cái tôi quá lớn của mỗi người. Không biết quên mình mà chỉ sống cho mình. Do vậy, những suy nghĩ và hành động ích kỷ cứ mãi quẩn quanh để đưa đến lỗi lầm tiếp nối nhau.

 Sống đến tuổi nào đó, người ta mới hiểu được rằng tự thắng được mình mới là điều quan trọng. Tuổi trẻ háo thắng chỉ chăm chăm thắng người, hơn người. Cảm thấy tự mãn và sung sướng trong thắng lợi. Có biết đâu rằng cái thắng lợi mình có là cái thất bại và đớn đau cho người khác. Đâu có biết rằng chính cái thắng lợi ấy là chiếc bẫy tiếp theo của cuộc đời mình. Trong mọi hoàn cảnh, tự thắng chính mình là điều khó nhất. Làm được điều đó là ta đã có thể tự hào.

 Đến một tuổi nào đó, người ta mới hiểu được rằng lắng nghe mới là điều cần thiết. Biết lắng nghe là biết thu thập cả thế giới cho riêng mình. Biết lắng nghe thì mới phân biệt được phải trái phân minh. Biết lắng nghe thì mới có chia sẻ. Muốn lắng nghe thì phải học im lặng. Con người ta chỉ mất vài năm để học nói, nhưng mất cả đời để học im lặng. Im lặng để lắng nghe. Không chỉ lắng nghe ngôn ngữ của con người, ta phải tập lắng nghe tiếng của thiên nhiên, tiếng của cỏ cây, giun dế, của gió, của nắng, của mưa bão. Tiếng sóng vỗ, tiếng chim kêu đều mang lại cho ta những cảm xúc của cuộc đời. Thiếu chúng nó, cuộc đời chỉ là khoảng trống vô vị.

 Tới một tuổi nào đó, con người nên đến với thế nhân bằng những nụ cười. Hãy cười với nhau bằng tâm hồn mở tất cả các cửa, với tấm lòng thân thiện. Hãy chào nhau dù chỉ gặp một lần vì biết đâu ngày mai không còn cơ hội để gặp, không còn dịp để gởi nhau nụ cười. Sinh tử là ranh giới mỏng manh. Đời vốn vô thường. Già sẽ đưa đến tật bệnh, bệnh làm cho người ta héo úa, đau đớn khó chịu. Nếu lạc quan và trang bị nụ cười với mọi người, nỗi đau sẽ giảm đi, héo úa sẽ bớt đi, nụ cười chính là son phấn trang điểm cho tuổi già.

 Đến một tuổi nào đó, con người sẽ hiểu được rằng điều cơ bản của con người là sự cô đơn. Con người sinh ra một mình và mất đi cũng chỉ một mình. Không ai sống thay ta và cũng chẳng ai chết thay ta. Gia đình, chồng vợ, con cái, bạn bè đều là người thân đấy, nhưng mỗi người có một cuộc sống, mỗi người có mỗi số phận và định mệnh riêng. Do vậy, mỗi người phải tự quyết định đời mình, không chờ đợi một ai có thể thay mình. Trong hành trình sống, con người là một thực thể cô độc, không ai hoán đổi được. Tới tuổi già chính là lúc gặm nhấm nỗi cô đơn nhiều nhất.

 Tới một lúc nào đó, người ta hiểu được là sống là để làm cho đủ bốn bổn phận đối với cuộc đời. Bổn phận với quá khứ là trả hiếu với mẹ cha. Bổn phận với tương lai là nuôi dạy con cái. Bổn phận với cuộc sống là giúp đỡ kẻ hoạn nạn, yêu thương mọi người và cuối cùng là bổn phận lấp đầy đời mình bằng tiêu pha, sinh hoạt hàng ngày. Con người làm ra tiền dù ít hay nhiều cũng chỉ quẩn quanh từng đó bổn phận. Có kẻ làm không đủ thì là thiếu trách nhiệm. Thế cho nên làm người là làm tròn bổn phận. Tới tuổi già, làm xong bổn phận ta có thể ung dung để hưởng những ngày còn lại trong sự thanh thản.

 Đến một lúc nào đó người ta sẽ có những nuối tiếc. Tiếc vì chưa làm được những điều muốn làm, chưa đến được những nơi muốn đến. Quỹ thời gian không còn, chuyến tàu sầm sập đến hoàng hôn. Chợt giật mình thời gian quá ngắn. Bởi thế nên muốn làm gì thì làm ngay, muốn đi đâu thì đừng lần lửa. Có ước muốn thì hãy thực hiện,…. Nhưng mà nếu tha thứ được thì nên tha thứ, nếu quên được thì nên quên.

 Sống tập quên cái cần quên cũng là một thứ thuốc chữa tâm hồn. Nhớ nhiều chỉ vác nặng. Sống mà mang nặng quá chỉ khổ thân.

