ĐỢI CHỜ…& HƯỚNG VỀ,

ĐỢI CHỜ…

Biết đến bao giờ gặp lại nhau,
Cuối ngõ đường xưa nắng nhạt màu,
Trong tay nhắc nhớ tình năm cũ,
Mắt lệ hoen mờ dạ xót đau…

Mấy chục năm dài ước muốn thêm,
Đón gió thu sang nắng dịu mềm,
Lòng nghe khắc khoải vương đây đó,
Bạn hữu đêm nào …thức trắng đêm…

Cuối bến sông nay vắng dáng đò,
Nhuộm kín đôi bờ nét âu lo,
Về đâu ký ức ngày xưa ấy,
Chỉ chiếm hồn tôi vạn ý thơ…

Liverpool.30-7-2014.
Song Như.

HƯỚNG VỀ,

Thuyền neo bến cạn đợi chờ,
Người đi có nhớ vần thơ năm nào,
Xa khơi sóng vỗ lao xao,
Mây trời đẹp tựa đường vào thiên thai,
In mờ bóng núi lung lay,
Hồn hoang chất ngất tình hoài nước non,
Ra đi lúc tuổi chưa tròn,
Bao nhiêu tuế nguyệt vẫn còn tha hương,
Mẹ ơi nước mắt sầu vương,
Mơ ngày trở lại vì thương xóm nghèo,
Mong cho vững lái tay chèo,
Con về với mẹ bên đèo dệt thơ…

Liverpool.30-7-2014.
Song Như.

CÓ BÙN MỚI CÓ SEN

CÓ BÙN MỚI CÓ SEN

– Khi bạn muốn buông xuôi vài thứ, bạn nên đọc 2 câu chuyện dưới đây. Hy vọng, nó sẽ giúp ích được cho bạn điều gì đó.

Câu chuyện 1:

Một cô gái đến tìm một nhà sư, cô hỏi:
– Thưa thầy, con muốn buông một vài thứ mà không thể, con mệt mỏi quá.
Nhà sư đưa cho cô gái 1 cốc nước và bảo cô cầm, đoạn ông liên tục rót nước sôi nóng vào cốc,nước chảy tràn ra cả tay, làm cô bị phỏng,cô buông tay làm vỡ cốc.

Lúc này nhà sư từ tốn nói:
– Đau rồi tự khắc sẽ buông!

Vấn đề là, tại sao phải đợi tổn thương thật sâu rồi mới buông?

10426640_10203441414629438_6903413134878483477_n

Câu chuyện 2:

Một chàng trai đến tìm nhà sư , anh hỏi:
-Thưa thầy con muốn buông xuôi vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng.
Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong.
Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi rồi uống và cảm nhận thấy rất ngon. Lúc này nhà sư từ tốn nói:
– Cứ đau là buông thì con đã bỏ lỡ những cái tốt đẹp sau đó rồi!
Vấn đề là tại sao cứ đau là phải buông trong khi còn có thể làm cho nó tốt đẹp lên.

Bài học rút ra: Trong cuộc đời vốn phức tạp này, chỉ có ta mới biết lúc nào nên cầm lên & bỏ xuống chuyện của chính mình.

Nguồn: sưu tầm

Một thuở học trò

Một thuở học trò

image

Chủ đề của bài viết này là những hồi ức học trò ngày xưa của một người bước vào tuổi 70. Thuở học trò này rất xa và rất khác với thời đại @ ngày nay, khi mà các tiện nghi vật chất phong phú hơn, phương tiện giải trí đa dạng hơn và quan niệm về giáo dục cũng khác hơn.

Những nét khác nhau là hậu quả của hoàn cảnh xã hội và chính trị, cụ thể hơn là chính sách giáo dục và chế độ chính trị qua nhiều thời kỳ, từ thời Pháp thuộc đến giai đoạn 30 năm chiến tranh tương tàn.

Thuở học trò của chúng tôi chỉ có một mục đích duy nhất là… học, nhưng đôi khi cũng pha lẫn những chuyện tình cảm theo kiểu mà người Mỹ gọi là “tình chó con” (puppy love). Ngày nay, ngoài việc học còn có những tác động, xấu cũng như tốt, từ Internet, phim ảnh, báo chí cho đến những ảnh hưởng của người lớn như các bậc phụ huynh trong gia đình và sự tác động của xã hội bên ngoài.

image

“Puppy Love”

Học trò ngày xưa là mảng đề tài được khai thác rất “kỹ” qua văn chương, âm nhạc, hội họa. Vào thập niên 70, bản nhạc “Ngày Xưa Hoàng Thị” [1] của Phạm Duy, phổ thơ Phạm Thiên Thư [2] trở thành nổi tiếng với một mối “tình học trò”. Bài hát dẫn người thưởng ngoạn đến chuyện một cô nữ sinh tên Hoàng Thị Ngọ lúc tan trường, ôm nghiêng cặp, đi trong một cơn mưa phùn và phía sau cô… lẽo đẽo một “cây si” di động:

image

“Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ

Ôm nghiêng tập vở, tóc dài, tà áo vờn bay

Em đi dịu dàng, bờ vai em nhỏ

Chim non lề đường, nằm im dấu mỏ

Anh theo Ngọ về gót giầy lặng lẽ đường quê…”

Đó chưa phải là tình yêu theo đúng nghĩa. Chỉ là… “thích trộm, nhớ thầm” của một “cây si”. Và chỉ cần lẽo đẽo theo một tà áo dài trắng cũng đủ thỏa lòng, dù bước chân có “nặng nề”, dù trong lòng “nức nở” để hôm sau vào lớp sẽ còn “ngẩn ngơ”:

image

“Em tan trường về

Anh theo Ngọ về

Chân anh nặng nề

Lòng anh nức nở

Mai vào lớp học

Anh còn ngẩn ngơ, ngẩn ngơ…”

“Ngày Xưa Hoàng Thị” là một kết hợp tuyệt vời giữa thơ Phạm Thiên Thư và nhạc Phạm Duy nhưng lại có một đoạn kết buồn cho… “mối tình câm”. Ở đoạn kết đưa ra hai hình ảnh của “ngày xưa” và “ngày nay” với câu kết “Ai mang bụi đỏ đi rồi…” khiến tôi nghĩ ngay đến Ban Mê Thuột, thị trấn đã từng gắn bó từ tuổi học trò. Chả là BMT vẫn nổi tiếng là vùng đất đỏ bazan, nắng thì BMT (Bụi Mù Trời) còn mưa thì… bùn đỏ ngập bước chân:

image

“Xưa theo Ngọ về

Mái tóc Ngọ dài

Hôm nay đường này

Cây cao hàng gầy

Đi quanh tìm hoài

Ai mang bụi đỏ đi rồi…”

image

Học trò Đồng Khánh trên cầu Trường Tiền

Trong một cuộc phỏng vấn của Đỗ Văn với Phạm Duy, nhạc sĩ cho biết trong số những bài hát cho tuổi trẻ, ông thích nhất là bài “Tuổi Ngọc”…” bài hát này ông viết cho con gái mới lớn Thái Hiền khi bước chân vào trung học. “Tuổi Ngọc” viết theo nhịp điệu nhí nhảnh với những câu được lập đi lập lại “Xin cho em…”. Những thứ cô xin là một chiếc áo dài, một mớ tóc dài và một chiếc xe đạp [3].

