Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt

“Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt”

Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư
Tay quờ quạng, cầm tay vài tiếng hát
Lúc xòa ra chẳng có một âm thừa”.

(Dẫn từ thơ Nguyên Sa)

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá lược dịch

Ưu tư – chót buồn trong mắt, không chỉ là nỗi buồn của thế kỷ. Tay cầm – quờ quạng, có thể là tâm trạng của nhà Đạo, vào mùa chay. Mùa chay hôm nay, có ưu tư thoáng buồn, như tâm trạng của Đức Chúa, nơi trình thuật.

Trình thuật thánh Gio-an hôm nay, ghi lại tình tự Chúa tỏ bày cho dân con của Ngài, để “tôn vinh Cha”. Điều mà Chúa trả lời cho người đến tìm Ngài, là: tìm Ngài, không có nghĩa chỉ nên tìm ảnh-hình bên ngoài, để nhớ vóc dáng. Như ông Zakêu, lúc đầu làm. Nhưng, “tìm gặp” Ngài, là dấn bước trọn vẹn vào với suy tư. Vào, để hiểu rõ tại sao Ngài chấp nhận khổ đau. Và, chết đi. Rồi, sống lại.

Tựa hạt lúa miến, Chúa phải ngang qua tất cả mọi sự. Qua cuộc đời, ngõ hầu đem sự sống đến với Ngài. Với mọi người. Đây là tiến trình “tự bóc trần”, mà người Hy Lạp gọi đó là kenosis, tức: biến đổi. Biến và đổi, như hạt lúa miến. Nhìn bề ngoài, nó như bị hủy hoại. Nhưng nhờ bị huỷ, nó mới to lớn. Để rồi, sẽ làm giàu cho người khác. Nếu ta không coi và cứ chấp nhận điều đó, như cốt lõi của cuộc đời Đức Chúa, thì rõ ràng là ta chẳng thể tìm gặp và thấy được Ngài, cho đúng nghĩa.

Và, Chúa còn đi xa hơn, khi Ngài nói: chúng ta phải suy tư về mình, như: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn, ai coi thường mạng sống mình ở đời này, sẽ giữ được sự sống, chốn miên trường.” (Ga 12: 25). Lời như thế, phần đông chúng ta thấy khó mà chấp nhận. Khó là bởi, ai cũng muốn chiếm hữu nhiều tiền, nhiều của. Muốn an toàn, yên ổn. Muốn bao đảm có được tương lai ngời sáng. Trong khi đó, Chúa lại bảo: chỉ khi nào chấp nhận bỏ hết mọi sự, và giữ mỗi tình yêu thương phục vụ người khác, thì khi đó, ta mới hoàn thành phần sâu thẳm, của chính ta.

Phục vụ người khác, là đến với Chúa. Đến, để ra đi theo cung cách Ngài dạy:“Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy. Và, Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng ở đó.” (Ga 12: 26) Dấn bước theo cung cách Chúa hành xử, là đi với Chúa. Và, có Mẹ cùng đi . Mẹ và ta, cùng tiến bước lên đồi ngọn Calvariô. Tiến và bước, đến bất cứ nơi đâu. Đi bất cứ chỗ nào. Đi và đến, chấp nhận mọi điều/mọi thứ xảy ra, với ta.

Vấn đề thêm nữa, là: ta đã sẵn sàng ở vào tình huống “đi và đến” ấy chưa? Hay vẫn cứ lo sợ mọi sự xấu/ác thần, xảy đến với ta? Đi và đến, có là đòi hỏi lớn, từ Đức Chúa? Với Chúa, chuyện này cũng dễ thôi. Nhưng, với ta? Dù sao, cũng nên nhớ đến thư thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Do Thái, có nói rõ: “Đức Giêsu giống hệt như ta trong mọi sự, trừ tội lỗi.”

Vậy nên, đừng nghi hoặc. Bởi, vào khi Chúa khuyên nhủ ta làm điều gì, vì Chúa cũng mang tính người như ta, nên Ngài cũng sầu buồn, lo ngại. Vì lo, mới thốt thành lời: “Giờ đây, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này?” (Ga 12: 27) Nhưng, điều Chúa muốn bày tỏ là lời cầu Ngài đã thực hiện sau Tiệc Giã Từ: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho đi chén này qua khỏi Con!” (Mt 26: 39)

Bài đọc 2, ta thấy thánh Phaolô dùng lời lẽ rất xúc động, khi thánh nhân có thư cho giáo đoàn Do Thái: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức giêsu đã lớn tiếng kêu van cùng nước mắt mà dâng lên lời nguyện cầu nài xin Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết.” (Dt 5: 7)

Mọi sự xảy đến, đều dễ xảy ra với Chúa hơn với ta. Với Chúa, chuyện chỉ xảy đến sau chuỗi ngày dài nguyện cầu, ở Vườn Dầu. Xảy vào lúc, Ngài sầu buồn đổ mồ hôi, cùng rướm máu. Hãi hùng. Hãi đến độ Ngài đã lên tiếng: “Song, không phải như ý Con, mà như ý Cha.” (Mt 26: 39) Và, thánh Phaolô, còn nói rõ hơn: “Dù là Con Thiên Chúa, Ngài đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục.” Và từ đó, “Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ cho những ai tùng phục Ngài.” (Dt 5: 9)

Chính vào lúc Chúa hoàn toàn tuân phục Cha, thì vinh quang của Cha đã khởi sắc, ngang qua Ngài. Rất chói lọi. Và, Ngài kêu lên: “Đã hoàn tất.” Với thánh Gio-an, câu này có nghĩa: khoảnh khắc có sự chết là khoảnh khắc vinh quang, về với Cha. Hạt giống có chết, mới đâm hoa. Kết trái. Đậu quả.

“Phần Tôi, khi được giương cao khỏi đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi.” (Ga 12: 32) , giương cao ở đây, ý nói: việc Đức Chúa được đưa lên cao, trên khổ giá. Đồng thời, cũng có nghĩa: Ngài được nâng nhấc về với vinh quang của Cha. Bởi thế nên, nếu ta trọn vẹn dâng cao mình cho Đức Chúa theo cung cách tương tự, thì vinh quang Chúa cũng sẽ chờ đợi, đến với ta.

Và như thế, hôm nay ta có muốn tìm gặp Chúa, cũng không nên theo cung cách hời hợt bề ngoài. Nhưng, hãy học đòi tìm cách thức tư riêng mà nguyện cầu. Cầu, cho ân sủng Người được thấm nhập tận phần sâu thẳm, ở trong ta. Cầu và mong, những gì ta gặp thấy, sẽ trở nên thị kiến cuộc đời. Thị kiến giúp ta sống. Nhờ Chúa nâng cao, để mọi sự trôi qua đi, là vì tình thương yêu Ngài dành hết cho mọi người. Để, gọi mời ta cùng với Ngài đi chung một lối. Đi cùng mọi người.

Ta cũng hãy nguyện cầu, để có được lòng quả cảm và tín thác. Tín thác như Ngài đối xử với Cha. Tức, cần khám phá ra nhiều thứ. Khám phá, để rồi cuộc sống, niềm hạnh phúc và sự tuân phục giúp ta đi vào hành trình. Ở nơi đó, ta sẽ gặp thấy qui cách khiến mọi việc trôi chảy. Để Chúa hoạt động, nơi ta. Và cho ta.

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá lược dịch

VÂNG LỜI TIẾNG LƯƠNG TÂM

VÂNG LỜI TIẾNG LƯƠNG TÂM

Mùa Chay, nếu chỉ nhìn bề ngoài thì khó ai có thể nói là vui thích được, bình thường đó là bốn mươi ngày chúng ta phải từ bỏ những gì chúng ta ưa thích, cho dù điều đó là do chúng ta tự ý làm hay do một sự ép buộc nào đó.  Chung qui, chúng ta cũng phải từ bỏ một điều chúng ta thích.  Và ngay cả trên bình diện đức tin, chúng ta tự ý để cho mình phải chịu một chút hy sinh, từ bỏ những tiện nghi và có thể những đau đớn một chút với mục đích là chúng ta muốn thanh luyện, thánh hóa toàn thân và canh tân tinh thần, canh tân tâm hồn.

