Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? – Suy niệm Thứ Sáu Tuần Thánh -Dòng Tên SJ (bài hai)

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

Di ngôn thứ Tư của Chúa Giesu trên Thánh Giá.

Mời Các Bạn cùng đọc bài suy niệm này dưới chân Thập Giá trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Lạy Thiên Chúa,

Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?

 

(Mt 27,46; Mc 15,34)

      • Bài Tin Mừng.
      • Bối cảnh và ngôn ngữ.
      • Yếu tố thời gian.
      • Lời cầu nguyện của người lành thánh gặp khổ đau.
      • Thiên Chúa quyền năng im lặng trước khổ đau của Người Con yêu dấu?
      • Lời kêu cầu của niềm tin sắt đá không lay chuyển.
      • Đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.
      • Không có sức mạnh nào ngăn chặn lời kêu cầu của người đau khổ, nhưng tràn đầy tin tưởng kêu xin Chúa.
      • Bị bỏ rơi, một trải nghiệm đau đớn gắn liền với cuộc đời. Chúng ta nên có thái độ nào trong lúc bị bỏ rơi?
      • Hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, vì sự dữ không bao giờ thắng được.
      • Bài tập sống di ngôn thứ tư của Chúa Giê-su trên Thánh Giá. 
  • Bài Tin Mừng.

33 Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín.34 Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni! ” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? “35 Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Kìa hắn kêu cứu ông Ê-li-a.”36 Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: “Để xem ông Ê-li-a có đến đem hắn xuống không.”37 Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở.38 Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới.39 Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” (Mc 15,33-39).

45 Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín.46 Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nghĩa là “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? “47 Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Hắn ta gọi ông Ê-li-a! “48 Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống.49 Còn những người khác lại bảo: “Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không! “50 Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.
51 Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ.52 Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy.53 Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người.54 Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.” (Mt 27,45-54).

 

  • Bối cảnh và ngôn ngữ.

Các sách Phúc Âm của Matthêu và của Mác-cô kể lại việc Chúa Giêsu trên Thánh Giá, đã hai lần kêu lớn tiếng. Lần thứ nhất là di ngôn thứ tư (x.Mt 27,46 và Mc 15,34), mà hai thánh sử đều trích dẫn. Còn lời thứ hai thì Mátthêu viết như sau: “Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn” (Mt 27,50), còn Mác-cô thì viết: “Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở” (Mc 15,37).

Như thế, di ngôn thứ tư của Chúa Giêsu được hai thánh sử Mát-thêu và Mác-cô nhắc đến. 

 Cả hai thánh sử đều kể lại, một số người đứng ở dưới Thánh Giá Chúa đã không hiểu tiếng kêu của Chúa, họ nghĩ là Chúa kêu cứu ông Ê-li-a, và họ còn chế diễu: Để xem ông Ê-li-a có đến đem hắn xuống không” (Mc 15,36). Trong Do Thái giáo, Ê-li-a được coi như là người thường hay giúp đỡ những người cùng khổ.[4] Tuy nhiên, qua sự trích dẫn lời kêu cầu của Chúa bằng tiếng A-ram và Híp-ri của hai thánh sử, các nhà chú giải Thánh Kinh đã nhận thấy đó là những câu đầu tiên của Thánh Vịnh 22. Đó là về mặt ngôn ngữ của di ngôn, giờ đây chúng ta đi vào yếu tố thời gian của di ngôn.

  • Yếu tố thời gian.

Về thời gian của di ngôn, cả hai thánh sử đều nói là giờ thứ chín, nghĩa là ba giờ chiều theo lịch thời gian của chúng ta hiện nay. Để đi sâu vào ý nghĩa của thời gian mà Chúa Giêsu bị đóng đinh nói lên lời cuối cùng này, chúng ta lắng nghe suy tư của Đức Benedicto XVI: “Như chúng ta đã nghe, đây là điều mà Thánh Mác-cô viết: “Vào giờ thứ sáu (buổi trưa), tối tăm bao trùm khắp mặt đất đến giờ thứ chín (ba giờ chiều). Và vào giờ thứ chín, Chúa Giê-su kêu lên một tiếng lớn: ‘Ê-lôi, Ê-lôi, la-ma xa-bác-tha-ni!’ Nghĩa là: ‘Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (15,34). Trong cấu trúc của tường thuật, lời cầu nguyện, tiếng kêu của Chúa Giê-su ở tột đỉnh của ba giờ đen tối này, từ trưa cho đến ba giờ chiều, là những giờ mà tăm tối bao trùm khắp mặt đất. Ba giờ đen tối này là sự tiếp tục của một khoảng thời gian trước đó, cũng ba giờ, bắt đầu với việc đóng đinh Chúa Giêsu. Thực ra, thánh sử Mác-cô cho cho chúng ta biết rằng:“Khi đó là giờ thứ ba (chín giờ sáng), và chúng đóng đinh Người” (x.15,25). Chung quy thì những dấu chỉ về thời gian của tường thuật cho thấy rằng sáu giờ của Chúa Giê-su trên Thánh Giá được chia thành hai phần bằng nhau theo thứ tự thời gian.

Trong ba giờ đầu, từ chín giờ sáng đến trưa, chúng ta thấy sự chế nhạo của các nhóm người khác nhau, là những kẻ bày tỏ sự hoài nghi của họ và xác định rằng họ không tin. Thánh Mác-cô viết: “Những kẻ qua lại chế nhạo Người” (Mc 15,29), “Cũng vậy, các trưởng tế và luật sĩ đều chế giễu Người” (Mc 15,31), và“những tên cùng bị đóng đinh với Người cũng xỉ vả Người” (Mc 15,32). Trong ba giờ tiếp theo, từ trưa đến ba giờ chiều, thánh sử chỉ nói về bóng tối bao trùm khắp mặt đất: một mình bóng tối chiếm toàn cảnh mà không đề cập đến những chuyển động hay lời nói nào của các nhân vật. Khi Chúa Giê-su gần cái chết hơn bao giờ hết, chỉ có bóng tối đang bao trùm ‘khắp mặt đất’. Ngay cả vũ trụ cũng tham gia vào biến cố này: bóng tối bao phủ người và sự vật, nhưng ngay cả trong giờ đêm tối này Thiên Chúa vẫn hiện diện, Ngài không từ bỏ”. Và Ngài đã lên tiến. Tiếng kêu lên với Cha trên trời như một lời cầu nguyện của người Con yêu dấu của Cha. Như đã nói ở trên, tiếng kêu đó Chúa Giê-su đã trích dẫn từ Thánh Vịnh 22.

  • Lời cầu nguyện của người lành thánh gặp khổ đau. 

Thánh Vịnh 22 nói về người lành thánh gặp đau khổ và đã kêu cầu đến Chúa, và Chúa đã nhậm lời. Đức Benedicto XVI đã chia sẻ về Thánh Vịnh này như sau: “Thánh Vịnh này luôn xuất hiện trong những tường thuật về Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, với cả hai bình diện chịu sỉ nhục và vinh quang, sự chết và sự sống. Đó là Thánh Vịnh 22 theo truyền thống Do Thái hay Thánh Vịnh 21 theo truyền thống La-Hy, một lời cầu nguyện chân thành và cảm động, có sự phong phú về thần học và chiều sâu về nhân bản, khiến nó trở thành một trong những Thánh Vịnh được ưa thích và nghiên cứu nhiều nhất trong các Thánh Vịnh…Thánh Vịnh này trình bày hình ảnh của một người vô tội bị lùng bắt và bao vây bởi những kẻ thù muốn cho ông chết, và ông cầu cùng Thiên Chúa bằng một lời than thở đớn đau, trong niềm xác tín của đức tin, mở ra một cách bí nhiệm để chúc tụng. Trong lời cầu nguyện của ông, thực tại kinh hoàng của hiện tại và đầy an ủi trong quá khứ thay phiên nhau trong một ý thức đau đớn về tình trạng tuyệt vọng của mình, nhưng không muốn làm cho mình mất hy vọng. Lời kêu than lúc đầu của ông là một lời khẩn cầu cùng một Thiên Chúa dường như xa cách, không đáp lời ông và có vẻ đã bỏ rơi ông”.[6] Lời đầu tiên của Thánh Vịnh là:

Ôi Thiên Chúa của con! Ôi Thiên Chúa của con! Sao Ngài lại nỡ bỏ rơi con?

Dù con thảm thiết kêu gào, nhưng ơn cứu độ nơi nào xa vời! (Tv 22,2).

Chúa Giê-su trên Thánh Giá đã thốt lên lời cầu nguyện này. Thật vậy, cả hai thánh sử đều kể lại rằng, Chúa Giê-su đã kêu lớn tiếng. Theo Pesch, việc kêu lớn tiếng là tính cách của việc cầu nguyện kêu xin lớn tiếng. Điều này tương hợp với lời Thánh Vịnh Dù con thảm thiết kêu gào” (Tv 22,2b).

Lời cầu nguyện kêu xin lớn tiếng của Chúa “diễn tả tình trạng cô độc của Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa, Người đang đối diện với thảm trạng bị chết, một thực tại hoàn toàn trái ngược với Chúa sự sống. Bị hầu hết những người thân yêu của Mình bỏ rơi, bị các môn đệ phản bội và chối từ, bị vây quanh bởi những kẻ nhục mạ Người, Chúa Giêsu đang bị đè nghiến bởi sức nặng của một sứ mệnh phải trải qua sỉ nhục và hủy diệt. Vì lý do đó mà Người than khóc cùng Chúa Cha, và nỗi thống khổ của Người được diễn tả qua những lời đớn đau của bài Thánh Vịnh”. 

… tại sao Thiên Chúa quyền năng không thể can thiệp vào biến cố đau thương này của Con mình, tại sao Ngài lại im lặng?

  • Thiên Chúa quyền năng im lặng trước khổ đau của Người Con yêu dấu? 

Trước hết, chúng ta thấy Đức Benedicto XVI đã đặt ra vấn nạn sau, khi Ngài suy niệm về di ngôn này: “Nhưng một câu hỏi phát ra trong trí chúng ta: làm sao mà một Thiên Chúa quyền năng như thế lại không can thiệp để tránh cho Con mình sự thử thách khủng khiếp này? Điều quan trọng là phải hiểu rằng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu không phải là tiếng kêu của một người gặp gỡ cái chết trong tuyệt vọng, cũng không phải là tiếng kêu của một người biết rằng mình đang bị bỏ rơi. Trong giây phút ấy, Chúa Giê-su đã áp dụng toàn bộ bài Thánh Vịnh 22 cho mình, Thánh Vịnh cao cả của dân Israel đau khổ, và như thế Người tự mình gánh lấy không những chỉ nỗi thống khổ của dân Người, mà còn của tất cả mọi người bị sự dữ áp đảo, và đồng thời, Người mang tất cả những điều này đến trước trái tim của chính Thiên Chúa, trong khi tin chắc rằng tiếng kêu của Người sẽ được Thiên Chúa nghe trong biến cố Phục Sinh, “tiếng kêu của đau khổ tột cùng đồng thời vẫn là niềm tin chắc chắn về một câu trả lời từ Thiên Chúa, niềm tin chắc chắn về ơn cứu độ – không chỉ cho chính Chúa Giê-su, nhưng còn cho ‘nhiều người’” (Chúa Giê-su Thành Nazareth II, 239-240)”. 

Im lặng theo cái nhìn đầu tiên là không có tiếng nói, nhưng thực ra thì im lặng chính là một cách thức để nói. Vì thế, Thiên Chúa im lặng trong biến cố này, không có nghĩa là Ngài vắng mặt và không nói gì. Đức Benedicto XVI đã nói rằng: “Thiên Chúa nói qua sự im lặng: Sự im lặng của Thiên Chúa, cảm nghiệm về sự xa cách của Đấng Toàn Năng và Chúa Cha, là một quãng đường quyết định trong cuộc hành trình dương thế của Con Thiên Chúa, Ngôi Lời Nhập Thể. Khi bị treo trên cây gỗ Thánh Giá, Người đã than khóc về nỗi đau khổ mà sự im lặng như thế gây ra cho Người: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Cha nỡ bỏ rơi Con?” (Mc 15 34; Mt 27,46)…Nhưng sự im lặng của Thiên Chúa, như Chúa Giêsu cũng đã cảm thấy, không phải là dấu chỉ của sự vắng mặt của Ngài. Người Kitô hữu biết rằng Chúa hiện diện và lắng nghe, ngay cả trong đêm đen của đau khổ, bị khước từ và cô đơn. Chúa Giêsu bảo đảm với các môn đệ của Người, và với mỗi người trong chúng ta rằng, Thiên Chúa biết rõ các nhu cầu của chúng ta, trong mọi hoàn cảnh của đời sống chúng ta”. Như thế, sự im lặng của Chúa Cha không có nghĩa là sự bỏ rơi, nhưng là một cuộc gặp gỡ thật sự, cuộc gặp gỡ trong thinh lặng của Cha với Con yêu dấu. 