Đó là tất cả hành trang của một cô gái khi bước vào trung học. Chiếc áo dài “thơm dáng tuổi thơ”, mớ tóc nồng “êm như nhung” và, cuối cùng:

“Xin cho em còn một xe đạp

Xe xinh xinh, để em đi học

Từng vòng, từng vòng xe

Là vòng đời nhỏ bé

Đạp bằng bàn chân gót đỏ hoe”

Chắc nhà gần trường nên những học trò như cô Ngọ của Phạm Thiên Thư mới cuốc bộ để “cây si” có dịp lẽo đẽo theo sau. Nếu nhà ở xa thì chắc phải đến trường bằng xe đạp. Hình ảnh nữ sinh trên chiếc xe đạp sẽ khó có thể nào quên trong kỷ niệm, nhất là đối với những người nay đã xa xứ, không còn cơ hội nhìn thấy cảnh này.

image

Hồi xưa nữ sinh còn đội nón lá đến trường, ít có những kiểu mũ “mô đen” như ngày nay. Mỗi lúc tan học là cả một đàn bướm trắng bay ra rồi tỏa đi khắp các con đường. Nhà gần thì ôm cặp đi bộ để các anh như Phạm Thiên Thư đưa vào thơ. Nhà xa thì đạp xe theo từng nhóm như trong bức hình dưới đây trước Tòa Đô Chánh.

image

Nữ sinh trên xe đạp trước Tòa Đô Chánh

Gia đình khá giả thì có thể tậu một chiếc Velo Solex chạy bằng xăng, có cần khởi động máy ở phía trước và khi hết xăng có thể đạp như một chiếc xe đạp. Nhà thơ Nguyên Sa trong bài thơ “Tám phố Sài Gòn ” [4] có một đoạn viết về chiếc Solex và cô học trò như sau:

“Sài Gòn phóng solex rất nhanh

Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants

Có nghe hơi thở cài vương miện

Lên tóc đen mềm nhung rất nhung”

Ngày xưa, đã có nhiều nhà văn, nhà thơ không tiếc lời ca tụng hình ảnh nữ sinh trên chiếc Solex hoặc xe đạp. Ngày nay, họa hoằn lắm mới gặp những lời có cánh về những chiếc xe “tay ga” phóng vù vù trên đường… Ôi, thời thơ mộng của tuổi học trò nay còn đâu!

image

Nữ sinh với chiếc Velo Solex

Thuở học trò của tôi cũng có một chuyện tình thuộc loại “puppy love” như trong bài thơ của Phạm Thiên Thư. Tôi không có ý “thấy người sang bắt quàng làm họ” nhưng quả thật cả hai đều có nhiều điểm rất giống nhau.

Thứ nhất, tên “người trong mộng” của nhà thơ Phạm Thiên Thư là Hoàng Thị Ngọ, một cái tên không được đẹp cho lắm, còn người tôi “mê” lại có một cái tên “không thể xấu hơn”: Phan Thị Lụng. Cả hai cô Ngọ và cô Lụng tuy có xấu tên nhưng ngược lại, hai cô lại là những nữ sinh rất xinh.

Thứ nhì, Phạm Thiên Thư tả cô Ngọ “vai nhỏ tóc dài” còn cô Lụng “của tôi” thì tóc cũng dài nhưng lại cột theo kiểu “đuôi gà” mà người Pháp gọi là “queu de cheval”, tức… “đuôi ngựa”. Ở đây có thêm một sự trùng hợp, “ngựa” còn được gọi bằng cái tên “ngọ”!

image

Kiểu tóc đuôi gà đã hớp hồn tôi thuở học trò.

Trong thơ Phạm Thiên Thư có cảnh nên thơ giữa hai học trò “trao vội chùm hoa, ép vào cuốn vở” còn tôi thì chơi trội hơn, viết luôn một cánh thiệp hồng báo hỷ bằng tiếng Pháp. Tôi không giỏi Pháp văn đến độ viết được thiệp hồng mà chỉ copy từ cuốn “Cours de Langue et de Civilisation Française” của Mauger đang học.

“Thiệp báo hỉ” mang tên Nguyễn Ngọc Chính và Phan Thị Lụng được để trên yên xe đạp của Lụng trong giờ ra chơi vì không đủ can đảm đưa tận tay nàng. Cho dù có đủ can đảm nhưng chắc cũng không dám đưa vì cái lối “tỏ tình” quá đường đột này.

Chắc chắn nàng đã đọc, không những thế, ngoài hai đứa còn có người thứ ba cũng đã đọc, đó là thầy tổng giám thị. Ông “tế nhị” gặp riêng tôi và cảnh cáo cần phải chấm dứt trò chơi “nguy hiểm” này, nếu tái phạm tôi sẽ bị “cấm túc” và thông báo về gia đình.

image

Nữ sinh miền thùy dương cát trắng Nha Trang

Thế là bao mộng đẹp bỗng tan thành mây khói, mái tóc “đuôi ngựa” mà trước đây tôi chết mê chết mệt bỗng nhiên biến mất khỏi tâm hồn tôi, còn tụi bạn trong lớp đã sửa một câu ca dao quen thuộc thành:

“Muốn người ta mà người ta không muốn,

Xách… ‘thiệp hồng’ chạy xuống chạy lên!”

image

Học trò xứ BMT

Thuở học trò ngày xưa của tôi là thế đấy. Học cũng nhiều và “nghịch tinh nghịch ngầm” cũng không ít. Chẳng thế mà người ta thường nói: “Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò”. Đã mấy chục năm nay tôi chưa một lần gặp lại Phan Thị Lụng kể từ hồi học Đệ Ngũ.

Giờ này chắc nàng đã trở thành bà nội, bà ngoại… còn tôi thì đã là một ông già móm mén bên con đàn cháu đống. Ước gì cô học trò năm xưa đọc được những dòng chữ này để cùng cười cái thuở học trò rắn mắt ngày nào tại xứ Buồn Muôn Thuở…

image

Học trò tỉnh lẻ

Đặc điểm của nền giáo dục VNCH là có sự tách biệt giữa trường nam và trường nữ tại các thành phố lớn, một phần có lẽ là để tránh những “phiền phức” xảy ra trong tuổi học trò mới lớn. Những địa phương nhỏ như BMT thì học trò học chung, và đó cũng là lý do có những chuyện “mới nứt mắt” mà đã biết… tán tỉnh bạn gái cùng lớp như trường hợp của tôi!

Ngôi trường trung học đầu tiên tại miền Nam là Collège Chasseloup-Laubat, thành lập năm 1874 sau này đổi thành trường Lê Quý Đôn, tiếp đến là Collège de My Tho (1879), sau đổi tên là Nguyễn Đình Chiểu. Ở Huế có trường  Quốc Học dành cho nam sinh được thành lập từ năm 1896 và trường Đồng Khánh được dành cho nữ, thành lập từ năm 1917.

Thoạt đầu trường Đồng Khánh chỉ có cấp  tiểu học với với đồng phục màu tím nên còn được gọi là “Trường Áo Tím”. Dưới thời Pháp thuộc đồng phục đổi sang màu xanh nước biển và bắt đầu từ Đệ nhất Cộng hòa có đồng phục màu trắng.

image

Nữ sinh Đồng Khánh (năm 1931)

Nổi bật nhất tại Sài Gòn là hai trường Gia Long và Trưng Vương, những địa chỉ được các “cây si” thường xuyên lui tới. Gia Long còn được gọi là trường “Nữ sinh Áo Tím” ngày nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai, được thành lập từ năm 1915 và thuộc loại “lão làng” trong hệ thống giáo dục của Hòn ngọc Viễn đông.

Xét về tuổi tác thì trường Trưng Vương là em vì phải từ Hà Nội “di cư” vào Nam năm 1954 sau Hiệp định Genève. Năm học đầu tiên Trưng Vương còn phải học nhờ Gia Long vào buổi chiều. Mãi đến năm 1957, trường Trưng Vương mới chính thức xây dựng xong trường ốc gần Sở thú cùng với Võ Trường Toản.

Gia Long và Trưng Vương tượng trưng hai chị em xuất xứ từ hai miền Nam – Bắc trong suốt thời kỳ VNCH. Sau năm 1975, hai trường mở cửa tiếp nhận cả nam lẫn nữ sinh. Và có lẽ những chuyện như cô Ngọ, cô Lụng lại tiếp diễn nhưng chắc ở mức độ “hiện đại” hơn thuở chúng tôi còn đi học.

image

Xe hoa của trường Trưng Vương nhân ngày Phụ nữ Việt Nam năm 1960

Nguyễn Ngọc Chính

***

Chú thích:

[1] Nghe “Ngày Xưa Hoàng Thị” qua giọng ca “bất hủ” của Thái Thanh tại:

http://nhacso.net/nghe-nhac/ngay-xua-hoang-thi.XVlSUUVd.html

[2] Đọc về Phạm Thiên Thư và “Ngày Xưa Hoàng Thị” tại:

http://vietbao.vn/Van-hoa/Ngay-xua-Hoang-thi-noi-tieng-mot-thoi/70031661/181/

[3] Xem video clip Đỗ Văn phỏng vấn Phạm Duy và bài hát “Tuổi ngọc” do Thái Thảo trình bày tại:

httpv://www.youtube.com/watch?v=HjkPzRuKmZU

 

[4] Nhiều người thắc mắc tại sao Nguyên Sa lại đặt tên bài thơ là “Tám phố Sài Gòn”?