 (Đỗ Duy Ngọc)

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Chế độ phản động, phồn vinh giả tạo, công nghiệp hóa đại bại!

Chế độ phản động, phồn vinh giả tạo, công nghiệp hóa đại bại!

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

4-10-2021

Bắt đầu từ ngày 1/10/2021, hàng ngàn người đi xe gắn máy lũ lượt rời bỏ Sài Gòn. Có nơi họ bị công an, dân phòng chặn lại, không cho đi. Có nơi họ sụp xuống van xin các “viên chức” dân phòng cho họ đi. Có nơi xảy ra ẩu đả giữa hai bên.

Chuyện gì xảy ra ở nước Việt Nam Cộng sản vào năm 2021 vậy? Thành phố Sài Gòn bị quân đội cộng sản tấn công, làm cho dân chúng chạy loạn giống như 30/4/1975?

Sài Gòn không bị một đạo quân cộng sản tấn công, mà bị quân Covid tấn công. Quân đội cộng sản không tấn công Sài Gòn, mà đang chiếm đóng Sài Gòn, và thất bại thảm hại trước quân Covid. Sau bốn tháng giữ thành, quân cộng sản đại bại, làm cho gần 20 ngàn… dân thường thiệt mạng.

Dĩ nhiên khi tôi viết ra những dòng này, những người cộng sản Việt Nam sẽ rất bực bội, dù ngôn ngữ tôi dùng chính là ngôn ngữ chiến tranh sắt máu của họ: “chống dịch như chống giặc”, “không thắng không về”…

Tuy nhiên trong trận thất thủ Sài Gòn năm 1975 thì người tử trận đa số là binh lính hai bên, còn trận đại bại 2021, tuyệt đại đa số người tử trận là dân thường.

Nhưng khi nhìn những dòng người lam lũ trên các nẻo đường ra khỏi thành Sài Gòn, tôi không nghĩ tới trận đại bại trước Covid của những người cộng sản, vì tôi đã nói về nó rồi, nhiều người khác cũng đã nói về nó, vì sự đại bại ấy rất hiển nhiên, dù rằng chắc chắn người cộng sản sẽ lại tuyên bố chiến thắng, như cái thói quen thắng lợi tinh thần kiểu AQ của họ.

Tôi nghĩ về “công cuộc đổi mới” gần 40 năm nay của họ (bắt đầu từ năm 1986). Thật ra cái từ “đổi mới” này chỉ là một cái từ được tạo ra do thói cưỡng từ đoạt lý của người cộng sản, họ có làm gì mới đâu, họ tạo ra những cái trở ngại trên những điều bình thường, sau đó những trở ngại ấy cản trở chính họ, thế là họ phá đi, quay về những cái cũ bình thường.

Sau khi cái cũ bình thường ấy vận hành được một thời gian, dân chúng dễ thở hơn với những nhu cầu cơ bản, những người cộng sản bèn cao hứng đặt ra những mục tiêu … công nghiệp hóa, mà nghe đâu tới năm 2020, theo kế hoạch họ đã phải hoàn thành bao nhiêu phần trăm rồi.

Nhưng những dòng người chạy loạn Covid chứng minh rằng, công cuộc công nghiệp hóa của người cộng sản đại bại.

Một số phân tích khẽ khàng và hiếm hoi trên báo chí của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đủ chứng minh cho sự đại bại ấy, như trong bài báo sau đây của tờ Vietnamnet: Vạn người kéo về quê, ai cứu lấy doanh nghiệp.

Bài báo trích lời một quan chức thuộc Bộ Lao động: “Qua đại dịch Covid, điều dễ nhận ra là lao động không an cư lạc nghiệp, mà luôn ở trạng thái ngụ cư”.

Vị quan chức của Bộ Lao động này chắc chắn là một đảng viên cộng sản, cho nên ông ta phải biết khái niệm mà ông tổ chủ nghĩa cộng sản là Karl Marx đưa ra rằng, giới chủ tư bản luôn muốn giữ một lực lượng nhân công rẻ mạt để kiếm càng nhiều tiền lời càng tốt.

Chế độ của vị quan chức này thực hiện đúng những điều mà Marx phê phán.

Điều này dẫn tới một hiện tượng mà những người cộng sản Việt Nam hay chỉ trích xã hội miền Nam trước kia là “phồn vinh giả tạo”. Nay, sau hàng chục năm làm việc vất vả trong những nhà máy, cư trú trong những phòng trọ 2m2 một người, những người thợ có gốc từ miền quê Việt Nam đã tạo nên những khu phố lấp lánh đèn có vẻ rất phồn vinh của Sài Gòn, mà bản thân không còn một đồng nào sau bốn tháng phong tỏa. Nếu không gọi đó là “phồn vinh giả tạo”, thì gọi là gì?

