httpv://www.youtube.com/watch?v=YRB7scb3-vM
5 LÝ DO Khiến Con Người KHÔNG THOÁT KHỎI MUỘN PHIỀN Cả Bạn Và Tôi Có Thể Đang Gặp Phải | Ngẫm Mà Xem
httpv://www.youtube.com/watch?v=btJmjhW4mos

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=YRB7scb3-vM
httpv://www.youtube.com/watch?v=btJmjhW4mos
httpv://www.youtube.com/watch?v=k22tB73WdT0
October 22, 2021
Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng
Mùa Đông năm 1976, chúng tôi bay sang London, Anh, để thăm ông bà cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước khi đi, chúng tôi viết thư cho ông biết ngày giờ tới phi trường Heathrow và số chuyến bay. Ông trả lời là sẽ có người ra đón. Tới nơi thì vừa ra cửa đã thấy ông đứng ngay ở đó vẫy tay chào. Thật là cảm động gặp lại ông sau hơn một năm trời và sau bao nhiêu biến cố.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân tại phi trường Heathrow, London, Anh, ngày 11 Tháng Tư, 1973. (Hình minh họa: Evening Standard/Hulton Archive/Getty Images)
Sau khi bắt tay nhau thật chặt và trao đổi mấy lời thăm hỏi, ông tự lái xe đưa chúng tôi về nhà. Đây là một căn nhà nho nhỏ, xinh xinh nằm ở vùng Surrey, ngoại ô London. Một cái bảng treo trên cửa với mấy chữ khá lớn “The White House.” Chúng tôi hỏi ông là bảng này vẫn có từ trước hay ông treo vào? Ông nói villa bên này hay mang tên cho dễ nhận, và cái bảng này là của chủ cũ để lại. Ông tự tay xách giúp cái valise và đưa chúng tôi lên một phòng trên lầu hai, vặn hộp sưởi điện cho ấm, rồi dặn là nếu thấy vẫn còn lạnh thì cứ vặn thêm cái hộp sưởi thứ hai.
Buổi chiều hôm ấy ông nói nên đi ngủ sớm cho đỡ mệt sau chuyến bay dài từ Washington, DC và nói là sáng hôm sau thì cứ thủng thẳng lúc nào dậy cũng được.
Sáng hôm sau, từ trên tầng thứ hai xuống nhà, chúng tôi thấy ông đang đọc báo. Còn bà thì loay hoay trong bếp. Chỉ mấy phút sau đã thấy hai tô hủ tiếu đúng hương vị miền Nam và cà phê thơm phức bày trên bàn. Bà Thiệu là người Mỹ Tho mà hủ tiếu Mỹ Tho thì ngon có tiếng.
Bà mời chúng tôi tới ăn cho nóng. Khi hỏi sao bà không cùng ăn thì bà nói: “Tôi ăn rồi, để cho hai ông dễ nói chuyện.” Câu nói giản dị nhưng phản ảnh thật rõ cái lối sống của bà trong suốt thời gian 10 năm ông là người lãnh đạo của VNCH. Chúng tôi không biết nhiều nhưng có cảm tưởng là bà luôn luôn xa cách, không xen vào chính trị, vào những công việc của ông, chỉ đứng sau để lo cho gia đình và tham gia vào công việc xã hội. Trong thời gian chúng tôi làm việc ở Dinh Độc Lập thì ít khi thấy bà xuất hiện, kể cả khi Tổng Thống Thiệu tiếp khách xã giao ngoại quốc.
Ngồi xuống bàn ăn buổi sáng hôm ấy, thấy ông hết còn căng thẳng như những buổi ăn sáng hồi Tháng Ba, Tháng Tư năm trước. Chỉ hơn một năm không gặp mà thấy ông cũng có phần già đi, tuy phong độ vẫn còn chững chạc như ngày còn tại chức. Còn bà thì hầu như không thay đổi. Vẫn trẻ trung, vẫn dịu dàng, nồng ấm.
Lưu lại nhà ông bà cả tuần lễ, chúng tôi bắt đầu bằng những câu chuyện vui vui về các món ăn bên Anh, bên Mỹ, nhiều khi không hợp khẩu vị. “Tổng thống còn nhớ cái món ‘pín voi hầm thuốc bắc’ không,” tôi hỏi. Ông hỏi lại là tôi ăn món ấy bao giờ? Khi tôi nhắc là ăn trong bữa tiệc mừng sinh nhật của ông cuối năm 1974 gần ven sông Sài Gòn, ông nhớ ngay và phá ra cười: “Ừ thì họ nói là pín voi chứ tôi cũng chẳng biết là pín gì.”
Trong bữa cơm chiều, bà Thiệu cho ăn canh chua, cá kho tộ. Năm 1976 thì ở London cũng chưa có chợ búa Việt Nam nên bà phải cố gắng thì mới có được gia vị để nấu ăn. Hình như là phải nhờ người từ bên Pháp gửi sang. Bà nói ông thích ăn canh chua nấu với lá me non như mẹ ông thường nấu ở Phan Rang, nhưng “làm sao tôi tìm được lá me non ở bên Anh.” Để làm cho ông vui, tôi gợi ý nói đến một đề tài mà ông rất ưa thích: hải sản, làng chài và ngư nghiệp ở Việt Nam. Ông kể lại những kỷ niệm đi câu cá ở sông Sài Gòn và đôi khi câu được cả cá thu ở ngoài Côn Sơn.
Bệnh viện Vì Dân
Còn bà thì hay nói đến bệnh viện Vì Dân. Đối với bà thì đây là một niềm vui lớn và nó còn ghi dấu ấn trong tâm trí. Đây cũng là một di sản quý hóa mà bà để lại cho người dân, nhất là những người nghèo. Chúng tôi đã có dịp tới thăm nhà thương này và thấy nó được xây cất theo tiêu chuẩn quốc tế, được trang bị rất hiện đại, với 400 giường bệnh. Người khám bệnh và chữa bệnh luôn được miễn phí. Các bác sĩ, y sĩ, y tá được chọn lọc cẩn thận. Ngoài ra, lại còn những sinh viên y, dược, xung phong làm việc từ thiện.
Bà kể là sở dĩ nảy ra ý muốn xây một bệnh viện là vì bà hay vào nhà thương Chợ Rẫy thăm bệnh nhân. Nhiều khi thấy hai người phải chen chúc nhau nằm trên một cái giường nhỏ, làm bà hết sức mủi lòng. Vì vậy, ba bỏ ra nhiều công sức đi vận động để xây nhà thương như là một bước đầu để cải thiện nền y tế Việt Nam.
Tài trợ cho bệnh viện này hoàn toàn không dính dáng gì đến ngân sách quốc gia mà do sự đóng góp của những cơ quan từ thiện, những người có lòng hảo tâm trong nước cũng như ngoại giao đoàn. Bà nói tới sự đóng góp đặc biệt của bốn tòa tòa đại sứ Đài Loan, Nam Hàn, Nhật, và Hòa Lan. Bà đi vận động xây nhà thương là do sự đam mê công tác xã hội, hoàn toàn không có mục đích chính trị như một số người đồn thổi.
Ném bom Dinh Độc Lập
Nói tới chính trị, có một biến cố làm bà rúng động và còn nhớ mãi. Đó là vụ ném bom Dinh Độc Lập ngày 8 Tháng Tư, 1975 do một phi công VNCH nổi loạn thực hiện. Một trong hai quả bom thật to chọc thủng bãi trực thăng trên nóc dinh, lọt xuống rồi nổ tung. Ông Thiệu vừa ngồi xuống ăn sáng ở một bàn nhỏ ở ngoài hành lang, lấy đôi đũa gắp sợi bánh đầu tiên trong bát phở nóng thì cận vệ vội tới đưa ông vào ngay thang máy để xuống lầu hầm. Bà Thiệu kể lại là ngay chỗ gần thang máy, một quả bom “dài thòng” rơi sát bên nhưng không nổ. Đầu Tháng Tư là thời gian có nhiều chống đối từ mọi phía đòi ông Thiệu phải từ chức. Ông vẫn bình tĩnh, chỉ hơi cáu kỉnh khi nghe báo cáo về một số quý vị thuộc đảng Dân Chủ “thân chính” tại Quốc Hội quay lại chống ông.
