Thiên Chúa có định cho con người phải đau khổ và phải chết không?

Thiên Chúa có định cho con người phải đau khổ và phải chết không?

Chỉ còn 2 tuần nữa là đến ngày Ba Béo rồi bạn ơi, nhịn đói từ từ bây giờ đi nhé. Chúc bạn và gia đình một ngày binh yên trong Chúa.

Cha Vương

Thứ 4: 16/02/2022

GIÁO LÝ: Trong kế hoạch, Thiên Chúa có định cho con người phải đau khổ và phải chết không? Thiên Chúa không muốn cho con người phải đau khổ và phải chết. Từ khởi thủy Thiên Chúa đã muốn cho con người sống nơi địa đàng, được sống mãi mãi, bình an giữa Thiên Chúa, mọi người, và vạn vật chung quanh. Bình an giữa nam và nữ. (YouCat, số 66)

SUY NIỆM: Đôi khi ta cảm thấy làm thế nào cuộc đời được như thế và làm thế nào ta được như thế. Nhưng thực ra, ta sống trong xung đột với chính ta, ta bị thống trị bởi sợ hãi và các đam mê ta không kiểm soát nổi, và ta đã mất sự hòa hợp nguyên thủy với thế giới và cuối cùng với Thiên Chúa. Trong Kinh thánh, kinh nghiệm về sự “tha hóa” này được diễn tả trong câu truyện “sa ngã”. Bởi vì tội lỗi đã lọt vào địa đàng nơi Adam và Eva đang sinh sống hòa hợp với nhau và với Thiên Chúa, nên họ phải ra khỏi địa đàng. Phải vất vả lao động, phải khổ, phải chết và bị cám dỗ bởi tội lỗi, đó là dấu chỉ họ đã mất địa đàng. (YouCat, số 66 t.t)

❦Người ta mất địa đàng, nhưng đã được Thiên đàng, vì vậy được nhiều hơn mất. (Thánh Gioan Kim Khẩu)

❦Lạy Chúa, quay đi khỏi Chúa sẽ ngã, quay lại với Chúa sẽ đứng vững, ở lại trong Chúa sẽ chắc chắn được an toàn. (Thánh Augustinô)

LẮNG NGHE: ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.” (St 2:16-17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, vì tội bất phục tùng mà con người phải chịu đau khổ và phải chết nhưng vì lượng từ bi Chúa yêu thương con đến nỗi đã sai Đấng Cứu Chuộc đến để chữa lành bản tính phải chết của con và giải thoát tất cả những ai vì mang bản tính đó mà bị hư mất. Xin biến đổi tim con, giúp con biết hoán cải quay về với Chúa để được hưởng hạnh phúc muôn đời với Chúa. 

THỰC HÀNH: Tập chấp nhận mọi đau khổ như là một món quà để cứu các linh hồn trong luyện ngục.

From: Đỗ Dzũng

Trần Danh San – Tưởng Năng Tiến

Trần Danh San – Tưởng Năng Tiến

Sổ Tay Thường Dân – Tưởng Năng Tiến

Nơi chương 33, trong cuốn Đèn Cù I (Trần Đĩnh, Người Việt Books 2014) tôi đọc được câu: “Bị đánh đuổi sau Nhân văn – Giai phẩm, Nguyễn Mạnh Tường đói quá – có lần lả đi ở đường Trần Hưng Đạo…”

Bộ thiệt vậy sao?

Thiệt chớ! Chính người trong cuộc cũng khẳng định vậy mà:

“Chúng tôi có một con chó do bạn bè cho. Nó rất khôn và chúng tôi yêu nó lắm. Nhưng nó đã già và chúng tôi không còn khả năng mua cho nó thịt và những thức ăn tăng sức, nó không còn sức đứng lên trong chuồng, ngẩng đầu nhìn tất cả chúng tôi, với một ánh mắt tin yêu của loài vật, chắc chắn với những dòng nước mắt và một nỗi buồn sâu thẳm vì đã đến lúc phải rời chủ. Chúng tôi bật khóc khi nó nấc những hơi thở cuối cùng…” (Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié – Hanoi, 1954 -1991: Procès d’un intellectuel. Trans Nguyễn Quốc Vĩ – Kẻ Bị Mất Phép Thông Công Hà Nội, 1954-1991: Bản Án Cho Một Trí Thức).

Ủa! Sao luật sư ở bên Tây về (với hai cái bằng tiến sỹ lận) mà đói dữ vậy cà?

Theo nhiều người thì vì Nguyễn Mạnh Tường có “dây dưa” với nhóm Nhân Văn nên bị trừng trị. Cũng không ít kẻ nghĩ rằng ông bị chế độ hiện hành “chôn sống” vì đã trót dại lên tiếng (“Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây Dựng Quan Điểm Lãnh Đạo”) trong một phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc, vào hôm 30 Tháng Mười, 1956.

Thực ra, số phận của Nguyễn Mạnh Tường (nói riêng) và đám luật sư miền Bắc (nói chung) đã được “an bài” trước đó:

 “Ngày 17-11-1950, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 158-SL, quyết định việc bổ sung cán bộ công nông vào ngạch thẩm phán và thăng bổ các thẩm phán toà án nhân dân huyện lên toà án nhân dân tỉnh… Từ đây, theo ông Vũ Đình Hòe: ‘các thẩm phán huyện, đa số là đảng viên cộng sản, chỉ qua lớp chính trị và nghiệp vụ’. Quan điểm lựa chọn thẩm phán chủ yếu ‘đứng trên lập trường nhân dân’ của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lâu dài đến nền tư pháp Việt Nam.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, USA: 2012).

Muốn biết cái nền tư pháp công nông hóa của bác Hồ “ảnh hưởng lâu dài” ra sao, xin xem qua dáng điệu và cử chỉ của một vị thầy cãi (được “mời bào chữa” cho ông Hoàng Minh Chính) sau khi nhân vật này bị bắt lại, vào năm 1996:

“Hôm xử Chính tôi không ra đứng ở cổng toà mà đến Hồng Ngọc tối trước. Đang trò chuyện thì ông luật sư K. gia đình mời bào chữa cho Chính đi vào. Một cái bóng lúp xúp. Cụp vai, cúi đầu thì thào dăm ba câu, cái dáng sợ bị nghe trộm, nhòm trộm. Tuy nhớn nhác nhưng ông trung thực, trước sau chỉ khe khẽ chối (nhưng lại gắt): Tôi không cãi được… ý gia đình như thế thì không cãi được đâu.

Hà, con gái cả Chính kêu lên: Thế thì im hả bác? Lúng túng giây lát ông luật sư lại gắt giọng nhưng vẫn thì thào: Không cãi được mà. Tôi hỏi thế nghĩa là gia đình nhận tội thì cãi được? Ông nói: Đã nhận thì cần gì cãi. Rồi lúp xúp đi ra. Ông biết trong bóng tối quanh đây đầy những con mắt lúc này đang theo dõi chặt. Rồi máy ghi âm. Có khi chụp ảnh nữa. Qua tư thế ọp ẹp, ông cố để lộ rõ ông đầu hàng Nhà nước.” (T. Đĩnh, s.đ.d., tập II, chương 27).

Giới luật sư ở miền Nam thì không thế: không “nhớn nhác,” không “lúp xúp,” không “cụp vai,” không “thì thào” gì sất. Đã thế, họ còn nói rất to (“bằng loa phóng thanh”) cho cả bàn dân thiên hạ nghe luôn:

Sau sự kiện giới trí thức Tiệp Khắc ban hành Hiến Chương 77 chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản Tiệp Khắc, tại Sài Gòn, trong vòng đai lửa của chế độ mới, hai Luật Sư Trần Danh San và Triệu Bá Thiệp không thể im lặng. Cả hai đồng hoàn thành văn bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”

Hai anh và nhóm trí thức bất khuất gồm hơn mười luật sư, giáo sư, kỹ sư trước 1975 hành nghề tại Huế và Sài Gòn đã hẹn nhau chia làm hai ngã tiến theo hai đường tập trung trước Nhà Thờ Ðức Bà vào chiều ngày 23 Tháng 4, 1977. Trần Danh San dùng cái loa phóng thanh qua một máy ghi âm nhỏ đọc lên bản ‘Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng’ đến cùng đồng bào Sài Gòn, cũng của miền Nam lẫn miền Bắc đang mong chờ lần phục sinh từ bãi lầy cộng sản…

Trong trại giam Phan Đăng Lưu anh nhận đòn tứ trụ với sức chịu đựng tưởng chừng như không thực: Với thân hình cao không quá “một thước-sáu” nhận đòn đánh hội đồng từ bốn tên lực lưỡng chuyên nghiệp tra khảo người.

Sau những trận đòn chạm tới điểm chết, sau những tháng kiên giam nơi hầm tối của anh, viên cán bộ trưởng trại Phan Đăng Lưu có câu hỏi: Anh có ngừng chống đối không? Trần Danh San trả lời chắc chắn: Chống đối là điều tất nhiên! Câu trả lời được nhiều bạn tù nơi Phan Đăng Lưu năm ấy hiện nay đang cư trú tại vùng Nam Cali nghe rõ.  (Phan Nhật Nam. “Trần Danh San, Tiếng Hò Khoan Đã Tắt”)…

Chưa hết đâu!

Sau đó, khi ở A20 – nơi còn được A-20 Nguyễn Chí Thiệp mệnh danh là Trại Kiên Giam – Trần Danh San còn tham gia vào việc làm báo chui (underground press) nữa kìa:

Anh đã chấp nhận đánh đu với tử thần để vừa cung cấp cho mọi người những thông tin cập nhật, những bài viết giúp họ mở mang kiến thức, kiên định lập trường, vừa giữ vai trò điều hợp một số hoạt động đấu tranh ở trong trại.

Sau khi Vũ Văn Ánh bị cùm trong xà lim rồi bị tuyên phạt ‘biệt giam vô thời hạn’, tôi được chỉ định làm ‘thư ký tòa soạn’ cho tờ báo. Nhiệm vụ của tôi là tuyển chọn bài, sửa chữa chút đỉnh chính tả, văn phạm rồi giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen lên khuôn; sau đó tôi kiểm soát lại lần cuối và phát hành. Trần Danh San kín đáo giao cho tôi một bài viết rất hay: Vì Sao Chúng Ta Tranh Đấu. Tôi đã giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen đăng trong Hợp Đoàn số 4. Bài viết được nhiều anh em tù, đặc biệt là những anh em tù chính trị có án, ưa thích. (Phạm Đức Nhì. “Nén Nhang Cho Một Anh Hùng”).

Đến tờ Hợp Đoàn số 5 thì cả đám lần lượt … vô cùm. Riêng Vũ Ánh, Trần Danh San, Nguyễn Chí Thiệp thì bị cùm hơi lâu khiến A-20 Nguyễn Thanh Khiết đâm ra sốt ruột và xót ruột: 

Sáu năm biệt giam
ba muỗng nước, ba muỗng cơm
chưa lần lung lay ý chí
một đời anh – một đời sĩ khí
bước thấp, bước cao cắn nhục mà đi
ngọn bút hiên ngang
thay làn tên mũi đạn
giữa trại thù nét mực chưa phai

Dù thế, dù “sáu năm biệt giam/ ba muỗng nước/ ba muỗng cơm” nhưng Trần Danh San vẫn không hề nao núng:

 “Tôi nhớ trại trưởng phân trại E của A-20, Lê Đồng Vũ mà chúng ta gọi là Tư Nhừ vì hắn mang lon thiếu tá công an, giọng lúc nào cũng nhừa nhựa như thằng say rượu, không biết nó sẽ rút cây K-54 ra bắn mình lúc nào, hỏi khích…: ‘Thế nào, anh San còn bẻ gậy chống trời nữa không’. Trần Danh San đáp tỉnh bơ: ‘Tất nhiên, cán bộ.’ Câu chuyện về bạn có thể viết được một cuốn tiểu sử rất dày về đời tư, đời công và đời tù của một nhà tranh đấu.”  (Vũ Ánh. “Bài Điếu Văn Cho Trần Danh San Một A-20 Vừa Ra Đi Vĩnh Viễn”).

Sao Trần Danh San lại quyết liệt và ngang tàng đến thế?  

Câu trả lời có thể tìm được qua câu tâm sự của chính ông với một người bạn đồng tù:

“Phải cho thế hệ sau biết để các em, các cháu có thêm nghị lực, dũng khí đi tiếp con đường chúng ta đi.”

Với ít nhiều chủ quan, tôi tin rằng không ít quí vị luật sư của thế hệ đến sau (Đặng Đình Bách, Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, Võ An Đôn, Lê Trần Luật, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Nguyễn Bắc Truyển …) đều đã được thừa hưởng cái “dũng khí” từ những người đi trước như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Danh San…

Tưởng Năng Tiến
2/2022

Tám mối Phúc Thật là gì? 

Tám mối Phúc Thật là gì?

Tác giả: Gioan PhùngVăn Phụng

Tám mối phúc thật còn gọi là Hiến Chương Nước Trời hay Bài Giảng trên núi.

Đọc Tin Mừng theo thánh Mátthêu ở chương 5, từ câu 3 đến câu 12, và đọc các Mối Phúc để hiểu được con đường tươi đẹp biết bao, vui vẻ, an toàn biết bao và cũng hạnh phúc biết bao mà Chúa đã đề nghị cho chúng ta nghe theo và áp dụng vào cuộc sống.

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.(1)

 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.(2)

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.

SUY NIỆM:

(Luca chương 6 câu 20 đến 23 cũng nói đến các phúc này).

Đọc các mối phúc thật này nghe rất là nghịch lý, không thuận tai chút nào.

1-Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ.

Tâm hồn nghèo khó là gì? Đó chính là tâm hồn đơn sơ, không kiêu ngạo, không cho rằng giỏi nhất, không ai hơn mình được. Vì có tâm hồn nghèo khó nên biết nương cậy vào Chúa, suy phục Chúa, luôn luôn sống với tâm tình vâng phục, có Chúa ở cùng khi làm mọi việc. Lúc nào cũng có tâm tình tạ ơn Chúa khi còn sống trên cõi đời này. Khi làm việc, dầu thành công hay thất bại vẫn tạ ơn Chúa.

Còn nếu ta đã giàu có, thành công, có địa vị cao, có chức vụ, quyền lực trong xã hội liệu ta còn có nghĩ đến Chúa, nương cậy vào Chúa nữa không?

2- Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Hiền lành là gì? Người ta thường xem sự hiền lành là nhu nhược, không dám phản ứng khi bị đàn áp, gây gỗ, mắng chửi. Thật ra hiền lành chính là nhân đức – kiềm chế sự nóng giận. Không phải ai cũng làm được đâu. Phải thực tập thường xuyên, tự rèn luyện bản thân hàng ngày, dẹp bỏ tự ái, dẹp bỏ cái TÔI đi, tức là dẹp bỏ sự nóng giận. Cậy vào sức của mình ta, ta không làm được. Nhưng cậy dựa vào sức Chúa, chúng ta sẽ làm được. Chúa Giêsu nói: “Hãy bắt chước ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. (2)

3-Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Sầu khổ là gì? Là nhìn thấy và cảm nghiệm, chia xẻ những đau khổ của người khác, cũng như đau khổ của chính mình vì tội lỗi của chính mình. Ngày nay, người ta thường dùng chữ “vô cảm” để nói đến những người vô tâm, ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân mình. Biết sầu khổ nghĩa là không vô cảm, biết đau cái đau của đồng loại, thương cảm những đau khổ của người khác. Những người sầu khổ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

4-Phúc thay ai khao khát nên người công chính vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Khát khao nên người công chính tức là ý thức về điều ngay thẳng, tốt lành. Làm việc với sự công bình, yêu thương, hợp với đạo lý làm người, với lương tâm nhắc nhở. Người công chính không làm vì lợi mình mà hại người.

5-Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Xót thương người là cảm thông với nỗi đau của người khác, biết đau với nỗi đau của người khác… đặt mình vào vai trò, vị trí của người khác, cùng chia xẻ sự khổ nạn với Chúa Kitô, nên một với Chúa Kitô chịu đóng đinh. Xót thương người khác vì sự đau đớn về vật chất, sự đau khổ về tinh thần, tâm linh của người khác. Cần học hỏi, thực hành lòng xót thương như Thầy chí thánh là Chúa Giêsu là đấng xót thương.

6-Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa

Có tâm hồn trong sạch là không ích kỷ, không tham lam, không tư lợi, hết lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu mến anh em đồng loại.

7-Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa

Xây dựng hoà bình là đem bình an đến cho người chung quanh, hàn gắn các vết thương giữa con người với nhau.

8-Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính vì Nước Trời là của họ.

Bị bách hại, bị người ta sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa vì Chúa, là vui vẻ chấp nhận sự khó khăn, đau khổ… Dầu bị bách hại, bị loại trừ, bị sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa mà không oán hờn, trách móc. Nhờ đó chúng ta có được bình an trong tâm hồn, hạnh phúc trong cuộc sống, đó chính là nước trời hiện diện giữa chúng ta trong đời này rồi phải không?

Chính 8 mối phúc thật này là căn tính của người kitô hữu, đó là cách thức, là con đường người môn đệ của Chúa phải đi.

Tám mối phúc thật hay Hiến Chương Nước Trời, đây là mục đích chính mà người theo Chúa Giêsu kitô cố gắng đạt được để có nước trời (thiên đàng) nơi trần thế này và được hưởng thiên đàng vĩnh cửu mai sau.

Gioan Phùng Văn Phụng

Xem thêm:

(1)Nước trời là gì vậy Thầy?

https://dongten.net/2020/07/23/nuoc-troi-la-gi-vay-thay/

(2) Hiền lành và khiêm nhường

http://www.vncatholic.net/hien-lanh-va-khiem-nhuong/

Người có khuynh hướng đồng tính luyến ái thì sao?