Thật ra nó giả tạo với hàng chục triệu người dân vừa bỏ quê lên phố, nhưng nó là thật với bộ máy cán bộ nhũng lạm và bất tài lộ rõ ra trong cơn khủng hoảng, nó cũng là thật với một tầng lớp cư dân trung lưu ở các đô thị gắn chặt quyền lợi với chế độ, và dĩ nhiên nó là thật với các ông chủ tư bản, từ Mỹ, Pháp, Anh, cho đến Nhật, Hàn, Đài Loan, Trung Quốc.

Các ông chủ tư bản ở đâu cũng giống nhau, chỉ khác là tại phương Tây, họ bị một xã hội dân sự tự do kềm chế, với những nghiệp đoàn đủ mạnh, với những cuộc bầu cử mà người dân góp phần quyết định các nhân vật điều hành quốc gia. Ở Việt Nam, Trung Quốc, hay các quốc gia độc tài khác, nghiệp đoàn không tồn tại, không có bầu cử. Tại Trung Quốc và Việt Nam lại còn có thêm một bộ máy sai nha rất kinh hoàng ở mức làng xã, tổ dân phố.

Tầng lớp sai nha này luôn là một công cụ đàn áp của nhà nước cộng sản từ thời cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, bao cấp ngăn sông cấm chợ, cải tạo tư bản công thương nghiệp,… cho đến tận hôm nay, không có gì thay đổi. Sự không thay đổi đó nằm ở nguyên nhân ý thức hệ, cho rằng xã hội phải được duy trì bằng bạo lực (bạo lực cách mạng), mà hơn nữa phải liên tục sử dụng bạo lực (cách mạng liên tục). Lực lượng sai nha đó chính là xương sống của chế độ, một chế độ dựa trên mô hình chuyên chính (chuyên chế) vô sản rất phản động của Lenin.

Vì nó là xương sống của chế độ phản động này cho nên chế độ phải bằng mọi giá duy trì nó. Biểu hiện cụ thể nhất là danh sách ưu tiên tiêm vắc xin trong những ngày đầu dịch mới bùng phát. Trong danh sách này công an và bộ đội được xếp ưu tiên hơn tầng lớp dân chúng hơn 65 tuổi. Lớp người già này là lớp dễ bị gục ngã nhất vì Covid.

Bà Vũ Kim Hạnh, một người từng là nòng cốt của chế độ (cựu tổng biên tập tờ Tuổi Trẻ) đã phải thốt lên:  Ai chủ trương không tiêm vaccine cho người già?

Với tính chất phản động của chế độ, Hà Nội đã quyết định hy sinh tầng lớp người già của Việt Nam để cứu đám sai nha của chế độ. Điều này trở thành gậy ông đập lưng ông, vì người già, người nghèo sống chật hẹp ở khu lao động gục ngã như rạ, tạo ra những ổ dịch lây lất không chấm dứt, tàn phá hệ thống y tế công cộng, vốn nghèo nàn của Việt Nam.

Công nghiệp hóa đại bại thực ra chỉ là chuyện đã thành quá khứ. Điều quan trọng hiện nay là duy trì sự sống của nền kinh tế, khi hàng chục ngàn công nhân sẽ không trở lại làm việc trong thời gian trước mắt.

Hãy nhìn tựa bài của tờ Vitenamnet: Vạn người kéo về quê, lấy ai cứu doanh nghiệp.

Đảng Cộng sản Việt Nam có vẻ chỉ quan tâm tới doanh nghiệp, túi sữa của bộ máy nhũng lạm và tầng lớp sai nha tàn bạo, không quan tâm tới tầng lớp công nông trong lá cờ búa liềm của họ.

Tháo chạy

Tháo chạy

Bởi  AdminTD

Lâm Bình Duy Nhiên

2-10-2021

Ngày đầu tháng mười, đây là lần thứ ba, người dân Sài Gòn đã tìm đường tháo chạy khỏi thành phố này.

Những hình ảnh tạo nên nhiều cảm xúc mạnh, thống thiết, lo lắng. Một nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn. Sau vài tháng “chống chọi” đại dịch, với sự thật bị bưng bít, che giấu, người dân Sài Gòn vẫn còn chưa thoát khỏi cơn ác mộng nghiệt ngã…

Dòng người tìm cách vượt những chốt kiểm soát, đạp đổ những vòng kẽm gai được dựng lên để ngăn chặn người dân là những hình ảnh sống động, tượng trưng cho nỗi sợ hãi về một kịch bản xã hội bị phong tỏa một lần nữa.

Có cả những người dân đớn đau, quỳ lạy lực lượng an ninh. Họ van xin như để được “thoát khỏi” một thành phố bị cô lập, tang thương và chết chóc.

