PARIS CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM – BÀ NGUYÊN SA TRỊNH THÚY NGA

PARIS CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM

BÀ NGUYÊN SA TRỊNH THÚY NGA

WESTMINSTER (NV) – Mười chín năm qua, từ ngày nhà thơ Nguyên Sa qua đời (18 Tháng Tư 1998), những đóa cúc vàng trên mộ ông trong nghĩa trang ở thành phố Westminster vẫn vàng rực, nhờ sự chăm sóc ân cần từ người vợ thủy chung.

Vợ nhà thơ Nguyên Sa, bà Trịnh Thúy Nga, người đi vào cõi thơ Nguyên Sa với những câu mở đầu “tếu táo”: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm/Như con mèo ngái ngủ trên tay anh /Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình /Ðể anh giận sao chả là nước biển!…”

Trên đời, chắc chỉ có mình ông, nhà thơ Nguyên Sa, viết thư thông báo đám cưới của mình bằng thơ. Cũng chẳng có ai đặt tựa cho bài thơ báo hỷ “cộc lốc” như ông – chỉ vỏn vẹn một chữ “Nga,” tên người con gái ông lấy làm vợ.

Thế mà người ta nhớ! Có ai mà không nhớ thơ tình Nguyên Sa!

Và bà Nguyên Sa-Trịnh Thúy Nga, luôn nhớ một câu chuyện chẳng thể nào cũ.

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên nhà thơ Nguyên Sa: Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy  buôn bán lớn, sợ Việt Cộng làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông.”

Tháng Giêng Mai Thảo đã qua
Tháng Tư chợt nhớ Nguyên Sa, lại buồn.
(Thơ Ngọc Hoài Phương)

Quen nhau tháng Mười Hai năm 1952, đến mùa Hè năm 1953, ông làm bài thơ tỏ tình tặng bà. Cho đến giờ, chưa ai biết nội dung bài thơ đó như thế nào, vì bà muốn giữ kín, cho riêng bà. Chỉ biết rằng, trái tim của cô nữ sinh tên Nga từ đó có một hình bóng, mà cô luôn trân trọng nhớ về, từ mùa Hè năm đó.

Bà hồi tưởng lại: “Hồi đó tôi còn trẻ, cũng chẳng suy nghĩ gì cả, chỉ lo học thi đậu xong rồi về. Phải lo học xong cho sớm chứ đời sống bên Pháp đắt đỏ lắm. Cũng trong năm 1953, cụ thân sinh ông Lan mất ở Hà Nội, ông ấy phải ngưng học, về nước để giúp đỡ gia đình. Lúc đó chúng tôi yêu nhau rồi, ông ấy cũng muốn dỗ dành tôi về Việt Nam chung, nhưng tôi còn ham học cao lên. Tuổi trẻ mà, ai cũng có giấc mơ lớn, và tôi cũng muốn thực hiện ước mơ của mình.”

Cuộc chia tay này là nguyên nhân bài thơ “Paris có gì lạ không em?” ra đời trong nỗi nhớ khắc khoải của ông.

“Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về mắt vẫn lánh đen
Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
Chả biết tay ai làm lá sen?…”

Câu hỏi cuối ông gởi lại bà trong sự chờ đợi, thay cho câu hỏi “Em có bằng lòng làm vợ anh không?” Để rồi hai năm sau gặp lại nhau ở Paris, khi bà khẽ gật đầu ưng thuận “làm lá sen” suốt đời cho ông, thì ông mới viết bài thơ đính hôn thay cho thiệp báo hỷ gởi cho gia đình, bằng hữu, trong niềm vui sướng tột độ.

“Chúng mình lấy nhau
Cần gì phải ai hỏi…
Cả anh cũng không cần phải hỏi anh
‘Có bằng lòng lấy em?…’
Vì anh đã trả lời anh
Cũng như em trả lời em
Và cũng nghẹn ngào nước mắt!…”
(Nga – Nguyên Sa)

Bà Nga nhớ lại: “Sinh viên tụi tôi ở lại Pháp sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, gia đình lo tản cư vào Nam nên đâu có gởi tiền qua được. Chúng tôi ra Tòa Đốc Lý Paris ký giấy hôn thú, bạn bè theo đông lắm. Xong kéo nhau ra quán cà phê đối diện uống cà phê, ăn bánh. Bạn bè chung tiền trả tiền cho cô dâu, chú rể. Thế thôi.”

Đám cưới sinh viên Việt Nam nghèo ở kinh đô ánh sáng diễn ra như thế. Chú rể chẳng mặc lễ phục, cô dâu không có áo cưới, mà ngay cả nhẫn cưới họ cũng chẳng mua được. Nhưng có sao đâu, vì ông trao cho bà những thứ quý hơn nhẫn cưới.

“Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau
Nếu anh không có tiền mua nhẫn đeo tay
Anh sẽ hôn đền em
Và anh bảo em soi gương
Nhìn vết môi anh trên má
Môi anh tròn lắm cơ
Tròn hơn cả chữ O
Tròn hơn cả chiếc nhẫnTròn hơn cả hai chiếc
nhẫn đeo tay!…”

(Nga – Nguyên Sa)

***

Mười chín năm ông ra đi, chữ O tròn trên má vẫn chẳng phai nhòa, vì với bà, ông chẳng bao giờ đi xa cả, mà chỉ chuyển chỗ từ ngôi nhà ở thành phố Irvine đến nơi đầy nắng và gió ở thành phố Westminster.

“Đối với tôi thì lúc nào ông cũng quanh quẩn đâu đây, trong cái nhà này. Tôi ở trong nhà, hay đi bất cứ con đường nào, đều thấy hình bóng ông ở bên cạnh tôi hết.” Bà Nga nói.

Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết, lúc sinh thời Nguyên Sa rất thích hoa cúc vàng – như câu thơ trong bài “Áo lụa Hà Đông” của ông: Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc – nên bà Nga chỉ mang hoa cúc ra mộ ông thôi. “Nếu để ý sẽ thấy, hoa cúc vàng trên mộ nhà thơ Nguyên Sa không bao giờ tàn hay héo cả vì được bà Nga chăm sóc rất kỹ. Hoa sắp héo sẽ được bà thay bằng hoa mới.” Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết.

Hôm gặp bà ở mộ ông, bà cho hay: “Ông ấy không bao giờ nghĩ đến cái chết, hay mình được chôn cất ở đâu cả. Khi ông ấy mất, tôi ra đây xem rồi chọn cho ông chỗ này. Nó gần hồ nước, lại dưới một bóng cây. Lúc trước trông vắng vẻ, giờ trông ấm cúng vì chung quanh ông có rất nhiều bạn bè.”

“Hồi nhà tôi mới mất, ngày nào tôi cũng ra đây, sửa bông, cắt cỏ. Giờ thì lớn tuổi rồi, thì một tuần tôi ra thăm ông ấy 2 lần. Nhiều khi bực mình với ông ấy cũng ra đây nói cho ông ấy biết.”

“Hồi ông Lan còn sống, tôi rất ít tiếp xúc với bạn ông ấy lắm, nhưng từ hồi ông ra đây, tôi được gặp nhiều người thăm ông, an ủi nâng đỡ tôi. Tôi nhớ ông Đỗ Ngọc Yến (nhà báo, sáng lập nhật báo Người Việt), hồi đó, cứ có ai từ xa đến Little Saigon, muốn gặp tôi thì ông ấy cứ nói cứ ra thăm mộ Nguyên Sa thì gặp bà Nga. Cho nên ở đây tôi được gặp nhiều người lắm, kể cả bạn cũ ở Việt Nam sang chơi. Cuối năm còn có người hẹn tôi ra đây cho cá kho, dưa chua nữa.”

Điều trùng hợp là sự lựa chọn nơi yên nghỉ cho ông, lại chính là nơi ông từng mơ ước được về qua câu thơ của ông, được bà khắc trên mộ.

“Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”

Và trong bài Tân Ước trong tập thơ cuối cùng, hình như lời “năn nỉ” của ông cũng được bà chiều theo.

“…Anh vẫn nhận ra em, em khác biệt mà vẫn đồng nhất, giấc mơ gián đoạn bao nhiêu, em vẫn trở lại, giấc mơ phi lý, em khắng khít bằng những liên tục vuốt ve, liên tục hiền dịu, liên tục chăm sóc. Em liên tục không gian em, liên tục luận lý em. Tân ước nói có thế giới ở ngoài thế giới, khác biệt và bao trùm thế giới. Em có phải là giấc mơ ở trong giấc mơ và phủ kín giấc mơ?”.

Chẳng biết như thế nào, nhưng trong thế giới thật này, “Nga buồn như con chó ốm”, tiếp tục dùng đôi tay “làm lá sen” phủ kín cho đến tận cùng.

Tác Giả: Vũ Đình Trọn

From: An Van Thieu

BẠN CÓ THỂ THA THỨ TRƯỚC KHI BẠN TIN TƯỞNG 

  BẠN CÓ THỂ THA THỨ TRƯỚC KHI BẠN TIN TƯỞNG 

          Thứ tư, ngày 27 tháng 10 năm 2021

“Đừng khăng khăng đòi trả đũa đó không phải là việc của anh chị em làm. Chúa nói, ‘Ta sẽ làm công việc phán xét. Ta sẽ lo điều đó.’” (Rô-ma 12:19 BD Sứ Điệp). 

Điều gì khiến bạn không thể tha thứ cho một người nào đó đã làm tổn thương bạn? Nếu bạn bị tổn thương sâu sắc, bạn có thể ngần ngại để tha thứ vì bạn chưa sẵn sàng để tin tưởng người đó một lần nữa. Đây là điều bạn cần hiểu: Tha thứ và tin tưởng không nhất thiết phải đi đôi với nhau.  

Tha thứ không có nghĩa là phải khôi phục lòng tin ngay lập tức. Tha thứ là tức thì còn sự tin cậy phải được xây dựng lại qua thời gian. Tha thứ dựa trên ân điển còn sự tin cậy được xây dựng trên các việc làm. Bạn giành được sự tin cậy chứ bạn không giành được sự tha thứ. 

Nhiều người không muốn tha thứ cho người khác vì họ nghĩ rằng họ phải tin tưởng những người đó một lần nữa. Nhưng điều đó không đúng. Tin tưởng và tha thứ là hai vấn đề khác nhau! Tôi xin nói lại một lần nữa: Tha thứ cho một người nào đó không có nghĩa là bạn phải tin tưởng người đó. Họ vẫn phải giành được sư tin tưởng của bạn. 

Trong các mối quan hệ mà có người nghiện ngập hay hành hung, ngược đãi, sự tha thứ vẫn có thể xảy ra. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng có nghĩa là mọi thứ có thể trở lại như trước đây. 

Tha thứ và khôi phục lại mối quan hệ là hai điều khác nhau. 

Tha thứ chỉ là phần của bạn. Điều đó không phụ thuộc vào việc người kia có xin bạn tha thứ, đáp lại sự tha thứ của bạn, hay nhận biết họ cần sự tha thứ của bạn hay không. Bạn tha thứ vì lợi ích của bạn.  

Phục hồi một mối quan hệ đòi hỏi nhiều hơn là sự tha thứ. Nó cần phải có sự ăn năn. Nó đòi hỏi sự bồi thường và xây dựng lại lòng tin. Và nó thường phải có thời gian. 

Bạn có đang mắc kẹt trong sự không tha thứ không? Hãy bắt đầu quá trình tha thứ ngay hôm nay. Sau đó, dùng tất cả thời gian bạn cần để xây dựng lại lòng tin cậy. 

Suy Gẫm—Thảo Luận—Cầu Nguyện:   

– Bạn đã được ích lợi như thế nào khi tha thứ cho một người nào đó mặc dầu bạn vẫn không tin tưởng họ? 

– Bạn đã làm việc như thế nào để xây dựng lại lòng tin với một người nào đó? 

– Bạn có đang lưỡng lự trong việc tha thứ cho một người nào đó vì bạn không tin tưởng họ không? Bạn có thể thực hiện những bước nào tiến tới sự tha thứ ngày hôm nay? Bạn đã sẵn sàng để bắt đầu xây dựng lại lòng tin cậy với người đó chưa? 

***

Thơ chị Phượng Lau họa theo bài tĩnh nguyện ngày hôm qua, ngày 26 tháng 10 năm 2021 

TẠI SAO BẠN NÊN THA THỨ?

https://www.facebook.com/tim.phan.10 

Chủ thấy tội nghiệp đầy tớ,
Cho nên hủy bỏ nợ nần còn ghi.
Và để cho anh ấy đi,
Đầy tớ rảnh nợ chủ thì thỏa vui.

Chúa bảo buông bỏ tổn thương,
Xoá đi oán giận chớ vương vấn lòng!
Tha thứ cho người khác dùm!
Ôn đi nhắc lại cuối cùng khổ thân!

Đây là ba lý do tại sao:

1. Bởi vì chúa tha thứ cho bạn:

Chúa Trời sai Chúa Giê-xu,
Xuống thế gian để chết thay cho người.
Để trả tội lỗi con người,
Án tù món nợ người đời làm sai.

2. Bởi vì oán giận là tự hành hạ mình:

Đó là vết thương tự gây,
Oán giận thêm tổn thương thay cho mình!
Chuyện quá khứ đã qua dần,
Kẻ làm cay đắng cũng lần lãng quên.

Quá khứ không thể tổn thương,
Trừ khi bạn mở vết thương nhủ lòng.
Tổn thương thêm hại chất chồng,
Bạn khiêng, bạn gánh, cuối cùng bạn suy.

3. Bởi vì bạn cần sự tha thứ mỗi ngày:

Kinh Thánh dạy chớ khắc ghi,
Oán thù chi hãy xoá đi hận thù!
Bạn nhận tha thứ từ Trời,
Bạn phải tha thứ những người xung quanh.
 

Quá trình liên tục xoay quanh,
Thứ tha làm bạn an lành sống vui.
Cầu xin tha thứ tội vơi,
Chấp nhận tha thứ Chúa tôi, con người.

YOU CAN FORGIVE BEFORE YOU TRUST 

By Rick Warren — October 27, 2021
From Connecting With God: The Lord’s Prayer 

 “Don’t insist on getting even; that’s not for you to do. ‘I’ll do the judging,’ says God. ‘I’ll take care of it'” (Romans 12:19 The Message). 

What’s keeping you from forgiving someone who’s hurt you? If you’ve been hurt deeply, you may hesitate to forgive because you’re not ready to trust that person again. Here’s something you need to understand: Forgiveness and trust do not necessarily go hand in hand. 

Forgiveness does not mean there needs to be an instant restoration of trust. Forgiveness is instant; trust must be rebuilt over time. Forgiveness is based on grace; trust is built on works. You earn trust; you don’t earn forgiveness. 

Many people don’t want to forgive others because they think they’d have to trust them again. But that’s not true. Trust and forgiveness are two different issues! Let me say it again: Forgiving someone does not mean you have to trust that person. They still must earn your trust. 

In relationships where people struggle with addictions or abuse, forgiveness is still possible. But it doesn’t always mean things can go back to the way they were. 

Forgiveness and the restoration of a relationship are two different things. 

Forgiveness is only your part. It doesn’t depend on whether the other person asks for your forgiveness, responds to your forgiveness, or recognizes they need your forgiveness. You forgive for your sake. 

Restoration of a relationship takes far more than forgiveness. It takes repentance. It takes restitution and a rebuilding of trust. And it often takes time. 

