MỘT TẤM HÌNH – BA ÁN TỬ

Kim Dao Lam 

Fb Việt Tân

MỘT TẤM HÌNH – BA ÁN TỬ

Đây tấm ảnh chụp ba người cha mẹ của ba tử tù nổi tiếng tại Việt Nam hiện nay.

Từ trái qua phải:

Mẹ của tử tù Lê Văn Mạnh ở Thanh Hoá

Mẹ của tử tù Hồ Duy Hải ở Long An

Mẹ của tử tù Nguyễn Văn Chưởng ở Hải Dương

Sáng hôm nay, ba bà mẹ đã cùng nhau tới Văn phòng chính phủ và văn phòng của Chủ tịch nước để cùng hỗ trợ và kêu oan cho tử tù Nguyễn Văn Chưởng.

Như mọi lần, họ bị lực lượng an ninh dồn về vườn hoa Mai Xuân Thưởng trước khi bị công an đưa lên xe buýt và đưa về Trụ sở tiếp công dân ở Hà Đông.

Có lẽ, ba người mẹ cùng hiểu rằng dù con mình là Chưởng, Hải hay Mạnh phải đối diện với án tử hình, thì con họ sẽ là nạn nhân tiếp theo của thể chế bất minh này.

Chừng nào chế độ công an trị còn tồn tại, chừng nào tư pháp còn chưa thực sự độc lập, và chừng nào đảng cộng sản Việt Nam còn nắm quyền, thì những án oan sai và những người dân vô tội sẽ vẫn còn tiếp diễn.

Gia Minh

Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” như thế nào?

Lê Vi

Năm 1859 khi người Pháp đánh chiếm Gia Định, các công trình ở đây chủ yếu phục vụ cho việc cai quản và phòng thủ, chứ chưa có các công trình tiện nghi công cộng, giáo dục, chăm sức sức khỏe, hay vui chơi giải trí. Nhìn ra tiềm lực kinh tế to lớn của Sài Gòn, người Pháp đã xúc tiến quy hoạch vùng đất này với đầy đủ các chức năng hành chính, quân sự, kinh tế, cảng, v.v., đưa Sài Gòn trở thành đô thị sầm uất, thành trung tâm hành chính khai thác Nam kỳ, “Hòn ngọc Viễn Đông”.

Ngày 11/4/1861, Phó đô đốc Léonard Charner ra nghị định xác định địa giới Sài Gòn (ville de Saigon): Phía đông là sông Sài Gòn, phía bắc là rạch Thị Nghè, phía nam là rạch Bến Nghé, phía tây là từ chùa Cây Mai đến đồn Kỳ Hòa, diện tích khoảng 25km2.

Ngày 30/4/1864, Coffyn lập dự án quy hoạch nổi tiếng mang tên “Thành phố Sài Gòn 500.000 dân” (Saigon ville de 500.000 âmes), quy hoạch này đựa vào quy hoạch phòng thủ của Nguyễn Cửu Đàm đưa ra trước đó 90 năm. Tuy nhiên Nguyễn Cửu Đàm đưa ra quy hoạch chỉ cho 100.000 dân. Do quy hoạch của Coffyn quá lớn, người Pháp cũng muốn đảm bảo trị an, nên đã quyết định quy hoạch thành phố nhỏ hơn.

Năm 1865, Thống đốc Nam Kỳ, Chuẩn đô đốc Pierre Rose ban hành nghị định quy hoạch lại Sài Gòn với diện tích chỉ 3km2 nằm ở trung tâm quận 1 ngày nay.

Nhận thấy thời điểm này khu Chợ Lớn của người Hoa phát triển nhanh chóng, người Pháp quyết định tách Chợ Lớn ra để khu vực này chuyên về phát triển thương nghiệp.

Người Pháp cũng bán rẻ đất hoang cho những ai muốn làm ruộng vườn. Một khi đất hoang có người cư trú, giá đất Sài Gòn cũng sẽ được nâng lên, tốc độ đô thị hóa cũng tăng theo.

Cải tạo mặt bằng

Địa hình Sài Gòn ở phía bắc cao, trũng về phía nam. Người Pháp cho làm nhiều kênh ở vùng trũng thấp phía nam, để nước từ trên cao chảy xuống làm sạch các vùng đầm lầy đồng thời giúp thông đường thủy giao thông bằng ghe thuyền thuận lợi, lại lấp được các vùng trũng khác.

Khu vực đường Nguyễn Huệ, đường Lê Lợi, đường vào cổng chính ở Ba Son trước đây là những con kênh vùng trũng. Người Pháp cho san bằng những vùng đồi phía bắc, lấy đất lấp những con kênh này.

Xây dựng hệ thống giao thông

Về đường bộ, sau 2 năm cải tạo mặt bằng, vùng trũng gồ ghề đã được lấp với những công trình mới, có được không gian thoáng đãng, các con đường được hình thành và trải nhựa, có vỉa hè hai bên với hàng cây thẳng tắp.

Đường thủy Sài Gòn có thể vươn đến các tỉnh miền tây và sang tận Cao Miên, trở thành một trong những thương cảng quan trọng ở khu vực Viễn Đông.

Giao thông thời kỳ này phát triển mạnh, đặc biệt là giao thông đường thủy với nhiều hệ thống kênh rạch. Thương cảng Sài Gòn (tiền thân của cảng Sài Gòn sau này) đi vào hoạt động với 3 bến lớn là Bến Nhà Rồng (428 m), Bến Khánh Hội (1.264 m), Bến Tân Thuận (866 m).

Sau khi xây dựng xong các công trình hạ tầng cho bộ máy hành chính, năm 1874, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh chính thức thành lập thành phố Sài Gòn. Từ đó Sài Gòn không ngừng phát triển và mở rộng dần dần.

Các công trình kiến trúc

Nhiều công trình cổ kính mà sang trọng mọc lên làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt thành phố như Bến Nhà Rồng, Xưởng đóng tàu Ba Son, Tòa Soái phủ Nam Kỳ (nay là Bảo tàng thành phố), Thư viện Sài Gòn, dinh Xã Tây (nay là Trụ sở UBND thành phố)…

 

Các công trình kiến trúc cổ kính sau đây đã làm nên bộ mặt của “Hòn ngọc viễn đông”:

– Dinh Thống Đốc (nay là Bảo tàng thành phố): Được xây dựng xong vào năm 1864, phỏng theo kiến trúc của Bảo tàng hội họa Munich do kiến trúc sư Foulhou thiết kế.

Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” như thế nào? – 4

Dinh Thống Đốc Nam Kỳ năn 1936. (Ảnh: Mạnh Hải/Flickr)

– Dinh Toàn quyền (nay là Hội trường thống nhất): Khởi công xây dựng từ tháng 2/1868, hoàn thành vào năm 1873 do kiến trúc sư Hermitte thiết kế.

– Dinh Xã Tây (nay là UBND TP): Khởi công xây dựng từ năm 1898, khánh thành năm 1909, do kiến trúc sư P.Gardès thiết kế.

– Nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố): Xây dựng năm 1898, khánh thành vào ngày 1/1/1900, do kiến trúc sư Berger thiết kế.

– Bưu điện Sài Gòn: Khởi công xây dựng năm 1886 và hoàn thành vào năm 1891, đây là dịch vụ rất lạ đối với người Việt vào lúc đó.

Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” như thế nào? – 7

Bưu điện Sài Gòn xưa. (Ảnh từ khampha.vn)

– Nhà Thờ Đức Bà: Khởi công năm 1877 và khánh thành vào năm 1880, kinh phí xây dựng là 2,5 triệu franc, đây là số tiền rất lớn vào lúc đó. Đến năm 1895 thì xây thêm 2 tháp chuông nhọn.

Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” như thế nào? – 8

Nhà Thờ Đức Bà. (Ảnh: Mạnh Hải/Flickr)

– Chợ Bến Thành: Xây dựng vào năm 1912, đến năm 1914 thì khánh thành, đây là chợ trung tâm thành phố, nổi tiếng đến ngày nay.

Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” như thế nào? – 9

Chợ Bến Thành. (Ảnh: Mạnh Hải/Flickr)

– Các tuyến đường Catinat (Đồng Khởi), Bonard (Lê Lợi), Charner (Nguyễn Huệ), De La Somme (Hàm Nghi) là những con đường tiêu biểu với các các kiến trúc cổ kính, tô điểm cho bộ mặt thành phố Sài Gòn. Trong đó Catinat là con đường của giới thượng lưu, nổi tiếng thanh lịch.

Thời đó người ta xem Sài Gòn là “Perle de l’Orient” tức là “Hòn ngọc Viễn Đông”.

Cảng Sài Gòn từng là thương cảng hàng đầu vùng Viễn Đông

Sài Gòn là nơi gặp gỡ giữa châu thổ đồng bằng sông Cửu Long và vùng đất đỏ Đông Nam bộ. Nơi đây không chỉ gần biển mà còn có hệ thống sông và kênh rạch kết nối Sài Gòn và các vùng đất của Nam bộ, sang Campuchia vươn đến tận thủ đô Phnom Penh. Do vậy Thương cảng Sài Gòn từng đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử giao thương tại khu vực Viễn Đông.

Vị trí thuận lợi

Vị trí của Cảng nằm trên sông Sài Gòn, ăn sâu 80 km vào đất liền, tránh được những cơn bão lớn, lại thông với 2.000 km luồng lạch lớn chảy qua các vùng đồng bằng, vươn đến tận Phnom Pênh. Do tại đây sông rộng và sâu nên các tàu lớn cũng có thể cập cảng và tránh nhau dễ dàng.

Khi người Pháp đến khu vực này đã phát hiện ra rằng không nơi đâu trên bán đảo Đông Dương có vị trí giao thương thuận lợi như Sài Gòn. Do vậy họ kỳ vọng biến nơi đây thành cửa ngõ giao thương quan trọng nhất cho toàn bộ Đông Dương.

Sau khi chiếm được Gia Định năm 1859, dù chưa ổn định được tình hình thì ngày 22/2/1860, người Pháp đã thành lập Cảng Sài Gòn và đầu tư vào đây. Thương cảng Sài Gòn chính thức hoạt động từ thời điểm này.

Thương cảng hàng đầu vùng Viễn Đông

Theo tư liệu về Sài Gòn xưa, ngay từ năm 1860, tức chỉ sau 1 năm người Pháp đến Gia Định, đã có 246 tàu phương Tây và thuyền buồm Trung Hoa đưa các hàng hóa đến và đi từ Cảng Sài Gòn.

Số hàng xuất khẩu chủ yếu là gạo chiếm 85% với số tiền là 5,184 triệu quan Pháp, giá trị hàng nhập khẩu tương đương 1,5 triệu quan Pháp (10 quan Pháp = 1 đồng bạc Đông Dương), doanh số mậu dịch trong năm là 7,7 triệu franc.

Để thuận tiện cho các tàu đến đây, Hải đăng Cap Saint-Jacques được xây dựng ở Vũng Tàu và bắt đầu hoạt động từ ngày 15/8/1862.

Theo số liệu để lại thì năm 1862, có 117 tàu châu Âu đến Sài Gòn với tổng trọng tải là 53.200 tấn, 129 tàu châu Âu rời cảng Sài Gòn chở đi 42.470 tấn gạo, 1.023 kiện bông, 1.746 kiện vải và 357 tấn lúa.

Hàng xuất khẩu ngoài gạo ra còn có cá khô ở Biển Hồ (Cao Miên), dầu thực vật, đường mía, rau sấy khô, gòn. Những năm sau đó hàng xuất khẩu có thêm tơ tằm, muối, đay, gỗ.

Việc xuất khẩu gỗ mang lại món lợi lớn nên Pháp thúc đẩy việc khai thác gỗ, năm 1864 giá trị xuất khẩu gỗ lên đến 11 triệu quan Pháp.

Thương cảng lớn này cũng thúc đẩy các nghề sản xuất trong nước phát triển mạnh, giúp dân chúng có được việc làm và nguồn thu nhập, tuy nhiên nguồn lợi lớn nhất rơi vào tay người Pháp.