Lý do nền tảng của những việc mà chúng ta làm trong tinh thần sám hối của mùa Chay là vì chúng ta chiêm ngắm những đau khổ của Chúa Giêsu đã chịu vì yêu thương chúng ta.  Vì thế mà Ngài đã bị hành hạ đau khổ đến mức tột cùng để cứu chuộc chúng ta và Ngài đã chết trên thập giá vì chúng ta. Chúa Giêsu đã mang lấy tất cả những đau khổ đó vì nhân loại và vì bản thân của mỗi chúng ta.  Người không phải chịu đựng những đau khổ đó nhưng Người đã phải cưu mang tất cả vì chúng ta.  Chính nhờ sự cứu chuộc của Người mà chúng ta được chung hưởng vinh phúc trên thiên đàng, niềm vinh phúc mà Ađam và Eva đã đánh mất khi sa ngã phạm tội và cắt đứt tình nghĩa với Chúa.

**********************************

Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những người phải chịu nhiều đau khổ.  Chúng ta muốn giúp họ nhưng chẳng biết phải nói làm sao, cũng chẳng biết phải làm gì để gúp họ vơi đi những khổ đau.  Ðứng trước những hoàn cảnh như thế, chúng ta cảm thấy mình vừa bất lực vừa lo âu, nhất là khi chúng ta đối diện với sự qua đời của một người thân.  Có lẽ lúc đó điều chúng ta có thể làm là khóc với họ.

Có lần tôi đã chứng kiến cảnh người mẹ trẻ quá bối rối vì không thể làm gì hơn là cứ phải đứng nhìn đứa con nhỏ của cô đang khóc lóc, vì bàn tay bị bỏng phỏng giộp lên.  Cô không biết làm cách nào để xoa dịu nỗi đau của con.  Cô đã lấy hòn đá đập bị thương ngón tay của mình rồi cô khóc tức tưởi hơn cả đứa con của cô.  Có lẽ chúng ta không hiểu được hành động của người mẹ, nhưng có thể nói chính vì yêu mà người mẹ đã có thể làm như vậy.  Và trong hoàn cảnh cụ thể của cô, có thể đó là giải pháp, là cách thức để cô chia sẻ với nỗi đau của người con mà cô yêu thương.

Tình thương không cho phép người ta chứng kiến cảnh người mình yêu bị đau khổ, người ta phải làm đủ mọi cách trong khả năng của họ để làm sao giúp người mình yêu thoát khỏi khổ đau.  Có thể nói đó chính là những ý tưởng định hình cho những công việc hy sinh của chúng ta trong mùa Chay một cách nào đó, để tỏ bày lòng sám hối.  Ðó cũng là những cách thức, những việc làm cụ thể, để chúng ta bày tỏ tâm tình yêu mến và chia sẻ những khổ đau của chúng ta với Chúa Giêsu.  Ðó là bước đầu chúng ta đi vào con đường của tình yêu tự hiến, con đường mà Chúa Giêsu đã đi.  Ðó là yêu thương trọn vẹn, hy sinh cho tất cả, trao hiến tất cả cho người mình yêu.

Ðể được như thế, trước hết chúng ta phải tập sống từ bỏ vì yêu thương, từ bỏ một chút tiệc ly, một chút của cải vật chất, từ bỏ một chút gì là của riêng mình: sở thích, tư tưởng, lập trường.  Cụ thể hơn nữa, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc vâng lời.  Vâng lời cha mẹ, bề trên, anh chị em trong gia đình, vâng lời thầy cô giáo, những người có bổn phận trách nhiệm dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta bằng việc chúng ta sẽ tập trung lo chu toàn những công việc bổn phận, những nhiệm vụ được trao một cách trọn vẹn.

Xa hơn một chút, chúng ta thực hành những luật lệ chính đáng và công bình, nhằm đem lại lợi ích cho tha nhân chẳng hạn như giữ nghiêm ngặt luật giao thông, bảo vệ cảnh quan những nơi công cộng cho sạch đẹp, giữ luật vệ sinh chung, v.v… việc hy sinh của chúng ta có thể đi xa hơn bằng việc thực thi bác ái vào những việc làm cụ thể để giúp đỡ những người khác, đó cũng là một hình thức chúng ta vâng lời, vâng lời tiếng lương tâm của chúng ta cũng chính là tiếng Chúa.  Ðây chỉ là một vài điều được nêu lên trong khi mỗi chúng ta có thể làm vì vâng lời, vì tiếng nói cũng là mệnh lệnh sau cùng chúng ta tuân theo là tiếng nói yêu thương của Thiên Chúa.  Ðồng thời, chúng ta đáp trả lại bằng những hành động diễn tả tình yêu dưới nhiều hình thức khác nhau, để chúng ta chia sẻ với Ngài, tỏ bày tình thương và sự cảm thông của chúng ta với nỗi đau mà Ngài đã chịu vì yêu thương.  Thánh giá là dấu hiệu đánh động chúng ta nhất để chúng ta luôn nhắc nhớ mình hãy làm một điều gì đó để xoa dịu nỗi đau của Chúa Giêsu và thân thể của Người là anh chị em chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu,

Xin ban ơn trợ lực để chúng con can đảm bước theo con đường Ngài đã đi.

R. Veritas

Xóa bỏ dối trá lớn để đẩy lùi dối trá nhỏ

Xóa bỏ dối trá lớn để đẩy lùi dối trá nhỏ

Nguyễn Khắc Mai

Dư luận đang quan tâm đến Báo cáo điều tra xã hội học về nhũng thói xấu của xã hội Việt hiện nay do Trần Ngọc Thêm chủ trì. Đây là một đề tài nhạy cảm, không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận, vì nó chính là những giá trị được hình thành một cách từ từ qua quá trình lịch sử do sự tác động bởi nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân chủ yếu là hệ ý thức ngoại lai được du nhập vào Việt Nam ngoài ý muốn của người dân.

Trước hết xin trích một câu nói của K. Marx về vấn đề này: “Tệ dối trá, tệ lớn nhất, gắn liền với báo chí bị kiểm duyệt, tệ xấu căn bản này là nguồn gốc của tất cả những thiếu sót khác của nó, trong đó cả mầm mống của mỹ đức , tệ đó là nguồn gốc của tệ đáng ghét nhất – thậm chí xét theo quan điểm mỹ học cũng thế – tệ tiêu cực. Điều đó dẫn đến cái gì? Chính phủ (ở VN thì phải nói trước hết là Đảng) chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình, duy trì sự lừa dối và cũng đòi nhân dân phải ủng hộ sự lừa dối đó. Còn nhân dân hoặc sẽ rơi vào tình trạng mê tín chính trị, hoặc hoàn toàn quay lưng với cuộc sống quốc gia , biến thành đám người chỉ sống với cuộc đời riêng tư”(Marx- Engels toàn tập,T1, tr105, NXB Sự thật).

Có một nghịch lý tồn tại từ rất lâu trong việc sử dụng chủ nghĩa Marx ở Việt Nam mà cả giới lãnh đạo chóp bu cũng như hệ thống Trường Đảng đều rất hiểu nhưng không bao giờ nói ra. Đó là, một mặt, họ lợi dụng những phần không tưởng, thậm chí sai lầm nghiêm trọng trong học thuyết của Marx làm kim chỉ nam lừa bịp nhân dân, nhằm duy trì càng lâu càng tốt chế độ độc tài toàn trị; mặt khác lại phủ nhận những tư duy khoa học, nhất là những phản tỉnh trên tinh thần phục thiện vào cuối đời khi ông nhận ra những sai lầm của mình trong quá trình viết “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”và “Tư bản luận”.