Trong cái thành phố sầm uất và phồn thịnh này, vẫn có rất nhiều mảnh đời cơ cực của những người dân lao động, làm thuê. Chính họ đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển và giàu có của Sài Gòn. Họ đến từ những tỉnh thành lân cận. Họ để lại tất cả, từ gia đình đến kỷ niệm để tìm đường mưu sinh tại đây.

Những người làm lụng cực lực và đứng bên lề của sự hào nhoáng. Từ khi chỉ thị 16 được ban ra nhằm đối phó với đại dịch, họ cùng với hàng triệu người dân Sài Gòn bị rơi vào sự phong tỏa nghiêm ngặt, phi lý và phi khoa học. Họ bị “trói chân” tại đây, không việc làm, không tiền bạc, không lương bổng, sống trong túng quẫn, đói khát và nỗi nhớ nhà tha thiết.

Họ, những người nghèo khổ, đến từ tứ xứ, chính là những kẻ dễ dàng bị bỏ quên nhất trong bối cảnh khó khăn chung của thành phố. Họ bị chính quyền buông xui, bỏ mặc trong các chỉ thị chạy đua theo thành tích “chống giặc” Covid.

Chính vì thế, họ chỉ mong được tháo chạy khỏi cái thành phố trống vắng và bị giãn cách này. Ít ra, dẫu có bị thiếu thốn, cơ cực, nhưng ít nhiều cũng còn có người thân, vợ chồng, cha mẹ, con cái bên cạnh.

Tiếc thay, nhà cầm quyền lại luôn độc quyền quyết đoán: chống dịch như chống giặc. Giặc chưa xong nhưng dân tình lại khổ sở, hoang mang và nghèo khổ trăm bề. Những người lãnh đạo lại chỉ hô hào những khẩu hiệu sáo rỗng, kêu gọi người dân hãy ở lại để tiếp tục “đóng góp” cho thành phố!

Đóng góp gì nữa? Những đồng tiền sau cùng hay tiếp tục bào mòn sức lực, gồng mình chịu đói để làm đẹp hình ảnh một thành phố đã “đập tan kẻ thù” dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của lãnh đạo?

Sức chịu đựng của đồng bào quả thật kinh khủng. Từ mấy chục năm qua, người cộng sản đã thành công khi áp đặt nỗi sợ hãi bao trùm toàn xã hội. Trấn áp, đàn áp và đe dọa luôn là những thứ vũ khí vô hình nhưng hiệu quả vô cùng để làm câm bặt sự phản kháng, dẫu thưa thớt và yếu ớt!

Và ngay cả khi sự đói khát cận kề, sự túng quẫn không lối thoát đe dọa toàn xã hội thì bộ máy cầm quyền vẫn an tâm tồn tại.

Cho đến bao giờ? Chỉ có người dân mới có thể có câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi thương tâm và cấp bách trên!

***

Đào Tuấn: Vì sao họ bỏ mà đi

Khu hộp tôn này là một dãy trọ ở Thủ Đức. Thứ trưởng Bộ Lao động Nguyễn Văn Hồi kể trong đợt khảo sát vừa rồi, ông gặp trường hợp có gia đình 5-6 người sống trong căn phòng chỉ 7m2.

Ảnh trên mạng

5-6 người và 7m2. Không hiểu họ ăn ở sinh sống thế nào khi mà chỉ thở thôi đã vật vã rồi. Nhưng đó chưa phải là sự tồi tệ nhất. Ông Trần Việt Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP.HCM nói: Nhiều phòng trọ chỉ 10m2, mà có tới 10 người chen nhau chung sống.

Trước phong tỏa, họ chia ca ngày đêm đi làm cũng đỡ. Bốn tháng hơn 120 ngày lockdown tất cả chui một chỗ 24/24. Không gian kín mít ở những nhà trọ ổ chuột như này chính là lý do vì sao số F0 dựng đứng suốt mấy tháng giời.

Ông Việt Anh nói một câu kinh khủng: Hàng ngày họ chứng kiến những F0 ở khu trọ đi rồi không thấy quay về nữa…

Người phụ nữ áo vàng là Huỳnh Thị Mỹ Vân (quê Trà Vinh) hôm qua đã quyết về quê bằng được.

Ảnh trên mạng

Bốn tháng, hai vợ công nhân may không một xu thu nhập, không có nguồn trợ cấp ngoài chút lương thực được các mạnh thường quân cứu giúp. Tài sản là “3 tháng tiền trọ còn nợ”, và gia đình 4 người “không còn nổi 1.000 đồng”.

“1.000 đồng, sao trụ nổi. Đợt trước, chúng tôi đã ra về nhưng bị chặn lại, giờ cỡ nào cũng phải về, phòng trọ đã trả rồi mà cũng không còn gì để ăn cả”- lời Vân.