Thương cảng phát triển đòi hỏi phải có dịch vụ sửa chữa tàu. Năm 1864, người Pháp thành lập xưởng BaSon, quy tụ các thợ cơ khí lành nghề lúc đó. Ngoài sửa chữa thì xưởng cũng đóng mới các tàu thuyền có trọng tải nhỏ.

Năm 1866, trọng tải hàng hóa vào cảng Sài Gòn là 600.000 tấn. Các mặt hàng xuất khẩu gồm 100.000 tấn gạo, 2.687 tấn bông, 42 tấn tơ lụa, 150 tấn muối. Qua năm sau 1867, Sài Gòn đã xuất khẩu 193.000 tấn gạo tức gần gấp đôi so với năm trước.

Trong 1 năm từ 1/7/1866 đến 30/6/1867, có 887 tàu đến giao thương, giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu là 53 triệu quan Pháp, đây là số tiền rất lớn vào thời điểm đó.

Từ năm 1867, Sài Gòn là một thương cảng phồn vinh và có sức hút lớn, cùng với các thương cảng khác ở Singapore, Batavia, Manila, trở thành những thương cảng hàng đầu khu vực Viễn Đông.

Dần không cạnh tranh được

Sau giai đoạn này, Thương cảng Sài Gòn vẫn phát triển nhưng tốc độ không bằng cảng ở Singapore, Hongkong. Đến đầu thế kỷ 20 thương cảng ở Sài Gòn tụt xuống thứ 8 ở vùng viễn Đông, 75% lượng hóa hóa xuất khẩu Đông Dương đi qua đây, riêng xuất khẩu gạo thì liên tục đứng nhất và nhì thế giới.

Trong một báo cáo của Phòng Thương mại Sài Gòn E. Dierx năm 1887 thì Thương cảng Sài Gòn lúc đó có những hạn chế nên không thể cạnh tranh được với Singapore, Hongkong và thậm chí là Jarkarta. Thương cảng Sài Gòn nằm sâu trong đất liền, với 70 km đường sông ngoằn nghèo, chi phí vào cảng lại cao.

Lúc đó đã có đề xuất nên cho Thương cảng Sài Gòn trở thành một kiểu đặc khu, được miễn thuế xuất nhập khẩu, nhưng Phòng Thương mại lúc đó đã không đồng ý.

Sau này Toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer đã tỏ ra luyến tiếc vì việc chậm đầu tư hạ tầng nhằm biến Thương cảng Sài Gòn thành một trong những hải cảng hàng đầu Viễn Đông. Các khoản đầu tư của người Pháp đã tập trung vào những công trình kiến trúc giúp Sài Gòn trở thành Hòn ngọc Viễn Đông mà bỏ qua Thương cảng Sài Gòn.

Góc nhìn An- Nam sưu tầm 

HẠNH PHÚC

Rung Nga Nguyen

Hạnh phúc là cảm giác đến từ trái tim là tâm trạng tồn tại ở mọi nơi trong cuộc sống. Hạnh phúc của mỗi người khác nhau. Hạnh phúc không phải sống lâu trăm tuổi, không phải quyền thế đầy mình, giàu sang phú quý, sức khỏe tràn trề, tiền bạc dư thừa… Hạnh phúc là khi nguyện vọng chính đáng của bạn trở thành hiện thực. Khi đói được ăn no. Khi khát được uống nước. Muốn yêu có người yêu, muốn gì được nấy…

Đôi khi hạnh phúc là một mục tiêu phải bôn ba vất vả mới tìm kiếm được, đôi khi hạnh phúc là một so sánh khi thấy từ bất hạnh của người khác. Hạnh phúc là một loại cảm giác, một loại tâm trạng, chỉ cần bạn hiểu được, nó tồn tại trong mọi nơi của cuộc sống.

Được sinh ra đó là hạnh phúc để có thể trải nghiệm được mọi sắc thái của cuộc sống này. Nên người ta hay chúc Happy Birthday, Happy Anniversary, Happy new year…Có chuyện kể ông Chu Nguyên Chương lập ra nhà Minh bên Trung hoa là một nông dân nghèo, bố mẹ chết vào chùa tu đi khất thực, sau vào lính dưới trướng tướng quân họ Quách tính tình nhanh nhẹn được giao cho cầm quân đánh giặc, số ông may mắn đánh đâu thắng đó, được tướng quân thương cất nhắc lên và gả con gái cho. Sau khi tướng quân mất ông lên thay thế, sau này lật đổ được nhà Nguyên là quân Mông cổ đang cai trị Trung hoa lúc bấy giờ và lập nên nhà Minh lấy hiệu là Minh Thái Tổ.

Khi làm vua vì ít học nên ông hay mặc cảm các quan lên tâu vua người nào ông thấy ngờ vực đoán là có ý mỉa mai là ông chặt đầu, ông đã giết oan rất nhiều người vô tội. Tính hay nghi ngờ nên ông hay giả dạng thường dân đi nhiều nơi để nghe ngóng. Vào một dịp ngày 30 tết đến một làng kia thấy đám đông tụ tập cười đùa, ông liền lẻn vào xem và thấy một họa sĩ vẽ bức tranh cô gái Trung hoa ôm quả dưa hấu ngày xuân, bắp chân và bàn chân quá lớn vì là con nhà lao động, con nhà giầu không làm gì lại có tục lệ bó chân cho chân thon nhỏ gọn đẹp! Đám đông đó cười chế diễu người chân to! Vợ vua chân to nên ông động lòng nói vị quan ghi tên những người cười chê người chân to, khi về ông ra lệnh những người không cười quan cho người đến dán chữ phúc ở trước cửa, đêm đó vua ra lệnh đến tịch thu hết tài sản những nhà không có chữ phúc trước cửa. Từ đó thành một tục lệ cứ đến ngày xuân dán chữ phúc ở cửa để cầu may mắn trong năm mới và trên những quyển lịch của năm mới cũng in chữ Phúc.

Sống là một điều hạnh phúc mà Chết cũng là hạnh phúc, bởi bạn đã vượt qua đời là bể khổ để trở về cõi vĩnh hằng. Có bạn bè là hạnh phúc, bởi vui buồn giận hờn có người chia sẻ. Cô độc cũng là hạnh phúc, bởi được hưởng thụ sự yên tĩnh để thanh lọc tâm hồn. Mọi chuyện đều thuận lợi, đó là hạnh phúc, bởi đang đón nhận món quà từ Thượng Đế. Xuất chúng cũng là hạnh phúc khi được người khác tôn sùng, được người khác ngưỡng mộ. Tuổi trẻ là hạnh phúc vì có tương lai vô tận và hy vọng tràn trề. Tuổi già cũng là hạnh phúc vì đã từng trải có nhiều kinh nghiệm phong phú và nhiều kỷ niệm vui buồn trong cuộc sống.

Nhưng có lời khuyên là đừng kiếm tìm hạnh phúc ở đâu xa, hạnh phúc ngay bên mình trong trái tim khi đạt được đầy đủ những ước vọng của cuộc đời, con cháu thành nhân thành tài cảm thấy thoải mái, đó là thứ hạnh phúc ở đời này cho thân xác bạn, nhưng hạnh phúc đích thực cho linh hồn ở đời sau mới là thứ hạnh phúc vĩnh cửu mà bạn nên chú tâm kiếm tìm ngay từ bây giờ.

St

NGHĨA KHÍ DƯƠNG TỰ TRỌNG

Lê Vi

Dương Tự Trọng nổi danh trong vụ án giải cứu cho anh trai Dương Chí Dũng. Khi ra toà, nhiều nhân vật có máu mặt, kéo theo cả nhà văn, nhà thơ ngợi ca Dương Tự Trọng “nghĩa khí” và viết tâm thư xin toà giảm án cho người hùng, thi nhân đất cảng.

Giang hồ còn đồn cựu Phó Giám đốc công an Hải Phòng, Thủ trưởng cơ quan điều tra hình sự Dương Tự Trọng không chỉ có “nghĩa khí” với anh trai của mình mà còn rất có “nghĩa khí” với các băng nhóm giang hồ đất cảng. Trong vụ án giải cứu cho anh trai của mình, Dương Tự Trọng có nhờ đến 3 đàn em trong giới giang hồ giúp sức. Phải rất nặng ân tình với giang hồ, giang hồ mới có hành vi nghĩa hiệp, sẵn sàng xả thân như vậy.

Được biết sau khi ra tù, Dương Tự Trọng lại hành hiệp cứu người bằng nghề thầy thuốc. Mấy hôm nay, trước cuộc hành hình tử tù Nguyễn Văn Chưởng, cái tên Dương Tự Trọng lại trôi nổi trên mạng. Một số người kêu gọi anh hùng, nhà thơ, thầy thuốc Dương Tự Trọng hãy đứng ra giải oan và cứu tính mạng cho chàng trai mới chỉ 30 xuân xanh. Nguyễn Văn Chưởng oan hay không oan, là người điều tra vụ án, Dương Tự Trọng biết rõ hơn cả. Tôi tin việc cùng nhau kêu gọi hay tác động đến Dương Tự Trọng có tác dụng hơn cả vạn người đang ầm ĩ nhắn tin hay viết thư cho Chủ tịch nước.

Nếu khi đó vì thành tích, vì để được phong anh hùng và để được thăng chức Phó Giám đốc, thậm chí vì nghĩa khí muốn cứu một anh em giang hồ nào đó phạm tội giết người, buộc phải đem Nguyễn Văn Chưởng ra thế mạng thì cũng đã đến lúc anh nên nói ra sự thật. Đó mới là người anh hùng có nghĩa khí thật sự, đáng trân trọng và ngưỡng mộ.

Chu Mộng Long

Tham vọng đối địch với Tesla của Vingroup đang đối diện một con đường gập ghềnh

Báo Tiếng Dân

Nikkei Asia

Tác giảYuji Nitta

Cù Tuấn, biên dịch

4-8-2023

Bà Thủy, CEO VinFast nói chuyện với Chủ tịch HĐQT Phạm Nhật Vượng. Ảnh trên mạng

Tóm tắt: VinFast đang rất khó khăn để tạo ra lợi nhuận trong bối cảnh tiền đầu tư trả trước quá lớn.

HÀ NỘI – Tập đoàn Vingroup của Việt Nam đã đặt cược lớn vào việc toàn cầu sẽ chuyển sang dùng xe điện. Nhưng hoạt động kinh doanh xe điện của họ rất khó để cất cánh, bị sa lầy do thị trường nội địa chậm tiếp nhận điện khí hóa và việc triển khai gặp khó khăn trên thị trường Mỹ.

VinFast, nhánh xe điện của tập đoàn này, tự hào có một cơ sở sản xuất tiên tiến trên đảo Cát Hải ở thành phố cảng Hải Phòng.

Đây là “cơ sở sản xuất đẳng cấp thế giới với 90% quy trình được tự động hóa”, Giám đốc điều hành VinFast Lê Thị Thu Thủy cho biết trong chuyến thăm địa điểm này gần đây.

Bà Thủy nói: “Sức mạnh của VinFast nằm ở tốc độ. Chúng tôi có thể làm những việc mà các nhà sản xuất hiện có với hệ thống [ra quyết định] phức tạp không thể làm được“.

Năm 2019, VinFast trở thành công ty Việt Nam đầu tiên sản xuất xe xăng tại Việt Nam. Công ty này đã chuyển sang xe điện vào năm 2021 trong nỗ lực thúc đẩy quá trình điện khí hóa toàn cầu, trước khi từ bỏ hoàn toàn việc sản xuất xe chạy bằng xăng vào năm 2022.

Thiết kế nội thất cho các dòng xe của VinFast bắt chước xe điện của gã khổng lồ Tesla trong việc loại bỏ các đồng hồ đo vật lý và công tắc để chuyển sang một màn hình lớn ở trung tâm bảng điều khiển. Tất cả bốn mẫu xe điện của công ty, bao gồm cả xe thể thao đa dụng, đều được sản xuất tại nhà máy ở Hải Phòng, với đội ngũ nhân viên bao gồm các kỹ thuật viên và kỹ sư nước ngoài đến từ khoảng 30 quốc gia.