Cho dù là “tổ sư” của Chủ nghĩa duy ý chí, nhưng cách đây gần hai trăm năm, Marx cũng đã từng cảnh báo tệ dối trá là nguồn gốc của mọi thứ tệ hại khác. Chính phủ, Đảng duy trì sự dối trá là chỉ muốn nghe tiếng nói của chính mình bất chấp mọi ý kiến phản biện của các thành phần xã hội.Và kết quả của nó là đẩy xã hội tới sự bất ổn chính trị, kinh tế khủng hoảng, văn hóa đạo đức băng hoại.

Cuối đời Marx và Engels đã đính chính lại học thuyết của mình khi họ nhiều lần khẳng định rằng không có cái gọi là lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa, đó là ảo tưởng nhất thời và ấu trĩ, và, về vai trò của giai cấp công nhân trong Cách mạng vô sản chỉ là sự ngộ nhận. Hãy nghe Ph. Engels nói (Trich Lời nói đầu Cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp): “Lịch sử chứng tỏ còn làm được nhiều hơn thế, không những đã xóa bỏ mê muội của chúng ta hồi đó mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản. Phương pháp đấu tranh năm 1848 nay đã lỗi thời về mọi mặt, chẳng có mục tiêu lớn Chủ nghĩa cộng sản gì cả. Đó chỉ là một mệnh đề được người khai sáng chủ nghĩa Marx dề xuất lúc trẻ, nhưng vứt bỏ nó vào cuối đời”.

Còn về quyền sở hữu, thực chất là tư hữu, Marx đã phủ nhận chính học thuyết của mình: “Những nhà sản xuất (doanh nhân), chỉ trở thành tự do, một khi họ sở hữu được những phương tiện sản xuất” (đất đai, nhà xưởng, tàu thuyền, ngân hàng, tín dụng…). Thế mà các đảng Cộng sản cầm quyền, trong đó có Việt Nam lại xác quyết với dân là Marx chống tư hữu để đưa vào Hiến pháp khẳng định thể chế công hữu là chủ đạo, tìm mọi cách hạn chế quyền sở hữu của người dân nhất là về ruộng đất, đẩy đại đa số nông dân thành “vô sản” đúng với nghĩa đen của nó.

Điều thứ hai là Marx có một quan niệm hoàn toàn khác về vai trò giai cấp công nhân so với thời kỳ đầu: “Chính quyền của giai cấp công nhân sẽ được tạo dựng bằng một chế độ ủy quyền. Người ta sẽ phó thác cho một nhóm người tự mình ứng cử và bầu cử nhằm đại diện và cai trị họ. Điều ấy sẽ khiến cho họ rơi tõm ngay vào mọi sự lừa dối, và mọi sự lệ thuộc của chế độ ủy trị và tư sản. Sau một hồi ngắn ngủi tự do và say sưa cách mạng, làm công dân của một nhà nước mới, họ sẽ bừng tỉnh thấy mình là nô lệ, là con rối hoặc là con mồi cho những tham vọng mới” (ils se reveilleront esclave, jouets,ou victimes de nouveau ambitieux). Cả hai câu trên đều trich dẫn tư Marx Cuộc đời và tác phẩm của J.Eleinstein, NXB Fayard.

Khi nói về xã hội Việt Nam hiện tại, không thể không bàn tới cái gọi là chế độ Xã hội xã hội chủ nghĩa hay Chủ nghĩa cộng sản. Trước hết phải thừa nhận chủ trương công hữu tài sản là sai sai lầm nghiêm trọng, coi giai cấp công nhân là lực lượng tiên tiến lãnh đạo cách mạng, trong thực tế chính là đánh lừa họ, vô hình chung, biến họ thành con rối, con mồi cho những tham vọng chính trị của giới cầm quyền.

Chính thể CHXHCN Việt Nam hiện nay thực chất chỉ là bản sao không hoàn chỉnh của mô hình nhà nước kiểu trại lính của Stalin và phương châm “súng đẻ ra chính quyền” của Mao Trạch Đông. Những khẩu hiệu sáng loáng như “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” hay “Thể chế XHCN của chúng ta tốt đẹp gấp triệu lần tư sản”, “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”… chỉ là những ngôn từ rỗng tuếch, bịp bợm, mê hoặc nhân dân nhằm củng cố địa vị thống trị của một tập thể “vua lãnh đạo” mà tiểu biểu là 16 danh xưng ngồi chót vót ngôi cao nhưng thiểu năng trí tuệ, não trạng đen tối.

Từ nhũng năm 1960 cho đến trước năm1975 ở miền Bắc, rồi từ 1975 đến 1986 ở cả nước, Đảng CSVN đã quán triệt một chủ trương duy ý chí đến mức điên rồ “tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Kết quả là, không phải sức mạnh hủy diệt của B52 Mỹ như R.Nixson từng tuyên bố, mà chính đường lối sai lầm của Đảng CSVN, đã xuýt nữa “đưa đất nước Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Đến trước Đại hội VI, khi mà nền kinh tế Việt Nam đang mấp mé bên bờ vực thẳm, người dân có nguy cơ chết đói hàng loạt, khiến ông Đảng trưởng phải buột miệng kêu lên “chúng ta phải tự cứu mình trước khi trời cứu, thì cũng là lúc Đảng nhận ra sai lầm nhưng lại đổ lỗi cho hoàn cảnh “khách quan”, đó là “tại kháng chiến chống Mỹ và thằng bao cấp(?!). Ông trùm Lenin từng cảnh báo về tác hại của thói “kiêu ngạo cộng sản” nhưng Đảng không lấy đó làm bài học sửa mình mà luôn tự vỗ ngực khoe khoang, họ bao giờ cũng đúng. Chỉ có nhân dân là sai, cho nên, khi bị dồn đến bước đường cùng, Đảng vội đẩy “thằng bao cấp” ra làm vật hy sinh.

Thật ra bao cấp chỉ là một phương thức quản lý và phân phối sản phẩm xã hội, nó được hình thành ngay từ thời kỳ phong kiến. Ngày nay, “bao cấp” được duy trì dưới nhiều hình thức khác nhau trong hầu hết các quốc gia, trong đó làm tốt nhất phải nói là các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch. Đó là những nước nằm trong hệ thống Tư bản chủ nghĩa, nhưng thực chất nội hàm của nó lại là “Chủ nghĩa xã hội dân chủ”. Ở đó, an sinh xã hội cao chính là một hình thức bao cấp tuyệt vời nhất, mà với Việt Nam, có lẽ đến thế kỷ XXII vẫn chỉ là giấc mơ giữa ban ngày.

Ở châu Á , Singapore là nơi phương thức bao cấp theo Lý Quang Diệu cũng là một mô hình rất đáng cho những người Cộng sản Việt Nam học tập.

Nhưng vấn đề là, “đảng ta” không bao giờ hạ mình học tập ai bởi “Đảng là trí tuệ, là văn minh…” (Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của HCM), thì làm sao còn phải học.

Ai cũng biết nhà nước pháp quyền hiện đại đều phải dựa theo nguyên lý cơ bản “Tam quyền phân lập”, một thứ được xem là “khế ước xã hội” tiến bộ cả thế giới phải thừa nhận, Đảng không dám trắng trợn xóa bỏ nguyên lý này, bèn đánh tráo bằng mệnh đề rất chi là “thớ lợ”: “sự phân công giữa ba cơ quan quyền lực!”. Thế nhưng, đến đứa trẻ con cũng biết, sự phân công là đương nhiên giữa các cơ quan quyền lực, kể cả trong cái cơ cấu nhà nước độc tài toàn trị Cộng sản.