Người có khuynh hướng đồng tính luyến ái thì sao?

Một ngày an lành nhé. Hơn bao giờ hết, nhu cầu giáo dục giới tính rất cần thiết trong thời đại ngày nay, hy vọng bài giáo lý hôm nay giúp bạn nhìn lại vai trò của mình trong công việc giáo dục đức tin trong gia đình.

Cha Vương

Thứ 3: 15/02/2022

GIÁO LÝ: Người có khuynh hướng đồng tính luyến ái thì sao? Hội Thánh tin rằng, trong trật tự tạo dựng, Thiên Chúa đặt để cho người nam và người nữ cần đến nhau, bổ túc cho nhau, liên kết với nhau để sinh sản con cái. Vì vậy, Hội Thánh không thể chuẩn nhận những thực hành đồng tính luyến ái. [Tức là Hội Thánh kết án hành vi tính dục đồng tính] Tuy nhiên các Kitô hữu phải tôn trọng và yêu thương mọi người, không xét đến khuynh hướng tính dục của họ, vì tất cả mọi người đều được Thiên Chúa tôn trọng và yêu thương. (YouCat, số 65)

SUY NIỆM: Không một người nào trên trần gian không phải là kết quả của mối quan hệ giữa một người mẹ với một người cha. Thật là kinh nghiệm đau khổ cho một số người có khuynh hướng đồng tính luyến ái, họ không cảm thấy được lôi cuốn bởi người khác giới, và phải từ chối việc thụ thai theo thể lý bằng quan hệ tình dục phù hợp với bản tính con người và trật tự do Thiên Chúa tạo dựng. Nhưng những đường lối của Chúa thì không biết trước được: một sự thiếu sót, một mất mát hay một vết thương được chấp nhận và đảm nhận có thể trở thành một bàn đạp để gieo mình vào tay Chúa, Đấng luôn làm cho mọi sự tốt hơn và Người còn tự mặc khải như Đấng cứu độ lớn hơn là Đấng tạo hóa. (YouCat, số 65 t.t)

❦ Hội Thánh không kết án những người có khuynh hướng đồng tính, mà chỉ kết án những hành vi tình dục đồng tính mà thôi: Hội Thánh mời gọi những người có khuynh hướng đồng tính trung thành gìn giữ đức khiết tịnh, phẩm giá đích thực của con người. Hội Thánh không loại trừ họ, nhưng tôn trọng, thông cảm và nâng đỡ họ sống hoàn thiện hơn. Ngược lại, Hội Thánh lên án những hành vi tính dục đồng tính và chống đối quy chế hôn nhân giữa hai người đồng giới.

❦ Chúa Giêsu nói: “Quả vậy, có những người là hoạn nhân vì từ lòng mẹ sinh ra đã như thế; có những người là hoạn nhân vì bị người ta hoạn; và có những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19, 12).

LẮNG NGHE: Ngươi [người đàn ông] không được nằm với đàn ông như nằm với đàn bà: đó là điều ghê tởm. (Lv 18:22)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, nhân loại đang đương đầu với nhiều thù nghịch cả trong lẫn ngoài, ma quỷ đang rình rập lẻn vào gia đình và tầm hồn dưới nhiều hình thức để cướp lấy những phẩm giá đích thực của con người. Xin cho những người có khuynh hướng đồng tính biết can đảm sống đức khiết tịnh, bền vững trong cơn cám dỗ, chấp nhận sự thiếu sót và mất mát để được Chúa muôn đời.

THỰC HÀNH: Dâng một hy sinh nhỏ trong ngày hôm nay để cầu nguyện cho người tội lỗi biết ăn năn trở lại.

httpv://www.youtube.com/watch?v=0U0igCUUANk

Thánh Ca | Cám Dỗ Trong Đời – Diệu Hiền

From: Đỗ Dzũng

Hiền lành và khiêm nhường

Hiền lành và khiêm nhường

July 5, 2011 

  1. DẪN NHẬP.

Ngày nay, người ta say mê quyền lực và muốn khuất phục người khác dưới quyền mình, muốn sai khiến người khác theo ý mình. Con người có khuynh hướng trở nên kiêu ngạo. Người ta co dị ứng khi nói đến lời dạy “ hiền lành khiêm nhường “của Đức Kitô, nhất là khuyên chúng ta hãy thực hiện đức tính này.

Tuy nhiên, là Kitô hữu, chúng ta cần đi bước theo chân Chúa Kitô. Người đã đến chia sẻ kiếp người của chúng ta, Người đã đi đến mức cùng của việc tự hạ: sống chung thân phận với người nghèo khổ, như người tôi tớ rốt hết. Hiền lành và khiêm nhường là những đức tính mà Chúa Giêsu đã thực hiện trước và khuyên các môn đệ hãy đem ra thực hành: “Các con hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

Thực ra, truớc Chúa Giêsu mấy trăm năm, nhà hiền triết Lão Tử cũng đã đưa ra chủ trương:”Nhu nhược thắng cương cường”: lấy mềm dịu thắng cứng rắn (nhu thắng cương, nhược thắng cang). Đây là một chủ trương mới lạ, khó được chấp nhận, chỉ những người có tâm hồn cao thượng mói hiểu và chấp nhận được chủ trương này. Hôm nay chúng ta thấy lời khuyên của Chúa Giêsu rất gần với chủ trương của Lão Tử. Và trong thực tế, có rất nhiều người đã thực hiện lời khuyên của Chúa Giêsu. Họ đã thành công và đã để lại tấm gương sáng muôn đời cho nhiều người. Chúng ta hãy nhớ lại lời khuyên của Chúa Giêsu trong “Tám mối phúc thật”: “Phúc cho ai có tinh thần hiền lành vì họ dẽ được gọi là con Thiên Chúa”.

  1. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

+ Bài đọc 1: Dcr 9,8-10: Trong thời Chúa Giêsu, người ta đang trông chờ Đấng Messia đến cứu dân Người với hình ảnh là một Đấng Messia đầy quyền uy, dùng võ khí để tái lập hoà bình. Nhưng tiên tri Giacaria lại loan báo cho dân thành Giêrusalem biết: Đấng Messia không đến trong quyền uy với võ khí hủy diệt, nhưng đến với một thứ võ khí đặc biệt là “hiền lành và khiêm nhường”.

Theo đó, Đấng Messia sẽ đến cũng là một vị Vua nhưng là vị Vua có những đức tính khác biệt:
. Ngài không phải là vị vua chiến tranh nhưng là hòa bình.
. Ngài rất khiêm nhường, không ngồi trên lưng ngựa mà trên lưng lừa.
. Ngài rất hiền lành: không muốn giết chết mà chỉ muốn cứu sống.

Đức Giêsu sẽ hoàn tất việc mong chờ này vào ngày lễ Lá, khi Người vào thành Giêrusalem trên lưng một con lừa, như những người nghèo.

+ Bài đọc 2: Rm 8,9.11-13: Đây là đề tài phụ. Thánh Phaolô nhắc cho chúng ta rằng khi được chịu phép rửa tội, chúng ta thực sự đã trở nên môn đệ Chúa Kitô và để phục sinh với Người chúng ta phải sống theo thần khí của Người (tức là Thánh Thần) chứ đừng “sống theo xác thịt’ là mọi khuynh hướng xấu sẵn có trong chúng ta.

Ai sống đời sống cũ tức là sống theo xác thịt sẽ bị dẫn đến sự chết. Còn ai sống đời sống mới tức là sống theo Thánh Thần sẽ được dẫn tới sự sống vĩnh cửu.

+ Bài Tin mừng: Mt 11,25-30: Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta có thể tìm thấy hai ý tưởng chính:

  1. a) Chúa Giêsu tạ ơn Chúa Cha vì Người qúi chuộng những kẻ bé mọn và khiêm nhường. Chính Người đã tiết lộ bí mật của Người cho họ trong khi Người lại giấu không cho những người khôn ngoan và quyền thế biết được những điều ấy. Vì sao ? Vì các luật sĩ và biệt phái đáng lẽ ra phải là những người đầu tiên nhận ra rằng Chúa Kitô là sứ giả của Thiên Chúa. Nhưng sự hiểu biết về Sách Thánh của họ đã làm cho họ đầy kiêu căng, một thứ vật cản.
  2. b) Sang phần sau, Chúa Giêsu cho biết, vì không tự mãn, những trí óc khiêm nhường của những kẻ bé mọn lại được mở ra ngay từ đầu đối với những mầu nhiệm của Chúa. Họ đã nhận ra Chúa Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa và đón nhận lời Người.

Nhân dịp này, Chúa Giêsu cũng khuyên những người bé mọn đó hãy “mang lấy ách của Ngài” tức là “hãy học cùng Ngài” về hai đức tính căn bản là “Hiền lành và khiêm nhường” trong cuộc sống hằng ngày để làm môn đệ Chúa.

  1. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

Người hiền lành khiêm nhường

Trong phần thực hành lời Chúa, chúng ta chỉ bàn đến lời khuyên của Chúa trong phần thứ hai của bài Tin mừng: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

  1. Nói về Hiền Lành và Khiêm Nhường
  2. Nói về hiền lành.

Hiền lành hay hiền hậu là con người tốt lành, không độc ác, nhưng có lòng thương người, có đức hạnh và hay làm điều thiện. Ví dụ: Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

Theo nguyên ngữ Hy lạp được dùng trong Kinh thánh thì nó có nghĩa là dịu dàng, ngọt ngào, không thô bạo cứng cỏi. Như thế hiền lành phải có cả bên trong lẫn bên ngoài. Bên trong thì phải êm ái, hòa nhã, yêu thương, khoan dung, thông cảm. Bên ngoài thì phải nhẹ nhàng, không có hành động cứng rắn hay thô bạo.

Hiền lành thì phải tránh tính nóng nảy. Trong đời sống hằng ngày, người có quyền bính đều xử dụng tính nóng nảy của mình đối với người khác, có khi còn “giận cá băm thớt”. Người ta từng nói: “No mất ngon, giận mất khôn”. Cho nên, để luôn luôn tự cảnh giác, ông Nguyễn đình Giản, thời Lê mạt, đã viết vào một mảnh giấy, dán lên chỗ ngồi giải trí, câu này:

Tảo cấp tắc bại sự
Nóng tính thì hỏng việc.

  1. Nói về khiêm nhường.

Theo chữ thì Khiêm nhường hay khiêm nhượng là nhún nhường không khoe khoang, hạ mình xuống một chút. Căn bản của khiêm nhường là biết mình “là” thế nào: từ đó không muốn tỏ ra hơn cái “là” ấy; và giả như người khác có coi mình kém hơn cái “là ấy” thì mình cũng không màng tới. Điều quan trọng là sống thanh thản và thành thật đúng với cái “là” của mình.

Khiêm nhường trái ngược với kiêu ngạo. Kiêu ngạo là muốn tự cho mình vượt quá cái “là” của mình và bắt người ta phải công nhận như vậy. Người kiêu ngạo được coi là người VIỆT VỊ trong bóng đá vì đã vượt quá vị trí của mình. Dĩ nhiên, cầu thủ “việt vị” thì đều bị trọng tài phạt.

Truyện: hoàng đế Napoléon kiêu ngạo.

Trong trận đánh Nga, hoàng đế Napoléon đã mơ tưởng thu phục cả Ấn độ, và với lòng kiêu căng vô biên, nhà vua đã cho đúc một thứ huy chương có dòng chữ này: “THIÊN ĐÀNG LÀ CỦA CHÚA, TRÁI ĐẤT LÀ CỦA TÔI”. Nhưng rồi nhà vua đã mất ngôi báu vì trận Nga này. Sau trận thất bại của nhà vua, một viên đại tướng Nga cũng cho đúc một huy chương khác, trên mặt có một hình bàn tay đưa ra đám mây và cầm roi đánh vào lưng Napoléon cùng với lời này: “CÁI LƯNG LÀ CỦA MÀY, CÁI ROI LÀ CỦA TA”. Và như thế, vị hoàng đế kiêu ngạo, sau này trong nơi vắng vẻ bị tù đầy ở đảo Sainte Helène có thể suy nghĩ về chân lý về những lời này của Chúa: “Kẻ nào đưa mình lên sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Mt 23,12).

  1. Người Đời Nghĩ Thế Nào?

Tùy theo quan niệm của người ta, hiền lành nhịn nhục có thể bị coi như một thái độ hèn nhát, nhu nhược. Nhưng cũng có rất nhiều người coi đó là thái độ anh hùng đáng ca tụng. Phải là một con người có bản lĩnh vững vàng cao thượng mới có thể thực hiện được.

  1. Thái độ hèn nhát.

Ngày nay sự hiền lành dễ thương không còn được đánh giá cao như trước. Trước đây lời khen ngợi tốt nhất mà ta có thể trao tặng cho kẻ khác là gọi họ là “người hiền lành dễ thương”. Nhưng ngày nay, bạo lực lại phổ biến hơn hiền lành dễ thương. Truyền hình đã làm cho bạo lực có rất nhiều khán giả bằng những chương trình Nielson rất phổ biến (bên Mỹ).

Nếu thi sĩ Alfred de Vigny coi cầu nguyện và than vãn là thái độ hèn yếu, thì đối với ông và với nhiều người khác, họ nghĩ sao với lời Chúa: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” ? Có lẽ họ muốn theo cách hành động của anh chàng Tân Ti Tụ suốt đời không chịu để cho ai làm nhục.

Truyện: Anh chàng Tân Ti Tụ.

Đời Trang Công nuớc Tề có người tên là Tân Ti Tụ đêm nằm mơ thấy một chàng cao lớn đội mũ trắng đi giầy mới, mặc quần gai, áo vải, đeo gươm tự dưng đến nhà mắng, nhổ vào mặt mà đi.

Tân Ti Tụ giật mình thức dậy, tuy biết chiêm bao nhưng vẫn tức tối, suốt đêm bực rọc khó chịu, không ngủ được.

Sáng dậy, Tân Ti Tụ mời một bạn thân đến nói rằng:

– Bác ạ, tôi từ nhỏ đến giờ vẫn là kẻ hiếu dũng, nay sáu mươi tuổi rồi mà chưa hề chịu ai làm nhục, thế mà đêm qua bị một đứa, tôi phải đi tìm để báo thù, nếu thấy thì hay, còn không tôi chết mất.

Thế rồi từ hôm ấy, sáng nào Tân Ti Tụ cũng cùng bạn ra đứng ngoài đường cái để rình. Rình mãi ba ngày không thấy, rút cục Tân Ti Tụ phải uất lên mà chết.

(Thái Bạch, Đông tây kim cổ tinh hoa, 1965, tr 134)

  1. Thái độ can đảm

Ngược lại với thái độ của những kẻ tầm thường chỉ biết hành động theo tình tư dục, những bậc thánh nhân, hiền nhân quân tử có cái nhìn khác hẳn. Những kẻ tầm thường không có cái suy nghĩ và hành động như các vị đó.

Thánh Francois de Sales nói: “Tất cả đều được chinh phục bởi hiền dịu chớ không phải bạo lực”.

Nhà hiền triết Mạnh Tử nói: “Thiên đạo vô thân. Thường dữ thiện nhân (Đạo trời không riêng một người, Luôn gia ân cho kẻ hiền lành.)

Ông Tô đông Pha, một văn sĩ Trung hoa thời xưa nói rất chí lý:

“Chỗ mà người xưa gọi là hào kiệt, ắt phải có khí tiết hơn người. Nhưng, nhân tính có chỗ không thể nhịn được. Bởi vậy, kẻ thất phu gặp nhục, tuốt gươm đứng dậy, vươn mình xốc đánh. Cái đó chưa đủ gọi là dũng. Kẻ Đại dũng trong thiên hạ, trái lại, thình lình gặp những việc phi thường cũng không kinh, vô cố bị những điều ngang trái cũng không giận. Đó là nhờ chỗ hoài bão của họ rất lớn và chỗ lập chí của họ rất xa vậy”.

Để làm nổi bật cái triết lý “Nhu nhược thắng cương cường” trong phương diện cách mạng, ông Nguyễn duy Cần trong cuốn “Cái Dũng của thánh nhân” đã đề cập đến cuộc giải phóng Ấn độ do ông Gandhi điều khiển. Chính sách đề kháng bất bạo động của Gandhi đã làm cho thế giới hết sức ngạc nhiên và thán phục. Đâu phải người ta không biết dùng bạo động, nhưng vì người ta cho đó là còn hạ sách.

Ông Gandhi nói: “… Tôi tin rằng Ấn độ không phải là vô lực. 100.000 người Anh làm gì mà đến 300 triệu người Ấn kia phải sợ ? Bất bạo động đâu phải chịu lụy kẻ làm hại mình. Bất bạo động, là dùng sức mạnh của cả tâm hồn để chống lại với cường quyền của kẻ độc tài”.

Một người như thế thôi cũng đủ khiêu khích cả một đế quốc và làm cho nó “tan tành nghiêng ngửa”.

Truyện: Lạn Tương Như và Liêm Pha.

Lạn Tương Như được phong làm tướng quốc. Liêm Pha cậy mình có nhiều công hơn mà lại bị đứng dưới, nên tức giận hăm he hễ gặp mặt Tương Như là giết đi. Tương Như vì thế cứ lánh mặt mãi… Một hôm Tương Như ra ngoài, gặp toán lính tiền đạo của Liêm Pha, vội sai tên đánh xe đi tránh vào trong ngõ, đợi Liêm Pha đi qua rồi mới đi ra. Bọn xá nhân thấy thế càng giận bèn họp nhau hỏi Tương Như:

– Chúng tôi bỏ nhà cửa, xa thân thích đến đây hầu ngài, tức coi ngài là bậc thượng phu nên mến mà theo. Nay ngài cùng Liêm tướng quân cùng hàng mà hạng thứ lại ở trên. Liêm Pha dọa, ngài đã không báo lại, đã tránh ở triều, nay lại tránh ở ngoài đường. Sao ngài lại sợ quá thế vậy ? Chúng tôi lấy làm xấu hổ, vậy xin đi không ở nữa.