Một chuyên gia máy ép đến từ Brazil với gần 30 năm kinh nghiệm tại Hyundai Motor và các nhà sản xuất ô tô khác cho biết ông gia nhập Vinfast để đón nhận một thách thức mới. Một chuyên gia Thổ Nhĩ Kỳ giám sát quá trình lắp ráp đến từ nhà sản xuất ô tô châu Âu Stellantis. Các công nhân khác đã đến đây từ Toyota Motor, General Motors và Tesla.

Nhưng tỷ lệ sử dụng vẫn còn thấp tại nhà máy Hải Phòng trên, trong bối cảnh nhu cầu trong nước khá ảm đạm. Thị trường xe truyền động 4 bánh (4WD) của Việt Nam còn nhỏ, với quy mô hàng năm từ 400.000 đến 500.000 chiếc do xe truyền động 2 bánh (2WD) giá rẻ được ưa chuộng hơn tại quốc gia này. Xe điện, bao gồm cả xe điện của các công ty đối thủ như Tesla, hiếm khi xuất hiện trên đường phố.

VinFast chỉ bán được 7.400 xe vào năm 2022. Giả sử năng lực sản xuất của nhà máy ở Hải Phòng là 38 chiếc mỗi giờ, hoặc tối đa là 250.000 chiếc mỗi năm, thì hiệu suất sử dụng nhà máy đối với việc sản xuất xe điện vào năm ngoái chỉ ở mức khoảng 3%.

Ngoài việc lắp đặt các cơ sở sạc điện tại các khu vực đô thị như Hà Nội, Vingroup đang sản xuất pin ô tô cùng với công ty Contemporary Amperex Technology của Trung Quốc (CATL) và cũng đã bắt đầu tái chế pin. Công ty này đã tham gia vào thị trường taxi xe điện và đang hợp tác với một công ty khởi nghiệp ứng dụng gọi xe.

Để khuyến khích những người tiêu dùng còn nghi ngờ về xe điện, công ty thậm chí đã bắt đầu quảng bá dịch vụ mua lại những chiếc xe điện đã qua sử dụng sau 5 năm.

Các công ty trong Vingroup bổ sung cho nhau và chuyên môn của chúng tôi có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp”, bà Thủy nói.

Trong khi cố gắng nuôi dưỡng thị trường trong nước, VinFast cũng có ý định giành lấy một phần thị trường khổng lồ ở Mỹ, nhưng việc tung xe điện ra quá vội vàng đã dẫn đến một chuyến đi gập ghềnh.

Sau một thời gian trì hoãn, công ty này đã buộc phải thu hồi tất cả 999 chiếc xe đã được vận chuyển đến Mỹ trong đợt đầu tiên. Lỗi phần mềm gây ra việc thu hồi là một mối lo ngại ngay cả trước khi xuất khẩu xe sang Mỹ. Việc khởi động sản xuất tại nhà máy của VinFast ở Mỹ, dự kiến có công suất sản xuất hàng năm là 150.000 chiếc, cũng đã bị lùi lại từ tháng 7 năm 2024 đến năm 2025 hoặc muộn hơn.

Do phải chi trước nhiều khoản tiền, hoạt động kinh doanh sản xuất của VinFast – bao gồm cả xe điện – đang báo lỗ 14 nghìn tỷ đồng (khoảng 590 triệu USD) trong nửa đầu năm 2023. Con số này là cải thiện nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái với khoản lỗ 16 nghìn tỷ đồng.

Đến năm 2024, doanh số sẽ đạt 60.000 đến 70.000 xe và EBITA [thu nhập trước lãi vay, thuế và khấu hao] sẽ là hòa vốn”, nhà sáng lập Vingroup Phạm Nhật Vượng cho biết vào tháng 5. “Chúng tôi sẽ có thể tạo ra lợi nhuận trong năm tài chính 2025“. Nhưng triển vọng khá u ám.

Ông Vượng được mệnh danh là ông vua bất động sản Việt Nam. Công việc kinh doanh mì ăn liền mà ông bắt đầu ở Ukraine vào năm 1993 là bước đi đầu tiên của ông với tư cách là một doanh nhân. Vào những năm 2000, ông đã đầu tư số tiền kiếm được từ liên doanh đó vào một cơ sở thương mại và một khu nghỉ dưỡng ở quê nhà. Đón đầu làn sóng tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, ông trở thành một trong những người giàu nhất Việt Nam.

Ông Vượng là một người nhạy bén, dám chấp nhận rủi ro và nhanh chóng từ bỏ công việc kinh doanh khi ông thấy chúng sẽ thất bại. Trước đây, Vingroup đã từng lấn sân sang điện thoại thông minh và TV, nhưng ông Vượng đã quyết định rút lui chỉ sau hai hoặc ba năm. Ông đã tìm cách tạo ra một thương hiệu đồ gia dụng trong nước nhưng không thể cạnh tranh với các đối thủ hàng đầu của Trung Quốc và Hàn Quốc.

Đó là lý do tại sao quyết định của ông Vượng nhằm hỗ trợ VinFast với 1 tỷ đô la từ tài sản cá nhân của chính mình vào mùa xuân này có thể được coi là một dấu hiệu cho thấy cam kết sâu sắc của ông đối với hoạt động kinh doanh xe điện.

Tuy nhiên, ông Vượng không thể chỉ ngồi chờ VinFast cất cánh. Mặc dù đã đầu tư hàng tỷ đô la, nhưng chi phí trả trước sẽ còn tăng thêm do việc xây dựng nhà máy ở Mỹ, cũng như chi phí nghiên cứu và phát triển.

Doanh thu của toàn tập đoàn đã tăng lên trong 10 năm qua, nhưng lợi nhuận đã không theo kịp, khiến tập đoàn rơi vào tình trạng lỗ ròng vào năm 2021. Khi tổng tài sản của tập đoàn tăng nhanh sau năm 2019, khi công ty bắt đầu sản xuất xe ô tô chạy xăng, hiệu quả sử dụng tài sản của công ty trở nên xấu đi. Giá cổ phiếu của Vingroup hiện tại chưa bằng một nửa so với mức đỉnh trước khi bắt đầu sản xuất xe điện.

Việc niêm yết chứng khoán của VinFast tại Mỹ, vốn được chờ đợi từ lâu, cũng gặp nhiều khó khăn. VinFast đã gấp rút nộp đơn đăng ký niêm yết vào cuối năm 2022, nhưng con đường đến với đợt chào bán lần đầu ra công chúng gặp nhiều cản trở. Vào tháng 5, VinFast chuyển sang niêm yết thông qua việc sáp nhập với một công ty mua lại đặc biệt, công ty này sẽ tổ chức cuộc họp cổ đông vào ngày 10 tháng 8 để thông qua việc sáp nhập.

Biết thua để nhường chỗ cho công lý

Báo Tiếng Dân

Huy Đức

9-8-2023

Trong lịch sử tư pháp của Việt Nam mà tôi quan sát, hiếm khi có một vụ trọng án mà cơ quan điều tra chịu bó tay. Không ít vụ án được phá trong một thời gian kỷ lục. Nhưng, cũng hiếm khi tôi thấy những vụ án oan nghiêm trọng nhất được chủ động phát hiện bởi các cơ quan tố tụng.

Năm 1983, cho dù mang “trái tim trong trắng” [kịch Lưu Quang Vũ], ông Nguyễn Sỹ Lý vẫn bị giam cầm 2.000 ngày. Và, ông Lý chỉ được minh oan khi một người bạn tù được tha trước, âm thầm giúp ông tìm ra thủ phạm. Ông Huỳnh Văn Nén cũng chỉ nhìn thấy ánh sáng sau 17 năm nhờ hung thủ, bị giữ tình cờ trong một vụ vi phạm luật giao thông, tự thú. Ông Nguyễn Thanh Chấn ở tù 10 năm cho đến khi hung thủ tự đến đồn công an.

Chuyện không phải của thời mông muội. Chỉ mới cách đây 10 năm, 7 thanh niên ở Sóc Trăng cũng chỉ được minh oan sau 4 tháng tạm giam nhờ hai nữ hung thủ cướp của giết người ra đầu thú.

Những người chịu “án oan thế kỷ”, trong phòng tạm giam, đều khai nhận “hành vì giết người” hoàn hảo. Trừ 7 thanh niên ở Sóc Trăng, tất cả, khi đứng trước tòa, đều phản cung và đều bị tòa căn cứ “án tại hồ sơ”, bác bỏ. Và, chỉ khi hung thủ thật bị lương tâm cắn rứt khai ra, những gì họ tố cáo bị bức cung mới được xác nhận hóa ra là đúng.

Với hai tử tù Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải, nếu thực sự oan, không rõ, chúng ta có thể chờ đợi lương tâm của những người đã tiến hành tố tụng hay lại phải chờ lương tâm hung thủ.

Khi nhậm chức, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng yêu cầu công tác xét xử “không được để xảy ra oan sai”. Đây là điều mà những người tiền nhiệm ông cũng đều nhấn mạnh.

Không phải lúc nào thông điệp này cũng được diễn dịch giống nhau. Nó tùy thuộc vào một hệ thống tư pháp sợ OAN cho thường dân hay chỉ sợ cái SAI của mình bị phát hiện.

Tôi không biết hiện nay, ngành tòa án có còn giữ tiêu chí “án bị cải sửa” làm căn cứ bình xét thi đua và căn cứ để tái bổ nhiệm thẩm phán nữa không. Sợ sai, sợ án bị cải sửa là lý do mà các cơ quan tố tụng rất khó từ bỏ một tiền lệ rất sai là họp án [“ba bộ đồng tình…”] và thỉnh thị án.

Nếu một nền tư pháp vận hành theo hướng để dân không bị OAN, nền tư pháp đó phải luôn đặt ra khả năng tố tụng có thể SAI. Không phải tự nhiên mà ngay từ xa xưa loài người đã nghĩ đến việc tách bạch các cơ quan tố tụng và phân ra nhiều cấp xét xử.

Một nền tư pháp mà hướng tới mục tiêu hoàn hảo, các cơ quan tố tụng không bao giờ sai thì chỗ của những người thực sự bị oan là ở trong tù chứ chưa chắc đã phải là những người được tuyên vô tội.

Tôi đã từng phỏng vấn tử tù “Phước Tám Ngón” và có mặt tại pháp trường cái buổi sáng 3 bị án trong vụ Tamexco bị bắn. Trừ những loại giết người do bệnh lý, thích chơi trò cân não với cơ quan điều tra, phần lớn những hung thủ thật sự giết người rất ít khi kêu oan. Chúng chấp nhận đã vay [mạng người] thì trả.

Chúng ta đang nghe những lời kêu oan từ hai bị án Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải. Chúng ta có thể vĩnh viễn không biết sự thật nằm ở đâu. Nhưng, tôi nghĩ những người tiến hành tố tụng trong hai vụ án này biết rõ.

Chúng ta đã phải đợi cho đến khi hung thủ thật sự ra đầu thú mới biết là Nguyễn Sỹ Lý, Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Thanh Chấn bị oan. Nhưng, những người tiến hành tố tụng chắc chắn đã biết điều đó khi họ bắt đầu sử dụng nhục hình và mớm cung bị cáo.

Đã từng có khá nhiều hung thủ thật ra đầu thú để minh oan cho người gánh án thay mình; nhưng, trong nền tư pháp nước ta, ít khi có một cán bộ từng tiến hành tố tụng tự nhận là mình sai để minh oan cho nạn nhân của chính mình và cộng sự.

Trong các vụ án oan như Nguyễn Sỹ Lý, Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Thanh Chấn… đều có vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Chúng ta chứng kiến, việc khăng khăng tuyên bố “sai phạm tố tụng” nhưng “không làm thay đổi bản chất vụ án” đáng sợ thế nào.

Một nền tư pháp mà chỉ sợ lộ ra cái SAI sẽ không bao giờ tránh được OAN [khiên – cho dân].

Cứ tống vào tù một dân oan là cấp phép tự do cho một tên tội phạm [hung thủ trong vụ án Huỳnh Văn Nén từng gây án đâm, chém trong thời gian ông Nén bị tù oan].