Đơn giản chỉ vì bài thơ này gồm 8 đoản khúc:

 

image

 

“Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều

cánh tay tà áo sát vòng eo

có nghe đôi mắt vòng quanh áo

năm ngón thơ buồn đứng ngó theo

 

Sài Gòn phóng solex rất nhanh

Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants

Có nghe hơi thở cài vương miện

Lên tóc đen mềm nhung rất nhung

 

Sài Gòn ngồi thư viện rất nghiêm

Tờ hoa trang sách cũng nằm im

Đầu thư và cuối cùng trang giấy

Những chữ y dài trông rất ngoan

 

Sài Gòn tối đi học một mình

Cột đèn theo gót bóng lung linh

Mặt trăng theo ánh đèn trăng sáng

Đôi mắt trông vời theo ánh trăng

 

Sài Gòn cười đôi môi rất tròn

Vòng cung mầu đỏ nét thu cong

Cầu vồng bắt giữa mưa và nắng

Hay đã đưa dần sang nhớ mong

 

Sài Gòn gối đầu trên cánh tay

Những năm mười sáu mắt nhìn mây

Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn

Tiếng nhạc đang về dang cánh bay

 

Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa

Thứ bẩy Sài Gòn đi Bodard

Guốc cao gót nhỏ mây vào gót

Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ

 

Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng

Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân

Lưng trời không có bầy chim én

Thành phố đi về cũng đã xuân”.

CON HẠC TRẮNG

CON HẠC TRẮNG

Bạn có bao giờ ngắm kỹ một con hạc trắng chưa? Nó trông thật mảnh mai; chân dài, người mỏng, trong một bộ lông trắng muốt. Trông nó thanh cao như một người luống tuổi mà vẫn giữ được phong cách ung dung… Con hạc được coi là một con vật sống lâu cho nên người ta gọi tuổi của các cụ là tuổi hạc.

Bác Sĩ Ornish, tác giả cuốn sách Love & Survival, nói rõ: Tách lìa tình thân gia đình và bạn bè là đầu mối cho mọi thứ bệnh từ ung thư, bệnh tim đến ung nhọt và nhiễm độc.

Tình thương và tinh thần lạc quan là gốc rễ làm cho chúng ta bệnh hay khỏe.

Ba mươi năm trước mà nghe ai nói cô đơn sinh ra các chứng bệnh thì người ta sẽ chỉ cười nhẹ. Nhưng bây giờ điều này đã được nhiều bác sĩ công nhận là đúng.

Những buổi tĩnh tâm chung, có cầu nguyện, có tịnh niệm (tùy theo tôn giáo của mỗi người) chia sẻ những buồn vui, lo lắng của mình cùng người khác cũng giúp khai thông được những tắc nghẽn của tim mạch như là ăn những thức ăn rau, đậu lành mạnh vậy.

Nếu không nói ra được những gì dồn nén bên trong thì chính là tự mình làm khổ mình. Khi nói ra, hay viết ra được những khổ tâm của mình thì hệ thống đề kháng được tăng cường, ít phải uống thuốc.

Theo Bác Sĩ Ornish, khi bị căng thẳng cơ thể sẽ tiết ra một hóa chất làm cho mọi sinh hoạt ứ đọng, ăn không ngon, đầu không suy nghĩ, mạch máu trì trệ, mất sức đề kháng, dễ cảm cúm.

Như vậy sự cô đơn cũng là chất độc như cholesterol trong những thức ăn dầu mỡ, mà chỉ có sống lạc quan mới cứu rỗi được.

Nếu bạn không mở tâm ra cho người khác thì bác sĩ bắt buộc phải mở tim bạn ra thôi!!!

Tuổi như thế nào thì gọi là già, chúng ta biết khi một người qua đời ở tuổi 60 thì được gọi là ‘hưởng thọ’.   Vậy sau tuổi 60 mỗi ngày ta sống là một “bonus”, phần thưởng của Trời cho.

Chúng ta nên sống thế nào với những ngày ‘phần thưởng’ này. Lấy thí dụ một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chỗ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh.

Trong Những lời Phật dạy có câu:

Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.
Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng…

Chắc trong chúng ta không ai muốn rơi vào hoàn cảnh này. Gặp gỡ bè bạn thường xuyên trong những sinh hoạt thể thao là điều tốt lành nhất cho thể lý.

Ði tập thể thao như nhẩy nhẹ theo nhạc, tắm hơi, bơi lội, tennis v.v… đã giúp cho người lớn tuổi giữ được thăng bằng, ít ngã, và nếu có bệnh, uống thuốc sẽ công hiệu hơn, mau lành hơn.

Gặp bạn, nói được ra những điều phiền muộn cho nhau nghe, ngồi tĩnh tâm, đến nhà thờ, chùa cầu nguyện giúp được làm chậm lại sự phát triển của bệnh.

Bác Sĩ Jeff Levin giáo sư đại học North Carolina khám phá ra từ hàng trăm bệnh nhân, nếu người nào thường xuyên đến nhà nguyện họ có áp suất máu thấp hơn những người không đến nhà nguyện, ông bỏ ra hàng đêm và nhiều cuối tuần để theo dõi, tìm hiểu những kết quả cụ thể của “Tín ngưỡng và sức khỏe “!

Cuốn sách ông phát hành gần đây nhất có tên là God, Faith and Health. Trong đó ông cho biết những người có tín ngưỡng khỏe mạnh hơn, lành bệnh chóng hơn, ít bị nhồi máu cơ tim, gặp sự thăng trầm trong đời sống họ biết cách đối diện, họ luôn luôn lạc quan.

Lạc quan là một cẩm nang mà chúng ta nên luôn luôn mang theo bên mình. Ðừng bao giờ nói, hay nghĩ là “Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nữa”  hoặc  “Tôi vụng về, ít học, chẳng làm gì được”.

Tính hài hước, làm cho người khác cười cùng với mình cũng là những liều thuốc bổ.

Thi sĩ Maya Angelou vào sinh nhật thứ 77, trong chương trình phỏng vấn của Oprah, hỏi về sự thay đổi vóc dáng của tuổi già, bà nói:

“Vô số chuyện xẩy tới từng ngày… Cứ nhìn vào bộ ngực của tôi xem. Có vẻ như hai chị em nó đang tranh đua xem đứa nào chạy xuống eo trước”. Khán giả nghe bà, cười chẩy cả nước mắt.  Những vấn đề chính ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn (qua tinh thần) là:

+Sự cảm thông giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà với các cháu.

+Tinh thần chấp nhận và lạc quan

+Nghĩ đến những điều vui nhỏ mỗi ngày.

+Tham gia những sinh hoạt nào phù hợp với sức khỏe.

+Làm việc thiện nguyện.

Sinh,lão, bệnh tử. Con đường đó ai cũng phải đi qua. Nhưng đi như thế nào thì hầu như 80% chính mình là người lựa chọn.

+Nhóm bạn: Ðọc sách, kể chuyện, đánh cờ, chơi bài (không phải ăn thua).

+Tham gia các lớp thể dục: Như Yoga, ngồi thiền, khí công v.v…Và ngay cả chỉ đi bộ với nhau 30 phút mỗi ngày cũng giúp cho tinh thần sảng khoái, sức khỏe tốt hơn là ở nhà nằm quay mặt vào tường.

Hãy thỉnh thoảng đọc lên thành tiếng câu ngạn ngữ này: ‘Một nét mặt vui vẻ mang hạnh phúc đến cho trái tim và một tin vui mang sức khỏe cho xương cốt.’

Chúc tất cả anh chị em luôn cảm thấy vui khoẻ và trọn vẹn an lành trong tâm hồn !