Are you stuck in unforgiveness? Begin the process of forgiveness today. Then take all the time you need to rebuild trust. 

Talk It Over

  • How have you benefited from forgiving someone even though you still didn’t trust them? 
  • How have you worked to rebuild trust with someone? 

Are you hesitating to forgive someone because you don’t trust them? What steps can you take toward forgiveness today? Are you ready to start to rebuild trust with that person? 

From: buidm328 & NguyenNThu

MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Khi nói đến giới răn hay huấn lệnh là nói đến sự bó buộc.  Quả vậy, một huấn lệnh thường mang nội dung yêu cầu phải làm hoặc cấm làm một điều gì đó.  Như thế, phải chăng kính mến Chúa là một điều buộc?  Nếu coi việc kính mến Chúa là một điều buộc, thì chẳng còn phải là một tình yêu tự nguyện, mà khi không xuất phát từ tự nguyện, thì chẳng còn phải là tình yêu, hay có chăng thì đó chỉ là tình yêu gượng ép.

Bài đọc thứ nhất (sách Đệ nhị Luật) và bài Tin Mừng theo thánh Máccô hôm nay nói với chúng ta về các huấn lệnh.  Trong số các huấn lệnh của Thiên Chúa thời Cựu ước, ông Môisen đã nhấn mạnh tới một lệnh truyền căn bản: “Các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Người mà tôi truyền dạy cho các ngươi, cho con cái, cháu chắt các ngươi tuân giữ mọi ngày trong đời sống các ngươi, để các ngươi được sống lâu dài.”  Những lời trên đây thực ra không phải là một điều áp đặt.  Đây là những lời đề nghị hay một lời mời gọi, kèm theo lời hứa cho một tương lai tốt lành.  Người tin Chúa không bị ép buộc, nhưng khôn ngoan suy nghĩ để lựa chọn và quyết định: nếu yêu mến Chúa và tôn kính Ngài, thì họ sẽ được Chúa chúc lành cho trong mọi ngày của đời sống dương thế, được trường thọ và hạnh phúc.  Tác giả Thánh vịnh 17 (Phần Đáp ca) cũng diễn tả lý do yêu mến Chúa, là vì Ngài là sơn động cho ta trú ẩn.  Ngài là đá tảng, là chiến luỹ và là vị cứu tinh đối với những ai cậy trông phó thác nơi Ngài.

Hỡi Israen, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy, anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em đã phán với anh em.”  Qua những lời này, ông Môisen muốn khẳng định với những người Do Thái: những mệnh lệnh Chúa truyền dạy không thể chỉ được lắng nghe, nhưng phải được thực hành. Một số người Do Thái đạo đức quá chú trọng đến tuân giữ Lề luật một cách tỉ mỉ, mà lại lãng quên việc thực thi tinh thần của Lề luật.  Vì vậy, Chúa đã khiển trách họ: “Dân này chỉ tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa Ta” (Mc 7,6).  Thực hành lời Chúa dạy là bảo đảm cho chúng ta được hạnh phúc đời này và đời sau.  Lời hứa miền đất tràn trề sữa và mật, trong truyền thống Do Thái, là niềm hy vọng nuôi dưỡng niềm tin của dân riêng Chúa đã chọn.  Đối với người Kitô hữu, đó chính là hạnh phúc đời đời Thiên Chúa ban cho những ai thực thi lòng mến Chúa yêu người.

Thực ra mến Chúa yêu người không phải là hai giới răn tách biệt, nhưng là một giới răn duy nhất, như hai mặt của một tấm huy chương.  Lòng mến Chúa phải được chứng minh bằng việc yêu người.  Tình mến mọi người phải được dựa trên nền tảng lòng mến Chúa, vì đó là lòng mến vô vị lợi, không dựa trên những tiêu chuẩn trần gian, không phân biệt và không biên giới.  Thánh Gioan đã khẳng định với chúng ta: ai nói mến Chúa mà không thực hành đức thương yêu với tha nhân thì là kẻ nói dối, vì tha nhân là những người nhìn thấy mà họ không thương yêu, thì làm sao họ mến Đấng mà họ không nhìn thấy?  (x. 1 Ga 4,20).

Người tín hữu có một mẫu gương về lòng mến hoàn hảo, đó là Đức Giêsu Kitô.  Người là vị tư tế thánh thiện, vô tội tinh tuyền, tách biệt khỏi kẻ tội lỗi và đã được nâng cao trên các tầng trời.  Trên cây thập giá Đức Giêsu đã minh chứng tình mến đối với Chúa Cha và tình mến đối với nhân loại.  Tác giả thư gửi tín hữu Hípri đã chứng minh Chúa Giêsu là vị tư tế tối cao.  Ngày hôm nay, vị Tư tế đó vẫn đang chuyển cầu cho chúng ta (Bài đọc II).

 “Hỡi Israel, hãy nghe đây, Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Chúa độc nhất.  Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi.  Những lời tôi truyền cho ngươi hôm nay, phải ghi tạc vào lòng.”  Đây là lời kinh mà những người Do Thái đạo đức phải tụng mỗi ngày, để rồi lời ấy vang lên trong mọi giây phút của cuộc sống.  Lời ấy cũng là động lực chi phối mọi lời nói, hành vi và ý tưởng của những ai muốn tuân giữ lề luật.  Đây cũng là câu Lời Chúa được chọn để đọc trong giờ Kinh Phụng vụ vào tối thứ Bảy hằng tuần.  Xin cho lời kinh ấy luôn vang vọng trong tâm trí và cuộc đời chúng ta, để khởi đi từ lòng mến Chúa, chúng ta sẽ thực thi đức yêu người.

Hôm nay là ngày vọng lễ Các Thánh.  Các thánh là những người mến Chúa yêu người.  Các ngài đã trải qua nhiều gian nan thử thách, nhưng vẫn một lòng tín trung.  Có nhiều vị thà hy sinh mạng sống còn hơn là bỏ Đạo.  Có nhiều vị chấp nhận một cuộc sống trầm lặng trong suy tư cầu nguyện.  Có nhiều vị thánh đã trải qua một cuộc sống rất đơn sơ bình dị, như một người cha, một người mẹ trong gia đình, một công dân của xã hội, một người phong lưu hoặc một người nghèo khó.  Tất cả các thánh đều có một điểm chung: đó là lòng mến Chúa yêu người.  Thánh Phaolô đã khẳng định: Ai yêu thương, thì đã chu toàn lề luật (Rm 13,8b).  Nên thánh chính là thực thi giới răn mến Chúa yêu người.

Lạy Chúa là nguồn mạch sự thánh thiện, xin che chở nâng đỡ chúng con trong hành trình cuộc đời, cũng là hành trình nên thánh.  Amen.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

KIẾP SAU (NẾU CÓ) DÙ THƯƠNG HAY KHÔNG THƯƠNG, CŨNG KHÔNG CÒN DỊP GẶP LẠI NHAU ĐÂU”

Van Pham

KIẾP SAU (NẾU CÓ) DÙ THƯƠNG HAY KHÔNG THƯƠNG, CŨNG KHÔNG CÒN DỊP GẶP LẠI NHAU ĐÂU”

Thư của Tôn Vận Tuyền, cựu Thủ Tướng Đài Loan đã để lại những lời căn dặn cho con như sau:

Các con thân mến, viết những điều căn dặn này, cha dựa trên 3 nguyên tắc như sau :

  1. Đời sống là vô thường, không ai biết trước mình sống được bao lâu, có những việc cần, nếu được nói ra sớm để hiểu thì hay hơn.
  2. Cha là cha của các con, nếu không nói ra thì chắc không ai nói rõ với các con những việc này đâu!
  3. Những điều căn dặn để ghi nhớ này là kết quả của bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời của chính bản thân mà Cha ghi nhận được, nó sẽ giúp các con tránh những nhầm lẫn hoang phí trên con đường trưởng thành của các con.