Hai bức ảnh, đủ trả lời cho câu hỏi vì sao những đoàn người tháo chạy khỏi SG, quỳ lạy, phá rào, ném đá… làm mọi cách để được về quê.

Không biết khi ban hành một chính sách những người dấu đè chữ ký có bao giờ hình dung nổi những thân phận mà họ vẫn gọi là đồng bào như này!!!

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một Bà Mai Nữa

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một Bà Mai Nữa

Thứ Sáu, 10/01/2021 

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Tôi biết bà Trần Thị Mai qua một cuộc phỏng vấn của ký giả Việt Hùng, vào hôm 23 tháng 3 năm 2016, trước khi bà sang Lào để tìm xác chồng – cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương. Ông tử trận vào hôm 24 tháng 2 năm 1971, và được  người đời biết đến qua tác phẩm nổi tiếng (“Anh Không Chết Ðâu Anh”) của nhạc sỹ Trần Thiện Thanh: Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương / Tôi vẫn thấy đêm đêm một bóng dù sáng trên đồi máu…

Tuy thế, có lẽ không ai hay biết (và cũng chả ai “thấy”) gì về cuộc sống của người cô phụ còn ở lại, cho đến khi bà lên tiếng trả lời những câu hỏi (thiết thân) trên nhật báo Người Việt :

“Vì hoàn cảnh quá khó khăn, tôi làm đủ thứ nghề mà vẫn không khá được. Các con tôi đều không được học hành đàng hoàng. Lớn lên một tí thì hai đứa con trai lớn vì không chịu nổi hoàn cảnh và đã đến tuổi đi “bộ đội” (trên 18 tuổi, luật của CSVN là bắt đi nghĩa vụ quân sự), nên đã bỏ trốn qua Campuchia làm nghề cạo mủ cao su. Rồi cả hai đều mất vì những căn bệnh hiểm nghèo…

“Với tôi thì tuổi đã già, tôi không mong muốn gì hơn là có thể được sang vùng Hạ Lào năm xưa, để hỏi thăm về tin tức anh Ðương. Tôi biết là rất khó có thể tìm được xương cốt của ảnh, nhưng ít ra tôi có thể chứng kiến được vùng đất nơi anh ấy đã bỏ mạng.”

Mong ước của bà Nguyễn Thị Mai thì hơi khác. Tuy cũng giản dị thôi (“được chôn cất sau khi nhắm mắt”) nhưng e vẫn là điều bất khả. Tôi tình cờ gặp người phụ nữ đồng hương này trong quán cơm Ba Số Bẩy, ở khu chợ Tô Sanh (Phnom Penh) khi bà đang chào mời thực khách mua vé số – loại xổ hàng ngày – phát hành từ những tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Qua vài câu trao đổi “tâm tình,” tôi mới biết thêm được những nỗi truân chuyên trong kiếp sống tha hương của một bà Mai khác. Cũng như quả phụ Nguyễn Văn Đương, chồng của bà Nguyễn Thị Mai là một người lính miền Nam đã tử trận từ lâu. Và cả hai cùng đều đang bước vào tuổi đã xế chiều trong hoàn cảnh khốn cùng.

Bà Nguyễn Mai quê ở huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, nơi mà chỉ cần vài giờ xe là đã vượt sang xứ khác – xứ Chùa Tháp. Tuy thế, bà chưa bao giờ trở lại cố hương vì không còn thân bằng quyến thuộc gì nơi chốn cũ.

Bà chấp nhận Cambodia làm mảnh đất dung thân. Quê hương thứ hai – may thay – đủ bao dung cho một người Việt lâm vào bước đường cùng (không chồng, không con, không tiền, không nhà, và không cả manh giấy tùy thân) nên kẻ tha phương vẫn sống được lây lất qua ngày.

Mặc dù không còn có thể đi đứng được dễ dàng vì sức khỏe và tuổi tác, bà Mai vẫn còn kiếm được mười lăm/hai mươi ngàn đồng riels mỗi ngày, nghĩa là khoảng trăm hai đến trăm năm mươi Mỹ Kim hàng tháng. Chỉ cần nửa số tiền này cũng đã đủ để thuê được một chỗ tắm rửa, và ngủ nghỉ qua đêm :

  • Tui đi lòng vòng suốt ngày mà, mệt thì ngồi, được cái người Miên họ dễ lắm chú à. Họ cho mình ngồi trong quán nghỉ, cho xài cầu tiêu cầu tiểu thoải mái, và có khi còn cho đồ ăn dư luôn nữa.