Khuyết danh

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

 

NGÀY CON SINH RA

NGÀY CON SINH RA

Ngày con sinh ra thời gian không tính bằng năm tháng, nhưng bằng những gì mà con đã làm được.

Ngày con sinh ra, mình trần thân trụi, so với bầu trời bao la, con không là chi, so với núi cao biển rộng, con đáng là gì.  Nhưng từng hồng ân Chúa âm thầm rơi xuống trên con, rồi ngày qua ngày, tháng tiếp tháng, năm nối năm, vạn hồng ân ấy đã ghép nên cuộc đời.  Con được muôn bàn tay yêu thương, chăm sóc, được bao người thân ấp ủ quí mến, lo cho con sống, dạy cho con khôn, gửi vào con nhiều ước mơ, cầu mong con nên người tài đức.  Với thời gian, thể xác con lớn lên, trí óc con phát triển.  Vòng xoay vòng, con lại có ngày kỷ niệm mừng sinh nhật trên đời.

Nhưng, ngày sinh của con có gì đáng vui!!!

Khi con đã nhận muôn vàn ơn Chúa, đã nhận biết bao điều của Giáo Hội và xã hội trao ban dưới mọi hình thức, để cuối cùng con chẳng làm được điều gì cho Chúa, cho đời!  Con mắc nợ Chúa, mắc nợ mọi người, dù món nợ không ai đòi hỏi ở con, nhưng con đã không biết trả, lại còn không biết sống nên người…

Ngày sinh của con có gì đáng nhớ!!!

Khi con không có lấy một ước mơ cao đẹp, không một ý nghĩ về tương lai, không có một lý tưởng để sống, và cuối cùng con bước ra cuộc đời này cũng rỗng tuếch như khi con bước vào trần gian, không có gì dâng Chúa…

Ngày sinh của con có gì đáng mừng!!!

Khi con thừa biết đời người có là bao, mà vinh quang thật ngắn ngủi và thập giá cứ lê dài, thế nhưng con không can đảm biến thập giá thành vinh quang, biến tiếng khóc của con khi chào đời thành tiếng khóc của người khi con nằm xuống.

Ngày sinh của con có gì đáng nói!!!

Khi con chỉ ngồi chờ điều dễ, thoái lui điều khó, thích gặp người giàu, quyền thế, xa lánh kẻ nghèo, vô danh.  Thích đời phục vụ hơn phục vụ đời.  Thích ghi sổ vàng, khắc bia bạc hơn âm thầm chia sẻ, cho không.

Nếu con chỉ thích là kẻ sống nhanh, sống dễ, thì ngày con sinh cũng là ngày con chết.

Lạy Chúa!

Xin cho con sống trọn vẹn 24 giờ trong một ngày.

Xin cho con sống can trường 30 ngày trong một tháng.

Xin cho con sống thật người 12 tháng trong một năm.

Để kỷ niệm ngày sinh của con là ngày đáng vui, đáng nhớ, đáng mừng và đáng nói.

Bồ Câu Trắng

(Lễ sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả)

From: suyniemhangngay1 & Anh chị Thụ Mai gởi

MƯA NGUỒN…

MƯA NGUỒN…

Song Như.

Mưa mang giọt nhớ sầu vương,
Rơi trên tóc mẹ như sương khói chiều,
Mái tranh dột nát tiêu điều,
Bờ tre bụi chuối cô liêu một mình,
Bay xa biết mấy tâm tình,
Thương con mẹ vẫn lặng thinh cõi lòng,
Nhìn ra cuối ngõ mênh mông,
Cánh cò biền biệt nhớ không lối về,
Bóng ai thấp thoáng trên đê,
Mừng trong ánh mắt mà tê tái buồn…
Mưa rơi lớp lớp như tuôn,
Niềm riêng quạnh quẽ như nguồn nước rơi…

Liverpool.10-6-2014.
Song Như.

“Mai anh về nhớ mang theo…

“Mai anh về nhớ mang theo…

Nguyên Thạch

Mai anh về
Nhớ lần theo con đường cũ
Ánh trăng thề, vẫn ấp ủ bờ đê
Hơn ba mươi năm rồi
Quê vẫn là quê
Đời lam lũ… khối nhiêu khê anh ạ.

Anh thoát đi
Được nhìn muôn thứ lạ
Em nơi nầy
Một kiếp lá thu rơi!

Mai anh về
Chớ cười nhé, anh ơi
Mong thông cảm cho những mảnh đời khó nhọc.

Đằng đẵng bao nhiêu năm
Ngút ngàn lừa lọc…
Em chứng nhân
Học gần đủ đau thương…

Ngày ấy anh đi
Lưu lại nỗi vấn vương
Em nghèo quá, chỉ còn đường lao động.

Mai anh về
Nhớ mang theo vùng trời cao đất rộng
Bù cho em một ước vọng.
Tự Do.

Hơn ba mươi năm
Em xin mãi
Chẳng ai cho!
Lòng cố đợi
Như thuở yêu
Mình hẹn hò anh ạ.

Mai anh về
Nhớ mang theo những thứ mà dân mình thấy lạ
Thứ ấy là Dân Chủ Tự Do
Những thứ mà gần cả đời, em xin mãi
Đảng chẳng cho!.”

Thanh Hùng gởi

Những nhà cai trị vô trách nhiệm

Những nhà cai trị vô trách nhiệm
July 20, 2014

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Ngày 27 Tháng Tư, 2014, Thủ Tướng Nam Hàn Chung Hong-won đệ đơn lên tổng thống xin từ chức sau vụ chìm phà Sewol làm cho 300 người tử vong. Vụ chìm phà Sewol không nằm trong sự kiểm soát trực tiếp của thủ tướng, nhưng ông Chung cho rằng ông có lỗi vì đã không ngăn được tai nạn thảm khốc này, và chính phủ phải có trách nhiệm về an sinh của dân chúng.

TV tại nơi tạm trú của người nhà nạn nhân chìm phà Sewol, Nam Hàn, cho thấy Thủ Tướng Chung Hong-won thông báo từ chức. (Hình: Ed Jones/AFP/Getty Images)

Tại Nhật năm 2011, sau khi có vụ động đất 9 độ richter, gây nên một trận sóng thần lớn, nhà máy điện nguyên tử Fukushima nổ cháy bốn lần, gây phóng xạ lớn phải di tản dân chúng. Mặc dù nguyên nhân vụ nổ tại đây chưa tìm ra nguyên nhân, các cấp lãnh đạo của Công Ty Ðiện Lực Tokyo đã đứng ra nhận lỗi và xin lỗi với đồng bào của họ và chấp nhận mọi hình thức trừng phạt, thừa nhận vì các giới chức trách nhiệm không lường trước hậu quả của trận động đất và sóng thần vừa qua.

Trên thế giới có người từ chức vì nhận mình có lỗi không xứng đáng với chức vụ cấp trên giao phó cho mình, như một ông bộ trưởng hỏa xa từ chức vì có chuyến xe lửa trật đường rầy, gây chết chóc cho dân chúng hay ông thủ tướng từ chức vì bị tố cáo nhận quà một chai rượu quá đắt tiền. Ðiều này chứng tỏ con người tôn trọng danh dự và có trách nhiệm, điều này quý hơn là một chức vụ, cái ghế ngồi, nhờ đó có thể kiếm được nhiều bổng lộc, tư lợi.

Ở Việt Nam ngày nay, người ta đã không có thứ văn hóa nhận lỗi, chuyên ngậm miệng ăn tiền, mặt trơ mày trẽn mà còn thêm thói quen đổ lỗi.

Theo nguồn tin của Vnexpress trong nước chỉ trong 10 ngày đầu của Tháng Bảy, trong ngành hàng không ở Việt Nam đã có 1,100 chuyến bay bị chậm trễ hoặc hủy bỏ.