Dưới đây là những điều nên ghi nhớ trong cuộc đời :

  1. Nếu có người đối xử với con không tốt, đừng thèm để tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời nầy, không ai có bổn phận phải đôi xử tốt với con cả, ngoại trừ cha và mẹ của các con. Nếu có người đối xử tốt với con, ngoài việc các con phải biết ơn, trân quý, các con cũng nên thận trọng một chút, vì người đời thường làm việc gì cũng có mục đích của nó, chớ có vội vàng cho là bạn tốt của mình ngay.
  2. Không có người nào mà không thể thay thế hay tồn tại mãi với mình được cả; không có vật gì mà nhất thiết phải sở hữu, bám chặt lấy nó. Nếu hiểu rõ được nguyên lý nầy, thì sau nầy trong cuộc đời, lỡ người bạn đời không còn muốn cùng đi trọn cuộc đời, hay vì lý do gì con bị mất đi những gì trân quý nhất trong đời con, thì cũng nên hiểu: đó cũng không phải là chuyện trời sập.
  3. Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay ta để lãng phi thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi! Cho nên, nếu ta càng trân biết quý sinh mạng của mình càng sớm, thì ta được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn. Trông mong được sống trường thọ, chi bằng mình cứ tận hưởng cuộc đời mình ngay từ bây giờ.
  4. Trên đời nầy chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Aí tình chẳng qua là một cảm xúc nhất thời, cảm giác nầy tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà biến thiên, thay đổi. Nếu người yêu bất diệt rời bỏ con rồi, hãy chịu khó nhẫn nại một chút, để thời gian dần dần trôi qua, để tâm tư mình từ từ lắng đọng, cái đau khổ cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi. Không nên cứ ôm ấp cái ảo ảnh yêu thương mãi, cũng không nên quá bi luy vì thất tình.
  5. Tuy có nhiều người trên thế giới này thành công, nổi tiếng mà chẳng có học hành nhiều, chẳng có bằng cấp cao, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không cần học hành nhiều sẽ thành công. Kiến thức đạt được do việc học hành, giáo dục là vũ khi trong tay của mình. Ta có thể lập nên sự nghiệp với bàn tay trắng, nhưng không thể trong tay không có tấc sắt. Nên nhớ kỹ điều nầy !
  6. Cha không yêu cầu các con phải phụng dưỡng cha trong nửa quãng đời còn lại của cha sau nầy. Ngược lại, cha cũng không thể bao bọc nữa quãng đời sau này của các con. Lúc các con đã trưởng thành, độc lập, đó cũng là lúc cha đã làm tròn thiên chức của mình. Sau nầy các con có đi xe bus công cộng hay đi ô-tô nhà, các con ăn soup vi cá hay ăn mi gói, đều là trách nhiệm của các con.
  7. Các con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ TÍN, nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ TÍN với mình. Các con có thể yêu cầu mình phải đối xử TỐT với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử TỐT với mình. Mình đối xử người ta thế nào, không có nghiã là nguời ta sẽ đối xử lại mình như thế, nếu không hiểu rõ được điều nầy, sẽ tự chuốc lấy buồn phiền cho mình.
  8. Trong mười mấy, hai mươi năm nay, có người tuần nào cũng mua vé số, nhưng vẫn nghèo trắng tay, điều nầy chứng minh: muốn phát đạt, phải siêng năng làm ăn mới khá được. Trên thế gian nầy không có cái gì là miễn phí cả.
  9. Sum họp gia đình, thân thích đều là duyên phận, bất luận trong kiếp nầy chúng ta sống chung với nhau được bao lâu, như thế nào, nên trân trọng và hãy qúy khoảng thời gian chúng ta được chung sống với nhau. Kiếp sau (nếu có), dù ta có thuơng hay không thương, cũng không có dịp gặp lại nhau đâu.

Sưu tầm

May be an image of 1 person

Những nhà văn khác chiến tuyến

Những nhà văn khác chiến tuyến

Bởi  AdminTD

 27/10/2021

Nguyễn Hưng Quốc

27-10-2021

Trong hai năm 1979 và 1980, tôi có dịp gặp Chế Lan Viên (1920-1989) vài lần tại Sài Gòn. Có lần, tôi nghe ông kể chuyện Võ Phiến từ Mỹ viết thư về cho con, trích hai câu Kiều: “Thôi thôi còn nói chi con / Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người” và khen tuỳ bút, và đặc biệt phiếm luận, của Võ Phiến xuất sắc, “nhất Việt Nam”, hiếm có người địch lại được. Năm 1985, vượt biên thoát và sang Pháp định cư, trong một bài viết đăng trên Quê Mẹ, tôi có nhắc lại chuyện ấy. Võ Phiến thích và dùng ngay lời khen ấy để quảng cáo cho các tập Tuỳ bút và Tạp luận mới được nhà Văn Nghệ tái bản tại Mỹ.

Sau này, giao thiệp với Võ Phiến nhiều, tôi biết ông thích không phải chỉ vì nội dung của lời khen mà vì lời khen ấy xuất phát từ một người có nhiều ân nghĩa với ông từ trước năm 1945, lúc ông chỉ là một học sinh trung học ở Qui Nhơn, được học với Chế Lan Viên trong vài tháng và được Chế Lan Viên khuyến khích đi vào con đường viết lách. Sau đó, khi ra Huế học, Võ Phiến được gặp Chế Lan Viên nhiều lần và tiếp tục được Chế Lan Viên động viên.

Đó là về tình riêng. Đứng về phương diện văn học, Võ Phiến rất thích Chế Lan Viên không những trong thơ mà còn cả trong văn xuôi. Võ Phiến kể với tôi là từ nhỏ, ông đã thuộc lòng nhiều trang trong tập Vàng sao (1942) của Chế Lan Viên. Bao giờ ông cũng nhắc đến Chế Lan Viên một cách trân trọng. Ngay cả khi ông mất trí nhớ, khi ông quên tên tuổi của nhiều bạn bè chung quanh ông, ông vẫn hỏi thăm tôi về Chế Lan Viên như tôi đã kể trong bài “Võ Phiến, những lần gặp sau cùng”.

Sự ngưỡng mộ giữa Võ Phiến và Chế Lan Viên với nhau có thể được giải thích bằng quan hệ ngoài đời của họ. Về phương diện này, sự ngưỡng mộ giữa Võ Phiến (1925-2015) và Nguyễn Khải (1930-2008) đáng nói hơn.

Giữa Võ Phiến và Nguyễn Khải có vài điểm giống nhau. Giống, trước hết, ở tài năng: Võ Phiến được xem là một trong những nhà văn xuất sắc nhất ở miền Nam trước 1975 và ở hải ngoại sau 1975; Nguyễn Khải cũng được xem là một trong những nhà văn xuất sắc nhất ở miền Bắc trước 1975 và trong cả nước sau 1975. Giống, còn ở phong cách: Cả hai đều thích và đều có năng khiếu trong việc phân tích tâm lý nhân vật một cách tỉ mỉ và hết sức tinh tế. Nhưng giữa hai người cũng có những khác biệt to lớn, trong đó, sự khác biệt quan trọng nhất là về chính trị: Võ Phiến được xem là một nhà văn chống Cộng, sau năm 1975, tất cả các tác phẩm của ông đều nằm ở hàng đầu trong danh sách sách bị cấm; Nguyễn Khải, ngược lại, là đảng viên Cộng sản, một đại tá trong quân đội, người được xem là một trong những đứa con cưng của chế độ. Có thể nói hai người ở hai vị trí đối nghịch hẳn với nhau. Tuy nhiên, điều đáng để ý là họ lại vẫn thích nhau.