Theo Anselm Gruen, khi Chúa Giê-su cầu nguyện với toàn bộ Thánh Vịnh 22, thì mầu nhiệm sự chết của Chúa mang một điều mới mẻ. Trên Thánh Giá Chúa Giêsu đã đón nhận tất cả mọi nỗi thống khổ, nhưng Ngài đã bám chặt vào Thiên Chúa. Ngài đã trình bày với Chúa về việc Ngài cảm thấy bị bỏ rơi. Và trong tình trạng bị bỏ rơi này, Ngài đã biết chắc là Thiên Chúa lắng nghe Ngài và đón nhận Ngài. Vì thế Chúa Giê-su trong nỗi thống khổ đã cầu nguyện với tất cả niềm tin tưởng. Và trong các câu cuối của Thánh Vịnh Ngài đã cầu nguyện:

Mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất
sẽ đều bái lạy một mình Người,
phàm những ai trở về cát bụi
sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.
Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa”
 (Tv 22,30)
.

sẽ đều bái lạy một mình Người,

phàm những ai trở về cát bụi

sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.

Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa” (Tv 22,30).

Elie Wiesel, một nạn nhân và cũng là nhân chứng về sự tàn ác của chế độ Phát-xít Đức. Ông đã từng phải sống trong trại tập trung Auschwitz và Buchenwald, nhưng may mắn cuối cùng ông được cứu thoát. Elie Wiesel người gốc Do-thái và là một học giả nổi tiếng, ông không ngừng đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và đã nhận giải Nobel hoà bình năm 1986. Elie Wiesel đã chia sẻ về một cuộc xử từ bằng cách treo các tù nhân thật dã man trong trại tập trung ở Auschwitz.

Có hai người trưởng thành và một cậu bé bị treo lên một cây cột, cậu bé này được mọi người thương yêu. Tất cả các tù nhân phải đứng thành hàng lối trật tự trước ba người bị treo trên cột, để nhìn họ chết như thế nào.

Ba người bị kết án được dẫn lên trên các cái ghế. Ba cái đầu được đưa vào trong cái ba cái dây thòng lọng đang chuẩn bị siết cổ.

“Tự do vẫn tồn tại!”, hai người trưởng thành kêu lớn.

Cậu bé kia thì im lặng.

“Chúa ở đâu, Ngài ở đâu rồi?”, một người đàng sau tôi lên tiếng hỏi.

Tên chỉ huy trại ra hiệu và ba chiếc ghế bị xô đổ.

Trong trại một sự im lặng tuyệt đối bao trùm. Mặt trời đã lặn rồi…

Hai người trưởng thành đã chết. Lưỡi của họ sưng lên và lè ra với một màu xanh. Còn cái thòng lọng thứ ba không được cột kỹ lưỡng. Cậu bé kia vẫn còn sống…

Hơn nửa tiếng đồng hồ cậu bé bị treo lơ lửng như vậy, trước mặt chúng tôi cậu đang chiến đấu giữa sự sống và sự chết. Còn chúng tôi phải nhìn thẳng vào mặt cậu bé. Khi tôi đi ngang qua chỗ cậu bị treo, tôi cảm nhận cậu vẫn còn sống. Lưỡi cậu vẫn còn đỏ, đôi mắt của cậu chưa đóng lại.

Đàng sau tôi lại một giọng nói:

“Chúa đâu rồi?”

Tôi nghe một giọng nói khác trả lời:

“Chúa ở đâu sao? Chúa ở đó, Ngài đang bị treo trên cây gỗ kia kìa…”.

Một câu chuyện khác về Primo Levi, một người Ý gốc Do-thái. Anh này cũng ở trong trại tập trung Auschwitz. Anh kể lại rằng, một ngày nọ tất cả đều bị bỏ đói và khát khủng khiếp. Anh nhìn thấy thùng nước bị đông đá, anh đưa tay để mong lấy chút đá để uống, nhưng các tên lính gác đã ngăn cản anh. Khi Levi hỏi: “tại sao?”. Một tên lính gác nói: Ở đây không có hai chữ “tại sao”.

Tất cả chúng ta đều có thể trải nghiệm những hoàn cảnh thật ngớ ngẩn và đồi bại không có chữ “tại sao”. Như vậy, chúng ta không thể tìm cho được câu trả lời nào. Tất cả điều mà chúng ta có thể làm được, là tin tưởng rằng, Thiên Chúa đang ở đó. 

Chúa ở đó, dù chúng ta có rơi vào hoàn cảnh đau thương đến mấy, và ngay lúc chúng ta tưởng rằng Chúa bỏ rơi chúng ta, thì Chúa lại cho chúng ta biết Ngài ở thật gần bên chúng ta. Chính Chúa là mẫu gương cao vời dạy chúng ta biết điều đó, và Ngài cũng nói với chúng ta cần kiên tâm và tin tưởng trong mọi hoàn cảnh, ngay cả lúc phải đối diện với sự chết. Trong những lúc như vậy, chúng ta không bao giờ quên kêu cầu lên Thiên Chúa với một niềm tin sắt đá không lay chuyển.

  • Lời kêu cầu của niềm tin sắt đá không lay chuyển. 

Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con?

Nếu đọc lời kêu cầu lớn tiếng của Chúa, di ngôn thứ tư của Ngài trên Thánh Giá, chúng ta dễ dàng cho rằng, đó là một tiếng kêu cầu đầy sợ hãi và bối rối, tiếng kêu của những người bị dồn vào ngõ cụt của cuộc đời. Có lẽ các thánh sử cũng muốn diễn tả tâm trạng thực sự đó của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, lời kêu cầu này còn diễn tả một niềm tin mãnh liệt của Chúa Giêsu. Theo Pesch: “Lời kêu cầu của Chúa không phải là tiếng kêu bối rối hãi sợ, mà là một sự biểu lộ của niềm tin, một cách diễn tả về niềm tin sắt đá không lay chuyển khi ở trong hoàn cảnh đau khổ nhất. Trong đêm tối của tâm trạng ‘bị Thiên Chúa bỏ rơi’, Chúa Giê-su trong cầu nguyện đã hướng nhìn đến Thiên Chúa”. Thật vậy, chính trong hoàn cảnh tưởng chừng vắng bóng Thiên Chúa, Chúa Giê-su đã hướng nhìn đến Thiên Chúa. Vời những lời đầu tiên trích dẫn từ Thánh Vịnh 22, Chúa bước trong sự hoài nghi và hãi sợ, nhưng rồi Chúa đã xuyên suốt qua đó để đi vào chiều sâu của niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng

đưa con ra khỏi thai bào,

vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.

Chào đời con được dâng cho Chúa,

được Ngài là Chúa tự sơ sinh” (Tv 22,10-11). 

… 

Chúa Giê-su đã bước qua tình trạng hoài nghi hãi sợ và bối rối, để đi vào niềm tin mãnh liệt, niềm tin sắt đá không lay chuyển. Niềm tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa, ngay cả trong bóng tối của tử thần, Thiên Chúa vẫn ở bên. Qua niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa và qua tình yêu trung tín cho đến giây phút cuối cùng của Chúa Giê-su, mà cái chết của Chúa Giê-su đã trở thành một hành động đem lại ơn cứu rỗi cho nhân loại. 

Qua đó, chúng ta mới thấy ý nghĩa cao cả của lời kêu cầu của Chúa, như thần học gia Ratzinger, diễn tả trong tác phẩm căn bản Einfuehrung in das Christentum – Dẫn vào Ki-tôn giáo: “Lời cầu nguyện này trào lên từ nỗi đau khổ tột cùng vì Thiên Chúa như vắng bóng, nhưng lại kết thúc bằng lời ca ngợi sự cao cả của Người. Tiếng kêu hấp hối của Đức Giêsu cũng mang ý nghĩa như thế”. 

Ngoài ra, lời kêu cầu của Chúa Giê-su lên Cha còn diễn tả sự hiệp thông của Chúa với chúng ta, những con người luôn có thể gặp đau khổ. Lúc đó chúng ta cần xin Chúa cho mình có được niềm tin mạnh mẽ và hướng nhìn lên Chúa để kêu lên Ngài. Thật vậy, chúng ta được phép kêu xin Ngài với chính lời Thánh Vịnh 22.

  • Đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.

Khi Chúa nói lời xin vâng để đồng ý cho chúng ta bước ra khỏi bào thai của người và bước vào cuộc đời, thì lời xin vâng của Chúa sẽ đồng hành và hiện diện bên chúng ta mãi mãi, để Ngài bồng ẵm và âu yếu, để Ngài che chở và đỡ nâng và để Ngài cho chúng ta một nơi tin tưởng và hy vọng. Vì thế, ở trong mọi hoàn cảnh chúng ta đều có thể kêu xin Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, nhất là khi chúng ta rơi vào hoàn cảnh đau khổ nhất. Thánh Vịnh 22 chính là lời cầu nguyện của chúng ta, khi chúng ta đau khổ và cầu cứu lên Thiên Chúa, Ngài chắc chắn sẽ nhậm lời.

Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con? Đó là lời của Chúa. Làm sao con dám coi như lời của con? Làm sao con dám đem đau khổ của con để sánh với những thống khổ của Chúa? Làm sao con dám trèo lên thập giá mà thốt ra lời thở than của Chúa, lời muôn đời được thánh hiến nhờ cuộc tử nạn cá biệt của Chúa? Con biết Thánh Vịnh này của Chúa…Dù vậy, con cảm thấy Thánh Vịnh này cũng thuộc về con, trong cuộc đời con cũng có những giờ phút con được quyền và cần được thốt ra những lời ấy như tiếng vọng khiêm tốn từ những lời của Chúa. Con cũng sẽ gặp gỡ cái chết một lần nơi thân xác, và nhiều lần với nỗi cô quạnh tâm hồn trong khi phiêu bạt qua những khoảng tối trên trần gian này. Lạy Chúa, con không dám sánh mình với Chúa, nhưng con cũng gặp đắng cay và tuyệt vọng, cũng cảm thấy cô đơn và bị phụ bạc. Con cũng cảm thấy bị Chúa Cha ruồng rẫy, và những lời ấy đã vuột từ từ đôi môi khô nẻ của con: Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con?”

“Thân sâu bọ chứ người đâu phải,

con bị đời mắng chửi dể duôi,

thấy con ai cũng chê cười,

lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai” (Tv 22,7-8).

Chúa ơi, lời Thánh Vịnh này cũng diễn tả thân phận của con nữa, nhất là khi con rơi vào trong những nỗi đau khổ tuyệt vọng, đến nỗi con thấy phận người của mình sao mà thê lương quá. Vâng, “khi đau thương phủ bóng, nó làm cho mọi người nên như nhau. Cuộc sống mất hết ý nghĩa; chẳng còn gì ý vị; mọi mùi vị đều trở nên đắng cay và mọi sắc màu đều biến thành tối đen. Cuộc đời không còn mục đích. Mắt nhìn không thấy lối đường, và đôi chân ì ạch lê bước. Tại sao lại phải ăn, phải thở, lại phải sống? Đã tang thương cùng cực thì ai cũng như nhau, và chỉ những ai đã từng nếm trải mới biết điều ấy. Con biết những tang thương của con, và con biết đó là cái chết trong một cơ thể còn đang sống. Hoàn toàn cô đơn. Tột cùng chịu đựng. Mút cùng thất vọng. Đau khổ làm cho mọi người trở nên như nhau; và đau khổ tinh thần đến chỗ tột độ là thứ đau khổ khủng khiếp nhất. Con đã biết màu tối đen của nó”.

Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?
Dù con thảm thiết kêu gào,
nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!
Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng,
đêm van Ngài mà cũng chẳng yên”
 (Tv 22,2-3).

Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?

Dù con thảm thiết kêu gào,

nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!

Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng,

đêm van Ngài mà cũng chẳng yên” (Tv 22,2-3).

Chúa ơi, Chúa không xa con, nhưng hình như Chúa vắng mặt lúc này? “Chúa ở đâu khi đêm đen bủa xuống hồn con? Lạy Thiên Chúa con, con kêu thâu ngày mà Người chẳng đáp, đêm đến, con cũng chẳng được nguôi ngoai. Thật vậy, chính sự vắng mặt của Chúa đã gây nên nỗi thống khổ của con. Giả như Chúa ở bên cạnh, có lẽ con sẽ chịu nổi cảnh tân toan ấy và kiên cường trước mọi giông tố.  

Chúa ơi, thật ra, những lời con than trách kỳ thực chỉ là một hành vi tin tưởng vào Chúa. Con than thở Chúa đã bỏ rơi con chỉ vì con biết Chúa vẫn hiện diện ở đó. Lạy Chúa, xin hãy tỏ mình ra cho con đi mà. Xin dang tay ra và xua tan bóng đen đang bủa vây con. Xin ban lại hy vọng cho linh hồn con và sức mạnh cho thần xác con. Xin kết thúc nỗi cùng khốn cho con, và xin cho con hoá thân thành một người hoan lạc, tin tưởng và tràn đầy nhiệt huyết. Xin cho con được như ngày trước, được nghiệm thấy sự hiện diện của Chúa và tán tụng ngợi khen Chúa. Đó là cuộc vượt qua từ cõi chết đến cõi sống, và con muốn làm chứng rằng, chính quyền năng Chúa đã đưa linh hồn con ra khỏi chốn thất vọng, như một biểu chứng về quyền năng Chúa dẫn đưa nhân loại vào cuộc sống muôn đời…

  • Không có sức mạnh nào ngăn chặn lời kêu cầu của người đau khổ, nhưng tràn đầy tin tưởng kêu xin Chúa.