Tương Như nói:
– Các ngươi xem tướng quân có hơn được vua Tần không ?

Bọn xá nhân đáp:
– Không.

Tương Như nói:

– Lấy cái oai của vua Tần, thiên hạ ai dám chống, mà Tương Như này dám mắng giữa triều đình, lại làm nhục cả quần thần nữa. Tương Như dẫu hèn, há lại sợ một Liêm tướng quân ư ? Nhưng ta nghĩ Tần sở dĩ không dám đánh Triệu là vì e có ta và Liêm tướng quân. Nay hai con hổ tranh nhau, thế không cùng sống. Tần nghe tin, tất thừa cơ đánh Triệu. Ta sở dĩ chịu nhục tránh Liêm tướng quân là coi việc nước là trọng và thù riêng là khinh vậy thôi.

Bọn xá nhận mọp lạy mà rằng:
– Tiểu nhân chúng tôi trí hẹp làm gì hiểu nổi đại chí của tướng công.

Liêm Pha khi nghe thuật lại việc làm của Tương Như cả thẹn mà rằng: “Ta thật còn kém Lạn Tương Như xa lắm”. Bèn đến tạ tội với Tương Như, qùi mọp mà rằng: “Tôi tính thô bạo, đội ơn tướng quân bao dung, nghĩ lấy làm hổ thẹn quá”. Tương Như đỡ dậy, nắm tay cùng khóc và kết làm bạn sống chết với nhau.

(Nguyễn duy CầnCái DŨNG của thánh nhân, 1958, tr 162-163)

III. Chúng ta nghĩ sao?

Mỗi người phải lựa chọn cho mình một hướng đi. Chúng ta phải có lựa chọn nào trước lời Chúa dạy: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” ? Thái độ của người hiền lành là hèn nhát hay can đảm ?

Đối với chúng ta, sự hiền lành và khiêm nhường của Đức Giêsu đã làm cho không biết bao người đương thời với Chúa Giêsu và bao thế hệ sau này ngỡ ngàng và kinh ngạc.

Truyện: BEN HUR

Nhà văn Lewis Wallace trong tác phẩm BEN HUR cũng nói lên tâm tư sững sờ trước sự khiêm nhường sâu thẳm của Đức Kitô:

Ben Hur khi chứng kiến cảnh Đức Kitô bị Giuda phản nộp và bị các tên lính bắt trói, chàng hăm hở tiến đến gần Chúa Giêsu và hỏi:

– Lạy Thầy, hãy nghe tôi, có phải Thầy tự ý muốn đi theo bọn lính và các giáo sĩ hay không ?

Đức Giêsu lặng thinh.

– Lạy Thầy, tôi có một binh đoàn quân Galilê trong thành phố này. Hãy ra lệnh đi, họ sẽ phục tùng Thầy. Thầy có thuận không ?

Đức Giêsu vẫn một mực cúi nhìn đăm đăm xuống đất.

– Lạy Thầy, một lời thôi, một lời của Thầy thôi, tất cả sẽ theo Thầy…

Đức Giêsu vẫn im lặng, đến nỗi Ben Hur ngã vật xuống bờ sông Cédron và thốt lên:

– Người Nazareth, hỡi người Nazareth, thế thì thông điệp của Người mang ý nghĩa gì ?

Mang một ý nghĩa gì ư ? Đó là “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Đó là thông điệp mà Đức Giêsu gửi cho mọi người chúng ta. Ngài đã làm gương trước, chúng ta chỉ việc học đòi bắt chước Ngài thôi.

Qua những tư tưởng trên, chúng ta thấy cái hiền lành khiêm nhường của Đức Kitô không là một sự nhu nhược nhát đảm, nhưng đó là đức tính của những vĩ nhân, của những bậc đại thánh. Bởi vì chính tính khí kiêu căng đã làm cho thế giới bị đảo lộn, hận thù ghen ghét, chiến tranh. Những kẻ kiêu căng tự mãn là những tiểu nhân, hèn mọn, còn những tâm hồn hiền lành khiêm nhường là bậc anh hùng vì họ đã anh dũng chiến thắng được bản thân với những tính tự ái ích kỷ hẹp hòi. Đó mới là cuộc chiến quan trọng, và cái chiến thắng của cuộc chiến đó mới đáng kể.

Truyện: Đức Gioan 23 và bức thư.

Lúc được phong chức Tổng giám mục, Đức Cha Roncalli là khâm sứ Toà thánh kiêm đại diện Tông tòa quản trị các giáo phận ở Bungari và Thổ. Công việc của ngài rất khó khăn, vì phải trông coi một vùng rộng lớn đang sôi động về mặt chính trị, chia rẽ về mặt tôn giáo, Công giáo với Tin lành, Chính thống, Hồi giáo, các linh mục triều lại chia rẽ với các tu sĩ.

Trong lúc thi hành công việc mục vụ, Đức Tổng giám mục Roncalli nhận được một bức thư nặng lời chê bai chỉ trích Ngài về mọi mặt, do tay một linh mục bất mãn viết. Đọc xong, Đức cha Roncalli không nói một lời, lòng vẫn tha thiết yêu vị linh mục ấy.

Thời gian trôi qua, ngài được thăng chức sứ thần Toà thánh tại Paris, rồi hồng y giáo chủ Vênêcia, và cuối cùng đắc cử Giáo hoàng với danh hiệu Gioan 23 năm 1958.

Linh mục bất mãn viết thư năm nào vẫn còn sống. Về sau để ngài tháp tùng với giáo dân sang Rôma và xin được yết kiến Đức Giáo hoàng.

Linh mục ấy đã thuật lại cuộc tiếp kiến riêng tư với Đức Giáo hoàng:

“Trong lúc đứng ở phòng khách trên lầu cao Vatican, đầu óc tôi cứ nghĩ tới bức thư bất mãn năm xưa mà lòng tôi vô cùng hối hận. Tôi trộm nghĩ, đã mấy chục năm trời qua rồi, giờ đây chắc hẳn Đức Thánh Cha không còn nhớ gì… Nhưng ai ngờ, sau khi tiếp chuyện thân mật, Đức Thánh Cha với lấy cuốn Kinh thánh và lôi ra trước mặt tôi bức thư khốn nạn ấy. Đang khi tôi lo âu lúng túng, Đức Thánh Cha đã cầm lấy tay tôi và dịu dàng bảo: “Con đừng hoảng sợ, cha không bao giờ giận con đâu. Cha cám ơn con. Cha cũng là người, cũng yếu đuối, cha ngăn bức thư con viết vào cuốn Thánh kinh để hằng ngày đọc vào đó mà xét mình, hầu có thể dứt khoát với những khuyết điểm còn tồn tại, hoặc xa tránh những lầm lỡ có thể xẩy đến trong tương lai. Mỗi lần như thế cha lại nhớ đến con và cầu nguyện cho con”.

Trong bài “Anh hùng” được chia sẻ với giới trẻ hạt Đức trọng, tôi đã đề cập đến câu định nghĩa về anh hùng của Vương Thông, theo đó:

ANH là người tự biết mình.
HÙNG là người tự thắng mình.

Vậy người thực hiện được lời Chúa dạy: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” phải là vị anh hùng vì họ đã tự biết mình và đã thắng được mình, thắng được tính nóng nảy và hay trả thù của mình. Đứng trước tấm gương của những người hiền lành nhịn nhục, không ai dám coi họ là những người hèn nhát mà phải suy tôn họ là anh hùng.

Trong bài giảng “Tám mối phúc thật”, Chúa Giêsu đã khẳng định: “Phúc cho ai có tinh thần hiền lành vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”. Nếu người ta nói: “Cha nào con ấy” thì chúng ta phải nghĩ thế nào khi chúng ta là con cái Chúa ? Nếu Cha chúng ta là Đấng hiền lành khiêm nhường, còn chúng ta là con, thì không thể nào đi ra khỏi con đường Chúa đã vạch ra cho chúng ta. Bài học đã có sẵn, chúng ta chỉ việc đưa ra thực hành.

Lm Giuse Đinh Lập Liễm

VALENTINE

VALENTINE

Trong bức ảnh, một người đàn ông ngồi một mình lặng lẽ trong một tiệm ăn. Cạnh đó, là 2 ly rượu vang trắng, hai tấm thiệp Valentine đặt trên bàn, bên ngoài tấm card ghi dòng chữ “ You and Me”. Đối diện ông, là một chiếc ghế trống và chiếc bình đựng tro cốt của người đàn bà của đời ông.

Và, ông ôm mặt khóc….

Một phụ nữ ngồi bàn bên cạnh, cô Chasidy Gwaltney, đã vô tình chụp được khoảnh khắc này vào đúng dịp Valentine 14/2/2018 trong một bữa ăn trưa tại một nhà hàng ở bang Texas, Hoa Kỳ.

Khi cô share bức ảnh này trên fb của mình, nó đã chạm vào trái tim của tất cả những ai thấy được tấm hình ảnh này. Nó như một thông điệp muốn nhắc nhở tất cả chúng ta rằng, hãy yêu thương nửa kia của đời mình khi còn có thể.

Chủ nhân của tấm hình, cô Chadisy viết, “Chúng ta thường chẳng quan tâm tới bạn đời của mình. Chúng ta, thường quên một nụ hôn khi tạm biệt nhau, hay sao nhãng câu nói ‘anh yêu em hay em yêu anh’, hoặc bị cuốn vào những công việc dở dang đam mê khác mà quên mất rằng những điều nhỏ bé mình làm hàng ngày lại vô cùng ý nghĩa với nửa kia của mình”.

Tuổi trẻ, ta thường mải mê đuổi theo những ước mơ sao phải kiếm thật nhiều tiền để mua được hạnh phúc. Đến tuổi già, khi may mắn đã có được nhiều tiền, thì cả tình và hạnh phúc đều đã nhạt phai.

Hãy trao nhau những gì ta đang có.

Nhỡ mai này không có để cho nhau.

Nguồn : dailymail

Ngày Xuân: Viết về chuyện Đà Nẵng chưa ai kể

Ngày Xuân: Viết về chuyện Đà Nẵng chưa ai kể

Võ Hương An

Khi bắt tay viết về lịch sử Đà Nẵng, tôi thực không ngờ rằng cái vùng đất nhỏ bé này lại có nhiều chuyện lý thú , rất đáng để bỏ công tìm hiểu đến thế, và do đó , việc này đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, nhiều gắn bó với đất với người của một miền đất nước đã nuôi gia đình tôi trong hơn hai mươi năm …Chẳng hạn chuyện Đảo Cô và chuyện Quan lớn Bảo hộ…

 Đảo Cô ở đâu?

Sau cuộc nổ súng thị uy của hai tàu Pháp là Gloire và Victorieuse tại vịnh Đà Nẵng vào ngày 15-4-1847, vua Thiệu Trị ra lệnh tăng cường phòng thủ Đà Nẵng bằng bảy pháo đài xây dựng ở bán đảo Sơn Trà với tên gọi là Trấn dương Thất bảo.

Trong bảy pháo đài đó, theo Đại Nam Nhất Thống Chí (quyển Quảng Nam) thì đảo thứ hai được đặt trên đảo Cô với tường cao 4 thước 3 tấc (chừng hơn 2m) và chu vi 41 trượng (164m).  Khi đọc được những dòng này, tôi tự nhủ:  Ủa, trong vịnh Đà Nẵng mà cũng có một hòn đảo tên là đảo Cô sao??  Sao mình không thấy mà cũng không nghe ai nói tới?  Bèn vội vã đi tìm bản đồ để xác định vị trí, nhưng thất vọng vì chả thấy gì cả.  Lại đoán già đoán non rằng hẳn bản đồ mình sử dụng có tỷ lệ nhỏ (1/100,000) mà hòn đảo cũng không lấy gì làm lớn nên chẳng có dấu vết nào, bèn đi kiếm bản đồ có tỷ lệ lớn hơn (1/25,000) với hy vọng sẽ tìm ra cái hòn đảo lần đầu tiên mới được nghe tên đó.  Lại thất vọng.Từ đó tôi bắt đầu một cuộc truy tầm bằng mọi phương cách, vừa tìm tài liệu và bản đồ để đọc thêm, vừa phỏng vấn những người lớn tuổi ở địa phương khi có dịp, với hy vọng nắm bắt được một manh mối nào đó.

Hơn một năm trời trôi qua trong vô ích.  Một hôm, vì nhiệm vụ, tôi phải tiếp xúc với hai nhân chứng, cụ Nguyễn văn Trách và cụ Đỗ Trọng Khai tự Bút, vốn là hào lão của làng An Hải, đều thuộc dòng dõi đã lập nghiệp ở địa phương từ trước đời Gia Long (1802-1820).  Xong việc giấy tờ, tôi cầm hai ông cụ nán lại một chút và mở cuộc mạn đàm bỏ túi:

– Hai cụ ở đây lâu, vậy có biết trong vịnh Đà Nẵng có hòn đảo nào tên là đảo Cô không?

– Biết chớ.  Đảo Cô là cái hòn đảo nho nhỏ nằm ở Sơn Trà chớ đâu.

Nói làm sao cho xiết nổi ngạc nhiên và sung sướng của tôi lúc đó.Tôi thầm đùa với chính mình: sao mà hên thế, đào đất cầu âu mà lại trúng ngay mạch vàng.  Tôi vội vã mang bản đồ Đà Nẵng trãi ra bàn, tay chỉ miệng nói:

– Đây là Đà Nẵng của mình đây.  Làng An Hải của hai cụ đây nè…Vịnh Đà Nẵng là đây…Sơn Trà là đây…Vậy chớ cái đảo Cô mà hai cụ nói nằm ở mô?

Cụ Khai lần ngón tay trên bản đồ rồi dừng lại ở vị trí Bộ chỉ huy Hải khu I ( Trại Chương Dương, trước 1975) và nói: “Nó đây nè” và đưa mắt nhìn cụ Trách như tham khảo ý kiến.  Ông này gật đầu: “Đúng rồi đó”  Tôi buột miệng hỏi:

– Đảo đâu mà đảo, chỗ này nối với đất liền mà.

– Thì nó nguyên là hòn đảo nhưng theo ông tôi kể lại thì vua Gia Long cho đắp một con đường nhỏ bằng đá để tiện đi lại canh phòng, sau Tây đắp rộng thêm, rồi Mỹ lấp vịnh thành đất liền, làm sao thấy ra hòn đảo nữa.

À ra thế!  Từ đầu mối đó, kết hợp với những tài liệu của Tây, ta, tôi có thể vẽ ra lý lịch của đảo Cô như sau:  ở phía Tây chân núi Sơn Trà có một mõm đất nhô ra khá lớn, dân địa phương gọi là núi Mõ Diều, Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là đảo Mõ Diều.  Phía Nam của Mỏ Diều , cách một vịnh nhỏ, có một hòn đảo con nằm trơ trọi một mình, đó là đảo Cô.

Từ đời Gia Long , vua cho đắp một con đường đá nối đảo Cô với chân bán đảo Sơn Trà để tiện đi lại canh phòng.Đời Thiệu Trị đã xây một pháo đài trên đó, thuộc hệ thống Trấn dương Thất bảo.

Trong cuộc xâm lăng Đà Nẵng vào các năm 1858-1860, Pháp đã chiếm đảo này, đặt tên là l’Îlot de l’ Observatoire (đảo Quan sát), thường gọi tắt là l’Îlot  (xem hình).  Công binh Pháp đã cho phá hũy pháo đài của vua Thiệu Trị và xây một pháo đài khác, đặt tên là Fort de l’Observatoire (Pháo đài quan sát), đồng thời họ cũng đắp rộng thêm con đường đá cũ để tiện đi lại.Vị trí này, trước 1975, là Bộ Tư lệnh Hải khu I (Trại Chương Dương).  Năm 1965, công binh Hoa Kỳ đã lấp cái vịnh nhỏ, nồi liền đảo Cô và núi Mỏ Diều, thành ra không còn dấu vết gì  để nhận ra đó là một hòn đảo nữa.Quả thật là chuyện vật đổi sao dời, đời nào cũng có.

Chuyện Quan lớn Bảo hộ

Vụ giúp xác định đảo Cô  là bước mở đầu mối giao tình giữa tôi và các cụ Trách,   cụ Bút nói riêng và làng An Hải nói chung, từ đó dẫn đến những khám phá lý thú khác.

Sau lần tiếp xúc với các cụ tại chỗ làm việc, thời gian sau, cho đến ngày tan hàng rả đám năm 1975, những lúc rảnh rổi, từ cư xá nằm ở ngã tư Độc lập-Thống nhất, tôi thường thả bộ xuống bến phà máy Sông Hàn để qua làng An Hải thăm hỏi, chuyện trò cùng các cụ, nhất là cụ Bút, vì tôi đoán rằng còn có thể học hỏi nhiều ở các cụ nữa.  Ngay lần viếng thăm đầu tiên, tôi hỏi cụ Bút:

– Làng An Hải có di tích gì cổ xưa không cụ?

– Có chớ.  Có lăng Quan lớn Bảo hộ mà làng thờ làm hậu hiền , hàng năm cúng tế đàng hoàng vì ngài rất có công với làng.