Không có mô hình tư pháp nào hoàn hảo. Mô hình ưu việt hơn không phải là có khả năng lập thành tích “phá án 100%”, là không phải không có “án bị cải sửa” mà là có khả năng tự phát hiện sai sót.

Mục tiêu của một nền tư pháp là công lý chứ không chỉ là phá án. Chính vì thế mà trong nhiều trường hợp, các cơ quan tố tụng phải chấp nhận thua; bởi, một khi các cơ quan tố tụng cứ khăng khăng thắng sẽ không có chỗ cho công lý.

BA BÓNG ĐEN TRÙM XUỐNG BẢN ÁN TỬ HÌNH OAN NGUYỄN VĂN CHƯỞNG

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Án mạng giết hại thiếu tá công an Nguyễn Văn Sinh đêm 14.7.2007 ở đường vào cảng Đình Vũ, thành phố Hải Phòng là bản án quá đơn giản, không có gì phức tạp, không khó phá án, không khó tìm ra bàn tay vấy máu nạn nhân Nguyễn Văn Sinh.

Nhưng cũng như vụ án hai cô gái ở bưu điện Cầu Voi, Thủ Thừa, Long An bị giết hại tối 13.1.2008, cơ quan điều tra không hướng vào truy tìm kẻ thủ ác đích thực nên vội vàng huỷ tang vật vụ án. Con dao, cái thớt ở chỗ hai cô gái bị giết, dính máu nạn nhân đương nhiên cũng có cả dấu vết bàn tay tội ác. Con dao bị giấu nhẹm. Cái thớt bị thiêu trong đống lửa. Cảnh sát điều tra ra chợ mua dao thớt mới thay thế chỉ cốt cho có tang vật thì rõ ràng họ không cần truy tìm kẻ đích thực giết hai cô gái.

Tang chứng của thủ phạm đích thực bị huỷ bỏ mất tăm tích để tạo ra tang chứng áp đặt bằng bạo lực nhục hình ép cung, buộc tội người ngoại phạm. Bạo lực nhục hình ép cung đã tạo ra nhiều bản án tử hình oan rải ra trong không gian rộng lớn trên cả nước và kéo dài trong thời gian nhiều chục năm qua mà những tử tù oan Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long, Nguyễn Thanh Chấn và những cái chết oan như Ngô Thanh Kiều là dẫn chứng.

Bản án tử hình Nguyễn Văn Chưởng cũng trong vòng xoáy bạo lực nhục hình, ép cung như bản án tử hình với Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Thanh Chấn, Hàn Đức Long nhưng khủng khiếp hơn, trắng trợn hơn và trùng trùng nhiều tầng lớp áp đặt hơn. Thiếu minh bạch, không có ánh sáng công lí nên trong bản án tử hình oan Nguyễn Văn Chưởng thấy lù lù những bóng đen, những khoảng tối trùm xuống bản án . Bịt bùng nhất, nặng nề nhất và khủng khiếp nhất là ba bóng đen Đỗ Hữu Ca, Dương Tự Trọng và Trương Hoà Bình.

Trong đó hai bóng đen tạo ra bản án tử hình oan cho Chưởng là Đỗ Hữu Ca và Dương Tự Trọng. Bóng đen Trương Hoà Bình, Chánh án Toà án Tối Cao đủ tầm bao phủ chặn kín cánh cửa giải oan, xoá án oan cho dân đen lương thiện Nguyễn Văn Chưởng. Bóng đen bịt kín buồng giam tử tù Nguyễn Văn Chưởng không còn một khe hở cho ánh sáng công lí soi vào đến nỗi Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội Nguyễn Văn Hiện đã từng là Chánh án Toà án Tối cao phải ngửa mặt lên trời than cho phận dân đen phải chịu oan khiên tức tưởi và tuyệt vọng: “Vụ án Nguyễn Văn Chưởng có phát hiện sai sót thì cũng hết đường kháng nghị!”

Án mạng giết thiếu tá công an Nguyễn Văn Sinh đêm mưa gió 14.7.2007 ở đường vào cảng Đình Vũ, Hải Phòng xảy ra khi đại tá Ca đang là trưởng phòng điều tra tội phạm kiêm phó giám đốc công an Hải Phòng. Vụ án xảy ra khi Ca đang hau háu nhìn lên chiếc ghế giám đốc và thượng tá Trọng là phó của Ca ở phòng điều tra tội phạm đang nôn nóng chờ Ca lên giám đốc để lại chiếc ghế trưởng phòng điều tra tội phạm kiêm phó giám đốc công an thành phố cho Trọng. Thèm khát chức quyền, có vụ án xảy ra, cả hai đều lấy bạo lực, nhục hình, ép cung làm phép màu phá án nhanh. Ca và Trọng đều rất rành phá án nhanh bằng bạo lực. Lúc này càng phải tỏ ra là người hùng phá án nhanh, ghi điểm son để lên chức.

Người dân và chính quyền tranh chấp đất đai chỉ là tranh chấp dân sự thường tình của cuộc sống vốn luôn phát sinh mâu thuẫn. Tranh chấp đất đai đã và đang diễn ra gay gắt trên khấp đất nước. Công an cưỡng chế thu hồi đất tay khiên, tay dùi cui dàn hàng ngang đối mặt với hàng ngàn dân giữ đất kéo dài suốt nhiều năm. Khi căng thẳng nhất công an cũng chỉ vung tay, vung chân với dân. Dữ dội nhất cũng chỉ dùi cui khua loang loáng, gạch đá bay rào rào. Không ở đâu công an nỡ dàn trận, xả súng bắn dân tranh chấp đất đai với chính quyền.

Nhưng trong tranh chấp giữa gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn với chính quyền huyện Tiên Lãng, Hải Phòng về mảnh đất gia đình Vươn đã đổ mồ hôi, đổ cả máu khai hoang lấn biển, Ca và Trọng đã huy động hơn một trăm tay súng công an dàn thế trận đối đầu bằng súng đạn với dân, xả đạn vào ngôi nhà đơn sơ, mỏng manh nơi vợ con Vươn, nơi đàn bà và trẻ con đang nương náu. Nổ súng bắn vào đàn bà, trẻ con, bắn vào người dân một nắng hai sương khai hoang lấn biển, mở đất sản xuất làm ra của cải và đóng thuế cho nhà nước mà Ca hỉ hả sung sướng khoe trận đánh đẹp. Phá án nhanh của đại tá Ca, của thượng tá Trọng là vậy! Phá án bằng bạo lực tàn bạo, man rợ, không còn tính người.

Án mạng giết thiếu tá Sinh có màu sắc, có bóng dáng cuộc thanh toán của xã hội đen, của thế giới ngầm. Không hề có chỉ dấu của vụ giết người, cướp của. Giết người cướp của phải nhằm vào người có của và tay không, yếu thế. Chẳng dại gì nhằm vào công an có súng. Công an đi công vụ trong đêm cũng chẳng ai mang theo của. Có chăng chỉ vài đồng tiền lẻ. Một vụ cướp có tổ chức, có chủ mưu mà Chưởng bị vu cho là chủ mưu không khi nào ra tay giết một mạng người chỉ vì vài đồng tiền lẻ.

Trời mưa gió. Đêm khuya. Đường vắng. Thiếu tá Sinh mặc áo mưa đi xe máy một mình thì không thể là đi tuần. Lâu không thấy Sinh về, đồng đội của Sinh là cảnh sát Phạm Hồng Quang đi tìm thấy Sinh bị giết thì ứng xử của Quang cũng cũng không phải là ứng xử của một cảnh sát với một án mạng, lại là án mạng với đồng đội của mình.

Với cảnh sát, xử lí án mạng là việc thường ngày, là kĩ năng nghiệp vụ. Nghiệp vụ phá án hàng đầu cảnh sát nào cũng phải thuộc lòng là bảo vệ hiện trường, bảo quản nguyên trạng tang vật. Nhưng Quang đến nơi Sinh bị giết liền xoá bỏ ngay hiện trường, thu giấu ngay tang vật.

Quang lột áo mưa, áo cảnh sát, dép…của Sinh gửi ở phòng bảo vệ công ty gần nơi án mạng. Quang thu giữ điện thoại di động, khẩu súng ngắn của Sinh đến chiều hôm sau, 15.7.2007 mới giao lại cho đơn vị đưa vào tang vật vụ án. Quang giữ điện thoại của Sinh một đêm và nửa ngày, liệu lịch sử những cuốc liên lạc của điện thoại có còn nguyên vẹn và đầy đủ?

Vội vàng xoá bỏ nguyên trạng hiện trường vụ án, Quang như muốn che giấu nguyên nhân đích thực dẫn đến cái chết của Sinh. Đây là chi tiết rất quan trong, một hướng cần khai thác đến nơi đến chốn để truy tìm ra kẻ thủ ác đích thực.

Nhưng Ca và Trọng không quan tâm đến sự việc và con người có thật trong vụ án. Ỷ vào bạo lực, có sự táng tận lương tâm, có sự trống rỗng tính người để bắt bất kì dân đen, thân cô thế cô nào cho nếm bạo lực “trận đánh đẹp” của Ca, cho nếm nhục hình, ép cung của đàn em Ca và Trọng, đều phải nhận tội giết người. Đó là thủ thuật phá án nhanh nhất của Ca và Trọng.

Chưởng đã kê khai các cuộc gọi đi, gọi đến điện thoại của Chưởng, 0974.863.087, tối ngày 14.7.2007 là căn cứ rất xác đáng, đủ cơ sở xác định vị trí và hành vi của Chưởng ở thời điểm xảy ra vụ án giết thiếu tá Sinh. Xác minh điều đó là xác minh sự ngoại phạm của Chưởng nên Ca và Trọng lờ đi. Ca và Trọng chỉ dùng bạo lực, nhục hình, ép cung mới nhanh chóng buộc Chưởng phải nhận tội giết thiếu tá Sinh đêm 14.7.2007!

Bạo lực nhục hình, ép cung của lũ cô hồn trong trại giam của công an Hải Phòng chưa đủ, Ca và Trọng còn liên kết với công an Bắc Giang, nơi có nhà gim Kế với những cô hồn máu lạnh, thành thục xài bạo lực, nhục hình, ép cung tạo ra những án oan tử hình Nguyễn Thanh Chấn, Hàn Đức Long chấn động cả nước. Bị đòn nhừ tử ở trại giam công an Hải Phòng, Nguyễn Văn Chưởng lại bị dẫn giải lên Bắc Giang, tống vào nhà giam Kế cho những cô hồn đã buộc Hàn Đức Long, Nguyễn Thanh Chấn chỉ được lựa chọn một trong hai sự nghiệt ngã: Hoặc nhận tội giết người. Hoặc ân đòn đến chết. Với sự ra đòn của những cô hồn đó, dù không giết người, Chưởng cũng phải nhận tội giết người để được sống mà kêu oan.

Bạo lực, nhục hình, ép cung cả với những tiếng nói trung thực. Nguyễn Trọng Đoàn, em Chưởng, Trần Quang Tuất, Trịnh Xuân Trường cùng quê với Chưởng đã viết giấy xác nhận tối 14.7.2007 Chưởng có mặt ở quê, thôn Trung Tính, xã Bình Dân, huyện Kim Thành, Hải Dương, cách nơi án mạng giết thiếu tá Sinh 40 cây số. Bạo lực, nhục hình, ép cung buộc Đoàn, Tuất, Trường phải viết giấy bác bỏ giấy xác nhận cũ, phải viết lại theo lời mớm của công an.

Đỗ Hữu Ca và Dương Tự Trọng đã làm ra bản án tử hình của Nguyễn Văn Chưởng bằng bạo lực nhục hình, ép cung như vậy. Những bản án tử hình oan với Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long, Nguyễn Thanh Chấn, Nguyễn Văn Chưởng, Hồ Duy Hải tạo nên bóng đen trung cổ man rợ trùm lên nền văn minh sông Hồng, trùm lên đất nước văn hiến đang cùng loài người đi vào nền văn minh sáng lạn, văn minh tin học.