Trong những cuộc chuyện trò với Võ Phiến, tôi biết ông thích ba nhà văn nổi bật trong phong trào đổi mới tại Việt Nam: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài và Bảo Ninh. Với các nhà văn thời tiền-đổi mới (trước năm 1986), có vẻ ông thích Nguyễn Khải nhất. Ông đọc Nguyễn Khải khá nhiều và thỉnh thoảng khen ngợi Nguyễn Khải là một cây bút tài hoa, thông minh và sắc sảo.

Còn phía Nguyễn Khải thì sao? Tôi chưa hề gặp và cũng chưa bao giờ chuyện trò với Nguyễn Khải nên không biết ông đánh giá thế nào về Võ Phiến. Chỉ nghe Võ Phiến kể là năm 1989, Nguyễn Khải sang Mỹ có điện thoại cho Võ Phiến và bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Võ Phiến. Sau lần nói chuyện ngắn ngủi ấy, Nguyễn Khải gửi tặng Võ Phiến chiếc đồng hồ ông đang mang kèm theo một bức thư như sau:

“New York 12/8/89

“Anh Võ Phiến thân mến,

“Được nói chuyện với anh vài phút, Khải vui quá, chẳng biết có cơ hội nào gặp lại, xin kính tặng anh cái đồng hồ đeo tay cũ kĩ, Khải đã dùng từ nhiều năm nay, mong được anh nhìn vật mà nhớ đến Khải.

“Một lần nữa, Khải xin kính chúc anh chị và toàn gia luôn luôn vui mạnh.

Kính

Nguyễn Khải”

Trong lần ghé thăm Võ Phiến vào đầu năm 2007, Võ Phiến tặng lại tôi chiếc đồng hồ và bức thư ấy để làm kỷ niệm. Lúc ấy chiếc đồng hồ đã hết pin, không còn chạy được nữa.

Mỗi lần nhìn chiếc đồng hồ và đọc lại bức thư của Nguyễn Khải, tôi đều nghĩ đến quan hệ giữa giới cầm bút với nhau. Một cách chính thức, trên các trang viết, do nhiều lý do và với nhiều lực đẩy khác nhau, người ta có thể phê phán nhau, công kích nhau, nhưng ở chỗ riêng tư, họ vẫn đọc nhau và, tự thâm tâm, họ vẫn có thể nể phục nhau. Văn học có những biên giới khác với chính trị. Nếu có điều kiện, tìm hiểu sâu hơn, với nhiều tài liệu và chứng cứ hơn, về vấn đề này, chắc cũng thú vị lắm.

Ảnh chụp bức thư viết tay của nhà văn Nguyễn Khải gửi nhà văn Võ Phiến ngày 12/8/1989. Nguồn: Nguyễn Hưng Quốc

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II. CHÂM NGÔN SỐNG CỦA NGÀI: “ĐỪNG SỢ”

Nguyễn Hoàng Diễm

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

CHÂM NGÔN SỐNG CỦA NGÀI: “ĐỪNG SỢ”

– Đừng sợ thế gian, vì thế gian có thể giết thân xác nhưng không giết được linh hồn!

– Đừng sợ phải đau khổ, vì chính Chúa Giêsu cũng đã từng bị đánh đập, khạc nhổ, khinh khi!

– Đừng sợ bệnh tật, vì chính Ngài đã đền những tật nguyền, bệnh hoạn của ta và bao nỗi đớn đau của ta cho đủ mức!

– Đừng sợ, vì Thầy đã thắng thế gian!

– Đừng sợ, vì tình yêu chiến thắng mọi sự dữ !

– Đừng sợ, vì chúng ta là con Chúa, là tạo vật được Ngài yêu thương!

– Đừng sợ, hãy mở cửa lòng đón lấy Chúa Kitô và nhận lấy quyền năng của Ngài!

– Đừng sợ, Chúa Kitô biết rõ mọi điều trong lòng người! Và chỉ một mình Ngài!

Từ cửa sổ Thiên Đàng, xin Ngài cũng nhìn đến tình hình dịch bệnh vẫn chưa hết phức tạp trên quê hương đất nước chúng con ! Amen!

Viet Vatican New

CHA VÀ CON CÙNG CƯỜI…

Lê Vi

CHA VÀ CON CÙNG CƯỜI…

Tựa gốc: “Hardship of Life” (sự thử thách gay go của cuộc sống).

Trong hình, người cha là Munzir, bị mất chân phải do một quả bom được thả xuống khi anh đi qua một khu chợ ở Idlib, Syria. Anh đang nhấc bổng cậu con trai Mustafa của mình trên tay. Bé Mustafa ra đời không có hai tay và hai chân, vì hội chứng tetra-amelia từ loại thuốc mà mẹ bé buộc phải dùng sau khi bị tấn công bằng khí độc thần kinh trong chiến tranh ở Syria.

Bức hình hai cha con Munzir và Mustafa đang vui chơi bên nhau được nhà nhiếp ảnh Mehmet Aslan chụp ở tỉnh Hatay, Thổ Nhĩ Kỳ.

Theo tác giả, trong tương lai, bé Mustafa sẽ cần được ghép vào cơ thể những tay và chân giả điện tử đặc biệt. Tuy vậy, các sản phẩm ấy vẫn chưa có sẵn ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Tác phẩm nầy của Mehmet Aslan được cuộc thi Nhiếp ảnh quốc tế Siena Awards 2021 trao giải “Tác phẩm nhiếp ảnh của năm”. Tất cả tác phẩm đoạt giải sẽ được trưng bày ở lễ hội giải thưởng Siena tại Ý.

NGUYỄN HỮU THIỆN

May be an image of child, standing and outdoors

Vừa làm nữ tu vừa làm luật sư. Tại sao không?

Bang Uong

Vừa làm nữ tu vừa làm luật sư. Tại sao không?

{Sơ Francesca, luật sư tình nguyện tại toà án Roma để phục vụ người nghèo}

Một nữ tu muốn vừa là luật sư vừa muốn sống ơn gọi tu trì. Có thể không? Đó là trường hợp của sơ Francesca, 27 tuổi, dòng Phan Sinh. Sơ đã được khấn dòng và sau đó tốt nghiệp dân luật với luận án về luật hình sự, đã được báo Người đưa tin chiều của Ý kể lại. Sơ muốn làm luật sư để phục vụ người nghèo.

Bài báo không đưa ra nhiều chi tiết về sơ Francesca, nhưng có vẻ sơ đã yêu thích nghiên cứu về luật trước khi trở thành nữ tu và đã từ bỏ điều yêu thích để gia nhập dòng. Sau đó sơ nhận ra rằng là một nữ tu và làm một luật sư là hai điều tương thích với nhau. Sơ chia sẻ: “Khi đó tôi kết hợp đời sống tu trì với tài năng mà Chúa đã ban cho tôi, đó là niềm đam mê của tôi đối với luật pháp”.

Sơ Francesca không sử dụng Facebook hay Instagram. Chia sẻ với báo Người đưa tin chiều của Ý, sơ cho biết rằng sơ không muốn nói về mình nhưng sơ được bề trên cho phép thuật lại câu chuyện của sơ, vì nó phản ánh một sự thật quan trọng về Giáo hội và các thành viên của các dòng tu: Họ hiện diện trong cuộc sống hàng ngày và để phục vụ những người khốn khổ nhất. Các tu sĩ luôn luôn hiện diện trong mọi giai tầng của xã hội.

Không lâu nữa, sơ Francesca sẽ hiện diện tại các phòng xử án, với chiếc khăn choàng của luật sư trên vai và chiếc lúp trên đầu, thực hiện một vai trò quan trọng: là luật sư tình nguyện tại toà án Roma để bào chữa cho những người yếu thế nhất. Lý do sơ muốn trở thành luật sư chính là vì thánh Phanxicô Assisi đã yêu cầu sống nghèo khó. Sơ giải thích rằng đối với thánh nhân, sống nghèo có nghĩa là làm việc bằng chính đôi tay của mình để sống nghèo giữa những người nghèo. Sơ nói: “Ngày nay, đối với hầu hết mọi người, có một phiên tòa đang chờ xử lý là trở thành những người nghèo của thời đại chúng ta”.