Tôi ngạc nhiên:

– Ủa, Quan lớn Bảo hộ là ai?  Cụ có biết ngài húy là chi không?  Nếu biết được thì nói để tôi tra cứu trong sử sách coi sự nghiệp của ngài ra sao.

– Ờ, tôi vô tâm quá.cứ theo ông bà đời trước mà gọi, chưa bao giờ hỏi cha tôi hay ông tôi  ngài húy là chi, nhưng theo đời trước truyền lại thì ngài làm quan lớn lắm…À, thầy   có đọc được chữ Nho (Hán) không?  Trong giấy tờ do ông tôi để lại, có tờ trát của quan lớn Bảo hộ gởi cho làng, rồi làng giao cho ông tôi giữ, có chức tước của ngài nhưng không có húy.  Để tôi lục cho thầy coi, may ra biết ngài là ai.

Tôi đáp:

-Vâng, thế thì tốt quá.  Chữ Nho tôi chỉ đọc được lõm bõm nhưng tôi có ông bác thông Nho lắm, thành ra cụ khỏi lo.

Sau một hồi lục lọi trong chiếc rương gỗ mộc, cụ Bút lôi ra một tờ giấy bản sờn rách nhiều chỗ ngoài mép và đưa cho tôi.  Đọc lõm bõm, tôi tạm hiểu rằng tờ giấy này là một tài liệu hiếm, có liên quan đến Thoại Ngọc Hầu.  Tôi ngỏ ý xin mượn, cụ đồng ý ngay.

Về nhà, tôi vội lấy xe đi đến nhà cụ Nguyễn Văn Luân, Đốc sự thượng hạng hưu trí, bạn của nhạc gia tôi, mang theo tài liệu chữ Hán vừa mượn được.  May mắn, ông cụ không đi chơi tài bàn, đang nằm nhà đọc sách.Chìa tờ giấy ra, tôi nói:

– Nhờ bác đọc và dịch cho con tài liệu này.  Con cần lắm.  Bác đọc từ từ thì con ghi chép được.

Cụ Luân cầm tờ giấy liếc qua, đoạn nhìn tôi rồi hỏi:

– Tài liệu này hiếm lắm đây.  anh moi đâu ra vậy?

Sau khi nghe tôi thuật sơ về xuất xứ, ông già hắng giọng:

– Nghe đây này:

“Khâm sai Thống chế án thủ Châu Đốc Đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên Quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên Trấn biên vụ, gia nhất cấp, kỷ lục tứ thứ, quan …

“Vì trát tri sự …“

Thì ra đó là tờ trát của Khâm sai Thống chế Thoại Ngọc Hầu  Nguyễn Văn Thoại, bấy giờ đang trấn thủ Đồn Châu Đốc, lãnh nhiệm vụ bảo hộ nước Cao Miên (thuộc địa của Việt Nam dưới triều Minh Mạng) và kiêm luôn chức Trấn thủ Hà Tiên, gởi cho xã trưởng và hào mục xã An Hải, bày tỏ sự ủng hộ nguyện vọng của bảy xã thuộc tả ngạn sông Hàn ( An Hải, Mỹ Khê, Hóa Khuê, Mỹ Thị, Phước Trường, Tân An, Nam An) muốn đoàn kết lập chợ để chống lại sự cạnh tranh của xã Hải Châu.  Tờ trát đề ngày 20 tháng Tư năm Minh Mạng thứ 8, nhằm 15-5-1827 (xin xem hình).

Ảnh chụp tờ trát của Thoại Ngọc Hầu gởi cho hào mục làng An Hải, Đà Nãng (Ảnh của tác giả)

Phát giác này làm tôi ngạc nhiên muốn bật ngữa.  Tôi cảm ơn cụ Luân và chỉ nói “Thật con không ngờ Thoại Ngọc Hầu lại là người quê ở An Hải, Đà Nẵng”.  Thật sự thì tôi rất xúc động điều vừa khám phá, vì Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại là một khuôn mặt lớn trong lịch sử.Ông là một khai quốc công thần của vua Gia Long, tầm cở với Tả quân Lê Văn Duyệt và Trung quân Nguyễn Văn Thành, được phong tước Thoại Ngọc Hầu, là người có công khai phá miền Hậu giang, là người đã chỉ huy việc đào kinh Vĩnh Tế, nối liền Hà Tiên và Châu Đốc, một công trình vĩ đại khiến vua Minh Mạng rất đẹp ý, nên đã lấy tên vợ Bảo hộ Thoại (Châu Thị Vĩnh Tế) để đặt tên cho con kinh, lại cho khắc hình kỷ niệm vào Cao đỉnh, là đỉnh số 1 trong Cửu đỉnh của Thế miếu.  Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Châu Đốc, đâu đâu cũng có dấu vết của ông.  Người ta tôn thờ và biết ơn ông.  Nếu có dịp đến những nơi này, nhất là Châu Đốc, bạn sẽ thấy được Quan lớn Bảo hộ hay Bảo hộ Thoại đã để lại dấu ấn tại những địa phương đó như thế nào.

Chính vì ông đã để lại một huân nghiệp như thế nên giáo sư Nguyễn Văn Hầu đã bỏ công trong hai mươi năm sưu tập tài liệu để viết cuốn “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang”, một tác phẩm biên khảo công phu, có giá trị về mặt nhân văn và lịch sử.   Tôi còn nhớ (hiện giờ tôi không có sách đó trong tay) trong chương viết về dòng dõi Thoại Ngọc Hầu, khi nói đến quê quán , tác giả chỉ ghi Nguyễn Văn Thoại là người tổng An Lưu, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, với  lời chú thích, đại khái là mặc dầu đã bỏ công trong hai mươi năm để sưu tầm tài liệu (sử sách, gia phả, bi ký, bằng sắc …) nhưng ông cũng không thể xác định được Nguyễn Văn Thoại là người thuộc làng nào, xã nào của tỉnh Quảng Nam.  Cái điều giáo sư Nguyễn Văn Hầu săn tìm trong hai mươi năm mà không gặp, nay bỗng nhiên lại tình cờ ở trong tay tôi.

Vài hôm sau, được lúc rảnh rổi, tôi lại thả bộ qua An Hải gặp lại cụ Bút.  Tôi nhập đề ngay:

– Cụ ơi, tôi biết được húy của ngài rồi.  Quan lớn Bảo hộ của làng An Hải thật ra lớn lắm , tầm cở quốc gia chứ không phải riêng chi làng An Hải đâu…

– Đâu? Đâu?  Chuyện ra răng , thầy làm ơn kể cho tui nghe coi.

Tôi trả lại tờ trát và kể lại sự tích Thoại Ngọc Hầu.Có thể từ bao lâu nay làng An Hải cảm thấy hãnh diện về Thoại Ngọc Hầu như là một thân nhân làm lớn chứ chưa biết hết cái huân nghiệp của ông đối với một miền hoang dã nhưng trù phú của đất nước.  Do đó, trong câu chuyện, tôi nhấn mạnh về điểm này và ghi nhận ông cụ rất xúc động.  Ông dẫn tôi đi coi đình thờ (thờ chung các hậu hiền của làng) đang được tu sửa và than phiền rằng ngân khoản eo hẹp quá, chỉ làm sơ sơ thôi chứ chưa đúng mức như ý muốn.  Tôi góp ý:

– Cụ à, Quan lớn Bảo hộ không phải là một danh nhân của riêng chi làng An Hải mà còn chung cho cả Quảng Nam –Đà Nẵng nữa.  Tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng phải hãnh diện có một danh nhân như vậy, nên việc tu sửa này chính quyền cũng phải góp phần giúp đỡ.  Cụ và các cụ hương lão cùng ban hội tề nên có kế hoạch  quyên góp mở rộng để có được ngân khoản dồi dào hơn hầu việc trùng tu được tới nơi tới chốn.Nếu các cụ làm thì tôi xin giúp một tay, chẳng giàu có chi để giúp tiền giúp bạc, nhưng sẽ giới thiệu các cụ đến những nơi hằng tâm hằng sản, những nơi mình có thể gõ cửa được.

Đề nghị này về sau đã được các cụ thực hiện và Chương Trình Khuếch Trương Đà Nẵng và Vùng Phụ Cận, do anh Nguyễn Hà Hải làm Tổng Giám đốc, là thành phần chủ lực đã giúp đỡ hoàn thành ngôi đình khá bề thế.

Ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên các cụ có đề cập đến lăng Quan lớn Bảo hộ.  Nhờ đọc tác phẩm biên khảo của học giả Nguyễn Văn Hầu mà tôi biết rằng không thể có lăng của Thoại Ngọc Hầu ở An Hải, nhưng để kiểm chứng đó là lăng của ai thì mãi về sau mới có dịp.

Có dính một chút vào việc biên khảo nên tôi rất thông cảm với học giả Nguyễn Văn Hầu về nỗi buồn khi không tìm được tài liệu như ý và niềm vui, có khi còn sướng hơn bắt được vàng,  khi tìm được cái muốn tìm hoặc phát hiện ra những tài liệu chưa hề được công bố.Do đó, khi nắm trong tay thông tin và tài liệu mới mẻ về Thoại Ngọc Hầu  tôi đã viết một bài (lâu ngày quên mất nhan đề) định gởi cho bán nguyệt san Bách Khoa, nhưng rồi cứ phân vân mãi:  nên chăng, đăng báo “lấy tiếng”, hay là cung cấp tài liệu cho giáo sư Nguyễn Văn Hầu để ông có thể bổ sung tác phẩm được đầy đủ hơn, như vậy mới là thực sự cảm thông nghiệp cầm bút, dù chưa hề quen biết.  Một hôm, nhân công tác ở Huế, nghe nói giáo sư bảo trợ của tôi lúc đó là giáo sư Nghiêm Thẩm đang có giảng khóa ở Đại học Văn Khoa Huế, tôi đến cư xá thăm và hỏi ông:

– Em biết thầy quen ông Nguyễn Văn Hầu.  Vậy thầy có thể vui lòng cho em xin địa chỉ của ông ta được không?

-Anh xin địa chỉ của ông Hầu để làm gì?

Tôi lược thật câu chuyện và nói muốn liên lạc để cung cấp cho ông những thông tin  và tài liệu  vừa khám phá vì thấy ông đã đầu tư quá nhiều công sức vào tác phẩm mà vẫn chưa vừa ý, nên rất thông cảm.  Giáo sư Thẩm ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

– Theo tôi, anh nên gởi bài cho Bách Khoa.

Trở lại Đà Nẵng, tôi gởi bài.  Tôi còn nhớ trong phần kết thúc có để lời nhắn  đại khái rằng nếu đọc bài này mà tác giả “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang” muốn biết thêm chi tiết thì xin liên lạc với tôi theo địa chỉ…, tôi sẵn sàng trả lời.

Bài gởi đi chừng mươi ngày thì tôi nhận được thư, không phải của Bách Khoa mà là của giáo sư Hầu.  Ông cho biết Bách Khoa đã báo cho ông biết về bài báo  và để cho ông được đọc trước khi đăng.  Nhân câu nhắn tin của tôi, ông yêu cầu Bách Khoa tạm hoãn để ông liên lạc với tôi xem sao đã.Ông xin lỗi về việc đó và ngỏ ý mong muốn được tôi hợp tác, giúp đỡ, bằng cách cung cấp những tài liệu và hình ảnh đã và sẽ sưu tập , đồng thời trả lời những câu hỏi liên quan đến quê hương và thân quyến Thoại Ngọc Hầu mà ông thấy chưa được sáng tỏ.Tôi biết ông rất nóng lòng trông hồi âm nên vội trả lời vắn tắt là chấp nhận hết thảy mọi điều ông yêu cầu trong niềm thông cảm của kẻ cầm bút; riêng về hình ảnh và tài liệu, cùng là trả lời những câu hỏi do ông nêu ra thì phải chờ lâu hơn vì tôi cần thời gian để thu thập thêm những chứng dẫn cần thiết, đặc biệt có một số lăng mộ nằm trong khu quân sự thuộc loại mật, không dễ chi chụp hình ngay được.

Thật vậy, ngoài hai sở lăng nằm trên một nỗng đất cao cách nhà cụ Bút không xa mà tôi đã từng được dẫn đi thăm và biết là lăng của ông bà nội Thoại Ngọc Hầu, còn cái lăng mà các cụ nói là lăng của Bảo hộ Thoại lại nằm trong khu vực Tổng kho Đà Nẵng, được canh phòng cẩn mật và dĩ nhiên bảng cấm chụp hình yết la liệt.  Tôi không quen sĩ quan Chỉ huy trưởng nên chưa biết làm thế nào để có thể xâm nhập vùng cấm địa mà khảo sát đây.  Một hôm, nhân đi uống cà-phê với nhà văn Duy Lam (trung tá Nguyễn Kim Tuấn, Quân đoàn I) tôi than thở về cái “kẹt” của mình, và hỏi anh có quen với trung tá X.Chỉ huy trưởng Tổng kho Đà Nẵng không?  Anh cười thoải mái:

-Tay đó tôi quen thân lắm.Để trong tuần này hễ ngày nào thư thả, tôi sẽ điện thoại cho anh biết, chuẩn bị, rồi tôi chở vào đó, gặp anh ta nói chuyện.  Không có gì trở ngại đâu.

Quả như anh Duy Lam dự liệu, tôi đã vào được khu vực Tổng kho Đà Nẵng, khảo sát ngôi lăng cổ, ghi chép và chụp hình thoải mái nhờ sự thông cảm bạn bè.  Và đúng như tôi nghĩ, đó không phải là lăng Quan lớn Bảo hộ mà chính là lăng thân phụ ông ta.

Mấy chục năm đã trôi qua, thật khó mà nhớ hết những gì tôi đã gởi vào Long Xuyên cho giáo sư Hầu.Dĩ nhiên, ông rất sung sướng và cảm động về những gì tôi đã làm cho ông và cho biết với những tài liệu đó ông có thể viết thêm một chương mới để bổ sung cho tác phẩm khi tái bản.  Ngược lại, tôi cũng cảm thấy hoan hỷ vì trên đường đời lại nảy ra một mối giao tình mới.Tôi muốn đứng giữa làm gạch nối Châu Đốc và Đà Nẵng để hai bên, những người còn mang nặng lòng tri ân và tưởng nhớ tới Thoại Ngọc Hầu, có thể gặp gỡ nhau, mở rộng tình tương thân tương ái giữa hai quê hương của cùng một danh nhân.  Bây giờ thì không còn nhớ đã đem việc này ra bàn với các cụ ở An Hải và giáo sư Hầu chưa, nhưng dù rồi hay chưa thì mọi tính toán cũng đều tan theo mây khói trong cơn lốc mùa Xuân 75…

Sinh Nguyễn Tử Trần

Một buổi chiều, khoảng hai giờ, đang ngồi làm việc thì người trực an ninh vào báo có phái đoàn làng An Hải muốn vào gặp.  Tôi nói xin mời vào, và thoáng một chút ngạc nhiên:  sao không nghe cụ Bút nói gì cả?

Phái đoàn gồm có năm vị, trong đó tôi chỉ còn nhớ có hai người là cụ Bút và ông  Trần Văn Mẹo, nghị viên Thành phố Đà Nẵng.  Mục đích của phái đoàn là chính thức cảm ơn tôi và trao tặng bảng “Công Đức Vô Lượng” vì tôi đã có công trong việc giúp trùng tu đền thờ Thoại Ngọc Hầu.  Thôi thì không biết nói làm sao, đành “cung kính  bất như tuân mệnh”, xin nhận lãnh và cảm ơn làng vậy.  Trong câu chuyện, tôi lại nhấn mạnh về tầm vóc của Thoại Ngọc hầu đối với đất nước và nhân đó xin tặng làng cuốn sách của giáo sư Nguyễn Văn Hầu viết về Bảo hộ Thoại để làm kỷ niệm.  Họ đòi phải có con dấu chức vụ và chữ ký của tôi mới chịu nhận, thôi thì cũng chiều lòng.Không biết cuốn sách đó nay làng có còn giữ  không.

Chúng tôi chuyện trò khá lâu và bỗng một vị trong phái đoàn vừa cười vừa nói rằng:

– Thực ra, làng chúng tôi có đến hai danh nhân, mà hai danh nhân này lại đối nghịch nhau.  Quan lớn Bảo hộ là danh nhân thuộc phe chiến thắng, tiếng tăm lừng lẫy, sử sách ghi chép nên ai cũng biết;  còn ông kia là danh tướng thuộc phe chiến bại, không ai dám nhắc tới, lâu ngày rồi quên luôn.

Tôi ngạc nhiên quá đổi:

– Xin cho biết là ai vậy?

– Là tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu đó.  Ông Trần Quang Diệu cũng là người làng An Hải chớ đâu, nay con cháu vẫn còn.  Như ông nghị viên Trần Văn Mẹo đây là thuộc dòng dõi tướng Trấn quang Diệu đó.