 

Có thể nói Đảng CSVN là bậc thầy của những chuyên gia sáng tạo “giảo ngữ”. Ví dụ, khi đưa ra “sáng kiến” “phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN”, thì báo chí hé lộ một định nghĩa quá tức cười, bởi vì nó không định được gì cả, rằng “kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế có đầy đủ yếu tố thị trường theo định hướng XHCN”(xem bài tường thuật cuộc hội thảo “Nhận thức mới về kinh tế thị trường XHCN” trên báo Tuổi trẻ TPHCM).

Một thiết chế xã hội, trong đó những thực thể được coi là chính thống, nhưng không chính danh, lô gích nội tại không chính xác, làm sao khắc phục được sự rối loạn chuẩn mực. Một khi đã rối loạn chuẩn mực thì tất yếu dối trá sẽ lên ngôi, biến một xã hội tử tế thành xã hội lưu manh, trong đó kẻ cầm quyền là trùm lưu manh.

Đầu năm Con Dê này, ở lĩnh vực văn hóa, ngoài các tin “giật gân” như hiện tượng “cướp” trong các lễ hội đến mức ẩu đả phải vào bệnh viện mà ông Phó trưởng Ban Tuyên Huấn Thành ủy Hà Nội giải thích theo “định hướng” là “cướp có văn hóa”, tin Mạnh Vương ngự trên “ngai vàng” ở “phòng khánh tiết” tư gia, tiếp Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn (lực lượng hậu bị) thì sự kiện làm bàn dân thiên hạ “choáng” nhất là cái hôn đầy nhơt dãi mang nặng màu sắc tình dục vào má cô hoa hậu mới đăng quang của một ông Giáo sư, Anh hùng lao động, rởm. Lại nữa, ngoài đôi câu đối đầu ngô mình sở nặng mùi sex mà một vế “mượn tạm” của Lý Bạch, tặng người đẹp Kỳ Duyên, “Đương đại quốc sư” còn bị bóc mẽ khi “thuổng” trọn vẹn đôi câu đối của người khác đặt lên bàn thờ tổ tiên họ Vũ của mình.

Từ những hiện tượng không bình thường trên, ta có thể thấy nền văn hóa Việt Nam đã đến kỳ mạt vận. Trần Nhân Tông viết trong Cư trần lạc đạo: “Cùng nơi ngôn cú”, nghĩa là nơi lĩnh vực ngôn cú – lĩnh vực tư duy khoa học, nghiên cứu…phải đi đến cho tận cùng. Điều tra xã hội học để thấy rõ cái thực trạng đang diễn ra từng ngày, từng giờ trong cuộc sống. Tuy nhiên, chỉ mô tả thực trạng không đủ mà phải cứu xét đến tận cùng của nguồn gốc. Có như thế mới tìm được cách uốn nắn, điều chỉnh.

Phương Tây họ có mấy chữ bắt đầu bằng ký tự “W” để nói cả qui trình nghiên cứu. Chữ “What” là nói nội dung của thực trạng tệ giả dối. Chữ “Who” nói ai là thực thể hành xử tiêu cực, và quan trọng là “ai” đã góp phần gây nên tệ nạn. Không thể không nghĩ tời tầng lớp trí thức vốn rất bạc nhược của nước ta. Họ không phải là kẻ đầu têu, nhưng là kẻ cổ xúy rất nhiệt tình cho những tệ nạn xấu xa đó. Có thể nói, “Văn hóa Đảng” đã biến giới trí thức Việt Nam thành những kẻ bạc nhược, nhưng lại cơ hội và đầy tham vọng.

Có một “ai” nữa là hệ thống chính trị cổ hủ, lạc hậu , giáo điều. Trong cái guồng máy đầy khuyết tật ấy, 4 triệu đảng viên không thể là kẻ vô can.

Còn chữ “Why” là nói sự tìm tòi cho ra nhũng nguyên nhân khác nhau. Có nguyên nhân từ hệ ý thức, thể chế chính trị, có nguyên nhân văn hóa , đạo đức, nguyên nhân kinh tế, giáo dục, nguyên nhân tông giáo (đương nhiên là tông giáo quốc doanh). Trong lĩnh vực này, K.Marx tuy mắc không ít sai lầm , nhưng đôi lúc ông cũng có những nhận định khá chính xác về các mối quan hệ xã hội: “bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”. Tuy nhiên hầu hết cán bộ tuyên huấn thường quên chữ “bản chất” nên hiểu hiểu sai ý Marx. Khi những quan hệ xã hội lệch pha, rối loạn, không xác tín, nghĩa là những quan hệ dối trá, thì phẩm chất của con người sẽ thế nào có thể đoán định ra được.

Bản báo cáo không chỉ tìm nạn nhân, phải tìm thấy tội nhân và cả nhũng tác nhân trong vô vàn những dữ liệu sống.

Tôi xin trich một câu nổi tiếng về chính danh trong sách Lã Thị Xuân Thu: “Danh chính thì trị, danh mất thì loạn. Kẻ làm cho mất danh là kẻ nói, chủ trương quá mức. Nói, chủ trương quá mức, tức là biến cái có thể, cái cho phép thành cái không có thể, không cho phép:nên cái phải, biến thành cái không phải, biến cái đúng thành cái không đúng, cái sai thành cái không sai…Phàm mọi sự loạn là do hình danh không đúng vậy”.

Trước khi dừng bút xin chép tặng giới trí thức nước nhà một câu triết lý của Alcuin, mà Nietzsche rất thán phục và nhắc lại: “Thiên chức của triết học (Trí thức) là đính chính những điều thiên lệch, củng cố những điều chính nghĩa, và làm thăng hoa những điều thánh thiện”(La vẻritable vocation royale pour une philosophie: Prava corrigere,et recta corroborare et saneta sublimare). Liệu trí thức nước nhà đã thật sự “thức dậy” chưa đặng kê lại cho bằng nhũng thiên lệch, gia cố cho đủ mạnh những gì đứng đắn, và làm thăng hoa những gì là tốt đẹp?

N.K.M.

PEW: Quốc gia cộng sản Việt Nam chuộng chủ nghĩa tư bản hơn Mỹ

PEW: Quốc gia cộng sản Việt Nam chuộng chủ nghĩa tư bản hơn Mỹ

13.03.2015

Hầu hết người Việt Nam hiện nay ủng hộ chủ nghĩa tư bản, theo kết quả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew.

Global Post ngày 13/3 dẫn kết quả cuộc nghiên cứu thực hiện cuối năm ngoái về các vấn đề kinh tế tại gần 45 quốc gia cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia thân tư bản nhất trên thế giới, với  95% người Việt trong nước yêu chuộng chủ nghĩa tư bản.

Không một nước nào trong số các quốc gia được khảo sát vượt quá tỷ lệ 90%.

Ngay cả Hoa Kỳ, nơi khái niệm xã hội chủ nghĩa có thể được dùng như một sự sỉ nhục, chỉ 70% số người được hỏi đồng ý rằng kinh tế thị trường tự do là mô hình kinh tế tốt nhất.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, nơi mà đảng cộng sản cầm quyền từng buộc hàng triệu người tham gia các nông trường tập thể, hầu hết mọi người được hỏi lại tán đồng với quan điểm này.

Sự ủng hộ chủ nghĩa tư bản của Việt Nam, theo bài phân tích, là đáng ngạc nhiên khi nhìn lại lịch sử cận đại của nước này. Việt Nam được biết đến nhiều từ cuộc chiến của Mỹ tìm cách đánh bại chủ nghĩa cộng sản và đặt chủ nghĩa tư bản thân Tây phương tại Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam kết thúc cách đây 4 thập niên đã cướp đi 2 triệu mạng sống và biến các thành phố ở Việt Nam thành các đống đổ vụn bốc khói.

Hoa Kỳ đã rải bom tại khu vực này nhiều hơn số bom đã sử dụng trong thời Đệ Nhị Thế chiến để ngăn chủ nghĩa cộng sản do Liên Xô hậu thuẫn lan tràn khắp Châu Á, nhưng phe cộng sản đã chiến thắng trong cuộc chiến này.