Kể từ tháng 4 năm nay, sơ Francesca đã thường xuyên đến toà án, với sự âm thầm không muốn gây chú ý, tham dự các phiên điều trần cần thiết để hoàn thành khóa thực tập và tham gia kỳ thi cấp nhà nước với tư cách là luật sư. Khi sơ được cho phép hiện diện trong phòng xử án, các thẩm phán đã kinh ngạc khi thấy một nữ tu trước mặt họ. Họ nghĩ có lẽ sơ là một nhân chứng, chứ không nghĩ rằng sơ là một thực tập viên. Và họ rất vui được thảo luận cùng sơ trong phòng xử án. Sơ nghiên cứu kỹ càng hàng giờ, chính xác từng chi tiết của hồ sơ. Đối với sơ Francesca, sự hiện diện của sơ ở toà án là để phục vụ người nghèo.

Trong 15 tháng nữa, khi hoàn thành kỳ thi, sơ Francesca sẽ đánh dấu một hành trình đã được bắt đầu khi sơ cảm thấy lời mời gọi đến với ơn gọi thứ hai của mình, đó là trở thành một luật sư.

Sau khi tuyên khấn lần đầu, sơ bắt đầu con đường học tập. Rời thành phố Salerno ở miền nam nước Ý, sơ Francesca đến Roma để theo đuổi niềm đam mê. Tại đây sơ phải phân chia thời gian của mình, chạy qua chạy lại giữa tu viện và các bài thi luật học. Sơ nhớ lại: “Con đường tốt nghiệp của tôi đầy thử thách. Nhưng tôi sẽ không nói nó vất vả mệt mỏi vì tôi thực sự thích những gì tôi đang học”.

Sơ Francesca đã tốt nghiệp ngành luật với số điểm 105/110. Luận án của sơ về triết học của luật pháp, tập trung các lập luận xung quanh phiên toà hình sự. Đó là chủ đề yêu thích của sơ, như luật sư đỡ đầu thực tập của sơ đã nói: “Sơ ấy biết về lĩnh vực này nhiều hơn tôi!”

Luật sư đỡ đầu của sơ Francesca luôn nhắc rằng ông muốn sơ nhìn vào môi trường pháp lý với đôi mắt nhân đạo, không bị vấy bẩn bởi tham vọng và lòng tham không kiềm chế. Và luôn nhắc rằng sơ thực sự sẽ phục vụ người nghèo.

(Hồng Thủy – Vatican)

Đời là bể khổ? Thái độ của chúng ta trước đau khổ.

Đời là bể khổ? Thái độ của chúng ta trước đau khổ.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

1)Có ai trong chúng ta nói rằng suốt đời không có đau khổ?

Nhà Phật nói đến Khổ đế (là một trong tứ diệu đế): Sự thật về đau khổ có ba thứ làm chúng ta đau khổ là:Tuổi già, bịnh tật và cái chết. Ngay cả khi không già, không bịnh tật và chưa chết, con người vẫn đau khổ vì khi ta có những ham muốn và thèm khát nhưng ta không đạt được ước nguyện đó. Ngay cả khi thoả mãn những nhu cầu đó rồi sau đó ta vẫn chán nãn, không hài lòng nên dẫn đến đau khổ (1)

 Dầu nghèo nàn hay giàu có, dầu sang trọng hay hèn kém đều đã trải nghiệm đau khổ.

Nếu nghèo không có tiền đi bác sĩ mua thuốc trị bịnh. Khổ vì không có tiền để trả tiền điện, nước, tiền chợ, tiền sinh hoạt tối thiểu cho các nhu cầu căn bản để sống còn, để tồn tại. Khổ vì nợ nần chồng chất không biết bao giờ trả được.

Người có tiền cũng khổ; hoặc bị mất tiền vì bị lường gạt, bị đánh cắp, hoặc con cái hư hỏng không chịu học hành theo băng nhóm hút sì ke, ma túy, phá làng phá xóm v.v…

Có người đau khổ vì bị người yêu bất ngờ chia tay.  

Khổ thể xác vì không đủ cơm ăn, áo mặc, cực nhọc cả ngày, đổ mồ hôi để kiếm miếng ăn.

 Khổ vì chẳng may gặp gặp bịnh nan y như ung thư, stroke heart attack rồi bị tê liệt nằm một chỗ không chữa trị được.    

Hoặc con người bị bịnh đui mù, què quặt do bẩm sinh hay do biến chứng từ các bịnh khác.

Khổ tinh thần vì mất người thân yêu, mất do tai nạn trên bờ như bị xe đụng hay tai nạn dưới nước như tắm biển, câu cá bị nước cuốn, hay bị lật thuyền.

Con người còn bị đau khổ vì mất chức, mất quyền, mất tiền bạc v.v…

Con người còn chịu đau khổ vì bị mất danh dự do bị vu cáo, vì vô tình hay cố ý bị đặt chuyện, dựng chuyện để nói xấu, hạ uy tín, hạ nhục làm cho chúng ta đau khổ.

 2)Đau khổ không chừa một ai. Còn sống là còn đau khổ.

*Cảm nghiệm đau khổ, cay đắng, đau đớn khi tôi mất đi đứa con trai đang sống chung trong nhà chỉ mới 48 tuổi. Đóng góp mọi thứ sinh hoạt trong gia đình. Ra đi vì tai nạn khi hai con còn nhỏ 16 và 11 tuổi. Con trai tôi chịu sống chung mặc dầu đủ điều kiện ra ở riêng. Ở chung nhà để đóng góp mọi chi phí sinh hoạt trong nhà như điện nước, thuế má…

Khi vắng bóng con trai, bầu khí trong nhà vô cùng trống vắng, vẫn còn cảm giác con tôi đi đâu đó, sẽ trở về?

*Sau tháng 04 năm 1975, đang có đời sống tự do thoải mái với vợ và các con. Bị cộng sản lường gạt, kêu gọi “trình diện học tập cải tạo”, đi trình diện, bị tù gần 8 năm trong các trại tù trong rừng núi âm u, sơn lam, chướng khí ở miền Bắc như Lào Cai, Vĩnh Phú… bị bỏ đói triền miên. Ăn bo bo không xay, ăn khoai mì (ngoài bắc gọi là sắn) cứng ngắt, ăn bắp, khoai trừ cơm. Mỗi bữa cơm vài khúc khoai mì đắng nghét, hoặc vài trái bắp cứng ngắt với tô canh rau cải chỉ lỏng bỏng nước và rau.

Trong tù tất cả anh em đều sụt cân, ốm nhom ốm nhách như những bộ xương cách trí biết đi. Những năm 1978, 1979 cứ vài ngày anh em tù chúng tôi đã ra đi vì kiệt sức.

Đây là cảm nghiệm đau khổ lâu dài nhất.

 * Cuộc đời của thánh Gióp cũng là bài học suy gẫm về cuộc đời mà nhiều người hay than thở “đời là bể khổ”.

Ông Gíóp là người kính sợ Thiên Chúa. Bảy người con trai và ba người con gái đều chết hết và tài sản của ông cũng bị cướp hết nhà cửa không còn.

Bấy giờ ông Gióp trỗi dậy, xé áo mình ra, cạo đầu sấp mình xuống đất, sụp lạy và nói:

“Thân trần truồng sinh ra từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. ĐỨC CHÚA đã ban cho, ĐỨC CHÚA lại lấy đi: Xin chúc tụng danh ĐỨC CHÚA (Gióp 1-20,21)

3)Tại sao Thiên Chúa là Đấng tốt lành và nhân từ vô cùng lại để chúng ta phải chịu đau khổ?