Tôi ngạc nhiên thiếu điều bật ngữa.  Lòng tự nhủ: sao mảnh đất An Hải nhỏ bé hiền hòa vậy mà lắm chuyện ly kỳ đến thế!  Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại, danh tướng khai quốc công thần của Nhà Nguyễn người làng An Hải, mà viên dũng tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu cũng người làng an Hải!  Tướng Trần Quang Diệu cùng vợ là nữ tướng Bùi Thị Xuân đã từng nhiều phen làm vất vả điêu đứng quân của Nguyễn Vương (vua Gia Long sau này), gây cản trở lớn trên bước đường tiêu diệt Tây Sơn.  Vì vậy, khi bắt được cặp vợ chồng anh hùng đáng sợ này, nhà vua không những hành hình họ mà còn tàn sát thân nhân của họ bằng án tru di tam tộc.Theo lời kể của ông nghị viên Trần Văn Mẹo, khi nghe tin dữ ở kinh đô Huế, có người đã vội vã về ngay làng An Hải báo tin cho họ Trần biết để tìm cách lánh nạn trước khi lệnh truy nã đến.Nhờ hương lý và dân làng đều có cảm tình với họ Trần nên đã giúp một số gia đình đào thoát khỏi làng, thay tên đổi họ, đi lánh nạn phương xa.  Số còn lại, gồm những người không đi được hay không muốn đi, đều cải sang họ Nguyễn.  Do đó, khi lệnh truy nã tới thì không còn ai họ Trần để bị bắt giết.  Vì sự sống mà phải bất đắc dĩ mang họ Nguyễn, nên đến khi chết thì con cháu đều trở lại họ Trần để không mất gốc, tạo nên một tập tục mà hết thảy con cháu đều phải tuân theo , gọi là “Sinh Nguyễn tử Trần”.  Sau khi triều đình Huế nhường đất Đà Nẵng cho Pháp làm nhượng địa (1888), quyền lực địa phương không còn ở trong tay Nhà Nguyễn nữa, không có lý do gì để phải sợ hãi đề phòng nữa, nên một số đã trở lại họ Trần (chẳng hạn chi của ông Trần Văn Mẹo), phục hồi dòng tộc cũ của ông cha, số còn lại vẫn giữ tục “Sinh Nguyễn tử Trần”.

Khi nắm được thông tin lý thú này, tôi dự tính sẽ làm một cuộc sưu khảo về dòng dõi Trần Quang Diệu ở An Hải, vừa để xác minh những điều vừa mới ghi nhận, vừa hy vọng biết đâu lại tìm ra được những điều mới mẻ lý thú khác nữa ở cái vùng đất có bề ngoài hỏ bé khiêm tốn nhưng lại mang nhiều chuyện xưa tích cũ bất ngờ này.  Nhưng rồi tháng Ba gãy bút.

Võ Hương An

Cựu Thanh tra Giám Sát Viện Quân Khu I (VNCH)

Cựu Tù nhân Chính trị Quảng Nam-Đà Nẵng

From: TU-PHUNG

VALENTINE ‘S DAY – Ngày Của Tình Yêu Thương

VALENTINE ‘S DAY –  Ngày Của Tình Yêu Thương

Ngày 14 tháng Hai là một ngày rất đặc biệt tại Âu Châu và Mỹ Châu. Trong ngày này người ta gởi những thiếp chúc mừng gọi là “Valentines” cho những người mình yêu quí, những bạn thân và những thành viên trong gia đình.

Trên những tấm thiệp Valentines người ta thấy có nhiều nội dung với ý nghĩa khác nhau:

– Những thiệp Valentines mang những câu thơ lãng mạn, tình tứ, thiết tha…

– Những thiệp Valentines mang hình ảnh hài hước và lời chú thích tinh nghịch liên quan đến yêu thương….

– Những thiệp Valentines với nội dung nhẹ nhàng: “Be My Valentine.”

Tại Hoa Kỳ, vài tuần hay cả tháng trước ngày 14 tháng Hai, các loại thiệp Valentines và các đồ trang hoàng Valentine đã được bày bán khắp các cửa hàng…

Học sinh tại các trường cũng trang hoàng lớp học với những mẫu giấy hìng trái tim, với dây hoa và những lời yêu thương cho thầy cô giáo và cho nhau trong dịp Valentine’ s Day.

Vào đúng ngày Valentine, nhiều người tặng hoa, kẹo bánh và quà cho bạn hữu và người thân.

Ðây là một truyền thống rất dễ thương và mang rất nhiều thông điệp từ trái tim yêu thương. Trong ngày này mọi người sẽ nói với nhau, sẽ gửi đến nhau những lời yêu thương, những tình cảm nồng ấm, những tình yêu mặn mà, hoặc những nỗi niềm và ước mơ tha thiết nhất trong cuộc đời hướng về một người nào đó mà lòng mình hằng tưởng nhớ… không nguôi…

Phải chăng người ta phải dành cho TÌNH YÊU THƯƠNG phát động từ con tim thổn thức, từ niềm khao khát được yêu thương, được hiến dâng tình cảm… ít nhất là một ngày, để con người có dịp nói với nhau những lời dịu dàng âu yếm, những lời ấm nồng tha thiết hoặc hữu ái hòa vui… giữa biển đời đầy bão táp phong ba, gió thét mưa gào của bất trắc, của ích kỷ, của hận thù và cay đắng!?

“NGÀY VALENTINE” BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU?

Ngày Valentine đã bắt đầu như thế nào? Do từ đâu? Vấn đề nguồn gốc này đã được các nhà nghiên cứu giải thích theo nhiều cách khác nhau.

Một số cho rằng Valentine có nguồn gốc từ thời thượng cổ La Mã. Thời đó, người La Mã có một cuộc lễ gọi là “LUPERCALIA”. Một số chuyên gia khác cho rằng lễ hội này có liên hệ đến một hay nhiều vị thánh thuộc Thiên Chúa Giáo sơ thủy trong đó có Thánh Valentine.

Ngoài ra, còn có người kết hợp ngày Valentine với niềm tin của người Anh thời xưa, rằng ngày 14 tháng Hai hằng năm là ngày mà các loài chim “chọn bạn đời” để chắp cánh bay vào cuộc sống lứa đôi.

Như vậy, xem như ngày Valentine có ba nguồn gốc được đưa ra. Chúng ta hãy xem thực chất của ngày dành cho Tình Yêu Thương như thế nào.

Trước hết, ngày lễ Lupercalia của La Mã, có ý nghĩa như thế nào?

Người La Mã cổ đại đã cử hành lễ hội Lupercalia vào ngày 15 tháng Hai với mục đích nhắc nhở mọi người củng cố và bảo đảm công cuộc phòng thủ chống lại sự xâm nhập của loài chó sói hung dữ. Trong lễ hội này có những hình thức tượng trưng như: những người trai trẻ thì đánh đấu mọi người với những mảnh da thú; còn đàn bà thì dùng những cú đấm vì họ nghĩ rằng sự va chạm sẽ làm cho họ sinh nhiều con cái…

Vào thế kỷ thứ I, năm 43, sau khi Ðế quốc La Mã chinh phục nước Anh, nguời Anh đã mượn khá nhiều lễ hội của La Mã. Một số văn sĩ đã kết hợp lễ Lupercalia với Ngày Valentine vì có sự trùng hợp về ngày tháng và về ý niệm sinh đẻ nhiều con…

Thứ đến là sự liên hệ đến một vài vị thánh. Trong Thiên Chúa giáo sơ thủy, có ít nhất hai vị thánh có tên là Valentine. Có hai truyền thuyết khác nhau.

1.- Thoại thứ nhất kể rằng: Vào năm 200, tức cuối thế kỷ thứ II, Hoàng đế La Mã là Claudius đệ Nhị, cấm những thanh niên trai tráng kết hôn. Vì hoàng đế nghĩ rằng những người độc thân sẽ là những chiến sĩ can trường. Một vị linh mục tên là Valentine, vì thương yêu những người trẻ tuổi, đã không tuân lệnh vua, bí mật làm lễ hôn phối cho các cặp vợ chồng trẻ.

2.- Thoại thứ hai kể rằng: Valentine là một vị thánh của Thiên Chúa Giáo sơ thủy, ông ta thường kết bạn với nhiều trẻ em. Người La Mã bỏ tù ông, vì ông từ chối không thờ phụng các vị thần La Mã. Khi ông ở trong tù, các em bé nhớ nhung ông và đã nhét những lá thư yêu thương qua cửa sổ phòng giam. Câu chuyện này cho thấy lý do tại sao người ta gửi cho nhau những tín hiệu và thông điệp yêu thương trong ngày Valentine.

Một thoại khác còn kể thêm là trong thời gian ở tù, Valentine đã chữa sáng mắt cho một đứa con gái mù.

Phần lớn các thoại đều nói là Valentine bị xử tử vào ngày 14 tháng Hai khoảng năm 269. Và vào năm 496, Giáo Hoàng Gelasius Đệ Nhất đã phong cho ngày 14 tháng Hai là ngày Thánh Valentine.

Một nguồn gốc khác căn cứ vào ngôn ngữ. Tại Âu Châu, nguời Pháp thuộc vùng Normandie, trong ngôn ngữ nói hàng ngày vào thời Trung cổ, có chữ GALANTINE khi phát âm nghe tương tự như VALENTINE và có nghĩa là “người hào hoa” hay “người yêu” (gallant or lover). Sự tương tự này đã làm cho người ta liên tưởng và nghĩ rằng Thánh Valentine là một vị thánh đặc biệt của những đôi tình nhân, của những người yêu thương nhau.

Về quan niệm của người Anh xưa, cho rằng ngày 14 tháng Hai là ngày các loài chim tìm đôi bạn thì cần phải lưu ý một điều là vào thời đó, người ta dùng một loại lịch khác với bây giờ: trước năm 1582, ngày 14 tháng Hai là ngày 24 tháng Hai bây giờ.

Nội dung của các thoại trên đây tuy cách kể khác nhau nhưng ý nghĩa chính đều quy về sự tìm bạn, tìm tình thương và tình yêu thương đôi lứa trong vũ trụ thiên nhiên... Như vậy, có thể nói nguồn gốc và ý nghĩa của Ngày Valentine là tổng hợp của tất cả ba nguồn trên cùng với niềm tin tưởng rằng mùa xuân là mùa của những cặp tình nhân, của những kẻ yêu nhau.

Ngày 14 tháng Hai dương lịch gần với tiết lập xuân trong Âm lịch. Người phương Ðông cũng quan niệm Xuân là mùa của Tình Yêu Vũ Trụ khai thái tất cả vạn vật đều bừng dậy tràn đầy nhựa sống. Mùa Xuân là mùa của hôn nhân tức là của yêu thương…

Truyền thống dân tộc Việt Nam, ba ngày đầu Xuân, mồng một, mồng hai, mồng ba Tết (thường trùng với giữa tháng Hai dương lịch) là những ngày mà mọi người đều rất hòa ái, tử tế với nhau, những lời chào mừng chúc tụng đầy thiện cảm được trao đổi khắp mọi nơi khi người ta gặp gỡ nhau. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Tử tế với nhau như ba ngày Tết.”

Ý NGHĨA CỦA NGÀY VALENTINE

Tóm lại, có thể nói Ngày Valentine là Ngày Của Tình Yêu Thương.

Ðây là loại Tình Yêu Bao Dung phát xuất từ con tim chân chính, từ lòng vị tha, vì người, vì đời…mà lan tỏa… “Lan tỏa yêu thương” này tương ứng với “Tâm Vô Lượng” trong tinh thần Phật giáo (gồm Từ vô lượng; Bi vô lượng; Hỷ vô lượng; Xả vô lượng), Kiêm Ái (yêu tất cả không phân biệt) trong Mặc Tử và Bác Ái trong Thiên Chúa (Yêu người như yêu mình ta vậy…)

Dường như, mọi thứ trên trần gian này rồi sẽ phai tàn theo thời gian và luật vô thường, cái tồn tại là Tình Yêu Thương Ðích Thực (Authentic Love). Tình yêu đích thực là Tình Yêu đem hạnh phúc, niềm vui đến cho người mình yêu, vùa vì người vừa vì mình) khác với Tình yêu chiếm đoạt hay Tình yêu tư hữu hóa (Possessiveness Love/ Sở hữu đối tượng để thỏa mãn bản thân mình, không quan tâm đến cảm thức của đối tác.)

Trong tình yêu đích thực, hai khuynh hướng CHO và NHẬN hỗ tương hài hòa. Yêu ai là tự nguyện trách nhiệm niềm vui, nỗi buồn của người ấy. Mỗi giọt nước mắt, mỗi nụ cười, mỗi tiếng thở dài, mỗi cái rùng mình hay những trăn trở… băn khoăn… của người mình yêu đều là những biến cố, cần sự quan tâm đúng mức.

Tình Yêu Thương đích thực không phải là những lời tán dương vẻ đẹp tự nhiên hay nhân tạo, không phải là những món quà đắt giá trên thị trường kim hoàn, quần áo, xe cộ… tặng cho người yêu trong các dịp lễ lạc… mà chính là những mối quan tâm nhỏ nhặt tầm thường trong cuộc sống hàng ngày, cái mà ngưòi Pháp gọi là “les petites attentions” hoặc người Mỹ nói là”every little thing” on you…

Tình yêu chiếm đoạt là một cách thế tư hữu hóa đối tượng, biến người yêu thành một thứ của cải riêng không quan tâm đến những tâm tư tình cảm và khuynh hướng riêng của con người mà mình nói là đã yêu. Các nhà phân tích tâm lý nhận thấy rằng trong tình yêu tư hữu này, người ta nói là yêu người khác, tưởng là yêu người, nhưng sự thật thì họ chỉ yêu bản thân mình mà thôi. Tất cả những “động tác CHO” ở đây đều chỉ là một cách “đầu tư” nhằm vào lợi lộc trong tương lai, CHO với mục đích là để “bao vây” đối tượng… kiểu câu cá với ý tưởng NHẬN lại đủ vốn lời khi cá mắc mồi và cắn phải câu. Bởi vì đối tượng yêu đương chỉ là phương tiện làm cho họ thỏa mãn những khát vọng, những ao ước, hoặc khuynh hướng chinh phục của họ mà thôi. Bằng chứng là những người yêu theo lối này thường khoe khoang về thành quả chinh phục được người đẹp hay người hùng… vân vân… sau bao nhiêu ngày gian khổ… Ðây là “TỰ YÊU” chứ không phải là thực sự yêu người… do đó, tình yêu tư hữu thường đưa đến đổ vỡ hoặc bạo hành… Nhưng thật tội nghiệp cho cuộc đời, vì loại tình yêu này lại thường xảy ra nhất trong cuộc đời…

Ngưòi ta còn nói đến một loại tình yêu thứ ba nữa, đó là Tình Yêu Lý Tưởng hay Dâng Hiến (Ideal Love / Oblation) chỉ có CHO mà không cần thiết phải NHẬN lại. Yêu là muốn cho người mình yêu được hạnh phúc, kể cả khi hạnh phúc ấy không đáp lại ước mong của bản thân mình. Loại này hiếm nhưng không phải là không có!

“NGÀY VALENTINE” TRÊN THẾ GIỚI

Tại Hoa Kỳ và Gia Nã Ðại, trẻ em trao đổi thiệp Valentines với nhau. Tại một vài trường, học sinh tổ chức một buổi họp mặt cho lớp và để hết các thiệp Valentines vào trong một cái hộp đã cùng nhau trang hoàng. Vào buổi chiếu của ngày Valentine, thầy giáo hoặc một học sinh được đề cử ra phát những thiệp Valentines cho mọi người. Các học sinh thường được hướng dẫn tự làm lấy những thiệp Valentines bằng giấy mầu xanh đỏ, vẽ hình lên hoặc cắt từ các tạp chí. Nhiều khi các học sinh mua những vật dụng cần thiết để làm thiệp rồi chọn những thiệp lớn nhất, ngộ nghĩnh nhất để gửi cho cha mẹ và thầy cô giáo.

Các học sinh lớn và sinh viên thì tổ chức những buổi dạ hội có khiêu vũ trong ngày Valentine. Họ dọn những rổ bánh kẹo, những khay quà và những tấm thiệp được trang hoàng bằng hình những trái tim và hình một cậu bé mập mạp có cánh tay cầm cung tên gọi là CUPIDS tức là Thần Ái Tình.

Người trưởng thành thì tặng hoa, những hộp kẹo bánh hoặc những món quà khác cho vợ, chồng, hoặc cho người yêu quí.

Hầu hết những hộp kẹo bánh Valentine đều có hình trái tim và buộc bằng dây vải màu đỏ.

Tại Âu Châu, người ta cử hành lễ Valentine theo nhiều lối khác nhau.

Trẻ em Anh Quốc đi hát những bài đặc biệt dành cho Valentine’s Day và nhận quà tặng như kẹo, bánh, trái cây, hoặc tiền. Một vài nơi ở Anh Quốc người ta làm bánh Valentine với hạt ca-run thơm, mận hoặc nho.

Tại Ý, người ta tổ chức những bửa tiệc trong ngày Valentine.

Tại Anh Quốc và Ý Ðại Lợi, vào ngày Valentine, một số phụ nữ chưa lập gia đình thức dậy trước khi mặt trời mọc. Họ đến ngồi bên cửa sổ, có khi hàng giờ, nhìn ra đường, chờ đợi một người đàn ông đi ngang qua. Tục lệ này do sự tin tưởng rằng, người đàn ông đầu tiên mà họ nhìn thấy trong ngày Valentine, chính người đó, hoặc một chàng tương tự, sẽ cưới họ trong vòng một năm. Tục lệ này đã được nhà viết kịch nổi tiếng William Shakespeare mô tả trong kịch bản Hamlet (1603). Cô Ophelia đã hát rằng:

 “Good morrow! Tis St. Valentine ‘s Day

 All in the morning betime,

 And I a maid at you window,

 To be your valentine!”

(“Một ngày tươi đẹp! Ðây ngày Valentine

 Tất cả trong buổi sáng sớm

 Và em là cô gái bên song cửa

 Mong sẽ là người yêu dấu của anh!”)

Tại Ðan Mạch, người ta gửi những đóa hoa màu trắng ép khô, gọi là “giọt tuyết” cho bạn hữu. Ðàn ông Ðan Mạch cũng gửi một loại thiệp Valentine gọi là “gaekkebrev” một loại thư vui đùa (joking letter).