Về biến cố ngày hôm ấy, bà kể là trái bom rơi trúng ngay chỗ mỏng nhất của bãi trực thăng. Mùi khét tỏa ra khắp nơi khi những tấm thảm dầy bốc cháy dữ dội. Lúc ấy bà bị kẹt cứng trong cái phòng của gia đình “vì cháu bé người làm đang lo sắp xếp quần áo đã sợ quýnh lên, tay run lẩy bẩy, không tìm và mở được cái khóa vào cầu thang.” Một lúc sau mới có sĩ quan đến giúp bà xuống hầm trú ẩn. Khói bay lên nghi ngút làm bà như ngạt thở.
“Ông già định ở lại”
Chưa tới hai tuần sau vụ ném bom, ngày 20 Tháng Tư, 1975, Đại Sứ Graham Martin của Mỹ, theo chỉ thị của Ngoại Trưởng Henry Kissinger, tới Dinh Độc Lập thuyết phục ông Thiệu từ chức (với kế hoạch là để Đại Tướng Dương Văn Minh lên thay) và nói: “Nếu ông không chịu từ chức thì các tướng lãnh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm điều này.”
Ông Thiệu hỏi ông Martin: “Nếu tôi từ chức thì liệu viện trợ có đến hay không?”
Ông Martin trả lời: “Tôi không dám hứa nhưng cũng có thể.”
Ông Thiệu kể lại rằng ngày hôm sau, ông mời các tướng lãnh đến Dinh Độc Lập. Trong buổi họp, ông cho họ biết về những chuyện Đại Sứ Martin đề cập tới. Ông Thiệu nói nếu các tướng lãnh coi ông như một chướng ngại vật cho hoà bình của đất nước thì ông sẽ từ chức. Không ai phát biểu gì hết. “Thế là đã rõ họ không muốn tôi ngồi lại ghế tổng thống nữa, cho nên tôi tuyên bố từ chức để Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay, theo đúng Hiến Pháp.”
Chiều ngày 22 Tháng Tư, 1975, ôngThiệu lên TV tuyên bố từ chức. Với tâm tư thật cay đắng, ông tố cáo Hoa Kỳ đã thất ước, đã phản bội VNCH, và nói các ông đã cắt hết quân viện, “để chiến sĩ của chúng tôi chết đuối dưới làn mưa đạn của địch. Đó là một hành động vô nhân đạo.”
Trong bài diễn văn từ chức, ông nói sẽ cùng với nhân dân và quân đội chiến đấu, và “tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ.” Vậy tại sao ông lại ra đi?
Nhiều anh em chiến sĩ và đồng hương vẫn còn đặt vấn đề “ông Thiệu đào ngũ” cho nên chúng tôi đã viết chi tiết về bối cảnh lịch sử của việc Tổng Thống Thiệu ra đi (sách Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, Chương 18). Ông ra đi ngày 25 Tháng Tư là vì chính tân Tổng Thống Trần Văn Hương đã làm áp lực, yêu cầu ông phải ra đi. Ông Thomas Polgar (giám đốc CIA ở Sài Gòn) cũng thuật lại là Tổng Thống Hương gọi cho ông Thiệu khuyên ông sớm rời khỏi Việt Nam, vì “nếu không, Cộng Sản sẽ nói tôi đang điều khiển một chính phủ Thiệu không Thiệu.” Về phía Đại Tướng Dương Văn Minh thì lúc ấy chưa lên tổng thống, cũng muốn ông Thiệu phải ra đi. Trong cuốn “Decent Interval,” tác giả Frank Snepp (nhân viên cao cấp của CIA ở Sài Gòn) viết lại (trang 435): “Ông Minh yêu cầu tướng Charles Timmes là người của CIA phải làm cách nào để ông Thiệu đi lưu đầy (He asked the CIA’s Timmes to see to it that Thiêu was sent into exile).”
Nhân tiện có một cơ hội: Tổng thống Đài Loan là ông Tưởng Giới Thạch vừa qua đời. Tổng Thống Hương liền viết sắc lệnh: “Nay đề cử cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đại diện tổng thống VNCH đến Đài Bắc để phân ưu cùng chánh phủ và nhân dân Trung Hoa Dân Quốc nhân dịp Tổng Thống Tưởng Giới Thạch tạ thế…” Bản văn do Đại Tá Cầm viết tay. May mắn là Thiếu Tá Nguyễn Tấn Phận (một người trong đoàn tùy tùng đi theo cựu Tổng Thống Thiệu) còn giữ được một bản sao của sắc lệnh này.
***
Chỉ ba tuần trước đây, ngày 26 Tháng Chín, khi viết một đôi lời về cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nhân dịp lễ giỗ lần thứ 20 của ông, chúng tôi có nói: “Rất tiếc rằng vì lý do sức khỏe, ngày hôm nay phu nhân Tổng Thống Thiệu không thể tới đây để dự buổi lễ tưởng niệm này. Trong cảnh về hưu cô đơn ở gần San Clemente, California, thỉnh thoảng chúng tôi có tới thăm bà.
Bà sống rất thanh đạm và một mình với một con chó, trong căn nhà nhỏ bé. Trong bếp chúng tôi thấy mì ăn liền Mama chất đầy từng đống. Bà nói cũng không buồn vì quen rồi. Quen từ lúc “ông già’ còn làm tổng thống.
Bà hay dùng hai chữ “ông già” để nói về người chồng. Có lần chúng tôi hỏi bà về ngày bà ra đi khỏi Sài Gòn, bà kể: “Ông già định ở lại.” Hỏi thêm thì bà nói: “Sau khi từ chức, ông già mặc cái quần xà lỏn và nói: ‘Mẹ con mày đi đi, tôi ở lại.’”
Chúng tôi chưa hề biết chuyên này nên hỏi thêm thì bà mới kể: “Ông già ngậm một cái cục gì ở trong hàm răng.” Chúng tôi giật mình, vì ý bà muốn nói là ông ngậm một loại thuốc độc mà điệp viên thường dùng để phòng hờ trường hợp phải đối đầu với tình huống bi cực nhất.
Dọn sang Mỹ sau khi ông Ronald Reagan lên ngôi
Ông bà Thiệu chọn nước Anh để lưu vong trong giai đoạn đầu. Chính phủ Anh cũng rất kính trọng đời sống riêng tư của ông và gia đình. Bà Thiệu kể lại là ngay từ khi tới London, chính phủ đối xử với gia đình ông bà rất chu đáo, lại còn cử một đại úy coi về an ninh để tiếp cận và yểm trợ, hướng dẫn ông cùng gia đình về đời sống xã hội trong thời gian tới trên một năm.
Gia đình chỉ dọn sang Mỹ dưới thời Tổng Thống Ronald Reagan. Bối cảnh là như thế này: Sau Hiệp Định Paris, Tổng Thống Richard Nixon mời ông Thiệu sang thăm Hoa Kỳ. Nhưng ông Nixon lại mời ông về tư dinh là Casa Pacifica ở San Clemente chứ không đón tiếp ông với tư cách là một vị quốc trưởng ở Washington, DC. Tiệc khoản đãi ông Thiệu ở Casa Pacifica chỉ vỏn vẹn có 12 người, kể cả chủ lẫn khách. Lý do đưa ra là “không đủ chỗ ngồi.” Điều yên ủi đối với ông Thiệu là thái độ và tình cảm của Thống Đốc Ronald Reagan lúc đó. Trước đó, ông Thiệu đã đón tiếp ông Reagan nồng hậu khi ông thăm viếng Sài Gòn. Nhân dịp này, ông có tặng ông Reagan một cặp ngà voi và nói đùa với ông: “Một ngày nào đó, ngài sẽ lên voi.”