PHAN KHÔI-SAO LẠI “TÂM HỒN VONG BẢN”!?- Minh Diện

Nguyễn Hoành

Phan Khôi là một nhân cách lớn, xuất thân từ Nho học rồi bước sang Tây học với nhiều tâm huyết cho nước nhà. Thời xa xưa thơ thì phải đúng vần, đúng luật, phải nói đến tình yêu quê hương, đất nước v.v. Thế nhưng Phan Khôi đã bắn phát súng đầu tiên cho phong trào thơ mới bằng bài “Tình già” trong đó gieo chữ không đúng vần, nói về tình yêu đôi lứa mà là tình vỡ. Trong chương trình văn học phổ thông ở Miền Nam trước đây mở đầu phần Tân văn là bài Tình già, nó đã đi vào văn học sử. Cuộc đời ông bị lên bờ xuống ruộng cũng vì tấm lòng yêu nước nhưng bất hạnh hơn ông có một người con gái xổ toẹt bao nhiêu công sức vì dân vì nước của ông.

Tôi xin trích đăng bài viết của Mình Diện, trích từ Phạm Đức Bảo

Nguyễn Hoành

———————//

SAO LẠI “TÂM HỒN VONG BẢN”!?

Quan tài cha tôi đặt trên chiếc xe song mã màu đen. Đó là loại quan tài xấu nhất được mua phân phối giá hai đồng bảy hào năm xu. Sáu mảnh gỗ tạp, bào qua loa, vênh vẹo đóng đinh qua loa, không sơn phết, tấm thiên, tấm địa và bốn góc đều hở.

Trên nóc quan tài chỉ có ba nén nhang cắm vào quả trứng luộc để trong chén cơm. Không nến, không hoa. Không có một vòng hoa, một bông hoa nào trong đám tang cha tôi. Ngoài con ngựa già kéo xe, chỉ có 10 người đưa đám, kể cả hai nhân viên dịch vụ mai táng và người đánh xe ngựa. Người bạn, người đồng nghiệp duy nhất của cha tôi là nhà thơ Yến Lan, còn lại là người trong gia đình.

Chúng tôi bấu víu vào nhau, đẩy chiếc xe ngựa lăn bánh chậm chạp ra khỏi con hẻm, đi về hướng cửa Đông.

Người hàng phố đứng nhìn đám tang vội vã quay đi. Không ai dám tới dự và đưa cha tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng. Họ đều sợ liên lụy. Lúc cha tôi còn sống họ sợ đã đành, giờ cha tôi đã chết mà họ vẫn sợ.

Chiều mùa Đông gió mưa hun hút, lạnh tê tái.

Chiếc xe ngựa mầu đen và một dúm người mầu đen vón vào nhau líu ríu ra hướng cửa Đông.

Mẹ tôi bảo dừng lại một phút cho cha tôi chào Hà Nội một lần cuối.

Mẹ tôi và chúng tôi thay mặt cha tôi quỳ xuống lạy ba lạy.

Tôi nhớ những ngày mới về tiếp quản Thủ Đô, cha tôi thường dẫn chúng tôi đi thăm năm cửa ô và ba sáu phố phường Hà Nội, kể cho chúng tôi nghe về cụ ngoại tôi, Tổng đốc Hoàng Diệu.

Ông Phan An vừa lom khom chậm rãi bước đi trong con hẻm phố Thuốc Bắc (Hà Nội) vừa kể về đám tang của cha mình, nhà báo, nhà văn Phan Khôi.

Ông cứ nhắc đi nhắc lại, giọng nói như nấc lên:

– Không có đám tang nào ảm đạm như đám tang cha tôi! Không có đám tang nào buồn thảm, thê lương như đám tang cha tôi!

Một lần nữa Phan An lại từ Đà Nẵng ra Hà Nội, tìm về căn nhà số 73 hẻm phố này, nơi cha ông đã sống những ngày cuối cùng.

Ông tìm về quá khứ, tìm về nỗi đau xót mà gần hết cuộc đời vẫn chưa thể nguôi ngoai được.

Cụ Phan Khôi sinh ngày 6/10/1887 tức 20/8 năm Đinh Hợi, ở làng Bảo An, huyện Điện Bàn, Quảng Nam.

Ông nội cụ là Phan Nhu, thân phụ là Phan Trần đều là bậc trí thức nổi tiếng. Mẹ cụ là Hoàng Thị Lê – con gái của Tổng đốc Hà Nội, Hoàng Diệu, người đã chỉ huy quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng. Khi Hà Thành thất thủ, ông tự vẫn ở Võ Miếu ngày 25/4/1882, quyết không để rơi vào tay giặc.

Chú ruột Phan Khôi là Phan Dinh – cha của nhà cách mạng Phan Thanh và Phan Bôi, tức Huỳnh Hữu Nam – nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Phan Khôi có người em gái là mẹ vợ cùa nhà văn Vũ Ngọc Phan và tướng Nguyễn Sơn.

Với một gia thế như vậy nên Phan Khôi được học hành tử tế, và với bản chất thông minh nên cụ là một người đa tài, và với tài năng vượt trội, cụ là một người mạnh mẽ, bộc trực không chịu cúi luồn.

Người thầy đầu tiên của Phan Khôi là Trần Quý Cáp. Chính con người thông minh lỗi lạc, ý chí kiên cường nhất huyện Điện Bàn này đã truyền cho Phan Khôi tri thức và lòng yêu nước nồng nàn.

Năm 1906, mười chín tuổi, Phan Khôi tốt nghiệp tú tài, và hai năm sau, 1908 ông phải chứng kiến cái chết chém ngang lưng của thầy mình.

“Lòng căm thù như ngọn lửa đốt cháy trái tim” Phan Khôi quyết nối bước thầy, tham gia phong trào Duy Tân, theo các cụ Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng chống thực dân Pháp.

Ông bị bắt giam gần một năm rồi được tha. Ông quyết định dùng ngòi bút và nghề báo để chiến đấu.

Phan Khôi kiến thức uyên bác, hiểu biết vô cùng phong phú, tầm hoạt động rộng lớn, đa phương trong sự biến thiên của lịch sử.

Chưa ai có thể tổng kết được thân thế sự nghiệp Phan Khôi, nhưng theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân:

“Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí nhưng qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn.

Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề: phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền.

Ông cũng là một nhà Hán học và Trung Quốc học am hiểu những vấn để của xã hội Trung Quốc đương thời, ông là một dịch giả, đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt, một nhà Việt ngữ học cả ở phần lý thuyết lẫn thực hành; một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học.

Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ, ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận.

Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng trí thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Pham Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng…

Phan Khôi thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho trí thức!”

Phan Khôi là một trong những nạn nhân của “Cuộc đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm” bắt đầu từ năm 1957. Tuy ông không phải đi tù như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, nhưng ông đày đọa khổ sở còn hơn tù.

Ngày 16/1/1959, ông đã ra đi vĩnh viễn thoát khỏi sự đọa đày đó.

Năm 2004, trên các báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong, Người Hà Nội, lần lượt đăng bài phỏng vấn nhà thơ Tố Hữu của Nhật Hoa Khanh.

Theo những bài báo đó, năm 1997, tại 76 Phan Đình Phùng, một trong những biệt thự đẹp nhất Hà Nội, của Pháp để lại, trị giá 7 triệu đô la nhà nước cấp cho Tố Hữu, ông ta đã ca ngợi hết lời nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm, trong đó có Phan Khôi.

Tố Hữu nói: “Trần Đức Thảo là một mẫu mực của lòng say mê nghiên cứu sáng tạo vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt là những trí thức lớn, những cây bút hạng nặng trong đội ngũ trí thức cách mạng!”

Không biết Tố Hữu có nói như vậy thật không?!

Nghe nói khi đã rời quyền lực, Tố Hữu đã sám hối, nhưng bà Vũ Thị Thanh – nguyên Phó Ban Tuyên huấn Trung ương – phu nhân nhà thơ Tố Hữu thì phủ nhận chuyện đó.

Nếu đúng, nó hoàn toàn mâu thuẫn với bốn mươi năm trước, kể từ 1977, khi Tố Hữu còn trẻ, nắm trọng trách công tác tư tưởng, văn hóa, văn nghệ của đảng.

Ngày ấy, Tố Hữu đã “làm bao nhiêu số phận, bao nhiêu cuộc đời bị rạn vỡ, bị lưu đày” (Phùng Cung).

Lời Tố Hữu kết tội Trần Đức Thảo, Phan Khôi và nhóm “Nhân văn-Giai phẩm” sau đây là sự thực, dẫu ma quỷ cũng không thể chối.

Tố Hữu đã viết: “Lật bộ áo “Nhân Văn – Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, Trotkit, địa chủ, tư sản… quần tụ trong những tổ quỷ với gái điếm, bàn đèn, sách báo phản động, đồi trụy và phim ảnh khiêu dâm…” (Qua cuộc đấu tranh chống nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm”, tác giả Tố Hữu, Nhà xuất bản Văn Hóa, 1958, trang 9)

Ngoài ra, Tố Hữu còn viết: “Trong cái công ty phản động “Nhân Văn – Giai Phẩm” ấy, thật sự đủ mặt các loại “biệt tính”, từ bọn Phan Khôi, Trần Duy mật thám cũ của thực dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An; từ bọn Trotkit Trương Tửu, Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng như Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt.

Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ, tư sản phản động cố giữ lập trường của giai cấp mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ!” (Trang 17sđd)

Theo chỉ đạo của “Anh Lành” bọn cơ hội nhào vào đánh hội đồng nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm” nói chung, Phan Khôi nói riêng.

Phê phán tác phẩm văn học, báo chí chán quay suy diễn, bịa đặt ra đủ thứ chuyện, chà đạp lên cả hương hồn cha mẹ, tổ tiên người ta.

Có những việc đổi trắng, thay đen, khi sự thật lịch sử vẫn còn đang sờ sờ trước mắt.

Phan Khôi với truyền thống yêu nước của gia đình, đã tham gia phong trào chống Pháp từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, từng bị bắt đi tù mà bảo ông làm mật thám cho Pháp thì trời đất nào chứng?

Phan Khôi viết hàng ngàn bài báo phê phán chế độ cũ, cổ vũ sự cách tân, bao nhiêu ruộng vườn quê nhà ông hiến hết cho cách mạng, mà bảo ông cố giữ lập trường giai cấp địa chủ, tư sản?

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Hồ Chủ tịch trọng tài đức của Phan Khôi, trực tiếp viết thư mời ông ra Hà Nội góp sức xây dựng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ.

Phan Khôi đã mang cả gia đình theo cụ Hồ lên chiến khu Việt Bắc, nằm gai nếm mật tham gia kháng chiến suốt mười năm trời. Thế mà khi ông tham gia phong trào “Nhân văn – Giai phẩm”, bị Tố Hữu quy là mật thám thì nhà văn Nguyễn Công Hoan hùa theo, xuyên tạc rằng Phan Khôi cầm đầu tổ chức Việt Nam quốc dân đảng chống phá cách mạng ở Quảng Nam.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan “đáng kính” viết: “Hắn phụ trách chi bộ Việt Nam quốc dân đảng Quảng Nam chống phá cách mạng điên cuồng. Sau đó hắn bèn ra Hà Nội họp với Trung ương đảng bộ Việt Nam quốc dân đảng của hắn, để đề nghị một chương trình chống Chính phủ!”

Nguyễn Công Hoan luôn dùng từ “hắn” để phỉ báng, mạt sát Phan Khôi: “Hắn xin vào yết kiến cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc đó là Bộ trưởng Nội vụ nhưng cụ không tiếp!”.

Năm 1957, Phan Khôi thọ 70 tuổi, Nguyễn Công Hoan làm bài thơ “mừng” (!) người bạn văn chương như sau:

Nhà báo Phan Khôi khốn kiếp ơi!

Thọ mi mi chúc chớ hòng ai,

Văn chương! Đù mẹ thằng cha bạc!

Tiết tháo! Tiên sư cái mẽ ngoài!

Lô-gich trước cam làm kiếp chó,

Nhân văn nay lại hít gì voi!

Sống dai thêm tuổi cho thêm nhục!

Thêm nhục cơm trời chẳng biết gai!

Có thể nào ngờ đó là thơ của tác giả “Bước đường cùng” và “Kép Tư Bền”?