Tuy nhiên, theo thời gian, học thuyết chủ nghĩa về lao động tập thể và nhà nước thống lĩnh kinh tế hoàn toàn của những người cộng sản đã tàn lụi đến nỗi hầu như tất cả người Việt, trong đó có cả những đảng viên cộng sản, giờ đây đi theo lý tưởng chủ xướng bởi cựu thù của họ.

Cuộc khảo sát cũng đo lường kỳ vọng của người dân cho tương lai, yếu tố chủ yếu của cái gọi là ‘giấc mơ Mỹ.’

Ở lĩnh vực này cũng thế, Việt Nam cũng qua mặt Mỹ, với 94% người Việt được hỏi cho biết họ tin con em họ hôm nay sẽ khá hơn cha mẹ chúng rất nhiều.

Tại Hoa Kỳ, cứ 10 người được khảo sát thì chỉ có 3 người tin rằng tương lai con cái họ sẽ vượt trội cha mẹ chúng.

Nguồn: Global Post/ Pew Research

22 CÂU NÓI CÓ THỂ THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI BẠN

22 CÂU NÓI CÓ THỂ THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI BẠN

1. Tiền xu luôn gây ra tiếng động … nhưng tiền giấy lại luôn im lặng. Vì thế khi giá trị của bạn tăng lên, hãy giữ cho mình luôn khiêm tốn và nói ít đi!.

2. Càng nói ít, càng nghe được nhiều. – Alexander Solshenitsen

3. Khi người khác hỏi những điều mà bạn không muốn trả lời, xin hãy cười và nói “tại sao bạn lại muốn biết điều đó?”.

4. Không ai cần đến một nụ cười nhiều như người không thể cho đi nụ cười.

5. Thành công lớn nhất là đứng dậy sau mỗi lần bị vấp ngã!.

6. Rất nhiều người không dám nói lên những gì họ muốn. Đó là lý do tại sao họ không có được chúng. – Madonna

7. Khi trưởng thành, tôi ngày càng ít quan tâm đến những gì mọi người nói. Tôi chỉ xem những gì họ làm được. – Andrew Carnegie

8. Kiên trì làm việc tốt sẽ mang lại nhiều thứ. Như mặt trời có thể làm tan băng, lòng tốt có thể làm bốc hơi sự hiểu lầm, hoài nghi và thù địch. – Albert Schweitzer

9. Cuộc sống giống như một cuốn sách. Một vài chương khá buồn, một số chương hạnh phúc và một số chương rất thú vị. Nhưng nếu bạn chưa bao giờ lật thử một trang bạn sẽ không bao giờ biết được những gì ở chương tiếp theo!.

10. Bạn có thể kết bạn được nhiều hơn trong vòng hai tháng bằng cách quan tâm đến người khác hơn là hai năm cố gắng bắt người khác quan tâm đến bạn. – Dale Carnegie

11. Tình bạn là một tâm hồn trú ngụ trong hai cơ thể. – Aristotle.

12. Tôi tiến bộ bằng cách ở cạnh với những người tốt đẹp hơn mình và lắng nghe họ. Và tôi giả sử rằng mọi người đều tốt đẹp hơn tôi ở một mặt nào đó. – Henry J. Kaiser

13. Tranh cãi với một kẻ ngốc sẽ chứng minh rằng có hai kẻ ngốc.
– Doris M. Smith

14. Những người làm việc cùng bạn phản ánh chính thái độ của bạn – Beatrice Vincent

15. Đừng quá khắt khe với chính mình. Thậm chí những sai lầm cũng có nghĩa là bạn đang cố gắng!.

16. Không có hành động tử tế nào, dù nhỏ, lại bị xem là lãng phí.
– Aesop

17. Bất luận lúc nào khi bạn nghe điện thoại, khi nhấc điện thoại lên xin bạn hãy cười lên, vì đối phương sẽ cảm nhận được nụ cười của bạn!.

18. Cuộc sống vốn không công bằng, hãy tập quen dần với điều đó!
– Bill Gates

19. Lưỡi không xương nhưng đủ cứng để làm vỡ nát một trái tim … vì thế hãy cẩn thận với ngôn từ của bạn!.

20. Đừng bao giờ cố giải thích con người bạn với bất cứ ai. Vì những người tin bạn không cần điều đó còn những người không thích bạn sẽ không tin lời bạn đâu!.

21. Nhu cầu cơ bản nhất của con người là nhu cầu thấu hiểu và được thấu hiểu. – Ralph Nichols

22. Hãy ghi nhớ 3 điều: CỐ GẮNG, KIÊN ĐỊNH, TIN TƯỞNG

CỐ GẮNG cho một tương lai tốt hơn

KIÊN ĐỊNH với công việc

TIN TƯỞNG vào bản thân

Và thành công sẽ thuộc về bạn.

Sự thay đổi trong cán cân quyền lực tại Việt Nam

Sự thay đổi trong cán cân quyền lực tại Việt Nam


Nguyễn Hưng Quốc

Mới đây, trên tờ East Asia Forum ngày 5 tháng 3, Lê Hồng Hiệp, chuyên viên nghiên cứu tại Institute of Southeast Asia Studies, có một bài viết khá hay về sự thay đổi trong cán cân quyền lực trong hệ thống chính trị tại Việt Nam.

Theo Lê Hồng Hiệp, trước đây, quyền lực chính trị tại Việt Nam chủ yếu nằm trong tay một cá nhân (Hồ Chí Minh và/hoặc Lê Duẩn), sau, chuyển sang Bộ Chính trị (dưới thời các Tổng Bí thư từ Trường Chinh đến Nông Đức Mạnh), và gần đây, chuyển sang Ban Chấp hành Trung ương đảng.

Có mấy bằng chứng cho thấy sự thay đổi này: Một, vào tháng 10, 2012, khi Bộ Chính trị định kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng vì những thất bại của ông trong lãnh vực kinh tế, Ban Chấp hành Trung ương đã bác bỏ, cuối cùng, Nguyễn Tấn Dũng được xem là vô tội. Hai, vào tháng 3, 2013, khi Nguyễn Phú Trọng đề cử Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã lại bác bỏ và, thay vào đó, bầu hai người khác, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân. Và ba, vào tháng 1, 2015, lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương đã bỏ phiếu tín nhiệm các uỷ viên trong Bộ Chính trị. Kết quả cuộc bầu cử, cho đến nay, vẫn không được công bố chính thức, tuy nhiên, theo trang blog Chân dung Quyền lực, ở đó, Nguyễn Tấn Dũng được nhiều phiếu tín nhiệm cao nhất (152 phiếu), trên Trương Tấn Sang (149 phiếu), và cao hơn hẳn Nguyễn Phú Trọng, đứng hạng thứ 8, với 135 phiếu.

Với các sự kiện ấy, Lê Hồng Hiệp cho rằng, nếu xem cấu trúc quyền lực trong hệ thống chính trị tại Việt Nam như một hình tam giác thì ở trên cùng là Ban Chấp hành Trung ương, dưới một chút là Bộ Chính trị, và dưới nữa là Tổng Bí thư. Cấu trúc này không thể hiện xu hướng dân chủ tại Việt Nam, bởi vì, thay đổi theo cách nào, mọi quyền lực cũng đều nằm trong tay đảng Cộng sản. Tuy nhiên, nó thể hiện được cán cân quyền lực trong nội bộ đảng. Điều này đã có nhiều người nhận ra: trong lịch đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam, chưa có Tổng Bí thư nào bất lực như Nguyễn Phú Trọng, đồng thời cũng chưa có một Thủ tướng nào có nhiều quyền lực như Nguyễn Tấn Dũng.