Một chuyến bay từ Thanh Hóa đi Sài Gòn bị hủy do thời tiết xấu, nhưng để hành khách phải đợi 14 tiếng đồng hồ sau đó hành khách được chuyển từ Thanh Hóa ra sân bay Hà Nội. Có chuyến bay cất cánh rồi, bị hành khách đòi xuống vì có việc gia đình khẩn cấp, có chuyến bay khách đến đúng giờ thì máy bay đã cất cánh cách đó một tiếng đồng hồ rồi. Có chuyến bay trễ vì một cái…lông chim!

Ðêm 19 Tháng Sáu, máy bay của VietJet Air chở khách đi Ðà Lạt nhưng lại hạ cánh xuống Cam Ranh, vì máy bay đi Ðà Lạt bị trục trặc không bay được, phải dồn khách sang chiếc máy bay đã chuẩn bị đi Cam Ranh. Nhưng phi công trưởng là người Czech, không ai cho phi hành đoàn biết là đã đổi lộ trình, nên phi công vẫn đi Cam Ranh như chương trình đã định. Ðúng là chuyện thật như đùa, không khác gì chuyện làm của trẻ con!

Tổng giám đốc Vietnam Airline cho rằng sai sót là do sân bay quá tải vào giờ cao điểm, thiếu phương tiện mặt đất, có cạnh tranh bất chính giữa các hãng hàng không, do thời tiết, tình trạng yếu kém của dịch vụ sân bay, chậm giờ, hủy chuyến là do các hãng dồn chuyến như dồn khách xe đò để tăng doanh thu. Nói chung là tại, bởi, vì… không phải lỗi của người có trách nhiệm, nói rõ là ông lãnh đạo hàng không Việt Nam hay ông bộ trưởng Giao Thông.

Cũng nói về chuyện giao thông, đường sá cầu cống hiện nay bị hư hỏng, lún… thì các vị có trách nhiệm đổ lỗi cho xe dùng đường quá tải, mà không truy cứu trách nhiệm, ai đã thi công sai sót, ăn cắp nguyên liệu. Nhiều tờ báo trong nước đã nêu rõ chuyện xa lộ Ðại Hàn vòng đai Sài Gòn, làm đã trên 40 năm nay vẫn còn sử dụng tốt, vậy thì ưu điểm của XHCN là gì? Ngay vụ một cây cầu lòi ra xi măng cốt tre khi xe vận tải chạy qua ở Biên Hòa mới đây, chưa thấy nêu rõ lỗi ai, ai thi công và biện pháp trừng phạt như thế nào, chung quy cũng tại cái xe hay cái chân nặng nề của thằng… dân.

Chuyện đã có người nói và nói đi nói đi lại mãi là vụ cây cầu treo ở bản Chu Va 6, xã Sơn Bình (Lai Châu) sáng ngày 24 Tháng Hai bất ngờ bị đứt rơi xuống vực, khiến 9 người chết, 41 người bị thương, khi hàng chục người dân ở đang đi theo một đám tang trên cầu. Chuyện này, đáng ra những người có trách nhiệm làm cầu phải bị tử hình, ở tù hay mất chức, như Kim Jong-Un đã xử tử ba anh kỹ sư khi một chung cư bị sụp đổ bên Bắc Hàn, giết chết hàng trăm người, thì lại được một thiếu tướng, giám đốc công an tỉnh Lai Châu, không chuyên môn mà chẳng trách nhiệm, dám tuyên bố khẳng định cầu sập là do quá tải và “vì người Hmong khi khiêng quan tài thường đi rất nhanh.” Ðúng là “phủ bênh huyện, huyện bênh phủ,” vì huyện hay phủ đều là đảng.

Ðã 40 năm trôi qua, những tệ nạn xã hội hiện nay, mỗi ngày được ngay cả các cơ quan truyền thông của chính phủ và đảng loan báo, tệ nạn mại dâm tràn lan, xì ke ma túy đầy dẫy, cướp bóc lộng hành thì quý vị đổ lỗi cho là… “tàn dư Mỹ Ngụy.” Tàn dư này là những thứ xấu xa, dơ bẩn còn sót lại, như những hạt giống vừa bẩn vừa độc. Những hạt giống này chẳng may còn vương vãi lại trên một mảnh đất bùn lầy độc địa nên càng ngày càng nở rộ, sinh sôi, nảy nở phát triển tràn lan. Những người điều hành đất nước hiện nay hoàn toàn không có trách nhiệm.

Chuyện công an đánh chết người khi thẩm vấn là vì, do chúng không chịu nhận cái tội mà chúng không làm. Quan chức còn tham nhũng là vì lương không đủ sống. Cướp bóc là vì không chịu đi làm, trong khi kiếm không ra việc làm. Xã hội nhan nhản người đi ăn trộm chó, là vì người ta thích ăn thịt chó. Người ta giết người bắt chó vô tội vạ, không có bản án là vì người dân quá “bức xúc!”

Các vị cứ ngồi đó cho đến lúc bị cất chức, càng lâu càng tốt. Nói như ông thủ tướng khi bị các đại biểu Quốc Hội chất vấn và đòi ông từ chức vì những yếu kém của ông, ông đã thẳng thừng trả lời, “Tôi không xin với đảng cho tôi giữ chức vụ này hay chức vụ khác. Mặt khác tôi cũng không thoái thác bất cứ trách nhiệm nào mà đảng và nhà nước đã giao phó.” Sau đó ông nói thêm đảng hiểu rõ năng lực, tư cách, tâm tư, nguyện vọng và ông cũng nghiêm túc báo cáo về bản thân mình trước đảng. Nói chung là đảng hiểu ông, phân công cho ông, và hay, dở, ông báo cáo trước đảng, dính gì đến ba thằng dân. Các bộ trưởng hay tổng giám đốc đều do ông bổ nhiệm sẽ theo đường lối của ông, không từ chối những gì đảng đã giao phó, chỉ trách nhiệm với đảng.

Ðảng hay dân trả lương cho họ?

Những người cai trị này coi dân như …cừu!

Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ

Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ

Nữ nhà văn Mỹ Helen Keller đã từng nói: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để mang giày”.

Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đỡ – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.

Đó là lúc khó khăn của bạn, đôi chân của bạn có thể đưa bạn đến bất cứ nơi đâu, đó là hạnh phúc và may mắn khi bạn sinh ra trên đời được có quyền đứng trên đôi chân của mình để đi. Khi không may đôi chân phải nặng nề hơn trên con đường đang bước thì hãy chớ vội nản lòng, khó chịu bởi đằng kia có rất rất nhiều người đang khao khát được bước và được đi như bạn dù chỉ một bước chân.

Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình kém may mắn trong cuộc đời này, hãy biết trân trọng từng phút giây khi được sinh ra trên cuộc đời này.

Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ – Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều. Sống là động nhưng lòng không dao động.

Mỗi sớm mai thức dậy việc đầu tiên mà ta phải làm là hãy nở một nụ cười thật tươi để trả lại cho cuộc sống đã cho ta được sinh ra trên cuộc đời này, có được một đôi chân vững chãi để bước đi, có được một đôi tay lành lặn để ôm ấp những người mà ta yêu thương, có được một đôi mắt sáng để nhìn ngắm thế giới xung quanh, có được niềm tin và nghị lực trong mỗi chặng đường đời để cảm thấy mình hạnh phúc dù ở trong hoàn cảnh nào.

Hãy biết nâng niu và trân trọng từng phút giây mà bạn đang có để biết yêu thương được đong đầy như thế nào trong cuộc đời mình.

HIỆN TẠI CỦA BẠN ĐANG LÀ MỘT NIỀM MƠ ƯỚC CỦA NHIỀU NGƯỜI,

XIN HÃY TRÂN TRỌNG VÀ SỐNG TRỌN VẸN NGAY THỰC TẠI, BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY

Page semi-protected
Tiểu sử Helen Keller
A woman with full dark hair and wearing a long dark dress, her face in partial profile, sits in a simple wooden chair. A locket hangs from a slender chain around her neck; in her hands is a magnolia, its large white flower surrounded by dark leaves. 