 Nếu nhìn vào cuộc đời hoạt động của Chúa Giê-su, chúng ta thấy rằng, Ngài luôn luôn chú ý đến những anh chị em bất hạnh. Trái tim nhân hậu giàu lòng thương xót của Chúa luôn tìm thấy nhịp đập của những tâm hồn thống khổ, đôi tai Ngài rất thính trước những lời kêu xin của người nghèo khổ và bất hạnh, dù họ còn có khả năng kêu lên Chúa, hay không còn khả năng thốt lên lời. Người bạn hành khất Bác-ti-mê của chúng ta là một điển hình sống động.

Dưới sức nặng của chiếc áo choàng đè trên vai, anh Bác-ti-mê đã từ lâu rồi ngồi bên cửa thành Giê-ri-cô, để xin ăn, để chờ đợi những bàn tay nhân ái bố thí. Và một ngày nọ nhưng không giống như mọi ngày, anh nghe tin có Đức Giê-su Na-da-rét đi ngang qua nơi anh ngồi, với niềm tin vào Chúa, anh đã kêu lên: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi!” Một lời kêu xin rất chân thật, rất khẩn thiết, lời kêu xin của kẻ tin. Chúa có nghe anh không? Chưa biết. Chúng ta chỉ biết rằng, nhiều người đứng ở đó đã quát mắng Bác-ti-mê, một kẻ hành khất, bắt anh phải im tiếng, bắt kẻ tin phải câm lặng. Không lẽ chỉ có những người giàu có, những người tự cho mình là đạo đức, những người hiểu biết và có vai vế mới có quyền kêu lên với Chúa? Nếu quyền làm người không ai cướp đi được, thì quyền cầu nguyện, quyền kêu cầu lên Chúa không ai được phép lấy mất đi. Chẳng màng tới sự quát nạt, anh ta vẫn tin tưởng và kêu lớn tiếng hơn nữa “Lạy ông Giêsu, Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi!” Lòng nhân hậu xót thương của Chúa không bao giờ điếc với những ai tin tưởng vào Ngài. Chúa Giê-su đã nghe lời kêu cầu của anh, và Chúa đã chẳng coi thường, chẳng khinh miệt anh là kẻ nghèo hèn khốn khổ, mang thân phận hành khất, Ngài cũng không ngoảnh mặt làm ngơ giả điếc bước đi tiếp để tránh bị quấy rầy, nhưng Ngài đã thương nghe lời cầu cứu, và dừng bước kêu anh lại, kẻ tin vào Ngài. Một cuộc gặp gỡ của lòng xót thương nhân hậu với tâm hồn thống khổ. Cuộc gặp gỡ của niềm tin. Cuộc gặp gỡ đó đã tháo cởi chiếc áo choàng nặng nề, như là biểu hiện của người ăn xin ra khỏi anh Bác-ti-mê, và sự mù loà đã phải trở về lại chỗ của nó, để trả lại cho Bác-ti-mê một thế giới của Ánh Sáng. Ánh Sáng soi chiếu anh bước đi theo Chúa trên con đường Chúa đi.

Lời kêu cầu của những con người bất hạnh và đau khổ luôn là quyền căn bản và quan trọng, đưa họ đến gần với Chúa. Không có ai và không có thế lực nào có thể cấm cản những người bất hạnh tin tưởng kêu cầu cùng Chúa. Dù đôi khi chúng ta tưởng rằng Chúa vắng mặt và im lặng, nhưng thực ra Ngài luôn hiện diện ở bên và lắng nghe chúng ta. Ngài ở bên chúng ta, lúc chúng ta cảm thấy mình bị mọi người bỏ rơi. Ngay cả khi cha mẹ, người phối ngẫu và cả những người bạn tri kỷ nhất bỏ rơi chúng ta, Chúa vẫn ở cạnh chúng ta. Cả những khi chúng ta rơi vào tình trạng đau khổ của bệnh nan y không còn cứu chữa được nữa, cả khi chúng ta bị sự dữ dồn vào đường cùng và manh nha nuốt chửng chúng ta, thì Thiên Chúa như người mục tử nhân hậu, Ngài vẫn ở bên cạnh chúng ta. Chúng ta chỉ cần tin tưởng và cầu nguyện. Chúng ta được phép kêu lớn tiếng lên với Chúa. Chúng ta được phép khóc lóc kêu gào với Chúa. Niềm tin luôn có chỗ cho nước mắt, niềm tin luôn đón chào những lời kêu gào lên với Chúa. Chúa sẽ không bao giờ đóng cánh cửa của căn nhà nhân hậu đối với chúng ta. Vì thế, không có sự sợ hãi nào, không có thế lực của sự dữ nào có thể cướp mất mạng sống của chúng ta, linh hồn của chúng ta, nếu chúng ta tin tưởng vào Chúa.

Tiếng kêu lớn tiếng của Chúa Giêsu với Cha trên trời thật là một di ngôn tuyệt vời. Di ngôn chất chứa sự sợ hãi, hoài nghi và bối rối lúc đầu, tìm thấy được sự trọn vẹn tuyệt vời ở khúc kết. Sự trọn vẹn của niềm tin tưởng mãnh liệt vào Chúa. Đó là sự thánh hoá mà niềm tin đem lại. Sức mạnh của niềm tin là thế đó. Niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng là khởi đầu, là trung tâm điểm và là cùng đích của mỗi phận người chúng ta. Ở đây, thần học gia Ratzinger nói rằng: “Ernst Kaesemann mô tả tiếng kêu đó như lời kinh vọng lên từ vực sâu, như tấm bia ghi khắc giới răn thứ nhất dựng đứng trong sa mạc xem ra hoang vắng Thiên Chúa. ‘Nhưng Người Con vẫn giữ vững niềm tin, dù niềm tin dường như mất hết ý nghĩa, và thực tế rõ ràng cho thấy Thiên Chúa vắng bóng và lời của tên cướp thứ nhất cũng như của đám đông chế giễu không phải là vô lý. Tiếng kêu của Người không vì ham sống hay sống còn, cũng không vì bản thân mình, nhưng vì Cha mà thôi. Một tiếng kêu đối kháng lại tất cả thực tại trần gian’. Vậy giờ đây, chúng ta có còn phải băn khoăn với câu hỏi: thế nào là thờ phượng trong giờ phút đen tối của cuộc đời ?”[22] Chính trong những giờ phút đen tối đó, giờ phút chúng ta trải nghiệm sự bỏ rơi, chúng ta cần phải hướng về Chúa hơn nữa, để thờ lạy, để tin tưởng, vì chính Ngài là nguồn hy vọng của Chúa ta.

  • Bị bỏ rơi, một trải nghiệm đau đớn gắn liền với cuộc đời. Chúng ta nên có thái độ nào trong lúc bị bỏ rơi?

Nếu chính Chúa Giê-su cũng đã phải trải nghiệm sự bỏ rơi của Cha trên trời, ở trong hoàn cảnh thống khổ của Ngài, thì một cách nào đó Ngài cũng mời gọi chúng ta cùng với Ngài đón nhận những giây phút chúng ta bị bỏ rơi trong hành trình cuộc sống.

Nếu chúng ta sẵn sàng đón nhận, nghĩa là chúng ta cho phép việc “bị bỏ rơi” có mặt trong cuộc đời chúng ta. Dù cho mỗi lần bị bỏ rơi, chúng ta đều phải đón nhận những đau đớn, cô đơn, buồn tủi và đôi khi thất vọng hoàn toàn. 

Ngay từ thuở ấu thơ, khi mới sinh vào cuộc đời, chúng ta đã nếm cảm được trải nghiệm của sự bỏ rơi. Là trẻ thơ chúng ta sẽ khóc thét lên, khi cha mẹ chúng ta bỏ chúng ta một mình trong nôi, trong chiếc võng “trống vắng” kia.

… Ngay từ ấu thơ và thời thiếu nhi và thiếu niên, trải nghiệm “bị bỏ rơi” đã đồng hành với chúng ta. 

Và trải nghiệm này tiếp tục đến với chúng ta, khi các đấng sinh chúng ta vào cuộc đời, ấp ủ yêu thương và dạy dỗ chúng ta từ tấm bé cho tới lớn khôn, giờ đây qua đời và bỏ rơi chúng ta. Có giọt nước mắt nào không chứa đựng đau đớn và buồn tủi, khi mất cha mất mẹ? Bản thân tôi đã cảm nghiệm, khi cha mẹ qua đời. Khi đi làm mục vụ đám tang cho những người cao niên, chứng kiến khung cảnh của các người con quây quần xung quanh quan tài của cha hay của mẹ, để nhìn cha nhìn mẹ lần cuối cùng, trước khi quan tài được đậy nắp, thật xúc động biết bao. Tiếng kêu la, tiếng than khóc, sự bùi ngùi của chia ly vĩnh biệt, và trong đó có cả cái buồn đau vì “bị bỏ rơi”… Làm sao có thể lý giải được huyền nhiệm của sự chết? Câm lặng sẽ còn câm lặng hơn, khi cảm giác cha mẹ bị “con cái” bỏ rơi để về với Chúa trước cha mẹ, trước ông bà, trước mọi người thân trong gia đình. Dù có khóc lóc thảm thiết, kêu gào thế nào, thì phận người vẫn bị bỏ rơi.

image.png

“Bị bỏ rơi” thuộc về cuộc đời này, dù chúng ta có chấp nhận hay không. Mỗi lần bị bỏ rơi là mỗi lần chúng ta sợ hãi. Nói khác đi, chúng ta luôn sợ hãi bị bỏ rơi. Tình yêu đôi lứa thật đẹp biết bao, bởi vì tình yêu làm nên giá trị của đời người, làm cho con người cảm nhận được hạnh phúc và cuộc đời thật đẹp, cuộc đời thật đáng sống. Nhưng trong tình yêu đôi lứa, tình yêu vợ chồng vẫn có một mùi vị của sợ hãi. Sợ người yêu, người bạn đời không trung thành, và bỏ rơi mình. Trong tình bạn bè, tình đồng nghiệp cũng không thiếu vắng mùi vị “bị bỏ rơi” và “chia tay”. Nhiều người không có khả năng và không chấp nhận “chia tay” và không chấp nhận “bị bỏ rơi”.

Rồi còn chiến tranh mà con người chúng ta gây ra cho nhau đã tạo nên biết bao cuộc bỏ rơi. Những em bé mất cha mất mẹ và đôi khi mất hết mọi người thân trong những cuộc chiến. Tuổi thơ chẳng tội tình gì, giờ bị bỏ rơi giữa biển đời nhiều sóng gió. Cảnh cha mất con, vợ mất chồng vì chiến tranh có lẽ không còn lạ lẫm gì trong thế giới chúng ta. Như thế, chúng ta mới thấy việc “bị bỏ rơi” là một điều gì rất thật và thuộc về cuộc sống của con người.

Anselm Gruen, một tâm lý gia và nhà thiêng liêng học đã nói rằng, trong con người chúng ta luôn có “một em bé bị bỏ rơi”. Chúng ta mang em bé này trong lòng mình, dù chúng ta có muốn hay không…

Như thế, điều chúng ta cần làm trong lúc bị bỏ rơi là hướng về Chúa Giê-su, và lắng nghe lời kêu cầu của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Lời này khuyến khích chúng ta hãy đón nhận hoàn cảnh bị bỏ rơi của chúng ta. Chúa Giê-su, Đấng trải qua hoàn cảnh bị bỏ rơi, và trong cầu nguyện Ngài đã thánh hóa sự bị bỏ rơi đó trở thành niềm tin tưởng vững vàng. Chính Ngài cũng muốn thánh hoá và biến đổi nỗi sợ hãi của chúng ta thành một niềm tin tưởng, là Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Như vậy, cầu nguyện là thái độ căn bản và quan trọng trong những lúc chúng ta bị bỏ rơi. Hãy cầu nguyện và trung thành cầu nguyện luôn mãi! Đừng buông xuôi và đừng bỏ rơi việc cầu nguyện! Khi chúng ta không bỏ rơi cầu nguyện, là chúng ta không bỏ rơi Thiên Chúa, khi chúng ta không bỏ rơi Thiên Chúa là chúng ta không bỏ rơi bản thân mình.