Có thể nói, sự thay đổi đột biến trong cán cân quyền lực của Ban Chấp hành Trung ương gắn liền với sự lớn mạnh trong vai trò Thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh hưởng của Nguyễn Tấn Dũng đối với Ban Chấp hành Trung ương lớn hơn hẳn các ảnh hưởng của Nguyễn Phú Trọng hoặc Trương Tấn Sang. Có hai lý do chính. Thứ nhất, hầu hết các thành viên trong Ban Chấp hành Trung ương là các cán bộ lãnh đạo địa phương hoặc trong guồng máy hành chính trung ương: ở cả hai nơi, quyền bổ nhiệm cũng như quyền phân phối ngân sách đều chủ yếu nằm trong tay Nguyễn Tấn Dũng. Thứ hai, Nguyễn Tấn Dũng cũng có quan hệ chặt chẽ với cả Bộ Quốc phòng lẫn Bộ Công an, nơi trước đây ông từng lãnh đạo, mà hai bộ này chiếm đến 15 phần trăm tổng số uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương đảng.

Với ảnh hưởng to lớn trên Ban chấp hành Trung ương như vậy, khả năng Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng Bí thư trong kỳ đại hội đảng vào năm 2016 tới không phải là xa vời hay bất khả. Nếu Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng Bí thư, một trong những phó Thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng hiện nay sẽ lên làm Thủ tướng. Lúc ấy, cán cân quyền lực, theo tôi, lại quay ngược lại thời trước: Tổng Bí thư sẽ có quyền lực cao nhất. Tuy nhiên, dù cao đến mấy, quyền lực của Tổng Bí thư cũng sẽ không cao bằng Hồ Chí Minh hay Lê Duẫn thời trước vì họ phải lệ thuộc vào sự ủng hộ của mấy trăm người trong Ban Chấp hành Trung ương đảng. Nhưng dù sao lúc ấy Tổng Bí thư cũng sẽ có quyền lực hơn hẳn Nguyễn Phú Trọng hiện nay.

Vấn đề là: những sự thay đổi về cán cân quyền lực cũng như cấu trúc quyền lực như vậy có lợi hay có hại cho đất nước?

Câu trả lời, theo tôi, là vừa lợi vừa hại.

Hại, trước hết, vì quyền lực của đảng trên quyền lực của Thủ tướng, tức trên bộ máy hành chánh, càng lớn, xu hướng độc tài càng có nguy cơ phát triển mạnh. Đó là những gì đã xảy ra và đã kéo dài trong nhiều thập niên dưới quyền của Lê Duẩn, ở đó, các thủ tướng, kể cả Phạm Văn Đồng, đều là những con rối trong tay Tổng Bí thư và Bộ Chính trị, chứ không có một quyền lực gì cả.

Hại nữa vì nó tiếp tục duy trì thế đứng của đảng như một thứ siêu quyền lực, đứng trên và đứng ngoài luật pháp, ở đó, mọi ước mơ thay đổi và dân chủ hoá đều dễ dàng bị dập tắt.

Tuy nhiên, khi quyền lực nằm hẳn trong tay một người, và nếu người đó có óc cấp tiến, có ý muốn thay đổi theo hướng dân chủ hoá thì ý muốn ấy rất dễ biến thành hiện thực. Nó khác với tình trạng hiện nay khi quyền lực bị phân tán, người này chỉ đứng trên người kia một chút, làm bất cứ điều gì người ta cũng phải nhân nhượng và thoả hiệp với nhau, cuối cùng, không có một chính sách tiến bộ hay mạnh mẽ nào có thể thực hiện được cả.

Theo tôi, ở Việt Nam hiện nay, có hai điều cần nhất: Một là dân chủ hoá; và hai là, một nhà lãnh đạo thực sự mạnh. Không có nhà lãnh đạo mạnh, sẽ không có gì thay đổi cả.

Tuy nhiên, như đã nói, đất nước chỉ thực sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, nếu, và chỉ nếu, nhà lãnh đạo mạnh ấy cũng đồng thời là một người sáng suốt, có quyết tâm xây dựng đất nước và theo đuổi làn sóng dân chủ hoá. Liệu Nguyễn Tấn Dũng có phải là một người như thế?

HUYỀN NHIỆM

HUYỀN NHIỆM

Khi ánh bình minh bừng thức dậy
Hừng đông hồng ửng phía chân mây
Cây xanh trở giấc thay màu lá
Chim hót líu lo cất cánh bay

Hương thơm thoang thoảng ở đâu đây
Vườn hoa còn đẫm lớp sương mai
Khoan thai thở hít căng buồng phổi
Thoải mái tâm hồn, khoan khoái thay

Ai đã cho ta bầu khí thở
Cho đời ta đẹp với hương thơ
Cho tình say đắm trong huyền diệu
Cho trái tim yêu chẳng bến bờ

Ai đã treo trăng vàng lửng lơ
Ban mai lấp lánh ánh sao mờ
Ngân hà từng dãy dòng sông trắng
Vũ trụ xa xôi cực ngẩn ngơ

Thái dương dần rộng ánh hào quang
Ngọn gió miên man thổi nhẹ nhàng
Ánh sáng chan hoà tia nắng mới
Cuộc sống thăng hoa đến rỡ ràng

Sự sống thăng hoa tới rộn ràng
Ráng chiều bảng lảng áng mây đan
Hoàng hôn buông bóng đang dần xuống
Mái ấm lên đèn, cơm nóng rang !

Đình Duy Phương

Tấm Gương Sự Thật

Tấm Gương Sự Thật

Theo câu chuyện cổ tích của người Tây Phương về Cô Bạch Tuyết và Bẩy Chú Lùn thì “Sự Thật” chiếu sáng và nói qua một tấm gương.

Khi Hoàng-hậu, người kế mẫu của Bạch Tuyết nhìn vào tấm gương sự thật ấy để hỏi về mình, bà được trả lời như sau: “Thưa hoàng hậu, hoàng hậu là người đẹp nhất hiện nay”.

Mà quả thật, so sánh với những người đàn bà đương thời, bà ta là người đẹp nhất.

Nhưng công chúa Bạch Tuyết mỗi ngày một lớn và trở nên xinh đẹp.  Da trắng như tuyết, môi đỏ như máu, tóc đen như mun: ba màu sắc ấy kết hợp một cách hài hòa để mỗi ngày một gia tăng vẻ đẹp cho cô bé, dù chỉ mới lên 7 tuổi.  Ai cũng nhận thấy rằng cô đã vượt xa người kế mẫu về sắc đẹp.

Một hôm, hoàng hậu kế mẫu hỏi ý kiến của chiếc gương Sự Thật một lần nữa.

Lần này, tấm gương đã trả lời: “Thưa hoàng hậu, quả thực hoàng hậu là người xinh đẹp ít ai sánh bằng.  Nhưng hiện nay, công chúa Bạch Tuyết đã đẹp hơn hoàng hậu bội phần.  Ðây là điều mà không ai chối cãi được, Bẩy Chú Lùn đã xác định điều đó”.

Người kế mẫu không muốn chấp nhận Sự Thật ấy.

Bà không thể nào chấp nhận một đứa con riêng của chồng được quyền đẹp hơn Bà.  Sự ganh ghét đã bắt đầu gặm nhấm tâm hồn bà để rồi bà chỉ còn có mỗi một ý nghĩ trong đầu: đó là loại bỏ người đối thủ tí hon của bà.  Bà sai người cho thuốc độc vào một trái táo rồi mang đến cho Bạch Tuyết.  Cô bé bị ngộ độc và đã đi vào cõi chết, nhưng vẫn giữ nguyên nét đẹp trên gương mặt.  Một hoàng tử đã say mê nhìn khuôn mặt bất động ấy.  Chàng đã đặt trên môi Bạch Tuyết một chiếc hôn.  Trái táo độc rớt khỏi môi và Bạch Tuyết đã được hồi sinh.  Người hoàng hậu kế mẫu nghe điều đó.  Sự oán hận và ganh tức đã dồn lên khiến cho người đàn bà chết tốt.