Helen Keller holding a magnolia, ca. 1920.
Born Helen Adams Keller
June 27, 1880
Tuscumbia, Alabama, U.S.
Died June 1, 1968 (aged 87)
Arcan Ridge
Easton, Connecticut, U.S.
Occupation Author, political activist, lecturer
Education Radcliffe College

Signature

Chuyện Kể Năm 2014

Chuyện Kể Năm 2014

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Nói dại: lỡ mà ngày mai ông Thủ Tướng, ông Chủ Tịch Nước, ông Tổng Bí Thư hay ông Chủ Tịch Quốc Hội… chuyển sang từ trần chắc (chắn) tất cả đều không được mọi người “tiếc thương” đến thế – nếu chưa muốn nói là ngược lại.

Có lần, tôi nghe, ông Vũ Thư Hiên “xúi” một người bạn đồng nghiệp

– Hay là mở một cái quán cà phê lấy tên Già Đô đi, bảo đảm là đông khách.

Người bị xúi, nhà văn Bùi Ngọc Tấn, lắc đầu cùng với một nụ cười hiền:

– Thôi, chả “trêu” chúng nó làm gì cho nó thêm rách việc ra. Mình còn nhiều chuyện cần phải có thời giờ để viết.

Già Đô là một người bạn cùng tù, và cũng là một nhân vật (nguyên mẫu) trong Chuyện Kể Năm Hai Ngàn của Bùi Ngọc Tấn:

Già là một lính thợ Pháp quốc trong đại chiến thế giới thứ hai. Từ Pháp già đã tới Algérie, Maroc (cái lý lịch ấy thật tai vạ cho già). Già đã là thợ đốt lò dưới con tàu Commerce Maritimes thuộc hãng Đầu Ngựa. Hải Phòng – Marseille là hành trình những năm tuổi trẻ của già. Làm được hai năm già thôi việc. Chỉ vì già không chịu được những lời mắng nhiếc của chủ …

Già bỏ tàu lên thành phố Marseille. Vào quán rượu quen. Uống. Uống nhiều. Và không trở về tàu nữa. Lang thang ở Marseille cho đến đồng frăng cuối cùng, già tìm được việc làm trong một xưởng sửa chữa xe có động cơ. Từ xe gắn máy, các loại ô-tô tới xe nâng, cần cẩu. Tại đây già bị động viên vào một đơn vị cơ giới. Già sang Maroc, Algérie, vẫn làm nhiệm vụ sửa xe.

Đại chiến thế giới thứ hai kết thúc. Già trở về Marseille. Trở về xưởng cũ. Lấy vợ. Cô Jeannette bán hoa quả ở gần bến cảng lớn bổng lên khiến già ngỡ ngàng, xao xuyến. Hai vợ chồng vay vốn mở một tiệm rượu nhỏ. Khách là những người phu pooc-tê, những thuỷ thủ, những người thợ nhan nhản ở thành phố Marseille.

Rồi già biết quê nhà đã được độc lập. Niềm sung sướng lớn lao và nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu biệt xứ bỗng cồn cào trong lòng không chịu nổi. Càng không chịu nổi khi biết tin hiệp nghị Genève đã ký kết. Một nửa đất nước được độc lập. Lại thêm thôi thúc vì chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo đất nước là người từng lâu năm ở Pháp, cũng từng là một mạch-lô.

Già về nước. Khi đó bà Jeannette đã sinh cho già một cô con gái xinh đẹp, có nước da trắng của bà, có mái tóc và đôi mắt đen của già Đô. Mặc bà vợ khóc can ngăn, già nhất định về nước. Rồi già sẽ sang đón bà về. Độc lập rồi, xây dựng sẽ rất nhanh. Đất nước sẽ phát triển rất nhanh. Dân tộc ta thông minh, cần cù, chiu khó lại được bao nước giúp đỡ. Đất nước đang cần những bàn tay như già…” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập II. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

Nói tóm lại, và nói một cách ví von: Già Đô là một Nguyễn Mạnh Tường hay Trần Đức Thảo của giới công nhân nhưng trung vận (cũng như hậu vận) đen đủi hơn nhiều. Tuy không chết rục trong tù nhưng Già Đô cũng sống không nổi trong lòng Cách Mạng, vẫn theo như lời của Bùi Ngọc Tấn:

“Già đi bới rác. Già lê la ở các cửa hàng mậu dịch, khách sạn. Dồn dịch những bát phở, vét đĩa, nhặt những mẫu bánh mì thừa… Rồi đến một ngày già không đi được nữa. Già thấy mình đang phiêu diêu…

Già chọn cho mình chỗ nằm để phiêu diêu: Một ngôi đình đổ nát và bị bỏ quên… Ngôi đình hoàn toàn hoang phế. Không một dấu vết thờ phượng. .. Thực là một chỗ nằm yên tĩnh lý tưởng để phiêu diêu. Chẳng ai quấy rầy già. Phiêu diêu là một cảm giác sung sướng lạ lùng. Chẳng nhớ được một điều gì, chỉ thấy mình đang tan đi và đang bay…

Đó là mùa xuân năm 1975, cũng đang mùa mưa dầm, hắn đã ra tù được hai năm, đã được gặp ông Trần và quân ta ta sắp đánh Buôn Mê Thuột mở đầu công cuộc giải phóng toàn thể miền Nam, thu giang sơn về một mối.” (sđd 224-226).

Gần bốn mươi năm sau (sau khi giang sơn đã thu về một mối) Việt Nam lại xuất hiện những Già Đô mới, cũng rất đậm nét bi hài – theo như tường thuật của biên tập viên Mặc Lâm:

“Vào thời khắc gần đón giao thừa năm Giáp Ngọ, công an bao vây nhà bà Bùi Thị Minh Hằng đe dọa chủ nhà không được chứa chấp hai người tù vừa được trả tự do là hai anh em Huỳnh Anh Tú và Huỳnh Minh Trí.”

Hai hôm sau, ký giảTrương Minh Đức cho biết thêm:

“Hơn 20 công an đã ập vào nhà tôi (Trương Minh Đức) tại đường N3 khu phố 04 thị trấn Mỹ Phước 1, huyện Bến Cát Tỉnh Bình Dương kiểm tra hộ khẩu vào lúc 0 giờ 55 phút, rạng sáng ngày mồng 03 tết (02/01/2014) trong lúc kiểm tra có hai anh Huỳnh Anh Tú và Huỳnh anh Trí vừa ghé qua thăm gia đình tôi vào lúc 21 giờ, vì đêm quá tối nên hai anh đã nghĩ lại qua đêm.”

Nhửng mẩu tin trên dễ khiến độc giả của Chuyện Kể Năm 2000 thốt nhớ đến tình cảnh của Già Đô, khi mới ra tù, lúc đang sống chui rúc và lén lút tại căn nhà (20 mét vuông) của người bạn cùng tù Bùi Ngọc Tấn:

Khi hắn chợp được một lúc mà hắn tưởng như đã lâu lắm rồi, có tiếng đập cửa và tiếng gọi to như ra lệnh:

– Mở cửa nhé! Kiểm tra hộ khẩu đây.

Đó là điều hắn vẫn chờ đợi. Và hắn đã chuẩn bị sẵn câu trả lời. Hắn bật điện, mở cửa…

– Ai kia?

Cái nhìn hướng vào lùm chăn ở góc nhà, góc trong cùng cạnh chỗ thằng Hiệp. Cái chăn lùng nhùng cọ quậy và một người ngồi nhỏm dậy. Già Đô râu dài, tóc xoã, dăn deo, sợ sệt, mắt nheo nheo vì chói ánh đèn.

Người ta nhìn vào hắn. Ngọc cũng đã ngồi dậy. Nàng cố chỉnh đốn y phục, vuốt tóc tai cho đỡ bù xù, bước ra:.

Dạ thưa các anh, đây là bạn nhà tôi ạ.

– Có đăng ký tạm trú không?

….

– Dạ, chưa ạ.

– Bác khách có giấy tờ gì không?

Già Đô hất hẳn chiếc chăn bông ra. Già tìm trong đống bùng nhùng chăn màn, áo, túi, lấy ra một tờ giấy. Đó là tờ lệnh tha… (sđd, trang  219-220).