Karl Rahner đã suy niệm rất hay về hình ảnh cầu nguyện của Chúa Giêsu trên Thánh Giá: “Cái chết đang đến gần với Chúa…Cái chết đang đến gần. Đó là sự trống rỗng vô ngần, sự bất lực rất tàn nhẫn, sự cô đơn dày xéo. Nơi mà tất cả đều mềm ra, tất cả đều chạy trốn, nơi tất không còn gì cả, thì có sự bỏ rơi. Sự bỏ rơi đang cháy bừng, và đó là cái chết. Và trong đêm này, trong sự trống rỗng của trái tim mà tất cả mọi sự đã bị thiêu đốt, tâm hồn của Chúa vẫn luôn chìm sâu trong cầu nguyện, và sự cô đơn tàn nhẫn của trái tim Chúa – trái tim bị thiêu đốt bởi mọi sự đớn đau – ở trong Chúa trở thành một tiếng kêu duy nhất đến Thiên Chúa. Ôi, lời cầu nguyện của đớn đau, lời cầu nguyện của tình trạng bị bỏ rơi, lời cầu nguyện của bất lực tột cùng, lởi cầu nguyện của Chúa đã bị bỏ rơi…

Lạy Chúa Giêsu, nếu Chúa trong hoàn cảnh thống khổ đó vẫn cầu nguyện, thì tận cùng ở chỗ nào đi nữa, người ta vẫn có thể kêu lên cùng Cha”. 

Cầu nguyện và cầu nguyện. Đó cũng là phương cách của cha Alfred Delp, một tu sĩ dòng Tên, sống những ngày cuối cùng trong tù của phát xít Đức ở Berlin, trước khi Ngài bị treo cổ. Cầu nguyện là ở trong tương quan thân tình với Chúa, và nhờ đó chúng ta sẽ tìm thấy được ủi an cho hành trình cuộc sống, nhất là những lúc thống khổ nhất. Paglia đã nói rất sâu sắc: “Thật vậy, trong chiều sâu của tâm hồn chúng ta phải hiểu rằng, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con cái của Ngài, vì trong một ý nghĩa nhất định, Ngài cần đến chúng ta, để Ngài có thể là Thiên Chúa”.

 Với Chúa Giê-su, khi chúng ta phải trải qua kinh nghiệm bị bỏ rơi và cô đơn giống Chúa, thì với Ngài chúng ta không bao giờ thất vọng, với Ngài chúng ta vẫn kêu cầu lên Cha, dù cho lúc đó bóng đêm tưởng như đang nuốt chửng lấy Ánh Sáng, sự cô đơn tưởng như đã phá tan tình yêu của Cha dành cho Con. Không, ngay trong bóng đêm dày đặc của đời mình, trong nỗi thống khổ tột cùng, với Chúa Giê-su chúng ta vẫn thốt lên lời kêu cầu. Chúa biết chắc rằng, Cha Ngài luôn ở bên và lắng nghe Ngài. Qua đó, Chúa dạy chúng ta hãy noi theo gương Ngài, theo gương anh Bác-ti-mê, không bao giờ bỏ cuộc, mà luôn kiên tâm và hướng nhìn về Chúa.

Khi giải thích những lời Đức Giêsu nói trên Thánh Giá: “Lạy Chúa Trời, lạy Chúa Trời, tại sao Ngài bỏ con?”, thánh Âu-tinh giám mục đã bàng hoàng: ‘Lạy Chúa Giêsu là Đấng trung gian, là Thiên Chúa cao cả hơn chúng con nhưng đã trở thành người vì chúng con, đây chính là do lòng thương xót của Ngài. Bởi chưng, dù cao cả nhưng Chúa đã chấp nhận bối rối hoang mang chỉ vì muốn quan tâm yêu thương chúng con. Điều này làm rất nhiều chi thể của Ngài được an ủi. Tuy xao xuyến vì bản tính yếu đuối, nhưng họ vẫn không vì thế mà tuyệt vọng và chấp nhận hư vong” (Chú giải Gioan số 52).

… Các bạn thân mến, trong cầu nguyện, chúng ta hãy mang Thánh Giá hàng ngày của mình đến dâng lên Thiên Chúa trong niềm xác tín rằng Ngài hiện diện và lắng nghe chúng ta”. 

Hơn nữa, “đặt tất cả niềm tín thác và hy vọng của mình vào Thiên Chúa Cha, và trong mọi hoàn cảnh khốn cùng, chúng ta cũng có thể cầu xin Ngài trong đức tin, và lời kêu xin giúp đỡ của chúng ta sẽ được biến đổi thành một bài ca chúc tụng”. 

Thật vậy, trong cầu nguyện và với niềm tín thác cùng hy vọng, chúng ta sẽ được Thiên Chúa đồng hành, ban ơn và giúp chúng ta biết sống như Chúa Giêsu đón nhận những đau khổ xảy đến, cũng như biết can đảm đối diện với sự dữ luôn gây ra khổ đau. Đối diện với sự dữ nhưng chúng ta xác tín rằng, sự dữ không bao giờ thắng được, vì có Chúa, Đấng quyền năng và nguồn mạch của lòng thương xót ở bên chúng ta.

  • Hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, vì sự dữ không bao giờ thắng được. 

Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con?” Lời này không chỉ xé tan bầu khí thinh lặng, mà còn xé nát cõi lòng thâm sâu. Ngày xưa Chúa Giê-su đã kêu lên với Cha, hôm nay chúng ta có thể kêu lên với Chúa Cha như vậy không? Khi chúng ta thất bại trước cám dỗ và rơi vào trong vòng tròn tối tăm và quỷ quyệt của sự dữ, chúng ta còn có thể kêu lên như Chúa Giê-su không?

…Trong hoàn cảnh đó, chúng ta biết rằng sức chúng ta có hạn, và tự bản thân chúng ta không thể thắng vượt được thần dữ. Nhưng may thay, chúng ta có Chúa ở bên chúng ta, người Cha đã dựng nên chúng ta và đưa chúng ta vào cuộc đời, Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta một mình, Ngài không bao giờ để chúng ta phải quằn quại đau đớn trong hố sâu của đêm đen mà thần dữ đang ngự trị.

Ở đây, chúng ta cũng nhớ lại lời Kinh Lạy Cha với hai câu “xin cứu chúng con ra khỏi sự dữ”, mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta và chúng ta ý thức rằng: “Con người sống trong lòng một thế giới luôn bị đe dọa bởi quyền lực của thần dữ, bởi sức mạnh của thế lực đen tối luôn đối nghịch với tình yêu của Thiên Chúa. Qua lời cầu nguyện căn bản này, con người xin Thiên Chúa giải thoát họ khỏi quyền lực của thần dữ, kẻ có thể bắt chúng ta, những con người yếu đuối, trở thành kẻ tòng phạm của chúng. Lời cầu xin này kết nối với lời cầu nguyện của Chúa Giê-su dành cho chúng ta : Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần’ (Ga 17,15).

Chúa Giê-su tiếp tục cầu nguyện cho chúng ta, và Ngài cũng dạy chúng ta ý thức cầu nguyện luôn mãi: ‘xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ’. Đó là một lời cầu nguyện căn bản và đầy tin tưởng, phát xuất từ chính tâm hồn của chúng ta, khi chúng ta rơi vào tay của ác thần đang giam hãm chúng ta trong đêm đen, và gây ra cho chúng ta biết bao đau khổ. Lời cầu xin này là tiếng cầu cứu của chúng ta với Thiên Chúa, một lời cầu cứu rất thật và rất đơn sơ của người con nhỏ bé và đầy giới hạn dâng lên Cha quyền năng ở trên trời.

Khi kêu cầu với Cha như vậy, là chúng ta đang tuyên xưng niềm tin vào quyền năng Thiên Chúa, vì Người đã thắng thủ lãnh thế gian này, nhờ sự chiến thắng của Đức Giêsu phục sinh. Lời cầu nguyện của chúng ta cũng là một cách kêu gọi chúng ta tỉnh thức để luôn luôn sẵn sàng đón Chúa đến. Sau hết, lời cầu nguyện ấy chính là một tiếng kêu đầy hy vọng, tin tưởng rằng ơn Chúa sẽ làm cho ‘bất cứ ai sinh bởi Thiên Chúa’ (Ga 5,18) khỏi bị nhiễm độc. Vì Chúa Cha ‘dắt ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào Nước Con chí ái của Người’ (Cl 1,13).

Trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa là cha giàu lòng thương xót, chúng ta tin rằng, quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi – non praevalebunt  (x.Mt 16,18b). Mặc dù tỏ ra yếu ớt, nhưng sức mạnh của thần tốt – thần lành sẽ chống trả lại với quyền lực của thần dữ và sẽ chiến thắng chúng. Đó cũng chính là sự xác tín của thánh Phao-lô tông đồ: “Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2Cr 4,8-10).

Ngoài ra, với những câu cuối cùng của Thánh Vịnh 22, chúng ta xác tín vào sức mạnh của Thiên Chúa, là Vua Vũ Trụ, là Đấng Công Chính và luôn giàu lòng xót thương với con cái của Ngài. 

“Bởi vì CHÚA nắm quyền vương đế,

Người thống trị chư dân.

Mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất

sẽ đều bái lạy một mình Người,

phàm những ai trở về cát bụi

sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.

Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa,

con cháu tôi sẽ phụng sự Người.

Thiên hạ sẽ nói về Đức Chúa

cho thế hệ tương lai,

truyền tụng cho hậu sinh đức công chính của Người,

rằng: Đức Chúa đã làm như vậy!” (Tv 22,29-32).

  • Bài tập sống di ngôn thứ tư của Chúa Giêsu trên Thánh Giá. 

Đến trước tôn nhan của Chúa Giêsu đang bị đóng đinh trên Thánh Giá, bạn kính cẩn cúi đầu thờ lạy Ngài. Dành một phút thinh lặng bạn chiêm ngắm Ngài. Đấng chịu chết cho bạn, vì Ngài yêu thương Bạn.

Sau đó, quỳ xuống hoặc ngồi xuống bạn tiếp tục chiêm ngắm Chúa, và lòng bạn tự nhủ: Ngài tự mình gánh lấy không những chỉ nỗi thống khổ của của tôi và của nhiều người, những nỗi thống khổ đó chúng ta chịu bởi tội lỗi chúng ta, bởi chúng ta bị sự dữ áp đảo. Ngài đang gánh mọi khổ đau của bạn, của tôi và của muôn người trên thân xác của Ngài.

Bạn hãy suy xét trong lòng: Trước tình yêu và lòng thương xót vô bờ của Chúa, tôi nên có tâm tình gì cho Chúa đây? Tôi có muốn nói gì hay làm điều gì để diễn tả lòng biết ơn của tôi, để chia sẻ phần nào nỗi thống khổ của Chúa?

Với lời kêu cầu “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”, Chúa Giê-su diễn tả cảm nhận bị bỏ rơi của Chúa, nhưng tiềm ẩn trong lời cầu nguyện này là một niềm tin tưởng mãnh liệt vào Thiên Chúa, Đấng không bao giờ ở xa Con Một của Ngài.

Có khi nào bạn đã cầu nguyện giống Chúa Giê-su như vậy không? Bạn hãy nhớ lại giây phút đó, trải nghiệm đó. Giờ đây, một lần nữa bạn hãy dâng lời cầu  nguyện với Thiên Chúa, lời cầu nguyện gắn liền với sự kiện trước đây bạn đã gặp! Bạn có cảm thấy Chúa ở gần bạn không? Chúa đã lắng nghe bạn thế nào? Qua dấu hiệu gì bạn cảm nhận được Chúa lắng nghe bạn và yêu thương chở che bạn?

image.png

“Bị bỏ rơi” là một điều thuộc về cuộc sống của đời người. Tuy nhiên, có những “cuộc bị bỏ rơi” mà chúng ta không thể chấp nhận được. Bạn có trải nghiệm đó không? Bạn hãy nhớ lại biến cố hay sự kiện bạn bị bỏ rơi, và bạn đau khổ sợ hãi quá đỗi, đến nỗi hôm nay bạn vẫn không thể chấp nhận điều đó đã xảy ra với bạn.

Bạn xin Chúa ban thêm cho bạn ơn can đảm và niềm tin tưởng cậy trông, để bây giờ bạn nhớ lại giây phút đó, giây phút bạn bị bỏ rơi. Đừng sợ hãi quá! Hãy cứ để những cảm giác của ngày xưa trở lại. Nhưng mỗi cảm giác tiêu cực đó trở về, bạn hãy đưa đến bên Thánh Giá Chúa, dâng lên Ngài, và cùng với Chúa Giê-su bạn hãy cầu nguyện với Cha trên trời, Đấng giàu lòng thương xót đang lắng nghe và dịu dàng đón nhận tâm tình của bạn.

Bạn hãy để lòng bạn tự nhiên thúc đẩy và đánh động bạn. Nếu bạn muốn khóc, hãy để những giọt nước mắt rơi ra! Nếu bạn cảm thấy chỉ muốn đứng im lặng và hướng nhìn lên Chúa, bạn hãy làm như vậy! Có thể, bạn hãy thử đưa đôi tay của mình lên và hướng về Chúa Giêsu trên Thánh Giá, như là bạn dâng nỗi niềm đang có trong tâm hồn cho Ngài!