Quả thật công tác tư tưởng của ông Trường Chinh và công tác tuyên huấn của ôngTố Hữu quá tài tình! Họ đã biến nhà nho Nguyễn Công Hoan thành một kẻ bỗ bã đểu cáng đáng khinh bỉ.

Mà đâu chỉ một mình Nguyễn Công Hoan, cả Đào Vũ, Tế Hanh, Chế Lan Viên đều như vậy.

Phan Khôi hai đời vợ, bà trước tám người con, bỏ mất một, còn 7, bà sau được 3, tổng cộng 10 người con.

Ông có bài thơ tức cảnh gia đình mình như sau:

Hai nhà cộng lại có mười con

Năm gái năm trai nhắm cũng tròn

Gả, cưới tạm yên nguyền một nửa

Sữa răng riêng mũi máu ba hòn

Tự trào thôi hẳn còn chia rẽ

Nhân cách vẫn mong được vẹn tròn

Bé nhất Lang Sa mới ba tuổi

Tên này ghi cái nhục sông non

Năm 1956 sang Trung Quốc dự kỷ niệm 100 năm Lỗ Tấn cùng với Tế Hanh. Phan Khôi đọc cho Tế Hanh nghe, và nói:

“Tôi đặt tên thằng này là Lang Sa, để nhớ cái hận thực dân Pháp!”. Mà ngay trong bài thơ tác giả đã nói rõ ý đó rồi còn gì.

Vậy mà hai năm sau, khi Phan Khôi bị đánh thì Tế Hanh bịa ra chuyện thế này:

“Trong chuyến đi Trung Quốc, Phan Khôi nói với tôi, thằng này sinh ngày 9/3/1945, ngày Nhật đảo chính Pháp, tôi đặt tên nó để cho những người nào vui mừng việc Nhật lật đổ Pháp biết tay. Pháp sẽ trở lại cho coi”.

Và Tế Hanh kết tội Phan Khôi: “Phan Khôi đã đáp lại lòng thù ghét của nhân dân ta đối với thực dân Pháp như thế. Chỉ có một ‘‘tâm hồn vong bản’’ loại Phan Khôi mới mong Pháp quay trở lại!”.

Chế Lan Viên thì có lần chỉ thẳng tay vào mặt Phan Khôi quát: “Đừng cậy già mà láo!”. Còn Đoàn Giỏi thì vu cho Phan Khôi nói xấu đảng, Bác Hồ vì gọi cây cứt lợn là cây “cộng sản”!

Sự xuyên tạc, vu khống, nhục mạ được cất lên từ miệng những người được coi là hiền lành tử tế như thế mới kinh khủng làm sao!

Ông Phan Lang Sa tâm sự: “Khổ tâm nhất là anh Phan Thao. Anh ấy trong Ban biên tập báo Nhân Dân mà ngày nào cũng phải nghe, phải đọc những lời nhục mạ vu khống cha mình!” Không chịu nổi, Phan Thao phải xin từ nhiệm và Phan Lang Sa phải đổi tên thành Phan An. “Xin cầu lấy sự bình an!”

Cụ Phan Khôi bị đuổi khỏi ngôi nhà 51 Trần Hưng Đạo nơi cụ ở từ năm 1955. Đuổi – tôi dùng đúng nghĩa đen.

Trần Duy kể: Một hôm tôi đến 51 Trần Hưng Đạo thì gặp một quan chức có quyền lực chỉ vào Phan Khôi quát:

– Tống cổ thằng già này ra khỏi đây!

Phan Khôi lảo đảo bước ra cổng. Vợ ông, bà Huệ ôm chăn mền, sách vở. Gặp tôi ông Phan Khôi bảo:

– Thôi, anh về đi. Buồn không cần thiết!”

Gia đình Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, phải dọn về số 10 Nguyễn Thượng Hiền. Rồi lại bị đuổi, phải dọn tới 73 phố Thuốc Bắc.

Bà Bích Thủy – con gái nhà thơ Yến Lan – tả chỗ ở mới của gia đình cụ Phan Khôi như sau:

“Gia đình tôi ở phía dưới, giữa 5 gia đình khác, kế vách là gia đình cụ Khôi. Phía ngoài cầu thang của hộ bà Cán, đến bể nước công cộng.

Căn dành cho gia đình cụ là một cái buồng 9 m2, bằng 3/4 căn nhà tôi, có thể đấy là nơi thờ cúng của chủ trước. Giữa nhà tôi và nhà cụ là một hẻm nhỏ, to bằng cái bàn cờ tướng. Tôi thường ngồi cạnh cửa sổ nhà cụ giặt giũ”.

Căn nhà cụ Phan Khôi vắng lặng, xét nét, xa lạ không ai lui tới vì cụ bị coi là cầm đầu nhóm Nhân văn – Giai phẩm.

Cụ vốn gầy yếu, bị hành hạ sức khỏe càng suy sụp. Nhiều lần cụ xin đi khám bệnh nhưng không ai ký giấy cho đi khám đành phải chịu.

Cụ thường ôm ngực ho từng cơn, và chống gậy ra giếng nước công cộng rửa chân lúc xế chiều.

Rồi cái buổi chiều mùa đông rét mướt ngày 16 tháng 1 năm 1959 đó, người chung nhà không nhìn thấy cụ Phan Khôi. Đó là lúc cụ nằm úp mặt vào tường, ho cơn ho cuối cùng, thổ những giọt máu tươi ra quyển sách đang đọc dở trên tay.

Chiếc xe ngựa – chở chiếc quan tài phủ bạt lăn bánh nghiêng ngả ra nghĩa địa Hợp Thiện phía Đông Hà Nội – đưa cụ đến nơi an nghỉ cuối cùng, chỉ có vợ con cụ và nhà thơ Yến Lan tác giả “Bến Mi Lăng”.

Bà Bích Thủy, con gái nhà thơ Yến Lan kể lại:

“Sáng hôm sau nghe người ta nói, có thằng cha nhà thơ nào đó dám cả gan đưa đám Phan Khôi. Ba tôi bảo đó là đạo lý của người Việt, nghĩa tử là nghĩa tận!”.

Một nấm mồ nông vùi người con Quảng Nam nơi đất Bắc, trên đơn sơ một mảnh ván viết hai chữ Chương Dân.

Năm tháng qua đi nấm mộ ấy chìm trong cỏ dại và xương cốt cụ Phan Khôi phiêu bạt nơi nào không biết nữa.

Vừa qua con cháu cụ đành gói một nắm đất về đặt trong lòng ngôi “mộ gió” ở quê nhà.

Hơn nửa thế kỷ qua, bây giờ người ta đã nhìn nhận, đánh giá một cách công bằng, trả lại danh dự cho những trí thức, nhà văn, nhà thơ trong phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Hầu hết những nhà văn, nhà thơ, và trí thức trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm đã được nhận giải thưởng, nói như nhà thơ Trần Mạnh Hảo, là để tạ lỗi. Nhưng cụ Phan Khôi vẫn bị lãng quên.

Tôi không hiểu đằng sau đó có những lý do gì, mà đồng hương xứ Quảng (ông Tế Hanh ở Quảng Ngãi), cùng tập kết ra Bắc, nhưng “Nhớ con sông quê hương” đến mức nào, nhớ kiểu gì, mà lại cố tình nói điêu, ”nâng quan điểm”, ám hại ông Phan Khôi (Quảng Nam) ”báo cáo cấp trên” quy chụp, bịa chuyện: “Chỉ có một ‘‘tâm hồn vong bản’’ loại Phan Khôi…”.

Nay, người ta thương tiếc, cảm phục Phan Khôi, ít ai nhắc tới Tế Hanh!

Với thân thế và sự nghiệp của cụ, với những tác phẩm báo chí và văn học đã tái xuất bản trong những năm gần đấy, cụ xứng đáng nhận giải thưởng hơn rất nhiều người mà xã hội minh bạch đã ghi nhận.

Minh Diện

CƯA BỚT THẬP GIÁ

Kẻ Đi Tìm

Anh kia được Chúa ban cho một cây thập giá và được căn dặn rằng khi nào về thiên đàng nhất thiết phải vác theo.

Suốt ngày anh ca cẩm, phân bua vì thập giá của mình quá dài và nặng hơn thập giá của những người khác.

Thế rồi, sẵn cưa, anh cưa bớt đi mười phân. Và anh cảm thấy ưng ý với thập giá mới.

Ngày về thiên đàng đã đến, anh cùng mọi người vác thập giá ra đi. Đường vào thiên đàng buộc phải vượt qua một con suối nước chảy xiết. Những người khác có sáng kiến đặt thập giá của mình xuống làm cầu để có thể bước qua bên kia.

Anh này cũng bắt chước đặt thập giá xuống để làm cầu. Tiếc rằng thập giá của anh lại thiếu mất mươi phân khiến vĩnh viễn anh không thể vào thiên đàng được.

Vì sao “Báo chí Cách mạng” câm miệng trước việc tử hình oan?

Báo Tiếng Dân

Blog RFA

Gió Bấc

8-8-2023

Ba ngày qua, trước nguy cơ cái chết oan ức được báo trước của “tử tù” Nguyễn Văn Chưởng, dư luận xã hội mang Facebook sôi sục kêu oan, kiến nghị hoãn thi hành án… Ngược lại, 800 tổ chức Báo chí Cách mạng là “cơ quan ngôn luận của đảng, là tiếng nói của nhân dân” lại đồng loạt im lặng.

Sư im lặng bối rối, sự im lặng ngoan ngoãn của đàn cừu phục tùng ngọn roi của kẻ chăn, bỏ mặc cho sinh mạng của đồng loại, đồng bào. Cơ quan ngôn luận của đảng cạn chữ, tiếng nói của nhân dân lại yếu hơi đến thế sao? Phải giương cao chính nghĩa chỉ ra đích danh “thế lực thù địch” đang chống phá đi chứ?

Ngay chiều 4-8, khi nhà báo Nguyễn Đức đưa thông tin gia đình “tử tù” Nguyễn Văn Chưởng kêu cứu xin hoãn thi hành án, mạng xã hội Facebook và báo chí truyền thông tiếng Việt đã bùng lên cơn bão thông tin phản đối, kiến nghị. 21 giờ ngày 6-8, dùng từ khóa “tử hình Nguyễn Văn Chưởng” trên mạng tìm kiếm Google có đến 1,420,000 lượt kết quả (1).

Từ các cơ quan truyền thông quốc tế như BBC, RFA, …. báo chí việt ngữ ở hải ngoại như Người Việt, Đất Việt, Sài Gòn Nhỏ … các trang mạng xã hội như báo Tiếng Dân, Chân Trời Mới, Luật Khoa tạp chí đồng loạt đăng thông tin kêu cứu từ gia đình Nguyễn Văn Chưởng, ý kiến của những người có liên quan như Luật sư Lê Văn Hòa, nguyên Vụ trưởng Ban Nội Chính Trung Ương, từng là tổ trưởng tổ giám sát vụ án này 8 năm trước, phân tích hồ sơ vụ án có nhiều sai phạm tố tụng nghiêm trọng, nhiều hồ sơ bị mất, vật chứng vụ án bị đánh tráo, nhiều bị cáo khai bị tra tấn, ép cung, chứng cứ ngoại phạm Nguyễn Văn Chưởng, vào thời điểm xảy ra vụ án Chưởng có mặt tại Hải Dương cách hiện trường vụ án hơn 40km không được xem xét. Tất cả các kênh thông tin này đều theo một hướng phản biện, cho rằng việc buộc tội Nguyễn Văn Chưởng giết người là không có cơ sở và thi hành án tử hình oan là nền tư pháp tăm tối và phi nhân.

Những hình ảnh ông Nguyễn Trường Chinh, cha ruột Chưởng, cắt tay lấy máu viết thư kêu oan cho con, mẹ và em Chưởng trương lời kêu gọi hoãn thi hành án, liên tục cập nhật trên mạng xã hội, gây xúc động lòng người.