Các chàng viết một vần thơ nhưng không ký hẳn tên mình ra. Thay vào dó, ký tên bằng những dấu chấm nhỏ, một chấm vào mỗi chữ (letter) của cái tên thật. Nếu các nàng đoán được tên chàng, chàng sẽ thưởng cho nàng một trái trứng Phục Sinh vào Ngày Chúa Sống Lại. Trò chơi này cũng có một số người ở Anh làm trong Ngày Tình Yêu.

CÁC TỤC LỆ TRONG NGÀY VALENTINE  –  QUA CÁC THỜI ÐẠI 

Qua thời gian và không gian nếp sống và phong tục tập quán đều biến đổi. Các tục lệ về ngày Valentine cũng không thể ở ngoài qui luật. Những tục lệ đầu tiên bây giờ không còn như xưa nữa. Người Anh có lẽ đã cử hành Lễ Valentine từ thế kỷ thứ 14. Một vài sử gia đã truy tầm nguồn gốc của tục gởi những vần thơ vào Ngày Valentine và cho rằng do một người Pháp tên là Charles, Công Tước của Orléans đặt ra.

Công Tước Orléans, Charles, bị quân Anh Quốc bắt trong trận Agincourt vào năm 1415. Ông ta bị đưa về giam tại Anh. Vào ngày Valentine, Charles đã gửi cho vợ một bài thơ tình từ phòng giam tại nhà tù Tower of London.

Nhiều tục lệ bao gồm việc những người phụ nữ độc thân phải tìm cách biết được chồng tương lai của mình là người như thế nào?

Ðàn bà Anh Quốc thế kỷ thứ 17, viết tên người đàn ông trên những mảnh giấy nhỏ, cuốn quanh một viên đất sét rồi thả chúng vào nước. Tờ giấy đầu tiên nổi lên trên mặt nước sẽ được xem như có tên của một người tình đích thực.

Cũng trong thập niên 1700, những phụ nữ chưa lập gia đình kết năm lá nguyệt quế vào gối kê của mình vào buổi tối trước Ngày Valentine. Một lá ở chính giữa và bốn lá ở bốn góc. Nếu loại bùa phép này linh thì những phụ nữ này sẽ thấy người chồng tương lai của mình trong giấc mộng.

Tại miền trung nước Anh, quận Derbyshire, có tục lệ: các phụ nữ trẻ đi vòng quanh giáo đường từ ba đến 12 lần vào lúc nửa đêm, vừa đi vừa đọc những câu thơ như sau:

 I sow hempseed

 Hempseed I sow.

 He that loves me best,

 Come after me now.

 (Em gieo hạt giống mê say

 Hạt giống mê say em gieo.

 Chàng, người yêu em nhất,

 Hãy đến bên em lập tức.)

Người ta tin rằng sau khi lặp lại nhiều lần bài thơ trên, tình yêu trung thực sẽ hiện ra với những người thành tâm.

Một trong các tục lệ lâu đời nhất đó là tục viết tên những người phụ nữ trên những mảnh giấy, gấp lại, bỏ vào một cái bình. Mỗi người đàn ông sẽ bốc ra một mảnh giấy. Người phụ nữ có tên trên giấy ấy sẽ trở thành “Valentine” tức “người yêu quý” của anh ta, và sẽ được chàng dành cho sự quan tâm đặc biệt…

Nhiều người đàn ông đã tặng quà cho các Valentine của họ. Một vài nơi chàng trai trẻ tặng cho “người yêu quý” một đôi bao tay. Các chàng giàu có sẽ tổ chức những buổi dạ vũ linh đình để vinh danh Valentine của mình.

Vào thập niên 1700, có tục lệ vaò ngày Valentine, các nhóm bạn hữu họp mặt để rút thăm tên người Valentine của mình. Khi đã rút được tên Valentine của mình, vài ba ngày sau, người đàn ông sẽ đeo tên người phụ nữ trên tay áo của mình. Ðây là nguồn gốc của câu tục ngữ “mang trái tim mình trên cánh tay” (Wearing his heart on his sleeve). “Mang trái tim mình trên cánh tay” là câu nói có ý nghĩa rất thâm thúy. Tên người phụ nữ Valentine được xem như tái tim mình và mang trên cánh tay. Như vậy có nghĩa là trong tình cảm nói chung, trái tim là quan trọng hơn hết, mọi thứ khác chỉ là phụ tùy, trong tình yêu nam nữ trái tim là chính, tâm hồn là quan trọng nhất. Ngược lại thì không phải là tình yêu thực mà chỉ là tình dục trá hình…

Các phong tục cuả Ngày Valentine đã biến đổi qua thời gian. Vào các thập niên 1700 và 1800, tục lệ gửi những thông điệp tình yêu lãng mạn đã dần dần thay thế tục lệ gửi quà. Nhiều nơi đã bán những cuốn sổ tay gọi là “Valentine Writers” trong đó có in những bài thơ trữ tình, lãng mạn có thể chép lại để gửi đi, và những chỉ dẫn cùng gợi ý về việc sáng tác những vần thơ tình…

NHỮNG TẤM THIỆP VALENTINE CÓ TỪ BAO GIỜ?

Mãi đến đầu thập niên 1800 người ta mới thấy những tấm thiệp đầu tiên. Hầu hết đều để trắng bên trong cho người ta viết những điều muốn viết.

Bà Kate Greenway, một họa sĩ người Anh đã trở thành nổi tiếng nhờ những tấm thiệp Valentine của mình. Phần lớn các tấm thiệp của Kate đều vẻ những bức tranh duyên dáng, dễ thương với chủ đề các trẻ em vui chơi hạnh phúc và những khu vưòn êm ái, tươi vui…

Tại Mỹ, nhà sản xuất thiệp Valentine đầu tiên là một phụ nữ có tên là Esther A. Howland, thuộc thành phố Worcester, tiểu bang Massassussett. Vào năm 1847, sau khi nhìn thấy thiệp Valentine tại Anh quốc, bà ta đã quyết định tự làm lấy cho mình một vài cái. Bà đã làm ra những tờ mẫu và đã nhận đựợc đơn đặt hàng từ các cửa hàng. Sau đó bà thuê một số người trẻ tuổi để tiến hành việc sản xuất thiệp Valentines. Xí nghệp của Howland đã bành trướng rất mạnh và nhanh chóng số thương vụ mỗi năm lên tới một trăm ngàn Mỹ kim đầu tư. Nhiều tấm thiệp của thập niên này được vẽ bằng tay. Một số thiệp vẽ hình thần Ái Tình hiện thân trong một cậu bé mập mạp tay cầm cung tên nhắm bắn xuyên một trái tim… Phần lớn các thiệp đều có thắt dây bằng lụa, một số được trang trí bằng hoa khô, lông chim, nữ trang giả, vỏ ốc xa-cừ, vỏ ốc biển, hoặc tua chỉ. Một số thiệp tốn kém đến khoảng 10 Mỹ kim.

Vào giữa thế kỷ thứ 18 và đầu thế kỷ 19, ngưòi ta thường gửi những thiệp valentines hài hước gọi là “đồng xu đáng sợ” (penny dreadfull) vì những thiệp này chỉ bán có một xu mà thôi. Nội dung chứa những câu thơ nguyền rủa như:

“Tis all in vain your simpering looks,

You never can incline,

With all your bustles, stays, and curls,

To find a valentine.”

(Tất cả đều vô ích

Những cái nhìn ngờ nghệch của bạn

Bạn sẽ chẳng khi nào có thể thuyết phục được

Bằng tất cả những hối hả rộn ràng, viếng thăm và quay quắt

Ðể tìm được một người tình yêu quí.)

Ngày nay những cái thiệp loại này đã trở thành đồ cổ trong các bộ sưu tập…

Valentine ‘s Day là một truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Âu, Mỹ. Họ đã dành một ngày riêng cho Tình Yêu Thương như đã dành một ngày cho Mẹ, cho Cha và các tình cảm cao quí khác…

Dĩ nhiên, tình yêu thương phải hiện diện thường trực trong cuộc sống để con người có đủ niềm tin, niềm an ủi và niềm vui để dìu nhau vượt qua những chặng đường đời đầy gai góc và gian khổ.

Tiếc thay, vì những thúc bách của cuộc sống, tình yêu thương thường hiện diện một cách tiềm tàng, thầm lặng… Tiềm tàng và thầm lặng đến nỗi có nhiều “người trong cuộc” không còn cảm thấy gì ấm nồng, tha thiết nữa… rồi đâm ra buồn chán cho nhịp đơn điệu, tẻ nhạt… Một số người đã đi tìm cảm xúc và cảm giác mới thay vì tìm lại “người yêu dấu xưa”, tìm lại Valentine của một thuở một thời…

Trong tình cảnh này, Ngày Valentine sẽ là dịp giúp cho người đời hâm nóng lại những tình cảm đã cơ hồ như nguội lạnh vì hoàn cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho những người yêu nhau ôn lại cuộc tình đầy kỷ niệm buồn vui cho tình lên men thắm lại.

Valentine cũng sẽ là cơ hội tốt cho những chàng, những nàng còn quá rụt rè e thẹn trước ngưỡng cửa tình yêu. Hỡi những kẻ từng yêu mà không dám tỏ, hãy nương theo Valentine ‘s Day, Ngày của Tình Yêu Thương để nói lên tất cả những tình cảm chân thành đang rạo rực trong tim. Hỡi những tấm lòng son đang cháy ước mơ! Hãy biết rằng trên cõi tình không có một người nhan sắc nào vô tình cả!

Hãy gọi! thế nào cũng sẽ có lời đáp lại!

Hãy gõ! thế nào cũng có người mở cửa ra!

Hãy đi! thế nào cũng có lúc đến!

Hãy nhắm mắt lại, và mở lòng ra…

 “With Love All Things Are Possible”.

Hãy tin đi! Happy Valentine!

NGUYỄN CHÂU – San Jose – Valentine’s Day 2022.

From: Truong Le

Sử gia Harari: Hướng đi của nhân loại đang được quyết định tại Ukraina (RFI)

Sử gia Harari: Hướng đi của nhân loại đang được quyết định tại Ukraina

Đăng ngày: 13/02/2022 

Sử gia Yuval Noah Harari. © wikipedia

Trọng Thành

Những tuần lễ đầu tiên của năm 2022, khi đại dịch Covid-19 có phần tạm lắng sau 2 năm hoành hành, nhân loại lại đứng trước một đe dọa lớn mới đáng sợ hơn bội phần : Chiến tranh. Nguy cơ nước Ukraina bị xâm lăng không chỉ là đại họa với người dân của riêng quốc gia này cùng những khu vực xung quanh, mà còn đe dọa toàn bộ thành tựu của thế giới từ hơn nửa thế kỷ qua: Nền hòa bình.

Đối với sử gia nổi tiếng người Israel, Yuval Noah Harari (*), « thành tựu chính trị lớn nhất » của nhân loại trong bảy thập niên qua là « tình trạng suy tàn của chiến tranh ». Chiến tranh, chinh phạt, xâm chiếm lãnh thổ, cướp bóc tài nguyên, lấy bạo lực để bảo đảm vị thế, sự thịnh vượng, bảo đảm vinh quang, vốn từng là hoạt động hết sức phổ biến trong lịch sử nhân loại hàng ngàn năm nay. Luật Rừng, nơi mạnh được yếu thua, đã từng là nguyên tắc chủ yếu chi phối lịch sử nhân loại trong một thời gian dài. Tuy nhiên, theo sử gia Harari, trong vòng một vài thế hệ gần đây, thế giới đã chuyển sang một hướng đi hoàn toàn khác, một thay đổi triệt để. Cụ thể là một bộ phận lớn của giới tinh hoa lãnh đạo thế giới hiện nay tin tưởng là chiến tranh là « cái ác có thể tránh được ».

Cho dù chiến tranh vẫn tiếp diễn giữa một số quốc gia, trong nội bộ một số quốc gia, nhưng xu thế chung của giai đoạn lịch sử hơn nửa thế kỷ qua là nền hòa bình đã trở thành tình trạng phổ biến, và chiến tranh xâm lược ngày càng trở nên chuyện gần như không thể. Theo tác giả, « sự suy tàn của chiến tranh » không phải là kết quả của một phép màu hay sự thay đổi của các quy luật mang tính tự nhiên, mà chính là do sự lựa chọn của con người.

Yuval Noah Harari sống tại Trung Đông, một khu vực mà bạo lực chiến tranh xảy ra khá thường xuyên. Tác giả phân biệt những gì là « ngoại lệ » với xu thế chung. Theo tác giả, « nền hòa bình mới » là điều chưa từng có với nhân loại. Chiến tranh xâm lược khó xảy ra hơn hiện nay khi tri thức đã trở thành « nguồn lực chủ yếu tạo ra của cải », chứ không còn là tài nguyên thiên nhiên như trước đây. Giờ đây, bạo lực do chiến tranh khiến ít người chết hơn là tai nạn giao thông hay bệnh béo phì. Chi phí cho giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội nhiều hơn hẳn ngân sách cho vũ trang, vốn chiếm tỉ lệ lớn nhất trong ngân sách của giới cầm quyền các thời kỳ lịch sử trước đây.

Yuval Noah Harari nhấn mạnh là « nền hòa bình mới » chưa từng có với nhân loại đang bị đe dọa: « Sự trỗi dậy của vũ khí mạng, các nền kinh tế do trí tuệ nhân tạo điều khiển và việc tái quân sự hóa nền văn hóa của chúng ta có thể mở ra một kỷ nguyên chiến tranh mới, tồi tệ hơn rất nhiều so với bất kỳ điều gì chúng ta từng biết trước đây ». Theo ông, hướng đi của nhân loại sẽ bị đảo chiều, nếu chiến tranh xâm lược bùng nổ tại Ukraina.

Tuy nhiên, nhà sử học nổi tiếng với tiếp cận lịch sử toàn cầu, xuyên nhiều thiên niên kỷ, cũng tin tưởng là chiến tranh, Luật Rừng không phải quy luật có trong tự nhiên, mà là sự lựa chọn của con người. Con người đã tạo lập được « nền hòa bình » kéo dài hơn nửa thế kỷ. Chiến tranh không phải là định mệnh, Luật Rừng không phải là luật tự nhiên. Khả năng hợp tác và xây dựng nền dân chủ có thể giúp cho nhân loại bảo vệ được hòa bình. Việc người dân Ukraina bất ngờ dựng nên nền dân chủ non trẻ, trỗi dậy lạ kỳ sau hàng thế kỷ bị đàn áp tưởng như không ngóc đầu lên được, cho thấy Ukraina có thể mang lại cho nhân loại những bài học bất ngờ.

Sau đây, xin giới thiệu với quý độc giả góc nhìn của sử gia Yuval Noah Harari trên The Economist, qua bài « Yuval Noah Harari argues that what’s at stake in Ukraine is the direction of human history » (tạm dịch là « Sử gia Harari: Hướng đi của lịch sử nhân loại đang được quyết định tại Ukraina »). Phần chuyển dịch dựa trên bản dịch tiếng Pháp trên Courrier International).

***

HƯỚNG ĐI của NHÂN LOẠI ĐANG ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH tại UKRAINA

Thành tựu chính trị lớn nhất của nhân loại trong bảy thập niên qua là tình trạng suy tàn của chiến tranh. Thành tựu đó hiện đang gặp nguy hiểm.

Trong tâm điểm của cuộc khủng hoảng Ukraina, có một câu hỏi căn bản liên quan đến bản chất của lịch sử và bản chất của nhân loại : Đó là thay đổi là có thể hay không thể ? Con người có thể thay đổi được ứng xử của mình ? hay lịch sử rút cục chỉ là sự lặp lại không ngừng, bởi nhân loại bị kết án mãi mãi lắp lại các bi kịch trong quá khứ, mà không có thể làm gì để thay đổi cả, có chăng chỉ là những gì không căn bản ?

Có một trường phái tư tưởng phủ nhận triệt để khả năng thay đổi của con người. Theo trường phái này, thì thế giới tuân theo Luật Rừng, nơi các loài mạnh ăn thịt các loài yếu, và sức mạnh vũ trang là phương tiện duy nhất ngăn cản một quốc gia này nuốt chửng một quốc gia khác. Lịch sử đã là như vậy, và sẽ luôn luôn tiếp tục là như vậy. Những ai không tin vào Luật Rừng sẽ không chì sống trong ảo ảnh, mà còn khiến sự tồn tại của chính mình lâm nguy. Họ sẽ không thể sống sót.

Một trường phái tư tưởng khác khẳng định rằng cái gọi là luật cạnh tranh sinh tồn đúng là rất phổ biến, nhưng lại không phải là một quy luật tự nhiên. Chính con người đã tạo ra nó, và như vậy con người có thể thay đổi nó. Ngược với những ý tưởng sai lầm đang tồn tại, theo các dấu hiệu khảo cổ học xưa nhất không thể phản bác, hoạt động chiến tranh có tổ chức chỉ xảy ra vào khoảng 13.000 năm trước Công nguyên. Và ngay cả sau niên đại này, trong nhiều khoảng thời gian dài, khó tìm thấy các dấu vết khảo cổ về chiến tranh. Ngược hẳn với « trọng lực » (một quy luật tự nhiên), chiến tranh không phải là một sức mạnh vốn có của thiên nhiên. Sự tồn tại của chiến tranh, mức độ căng thẳng của chiến tranh phụ thuộc vào các yếu tố công nghệ, kinh tế và văn hóa ngầm ẩn. Và khi các yếu tố này thay đổi thì chiến tranh cũng thay đổi.