Ngoài ra, nếu bạn cảm thấy muốn nói gì đó với Chúa, Đấng yêu thương bạn và không bao giờ để bạn cô đơn lẻ loi một mình, bạn hãy nói với Ngài.

Kết thúc, bạn dâng lên Chúa một lời kinh Lạy Cha hay một bài hát mà bạn cảm thấy muốn hát trong lúc này.

https://www.youtube.com/watch?v=7ArShQCDA8k

TÔI LÀ NGƯỜI NƯỚC NÀO?

Dĩ nhiên, tôi là Đỗ Chiêu Đức, được sanh ra ở xã Thường Thạnh và lớn lên ở xã Thường Thạnh Đông, chợ Cái Chanh. Cái Chanh, cách Thị Trấn Cái Răng khoảng 5 cây số đường đất, với cầu ván đóng đinh cũng có, mà cầu tre lắt lẻo cũng nhiều.

Nên mặc dù là người Việt gốc Hoa (Triều Châu), tôi chỉ biết gọi Cha Mẹ Anh Chị bằng Pá Má Hia Chế và các từ thông dụng như Ăn cơm, ăn cháo là ” Chìa bừng, chìa múi…” ra, thì toàn bộ sinh hoạt gia đình đều bằng tiếng Việt của Nam kỳ Lục Tỉnh.7 tuổi vào trường làng học lớp Đồng Ấu, học đánh vần với quyển Con Gà Con Chó.

Tôi lại nổi tiếng đánh Cờ Nhào giỏi nhất đám con nít ở Cái Chanh. Một hôm, có Bác Ba ở xóm Ông Cò Nhỏ, nghe tiếng tôi tìm đến đánh thử, Bác ghìm với tôi chừng nửa tiếng đồng hồ, rồi cũng bị tôi lừa thế nhào đôi, rồi nhào ba, bác thua là cái chắc. Bác Ba xô bàn cờ đứng dậy, xoa đầu tôi và khen : “thằng Đức thông minh thiệt!”. Tôi nổi tiếng “thông minh” từ đó!

10 tuổi (1958) ra chợ Cái Răng học chữ Hoa, cậu tôi mới dạy cho tôi đánh cờ Tướng, và câu chuyện bắt đầu từ đây…

Trước 10 tuổi, lớn lên và học chữ Việt ở xã Thường Thạnh Đông, chợ Cái Chanh. Tôi là một đứa bé nông thôn nhà quê Việt Nam thuần túy. Khi ra đến Thị Trấn Cái Răng học chữ Hoa ở Trường Tiểu học Tân Triều của người Hoa sáng lập, tôi mới thấy được chiếc xe hơi Traction chạy đưa khách từ Cái Răng đi Cần Thơ, phố xá nhà lầu hai ba từng, và điều làm tôi ngạc nhiên nhất là một hôm, đang trên đường đi tới trường, thì có mấy đứa nhỏ cũng đi học ở một trường Việt gần đó, chỉ trỏ và nói rằng: Mấy đứa “Ba Tàu” giàu hơn mình, đi học phải mang giày, còn mình thì đi chân không thôi !

Tôi không biết “Ba Tàu” là gì, nhưng rồi cũng phải biết, vì 2 tiếng “Ba Tàu” nầy theo tôi suốt thời gian niên thiếu, như khi chuyển sang học luyện thi bằng Tiểu Học ba tháng, lớp tôi 11 đứa đậu được 10 đứa, thì các bạn ở trường Việt lại khen: Mấy đứa “Ba Tàu” nầy giỏi thiệt. Một tháng sau, tôi đậu luôn vào Đệ Thất của trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ, thì lại nghe: Cái thằng “Ba Tàu” đó giỏi qúa! Hai năm sau (1964), tôi đi thi ẩu … và đậu luôn bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Mấy anh học Đệ Tứ thi rớt lại mĩa mai một cách thán phục: Cái thằng “Ba Tàu” đó mới học Đệ Lục, sao mà đậu bằng Trung Học được ?!

16 tuổi (1964), Tôi và ông bạn Liêu Chương Cầu lên Chợ Lớn, làm lao công trong trường Phước Đức ở số 226 đường Khổng Tử (nay là trường Trần Bội Cơ). Chợ Lớn là nơi kinh doanh buôn bán của người Quảng Đông, cả người Việt vào Chợ Lớn buôn bán cũng biết nói tiếng Quảng Đông. Tôi là người Tiều Châu, tiếng Tiều còn nói không rành, làm sao biết tiếng Quảng Đông mà nói. Tôi và ông bạn Cầu chỉ lỏm bỏm được vài câu Quan Thoại cà trật cà vuột, nên nhiều khi văn phòng hoặc thầy cô giáo sai biểu hoặc nhờ cậy điều gì, phải nói tới nói lui mấy lần hoặc phải ra dấu thì mới hiểu được, nên các thầy bà đó gọi chúng tôi là “Ón Nàm Chẩy” (tiếng Quảng Đông có nghĩa là “Thằng An Nam”). Và không chỉ ở trong trường, đi mua đồ, hay đi ăn cơm ở các sạp cơm bình dân, vì đang tập nói tiếng Quảng Đông nên phát âm không chuẩn, họ vẫn gọi chúng tôi là “Ón Nàm Chẩy” như thường.

50 tuổi (1998), định cư ở Mỹ, rồi phải chạy theo cuộc sống ở đây, đâu có thời giờ để mà đi học tiếng Anh. 56 tuổi (2004) nhập quốc tịch Mỹ, nhưng nói chuyện với Mỹ vẫn “mõi tay” như thường ! Và mấy người Mỹ làm chung ở trường học vẫn gọi tôi bằng Vietnamese, mặc dù tôi đã là công dân Hoa Kỳ rồi, nghĩ có tức không?! Nhưng nếu nói mình là người Mỹ, thì mình có nói rành tiếng Mỹ đâu mà câu mâu !? Nhưng, đây cũng là một điều bất công rất tự nhiên trên nước Mỹ: Người Đức, Người Ý, Người Pháp, người Anh… nói chung là người da trắng, khi nhập tịch Mỹ là thành ngay Mỹ Trắng. Người Châu Phi bất kể nước nào, nhập tịch Mỹ, thì thành Mỹ Đen. Nhưng người “da vàng mũi tẹt” nhập tịch Mỹ, không có ai gọi là “Mỹ Vàng” cả ! Ngay cả người da vàng với nhau, gặp nhau cũng hỏi : where do you come from?( Bạn từ đâu đến đây ?) Ý muốn hỏi, bạn là người đến từ Đài Loan, Nhựt Bổn, Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…

Dưới 10 tuổi ở Cái Chanh, tôi là em bé quê Việt Nam, khi ra đến chợ Cái Răng thì thành “Ba Tàu”, lên đến Chợ Lớn thì lại thành “Ón Nàm Chẩy”. Qua đến Mỹ, mặc dù đã nhập tịch rồi vẫn bị gọi là Vietnamese !!Việt Nam chê, gọi tôi là “Ba Tàu”, nhưng họ chưa chắc đã giỏi tiếng Việt bằng tôi. Cũng như Tàu chê tôi, gọi tôi là “Thằng An Nam”, nhưng họ cũng đâu có giỏi tiếng Tàu bằng tôi đâu ! Chỉ có Mỹ chê, gọi tôi là Vietnamese thì tôi chịu, vì tôi nói tiếng Mỹ rất “mõi tay”. Rốt cuộc, Đỗ Chiêu Đức là người gì đây?! TÀU – VIỆT – MỸ.

Hỏi chơi thôi! Chớ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng! Sanh ra và lớn lên ở VN, nơi chôn nhau cắt rún là VN, mồ mả ông bà tổ tiên ở VN, cha mẹ còn ở VN, anh em con cháu còn ở VN…Chỉ có cái “gốc Hoa” mà thôi! Mà đã là “gốc” thì mình đâu có chọn lựa được! Qua Mỹ 20 năm (1998-2018) tôi không có về thăm “gốc” lần nào cả, vì có biết ai bên đó đâu mà “thăm”, có thăm thì cũng có ai biết mình là ai đâu mà “viếng”! Nhưng, tôi lại về VN đến 10 lần, cứ chắc mót 2 năm đủ tiền mua vé máy bay là vợ chồng tôi lại bay về VN thăm Cha Mẹ, em út, con cháu và bà con cô bác …. Đặc biệt năm 2013 về VN đến 2 lần vì Ba tôi mất …

Không phải chỉ riêng tôi, mà tất cả người Việt gốc Hoa đều như thế cả! Về thăm Trung Quốc chỉ là để du lịch khi dư dả, còn về thăm thân nhân ở VN mới là chánh.

Tục ngữ Việt Nam có câu: ĂN CÂY NÀO RÀO CÂY ẤY.                                        (từ Cần Thơ xưa và Nay)

From: Tu-Phung

Báo Pháp nói cảnh sát Paris ‘phá đường dây ma tuý Việt Nam’ và bắt ông trùm N’Guyen V

BBC

4 tháng 4 2023

Ecstasy-hình minh họa

Trang Le Parisien ở Pháp hôm 02/04/2023 có bài nói về thành tích của cảnh sát nước này vừa phá được một đường dây ma tuý lớn.

Dùng cụm từ mang tính chỉ trích, bài của Denis Courtine gọi đây là “La Viet Connection” và cho hay một người đàn ông Việt Nam 37 tuổi, N’Guyen V, còn gọi là “Le Gros” đã bị bắt.

Cảnh sát vùng Val-de-Marne đã tịch thu được tới 120 kg ecstasy trong cơ sở mà người đàn ông kia sử dụng ở Kremlin-Bicêtre làm nơi xuất nhập khẩu hàng hóa, theo tờ báo Pháp.

Điều đáng chú ý là, theo nguồn tin của báo Pháp thì ma tuý ecstasy được “sản xuất ở một vài nước Phương Đông, trong phòng thí nghiệm của băng đảng Việt Nam”.

Loại hàng cấm này thường được đưa vào Đức lâu nay nhưng giờ thì có tại Pháp.

Nguồn tin cũng nói tại các nước thuộc Liên Xô cũ, “đường dây Việt” luôn tồn tại.

Vợ của N’Guyen V được cho là một thợ uốn tóc từ Hà Lan tới Pháp và cũng đang bị cảnh sát tạm giữ để thẩm vấn.

EU: Băng đảng VN tại Đức ‘buôn ma túy’ và nhận cha giả mạo

Cocaine trôi dạt đều đặn vào bờ biển Pháp

LHQ: Myanmar tăng sản xuất nha phiến, bán vào VN và TQ

Liên Hiệp Quốc: ‘VN là điểm đến hấp dẫn của giới tội phạm ma túy’

Cả nhóm nghi phạm này gồm 7 người đã bị tạm giam.

Cũng liên quan đến ma tuý ở Pháp, hôm 16/3/2023, tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, lực lượng chức năng đã phát hiện và bắt giữ bốn tiếp viên hàng không của Vietnam Airlines chuyển từ Pháp về số lượng lớn ma túy cất giấu trong các tuýp kem đánh răng.

Tuy thế, sau một thời gian ngắn, họ đã được thả tự do và hình một trong số bốn phụ nữ cười tươi như hoa bên chiếc bàn đầy ắp ma tuý do nhà chức trách công bố đã khiến một phần dư luận VN bức xúc.

Sự thực là họ chỉ được tạm thả ra và nhà chức trách ở VN vẫn mở cuộc điều tra về hơn 11 kg ma tuý đem về từ Pháp.

Sân bay VN – hình minh họa

Vụ việc cũng làm dư luận đặt câu hỏi về hoạt động “buôn chuyến” hay “xách tay hàng hóa” của nhân viên, tổ bay Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam từ lâu nay.

ĐÃ TỪNG CÓ MỘT VIỆT NAM VĂN MINH, LỊCH THIỆP HƠN CẢ NHẬT VÀ MỸ

Tháng 9 năm 1987 tôi rời Hà Nội vô Sài gòn nhận công tác, chỗ tôi dừng chân tá túc đầu tiên là cổng Phi Long (khu vực Lăng Cha Cả).

Cũng là Việt Nam nhưng Sài Gòn tạo cho tôi những cảm xúc choáng ngợp và kinh ngạc, không phải vì Sài Gòn giàu có, cái mà tôi choáng ngợp chính là sự văn minh, lịch thiệp và tử tế của người dân Sài Gòn.

Trái ngược với dân Hà Nội, người Sài Gòn rất tử tế và thật lòng, mỗi lần đi chơi không biết đường về, khi chúng tôi hỏi đường, mọi người dường như không nề hà, chỉ bảo ân cần, nếu họ không biết, họ hỏi người khác rồi tận tình hướng dẫn cho chúng tôi.

Người Sài Gòn niềm nở dễ mến, ào ào nhưng nhân hậu và thật lòng.