Lm Paul O’Sullivan đã viết như sau:

*Nguyên nhân rất đơn giản chỉ vì đau khổ là một hồng ân trọng đại (trang 113) (1)

Khó khăn lớn nhất về đau khổ là chúng ta không biết cách chịu đau khổ.

(trang 115) (2)

Những đau khổ hằng ngày của chúng ta, đau khổ nhỏ nhất cũng như đau khổ lớn nhất, nếu như chịu được cho nên, sẽ đem lại cho chúng ta triều thiên tử đạo.

-Nếu chúng ta không chịu đau khổ cho nên thì chúng ta sẽ bị mất hết các ân sủng và phần thưởng vô giá mà đau khổ lẽ ra đã đem đến cho chúng ta.

Chúng ta hãy ghi nhớ những điều này về vấn đề đau khổ:

*Mỗi khi gặp đau khổ, chúng ta được thông phần vào cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu Kitô, vì thế đau khổ đem lại một công phúc khôn lường.

*Nếu chúng ta biết chấp nhận một cách nhẫn nại vì lòng mến Chúa, đau khổ sẽ mất hết nọc độc và sự cay đắng của nó.

*Nếu chúng ta cầu xin, nhất định Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta dư đủ sức mạnh để chấp nhận đau khổ Người gởi đến cho chúng ta.

*Những đau khổ sẽ cứu chúng ta khỏi những cực hình ghê rợn trong luyện ngục.

*Đau khổ, nếu chịu cho nên, sẽ làm cho chúng ta trở nên những vị thánh.(3)

(1) (2) (3) Trích Sách “Con đường nên thánh dễ dàng” của Lm Paul O’Sullivan, O.P

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

(1) Tứ diệu đế là gì?

Ngày 25-10-2021

Những câu nói thô nhưng thật, thức tỉnh rất nhiều người

Những câu nói thô nhưng thật, thức tỉnh rất nhiều người

Bạn đang cảm thấy bế tắt và chán chường, hãy đọc những câu nói này sẽ giúp bạn lấy lại niềm tin vươn lên trong cuộc sống!

  1. Niềm tin có thể không giúp mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn, nhưng nó sẽ giúp bạn có thêm nghị lực.
  2. Cãi nhau được lợi ích gì? Sao không bình tĩnh nhẹ nhàng nói năng. Si mê, nộ khí chẳng tăng, người khôn mới tạo an bình cho nhau.
  3. Xã hội có thể xô ngã bạn – Tình yêu có thể rời xa bạn – Bạn bè có thể bỏ rơi bạn. Chỉ có cha mẹ mãi mãi ở bên bao dung bạn.
  4. Người ta hơn nhau ở cái đầu, chứ không phải ở đôi giầy hay cái váy.
  5. Cho dù bạn tốt đẹp thế nào, thì sau lung bạn vẫn cố người nói này nói nọ. Không thanh minh không so đo, mỉn cười mặc kệ chính là sự khinh thường tốt nhất!
  6. Trời rồi cũng tối, người rồi cũng sẽ thay đổi. Đời người dài đến vậy, đường lại xa đến thế bạn chỉ có thể dựa vào bản thân.
  7. Đừng đem đời mình so sánh với ai đó, đời mỗi người mỗi khác. Bầu trời trong mắt mỗi người mang một màu xanh khác nhau… Nước mắt của mỗi người nếu chưa nếm thử sao biết ai mặn ai ngọt hơn ai?
  8. Làm người phải học cách bước qua lời dối trá, chịu được lời xuyên tạc, nhịn được sự lừa gạt, quên đi lời người khác hứa.
  9. Đừng kể rắc rối của bạn với bắt kỳ ai bởi 20% chẳng quan tâm, 80% còn lại thì vui mừng vì bạn bạn gặp chuyện.
  10. Người xấu thì nhiều, người biết điều thì ít vì vậy hãy nhớ: Tiền rách thì vẫn còn giá trị, nhân cách rách rồi thì chỉ có bỏ đi!
  11. Hứa đi bạn đừng bao giờ gục ngã, dù thế náo cũng cố gắng lên nha. Dù phía trước là bão táp phong ba tôi tin rằng rồi bạn sẽ vượt qua.
  12. Hãy bước tiếp dù đã từng vấp ngã hãy hy vọng dù đã từng thất vọng, hãy mỉn cười dù nước mắt đã rơi hãy thật lòng dù từng bị lừa dối.
  13. Sống là phải mạnh mẽ vươn lên cho dù bị tổn thương cũng không được cho phép mình gục ngã.
  14. Thà ít bạn mà chất còn hơn nhiều bè mà lúc nào cần chẳng thấy đâu!
  15. Đừng cố giải thích con người bạn với bất kỳ ai, vì những người tin bạn không cần điều đó. Còn những người không thích bạn sẽ không tin đâu.
  16. Sống nên biết mình là ai đừng làm cha mẹ đêm dài lo âu. Sống nên có nhận có cho, người cho người nhận mà lo thiệt thòi.
  17. Làm con chữ hiếu nên tròn, bất nhân bất nghĩa con mình noi theo. Cuộc đời là sợ dây leo nhân nào quả nấy, chớ gieo ở đời.
  18. Đời nghèo nhân thế rẻ khinh, đời giàu nhân thế lại ghét mình. Cuộc sống ở đời xưa nay vậy phiền não làm gì để kém xinh.
  19. Lời xấu từ miệng thốt ra, nghiệp từ cửa miệng do ta tạo thành. Hoa thơm hương ngát vây quanh lựa lời mà nói cho xanh cõi lòng.
  20. Tiền bạc đến rồi đi chỉ có tình nghĩa nhớ ghi suốt đời. Bao đêm thao thức lệ rơi thương cha nhớ mẹ cho vơi nghẹn ngào.

From: TU-PHUNG

Đảng Cộng sản Việt Nam quyết chống lại xã hội dân sự đến cùng?

Đảng Cộng sản Việt Nam quyết chống lại xã hội dân sự đến cùng?

Bởi  AdminTD

 Jackhammer Nguyễn

26-10-2021

Nhà nước của Đảng Cộng sản Việt Nam ghét cay ghét đắng xã hội dân sự là chuyện ai cũng rõ, vì nếu có tồn tại một xã hội dân sự, thì sự toàn trị của Đảng bị chấm dứt.

Nhưng câu chuyện Tịnh Thất Bồng Lai ở tỉnh Long An, cho thấy sự hằn học của chế độ đối với xã hội dân sự bước thêm một bước mới, hay nói đúng hơn là Đảng dùng một phương cách mới để loại bỏ xã hội dân sự, đó là truyền thông dân túy xã hội đen.

Nếu bạn đọc nào chưa tường minh câu chuyện Tịnh Thất Bồng Lai, xin theo dõi câu chuyện đó qua bản tóm tắt rất đầy đủ của nhà báo Lê Đại Anh Kiệt, từ Việt Nam.

Những sự kiện mà mà nhà báo Lê Đại Anh Kiệt đưa ra để chứng minh rằng, Tịnh Thất Bồng Lai là một tổ chức từ thiện thật sự, được rút ra từ chính báo chí nhà nước Việt Nam, hơn một năm trước đây.

Nhưng chính những kết quả tốt đẹp của một tổ chức từ thiện làm cho Đảng chột dạ, mà lo ngại nhất là các tổ chức sai nha của Đảng, như Giáo hội Phật giáo quốc doanh và các viên chức công an xã. Giáo hội quốc doanh địa phương không thu được cảm tình, và kèm theo đó là tiền công đức của Phật tử, nên bực tức, các viên chức công an xã ăn hối lộ không được (đòi vài trăm triệu để làm chứng minh nhân dân cho các cháu bé), nên cũng bực tức. Đảng phải bảo vệ các sai nha này, bảo vệ họ cũng là bảo vệ chế độ.