Tấm gương Sự Thật của chúng ta chính là Ðức Kitô.

Philatô đã có lần hỏi Chúa Giêsu: Sự Thật là gì? Chúa Giêsu đã không trả lời cho câu hỏi ấy.

Nhưng chắc chắn những môn đệ của Chúa Giêsu đã có lần nghe Ngài tuyên bố: “Ta là Ðường, là Sự Thật, và là Sự Sống”.  Họ là những người có thể trả lời cho câu hỏi ấy.

Chúa Giêsu không chỉ là Sự Thật một cách trừu tượng, một cách trống rỗng, mà là Sự Thật của con người, đối với con người.

Cũng chính Philatô, sau khi đã ra lệnh đánh đòn Chúa Giêsu, đã đưa Người ra trước dân chúng và tuyên bố: “Này là Người”.  Này là người, này là con người, hay đúng hơn là sự thật về con người.  Chúa Giêsu đã để lộ tất cả con người của ngài qua những vết thương trên thân thể.

Phải chăng con người chỉ để lộ nhân tính và tất cả những nét cao quý nhất của mình qua những lằn roi, qua những vết thương đau vì yêu thương, vì phục vụ?

Chúa Giêsu là tấm gương Sự Thật của con người.  Chỉ qua Ðức Kitô, chúng ta mới có thể nhận diện được con người đích thực của chúng ta.

Nhìn vào Ðức Kitô, tội lỗi và những bất toàn của chúng ta sẽ hiện ra, nhưng… hình ảnh cao quý được Thiên Chúa in trên mỗi người chúng ta cũng được tỏ lộ.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Tính đảng và bạo lực

Tính đảng và bạo lực

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-03-09

Tính đảng và bạo lực

Nhung-man-ruot-duoi-o-le-hoi-cuop-phet_600.jpg

Khai mạc lễ hội cướp Phết Hiền Quan (Tam Nông, Phú Thọ)

Courtesy of tuoitre.vn

Your browser does not support the audio element.

Một tâm linh bạo lực

Bạo lực, và… bạo lực!

Đó là hai từ tràn ngập báo chí trong những ngày Ra Giêng xuân Ất Mùi. Người ta đếm được có cả ngàn trường hợp nhập viện vì bạo lực. Người ta đánh nhau vì giành nhau những điều tưởng tượng ở các lễ hội. Bạo lực trộn lẫn với mê tính dị đoan như được nhân lên nhiều lần bằng những lời bình nhẹ như không của các quan chức, rằng đấy là văn hóa! Blogger Viêt Từ Sài Gòn mô tả những khung cảnh hỗn độn đó trong một đoạn văn súc tích sau đây

Lễ hội tâm linh do nhà nước khởi xướng càng nhiều thì con người càng trởi nên máu lạnh, tham lam, sẵn sàng đánh đập nhau, vác dao chém nhau chỉ vì một miếng giẻ rách gọi là “ấn” trong lễ hội Đền Gióng, lễ hội đến Trần… Mọi sự giằng xé, giành giật, đánh cướp được diễn ra công khai, tàn bạo ngay trước mặt cái điều gọi là thần linh.

Đây không phải là lần đầu mà câu chuyện gọi là Tâm linh trong xã hội Việt Nam đương đại đã được nói đến. Nhưng dường như mùa xuân Ất Mùi này nó đã vượt qua cái ngưỡng chịu đựng của nhiều người.

Khi quan sát các lễ hội năm nay cây bút Nguyễn Đình Bổn viết rằng Thấy dân Hà Nội nói riêng và dân Việt nói chung không muốn lao động, học tập, đấu tranh để tự nắm lấy được số phận của mình, mà thích bỏ vài trăm mua mâm lễ để giải được hạn của số phận hơn !

Blogger Nguyễn Hữu Vinh viết liền hai kỳ phóng sự mang tựa đề Lễ Hội, Tín Ngưỡng và chuyện bát nháo thời Sản mạt, trong đó ông rút ra hai điều. Điều đầu tiên là các đền chùa khắp nơi trên cả nước đã trở thành một nơi làm ăn kinh doanh, và sự kinh doanh đó đang rất khấm khá.

Điều thứ hai ông rút ra là để trả lời cho câu hỏi rằng tại sao, đảng cộng sản vốn cho mình là vô thần lại để cho không khí gọi là tâm linh bát nháo ấy tràn lan đến như vậy? Nguyễn Hữu Vinh trả lời rằng đó là một Liên minh tiêu diệt. Trong liên minh này những người cộng sản dùng mê tín dị đoan, tín ngưỡng tôn giáo để xóa đi khoảng trống lòng tin trong xã hội Việt Nam đương đại, sau bao nhiêu năm của việc tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Và mục đích của việc lấp khoảng trống này là để mở ra một giai đoạn mới cho các lễ hội, các đình đền, các chủa chiền cũng như nhà thờ (nếu có thể “quản lý”) được tha hồ mở “hội”, miễn lôi kéo được quần chúng, ru ngủ được người dân xa rời các sự quan tâm đến những vấn đề cốt lõi của cuộc sống như Tự do tín ngưỡng, quyền con người, lãnh thổ đất đai, chế độ độc tài toàn trị, đời sống bấp bênh và xã hội nhũng lạm nặng nề bất ổn.

Ông kết luận rằng Khi một xã hội được xây dựng bằng bạo lực và lừa dối, thì mọi biến tướng của lễ, hội, tín ngưỡng theo hướng đó chỉ là sự sa đọa, suy đồi về văn hóa mà thôi.

Từ hải ngoại, Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc gọi cái cảnh mà Viêt Từ Sài gòn mô tả bên trên là một thứ Văn hóa bạo động. Theo ông thì có hai nguyên nhân chính dẫn đến việc hình thành nó. Đó là không có thói quen giải quyết các xung đột bằng cách thương lượng với nhau. Điều thứ hai là chẳng ai còn tin luật pháp sẽ làm tròn trách nhiệm phân xử xã hội của mình nữa.

Chỉ có một nguyên nhân

“Tính đảng” là từ mà blogger Tưởng Năng Tiến dùng trong bài viết mới trong tuần lễ đầy lễ hội và bạo lực này. Ông đau buồn trước cái thứ hạng về sự tử tế của Việt nam đang đi xuống. Ông cho rằng sự tử tế kém cỏi của người Việt chính là trách nhiệm của đám tiểu tâm, ti tiện, bạc ác của đám côn đồ đang lãnh đạo đất nước này, chứ không phải của những lương dân đất Việt.

Những lương dân đó nhà khoa học Tô Văn Trường cho là đã bị quên lãng khi mới đây một cán bộ cao cấp nào đó viết trên báo chí chính thống của đảng rằng trong các văn kiện của họ, chữ nhân dân nên viết hoa. Nhà khoa học nhìn thấy đó là một sự mỉa mai và hốt hoảng của những người tự xưng mình là đại diện của nhân dân!

Nhung-man-ruot-duoi-o-le-hoi-cuop-phet_400.jpg

Rượt đuổi để cướp phết tại lễ hội.

Tuy vậy Tưởng Năng Tiến thì lại cho rằng cái nhân dân đó phải tự hỏi là tại sao lại cam chịu những người không lương thiện hoành hành trên quê hương đất nước mình trong từng ấy thời gian mà chẳng có phản kháng nào đáng kể!

Không biết là vô tình hay hữu ý mà ngày 27 tháng 2- 2015, Hội đồng lý luận TW của đảng cộng sản tổ chức Hội thảo khoa học “Định hướng xây dựng giá trị con người, giá trị văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.”