Đi uống cà phê, đầu tiên nhân viên ra lau bàn sạch sẽ rồi mới nhẹ nhàng hỏi khách: “Anh uống (ăn) gì?”, khi thanh toán cũng thật nhẹ nhàng, thối tiền tử tế cho khách xong bao giờ cũng có câu:

“Cám ơn anh! Lần sau nhớ ghé quán em”. Có thế thôi, nhưng đối với tôi, lần đầu không khỏi kinh ngạc, vì Hà Nội không bao giờ được nghe những câu như thế.

Đi mua bán, đi chợ ở Sài Gòn, câu cửa miệng thường trực của các tiểu thương người Sài Gòn là “Cám ơn…!

Lần sau nhớ ghé”. Thật! Buôn bán như vậy thì làm sao mà không có lần sau kia chứ(!).

Một lần tôi ghé nhà thằng “lính” (cấp dưới tôi) ở Thủ Đức, nó là dân gốc Sài Gòn. Điều làm tôi kinh ngạc nhất là khi thằng em trai nó đi học về, nó khoanh tay cúi gập người và chào một lượt quanh nhà:

“Con thưa má, thưa ba con đi học về!”, “Em chào anh ba em đi học về”. Quay sang tôi, nó khựng lại giây lát rồi chào: “Em chào anh… em mới đi học về!”

Chưa hết đâu, không phải chỉ người Sài Gòn, khi tôi về vùng huyện Đất Đỏ, tỉnh Đồng Nai (nay thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu), vùng quê chân chất nhưng cũng văn minh không kém.

Hôm đó tôi đi coi hát (xem cải lương), tôi rất kinh ngạc khi mọi người rất trật tự, không la ó, chen lấn xô đẩy hoặc sàm sỡ con gái, phụ nữ như ngoài Bắc, họ vỗ tay tán thưởng ca sỹ những đoạn ca dài hơi hoặc ca hay. Tôi rất ngạc nhiên các bạn ạ!

Trên đây tôi chỉ sơ lược được vài điều khiến tôi “kinh ngạc” vào thời điểm đó. Kinh ngạc trước những cái mà nhà trường hồi đó đã dạy tôi.

Đấy, các bạn thấy đấy, đã “giải phóng” được 12 năm nhưng người Sài Gòn vẫn giữ được nét văn minh lịch sự vốn có của họ.

Nhưng, cho đến nay thì có thể do “Bắc hoá” nên hầu như những nét văn minh đó đã trở thành quá khứ.

Quay trở lại điều tôi muốn nói, mấy ngày nay, tràn ngập các trang mạng là hình ảnh lãnh đạo và nhân viên của cây xăng Nhật bản cúi gập người chào và cám ơn để tỏ lòng tri ân khách hàng, người thì ca tụng, kẻ thì chê bai họ “làm màu” với nhiều ý kiến trái chiều.

Việc báo chí và các trang mạng “lên đồng” với hành động mà nhiều người thấy lạ của ông Hidoki Honfo đứng dưới mưa gập người chào khách có phải là điều bất thường không(?) Xin trả lời là không(!)

Điều bất thường lại là chính chúng ta, Việt nam ta đã từng như thế, cũng văn minh không kém người Nhật tý nào. Nhưng chỉ có điều… những điều như thế đã trở thành quá khứ(!).

From: TU-PHUNG

NỖI LÒNG CỦA CỤ ÔNG VIỆT KIỀU VỚI BỮA ĂN MỘT MÌNH

VietBF

Hiện nay tôi đang sống với gia đình cô con gái út. Cháu có một gái đã trưởng thành sống ở tiểu bang khác và một cháu trai đang học năm cuối của trung học. Chồng cháu thỉnh thoảng phải đi làm xa. Hai vợ chồng tôi đã đến tuổi già gần đất xa trời, nên thời khắc biểu của những thành viên trong gia đình rất khác nhau, nên ít khi chúng tôi ngồi lại cạnh nhau cùng ăn chung một bữa cơm.

Buổi sáng thức dậy trễ, thì con cái đã đi làm, cháu đã đến trường, vợ thì luẩn quẩn ở sau khu vườn nhỏ, đành ngồi ăn sáng một mình. Buổi tối, thấy cơm canh đã sẵn sàng nhưng chưa thấy ai sẵn sàng cùng ăn với mình. Gọi vợ thì vợ bảo:

-“Ông cứ ăn đi, tôi mới ăn củ khoai, còn ngang bụng!” Gọi con thì con thưa: “Ba cứ dùng cơm đi, con đang bận tay!” Ðứa cháu thì khi hiện khi biến, chẳng mấy khi gặp mặt, có khi ăn ở trong bếp hay đem phần ăn lên phòng riêng để có sự tự do một mình.

Tôi muốn có những bữa ăn đông người, vui vẻ, có tiếng cười nói rộn ràng, nhưng thường là phải ăn những bữa ăn một mình. Bữa ăn một mình thì đâu cần đến mâm bàn dọn ra ngay ngắn, tươm tất, mà sao cũng cho xong một bữa ăn. Một tô cơm trộn thức ăn, và một cái muỗng, ngồi trước máy computer hay trước máy truyền hình. Bạn có nghĩ một bữa ăn như thế có dễ tiêu hoá, có lợi cho sức khoẻ hay không? Và một bữa ăn như thế có buồn không?

Tôi không bao giờ quên được những bữa ăn gia đình thời thơ ấu. Tất cả mọi người trong gia đình đều chờ nhau vào mâm cơm một lượt, dù là buổi sáng giờ trưa hay bữa chiều tối. Bữa cơm có cả ông bà nội, cha mẹ, cả anh chị cùng mấy đứa em nhỏ, kể cả thành viên nhỏ bé của đại gia đình là con mèo vàng luẩn quẩn chờ miếng ăn trong lòng bà nội tôi.

Rồi thời gian qua đi, kẻ còn, người mất, gia đình mỗi người một nơi. Tôi lớn lên, tạo lập một gia đình nhỏ, có những bữa ăn sum họp gia đình, nhưng không quên được những người đã đi xa, không còn hiện diện trên cuộc đời này nữa.

Rồi chiến tranh, tù đày, xô đẩy con người mỗi người đi mỗi hướng. Trong một trại tù nào đó, trên cái chõng tre tập thể, hay bữa trưa ngoài bìa rừng, tôi ngồi dùng đũa đếm những hạt ngô bung, xót xa nhớ đến những bữa cơm gia đình. Khi tôi từ nhà tù trở về, thì bữa cơm không còn là bữa cơm nữa. Con tản mát, vợ chạy gạo mỗi ngày, nồi cơm lạnh lẽo trên bếp, ai thấy thì ăn. Thời Cộng Sản vào nhà, không còn hai chữ “sum họp,” cũng chẳng còn câu “ngồi lại với nhau.”

Ra hải ngoại, thì cái văn hoá “bữa cơm gia đình” cũng đã mờ nhạt. Ly cà phê bữa sáng trên xe, cái hamburger cùng ly coke vào giờ lunch và những buổi tối về nhà trong giờ giấc trước sau không đồng nhất. Phải chờ đến những ngày Lễ Tết, sinh nhật, cha con, anh chị em họa hoằn mới có dịp ngồi lại trong những bữa tiệc cuối tuần.

Các bạn còn trẻ có lẽ chưa cảm nhận được nỗi buồn khi phải ngồi ăn một mình. Thức ăn có ngon đến đâu, bổ dưỡng đến đâu mà không “dịch vị” của tiếng cười, niềm vui, chỉ còn “gia vị” của cô đơn, buồn nản, thì bữa ăn ấy chỉ còn là bổn phận ăn để sống. Chính các vị y sĩ cũng đã khuyên người già “ăn uống phải có bạn, nên ăn chung với gia đình hay con cháu. Về phần con cháu, cũng không nên để cho cha mẹ mình ăn uống trong cô đơn buồn tẻ, vì khi ăn một mình, sẽ kém vui, và ăn ít đi, không tốt cho sức khoẻ. Sự cô đơn sẽ làm miếng ăn thêm cay đắng.”

Rõ ràng là tâm lý đã tác dụng vào sinh lý. Dù đau yếu, suy kiệt, mòn mỏi nhưng tôi vẫn nghĩ rằng những người sống chung với con cháu, hay còn vợ chồng có khả năng sống lâu hơn là những ông bà cụ già hiện đang sống một mình trong những căn phòng lạnh lẽo của những căn “nursing home.”

Trong nhà dưỡng hưu, tôi đã thấy những bữa cơm gọn gàng trong những cái khay nhỏ do nhà bếp đưa đến tận giường, để cả giờ nguội lạnh mà các ông bà vẫn chưa muốn ăn. Tôi đã đến thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện lẻ loi trong căn nhà già ở Santa Ana lúc ông chưa vào bệnh viện. Lúc ấy vào buổi xế trưa, mà từ sáng đến giờ, nồi cơm điện còn nguyên chưa được xới ra trên bếp, thức ăn còn để lạnh ngắt trong tủ lạnh. Ông thú nhận là ông không muốn ăn, mà chỉ ăn vì “nghĩa vụ,” một nghĩa vụ nặng nề! Chung quy cũng vì nỗi buồn cô đơn, thui thủi một mình.

Keith Ferrazzi, tác giả cuốn sách “Ðừng bao giờ đi ăn một mình (Never eat alone) không nói về sự cô đơn mà nói về sự giao tiếp đưa đến sự thành công và hạnh phúc cho cuộc sống. Chúng ta không bàn đến chuyện “ăn một mình” theo lối này.

Ðã đi hết một chặng đường dài, đã lo toan cho mọi thứ, nhưng cuối cùng tuổi già cô độc bên mâm cơm, lặng lẽ một mình. Những bậc cha mẹ già không mong con tặng quà, phải chi con ghé nhà thăm, ngồi ăn với cha hay mẹ một bữa cơm, nói cười như thuở ấu thơ.

From :TU-PHUNG

Một nền giáo dục dối trá toàn diện-Trần Mạnh Hảo

Báo Tieng Dan

Trần Mạnh Hảo

4-4-2023

Một chế độ tốt đẹp bao giờ cũng có một nền giáo dục tốt đẹp và ngược lại. Hiện nay, nền giáo dục của nước ta là một nền giáo dục không hề tốt đẹp khi nó đã bỏ hẳn dạy môn Văn là môn dạy làm người.

Hầu hết cán bộ trong xã hội Việt Nam hiện nay từ huyện, tỉnh đến Trung Ương nếu chỉ có đồng lương, dù là lương chủ tịch nước cũng không thể cho con cái “tị nạn giáo dục” – tức là cho con du học ở các nước tư bản giàu có như Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Úc, Nhật, Singapore được… Thế mà lạ thay, hầu hết các vị lãnh đạo to nhất từ trung ương xuống tỉnh huyện đều cho con đi du học bên Mỹ, mua nhà bên Mỹ, hoặc du học bên Anh, bên Đức, bên Úc…Trong khi vẫn lớn tiếng lên án chủ nghĩa tư bản xấu xa đang giãy chết! Mặt khác, chưa thấy vị lãnh đạo nào, ông quan to nào ở nước ta cho con du học sang các thiên đường cộng sản như Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Venezuela là sao, thưa các vị?

Chính sự chọn lựa nền giáo dục của các nước tư bản giàu có cho con sang du học, rồi mua nhà cho con, chuyển dần tài sản sang các nước tư bản giãy chết của các ông to trong nước như ông cựu bí thư Hà Tĩnh tên Cự … đã mách bảo chúng ta rằng Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Úc, Nhật… có nền giáo dục tốt đẹp nhất thế giới! Và nói cho công bằng, xã hội của họ ưu việt hơn xã hội ta.

Nhìn vào nền giáo dục của xã hội ta hôm nay, trừ các ông to nhất ở cao quá không thấy, ai ai cũng biết nền giáo dục Việt Nam đã xuống cấp tới mức không còn có thể xấu xa hơn nữa.

Một nền giáo dục bỏ hẳn dạy môn văn hơn 20 năm nay để dạy một môn NGỮ VĂN đểu, một môn học thuần lý trí: Nghiên cứu quy luật khoa học khách quan của ngôn ngữ văn học. Bỏ dạy môn Văn – một môn học của tâm hồn, của tình cảm rung động trước cái đẹp tiếng nói và chữ viết con người, cho phép chủ quan được tham gia bằng xúc cảm, bằng rung động con tim trước cái hay cái đẹp của ngôn ngữ và hình tượng văn học. Bỏ hẳn tâm hồn con em ta ra ngoài nền giáo dục là bộ giáo dục, là nhà nước, là đảng cầm quyền đã bỏ hẳn tính nhân văn của giáo dục. Một nền giáo dục bị tha hóa tận cùng, xấu xa tận cùng mới bỏ, không dạy môn văn.

Một nền giáo dục mà ngay bộ trưởng giáo dục như Nguyễn Thiện Nhân, Phùng Xuân Nhạ… cũng khai gian, khai láo học vị tiến sĩ, có phải là nền giáo dục tốt không?

Một nền giáo dục mà hầu hết học vị tiến sĩ là học vị phong bì. Học hàm PGS và GS cũng là học hàm phong bì tức là học vị và học hàm mua bằng tiền, thì có xấu xa hay tốt đẹp thưa quý vị?