Năm 1976, ông Reagan ra vận động làm ứng cử viên của đảng Cộng Hòa để tranh chức tổng thống, nhưng ông không được đảng chọn, và thua ông Gerald Ford dù rất ít phiếu. Vì uy tín của đảng Cộng Hòa xuống quá thấp trong thời Nixon và thời Ford, cho nên ông Jimmy Carter trúng cử. Dưới triều đại Carter, uy tín của Hoa Kỳ lại tiếp tục suy giảm hơn nữa, phần lớn vì thù địch đã coi thường nước Mỹ sau khi tháo chạy khỏi Việt Nam.
Sau cùng thì ông Reagan thắng trong cuộc bầu cử Tháng Mười Một, 1980. Ngày 20 Tháng Giêng, 1981, ông Reagan lên ngồi chắc trên lưng voi và lời tiên đoán của ông Thiệu đã đúng.
Ra đi sau biến cố 9/11
Ở Boston khi chớm Thu thì cũng đã bắt đầu lạnh. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ông bà Thiệu thành hôn, cháu Nguyễn Quang Lộc mời bố mẹ sang du lịch bên Hawaii. Vừa tới nơi vài hôm là biến cố 9/11 xảy ra. Bà Thiệu kể lại là ông rất “lo ra” khi thấy chiếc máy bay cất cánh ngay từ phi trường ở Boston (là nơi ông đang cư ngụ) rồi đâm vào Trung Tâm Thương Mại Quốc tế tại New York và một chiếc khác lại nhào vào Ngũ Giác Đài. Xúc động này ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của ông.
Trong mấy năm ông bị bệnh tim, bà Thiệu phải lái xe chở ông vào nhà thương. “Tiếc rằng không còn bệnh viện Vì Dân để chị săn sóc cho ông già,” bà tâm sự. Bây giờ tuổi đã cao, bà phải lái xe ban đêm một mình trên xứ người, đi vòng vèo khá lâu mới tới bệnh viện. Bà kể có hôm mãi tới 1 giờ sáng mới về tới nhà. Lúc về lại phải đi tìm xe ở dưới cái hầm nhà thương tối lù mù nên bà còn sợ ma, có lúc phải đi giật lùi. “Thôi thì cũng còn tôi để lái xe cho ông tổng thống,” bà nói cho ông vui hôm sau trở lại nhà thương thăm ông. “Cám ơn bà,” ông Thiệu nhoẻn nụ cười đáp lại.
Sau vụ 9/11, ông rất muốn rời Hawaii để trở về Boston ngay, nhưng tất cả các máy bay đều án binh bất động, cả tuần sau mới về được. Về tới nhà thì bệnh ông thêm nặng. Thứ Năm, ngày 27 Tháng Chín, 2001, ông bị té xỉu, rồi hôn mê. Tại Trung Tâm Y Tế Beth Israel Deaconess, ông đi vào giấc ngủ ngàn thu chiều Thứ Bảy, 29 Tháng Chín, 2001.
Tổng Thống Thiệu ra đi chưa tới ba tuần sau biến cố 9/11. Trong một bài bình luận thật dài đăng trên mạng với tựa đề “Nguyễn Văn Thiệu và Cuộc Khủng Bố 11 Tháng Chín,” tác giả David Bennett bình luận: “Cái chết của ông Thiệu trong Tháng Chín vừa qua nêu lên một câu hỏi: Liệu Hoa Kỳ có quyết tâm để chiến thắng cuộc chiến chống khủng bố này (tại Afghanistan) hay không…và liệu Hoa Kỳ có nhất định giúp xây dựng lâu dài một quốc gia Afghanistan hay không?” Lúc ấy thì ở thế giới bên kia, ông Martinô Nguyễn Văn Thiệu đã có câu trả lời.
Sau khi ông mất, trong cảnh cô đơn giá lạnh ở Boston vào mùa Đông, chúng tôi cùng người bạn là Tiến Sĩ Tạ Văn Tài ở đại học Harvard University đến thăm bà. Bà sống đạm bạc, vẫn giữ nguyên bộ xa lông cũ kỹ nay đã sờn. Trên một cái bục cao bà để hình ông và một chai rượu xâm banh. Hỏi về chai rượu thì bà kể là cứ mỗi năm khi đến ngày kỷ niệm thành hôn của hai vợ chồng, ông mua một chai sâm banh, tự tay mở ra và mời bà uống với ông một ly, dù bà không biết uống rượu. Như vậy là bà muốn cùng ông giữ lại suốt đời cái kỷ niệm không bao giờ nhạt nhòa. Bà nói là người ta dèm pha là ông già với bà này cô kia, nhưng bà cũng chẳng để ý vì “tía đi rồi tía lại về.” Nghe vậy, anh bạn Tài phá ra cười, còn tôi thì lúc ấy cũng không hiểu tía là gì nên không cười. Thì ra con người bình dị, hiền hậu vùng đồng bằng Cửu Long còn khoan dung cả với người chồng.
***
Có lần ông Thiệu hỏi người Mỹ nghĩ thế nào về ông, chúng tôi nói về một hai khía cạnh: Khen có, chê có, rồi thêm: “Tôi nghe một tướng Mỹ nói là tổng thống nhu nhược.” Ông Thiệu hỏi tại sao? Tôi trả lời là ông ấy nói “Tổng thống không cương quyết đủ để ra lệnh tử hình khi cần thiết để làm gương.” Ông nhìn tôi giây lát rồi chậm rãi nói: “Suốt đời, tôi đã tránh không có cái nợ máu.”
Xét ra thì trong suốt thời gian 10 năm ông lãnh đạo, thực sự đã không có tội nhân nào phải ra pháp trường. Trên bàn thờ nhà bà Thiệu ở Newton, Massachusetts, vẫn còn treo một cái bảng với phương châm do chính ông viết rồi cho người thêu chữ thật to “Đức Lưu Quang” (Ánh sáng của đạo đức tồn tại mãi). Bà luôn chỉ vào đó mà dạy con cái phải ăn ở cho có đức.
Nếu chúng ta tin rằng mọi việc trên cõi đời này đều do Trời an bài xếp đặt, thì Trời cũng phù hộ ông Thiệu trải qua nhiều nguy hiểm trong gần 10 chèo lái con thuyền miền Nam Việt Nam qua bao nhiêu sóng gió. Theo như những chuyện ông kể lại thì đếm ra cũng có tới sáu lần ông bị đe dọa làm ông cảnh giác về đảo chính. Như vậy thì Trời cũng đã giúp cho bà Thiệu không phải trở thành quả phụ của một tổng thống khi còn đương nhiệm.
Ngày 15 Tháng Mười, 2021, bà đã theo ông về thế giới bên kia. Ở đó thì “Cô Bảy Mỹ Tho” Nguyễn Thị Mai Anh sẽ mãi mãi được gần “Cậu Tám Phan Rang” Nguyễn Văn Thiệu. [đ.d.]
Ai cho quan làm người lương thiện?
Bởi AdminTD
21-10-2021
Trường hợp anh Nguyễn Quang Tuấn giám đốc BV Bạch Mai bị bắt khá giống trường hợp anh Đinh La Thăng. Tức là có sai phạm nhưng vẫn được lên chức to hơn rồi bị bắt ở vị trí to hơn đó. Ở vị trí đương nhiệm thậm chí các anh còn muốn lập công chuộc tội.