Tri thức, nguồn lực chủ yếu sáng tạo ra của cải

Có nhiều bằng chứng cho sự thay đổi này xung quanh chúng ta. Trong vòng một vài thế hệ, vũ khí hạt nhân đã biến chiến tranh giữa các siêu cường thành một nguy cơ tự sát tập thể điên rồ. Đây là điều buộc các quốc gia hùng mạnh nhất hành tinh phải tìm ra các phương tiện ít bạo lực hơn để giải quyết các xung đột. Nếu như các cuộc chiến tranh giữa các đại cường, như kiểu Thế chiến Hai hay cuộc chiến tranh Punic lần thứ hai (từ 218 đến 201 trước Công Nguyên, tại Bắc Phi và Nam Âu, giữa Carthage và đế quốc La Mã –  người dịch bổ sung) đã từng là một đặc điểm nổi trội trong phần lớn lịch sử, thì 70 năm gần đây chưa từng chứng kiến bất cứ một xung đột trực tiếp nào giữa các đại cường.

Trong cùng một giai đoạn, nền kinh tế thế giới, trước đây vốn dựa vào các nguồn tài nguyên, nay đã chuyển hướng sang dựa vào tri thức. Trong lúc trước kia các nguồn tài nguyên chính là các tài sản vật chất, như mỏ vàng, đồng ruộng, các giếng dầu, thì giờ đây nguồn tài nguyên chính là tri thức. Mà, nếu như có thể dùng vũ lực để chiếm lĩnh các mỏ dầu, thì lại không thể làm như vậy với tri thức. Chính vì vậy, chinh phục lãnh thổ giờ đây ít mang lại lợi ích hơn.

Cuối cùng thì văn hóa thế giới đã trải qua một giai đoạn biến chuyển dữ dội. Trong lịch sử, một bộ phận lớn của giới tinh hoa – ví dụ như các thủ lĩnh của người Hun, người Viking, hay giới quý tộc La Mã – đã từng cho chiến tranh là điều tốt. Từ Sargon Đại Đế vùng Lưỡng Hà đến nhà độc tài Ý Benito Mussolini, các nhà lãnh đạo thường tìm kiếm danh tiếng bất tử thông qua các cuộc chinh phạt (…). Một số thành phần tinh hoa khác, như Giáo hội Thiên Chúa giáo, từng coi chiến tranh là cái ác không thể tránh được.

Tuy nhiên, trong vòng một vài thế hệ trở lại đây, lần đầu tiên thế giới được lãnh đạo bởi một bộ phận giới tinh hoa coi chiến tranh là một cái ác có thể tránh được. Cả các tổng thống Mỹ George W. Bush và Donald Trump, chưa kể đến những người như thủ tướng Đức Merkel và thủ tướng New Zealand Ardern. Đó là những chính trị gia khác hẳn với Attila Rợ Hung hay Alaric đệ nhất, vua của tộc Goth (tức các thủ lĩnh quân sự lừng danh châu Âu thế kỷ V – người dịch). Các chính trị gia đương đại (như Merkel nay Ardern) nhìn chung lên nắm quyền nhờ việc nuôi dưỡng niềm tin trong công chúng vào ước mơ có được các cải cách trong nước hơn là tiến hành các cuộc chinh phạt bên ngoài. Trong lúc đó, những cây đại thụ trong các lĩnh vực nghệ thuật và tư tưởng – từ danh họa Pablo Picasso đến nhà điện ảnh bậc thầy Stanley Kubrick – nổi tiếng đặc biệt là do đã mô tả sự ghê rợn phi lý của chiến tranh, hơn là tôn vinh những người gây ra chiến tranh.

Đường ăn khiến nhiều người chết hơn là thuốc súng

Tiếp theo những thay đổi như vậy, phần lớn các chính quyền đã ngừng coi các cuộc chiến tranh xâm lược, như một công cụ có thể dùng đến để bảo vệ các lợi ích của họ, và đa số các quốc gia cũng ngừng nuôi dưỡng tham vọng chinh phạt và sát nhập lãnh thổ của các láng giềng. Sẽ là sai lầm khi tin rằng lực lượng quân sự duy nhất đủ để ngăn cản Brazil chinh phục Uruguay, hoặc Tây Ban Nha xâm lược Maroc.

Các thống kê cho thấy sự suy tàn của chiến tranh không thiếu. Từ năm 1945, tương đối hiếm có việc các biên giới quốc tế bị vẽ lại do một cuộc xâm lược, và không có một quốc gia nào bị xóa sổ khỏi bản đồ do một cuộc xâm lặng từ bên ngoài. Dĩ nhiên là có nhiều loại xung đột khác, như nội chiến và nổi dậy. Tuy nhiên, ngay cả khi tính tổng cộng tất cả các nạn nhân của những cuộc chiến như vậy trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI, bạo lực chiến tranh khiến ít người chết hơn là nạn tự sát, tai nạn giao thông hay bệnh tật liên quan đến béo phì. Giờ đây thuốc súng khiến ít người chết hơn là đường.

Tính chính xác của các số liệu này là đối tượng tranh luận trong giới khoa học, nhưng cần vượt ra khỏi chuyện này để nhắm đến câu chuyện căn bản hơn. Sự suy tàn của chiến tranh không chỉ là câu chuyện thống kê mà cũng là một hiện tượng tâm lý. Trước hết, có thể thấy có một thay đổi kỳ lạ trong bản thân nghĩa của từ « hòa bình », như một hệ quả. Trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại, « thời bình » đã từng là đồng nghĩa như « sự vắng mặt tạm thời của chiến tranh ». Năm 1913, khi mọi người nói rằng đã có « hòa bình » giữa Pháp và Đức, thì điều đó có chỉ nghĩa là hai quân đội Pháp và Đức đang trong tình trạng không đụng độ trực tiếp, nhưng tất cả đều hiểu rằng chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Kể từ vài thập niên trở lại đây, « hòa bình » cuối cùng đã mang nghĩa « chiến tranh là bất khả thi ». Nhiều quốc gia ngày nay khó lòng hình dung được là họ có thể bị xâm lược và chinh phục bởi các nước láng giềng. Tôi là người sống ở vùng Trung Đông, vì vậy tôi biết rõ rằng có những ngoại lệ với xu hướng này. Nhưng việc xác định các xu hướng cũng quan trọng không kém việc chỉ ra các trường hợp ngoại lệ.

Khi con người có những lựa chọn đúng hơn

« Nền hòa bình mới » không còn là một trạng thái bất thường xét về mặt thống kê, và cũng không còn là một ảo tưởng của giới hippy. Các ngân sách – được tính toán một cách lạnh lùng – cung cấp các bằng chứng rõ ràng nhất cho điều này. Trong những thập kỷ gần đây, các chính phủ trên toàn thế giới đã cảm thấy đủ an toàn khi chỉ chi trung bình 6,5% ngân sách cho vũ trang, và chi nhiều hơn hẳn cho giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội. Điều mà chúng ta có thể dễ dàng coi là chuyện đương nhiên, trong khi đây là một điều mới lạ đáng kinh ngạc, nếu xét trên toàn bộ lịch sử nhân loại. Trong hàng nghìn năm, chi tiêu quân sự đã từng là khoản chi lớn nhất trong ngân sách của các hoàng tử, các đại hãn, các quốc vương, hoàng đế. Họ hiếm khi chi tiền cho giáo dục hoặc chăm sóc y tế cho đại chúng.

Sự suy tàn của chiến tranh không phải là kết quả của một phép màu thần thánh hay sự thay đổi của các quy luật tự nhiên. Mà đó là bởi vì con người đã có những lựa chọn tốt hơn. Có thể nói, chắc chắn đây là thành tựu chính trị và đạo đức vĩ đại nhất của nền văn minh hiện đại. Nhưng thật không may, bởi nếu điều đó được sinh ra bởi sự lựa chọn của con người thì cũng có nghĩa là nó có thể bị đảo ngược.

Công nghệ, nền kinh tế và văn hóa tiếp tục phát triển. Sự trỗi dậy của vũ khí mạng, các nền kinh tế do trí tuệ nhân tạo điều khiển và việc tái quân sự hóa nền văn hóa của chúng ta có thể mở ra một kỷ nguyên chiến tranh mới, tồi tệ hơn rất nhiều so với bất kỳ điều gì chúng ta từng biết trước đây. Để tận hưởng nền hòa bình, điều cần thiết là tất cả mọi người, hoặc hầu hết tất cả mọi người, có được những lựa chọn đúng đắn. Ngược lại, chỉ cần một người tham gia lựa chọn tồi có thể khiến chiến tranh bùng nổ.

Đây là lý do tại sao mối đe dọa xâm lược Ukraina của Nga có thể khiến tất cả cư dân trên hành tinh này lo lắng. Nếu các quốc gia hùng mạnh có thể đè bẹp các nước láng giềng yếu hơn mà không bị trừng phạt, thì các cảm xúc và hành vi trên toàn thế giới sẽ thay đổi. Hệ quả đầu tiên, và có lẽ là rõ ràng nhất, của sự quay trở lại của Luật Rừng sẽ là sự gia tăng mạnh chi phi quân sự gây bất lợi cho phần còn lại của thế giới. Số tiền đáng lẽ dành cho giáo viên, y tá và nhân viên xã hội sẽ được đầu tư vào xe tăng, tên lửa và vũ khí mạng.

Vòng xoáy luẩn quẩn có thể dẫn nhân loại chúng ta đến chỗ diệt vong

Việc quay trở lại luật rừng cũng sẽ làm suy yếu hợp tác toàn cầu, đặc biệt là khi liên quan đến việc ngăn chặn biến đổi khí hậu, hoặc điều chỉnh các công nghệ tiềm ẩn nguy hiểm như trí tuệ nhân tạo và kỹ thuật di truyền. Thật không dễ dàng để làm việc, khi phải sống cạnh các quốc gia đang chuẩn bị xóa sổ nước bạn khỏi bản đồ. Và khi biến đổi khí hậu và cuộc chạy đua trí tuệ nhân tạo tăng tốc, thì mối đe dọa xung đột vũ trang cũng sẽ chỉ có thể gia tăng, giam hãm chúng ta vào một cái vòng luẩn quẩn, có thể dẫn nhân loại chúng ta đến chỗ diệt vong. Nếu bạn tin rằng sự thay đổi lịch sử là điều không thể xảy ra và loài người chưa bao giờ rời khỏi rừng rậm và sẽ không bao giờ rời khỏi rừng rậm, thì sự lựa chọn sẽ là giữa chọn làm kẻ săn mồi hoặc chọn làm con mồi. Khi ấy nếu phải lựa chọn, hầu hết các nhà lãnh đạo sẽ thà đi vào lịch sử như những kẻ săn mồi đỉnh cao và bổ sung tên của họ vào cái danh sách thê thảm của thủ lĩnh các cuộc chinh phạt mà những học sinh nghèo phải học thuộc lòng để qua được các kỳ thi môn lịch sử.

Nhưng thay đổi cũng là điều có thể ? Có thể vì Luật Rừng là một sự lựa chọn chứ không phải là định mệnh ? Nếu như vậy, nhà lãnh đạo nào lựa chọn quyết định xâm lược quốc gia hàng xóm sẽ có một vị trí đặc biệt trong ký ức của nhân loại, tệ hơn rất nhiều so với Tamerlane (thủ lĩnh quân sự nổi tiếng tàn bạo (sinh 1336 – chết 1405), người sáng lập đế quốc Timurid ở vùng Ba Tư và Trung Á – người dịch bổ sung). Một kẻ như vậy sẽ đi vào lịch sử với tư cách là người phá bỏ thành tựu vĩ đại nhất của chúng ta. Sẽ đưa chúng ta trở lại thế giới của Luật Rừng, trong khi chúng ta tin tưởng là đã thoát khỏi nó.

Người Ukraina có nhiều điều để dạy chúng ta

Tôi không biết điều gì sẽ xảy ra ở Ukraina. Nhưng với tư cách là một nhà sử học, tôi tin vào khả năng thay đổi. Đây không phải là niềm tin ngây thơ, mà là chủ nghĩa hiện thực. Điều duy nhất bất biến trong lịch sử loài người đó là sự thay đổi. Và về chủ đề này, người Ukraina có thể có điều gì đó để dạy chúng ta. Nhiều thế hệ người Ukraina chỉ biết đến chế độ chuyên chế và bạo lực. Họ đã phải chịu đựng hai thế kỷ dưới chế độ chuyên chế Sa hoàng (cuối cùng đã sụp đổ trong cơn đại hồng thủy của Thế chiến thứ nhất). Nỗ lực giành độc lập ngắn ngủi của dân Ukraina đã nhanh chóng bị đè bẹp bởi Hồng Quân, lực lượng đã khôi phục quyền thống trị của đế chế Nga. Sau đó, người Ukraina đã trải qua nạn đói khủng khiếp do chính sách « Holodomor » (1932 – 1933) (chính sách gây chết đói hàng loạt), sự khủng bố của chế độ Stalin, sự chiếm đóng của Đức Quốc xã và nhiều thập niên bị đè nén dưới chế độ toàn trị cộng sản. Khi Liên Xô sụp đổ, đã có mọi lý do để tin rằng người Ukraina sẽ một lần nữa đi theo con đường của chế độ chuyên chế tàn bạo, vì đó là những gì duy nhất mà họ đã biết được.

Nhưng dân Ukraina đã có một sự lựa chọn khác. Bất chấp sức nặng của lịch sử, bất chấp tình trạng nghèo đói cùng cực và bất chấp những trở ngại dường như không thể vượt qua nổi, người Ukraina đã thiết lập được một nền dân chủ. Ở Ukraina, không giống như ở Nga và Belarus, các ứng cử viên đối lập đã nhiều lần lên nắm quyền. Đối mặt với mối đe dọa của một chế độ ngả sang độc tài, trong những năm 2004 và 2013, người Ukraina đã hai lần nổi dậy để bảo vệ quyền tự do của mình. Nền dân chủ với dân Ukraina là hoàn toàn mới mẻ. Cũng giống như « nền hòa bình mới » (của nhân loại từ hơn nửa thế kỷ nay – người dịch). Cả hai đều mong manh và có thể sẽ không tồn tại lâu. Nhưng cả nền dân chủ và hòa bình đều là điều có thể thành công, và có thể bắt rễ sâu. Chúng ta đừng quên rằng những gì cũ hiện nay trước đây đã từng là cái mới. Tất cả đều phụ thuộc vào những lựa chọn của con người.

GHI CHÚ

(*) Yuval Noah Harari (sinh năm 1976) là giáo sư Khoa Lịch sử tại Đại học Hebrew Jerusalem. Ông là tác giả của ba cuốn sách bán chạy hàng đầu thế giới: Sapiens: Lược sử loài người (2014), Homo Deus: Lược sử tương lai (2016) và 21 bài học cho thế kỷ 21 (2018).

Thách thức nghiêm trọng nhất của Việt Nam là Đảng Cộng sản

Thách thức nghiêm trọng nhất của Việt Nam là Đảng Cộng sản

Bởi  AdminTD

 Jackhammer Nguyễn

14-1-2022

Ngày 11-2-2022, cây bút quen thuộc, Nguyễn Quang Dy có bài viết đăng trên trang Viet-Studies: Những thách thức năm Nhâm dần.

Bài mở đầu với những cảm xúc tích cực về các hiện tượng thiên nhiên đầu năm mới, và kết thúc bằng lời khuyên rằng, Việt Nam nên thay đổi thể chế để có thể vượt qua những thách thức trong năm mới.

Chúng ta có thể dễ dàng đồng ý với những phân tích về quan hệ bang giao quốc tế của tác giả, trong đó nhấn mạnh, việc Việt Nam đã khá thành công trong việc tạo cho mình một thế đứng trung gian giữa cuộc xung đột và cạnh tranh ngày càng mạnh giữa các siêu cường, quan trọng nhất là cuộc xung đột Mỹ – Trung. Nói một cách nôm na là, Hà Nội đã thành công trong việc đu dây giữa Washington và Bắc Kinh.

Không chỉ một mình ông Nguyễn Quang Dy nhận ra điều đó, tôi cũng có nghe rằng một trong những gương mặt chống Cộng có tiếng người Việt ở Mỹ, nói trong chỗ thân tình rằng: “Cộng sản Hà Nội đu dây tử thần, nên cho họ credit về chuyện đó”.

Ngày 11-2-2022, chính phủ Mỹ công bố sách lược Ấn Độ – Thái Bình Dương, trong đó Việt Nam được xem như một trong những đối tác khu vực hàng đầu (leading regional partners), ngang hàng với Singapore, Đài Loan.

Có thể nói không ngoa rằng, thái độ của Hoa Kỳ cộng với việc thành công của chính sách đu dây của Việt Nam đã làm cho Hà Nội chống được dịch Covid-19, với lượng vaccine của chính phủ Mỹ đến kịp thời.

Những đề cập về kinh tế Việt Nam cũng như những khuyến cáo (hoặc trích dẫn) mà ông Nguyễn Quang Dy đưa ra, cũng sẽ dễ dàng được độc giả đồng tình.

Nhưng không biết có phải vì do thời điểm đầu năm mới, cần có những suy nghĩ tích cực hay không, nhưng tôi cảm thấy tác giả đã giảm nhẹ điều gọi là thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay. Đó chính là vị trí một mình một chợ, ngày càng vững chắc của Đảng Cộng sản cầm quyền.

Sau một thời gian dài lưỡng lự, Đảng Cộng sản đã tống giam người thực sự đối kháng cuối cùng của chế độ là Phạm Đoan Trang vào năm 2020. Thừa thắng xông lên, Đảng Cộng sản dẹp luôn những tổ chức dân sự ít màu sắc chính trị quyền lực hơn, nhưng họ không kiểm soát.