Trong cuộc phản công chống lại xã hội dân sự này, Đảng có thêm một đồng minh bất ngờ, đó là các kênh YouTube lá cải. Gương mặt tiêu biểu cho truyền thông mạng xã hội dân túy lá cải này là bà Nguyễn Phương Hằng, vợ của một nhân vật tài phiệt nổi tiếng, cả tiếng tăm lẫn tai tiếng, là ông Dũng Lò Vôi ở Bình Dương.

Thoạt tiên, bà Hằng dùng kênh YouTube của mình để tấn công các nhân vật showbizz nổi tiếng. Với một ngôn ngữ tinh tướng, bình dân, bà Hằng thu hút hàng triệu người xem, vượt qua các cơ quan ngôn luận của Đảng. Trên Tiếng Dân, tôi có viết về bà Hằng khi bà ta mới xuất hiện, qua bài: Các góc nhìn khác nhau về “hiện tượng” Nguyễn Phương Hằng.

Tôi cho rằng, xem những chuyện lá cải của bà Hằng dù sao cũng sống động hơn các bài tuyên truyền buồn chán của Đảng. Lúc ấy tôi cho là bà ta sẽ không đụng đến Đảng với sự tinh khôn ranh mãnh của một doanh nhân “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Bà ta đã không đụng đến Đảng, và còn đi xa hơn là… hợp tác với Đảng, trong một chiến dịch tấn công Tịnh Thất Bồng Lai. Một số bằng chứng đáng tin cậy cho thấy, các nhân vật gọi là … nhân chứng của bà Hằng lại là nhân viên công an.

Điều này không làm tôi ngạc nhiên nếu nó xảy ra, vì trước hay sau thì bà ta cũng sẽ hợp tác. Đó là mẫu số chung của tầng lớp trung lưu Việt Nam hiện nay, là đời sống của họ gắn liền vào chế độ: Thần cậy cây đa, cây Đa cậy Thần, huống hồ chi gia đình bà Hằng thuộc loại trung lưu tầng lớp trên, tạo nên sự nghiệp nhờ vào việc sử dụng tài nguyên đất đai do … Đảng và Nhà nước quản lý.

Về phía Đảng, việc sử dụng những lực lượng “quần chúng tự phát” như bà Hằng cũng không phải là lần đầu tiên. Họ đã sử dụng nó trong cải cách ruộng đất, lúc “cải tạo tư bản công thương nghiệp”, khi đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, biểu tình đòi đất của nông dân, biểu tình chống ô nhiễm môi trường như vụ Formosa…

Sử dụng những người như bà Hằng trong chuyện Tịnh Thất Bồng Lai, Đảng có nhiều cái lợi:

– Thứ nhất, đó là những công việc hạ cấp (dirty work), nếu Đảng tránh làm sẽ giữ được uy tín. Đảng chỉ đứng bên ngoài phụ họa, như một số bài trên Vietnamnet, Kênh14… té nước theo mưa.

– Thứ hai, Đảng lấy được tiếng tôn trọng tự do ngôn luận, đối với “những tiếng nói” phi truyền thống như của bà Hằng.

Dùng câu chuyện Tịnh Thất Bồng Lai, nhuốm màu tôn giáo, Đảng còn có thể lấy được cảm tình một tầng lớp tương đối có học thức ở thành thị, vốn nghi ngại những tổ chức có màu sắc tính ngưỡng bình dân (Cao Đài, Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương…).

Tôi đã từng vạch rõ, rằng Đảng Cộng sản Việt Nam để cho các YouTube tin vịt hải ngoại lan tràn bên trong nước mà không ngăn chận, vì những tin vịt do Donald Trump và phe nhóm tung ra chỉ làm mất uy tín cho nền dân chủ Mỹ trong con mắt dân chúng Việt Nam. Nay Đảng mở rộng hoạt động, thêm vào những đồng minh nội địa, mà lời ăn tiếng nói, phong cách cũng không khác gì các kênh YouTube hải ngoại pro-Trump phao tin vịt.

Chiến thuật mới này của Đảng Cộng sản Việt Nam rất có hiệu quả trong việc tấn công vào xã hội dân sự Việt Nam đang manh nha hình thành, nhất là trong thời kỳ vàng thau lẫn lộn đầy tin vịt, trong khi các cơ quan với sứ mạng truyền thông Việt ngữ, nhận tiền thuế từ chính phủ Hoa Kỳ, im hơi lặng tiếng.

Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam nên lưu ý, “cứu cánh biện minh cho phương tiện” không bao giờ đưa đến điều gì hay ho. Việc dung túng các loại YouTube tin vịt, bệnh hoạn đủ loại từ hải ngoại cho tới quốc nội, sẽ phản tác dụng, “gậy ông đập lưng ông”. Và coi chừng, đến một lúc nào đó thì phù thủy sẽ lụy âm binh.

Báo quốc doanh!

Báo quốc doanh!

Bởi  AdminTD

Nguyễn Đình Bổn

26-10-2021

Hôm trước có báo Thanh Niên “xuất khẩu bất động sản” thì nay có báo Tuổi Trẻ “Tăng ni, phật tử cung nghinh Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ về cõi niết bàn“!?

Cái tựa trên 10 chữ đã sai nghiêm trọng về diễn đạt và thuật ngữ Phật giáo. Nếu tăng ni, Phật tử mà cung nghinh ông hòa thượng về cõi niết bàn hẳn là họ đang đứng đó (cái cõi niết bàn á) để đón ông. Nếu vậy cái cõi niết bàn đó đông vui phải biết! Mà làm gì có cõi niết bàn?

Ảnh chụp màn hình

Bởi niết bàn trong Phật giáo không phải là một cõi thiên đường như Thiên chúa giáo, mà đó là một trạng thái tâm linh hoàn toàn vắng lặng, thanh tịnh, không còn bất cứ khởi niệm nào khi một cá nhân đã diệt tham ái và chấm dứt phiền não, khổ đau.

Ông Đoàn Trung Còn (1908–1988), pháp danh Hồng Tai, hay Tỳ kheo Thích Hồng Tại, là một cư sĩ Phật giáo và học giả Phật học có tiếng tại Việt Nam Cộng Hòa, giải thích: Niết bàn là “cảnh trí của nhà tu hành dứt sạch các phiền não và tự biết rằng mình chẳng còn luyến ái”!

Do tính chất ngôn ngữ của con người chỉ có thể mô tả cái chúng ta thấy, ta biết trong thế giới này nên thuật ngữ niết bàn rất khó diễn đạt cho rõ ràng.

Tương truyền có người hỏi Thích Ca: Sau khi chết, người giác ngộ sẽ đi về đâu? Phật sai người ấy lượm củi khô, nhóm lửa. Càng nhiều củi, lửa càng cháy mạnh, khi không bỏ thêm củi nữa thì đám lửa lụi tàn dần. Phật hỏi: “Lửa đi về đâu?”, “Không! Nó chỉ tắt”.

Củi như một ví dụ là nhiên liệu của cõi tham ái này. Khi chúng ta vẫn còn tham sống, tức là bỏ thêm củi vào lửa, năng lượng đó làm ta luân hồi trong vô minh. Không còn củi, không còn tham sân si, không còn cả ước muốn thành Phật, đó là vô ngã. Hết củi, lửa tắt. Mọi phiền não chấm dứt, cứu cánh thanh tịnh. Hành giả vẫn còn tại thế gian nhưng đã chứng ngộ niết bàn thì gọi hữu dư niết bàn và khi thân xác hoại diệt là vô dư niết bàn.

Còn sự chứng ngộ đó an lạc ra sao, thanh tịnh thế nào, chỉ người chứng ngộ mới hiểu.