Anh Thăng không có tì vết khi làm Bí thư HCM, thậm chí còn có nhiều động thái dân tuý, khiến cho nhiều người dân xúc động, tưởng chừng đã có một quan phụ mẫu vì dân. Như việc đập hè phố bởi anh Hải “cẩu” hay việc yêu cầu Vinamilk mua sữa của nông dân…
Anh Tuấn thì cải tổ BV Bạch Mai theo hướng giảm chi phí cho người bệnh, vừa rồi đích thân vào HCM chống dịch nhiệt tình. Anh còn nằm trong danh sách được thủ tướng khen thưởng (số 44 trong danh sách!) nhưng chưa kịp nhận thì đã bị bắt. Chắc bằng khen sẽ được trao trong trại? Hay bị tước bỏ?
Cả hai đều dùng SG làm nơi lập công chuộc tội nhưng đều không thoát, đều bị bắt vì những lỗi trong quá khứ chứ không phải ở vị trí đương nhiệm.
Trường hợp anh Tuấn kể ra cũng đau đớn khi người ta chờ cho lãnh đạo chống dịch xong rồi bắt, ngay trước khi kịp nhận bằng khen. Chuyện này làm mình liên tưởng đến trường hợp ông Vũ Ngọc Hải, nguyên Bộ trưởng Bộ Năng lượng, bị bắt vì để thất thoát trong dự án đường dây 500KV, rồi nhận kỷ niệm chương của Thủ tướng trong trại giam.
Anh Chung “con” cũng vào lò sau khi chống dịch ở HN. Nhiều người vẫn nhớ tới phong cách chống dịch với những phát ngôn kiểu không còn gì để mất của anh. Đến mức thủ tướng phải lên tiếng cảnh cáo.
Vừa rồi có doanh nghiệp lập công tặng rất nhiều vaccine cho HCM. Nhưng liệu có thoát tội do liên quan đến một số quan chức thành củi?
Mình dự đoán là thời gian tới người ta sẽ thanh tra, kiểm toán ngân sách chống dịch và chắc chắn sẽ có một mớ quan lại vào lò. Vì dịch bệnh là cơ hội để anh em đốt tiền ngân sách, chỉ định thầu bừa bãi, ăn uống mạnh bạo hơn qua sân sau. Như việc test nhanh vô tội vạ chẳng hạn.
Thời gian qua đã có anh Nguyễn Nhật Cảm giám đốc CDC Hà Nội vào lò, đã để lại bao nuối tiếc với giới Y tế, vì liên quan đến việc thất thoát trong việc mua sắm thiết bị y tế. Không hiểu vụ đó có làm anh em chùn tay?
Ai cho quan làm người lương thiện?
Bởi AdminTD
22-10-2021
Ông Nguyễn Quang Tuấn là một tài năng y học. Ông đã từng đi tu nghiệp chương trình tại Đại học Toulouse, Pháp học về ngành Tim mạch can thiệp.
Năm 2010, nhóm của ông Nguyễn Quang Tuấn và tiến sĩ Phạm Mạnh Hùng được trao giải nhất Giải thưởng “Nhân tài đất Việt” trong lĩnh vực y tế cho đề tài “Can thiệp động mạch vành qua đường ống thông (đặt stent)”.
Năm 2017, ông là Chủ tịch Hội Tim mạch can thiệp Việt Nam, Chủ tịch Hội Tim mạch Hà Nội, Thành viên Ban cố vấn Hội Tim mạch học can thiệp châu Á-Thái Bình Dương (FAPSIC), Thành viên Hội Tim mạch học can thiệp Hoa Kỳ (FSCAI).
Từng thấy nhiều lần trong diễn đàn họp Quốc hội ông có nhiều ý kiến tâm huyết. Tôi là hàng xóm, thường đi tập GYM cùng. Hiếm có một quan chức nhà nước nào chăm chỉ tập luyện như ông. Trong khi phần lớn quan chức bụng bia ì ạch, mặt bóng nhẫy vì nhậu nhẹt. Ông Tuấn là người tập luyện chăm chỉ nhất trong nhóm chăm chỉ của phòng tập. Nhiều bạn bè tôi trong ngành y thường nói chuyện về ông với sự vị nể rất sâu đậm…
Nghe đứa em kinh doanh vật thêu y tế nói một cái stent tim mạch giá bị đẩy lên 5,7 lần thì với vị trí giám đốc BV Tim ông Tuấn không thể vô can, bị khởi tố, tù nặng là đúng rồi…
Nhưng…
Ngành y mất đi một thầy thuốc giỏi. Các trường Đại học Y mất một người thầy đào tạo ra nhiều bác sĩ giỏi để cứu người. Cái mất mát này quá lớn. Và có biết bao nhiêu người kiểu như ông Tuấn. Đau thương gia đình buộc phải gánh chịu. Nhưng thiệt hại cho xã hội là vô cùng lớn. Khởi tố tống giam dễ lắm. Nhưng có được một nhà khoa học, một giáo sư đầu ngành để cứu người thì lâu, lâu và hiếm lắm…
Vì sao?! Cơ chế, tổ chức xã hội phải được vận hành khoa học, dân chủ minh bạch để sử dụng tốt nhất nguồn nhân lực con người cho phát triển đất nước. Việc từng dây từng chùm cán bộ nhà nước sai phạm, khởi tố, đi tù… chứng tỏ cơ chế vận hành có vấn đề. Cơ chế gì mà đầu vào là nhân tài, đầu ra toàn tội phạm?! Thay vì nuôi dưỡng, làm bệ phóng cho con người thì toàn thấy người tài, anh hùng, tướng tá, bộ trưởng, bí thư, chủ tịch… bị tống giam.
Từng chùm…
Từng chùm dắt díu nhau ra toà…
BÀI HỌC CUỘC SỐNG CỦA NGÔI SAO 100 TUỔI
Bà Iris Apfel ở New York nhà thiết kế thời trang và nội thất được The Guardian vinh danh là “Người gìa mặc đẹp nhất thế giới”. Bảo tàng nghệ thuật Metropolitan nhận xét bà là người năng nổ nhất thế giới thời trang, bà đã xây dựng một phong cách vừa dí dỏm vừa cá tính. Ở tuổi 100 còn việc gì để làm ngoài sự nghỉ ngơi, nhưng bà vẫn thích làm việc và bận rộn là điều bà thích nhất, tôi yêu những gì tôi làm, tôi đặt cả trái tim và tâm hồn vào nó, bà chia sẻ cảm nghiệm:
*Tuổi tác chỉ là con số, tuy đã 100 tuổi nhưng bà thấy không gì khác cách đây vài năm. Bà vẫn khỏe mạnh, không ăn vặt, không uống soda, ít khi uống rượu, thể dục đều đặn.
*Nếp nhăn không có tội nó là một huy chương của lòng dũng cảm, nếu Chúa cho bạn sống ngần ấy năm tại sao phải che giấu nó?
*Phong cách con người là những thứ từ bên trong con người bạn, thể hiện chính mình không sao chép từ người khác, bạn có thể có nhiều tiền nhưng không có phong cách nào cả. Không phải khoác lên người những thứ đắt tiền, bộ đồ thời trang, đôi giầy đắt gía trông giống như cây thông Noel! Không phải bạn mặc gì mà là cách bạn mặc thế nào sẽ định hình phong cách. *Hãy tự vươn lên trong mọi nghịch cảnh. Năm 2015 chồng bà qua đời ở tuổi 101 sau 68 năm chung sống hạnh phúc. Bà đau khổ nghĩ mình chẳng xoay xở được gì khi thiếu ông, nhưng bà nhớ lại ông luôn khuyến khích bà phải làm việc em phải làm đi, ông chẳng muốn bà ngồi lau nước mắt đâu! Bà gạt đi nỗi sợ hãi để theo đuổi những đam mê của mình.