Khi nghe hỏi về ước nguyện hiện tại của mình, bà Mai nhỏ giọng :

  • Tui không có mong ước gì hết trơn, hết trọi. Bây giờ còn đi bán được ngày nào thì hay ngày đó thôi. Có điều tui lúc nào cũng thấy khuây khoả vì có lũ nhỏ bao quanh, và đứa nào cũng sẵn sàng “bán dùm vé ế cho ngoại Mai kẻo tội.” Đêm về thì có chỗ để nằm, không ai đụng chạm phiền phức gì mình. Chỉ sợ khi chết bỏ xác ở đây, không ai chôn cất, chú ơi!

Năm rồi tôi không có dịp trở lại Nam Vang. Không biết bà Nguyễn Mai xoay trở ra sao trong những ngày tháng dịch bệnh nơi xứ lạ. Cầu mong cho bà chị vẫn được an lành, dù biết đây chỉ là một lời … cầu âu. Đời vẫn vốn không nương người thất thế mà. Nói chi đến thân phận nắng mưa thui thủi quê người một thân của một người già góa bụa! 

Tuần rồi thì tôi biết thêm một bà Mai nữa, qua bài tường thuật (“Trở Về Nhà Chăm Chồng Bệnh Nặng Là Lý Do Không Chính Đáng”) trên báo Công Luận, phát hành vào hôm 15 tháng 09 năm 2021, của phóng viên Hoàng Tuấn :

Nhận tin báo mẹ ở quê bị bệnh, ngày 28/6, bà Trương Thị Tuyết Mai (SN 1967) từ nhà ở quận Bình Tân, TP. HCM đi xe máy về xã Tường Đa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre để chăm sóc…

Dự tính đến ngày 15/9, khi TP. HCM hết giãn cách thì bà Mai sẽ trở về nhà. Nhưng nghe tin chồng …bị bệnh nặng, không ai chăm sóc, nên ngày 11/9 bà đã Mai đã đến Văn phòng UBND tỉnh Bến Tre để xin giấy đi đường.

Tại đây đã cấp cho bà Mai một Giấy xác nhận với nội dung gửi: Ban Chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 các cấp; các trạm, chốt kiểm soát phòng chống dịch Covid-19 các địa phương hỗ trợ, tạo điều kiện cho bà Trương Thị Tuyết Mai được rời khỏi Bến Tre đến phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM…

Khi đến tại một chốt kiểm soát ở khu vực Tân An, Long An, lực lượng ở đây không cho bà Mai đi tiếp với lý do: Giấy xác nhận của UBND tỉnh Bến Tre không có số hiệu. Yêu cầu quay lại xin cấp giấy khác. 

“Trình bày hoài mà họ không cho, họ yêu cầu phải bổ sung nội dung nên tôi phải chạy xe máy quay lại Bến Tre xin cấp giấy khác để kịp về trong ngày,” bà Mai nói… 

Đinh ninh lần này sẽ được trở về nhà suôn sẻ, không ngờ khi tới chốt kiểm soát đầu tiên thuộc địa bàn huyện Bình Chánh, TP. HCM, nơi đây cách Bến Tre gần 100km, bà Mai bị lực lượng kiểm soát nơi đây chặn lại. Sau khi kiểm tra giấy tờ, những cán bộ tại chốt kiểm soát không cho bà Mai đi tiếp, mà yêu cầu quay về nơi xuất phát với lý do: Chăm chồng bệnh là lý do không chính đáng. 

“Tôi trình bày, năn nỉ mà anh công an mặc áo vàng khăng khăng không cho, anh ấy bắt tôi quay lại, nếu không sẽ lập biên bản xử phạt”, bà Tuyết Mai bức xúc.

Nhiều vị thức giả cũng “bức xúc” không kém!

  • Bỉnh bút của Tạp Chí Luật Khoa, Yên Khắc Chính: “Có thể thấy trong hầu hết các quyết sách chống dịch của chính quyền, chỉ có người dân là chịu tác động trực tiếp và phải gánh hậu quả, các quan chức thì không. Điều này vi phạm một trong những nguyên tắc nền tảng nhất của mọi xã hội văn minh: nguyên tắc đối xử công bằng (equal treatment principle)… Khi xã hội xuất hiện khủng hoảng, sự bất bình đẳng này càng lộ rõ.”
  • Blogger Trân Văn(VOA): “Trong đại dịch, công dân có còn là con người hay không phụ thuộc vào việc viên chức hữu trách của các địa phương có… thích hay không!”
  • Mạc Văn Trang: Sao họ coi dân như những kẻ nô lệ dưới thời thực dân phong kiến, như anh Pha, chị Dậu vậy?
  • Nhà văn Nguyễn Viện: “Không biết từ bao giờ, người ta đã không còn nhận ra phẩm giá của mình bị chà đạp. Và vì thế, người ta chấp nhận bị chà đạp như một điều hiển nhiên. Không thắc mắc, không phản đối. Ai sao mình vậy.  Đấy là một tâm thức khốn cùng của kẻ nô lệ.”