Một nền giáo dục dối trá toàn diện. Chính ông Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định nền giáo dục chỉ chạy theo thành tích của ta là nền giáo dục dối trá.

Một người ngọng, dứt khoát không được tuyển vào ngành giáo dục. Trong khi bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ là người ngọng, phỏng có nước nào như nước ta không?

Một nền giáo dục cho phép nữ sinh sư phạm chỉ được làm điếm ba lần, làm điếm lần thứ tư là bị đuổi học, đuổi dạy… như một chỉ thị của ông Phùng Xuân Nhạ, thì đó là nền giáo dục quá xấu xa.

Một nền giáo dục trao trọng trách soạn sách giáo khoa văn, chủ biên sách giáo khoa văn cho các vị giáo sư quá dốt nát như: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc, Trần Đình Sử, Nguyễn Minh Thuyết, Đỗ Ngọc Thống… chắc chắn không phải là nền giáo dục tốt đẹp.

Một nền giáo dục cho Nhà xuất bản GIÁO DỤC mỗi năm soạn lại SGK, in lại sách giáo khoa, in toàn các loại sách bậy bạ đi kèm sách giáo khoa, bắt cha mẹ học sinh nghèo phải sạt nghiệp vì mua quá nhiều sách đọc thêm, sách tham khảo… Nhà xuất bản Giáo Dục làm tiền một cách phi pháp, khiến các em bé từ mẫu giáo phải oằn lưng cõng cả núi sách giáo khoa, sách tham khảo trên lưng. Một bộ GD& ĐT dùng NXB của mình làm tiền như một bộ đi buôn, không có nước nào làm khổ nhân dân mình như Bộ Giáo dục Việt Nam!

Có thể kể ra vô vàn tội lỗi của nền giáo dục, của Bộ Giáo dục Việt Nam đã phạm với nhân dân của mình, có cảm tưởng như Bộ này lấy ngu dân làm mục đích giáo dục vậy!

NẾU CÓ THỂ…

NẾU CÓ THỂ…

Nếu có thể, mỗi bình minh thức dậy

Ngồi thật yên thở nhẹ, miệng mỉm cười:

”Ta còn sống, nên mọi điều có thể…

Tạ ơn đời, nguyện tỉnh thức, an vui..”

Nếu có thể, muộn phiền ngày hôm trước

Hãy chôn vùi theo giấc mộng đêm qua

Chuyện cơm áo.. vốn đã là gánh nặng

Ôm ấp hoài chuyện cũ.., thiệt là ta?

Nếu có thể, mở cửa lòng.. phóng thích

Những con người ta nhốt tận trong tâm.

Giam nhốt họ, ta trở thành cai ngục

Có gì vui trong sở thích giam cầm?..

– Nếu có thể, đừng than thân, tủi phận

Đừng thèm thuồng hạnh phúc bởi nhìn lên

Thử nhìn xuống bao kiếp đời lận đận…

Mình không giàu, nhưng biết đủ , là hên!

Nếu có thể nhịn người thì cứ nhịn

Mặc cho ai thấy thế bảo ta khờ.

Hơn thiên hạ vẫn xem là chuyện dễ

Thắng chính mình, thắng được, mới hay cơ!

– Nếu có thể, ngồi bên nhau dăm phút

Đời ngắn dài, ai biết chuyện gì đâu!

Nếu có thể, thương nhau thêm một chút

Để đắp bù cho thiếu vắng mai sau…

– Nếu có thể, cuối chiều ngồi tĩnh lặng

Ngày trôi qua ta.. Sống được bao giờ?

Mình đang Sống hay chẳng qua tồn tại..

Rồi về đâu khi đối diện hư vô?!

Nếu có thể, xin nguyện lòng cố gắng

Hướng về Chân, Thiện, Mỹ sống thênh thang.

Bởi còn sống nên mọi điều có thể..

Gửi cho đời thêm chất liệu Bình An…

Như Nhiên-TTT

Minnesota

11.03.23

https://www.facebook.com/ThayHuyenDieuOfficial

From: TRUONG LE

Nga tịch thu hộ chiếu quan chức cấp cao nhằm ngăn việc đào tẩu

Báo Tiếng Dân

Financial Times

Tác giả: Sinéad Baker

Cù Tuấn, dịch

2-4-2023

Tóm tắt: Điện Kremlin thắt chặt các hạn chế đi lại từ thời Liên Xô ở các khu vực ‘nhạy cảm’.

Các cơ quan an ninh của Nga đang tịch thu hộ chiếu của các quan chức cấp cao và giám đốc điều hành công ty nhà nước để ngăn chặn việc đi ra nước ngoài, vì hoang tưởng về rò rỉ và đào tẩu lan rộng trong chế độ của Tổng thống Vladimir Putin.

Với việc Nga vẫn tiếp tục xâm lược Ukraine, các quan chức an ninh đã thắt chặt các yêu cầu đi lại trong khu vực nhà nước, yêu cầu một số nhân vật nổi tiếng và cựu quan chức giao nộp giấy tờ đi lại, một số người quen thuộc với vấn đề này cho biết.

Áp lực gia tăng phản ánh sự nghi ngờ sâu sắc trong Điện Kremlin và FSB, cơ quan kế thừa của KGB, về lòng trung thành của giới tinh hoa dân sự Nga, nhiều người trong số họ phản đối cuộc chiến ở Ukraine một cách riêng tư và đang lo lắng về tác động của nó đối với lối sống của họ.

Dmitry Peskov, người phát ngôn của ông Putin, xác nhận Nga đã thắt chặt hạn chế đi lại nước ngoài đối với một số người làm việc trong các khu vực “nhạy cảm”. “Có những quy tắc chặt chẽ hơn cho việc này. Ở một số nơi chúng được chính thức hóa và ở một số nơi chúng phụ thuộc vào một quyết định cụ thể… về những nhân viên cụ thể”, ông nói với Financial Times. “Kể từ khi bắt đầu chiến dịch quân sự đặc biệt, vấn đề này đã được chú ý nhiều hơn”.

Kể từ thời Xô Viết, các quan chức Nga có quyền tiếp cận các bí mật nhà nước cấp trung đã được yêu cầu để lại hộ chiếu của họ trong một nơi an toàn do “bộ phận đặc biệt” trực thuộc các bộ và công ty của họ điều hành. Nhưng các cơ quan an ninh của Nga hiếm khi thực thi các quy tắc, theo các cựu quan chức và giám đốc điều hành.

Điều này đã thay đổi sau cuộc xâm lược Crimea vào năm 2014, khi các cơ quan an ninh bắt đầu cảnh báo việc đi du lịch đến các quốc gia như Mỹ hoặc Anh. Người dân Nga cho biết, sau cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraine năm ngoái, các hạn chế đã được áp dụng rộng rãi hơn nhiều và phụ thuộc nhiều vào ý muốn bất chợt của các sĩ quan an ninh cá nhân trong các cơ quan nhà nước.

Vì lý do này, các biện pháp an ninh khác nhau giữa các cơ quan nhà nước, với một số yêu cầu ngay cả những nhân vật cấp trung hạn không được ra nước ngoài và những cơ quan khác cho phép các quan chức cấp cao đi ra nước ngoài, nếu có lý do.

Các giám đốc điều hành tại một công ty công nghiệp lớn của nhà nước Nga bị cấm đi du lịch hơn hai giờ lái xe từ Matxcơva mà không có sự cho phép chính thức, một trong các giám đốc này nói.

Trong những trường hợp khác, các quan chức của FSB đã yêu cầu các cựu quan chức trước đây có quyền tiếp cận bí mật nhà nước giao nộp hộ chiếu của họ, và thậm chí hộ chiếu của một số người chưa bao giờ có quyền tiếp cận các bí mật này, những người quen thuộc với vấn đề này cho biết.

Alexandra Prokopenko, cựu quan chức ngân hàng trung ương Nga, cho biết các hạn chế về hộ chiếu hiện đã mở rộng ra ngoài các cá nhân có giấy phép an ninh.

Bây giờ họ đang đến gặp một số người và nói, ‘vui lòng giao hộ chiếu dân sự màu đỏ của bạn, vì bạn có quyền truy cập vào thông tin nhạy cảm quốc gia, vì vậy chúng tôi muốn kiểm soát các hoạt động của bạn‘”, bà nói.

Prokopenko cho biết, các cơ quan an ninh của Nga gần như được quyền tùy tiện giải thích các quy tắc theo các sửa đổi đối với luật về bí mật nhà nước, gián điệp và phản quốc. Bà đã rời ngân hàng trung ương sau cuộc xâm lược năm ngoái và hiện là thành viên khách mời tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Đức.

Về cơ bản, bất kỳ thông tin nào cũng có thể được coi là bí mật, vì vậy các sĩ quan FSB ngầm bắt đầu nói với bạn rằng bạn có thông tin nhạy cảm. Nó là gì? Tại sao lại là bí mật và ai là người quyết định điều đó? Không ai biết”, Prokopenko nói.

Peskov cho biết, các quyết định “phụ thuộc vào lĩnh vực công việc cụ thể” của cả công ty và cá nhân. “Công việc có thể ít hay nhiều nhạy cảm,” ông nói.

Điện Kremlin cũng đã thực hiện một số nỗ lực để mở rộng lệnh cấm không chính thức này cho nhiều quan chức hơn. Sau một loạt vụ bê bối công khai về đoạn phim bị rò rỉ về các nghị sĩ đi nghỉ ở Dubai và Mexico, hạ viện Nga hồi tháng 1 đã yêu cầu các nhà lập pháp thông báo cho cấp trên về các chuyến công tác nước ngoài.

Tờ Kommersant của Nga đưa tin, ít nhất 7 khu vực đã đưa ra các khuyến cáo nghiêm ngặt về việc cấm các quan chức địa phương đi du lịch nước ngoài.

Vào tháng 2, Yevgeny Prigozhin, người sáng lập nhóm bán quân sự khét tiếng Wagner, đã kêu gọi cấm hoàn toàn việc đi nước ngoài đối với các quan chức, cũng như chịu trách nhiệm về “hành vi vô đạo đức, phô trương của cải và hàng xa xỉ” của họ.

Các động thái đã diễn ra khi sự bất mãn gia tăng trong giới thượng lưu Nga khi nỗ lực chiến tranh lan rộng và tác động của nó đối với lối sống của họ. Đã từng có thể chi tiêu sự giàu có của mình để mua biệt thự, du thuyền và trường nội trú cho con cái của họ ở phương Tây, các quan chức và đầu sỏ chính trị Nga hiện đang cảm thấy khó chịu khi bị giới hạn ở các quốc gia không bị coi là “không thân thiện”, một số thành viên của giới thượng lưu nói với Financial Times.

Sự bất mãn đó đã bộc lộ ra ngoài trong tuần này sau khi truyền thông Ukraine công bố một đoạn ghi âm được cho là cuộc trò chuyện giữa Farkhad Akhmedov, một nhà tài phiệt Nga-Azerbaijan bị trừng phạt, và Iosif Prigozhin, một nhà sản xuất âm nhạc có liên hệ với Điện Kremlin, có vợ là một ca sĩ nổi tiếng, đã biểu diễn tại một buổi hòa nhạc ủng hộ chiến tranh cùng với Putin năm ngoái.

Cuộc gọi này bao gồm những lời phàn nàn về việc Nga ngày càng bị cô lập trên trường quốc tế và áp lực từ các cơ quan an ninh. Akhmedov không thể đưa ra bình luận nhưng một người thân cận với ông cho biết đoạn ghi âm này là thật. Prigozhin – người không có quan hệ họ hàng với nhà tài phiệt – cho biết đoạn ghi âm “đã bị bóp méo một phần hoặc toàn bộ” và tuyên bố sẽ có hành động pháp lý chống lại người đã ghi lại đoạn video đó.

Bọn chúng đã lừa dối chúng tôi, con cái chúng tôi, tương lai và số phận của chúng. Bạn hiểu không?” Akhmedov nói trong cuộc gọi. “Tổ sư chúng nó. Chúng tôi đều hiểu chuyện gì đang xảy ra ở đó. Hãy đến Maldives, đến Dubai… Tôi không biết… đến Altai, Baikal, bất cứ nơi nào bạn muốn, nhưng hãy tránh xa Matxcơva”, ông nói thêm.

SỰ THẬT MỘT KIẾP NGƯỜI

(Dù là ai cũng nên đọc ít nhất 1 lần)

Một ngày rất ngắn, ngắn đến mức chưa nắm được cái sáng sớm thì đã tới hoàng hôn.

Một năm thật ngắn, ngắn đến mức chưa kịp thưởng thức sắc màu đầu xuân thì đã tới mùa đông giá lạnh.

Một cuộc đời rất ngắn, ngắn tới mức chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp thì người đã già đi tự lúc nào.

Sự việc luôn luôn đến quá nhanh mà hiểu ra thì quá muộn, cho nên chúng ta phải học cách trân trọng: Trân trọng tình thân, tình bạn, tình đồng nghiệp, tình yêu, tình vợ chồng, tình phụ mẫu, tình đồng loại…

Vì một khi đã lướt qua, thì khó có thể gặp lại.