*Làm những việc thấy hứng thú. Không bao giờ bà nghĩ sẽ trở thành biểu tượng thời trang hay đại diện một hãng mỹ phẩm ở tuổi 90. Bà chỉ hành động theo mệnh lệnh của con tim, điều gì thấy thú vị và hấp dẫn bà sẽ làm. Với bà xuôi theo dòng nước dễ dàng nhưng ngược dòng nước mới thú vị.
*Bà không nghĩ mình không thể làm điều gì chỉ vì là phụ nữ. Bạn chỉ thất bại nếu không cố gắng, phải tiến bước dù chỉ là một bước nhỏ. Bạn không thể có tất cả mọi thứ trong cuộc sống mà không hành động trước đầy rẫy những lựa chọn.
St
Đặc điểm của những người tin vào thuyết âm mưu khi tranh luận
Bởi AdminTD
20-10-2021
Vừa nhận ra một vài đặc điểm của những người tin vào thuyết âm mưu khi tranh luận.
– Mày có chắc mày là con ruột của bố mẹ mày không?
– ơ kìa, tất nhiên tao là con ruột của bố mẹ tao rồi.
– bằng chứng đâu?
– tao có giấy khai sinh.
– giấy khai sinh là do bố mẹ mày làm, họ bảo mày là con ruột, nhưng mày có dám chắc họ nói thật không?
Tất nhiên là họ không quan tâm việc bạn có là con ruột của bố mẹ bạn hay không, cái họ cần là bạn nảy sinh sự nghi ngờ. Trong bất cứ vấn đề nào, từ vắc-xin cho đến hiện tượng hay sự kiện, cái họ hướng tới là lật đổ sự thật bằng cách gieo rắc sự ngờ vực.
Khi tranh luận với những người này thì họ sẽ đẩy trách nhiệm chứng minh về phía bạn. Kiểu, mày chứng minh mày là con ruột của bố mẹ mày đi. Trong khi nhẽ ra nếu nó muốn mình tin mình không phải con ruột thì nó phải đi chứng minh chứ. Ơ kìa, wtf!
Nhưng chiến thuật này của họ lại tỏ ra rất hữu dụng, bằng cách đẩy trách nhiệm chứng minh về phía đối phương, họ sẽ luôn ở cửa trên trong bất cứ màn tranh luận nào, vì họ chỉ cần đọc thần chú “chứng minh đi”.
Nếu gặp phải ai đó trang luận cứng, đưa ra các lập luận và dẫn chứng đanh thép, thì họ sẽ lập tức chuyển chủ đề, hoặc cùng lúc nói về dăm ba thứ để bạn quên đi chủ đề ban đầu. Đây là kế “ve sầu thoát xác”, biết bản thân ở vào thế bí nên phải thoát thân.
Ví dụ, đang tranh luận về vắc-xin thì tự dưng lại lôi khẩu trang, kiểu test, đủ các thứ ra để bắt bạn chứng minh.
Họ sẽ bảo là bạn thiếu hiểu biết, rồi thì bạn có vấn đề tư duy, hay bạn bảo thủ, bạn bla bla bla. Cốt là để chọc tức bạn, khích bác người khác sẽ khiến người ta mất bình tĩnh do đó sẽ bỏ cuộc tranh luận hoặc sẽ chuyển từ tranh luận sang cãi nhau. Mà đã cãi nhau thì huề cả làng.
Nếu khích bác không khiến bạn nổi giận thì họ sẽ chửi. Chửi bạn ngu, đần, đủ thứ cả. Cốt cũng là để khiến bạn chửi nhau với họ thôi. Vì đã chửi nhau thì lại thành huề cả làng.
Thuyết âm mưu nguy hiểm thế nào?
Xã hội loài người vận hành dựa trên sự tin tưởng, từ việc làm ăn chúng ta tin tưởng rằng đối tác sẽ tôn trọng thoả thuận, đến chuyện tình cảm chúng ta tin tưởng đối phương trung thành. Việc gieo rắc sự ngờ vực vào những thiết chế xã hội vô cùng quan trọng như kết quả nghiên cứu khoa học, nền dân chủ, vân vân, sẽ dẫn đến tình cảnh hỗn loạn và nhiều khi là mạng người như trong đại dịch này chúng ta đã chứng kiến.
Vậy chẳng nhẽ ta không nên nghi ngờ?
Có, phải nghi ngờ chứ! Nghi ngờ giúp chúng ta tỉnh táo, và bảo vệ bản thân. Vấn đề là nghi ngờ thế nào. Chắc hẳn ai cũng đã nghe đến thuật ngữ “nghi ngờ hợp lý”, tức là sự nghi ngờ của chúng ta phải dựa trên lý lẽ, lập luận logic, bằng chứng khoa học. Chứ không phải dựa trên những câu nói vu vơ kiểu “mày có chắc mày là con ruột bố mẹ mày không?”.
Chúng ta biết vắc-xin hiệu quả bởi vì đã có vô vàn nghiên cứu, thực nghiệm, cải tiến, hàng ngàn loại vắc-xin đã được đưa vào sử dụng và rất nhiều bệnh tật đã bị xoá sổ. Công trình vĩ đại đó, với hàng núi dữ liệu, chẳng nhẽ lại không bằng mấy cái post giật gân trên Facebook hay mấy bài đăng trên website đuôi wordpress hay sao?
October 21, 2021
Nguyễn Quang Chơn
Và lần này, 2021, những cuộc tháo chạy, giải cứu, ra đi…, (Hình: Chi Pi/AFP via Getty Images)
“Ra đi, ấy là chết trong lòng một ít!” (partir c’est mourir un peu! ngạn ngữ Pháp). Vâng, mỗi lần ra đi là mỗi lần buồn, khi phải lìa xa nơi mình vốn quen thương, yêu dấu. Ba hôm nay, nghe, đọc, nhìn, những hình ảnh người tạm cư Sài Gòn ùn ùn “trốn chạy” về quê nhà, thấy đau xót làm sao!…
…
Đất nước ta đã ít nhất có ba lần ra đi. Lần thứ nhất, 1954, hơn một triệu người dân miền Bắc lên tàu vào Nam. Nước mắt và lòng yêu thương thấm đẫm làng quê, đau xót thân nhân ở lại. Đi, chết nửa hồn người. Nhưng cuộc ra đi lần này trật tự, an toàn trong giám sát của một uỷ ban quốc tế…
Lần thứ hai, 30 Tháng Tư, 1975, hơn một triệu người miền Nam bỏ nước. Họ ra đi mà chẳng ngóng ngày về. Hàng ngàn người mất mạng trên biển khơi, trong rừng rậm, bởi thú hoang, bởi thiên nhiên, bởi những hải tặc, lâm tặc tàn ác, vô lương. Và, bởi những họng súng vô nhân của công an đồng loại. Máu chảy, tù đày, và nước mắt, sự ra đi đối mặt với chết chóc trên hành trình tìm đến tự do. Sự ra đi bị chính quyền quê nhà đóng tên: “phản quốc!…”
Và lần này, 2021, những cuộc tháo chạy, giải cứu, ra đi…, với biết bao ngàn người khốn khó vạ vật, hốt hoảng, rời xa vùng đất từng cưu mang họ, mà chắc chắn đầy ắp yêu thương, đầy ắp nghĩa tình. Cuộc ra đi lần này là chẳng đặng đừng, là bất lực, là đói kém, khi chính quyền bất khả cứu giúp họ giữa đại dịch cúm tàu. Đi, và sẽ trở về. Mong là sẽ trở về, trong may mắn!…
…
Cả ba cuộc ra đi của dân Việt từ 1954 đến 2021 bởi chỉ vì muốn được giải thoát khỏi một thể chế duy nhất, đều trong lo sợ, mất lòng tin. Dẫu sao, mọi chuyện đã đến, đã thế, đã qua, mong là những bậc cầm quyền hiểu cho rằng, đừng để dân lại phải ra đi. Họ đi, các người cũng chẳng được gì, và, đến một lúc không lâu, đến lượt các người cũng phải trốn chạy ra đi trong ô nhục đớn hèn, nếu niềm tin trong lòng người dân mất hẳn!…
Hãy nhớ cho, đó là qui luật bất biến của cuộc đời!…
04.10.21
CÙNG NHAU SUY GẪM…
***
Con Người Ta Sống Để Làm Gì?