Ngày 9-2-2022, Hà Nội tống giam bà Ngụy Thị Khanh, đứng đầu một tổ chức môi trường, từng nhận giải thưởng về bảo vệ môi trường quốc tế, với tội danh… trốn thuế! Cần nhớ rằng, tội danh loại này cũng từng được gán cho một số nhân vật đối kháng có tiếng trước đây như Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức (đối với ông Thức là cái nhãn gian lận thương mại).

Công bằng mà nói thì những thành phần thực sự đối kháng như tôi vừa đề cập không là bao nhiêu, sự lưỡng lự của Hà Nội trong hơn 10 năm qua, chỉ là sự đo lường sức ép quốc tế lên họ mà thôi, chứ thực ra họ vẫn kiểm soát tình hình, kiểm soát rất chặt phong trào đối kháng, một phong trào ra đời từ sự bắt nạt của Trung Quốc đối với Việt Nam, hơn là những nhu cầu dân sinh và xã hội trong nước. Đã ít ỏi, phong trào này lại rất hỗn tạp, không dựa trên những hiểu biết căn bản về một xã hội dân chủ.

Đầu năm 2022, một người Việt chống Cộng ở Mỹ là ông Dao Huyen, đưa ra nhận xét về những người gọi là hoạt động dân chủ ở Việt Nam trong những năm qua là họ “thiếu sự thiện lương và công chính của những người muốn đi làm cách mạng”. Dĩ nhiên ông Dao Huyen nói điều đó không bao hàm tất cả những người vào tù ra khám ở Việt Nam trong những năm qua. Dù sao năm 2020 cũng đánh dấu sự kết thúc của phong trào này.

Bên trong thì phong trào đối kháng, vốn đã yếu, nay thì tan rã. Bên ngoài, nhờ vào vị trí địa chiến lược đắc địa đối với phương Tây trong cuộc đối đầu với Trung Quốc, cộng với ngoại giao đu dây khéo léo, Hà Nội đang ở trong môi trường rất thuận lợi.

Nhưng trong những cái thuận lợi ấy, cái lợi cho Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều hơn so với người dân Việt Nam. Thậm chí đối với người dân Việt Nam, lợi lộc của Đảng Cộng sản là điều có hại cho dân rất rõ ràng. Đảng Cộng sản đã mạnh, đã một mình, nay càng mạnh thêm, càng một mình và càng tha hồ làm bậy.

Cùng năm với việc bắt giữ Phạm Đoan Trang, việc chống dịch Covid một cách bát nháo của Đảng làm cho hơn 20 ngàn người Việt thiệt mạng. Dịch bệnh cũng làm lộ rõ tình trạng người dân quê Việt Nam, những người làm thuê làm mướn trong các nhà máy, bị bóc lột tận xương tủy, trong đó có hơn 1 triệu người bỏ chạy tán loạn sau vài tuần lễ phong tỏa.

Năm 2021 lại chứng kiến hai sự việc tồi tệ một cách kinh hoàng là vụ công ty Việt Á bán bộ xét nghiệm dỏm, làm giàu trên tình trạng chết chóc của dân chúng, và vụ nâng giá vé máy bay cho người Việt ở nước ngoài muốn về nước giữa đại dịch, qua những chuyến bay mà chính quyền gọi là “giải cứu”.

Hai điều kinh hoàng nhất trong hai sự kiện này là sự mục ruỗng của cả hệ thống bao che cho những kẻ thủ ác, thứ hai là sự suy đồi đạo đức không còn giới hạn nữa của quan chức Đảng Cộng sản Việt Nam.

Không có gì bảo đảm rằng hai sự việc như thế sẽ không còn xảy ra trong tương lai, và người dân trong nước sẽ lại chịu hậu quả thảm khốc, trong tình trạng Đảng Cộng sản Việt Nam một mình một chợ, quyền lực không giới hạn, tự tung tự tác.

Và đó chính là thách thức nghiêm trọng nhất đối với Việt Nam hiện nay.

Bắt các lãnh đạo khối XHDS vì lợi ích nhóm bị đụng chạm và để đe dọa! (RFA)

Bắt các lãnh đạo khối XHDS vì lợi ích nhóm bị đụng chạm và để đe dọa!

2022.02.11

Ba nhà hoạt động Mai Phan Lợi, Đặng Đình Bách và Nguỵ Thị Khanh trong một hội thảo của các CSOs.

Nhân vật cung cấp cho RFA

Vụ bắt giữ nhà hoạt động môi trường, Giám đốc tổ chức xã hội dân sự Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh – Green ID- bà Nguỵ Thị Khanh, là vụ mới nhất mà Chính quyền Hà Nội ra tay đối với các tổ chức xã hội dân sự có đăng ký ở Việt Nam. 

Hồi tháng bảy năm ngoái, hai người khác bị bắt và đã bị xét xử là ông Mai Phan Lợi, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Giáo dục Truyền thông (MEC). Ông bị tuyên bốn năm tù vào ngày 11/1. Người thứ hai là luật gia Đặng Đình Bách, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Pháp luật & Phát triển Bền vững (LPSD) bị án năm năm tù hôm 24/1, với cùng tội danh ‘trốn thuế’.

Một người luôn đồng hành cùng với luật gia Đặng Đình Bách trong các hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Pháp luật & Phát triển Bền vững (LPSD), yêu cầu được giấu danh tính vì lý do an toàn, nói với RFA tối hôm 10/2 rằng việc lãnh đạo của các tổ chức xã hội dân sự được Nhà nước Việt Nam cấp phép, bị khởi tố trong thời gian gần đây đã tạo ra một nỗi lo sợ bao trùm lên các tổ chức NGOs khác ở trong nước, và rằng “trốn thuế” chỉ là cái cớ để chính quyền Việt Nam tiến hành bắt giam những nhà hoạt động hàng đầu vì có động chạm đến lợi ích nhóm.

Đụng chạm lợi ích nhóm?

Người này phân tích, cả ba tổ chức MEC, LPSD và Green ID đều thuộc Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA). Mục tiêu của liên minh này là thúc đẩy năng lượng tái tạo, giảm ô nhiễm không khí bằng cách giảm nhiệt điện than, và vận động chính sách ra Luật bảo vệ môi trường, Luật quy hoạch điện VIII:

“Tôi hiểu rằng tội trốn thuế là một cái cớ. Còn nguyên nhân thực tế thì tôi cho rằng ba tổ chức này đều liên quan đến EVFTA và liên quan đến hoạt động của Liên minh năng lượng bền vững trong việc vận động mạnh mẽ bỏ nhiệt điện than, thì nó có tác động đến lợi ích nhóm.”

Ngoài ra, người này nhận định, đối với vụ án xảy ra ở tổ chức LPSD thì không giống với các vụ trốn thuế thông thường, trong quá trình tố tụng hình sự có nhiều sai phạm.

Thứ nhất, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử có ghi rõ đây là một phiên toà công khai, nhưng trên thực tế thì không một thân nhân nào của bị can, là luật gia Đặng Đình Bách được vào toà. Nếu chỉ là một vụ trốn thuế đơn thuần, vì sao phải ngăn chặn người thân tham dự phiên xét xử.

Thứ hai, toà không triệu tập kế toán trưởng và giám định viên cục thuế. Hành vi trốn thuế của một doanh nghiệp không thể nào giám đốc thực hiện một mình được mà không có sự liên đới của kế toán. Toà đưa ra phán quyết chỉ căn cứ vào những con số do giám định viên đưa ra, nhưng lại không triệu tập giám định viên vào toà để chất vấn.  Đó là điều vô lý.

Thứ ba, LPSD là một tổ chức phi lợi nhuận, không thuộc tổ chức phải đóng thuế. Sau khi kết thúc các dự án, tổ chức này luôn thu thập các lá thư của nhà tài trợ và đối tác xác nhận rằng LPSD đã sử dụng số tiền tài trợ đúng mục đích.

Thứ tư, nếu đơn giản là vụ án trốn thuế, vì sao gia đình xin nộp tiền khắc phục hậu quả để được tình tiết giảm nhẹ, mà toà án lại không xem xét.

Từ những lý do trên, người này kết luận rất có khả năng là tòa án đã thông đồng với giám định viên cục thuế và kế toán trưởng để đổ hết tội cho luật gia Đặng Đình Bách, cáo buộc trốn thuế chỉ là điều nguỵ tạo.

Lá đơn đề nghị luật sư bào chưa do luật gia Đặng Đình Bách viết từ 8/7/2021 khẳng định lý do ông bị bắt theo lời ông là: “làm việc với một số dự án liên quan đến Thuỷ điện Sơn La, nên tôi bị đưa vào một vụ án khác… Tôi xác định mình vô tội và là nạn nhân của một vụ án khác” – ông Bách viết trong lá đơn.

Nỗi lo sợ, căng thẳng bao trùm các tổ chức khác

Nhân vật giấu tên mà RFA phỏng vấn cho biết đã nỗ lực liên hệ với gia đình của ông Mai Phan Lợi và bà Nguỵ Thị Khanh khi hai người này bị bắt, nhưng tất cả đều e ngại tiếp xúc với truyền thông:

“Tôi đã tìm cách đến gia đình của anh Lợi cũng như gia đình của chị Khanh nhưng mọi người không muốn chia sẻ với truyền thông bất cứ một thứ gì, mọi người vẫn rất là sợ.

Bởi vì thứ nhất là người thân của các anh chị đó không hiểu về tính chất công việc của người nhà mình. Họ vì không hiểu cho nên có một nỗi sợ, mọi người sợ bị sách nhiễu nên là mọi người rất là e ngại. Vậy nên tôi cảm thấy rất là đơn độc.”

Người này nói mình cảm nhận được nỗi sợ hãi đang bao trùm lên giới NGOs trong nước. Đã bắt một, hai rồi ba người thì không có lý do gì phải e ngại bắt tiếp nhiều người khác:

“Mọi người có hỏi thăm đến gia đình tôi, thì tôi có cảm nhận được nỗi sợ hãi nó đã bao trùm lên tâm lý của tất cả những người đứng đầu ca các tổ chức NGOs khác.

Vì họ sợ không biết đến khi nào thì chính quyền sẽ sờ đến mình, cho nên họ không dám có bất kỳ một hành động cụ thể nào để lên tiếng cho những người đã bị bắt oan, đã bị kết tội oan. Như thế họ sống trong sự hoang mang và lo lắng nó bao trùm lên hết.”

Vào tháng 12/2021, Báo cáo viên đặc biệt của Liên hiệp quốc về các quyền tự do hội họp ôn hòa và hiệp hội và Báo cáo viên Đặc biệt về thúc đẩy và bảo vệ quyền tự do quan điểm và biểu đạt đã gởi một thư ngỏ cho Chính phủ Việt Nam.

Một trong các nội dung của bức thư này lưu ý rằng Việt Nam đã hạn chế các hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự cũng như bày tỏ quan ngại về những hạn chế pháp lý đối với việc tiếp cận nguồn tài trợ nước ngoài.

Các Báo cáo viên đặc biệt kêu gọi Việt Nam đảm bảo rằng các hiệp hội, dù đăng ký hay không, đều có thể tìm kiếm, nhận và sử dụng tài trợ và các nguồn lực, dù là nội địa, nước ngoài hay quốc tế, mà không phải phê duyệt trước hay phải chịu những cản trở không đáng có, bao gồm từ các cá nhân, hiệp hội, quỹ hay các tổ chức xã hội dân sự khác…

Giờ đây bộ máy đàn áp của Nhà nước này lại đang chuyển hướng nhắm vào các tổ chức phi chính phủ hoạt động về môi trường và xã hội. – Phil Robertson (HRW)

Bình luận của Tổ chức nhân quyền quốc tế

Bình luận với Đài Á châu Tự do qua email vào hôm 10/2, ông Phil Robertson, Giám đốc khu vực Á Châu của tôt chức Human Rights Watch cho rằng:

Việt Nam tuyên bố rằng họ quan tâm đến môi trường toàn cầu và các cam kết COP26, tuy nhiên hành động của họ chứng minh rõ nét hơn là lời nóiĐây là một Chính phủ mà Bộ trưởng tham dự hội nghị COP26 đã bị quay lại cảnh ăn tối với món bò dát vàng trị giá 20 ngàn đô-la, tại một quán ăn cao cấở London. Và bây giờ, Chính phủ đó lại đang bắt giữ bà Ngụy Thị Khanh, một nhà hoạt động môi trường nổi tiếng nhất của họ, theo một cách hoàn toàn nguỵ tạo và có động cơ chính trị, với cáo buộc tội trốn thuế. Đối với Chính phủ Việt Nam, rõ ràng là sự đàn áp và tham nhũng luôn được đặt lên trên hết, còn nhân quyền và môi trường thì đứng sau cùng.

Cả ba nhà hoạt động bị bắt gần đây, hai trong số họ đã bị kết án, đều liên quan đến việc giám sát Hiệđịnh Thương mại Tự do Châu Âu-Việt Nam (EVFTA), từ khía cạnh môi trường. Vì vậy, những vụ bắt giữ này có thể xem là cú tát của Việt Nam vào mặt của EU về vấn đề giám sát và tuân thủ EVFTA, và chờ xem liệu Brussels có đủ can đảm để làm điều gì đó hay không. Đó là một thách thức trực tiếđối với những quan ngại đã được EU tuyên bố về tính độc lập của xã hội dân sự, hành động vì môi trường và giám sát chuỗi cung ứng bền vững ở Việt Nam.

Bây giờ, Hà Nội đã hoàn tất việc bỏ tù tất cả những người bất đồng chính kiến, trong lúc thế giới đang bị phân tâm bởi COVID-19. Giờ đây bộ máy đàn áp của Nhà nước này lại đang chuyển hướng nhắm vào các tổ chức phi chính phủ hoạt động về môi trường và xã hội. Chúng ta hãy hy vọng rằng thế giới sẽ đấu tranh mạnh mẽ cho các nhà lãnh đạo xã hội dân sự hơn là những gì họ đã làm đối với những người bất đồng chính kiến. Nhiều người trong số đó hiện đang phải chịu án tù dài hạn vì chỉ đơn giản là lên tiếng chống lại vi phạm các quyền và tham nhũng.”

httpv://www.youtube.com/watch?v=irjT0WtPeUU&t=7s

Bộ trưởng Công an Tô Lâm ăn bò dát vàng 

Nhân ngày “Lễ Tình Yêu” chúng ta hãy dành 1 phút để nhớ đến bậc sinh thành….

Chúng ta cùng suy gẫm…

Trên thế gian này, chỉ có cha mẹ mới toàn tâm toàn ý yêu thương ta mà không đòi hỏi gì. Vì con, họ có thể làm tất cả mà không cần báo đáp.

Nhưng liệu có mấy ai ý thức được điều đó, hay chỉ nhận ra khi mọi chuyện đã quá muộn màng.

Tuệ Tâm.

***

Nhân ngày “Lễ Tình Yêu” chúng ta hãy dành 1 phút để nhớ đến bậc sinh thành….

“Lúc cha mẹ cho con thứ gì, con đều nở nụ cười;

Lúc con cái cho cha mẹ thứ gì, cha mẹ khóc”.

(Ngạn ngữ Do Thái)

Cả đời này, người có thể làm cho chúng ta mọi thứ mà không cầu báo đáp chỉ có cha mẹ, vậy nên, dù thế nào cũng đừng phàn nàn họ, hãy thông cảm cho họ, quan tâm tới họ.

Hãy trân trọng từng phút giây bên cha mẹ, bởi không ai biết được khi nào họ sẽ rời xa ta mãi mãi.

Khi cha mẹ còn hãy luôn nở nụ cười, hãy luôn quan tâm chăm sóc tới họ, đừng để cha mẹ mỏi mắt ngóng trông mà không nhìn thấy hình bóng của bạn.

Khi bạn cất tiếng khóc chào đời, chỉ có cha mẹ là người hạnh phúc nâng niu bạn trong vòng tay, cũng chỉ có cha mẹ là người ngày đêm bỉm sữa, chăm sóc bạn từng miếng ăn giấc ngủ.

Khi bạn chập chững bước đi, chỉ có cha mẹ là người nắm lấy đôi bàn tay nhỏ bé, dìu dắt bạn đi những bước đầu đời.

Khi bạn đau ốm, chỉ có cha mẹ là người mất ăn mất ngủ, ngày đêm túc trực bên giường bệnh.

Vì bạn, dẫu phải bán đi khối tài sản cuối cùng trong tay, họ vẫn sẵn sàng.

Khi bạn gặp khó khăn trắc trở, hay khi cả thế giới đều quay lưng với bạn, thì cha mẹ vẫn luôn ở bên che chở bạn, vỗ về bạn.

Thời gian có thể làm lòng người thay đổi, nhưng vĩnh viễn không thể thay đổi tình yêu cha mẹ dành cho bạn.

Nhưng nếu một ngày cha mẹ buộc phải ra đi, họ sẽ không thể báo trước cho bạn một lời nào, không thể tiếp tục gọi tên bạn, cũng không thể cùng bạn ăn cơm và quan tâm tới bạn được nữa…

Con muốn báo hiếu mà cha mẹ đâu còn?

Giá như ta để dành thời gian ở bên cha mẹ, ta sẽ cảm thấy bản thân đỡ ân hận phần nào!

Bởi vậy, nhân lúc cha mẹ còn đang khỏe mạnh, hãy an ủi tinh thần cho họ, hãy dành nhiều thời gian hơn để bên cạnh họ, cố gắng đáp ứng hết nguyện vọng của họ, đừng khiến cho bản thân sau này phải hối hận.

Hãy yêu thương cha mẹ như yêu thương chính bản thân mình, bởi vì họ cũng cần được yêu thương.

Và nếu có một ngày thực sự họ rời đi, chúng ta sẽ không phải ngậm ngùi về những tháng ngày đã qua…