Đặc biệt từ ngày 5-8, trên mạng xã hội đã có trang đăng KIẾN NGHỊ HOÃN THI HÀNH ÁN TỬ TÙ NGUYỄN VĂN CHƯỞNG thu thập được gần 3000 chữ ký và đang tiếp tục cập nhật. Thỉnh nguyện thư này gửi đến Chủ tịch Nước Võ Văn Thưởng, tóm tắt ý kiến của Luật sư Hoàng Văn Quánh (Ðoàn luật sư TP Hà Nội), người bảo vệ cho Nguyễn Văn Chưởng ở phiên phúc thẩm, cho biết, tại tòa, cả hai anh em Chưởng khai bị đánh đập nên phải nhận tội. Các bản cung phía dưới chữ ký Chưởng đều viết chữ “EC” (tức bị ép cung). “Tôi cho rằng việc kết tội Chưởng giết người là chưa có cơ sở”.

Thỉnh nguyện thư cũng nhắc quan điểm của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao quyết nghị Giám đốc Thẩm vụ án đề nghị Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án hình sự phúc thẩm. Quyết định kháng nghị nêu rõ vụ án có một số vấn đề cần phải làm rõ, đề nghị xem xét về phần hình phạt theo hướng giảm nhẹ cho Nguyễn Văn Chưởng từ tử hình xuống chung thân. Nhưng TANDTC đã bác bỏ kiến nghị này mà không có cơ sở buộc tội vững chắc. Gia đình bị án liên tục kêu oan từ đó đến nay.

Thư Thỉnh Nguyện đề nghị: “Chúng tôi khẩn thiết kiến nghị Chủ tịch nước ra quyết định hoãn thi hành án để bảo vệ mạng sống của công dân Nguyễn Văn Chưởng trong vụ việc có dấu hiệu oan sai. Quyết định của Chủ tịch nước cũng là cơ hội để thể hiện cam kết cải thiện nền tư pháp, bảo vệ quyền con người của công dân” (2).

Đặc biệt, nhà báo Nguyễn Đức, Biên Tập viên báo Pháp Luật TP.HCM, liên tục tác nghiệp và cập nhật thông tin trên Facebook cá nhân và kênh Youtube về những diễn tiến mới của vụ việc. Đích thân Nguyễn Đức đã gửi tin nhắn và nhận được tin nhắn phản hồi từ Chủ Tịch Nước Võ Văn Thưởng. Một số đại biểu Quốc Hội gửi tin nhắn cho Chủ Tịch Nước và cũng nhận được phản hồi. Ông Lưu Bình Nhưỡng, nguyên đại biểu Quốc Hội nhiều khóa, hiện là Phó Ban Dân Nguyện Quốc Hội, cũng gửi tin nhắn cho Chủ tịch Nước và nhận được phản hồi.

Nguyễn Đức cũng gặp, trao đổi và ghi lại phát biểu ý kiến ông Lưu Bình Nhưỡng, khẳng định rằng “Có đủ căn cứ để Chủ tịch nước cho hoãn thi hành án tử và giao cấp thẩm quyền xem xét theo thủ tục đặc biệt đối với tử tù Nguyễn Văn Chưởng… để tránh oan khuất” (2b).

Ông Lưu Bình Nhưỡng đã nêu ra những vi phạm tố tụng, thiếu cơ sở buộc tội của bản án đã được Viện Kiểm Sát Tối Cao quyết nghị, đồng thời chỉ ra Bộ Luật Tố Tụng năm 2015 đã mở ra điều luật mới để xem xét lại các bản án Giám Đốc Thẩm có vi phạm nghiêm trọng. Ông Nhưỡng còn khẳng định, ngoài Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng, Việt Nam còn có nhiều bản án tử hình chưa có cơ sở vững chắc, vì vậy ông kiến nghị Chủ Tịch Nước cần cân nhắc hết sức thận trọng khi ký các quyết định bác các đơn xin ân xá.

Để khách quan, Chủ Tịch Nước không nên nghe ý kiến một chiều từ các cơ quan giúp việc, mà phải thành lập Hội Đồng Tư Vấn xét đơn ân xá độc lập. Theo ông đây là vấn đề cần hết sức cẩn trọng vì là công lý của nền tư pháp và còn là quyền con người.

Phải nói là các tác nghiệp của nhà báo Nguyễn Đức thật sắc sảo, nhạy bén và rất chính danh, bảo vệ sự công bằng, minh bạch của nền tư pháp. Nhưng đáng tiếc là toàn bộ các nội dung tác nghiệp ấp không được chuyển tải lên tờ báo Pháp Luật TP.HCM mà Nguyễn Đức đang là Biên Tập Viên, mà chỉ phổ cập trên Facebook cá nhân.

Xét về tôn chỉ, mục đích thì đề tài này đúng hoàn toàn phù hợp và là sở trường đắc địa của báo Pháp Luật TP.HCM. Hơn 20 năm trước, tờ báo này cũng từng đi đầu đấu tranh xây dựng nền tư pháp công bằng nói chung và đấu tranh cho những nạn nhân bị án oan. Báo từng theo đuổi đấu tranh cho một tử tù ở Đồng Nai bị oan nhưng theo pháp luật thời đó đã hết cấp xét xử. Bị án chết vì bệnh. Ông Vũ Đức Khiển, Phó chủ Tịch Quốc Hội, thời đó đã thân hành đến gia đình tử tù này thắp nhang như một cách giải oan. Vậy tại sao trong lần này Nguyễn Đức phải đơn độc lên tiếng với tư cách cá nhân mà không có điểm tựa từ cơ quan báo chí mà mình đang cộng sự?

Nhìn lại kết quả tìm kiếm trên Google, không riêng báo Pháp Luật TP.HCM mà toàn bộ 800 tờ báo lề phải đều đồng lòng ngậm miệng trước bản án oan này. Trên 1 triệu lượt thông tin về thi hành án Nguyễn Văn Chưởng đếu từ báo chí nước ngoài và mạng xã hội. Ngay tờ báo Tuổi Trẻ từng có những thông tin tường thuật có giá trị về vụ án thì bài mới nhất thông tin về vụ này là “Vụ tử tù Nguyễn Văn Chưởng đã “hết đường” kháng nghị” từ năm 2014 (3)

Vì sao 800 tờ báo đảng, báo nhà nước, báo chí cách mạng hay còn gọi là báo lề phải báo quốc doanh lại tự nguyện câm lặng, tự khước từ quyền thông tin trước một sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến sinh mạng của công dân? Bản án đúng sai còn là  lằn ranh giữa minh bạch, công bằng, nhân đạo hoặc tối tăm, bất công và man rợ của nền tư pháp. Lựa chọn sư im lặng trước bản án tử hình oan ức là a tòng với nền tư pháp man rợ, phục tòng và phục vụ cho một thế lực ác quỷ đội lốt con người.

Phải chăng đúng như người ta nói 800 tờ báo này có chung ông Tổng Biên Tập và chính ông Tổng ra lệnh cấm hoặc chưa cho phát lệnh nói nên tất cả đồng thủ khẩu như bình.

Nhà nước công sản hằng rêu rao vai trò của báo chí. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã từng xưng tụng theo bài bản chung về vai trò báo chí là “Báo chí đã trở thành lực lượng xung kích, tin cậy của Đảng và Nhà nước trên mặt trận thông tin, tuyên truyền. Với đội ngũ hùng hậu trên 18.000 nhà báo được cấp thẻ, có tính chuyên nghiệp cao và tiếp cận nhanh với công nghệ báo chí, truyền thông hiện đại, người làm báo thực sự là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa như Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”.

Vị Thủ Tướng cũng chia sẻ vấn đề hết sức “xôi thịt” trong cuộc cạnh tranh báo chí và mạng xã hội là “ “Tôi cũng xin chia sẻ những khó khăn mà báo chí và đội ngũ những người làm báo đang phải đối mặt, nhất là trong bối cảnh báo chí chính thống bị mạng xã hội cạnh tranh khốc liệt cả về mức độ ảnh hưởng, thị phần thông tin và quảng cáo…” (4)

Báo chí chiến đấu hết mình vì đảng, cạnh tranh giành quảng cáo với mạng xã hội còn chuyện sống chết, oan ưng của dân, chuyện công bằng xã hội, chuyên chế của ông an, bất công của tòa án, báo chí cách mạng ngậm miệng ăn tiền dành phần cho mạng xã hội.

Một nhiệm vụ quan trọng, chiêu sở trường của báo chí cách mạng là gắp lửa bỏ tay người đã được Tuyên Giáo đảng khẳng định trong bài “Vai trò của báo chí trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”. Ngay trong vụ chuyến bay giải cứu hàng đàn cán bộ cấp cao của 5 bộ ngành bóp cổ hút máu dân ngay cơn hoạn nạn, báo CAND vẫn tìm thấy thế lực thù địch nói xấu nhà nước.

Sao đến nay báo chí chưa xuất chiêu này? Chắc còn bất ngờ, trí tuệ của những con … người quen đi theo lề phải chưa phân định được Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, ông Phó Ban Dân Nguyện Quốc Hội, nhà báo Nguyễn Đức ai sẽ là kẻ xấu, là thù địch.

Sự dũng cảm đơn độc tác nghiệp trên mạng xã hội của nhà báo Nguyễn Đức quả là sự đơn độc đến mong manh. Mong rằng đừng có thêm oan án mới!

1- https://www.bing.com/search?q=t%e1%bb%ad+h%c3%acnh+nguy%e1%bb%85n+v%c4%83n+ch%c6%b0%e1%bb%9fng&FPIG=9FED807D7A1342069CEC98687FC7A36C&first=11&FORM=PERE

2-https://secure.avaaz.org/community_petitions/en/chu_tich_nuoc_vo_van_thuong_chanh_an_tand_tp_hai_p_kien_nghi_hoan_thi_hanh_an_tu_tu_nguyen_van_chuong/

2b- https://www.facebook.com/nxdien2k15/videos/296830626263902

3- https://tuoitre.vn/vu-tu-tu-nguyen-van-chuong-da-het-duong-khang-nghi-723209.htm

4- https://dantri.com.vn/xa-hoi/thu-tuong-bao-chi-dang-phai-canh-tranh-khoc-liet-voi-mang-xa-hoi-20190621223044483.htm

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trường làng Kandal

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

20/02/2022

Người Việt rất lạc quan và hãnh diện về tính hiếu học của dân tộc mình, trừ nhà văn Phạm Thị Hoài:

“Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng, người Việt hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ, yêu thầy, theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu chữ nghĩa không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan thì cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là giảm đi đáng kể.”

Cái kiểu nói (“nhân đây”) của bà nhà văn nghe “mích lòng” thấy rõ nhưng e là hoàn toàn không trật, với mọi người dân Việt – trừ ông Út Em:

– Đời mình thì chịu thua rồi nhưng con cháu thì phải lo cho tụi nó học được cái chữ, con số để mai mốt lỡ mượn tiền ai rồi lúc trả còn biết đường ghi vô sổ là mình đã trả ngày nào, hay đã trả bao nhiêu, để không họ cứ đòi hoài cái chết mẹ … – anh Tư thấy ý tui nói đúng không?

– Dạ, đúng!

Tui lật đật tán thành ý kiến của Út Em, dù hoàn toàn không thấy đương sự có gửi gắm chút mộng ước quan quyền gì ráo trọi cho tương lai con cháu, trong khi chúng tôi đang ngồi nhậu (lai rai) tại căn nhà nổi của ổng ở làng Kandal – xã Phsar Chhnang –  thuộc tỉnh  Kampong Chhnang.

Địa phương này nằm trên giòng Tonlé Sap, tuy chỉ cách thủ đô Nam Vang chưa tới một trăm cây số nhưng lại quá xa những địa điểm du lịch nên chả có ma nào ghé.

Và có lẽ vì vậy (vì cái gì hiếm thì qúi) nên tôi được Út Em tiếp  đãi rất tận tình, dù không được linh đình gì lắm. Trước khi ngồi “uống sương sương vài ly” ổng đã chống ghe đưa tôi đi thăm ngôi trường Samaki, cùng với lời giới thiệu say sưa và hãnh diện:

Việt kiều bên Úc xây đó, tốn cả trăm ngàn đô chớ không phải ít đâu nha.