Ba bà Mai kể trên thuộc hai thế hệ. Cả ba đều đã trải qua một kiếp nhân sinh mà “phẩm giá” người dân bị chà đạp một cách rất tự nhiên.” Nếu may mắn mà “CNXH có thể hoàn thiện ở Việt Nam” vào cuối thế kỷ này, như kỳ vọng của ông TBT Nguyễn Phú Trọng, chả hiểu sẽ phải cần thêm bao nhiêu bà Mai (tiếp tục) sống “với tâm thức khốn cùng” như thế nữa?

Tâm Sự Một Đảng Viên : Ai giải phóng ai?

Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Bạn Bè

Mac Phi Hoang  

Tâm Sự Một Đảng Viên

Tôi đã biết mình lầm đường lạc lối

Từ sau cái ngày “giải phóng” Miền Nam

Một mùa xuân tang tóc bảy mươi lăm

Đi giữa Sài Gòn, tôi nghe mình thầm khóc

Tôi khóc Miền Nam tự do vừa mất

Và khóc cho mình, chua xót đắng cay

Nửa đời người theo đảng đến hôm nay

Tưởng cứu nước đã trở thành tội ác

Bởi tôi quá tin nghe theo lời bác

Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh

Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin

Là nhân phẩm, là lương tri thời đại

Rằng tại Miền Nam, nguỵ quyền bách hại

Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn

Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn

Đang rên siết kêu than cần giải phóng

Tôi đã xung phong với bầu máu nóng

Đi cứu Miền Nam ruột thịt nghĩa tình

Chẳng quên mang theo ký gạo để dành

Biếu người bà con trong nầy túng thiếu

Người dân Miền Nam thật là khó hiểu

Nhà khang trang bỏ trống chẳng còn ai

Phố phồn hoa hoang vắng tự bao giờ

Giải phóng đến sao người ta chạy trốn?

Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng

Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin

Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình

Trước thành phố tự do và nhân bản

Tôi tìm đến người bà con trong xóm

Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi

Kí gạo đem theo nay đã mốc xì

Tôi vội vã giấu vào trong túi xách

Anh bà con tôi- một ngươi công chức

Nét u buồn cũng cố gượng làm vui

Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ

Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ

Rồi anh nói: “Ngày mai đi cải tạo

Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi

Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về

Một chút tình người bà con Nam bộ”

Trên đường về, đất trời như sụp đổ

Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam

Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm

Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.

http://fdfvn.wordpress.com

May be an image of 3 people, monument, outdoors and text that says 'BIERE BEER Ai giải phóng ai?'

TẠ LỖI CÙNG CON

May be a black-and-white image of 1 person, child and standing
Miền Nam Việt Nam – Trước 1975  · 

Quan Duong   

TẠ LỖI CÙNG CON

Trong hình là vợ và đứa con gái đầu lòng của tôi chụp vào năm 1977. Vợ tôi từ một cô nữ sinh khuê các xinh đẹp của Trường Trung học Quang Trung Bình Khê Bình Định nhưng chỉ hai năm sau ngày 30/04/75 đã trở thành một cô thôn nữ nhìn già hẳn đi vì mỗi ngày phải ra ruộng và chiều về ôm con để đợi chồng mà không biết ngày tháng nào chồng mình được thả về.

Đứa bé trong hình tên Lục Bình Hạ Uyên. Tháng 5/75 khi tôi bị bắt vào trại lao động khổ sai của bên thắng trận thì Lục Bình lúc đó mới chỉ là bào thai năm tháng còn đang nằm trong bụng mẹ .

Tháng 9/75 Lục Bình được sinh ra đời trong lúc tôi mặc áo tù nhân phá rừng làm đường ở trại Đồng Găng thuộc tỉnh Khánh Hoà .

Tháng 4/76 vợ tôi ẳm con chưa đầy 7 tháng tuổi lặn lội đường xa đi thăm tôi ở Đồng Găng . Đó là lần đầu hai cha con tôi được nhìn thấy nhau . Gọi là nhìn thấy nhau vì đám cán bộ cai tù không cho phép tôi được ôm con mình .

Tháng 6/76 tôi được chuyển từ Đồng Găng ra trại A.30 Tuy Hòa . Mỗi một chiếc GMC là 50 tù binh ngồi chồm hổm chen chúc nhau . Phía trên là hai khẩu AK 47 chĩa thẳng với tư thế sẳn sàng nhả đạn nếu tụi tôi có động tịnh gì . Khi đi ngang thị trấn Ninh Hòa là nơi tôi được sinh ra và lớn lên, nhìn qua thành xe tôi thấy lại những con đường mà mới ngày nào tôi còn cắp sách đi trên đó đến trường. Nhưng con đường gần gũi đến thế mà giờ đây chừng như xa vời vợi .