Có bao giờ trong cuộc sống bon chen vội vã hằng ngày, ta dừng lại vài phút và tự hỏi mình sinh ra đời để làm gì?
– Phải chăng là để chạy theo sau đồng tiền, danh lợi, địa vị, tình yêu, sắc đẹp, của cải v.v…?
– Ðể lập gia đình, sinh con đẻ cái nối dõi tông đường?
– Ðể gây dựng một sự nghiệp?
– Ðể tranh đấu cho một lý tưởng chính trị, kinh tế, xã hội…?
– Hay là chỉ để đơn giản đi làm kiếm ăn sống qua ngày như bao nhiêu người khác?
– Ðể rồi một ngày kia nằm xuống và ra đi với hai bàn tay trắng?
***
Có ai dừng lại vài phút để tự hỏi hay tự kiểm lại xem cuộc đời mình đang sống đây có ý nghĩa gì không?
– Mình có hài lòng với những gì mình đang có và đang sống không?
– Những cái đó có đem lại cho mình hạnh phúc hay không?
– Hay mình chỉ là một kẻ nô lệ, một người máy rôbốt, mặc cho xã hội vật chất lôi kéo và điều khiển?
Ở đây không bàn đến những người theo chủ nghĩa vô thần (vô đạo), chủ trương duy vật, sống chỉ để hưởng thụ, chết là hết.
Trong Phật giáo, đa số cho rằng sinh ra ở đời là để tạo nghiệp và trả nghiệp, vay trả trả vay cho kiếp trước, mãi mãi không ngừng. Trên luật nhân quả thì mỗi khi ta cử động, nói năng hay suy nghĩ một chút, dù chỉ vài giây thôi cũng là tạo ra nghiệp lực, và như vậy thì đương nhiên sẽ gặp quả báo, tránh sao cho khỏi.
Nhưng quan niệm này nếu không khéo thì có thể khiến cho người ta trở nên thụ động, gặp việc gì cũng đổ thừa là tại “nghiệp” rồi ngồi yên chịu trận.
Cuộc đời đã lắm khổ đau, sao ta không tìm những quan niệm khác giúp ta lạc quan hơn trong cuộc sống?
Ðối với tôi, con người sinh ra ở đời là để học hỏi những kinh nghiệm để tiến hóa.
Mỗi kiếp sinh ra là một lớp học. Ta có thể chọn học một hoặc nhiều môn, nhưng bài học phải được hiểu và học cho xong thì mới được lên lớp (lên các cõi cao hơn như cõi trời để học tiếp).
Nếu học không xong thì sẽ bị ở lại (cõi người) hoặc bị giáng cấp (cõi atula, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục)
Vì nghề nào cũng có giá trị và cùng đóng góp cho sự tiến hóa của nhân loại, nếu như ta đứng trên quan niệm: – Cuộc đời là một trường học tiến hóa và để yêu thương …


Thơ gởi cho H. than phiền về sự vô ơn của bạn bè.
Thân mến gởi H.,
Trả lời về vấn đề làm ơn cho bạn bè, xin việc cho bạn bè, giúp đỡ cho họ có công ăn việc làm, rồi họ không thèm nhớ ơn, mà còn nói xấu mình nữa. Nhớ lại câu chuyện 10 người phong cùi được Chúa Giê-su chữa lành, trong đó chỉ có một người cám ơn Chúa mà thôi, còn 9 người kia thì vô ơn đối với Chúa.
***
Tạ ơn Thiên Chúa trong mọi sự, trong mọi hoàn cảnh.
Thông thường không ai có thể cám ơn Thiên Chúa khi gặp hoạn nạn hay gặp tai họa, điều này rất khó làm, nhưng nếu ta có ơn Chúa, nhờ Chúa giúp sức ta có thể làm được. (1)
Khi gặp tai họa hay hoạn nạn, hay người khác nói xấu ta, hảm hại ta, thông thường ta rất chán nản, đau đớn, than van, bực mình, khó chịu về những điều đau đớn mà ta không muốn có.
Nhưng khi than van, bực mình, khó chịu nào có ích gì cho tâm hồn ta. Tại sao ta không phó thác mọi sự trong tay Chúa. Hoặc ta vui vẻ chấp nhận những khó khăn, gian nan, hoạn nạn đó, hay là ta bực mình than thở, thì sự việc vẫn xảy ra như vậy, ta vẫn phải chịu đựng mà thôi. Nếu ta tạ ơn Chúa vì những hoạn nạn đó để ta thông phần, chia xẻ những khổ nạn của Chúa trên đường thập giá mà Chúa đã đi.
Vì có thể đó là chương trình của Thiên Chúa để mình học đức khiêm nhường, nhẫn nhục, học hỏi sự kiên nhẫn, yêu thương.
Nếu ta tạ ơn Chúa trong nghịch cảnh, trong sự bất như ý, trong hoạn nạn, (rất khó chớ không dễ dàng đâu) khi đó, hạnh phúc và niềm vui sẽ đến với chính mình. Thông thường mỗi người sẽ có thể cảm nghiệm hạnh phúc, niềm vui riêng khi cầu nguyện, tạ ơn Chúa.
Chúa Giê-su Kitô sẽ giúp cho H. thay đổi tâm tư, tình cảm và ý nghĩ của mình để yêu thương những người gây khó khăn cho mình và không giận hờn họ nữa. (2)
Nếu học và làm theo lời Chúa Giê su đã dạy: “Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em” (Mt 5,44) mà họ đâu phải là kẻ thù, họ là bạn bè mà, nên ta có thể thay vì bực mình, thù ghét họ thì nên tha thứ và yêu thương.
Nho giáo cũng có dạy: “Thượng bất oán Thiên, hạ bất trách nhân” (trên không oán Trời, dưới không trách người)
Chúa Kitô là nhà tâm lý đại tài. Sự ghen ghét, tức giận làm cho tim ta đập mạnh, tay chân mình lạnh ngắt, khó chịu, mất ngủ, nhưng nếu tự mình thay đổi suy nghĩ, thay vì thù ghét thì tội nghiệp họ, yêu thương họ, thì tâm lý mình sẽ khác đi. Tâm hồn mình sẽ tìm thấy niềm vui. Khi gặp họ mình sẽ bình an, vui vẻ.Tất nhiên tâm hồn mình lạc quan, yêu đời.Trong lòng sẽ hân hoan và dĩ nhiên sẽ đem sự hân hoan, vui vẻ đó để gặp gỡ những người chung quanh, thì họ cũng sẽ hưởng lây tâm tình yêu thương, vui vẻ của mình. Mình vui thì họ cũng vui. Bầu khí chung sẽ vui lên.
***
Người đời thường nói “nhất quá tam: Đúng ra là “sự bất quá tam”, ý muốn nói không được quá ba lần. Tha thứ kẻ lầm lỗi, chỉ nên tha thứ ba lần, nếu vi phạm lần thứ tư phải trách phạt. Còn đối với Chú Giê-su thì tha bảy lần bảy.