Bà Bùi Minh Hằng, và ông Trương Minh Đức – rõ ràng – đều không dễ bắt nạt như ông bà Bùi Ngọc Tấn ngày nào. Họ không ngại “ăn thua đủ” với lực lượng công an để bảo vệ hai người bạn tù vừa mới được tha: Huỳnh Anh Tú và Huỳnh Anh Trí. Tuy nhiên, lòng quả cảm và sự bảo bọc của họ – tiếc thay – đã không giúp được cho người bạn tù của mình toàn mạng.

Vào ngày 6 tháng 7 năm 2014 vừa qua, không ít người bàng hoàng khi đọc được một bản tin ngắn (“Tù Nhân Lương Tâm Huỳnh Anh Trí Đã Qua Đời Sau Một Thời Gian Ngắn Mãn Hạn Tù”) trên diễn đàn Dân Luận:

Nửa năm sau khi được nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do sau 14 năm tù giam vì bị khép vào tội khủng bố chống chính quyền nhân dân, tù nhân lương tâm Huỳnh Anh Trí đã qua đời vào lúc 13:30 phút ngày hôm nay (05/07/2014) tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (quận 5, Sài Gòn), hưởng dương 43 tuổi.

Anh Huỳnh Anh Trí sinh năm 1972 mới được nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do vào ngày 29 tháng 12 năm 2013 đã qua đời vì bị mắc căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS trong thời gian bị tù giam. Truyền hình Đức Mẹ trực thuộc Truyền Thông Chúa Cứu Thế Việt Nam (VRNs) đã làm một phóng sự gồm 4 phần, để vạch trần một tội ác khủng khiếp của chế độ CSVN đối với những người bất đồng chính kiến. Sau cái chết gây xúc động lòng người của Thầy Giáo Đinh Đăng Định cách đây hơn 3 tháng, đây là Tù Nhân Lương Tâm thứ hai chết sau một thời gian ngắn ra tù trong năm 2014 này.

Được biết, hai anh em Tù Nhân Lương Tâm Huỳnh Anh Trí và Huỳnh Anh Tú liên tục bị Công An xách nhiễu, đe dọa sau khi được trả lại tự do, thậm chí chị Bùi Thị Minh Hằng – hiện đang bị nhà cầm quyền Việt Nam vô cớ bắt giam từ nhiều tháng qua – đã phải phản ứng bằng cách để hàng chục can xăng bao quanh nhà sẵn sàng tử thủ, để đáp trả hành động công an dùng xe ủi sập một phần cổng nhà, khi chị Bùi Hằng cưu mang hai anh em Huỳnh Anh Trí và Huỳnh Anh Tú ngày mới ra tù, không chốn nương thân.

Thành kính phân ưu cùng gia đình anh Huỳnh Anh Trí.

Tương tự như Già Đô, anh em Huỳnh Anh Tú, Huỳnh Anh Trí không còn có thân nhân nào còn ở Việt Nam. Gia đình họ đã phiêu tán đâu đó (*) từ lâu. Khác với Già Đô, người tù Huỳnh Minh Trí đã không phải nằm chết dấm dúi trong một “ngôi đình hoàn toàn hoang phế.”

Ông đã trút hơi thở cuối trong vòng tay than ái của bằng hữu và giữa sự  tiếc thương của tất cả mọi người. Hình ảnh vô số những lẵng hoa chia buồn trên mạng, cũng như những vòng hoa phúng điếu trong đám tang của ông – xem được trên trang FB Huỳnh Công Thuận – là một hiện tượng rất hiếm hoi, chỉ thấy vào tháng trước trong đám tang của nhà giáo Đinh Đăng Định.

Ảnh chụp từ xa nên tôi chỉ xem đọc được những giòng chữ phân ưu của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam, Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam, Hội Thánh Tin Lành Mennonite, Đồng Bào H’ Mong Phía Bắc. Nói dại: lỡ mà ngày mai ông Thủ Tướng, ông Chủ Tịch Nước, ông Tổng Bí Thư hay ông Chủ Tịch Quốc Hội… chuyển sang từ trần chắc (chắn) tất cả đều không được mọi người “tiếc thương” đến thế – nếu chưa muốn nói là ngược lại.

Chuyện Kể Năm 2000 đã cũ. Những vòng hoa tiễn biệt, cùng với những đoàn người lũ lượt trước linh cửu Huỳnh Minh Trí và Đinh Đăng Định – hy vọng – giúp cho những kẻ hiện đang nắm quyền ở VN hiểu ra được một điều giản dị: đã đến lúc họ phải ra đi, trước khi quá muộn.

Tưởng Năng Tiến

(*) Sau khi bài viết này đã hoàn thành, chúng tôi mới đọc được bản tin ngắn “Tường Thuật Lễ Tang Anh Anphong Huỳnh Anh Trí” trên trang VRNS và được biết thêm đôi diều:

– Từ Thái Lan, ông Huỳnh Kim Sơn – thân phụ của Huỳnh Minh Trí – đã đến kịp để nhìn mặt con lần cuối, sau hơn ba mươi năm xa cách.

– Ngoài những hội đoàn kể trên, trong tang lễ còn có sự hiện diện của thành viên Hội Nhà báo Độc Lập VN, Truyền Thông Dòng Chúa Cứu Thế, Văn phòng Công Lý và Hòa Bình DCCT, Nhóm No U Sài Gòn,  Phật giáo Hòa Hỏa, bà con Dân Oan, Khối 8406, Con Đường VN…

Từ trái sang: Thân phụ anh Trí (ngồi), anh Tú, người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu, Thượng tọa Thích Thiên Minh, vợ chồng anh Nguyễn Bắc Truyển tham dự thánh lễ tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn. Nguồn ảnh và chú thích VRNS

 

BỎ THẦY, CON THEO AI?

BỎ THẦY, CON THEO AI?

Tôi nổi giận, và Ngài bảo:  HÃY THỨ THA
Tôi run sợ, và Ngài bảo:  CAN ĐẢM
Tôi nghi hoặc, và Ngài nói:  HÃY TÍN THÁC
Tôi bồn chồn không ngơi, và Ngài nói: TĨNH LẶNG
Tôi thích đi con đường riêng của mình, và Ngài bảo:  HÃY THEO TA
Tôi muốn lập kế hoạch riêng của mình, nhưng Ngài bảo:  HÃY QUÊN ĐI
Tôi nhắm tìm của cải vật chất, và Ngài bảo:  HÃY BỎ LẠI ĐẰNG SAU
Tôi muốn được bảo đảm, nhưng Ngài nói:  TA CHẲNG HỨA HẸN GÌ
Tôi thích sống ̣đời riêng của mình, và Ngài nói:  TỪ BỎ CHÍNH MÌNH
Tôi nghĩ mình tốt lành, nhưng Ngài bảo:  TỐT LÀNH THÔI CHƯA ĐỦ
Tôi thích làm ông chủ, và Ngài nói:  PHỤC VỤ
Tôi thích ra lệnh cho người khác, nhưng Ngài nói:  HÃY HỌC VÂNG LỜI
Tôi kiếm tìm tri thức, và Ngài nói:  HÃY TIN
Tôi thích sự rõ ràng, nhưng Ngài lại nói bằng:  DỤ NGÔN
Tôi thích thi ca, Ngài lại nói CHUYỆN THỰC TẾ
Tôi yêu sự yên tĩnh của mình, còn Ngài lại muốn TÔI BỊ QUẤY RẦY
Tôi thích bạo lực, và Ngài bảo: BÌNH AN Ở CÙNG CHÚNG CON
Tôi rút gươm ra, nhưng Ngài bảo:  NÉM ĐI
Tôi nghĩ đến trả thù, nhưng Ngài bảo:  ĐƯA MÁ BÊN KIA
Tôi nói về trật tự, và Ngài bảo:  TA ĐẾN ĐEM GƯƠM GIÁO
Tôi căm ghét, nhưng Ngài bảo:  HÃY YÊU THƯƠNG KẺ THÙ
Tôi muốn gieo hoà hợp, và Ngài nói:  TA ĐEM LỬA XUỐNG THẾ GIAN
Tôi thích làm người lớn nhất, nhưng Ngài bảo:  HÃY HỌC LÀM TRẺ NHỎ
Tôi muốn ẩn thân, và Ngài nói:  ÁNH SÁNG PHẢI CHIẾU SOI
Tôi kiếm tìm chỗ nhất, nhưng Ngài bảo:  XUỐNG CHỖ CUỐI CÙNG
Tôi thích được quan tâm, và Ngài nói:  ĐÓNG CỬA LẠI MÀ CẦU NGUYỆN

Không, tôi không hiểu Ông Giêsu này. Ngài khiêu khích tôi làm tôi bối rối.
Cũng giống như nhiều môn đệ khác, tôi muốn đi theo một ÔNG THẦY KHÁC, chắc chắn hơn
và ít đòi hỏi hơn.