Tháng 12/77 vợ tôi ẳm Luc Bình thăm tôi lần nữa tại trại A30 . Lúc này Lục Bình đã biết đi chập chững và tôi được phép ôm con. Đó là lần duy nhất trong cuộc đời tôi được ôm con trong vòng tay . Nhìn vợ tôi xơ xác , nhìn Lục Bình ốm tong teo vì thiếu dinh dưởng lòng tôi đau như cắt mặc dù hình hài tôi cũng chẳng ra gì sau hai năm cuốc đất làm ruộng bất kể nắng mưa cùng những cơn đói triền miên

Tháng 4/78 tôi được đưa ra tổ nuôi heo của trại . Khu chăn nuôi nằm ngoài vòng rào . Công việc của tôi mỗi ngày đến tổ xay giả để sàng cám gánh về nấu cháo cho heo . Tôi có người bạn thân chí cốt tên Cao Điền ở trong tổ thợ mộc . Mỗi lân đi gánh cám tôi thường mon men đến tổ thợ mộc để tán dóc với hắn . Hai đứa thân nhau từ nhỏ sống cùng quê đi lính ngày, ở tù cùng chỗ cho nên tuyệt đối tin tưởng với nhau . Hai thằng thường nghe ngóng tin tức để thắp cho nhau hy vọng là có một ngày nào đó thoát được ra ngoài . Vào một ngày như mọi lần khi đang nói chuyện thì Cao Điền buột miệng hỏi tôi

– con mày sao bị mất vậy

Tôi nghe như đất trời xung quanh sụp đổ . Tôi hỏi ngược lại hắn

– ai nói với mày

Hắn biết mình vừa hớ miệng nhưng đã lỡ nên trả lời

– bữa trước bà xã tao thăm nuôi có nói và gia đình dặn là giấu mày vì sợ mày ngã quị

Hắn còn nói thêm

– con mày mất vào ngày mồng 10 tết

Tính ra từ ngày con tôi mất đến ngày tôi biết tin là bốn tháng . Tôi không nói tiếng nào lẳng lặng gánh hai thùng cám trở về tổ nuôi heo. Ngang đám rẫy mì thấy không có ai, tôi chui vào đó ngồi và nước mắt không biết từ đâu tuôn xối xả . Tôi khóc ngon lành

Mới ngày nào cuối tháng 4/75 trên đường di tản của một chiến binh thất trận trong lòng tôi có rất nhiều điều muốn gửi gấm đến con mình . Tôi định mai này khi con tôi ra đời và lớn lên tôi sẽ kể cho con mình nghe lịch sử của một đất nước vừa bị xoá tên trên bản đồ đầy đau thương và bi tráng . Nay điều đó đã không còn ý nghĩa nữa vì con tôi đã bỏ ra đi . Rồi tôi liên tưởng đến tiếng búa đóng đinh lên nắp hòm nhốt kín con mà không có tôi bên cạnh . Thắt lòng .

Đất nước tôi đã không chu toàn trách nhiệm để gìn giữ và con . Xin tạ lỗi

TẠ LỖI CÙNG CON

Thôi nhé con không có ba đưa tiễn

Ngày con đi về cuối trời miên viễn

Trời cũng buồn ảm đạm mưa tuôn

xám cả đất trời xám cả Qui Nhơn

Con lặng lẽ không một lời than thở

Rớt lạnh lùng một cơn bão nhỏ

Từ quê nhà theo bước con đi

Ngày xa con xiềng xích cột chân tay

Trong song sắt ba ngậm hờn vong quốc

Viết sẳn cho con một tờ di chúc

Con đi rồi ba biết gửi cho ai

Nụ hôn đầu theo gió gửi vào nôi

thành nụ cuối theo mây về nẽo vắng

Thế là hết. Nay đã thành quá vãng

Tờ di chúc buồn theo năm tháng không quên

Những yêu thương không kịp gửi về con

Những rướm máu trong lòng ba quặn thắt

Con có trách sao ba không về vuốt mắt

Không ôm con ủ lạnh dưới trời mưa

Chỉ một lần thôi cũng đủ ấm con thơ

Chỉ một lần thôi là điều con ước nguyện

Những tiếng búa thay tiếng lòng đau điếng

Gọi ba về khẩn thiết con mong

Mà ba thì đang quị ngã bên đường

Vẳng bên tai tiếng đinh trên nắp hòm tê tái

Thế là hết đâu mong gì trở lại

Những nhát búa buồn vọng mãi trong đêm

Theo thời gian ôm nỗi nhớ gọi tên

Con có trách ba cúi đầu nhận tội

Thế là hết ba đã không trở lại

Cho trọn tình con dù chỉ một lần

Ngày con đi ba quị té bên đường

Tay run run đánh rơi tờ di chúc

Trại A 30 1979

Quan Dương