Sao tự nhiên ngay lúc đó tui muốn mình biến được (liền) thành một “Việt kiều bên Úc.” Thiệt là quá đã. Đúng là một niềm hãnh diện lớn lao.

Giữa cái làng nổi chen chúc lổn nhổn những mái lá xiêu vẹo xác sơ thì trường Kami nổi bật như một công trình kiến trúc hết sức tân kỳ, và vô cùng hoành tráng. Út Em tự hào là phải.

Dù trường ốc đã có sẵn sàng, và đàng hoàng đâu ra đó nhưng “quan niệm và triết lý giáo dục” (rất khiêm tốn) của Út Em – xem chừng –  vẫn chưa được phần đông người dân địa phương chia sẻ. Đời sống có những nhu cầu căn bản được sắp sẵn, theo thứ tự ưu tiên: ăn/học. Ăn  chưa đủ no, lo chi tới học!

Mà trường làng Kandal lại dậy tới ngày hai buổi lận: sáng học tiếng Miên, chiều tiếng Việt. Coi như mất nguyên ngày.

Tuổi thơ là một thành quả đặc thù thế kỷ XX. Trước đó, nhân loại phải dồn hết nỗ lực vào việc mưu sinh nên trẻ con chỉ là một người lớn thu nhỏ (miniature adult) với trách nhiệm đè nặng lên vai gần như bố mẹ.

Nhân loại đã bước vào thế kỷ 21 nhưng dân làng Kandal thì chưa, và chắc còn phải chờ lâu. Hy sinh “nguyên” cả một thành viên trong gia đình cho việc giáo dục là một kiểu đầu tư hơi xa xỉ (và cũng có vẻ rất xa vời) ngoài tầm tay với của rất nhiều cư dân, ở nơi đây.

Tui chợt “ngộ” ra điều này nhưng loay hoay mãi vẫn chưa tìm ra được thứ ngôn ngữ thích hợp để chia sẻ ý nghĩ của mình với ông bạn đồng hương, và đồng ẩm, ngồi bên. Út Em vẫn chậm rãi nhai khô (thứ thực phẩm mà tôi nghi ngại là thằng chả phải nhai một ngày hai lần, và đúng 365 ngày mỗi năm) chợt hất hàm nhìn ra phía trước:

– Anh Tư ngó cái con Sáu bán chuối nướng này nè. Nó đi bán mình ên cũng được vậy, ráng cực thêm chút xíu thôi, để cho thằng con tới trường mà nó nhứt định không chịu. Phải chi nó làm nghề cá mà tới mùa cần người phụ thì tui không trách …

“Con Sáu” đang chèo nghe ngang nhà, và chắc chắn không biết đang bị Út Em “đấu tố” nên còn ráng xề tới thiệt gần (chắc tại thấy khách lạ) cất tiếng chào mời:

– Ai chuối nướng hông?

Người phụ nữ còn rất trẻ nhưng đen đủi và gầy guộc như một con khô. Còn thằng bé thì tóc cháy nắng vàng hoe nhưng trông rõ có nét thông minh và lém lỉnh. Tôi không quen chụp ảnh nên lính quýnh một hồi mới mở được máy, và vì vụng về nên không thu được hình của cả hai mẹ con khi họ lướt qua.

– Chớ ba thằng nhỏ đâu anh Út?

Hai đứa đã khổ quá mà con này nó có cái tật hay nhằn nên thằng kia bỏ lên Nam Vang rồi. Nghe đâu đi phụ hồ nhưng bữa có việc, bữa không, không có tiền gửi về cho vợ nuôi con nên tui sợ nó trốn luôn quá. Nó với tui cũng có bà con xa nhưng mình lo thân còn chưa xong làm sao hụ hợ gì cho ai được.

– Anh Út ở đây bao lâu rồi vậy?

– Tui sinh ngay tại đây chớ đâu – giọng Út Em chợt có vẻ phẫn uất như thể tôi vừa mới chạm đến một vết thương (lòng) nào đó – hồi trào Lon Nol sợ bị nó “cáp duồn” nên tui chạy về bển. Tới chừng thấy êm êm vừa quay trở lại ở chưa ấm chỗ thì tiếp tới trào Khmer Rouge nên chạy thêm lần nữa, cứ chạy hoài thiếu điều muốn xút quần luôn.

Tất cả những người dân Việt sinh trưởng nơi đây thuộc thế hệ Út Em đều có có cái cái lý lịch (“chạy muốn xút quần luôn”) na ná như nhau cả. Họ sinh trưởng ở Cambodia, hốt hoảng bỏ về Việt Nam tị nạn (đôi lần) nhưng quê hương cũng không phải là nơi nương náu được nên rồi lại đành phải tiếp tục tha phương cầu thực.

Sau vài lần chạy qua/chạy về như vậy thì tài sản, đất đai, nhà cửa của đám Việt Kiều ở Miên đều mất ráo. Đến tấm giấy tuỳ thân để lận lưng (rồi) cũng mất luôn nên họ không còn gì để có thể chứng minh mình là ai nữa. Tình trạng vô tổ quốc của họ kéo dài từ đời mình … qua đến đời con cháu.

Út Em nói nghe như khóc:

– Ở đây thì tụi nó kêu mình là Duồn: “Tụi Duồn về quê mày hết đi.” Về tới bển thì họ kêu mình là Miên: “Đám Miên qua đây làm cái gì?” Riết rồi tui thiệt tình cũng không biết mình là cái giống gì nữa, anh Tư à.

Tôi ngồi chết trân, làm bộ ngó mông ra mặt sông đang loang loáng nắng, cứ như thể là mình không hề nghe gì về tình trạng không Miên/không Việt (“không biết mình là cái giống gì nữa”) của Út Em nhưng vẫn thấy mắt cay cay. Út Em ấm ức thêm:

– Đời tụi tui cam chịu như vậy thì đã đành rồi nhưng còn con cháu mình nữa chớ. Tui ước ao tụi nó đều được đi học. Học biết con số, biết cái chữ thì sẽ đỡ bị người ta ăn hiếp – đúng không, anh Tư?

– Dạ, đúng!

Tui lại nhiệt liệt tán thành “quan niệm và triết lý giáo dục” (vô cùng) khiêm tốn của Út Em, dù thâm tâm vẫn e ngại rằng niềm “ước ao” này  – xem ra – vẫn còn hơi xa, so với những thực tế (não lòng) mà tôi đang nhìn thấy ở đất nước này, trong mấy tháng qua.

Nhà cầm quyền Phnom Penh và Hà Nội có rất nhiều điểm dị biệt trong đường lối, và chính sách điều hành quốc gia nhưng chắc chắn họ có điểm này chung: cả hai đều (nhất định) bỏ mặc, không ngó ngàng gì đến đám dân Việt trôi sông lạc chợ ở Cambodia.

Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn đã từng mạnh miệng tuyên bố “sẽ không để vùng trống, vùng trắng trong công tác kiều bào.” Lẽ ra, ngài nên nói thêm rằng: “Trừ đám kiều bào ở Miên thì khỏi.”  N.Q 36 chắc cũng có một điều khoản bất thành văn, và chỉ được hiểu ngầm là: “Không tiền, không kiều hối gửi về quê mẹ thì khúc ruột gần/xa gì cũng đều là ruột thừa ráo nạo.”

– Anh Út còn ai ở VN không?

– Còn bà dì, em má, ở Trà Vinh nhưng già lắm nên chắc bả cũng chết luôn gồi.

– Bộ không liên lạc gì hết trơn sao?

– Liên lạc cách nào, Trời?

Thay vì rượu vào lời ra, tuy chúng tôi vẫn uống tì tì nhưng chuyện trò – rõ ràng – mỗi lúc lại một thêm buồn bã và bế tắc. Tôi rụt rè gợi ý:

– Anh Út chống ghe cho tui trở lại trường học Nghe nói buổi chiều dậy tiếng Việt nên tui muốn ngó qua mấy cái lớp học này coi sao?

– Ở đâu mà ra tới mấy lớp?

– Có cả trăm em học sinh lận mà.

Nhưng mà có một cô giáo tiếng Việt hà, nên dồn hết vô một lớp luôn.

– Ý Trời, đông quá ai mà dậy nổi? Sao không mướn thêm thầy cô?

– Ngoài cái cô này ra, cả xã có ai biết chữ đâu mà đòi làm thầy giáo hay cô giáo. Cổ ở Việt Nam mới qua đó.

Út Em nói không sai. Tôi gặp cô giáo VN rồi mới biết đây một cành lan hiếm hoi và quí giá của cái xã này, hay (dám) của cả tỉnh Kampong Chhnang luôn nữa.

– Cháu tên là Bạch Lan, quê ở Sóc Trăng. Cháu theo chồng qua đây …

– Làm sao cháu dậy được cả trăm em học trò.

– Dạ thì cháu cũng phải “ráng” thôi. Cái khó là các em học mấy trình độ khác nhau. Lớp một nhỏ thì mới học a,b,c. Lớp một lớn thì đọc chạy mặt chữ rồi. Lớp hai thì tập viết, và bắt đầu tập làm toán cộng trừ …Bị không có sách giáo khoa, cái gì cũng phải viết lên bảng nên mất thì giờ, và dậy chậm rì hà…

– Lương lãnh đủ sống không cháu?

– Dạ, hơn trăm đô. Chồng cháu cũng đi làm nên “ráng” thì cũng được nhưng hổng biết là sẽ được bao lâu nữa?

– Ủa, sao vậy?

Nghe nói là hội chỉ đủ tiền trả cho tới cuối năm thôi. Qua Tết mình thì chưa biết vì còn phải chờ ngân quỹ.

Tôi quay qua hỏi một nhân viên MIRO (Minority Rights Organization) người Khmer đứng cạnh:

– Tổ chức của ông có tiếp tục tài trợ cho trường không?

Thằng chả nhún vai, cứ y như là Tây vậy:

– Tụi tao là N.G.O (non governmental organization) chớ có phải là chính phủ Cambodia đâu mà có tiền để trả ai hoài hoài được. Nếu vẫn nhận được tiền từ Vidan Foundation thì “project” này vẫn tiếp tục chớ, còn không thì phải ngưng thôi.

Đúng lúc, tôi thấy anh Nguyễn Công Bằng, đại diện Hội Thiện Nguyện Vì Dân (trụ sở ở Houston, TX) đang sớ rớ gần bên nên hỏi tiếp:

– Sang năm hội còn tài trợ cho ngôi trường ở làng Kandal không anh?

– Hy vọng là còn, tụi tui đang “ráng”…

– Xin lỗi, anh nói “đang ráng” là “đang” làm sao?

–  Dạ thì “ráng” tiếp tục kêu gọi sự tiếp tay của đồng bào mình khắp nơi coi bà con ủng hộ ra sao. Có đủ tiền thì mới dám ký contract cho MIRO dạy tiếp, chớ đâu làm sao khác được…

Chiều vẫn rơi mênh mông trên sông, khiến tôi thốt nhớ đến bản nhạc Chiều Về Trên Sông của Phạm Duy:

Chiều buông trên giòng sông Cửu Long
Như một cơn ước mong, ơi chiều
Về đâu ơi hàng cây gỗ rong
Nghiêng mình trên sóng sông yêu kiều

Thấy tôi có vẻ trầm tư, Út Em nhắc nhỏ:

– Thôi mấy anh chuẩn bị trở lại thành phố đi. Ban đêm ngủ lại không tiện đâu. Nói nào ngay thì ở đây cũng không được an ninh gì cho lắm.

Nghe tới chuyện “không được an ninh” là tui lật đật nhẩy xuống ghe liền. Út Em ái ngại nhìn theo, ngập ngừng (chút xíu) rồi nói với:

– Bữa nào ghé nhậu nữa không, anh Tư?

– Ờ, thế nào tui cũng… “ráng” mà!

Thì cũng nói đại như vậy cho qua chuyện, chớ cái trường làng Kandal này mà đóng cửa luôn thì tui mặt mũi nào mà gặp lại Út Em cho được. Đ…mẹ, sao tui già đầu rồi mà vẫn cứ hay vướng vào nhiều chuyện lôi thôi (dữ) vậy Trời!