Bấy giờ Ông Phêrô đến gần Chúa Giêsu và hỏi rằng: Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha thứ đến mấy lần? Có phải bảy lần không? Chúa Giêsu đáp: Thầy không bảo con là đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy (Mt 18,21-22). Nghĩa là phải tha thứ mãi mãi, tha thứ hoài, vô tận.
Làm sao học tha thứ như khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá, Chúa Giê-su đã nói: “Hãy tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.”
Phùng Văn Phụng
09-2021
Tìm hiểu thành ngữ TÁI ÔNG THẤT MÃ 塞翁失馬
Xưa có ông lão tên là Tái Ông sinh sống ở vùng biên giới phía Bắc Trung Hoa. Ông rất giỏi việc nuôi ngựa. Ngày kia ngựa của Tái Ông xổng chuồng chạy sang nước Hồ lân cận. Hàng xóm láng giềng hay tin đã đến an ủi nhưng Tái Ông lại cười mà rằng: “Tôi tuy mất ngựa, nhưng đó có thể lại là điều tốt.”
Vài tháng sau, con ngựa mất tích đột nhiên trở về lại dẫn thêm một con tuấn mã. Thấy thế, hàng xóm đến chúc mừng, tuy nhiên Tái Ông cau mày nói: “Tôi được ngựa quý, sợ rằng đó chẳng phải là điềm lành.”
Con trai ông thích cưỡi con ngựa quý, một hôm anh ta ngã ngựa gãy chân và trở thành tàn tật. Hàng xóm đến khuyên nhủ ông đừng quá nghĩ ngợi, Tái Ông điềm nhiên: “Con trai tôi tuy gãy chân, nhưng đó chưa hẳn đã là điều không may.” Khi đó hàng xóm nghĩ rằng ông lão quá đau buồn nên bị quẫn trí.
Một năm sau, nước Hồ láng giềng đưa quân sang xâm lược. Tất cả thanh niên trai tráng đều phải tòng quân và hầu hết đều bị tử trận. Con trai ông vì tàn tật nên được ở nhà và thoát chết. Lúc này hàng xóm láng giềng mới thấy rằng những lời của Tái Ông quả thật rất thâm thúy.
https://www.facebook.com/vuihocchuhan/posts/2797912963662864/
Bài giảng rất đáng bỏ thì giờ ra nghe và suy ngẫm
httpv://www.youtube.com/watch?v=vOWSUTq-92I
ĐEM YÊU THƯƠNG VÀO NƠI OÁN THÙ – Lm Phạm Tĩnh
Tình Ruột Thịt Và Ngai Vàng
Bùi Quý Chiến
Lịch sử Việt nam có những điểm son rực rỡ từ những cuộc đấu tranh giành độc lập tới các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và các cuộc viễn chinh mở rộng bờ cõi về phía nam. Các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn Quang Trung từng lúc thịnh suy nối tiếp nhau.
Tuy nhiên mỗi triều đại có một điểm đen do nội bộ hoàng tộc tranh giành nhau ngôi báu.
1- Dương Tam Kha Cướp Ngôi Của Cháu.
Năm 944 Ngô Quyền mất, em vợ là Dương tam Kha tự ý xưng là Bình vương thay vì lập con trưởng của Ngô vương là Xương Ngập lên nối nghiệp như lời ủy thác của anh rể. Xương Ngập sợ bị cậu giết nên trốn sang Nam sách tị nạn ở nhà Phạm lệnh Công. Tam Kha cho quân đuổi theo nhưng Xương Ngập được Lệnh Công đem vào núi trú ẩn an toàn.
Em Xương Ngập là Xương Văn được Tam Kha nuôi làm con nuôi. Nhân có giặc nổi lên ở Sơn tây, Tam Kha sai Xương Văn đi dẹp loạn. Trên đường hành quân, Xương Văn thuyết phục được hai tướng dưới quyền là Dương cát Lợi và Đỗ cảnh Thạc đem quân về lật đổ Tam Kha.
Nghĩ tình cậu cháu, Xương Văn chỉ giáng Tam Kha xuống tước Trương dương công rồi lên ngôi xưng là Nam Tấn vương.
Nam Tấn vương cho đi tìm anh về để chung nhau ngai vàng. Xương Ngập xưng là Thiên Sách vương.
Lần đầu tiên (và duy nhất) trong sử Việt, hai anh em cùng làm vua.
2- Vì Ngôi Thái Tử, Đinh Liễn Ngầm Giết Em.
Đinh Liễn là con trưởng của Đinh bộ Lĩnh, từng theo cha xông pha trận mạc. Khi cha lên ngôi hoàng đế, Đinh Liễn được phong Nam Việt vương. Tuy nhiên ngôi Thái tử được cha phong cho em là Hạng Lang. Bất mãn, Đinh Liễn ngầm cho người giết em.
Năm 979 Đinh Tiên hoàng và Đinh Liễn bị Đỗ Thích lợi dụng đêm tối leo vào hoàng thành giết chết. Chỉ là một quan lại nhưng nằm mơ thấy sao rơi vào mồm nên Đỗ Thích cho là điềm được Trời cho làm vua. Đỗ Thích bị bắt và bị xử tội.
Triều thần tôn Đinh Tuệ mới 6 tuổi lên nối ngôi và tôn mẹ là Dương thị làm Thái hậu.
Phụ chính là Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Dương Thái hậu tư tình với Lê Hoàn.
Nhân nhà Tống mưu đánh nước ta, Quân đội và Dương thái hậu đồng lòng đưa Lê Hoàn lên thay thế Ấu vương Đinh Tuệ để tạo uy thế chống xâm lăng.
3- Lê Long Việt Lên Ngôi Được 3 Ngày Thì Bị Em Giết Chết.
Vua Lê Đại hành có 4 người con: Long Du, Ngân Tích, Long Việt và Long Đĩnh. Long Việt được lập làm Thái tử.
Năm 1005 Đại Hành mất, 4 hoàng tử đánh nhau suốt 7 tháng để tranh giành ngai vàng. Cuối cùng Long Việt được kế nghiệp, sử gọi là Lê Trung tông. Nhưng chỉ 3 ngày sau, Trung tông bị em là Long Đĩnh sai người giết chết.
Long Đĩnh rất bạo ngược, lấy việc giết người làm thú vui. Vì quá dâm dục nên mắc bệnh chỉ có thể nằm khi thiết triều nên sử gọi là Lê Ngọa triều.
Long Đĩnh làm vua được 4 năm thì mất, thọ 24 tuổi. Vì con còn nhỏ nên Đại thần Đào cam Mộc cùng Vạn Hạnh thiền sư thuyết phục triều thần tôn Lý công Uẩn lên làm vua khai sáng triều Lý.
4- Triều Thần Bảo Vệ Thái Tử Phật Mã Chống Lại 3 Người Em Tranh Quyền.
Vua Lý Thái tổ phong con trưởng là Phật Mã làm Thái tử và phong Vương cho 4 người con thứ. Mỗi Vương đều có thái ấp và quân đội riêng.
Năm 1225 Thái tổ mất, lễ tống táng chưa xong thì 3 người con là Võ đức vương, Dực thánh vương và Đông chính vương đem quân về vây hãm hoàng thành tranh quyền kế vị. Triều thần bảo vệ Thái tử Phật Mã, cho quân của triều đình mở cổng thành ra dẹp loạn. Võ đức vương bị tướng Lê phụng Hiểu chém chết, quân sĩ của các Vương hoảng sợ tan rã, hai Vương còn lại trốn thoát.
Phật Mã lên ngôi xưng là Lý Thái tông. Dực thánh vương và Đông chính vương về thú tội, được Thái tông tha tội và được phục chức như trước.
5- Trần Ích Tắc Theo Giặc Nhằm Cướp Ngôi Của Anh.
Vua Trần Thái tông phong con trưởng Trần Hoảng làm Thái tử; các con thứ là Quang Khải, Ích Tắc và Nhật Duật được phong vương.