Nhưng tôi cảm nhận như Phêrô:  “Tôi không biết ai khác có LỜI BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI”

Sưu tầm

Thiên Chúa và các khoa học gia.

Thiên Chúa và các khoa học gia.

TRẦM THIÊN THU

Các khoa học gia có tin Thiên Chúa? Có 40% các khoa học gia tin Thiên Chúa, đa số là các khoa học gia trẻ tuổi. Chứng cớ về Thiên Chúa không dễ tìm thấy trong phòng thí nghiệm, nhưng tôn giáo vẫn giữ vai trò quan trọng trong giới khoa học.

Isaac Newton

Ông là một trong các khoa học gia nổi tiếng nhất. Ông là nhà vật lý và nhà toán học đã phát hiện định luật vạn vật hấp dẫn. Ông đưa ra chứng cớ về Thiên Chúa: “Thái dương hệ đẹp nhất, các hành tinh, và sao chổi, chỉ có thể xuất phát từ ý định và quyền lực về sinh vật thông minh và quyền hành”.

Albert Einstein

Ông là cha đẻ của thuyết tiến hóa. Khoa học gia nổi tiếng này tin vào quyền tối cao mà lại không nhận biết Thiên Chúa. Ông giải thích về quan điểm tâm linh: “Mọi người theo đuổi khoa học đều tin rằng thần linh biểu hiện trong quy luật của vũ trụ – một thần linh vượt trội con người, và trước thần linh này, chúng ta phải khiêm nhường. Theo cách này, sự theo đuổi khoa học dẫn tới cảm thức tôn giáo của một loại đặc biệt, điều này thực sự rất khác với tín ngưỡng của người ngây thơ”.

Stephen Hawkings

Khoa học gia nổi tiếng trong thời đại chúng ta là tiến sĩ Stephen Hawkings. Ông là chuyên gia về thuyết tương đối và cơ học lượng tử. TS Hawkings là người theo thuyết bất khả tri (agnostic), không phải là vô thần (atheist), nhưng ông có nói về Thiên Chúa: “Điều tôi đã làm là để chứng tỏ rằng có thể vũ trụ bắt đầu được xác định bằng quy luật của khoa học. Trong trường hợp này, không cần yêu cầu Thiên Chúa quyết định cách khởi đầu vũ trụ. Điều này không chứng tỏ là không có Thiên Chúa”. Điều “không chứng tỏ là không có Thiên Chúa” tức là “chứng tỏ có Thiên Chúa”.

Charles Darwin

Charles Darwin là nhà sinh học nổi tiếng với thuyết tiến hóa “nóng sốt” trong thời ông. Nhưng khi tuyên bố rằng con người tiến hóa từ cây cối và động vật như loài khỉ, Darwin đã đưa ra chứng cớ về Thiên Chúa: “Với nhận thức của chúng ta, không thể hiểu rằng vũ trụ to lớn và kỳ diệu này ngẫu nhiên mà có, đối với tôi có vẻ là sự tranh luận chính về sự hiện hữu của Thiên Chúa”.

Francis Collins

Dự án gen con người được hoàn tất năm 2003. Bản đồ gen kỳ diệu đó đã thay đổi các nghiên cứu của y học và sinh học. Lịch sử trước đó chưa bao giờ có nhận thức khoa học nào mở ra những cánh cửa tới việc cải thiện chất lượng của cuộc sống. TS Francis Collins là giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc gia về Hệ Gen Con người (National Human Genome Research Institute). Người ta hỏi: “Các khoa học gia có tin vào Thiên Chúa?”. Ông trả lời: “Khoa học không hiệu quả trong việc phê bình thế giới siêu nhiên. Đối với tôi, cả hai thế giới đều khá thực tế và khá quan trọng. Chúng nghiên cứu khác nhau. Chúng cùng hiện hữu. Chúng soi sáng lẫn nhau”.

Max Planck

Ông đoạt Giải Nobel về vật lý. Thuyết lượng tử của ông đã khiến nhân loại phải suy nghĩ lại một số niềm tin về triết học mà trước đây người ta ca tụng. Khoa học gia Kitô giáo này sống trong chế độ Đức quốc xã, ông thấy nhiều bạn bè và đồng nghiệp trong giới khoa học bị hành hạ vì niềm tin tôn giáo. Đây là lời ông nói về khoa học và Kinh Thánh: “Cả tôn giáo và khoa học đều cần tin vào Thiên Chúa. Đối với những người tin, Thiên Chúa ở trong sự khởi đầu, còn đối với các nhà vật lý thì Thiên Chúa là cuối cùng của sự cân nhắc… Không phải ngẫu nhiên mà các nhà tư tưởng lớn của các thời đại đều tin có linh hồn”.

Erwin Rudolf Josef Alexander Schrödinger

Trước khi có máy vi tính, có một kiểu mẫu đối với nguyên tử và phân tử, điều này cho thế giới một điều gì đó gọi là “cơ chế sóng cuối cùng”. Một số người nói rằng việc áp dụng cơ chế lượng tử hiện đại là tiền bối đối với kỹ thuật như chúng ta biết ngày nay.

Erwin Schrödinger là nhà vật lý người Áo, sống có trách nhiệm. Ông nói về Thiên Chúa và khoa học: “Tôi rất ngạc nhiên thấy hình ảnh khoa học về thế giới thật ở xung quanh tôi là quá thiếu. Nó có nhiều thông tin thật, đặt kinh nghiệm của chúng ta vào một trật tự rất phù hợp, nhưng lại im lặng về mọi thứ, những thứ tạp nham lại ở gần tâm hồn chúng ta, thực sự là vấn đề đối với chúng ta. Nó không thể cho chúng ta biết về màu đỏ và màu xanh, vị đắng và vị ngọt, nỗi đau và niềm vui thể lý; nó chẳng biết gì về cái đẹp và cái xấu, điều thiện và điều ác, thần linh và vĩnh hằng”.

William H. Bragg

Ông là người Anh, là nhà vật lý, nhà hóa học, và nhà toán học. Ông là người tinh luyện quá trình sử dụng tia X để làm vỡ các tinh thể. Đó là khám phá lớn khiến ông đoạt Giải Nobel.

Ông giải thích về tôn giáo và khoa học: “Nhờ tôn giáo mà có mục đích của con người, nhờ khoa học mà đạt được mục đích. Đôi khi người ta tự hỏi không biết tôn giáo và khoa học có đối lập với nhau hay không. Thế này: theo nghĩa ngón tay cái và các ngón tay trong bàn tay đối lập với nhau. Đó là sự đối lập mà mọi thứ đều nắm bắt được”.

Wernher Von Braun

Bạn có thông minh hơn khoa học gia về rocket?  Kỹ sư không gian Wernher Von Braun là người Mỹ gốc Đức, ông không chỉ là cha đẻ của khoa học về rocket, ông còn là khoa học gia có niềm tin vào Thiên Chúa. Ông nói: “Tôi thấy khó hiểu về một khoa học gia mà lại không nhận biết sự hiện hữu của Đấng Tối Cao ẩn sau sự hiện hữu của vũ trụ, như vậy thì cũng giống như một thần học gia mà lại từ chối sự tiến bộ của khoa học”.

Rõ ràng khi bạn hỏi: “Các khoa học gia có tin vào Thiên Chúa?”. Trả lời: “Có!”. Đó là sự thật, dù không phải là khoa học gia nào cũng tin như vậy. Nhưng người ta có thể thấy rằng chứng cớ về Thiên Chúa có thật trong thế giới khoa học.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ beliefnet.com)

Anh chị Thụ Mai gởi