Sau 20 tuổi thì đất khách và quê nhà giống nhau vì đi đến đâu cũng có thể thích ứng.

Sau 30 tuổi thì ban ngày và ban đêm giống nhau vì mấy ngày mất ngủ cũng không sao.

Sau 40 tuổi thì trình độ học vấn cao thấp giống nhau, học vấn thấp có khi kiếm tiền nhiều hơn.

Sau 50 tuổi thì đẹp và xấu giống nhau vì lúc này có đẹp đến mấy cũng xuất hiện nếp nhăn và tàn nhang.

Sau 60 tuổi thì làm quan lớn và quan bé giống nhau vì nghỉ hưu rồi cấp bậc giống nhau.

Sau 70 tuổi thì nhà to và nhà nhỏ giống nhau vì xương khớp thoái hóa không thể đi được hết những nơi muốn đi.

Sau 80 tuổi thì tiền nhiều và tiền ít giống nhau vì có tiêu cũng chẳng tiêu được bao nhiêu tiền.

Sau 90 tuổi thì nam và nữ giống nhau vì không thể làm nổi chuyện gì nữa.

Sau 100 tuổi thì nằm và đứng giống nhau vì đứng dậy cũng chẳng biết làm gì.

Vậy nên: Trước hay sau, trẻ hay già, giàu hay nghèo, sang hay hèn, quan hay dân dù là bất cứ ai đều giống nhau.

Hãy sống và giữ cho mình thứ tồn tại bất biến là: Niềm tin, tình yêu và nhân nghĩa ở đời.

Nguồn: Sưu tầm

HÀO QUANG CỦA THA THỨ

Theo ABC News, ông Yigal Cohen, một người Israel bị đau tim nặng vừa nhận được trái tim của một người Palestin trong cuộc phẫu thuật ngày 5-6-2000. Gia đình ông Mazen Joulani, người hiến tặng tim, cho biết ông vừa bị những người Do Thái bắn hại tại một tiệm cà phê ngoài trời.

Gia đình này quyết định hiến tim của Joulani vào thứ sáu tuần qua, ngay trong ngày mà cuộc nổ bom ở Tel Aviv làm thiệt mạng 21 người. Những phần nội tạng khác của Joulani cũng sẽ được ghép cho một số người Israel khác.

Bác sĩ Lavie, người thực hiện ca mổ, nói khi ông cầm hai trái tim trong tay, ông nhận ra rằng tất cả những mâu thuẫn sắc tộc là hoàn toàn vô nghĩa.

***

Nếu chúng ta biết rõ mối thù truyền kiếp giữa người Israel và người Palestin, nếu chúng ta nhìn thấy những cuộc xung đột đẫm máu thường xuyên xảy ra giữa hai dân tộc này trên truyền hình, báo chí, chúng ta mới thấy nghĩa cử hiến tặng trái tim để cứu sống kẻ thù, mới thật là nghĩa cử vô cùng cao đẹp. Không những anh chỉ tha thứ cho kẻ thù đã bắn chết mình, mà còn trao ban luôn trái tim và các phần nội tạng khác để cứu sống những kẻ đã sát hại dân tộc mình. Đối với những người không có tấm lòng khoan dung tha thứ thì đây là hành động điên rồ, thậm chí còn là việc ngu xuẩn. Nhưng với những người có niềm tin thì đó lại là bằng chứng hùng hồn của người môn đệ Đức Kitô: Anh em phải thương yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ oán ghét anh em” (Lc 6,27),

Tin Mừng thuật lại:

“Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Đức Giêsu mà hỏi rằng: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18,21-22).

Điều đó có nghĩa là phải tha thứ hoài, tha thứ mãi, tha thứ đến vô cùng. Đó là nét mới trong dung mạo của Đức Giêsu. Mọi quốc gia, đảng phái, phong trào đều chống lại điều xấu, đề phòng kẻ gian ác, tiêu diệt kẻ thù, duy chỉ mình Đức Giêsu dạy: “Hãy yêu thương kẻ thù”. Người đã chiếu tỏa nét cao qúy ấy ngay trên thập giá, khi các kẻ thù hành hạ, chế nhạo, và đóng đinh Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

Nhưng tại sao phải tha thứ? Phải tha thứ cho anh em vì đó là điều kiện để đưọc Chúa tha thứ cho chúng ta. Đức Giêsu đã nói: “Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì cha trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em” (Mt 6,24).

Phải tha thứ cho anh em vì chính Chúa luôn tha thứ cho chúng ta, và Người còn liên tục tha thứ mãi, như Kinh Lạy Cha Đức Giêsu đã dạy: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6,12).

***

Phải tha thứ cho anh em vì đó là một nghĩa cử yêu thương tuyệt đỉnh mà Chúa luôn đòi hỏi và coi trọng hơn cả việc thờ phượng Người:

– Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5, 23-24)” 

Amen!

Ngọc Nga sưu tầm

From: NguyenNthu

CHẲNG LẼ CON SAO – Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu

Các thượng tế muốn giết Đức Giêsu, nhưng không tìm được cơ hội.  Nay cơ hội đã đến với sự tiếp tay của chính người môn đệ Đức Giêsu.  Anh Giuđa đã đến gặp các thượng tế và đề nghị nộp Ngài cho họ.

Chúng ta mãi mãi không biết hết và biết rõ những động cơ nào đã thúc đẩy Giuđa làm chuyện kinh khủng ấy.  Giuđa, người được gọi, được chọn, được tuyển lựa, sau một đêm thức trắng cầu nguyện của Thầy Giêsu (Lc 6, 12).  Và anh đã đáp lại, đã bỏ gia đình, nghề nghiệp, để đi theo.

Giuđa đã rong ruổi theo Thầy ngay từ đầu, chia sẻ đói no, thành công thất bại…  Không yêu thì làm sao đi theo được lâu như thế.  Giuđa, người được tin cậy và giao giữ quỹ cho cả nhóm (Ga 12, 6).  Vì là người trong nhóm Mười Hai, thuộc nhóm môn đệ thân cận, Giuđa đã được nghe hầu hết các bài giảng hay nhất, được chứng kiến các phép lạ lớn lao nhất của Thầy Giêsu.  Giữa anh và Thầy Giêsu hẳn đã có một sự thân thiết nào đó.

Điều gì đã diễn ra nơi trái tim của Giuđa?  Điều gì đã khiến tất cả phút chốc bị đổ vỡ không sao hàn gắn?  Chắc không phải chỉ vì ba mươi đồng bạc, một số tiền.  Phải chăng vì Giuđa thất vọng và nóng ruột khi thấy Thầy Giêsu quá hiền từ, cả trong lối sống lẫn lời giảng, chẳng có vẻ gì là một Đấng Mêsia sắp giải phóng dân tộc khỏi quân Rôma?

Phải chăng khi Giuđa nộp Thầy cho các thượng tế, anh định cài Thầy vào thế phải hành động quyết liệt hơn, phải tự giải thoát mình?

Dù gì đi nữa thì chuyện Giuđa làm là không thể biện minh được.  Anh đã can dự vào cái chết của Thầy Giêsu.  Không thể phong tặng anh hùng cho Giuđa vì bảo rằng nhờ anh mà chúng ta có được ơn cứu độ.  Giuđa đã phạm tội nghiêm trọng đến nỗi Thầy Giêsu phải đau đớn nói: “Khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn” (c.24).

Dầu vậy tội của Giuđa đã được Thiên Chúa dùng cho chương trình cứu độ.  Thiên Chúa là Đấng có thể biến điều dữ thành điều lành.  “Kẻ đã chấm chung một đĩa với Thầy là kẻ sẽ nộp Thầy” (c. 23).  Kẻ đồng bàn thân thiết với Thầy lại là người phản bội.

Ngay cả những môn đệ khác cũng hỏi Thầy Giêsu: “Có phải con không?”  Có phải con là người đang phản bội Thầy không?  Lúc nào chúng ta cũng có thể hỏi Chúa Giêsu cùng câu hỏi đó.  Dù mỗi ngày chúng ta cùng chia sẻ một bàn tiệc với Chúa trong Thánh Lễ, chúng ta vẫn có thể rơi vào tội của Giuđa.

*****

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con dám hành động theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa.  Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện, vì xác tín rằng Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con, Chúa ngàn lần quảng đại hơn con, và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.

Lạy Chúa Giêsu trên thập giá, xin cho con dám liều theo Chúa mà không tính toán thiệt hơn, anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ, can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim, và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.  Ước gì khi dâng lên Chúa những hy sinh làm cho tim con rướm máu, con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt của người một lòng theo Chúa. Amen.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu

From: Langthangchieutim

LỖI CHÍNH TẢ – Đỗ Duy Ngọc

 Đỗ Duy Ngọc

Không biết vì sao mà bây giờ người viết sai chính tả nhiều quá. Có thể là ngày nay, mạng xã hội, Facebook phổ biến nên người ta viết nhiều, sử dụng nhiều nên mới lộ ra việc viết sai chính tả chăng ? 

 Cũng có thể nhà trường hiện nay không chú trọng việc dạy viết đúng chính tả cho học sinh ? Cũng có thể bây giờ người ta ít đọc sách, bởi đọc sách cũng là một cách rèn luyện viết chính tả cho đúng ? Mà cũng có thể thời hiện đại người ta phát âm sao thì viết ra vậy nên chữ nghĩa ngọng nghịu là lẽ đương nhiên ? Và cũng có thể vì tất cả những lý do ấy.

 Chỉ cần lướt các bài viết và comment ở trên mạng, ta có thể tìm thấy vô vàn lỗi chính tả. Lỗi nhẹ thường thấy là sai hỏi ngã. Lỗi này thì quá phổ biến, đến độ người ta có thể bỏ qua. Cũng thường thấy là viết như người ngọng nói. Ngày trước, người Việt thường lấy giọng Hà Nội làm tiêu chuẩn, giọng Bắc là giọng chuẩn, điều ấy chưa hẳn đã đúng nhưng cũng tạm chấp nhận. Lúc đấy người nói chớt, nói ngọng theo cách nói của địa phương thường là người già, là nông dân. Người có chút học vấn sẽ tránh nói theo kiểu ấy. Nhưng bây giờ thì khác rồi, người Bắc nói chớt, nói ngọng nhiều quá và đem cái chớt, cái ngọng ấy vào bài viết, nói sao viết vậy.

  Trân trọng viết là chân chọng. Trả treo viết là chả cheo. Cho nên viết là cho lên. Lịch sử viết là lịch xử… nhiều lắm kể không hết. Cứ tưởng người ít học thì viết sai nhiều lỗi chính tả, nhưng không phải thế. Học sinh cấp 3, sinh viên Đại học cho đến giáo viên, Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ cũng viết sai chính tả tùm lum. Các nhà lãnh đạo cũng mắc không ít lỗi chính tả khi viết. Ngay đến giáo viên dạy môn Văn trong các trường học cũng viết sai chính tả. Nhà văn, nhà thơ, nhà báo cũng đầy lỗi chính tả.

 Ngày xưa, sách, báo là nơi để người ta tìm thấy sự chính xác trong câu văn, trong từ ngữ sử dụng và cũng là nơi tin cậy về chính tả. Ngày nay không còn thế nữa, sách đầy lỗi, báo viết sai tè le, ngay cả sách giáo khoa dạy cho trẻ con của một ông Giáo sư Tiến sĩ tự vỗ ngực là người có trình độ cao nhất thế giới cũng viết con dơi thành con rơi. Đành thua.

 Một bài văn hay, một bài báo tốt, một câu comment thú vị mà nhiều lỗi chính tả thì bài văn ấy, câu comment ấy giảm biết bao giá trị. Nhiều khi cứ tự nghĩ không biết giờ trong nhà trường ở môn Tiếng Việt, môn Văn học, người ta dạy học trò những gì nhỉ ? Còn nhớ cách đây hơn 60 năm, thời tôi còn là cậu bé con đi học tiểu học môn dictée tức chính tả là môn học quan trọng, thầy cô rất chú trọng môn này và dần cho nát xương đứa nào viết sai nhiều lỗi cho nên trò nào cũng cố gắng Une dictée sans fautes, một bài chính tả không có lỗi. Có lẽ nhờ thế mà thế hệ chúng tôi viết bài ít lỗi hơn bây giờ chăng? Tuy vậy, giờ có tuổi, lẩn thẩn rổi, trong khi viết mà gặp một từ nào hơi hồ nghi, tôi liền tra tự điển hoặc vào Google đánh chữ đấy tìm xem để có sự chính xác. Tôi nghĩ viết cho đúng chính tả cũng không khó. Nếu để ý trong lúc viết, kiên trì rèn luyện thì việc viết sai chính tả sẽ vượt qua được thôi.

 Cứ đà này, chữ Việt thành một mớ hỗn độn của người bệnh ngọng. Đôi lúc cứ đọc thấy lỗi, lòng lại buồn và lo cho thế hệ sau.

Đỗ Duy Ngọc