Năm 1258 Thái tông nhường ngôi cho con lên làm Thái thượng hoàng, Trần Hoảng kế vị là Thánh tông.
Ích Tắc rất thông minh, 15 tuổi đã thông suốt kinh sử. Tự phụ có trí thông minh hơn người, Ích Tắc nuôi tham vọng cướp ngôi của anh.
Có một lần Ích Tắc viết thư cho người đem xuống Vân đồn nhờ khách buôn chuyển tới vua Nguyên xin nhà Nguyên sang đánh nước ta. Nhưng Ích Tắc không thấy hồi âm.
Năm 1278 Trần Thánh tông nhường ngôi cho Thái tử Khâm để làm Thái thượng hoàng. Trần Khâm lên ngôi xưng là Nhân tông.
Năm 1284 nhà Nguyên cho Thoát Hoan đem đại quân sang đánh chiếm nước ta. Vì thế yếu quân ta lui dần. Trần Hưng đạo phải đem Thượng hoàng và vua vào Thanh hóa. Thoát Hoan vào thành Thăng long, Trần Ích Tắc và bộ hạ đem gia quyến ra hàng.
Năm sau, 1285, Hưng đạo vương phản công chiếm lại các vị trí quan trọng; Toa Đô bị chém chết ở Chi lăng, Thoát Hoan rút bại binh về nước. Trần Ích Tắc theo Thoát Hoan sang Tàu lưu vong.
6- Nghi Dân Đền Tội Vì Giết Em Đoạt Ngai Vàng.
Khởi đầu vua Lê Thái tông phong Nghi Dân làm thái tử, sau vì bà mẹ phạm tội nên Nghi Dân bị phế; Hoàng tử Bang Cơ được đôn lên làm thái tử.
Năm 1442 Thái tông chết đột ngột (liên lụy tới Thị Lộ khiến Nguyễn Trãi và 3 họ bị giết), Bang Cơ lên nối ngôi mới có 2 tuổi tức Lê Nhân tông.
Vì con còn nhỏ, Thái hậu buông rèm thính chính. Năm 1453 Nhân tông đích thân nắm quyền. Năm 1459 Nhân tông và mẹ bị Nghi Dân nửa đêm trèo vào thành giết chết.
Nghi Dân cho sứ sang Tàu cầu phong nhưng chỉ 8 tháng sau Nghi Dân cùng đồng bọn bị các quan đại thần Nguyễn Xí và Đinh Liệt chém chết ngay trong triều.
Hoàng tử Tư Thành được triều thần tôn lên nối ngôi tức Lê Thánh tông.
7- Anh Em Họ Trịnh Tranh Giành Ngôi Chúa.
* Trịnh Cối/Trịnh Tùng.
Sau khi Mạc đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, Nguyễn Kim tìm con cháu vua Lê lập ra Nam triều (từ Thanh hóa trở vào) để chống lại Bắc triều của họ Mạc ở Đông đô (Thăng long).
Nguyễn Kim chết, trao binh quyền cho con rể là Trịnh Kiểm.
Năm 1570 Trịnh Kiểm mất, binh quyền trao cho con trưởng là Trịnh Cối. Em là Trịnh Tùng đưa vua Lê về đồn Vạn lại để chống lại anh. Trong khi anh em đánh nhau thì nhà Mạc vào đánh Thanh hóa. Trịnh Cối yếu thế phải đầu hàng, được nhà Mạc cho phục chức tước như ở Nam triều.
* Trịnh Tráng/Trịnh Xuân.
Sau khi lấy được Thăng long, Trịnh Tùng tự xưng là Bình an vương và lấn quyền vua Lê. Tùng định lệ cấp bổng cho vua được thu thuế 1,000 xã và cấp cho vua 5,000 lính làm quân túc vệ. Toàn bộ quyền hành do Tùng nắm giữ, vua Lê chỉ thiết triều cho có nghi lễ.
Từ đó họ Trịnh nối nhau xưng vương, tục gọi là Chúa Trịnh.
Bấy giờ vua Lê Kính tông biết con thứ của Tùng là Xuân muốn tranh quyền với anh là Tráng, vua bèn mưu với Xuân giết Tùng. Việc không thành, Tùng buộc vua phải thắt cổ chết, Xuân bị giam vài tháng rồi được tha.
Năm 1623 Tùng bị bệnh nặng, họp các quan lại trao quyền cho Tráng và cho Xuân làm phó. Xuân bất mãn nổi loạn, cho lính đốt phá kinh thành.Tùng phải về xã Hoàng mai lánh nạn, cho gọi Xuân tới rồi giết chết.
* Trịnh Tạc/Trịnh Toàn.
Để ngăn chặn quân của Chúa Nguyễn vượt sông Lam, Trịnh Tráng cho con là Toàn vào trấn Nghệ an.
Toàn hậu đãi tướng sĩ và thương yêu dân khiến quân dân đều kính phục.Năm 1657 Trịnh Tráng mất, con trưởng là Tạc nối ngôi Chúa. Tạc ngờ Toàn mua chuộc quân dân Nghệ an để mưu phản nên cho con là Căn vào thay. Tạc gọi Toàn về trách em không về chịu tang rồi bắt giam em cho tới chết.
* Trịnh Khải/Trịnh Cán.
Năm 1782 Trịnh Sâm mất, Hoàng đình Bảo được Chúa ủy thác lập con của Đặng thị Huệ là Cán lên nối ngôi. Vì Cán còn nhỏ tuổi, Đình Bảo được ủy nhiệm làm phụ chính.
Sâm bỏ con trưởng là Khải vì say mê Thị Huệ (bà chúa Chè).
Quan quân chia 2 phe: phe theo Đình Bảo và Thị Huệ, phe theo Trịnh Khải.
Bấy giờ quân tam phủ (ưu binh tuyển từ Thanh hóa và Nghệ an để bảo vệ phủ chúa) lộng hành ở kinh kỳ, dân kinh kỳ gọi là kiêu binh.
Nguyễn Bằng đem quân tam phủ nổi loạn giết Đình Bảo, phế bỏ Cán, lập Khải lên ngôi chúa.
8- Phép Nước Và Tình Riêng.
Nguyễn phúc Anh (*), con thứ ba của chúa Nguyễn phúc Nguyên (tục gọi là chúa Sãi), tranh quyền với anh là Phúc Lan.
Năm 1633 Anh viết thư sai người đưa ra Thăng long xin chúa Trịnh đem quân vào, Anh sẽ làm nội ứng. Anh đang trấn thủ Quảng nam; để thực hiện mưu gian, Anh xin cha cho ra trấn Quảng Bình. Chúa Sãi có ý ngờ nên không thuận.
Quân Trịnh vào đợi không thấy tín hiệu của Anh phải rút về.
Năm 1635 chúa Sãi mất, Phúc Lan lên nối ngôi, tục gọi là chúa Thượng. Phúc Anh ở Quảng nam phát binh làm phản. Bênh vực chúa Thượng, Nguyễn phúc Khê đem quân vào bắt được Phúc Anh. Chúa Thượng có ý ân xá nhưng Phúc Khê viện lẽ “Anh em là tình riêng, phép nước là nghĩa lớn” để chém Phúc Anh.
* * *
Thế giới ngày nay có một xứ tuy không có vua nhưng cha truyền con nối đã 3 đời, nắm quyền toàn trị nghiêm ngặt hơn cả quân chủ chuyên chế.
Mới đây người em đương nhiệm chủ tịch nước đã bí mật giết anh vì lo sợ anh cướp quyền.
Xứ đó gọi là Bắc Triều tiên, cũng gọi là Bắc Cao (Cao ly) hoặc Bắc Hàn.
From: Tư-Phung