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống gọi đây là một cuộc hội thảo Đèn Cù. Ý ông muốn nói rằng nó chẳng đi tới đâu vì chỉ mới động đến phần nổi của tảng băng, đánh tráo khái niệm giữa nguyên nhân và hậu quả. Đèn Cù cũng là tên một tác phẩm của nhà văn Trần Đĩnh, người từng chấp bút viết tiểu sử cho ông Hồ Chí Minh. Trong Đèn Cù Trần Đĩnh mô tả số phận con người trong chế độ cộng sản.

Ông Nguyễn Đình Cống vốn xuất thân từ một gia đình cách mạng cộng sản. Gần đây ông có nhiều bài viết nói rằng chủ nghĩa Mác Le Nin mà đảng cộng sản lấy làm ý thức hệ của mình là một tư tưởng sai lầm. Ông đã nhận được nhiều câu hỏi, thậm chí chất vấn về hành động đó. Ông viết một bài dài trên blog Bauxite Việt nam, trong đó ông giải thích nguyên nhân vì sao ông có những phê phán như vậy. Còn trong bài Hội thảo Đèn Cù mà ông viết trong cùng một tuần lễ thì ông đưa ra cái nguyên nhân ý thức hệ của những thói hư tật xấu trong xã hội hiện nay như sau:

Để làm chiến tranh cách mạng (đặc biệt là chiến tranh du kích) cần khuyến khích bạo lực, mưu mô để tiêu diệt kẻ thù. Trong đấu tranh giai cấp quá đề cao lòng thù hận và tranh đoạt vật chất mà nhẹ về đạo lý bao dung. Chuyên chính vô sản thực thi sự toàn trị, tạo ra giai cấp mới đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, mua bán quan chức. Sự tuyên truyền về một xã hội tốt đẹp không tưởng buộc phải dùng thủ đoạn dối trá, lừa bịp. Tất cả những thứ đó và nhiều thứ khác nữa từ Chủ nghĩa Mác Lênin đã không làm giảm nhẹ hoặc ngăn chặn thói hư tật xấu của nền văn hóa mà còn làm nặng thêm.

Một câu chuyện khác thoạt đầu tưởng đâu chẳng có liên quan gì đến đảng cộng sản xảy ra trong tuần qua. Đó là chuyện cô người mẫu Trang Trần bị công an bắt giam với lý do là cô đã chửi bới công an. Trong sự việc đó cô lại chửi luôn đảng cộng sản.

Dư luận dấy lên làm hai luồng. Một bênh vực cho cô Trang, cho là những dồn nén vì một xã hội lộn xộn làm cho có có hành động sai quấy như thế. Bên kia thì cho là cô đáng bị bỏ tù. Những người có quan tâm đến luật pháp thì mổ xẻ đến tính hợp pháp hay không của sự bắt bớ, mức độ phạm tội tới đâu của cô Trang, v.v…  Tranh luận  dường như không thấy lối ra như lời Luật gia Trịnh Hữu Long nhận xét

Vậy nên nói gì thì nói, câu chuyện cuối cùng vẫn quay về với cái vòng kim cô chính trị mà Việt Nam đang đeo trên đầu. Có cố tình lảng tránh đến đâu, viện dẫn kiến thức bác học nào và biện minh bằng tinh thần bác ái cao đến đâu đi chăng nữa, câu trả lời cuối cùng chỉ có một. Loại bỏ Đảng ra khỏi các tranh luận pháp luật chỉ thể hiện hoặc là đánh giá không đúng mức vai trò của Đảng trong đời sống pháp luật, hoặc là cố tình lảng tránh. Tôi không hứng thú với những tranh cãi lặt vặt về luật thực định lắm, vì đó không phải cái cần nói.

Nhà báo, blogger Đoan Trang thì viết rằng Nói đến luật pháp, đến cái gọi là “nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam mà lại không nói đến vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản thì khác nào tảng lờ một  “con voi trong phòng khách”.

Một blogger viết trên trang Tu Zo bài so sánh nước Việt nam đầu thế kỷ 21 này với nước Việt nam thời truyện Kiều của Nguyễn Du. Tác giả thấy rằng những nhân vật Thúy Kiều, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, Thúc Sinh,… vẫn còn rất sống động trong xã hội Việt nam với tất cả dị tật lẫn số phận bi kịch của họ. Tác giả nhớ tới lời văn hào Nguyễn Du trước khi mất viết trong nước mắt rằng không biết ba thế kỷ sau ông có ai còn khóc ông hay không!

Tác giả kết luận:

Câu chuyện đoạn trường của ông về nàng Kiều như một thứ tiên tri định mệnh đeo đuổi đám con cháu ông làm cạn khô nước mắt vì cái vận mệnh nổi trôi dai dẵng

Nhưng đồng thời tác giả cũng hy vọng về một ngày mới, khi người Việt nam thay đổi, thay đổi nhiều thứ để có được. Chúng tôi xin mượn hy vọng đó để kết thúc bài điểm blog hôm nay.

Một ngày khác, một ngày mới không giống hôm nay và ngày hôm qua, ngày mà con cháu ông sẽ tưởng nhớ tới ông bằng những cành hoa và nụ cười thay cho giọt nước mắt và những nén nhang tàn !

TÌNH NGHĨA CỦA ĐÔI CHIM NHẠN

TÌNH NGHĨA CỦA ĐÔI CHIM NHẠN

***

Một con chim nhạn bay lượn thấp là đà ngang qua đường phố

bị một chiếc xe đụng phải. Nàng chim mái nầy bị thương nặng và đang chờ chết.

Chàng chim trống sà xuống mang theo thức ăn và tận tình lo lắng.

Chàng bay đi rồi trở lại mang thêm thức ăn cho nàng, nhưng nàng đã nằm bất động.

Chàng cố lung lay gọi nàng …. một hành động hiếm thấy từ loài chim nhạn.

Khi nhận ra rằng nàng đã ra đi, vĩnh viễn không bao giờ trở lại,

chàng khóc rống thảm thiết bi thương.

Tiếng khóc vang vang của loài chim nhỏ bé, nhưng nỗi bi ai xé lòng không kém một sinh vật nào. Đứng cạnh xác nàng, chàng buồn thảm và tan nát cả cõi lòng … biết đến bao giờ?

động vật thì chả có đầu óc và cũng chẳng có cảm xúc nào ….?

Hàng triệu người khắp Mỹ, Âu, Á đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy những bức ảnh nầy.

Người chụp bán những bức ảnh nầy cho một tờ báo nổi tiếng bên Pháp. Ngay ngày hôm đó số báo được bán sạch. Người muốn tìm xem ảnh phải lên các website.

Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 6

Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 6

Viet-studies

Chương 6  NHỮNG CHUYỆN KHÓ QUÊN…

Chuyện mấy ông Tỉnh Trưởng Bạc Liêu và giai thoại “muốn vào phòng tôi xin hãy đạp cửa”

Thời kỳ 1967 đến 1971, Bạc Liêu có 2 ông tỉnh trưởng.

Ông Lâm Chánh Ngôn, Trung tá, quê ở Vĩnh Long. Ông làm Tỉnh trưởng Bạc Liêu từ cuối năm 1966 đến đầu năm 1970. Ông này để râu ngạnh trê, thích đá gà mê uống rượu. Dĩ nhiên rượu ấy phải là Martell hoặc Cognac. Ông rất sợ vợ; có người kháo nhau chức Tỉnh trưởng của ông do bà xã (Alice) mua từ chỗ Trung tướng Đặng Văn Quang, tư lệnh vùng 4, sau này có lúc làm cố vấn an ninh quốc gia cho Nguyễn Văn Thiệu. Thậm chí dư luận trong các giới chức có cỡ còn đồn rằng bà Alice là tình nhân của Đặng Văn Quang. Đồn đại không biết trúng trật nhưng Đặng Văn Quang rất thân với bà Alice, Quang nhận con gái của Alice làm con nuôi. Chuyện lẹo tẹo tình ái giữa các ông lớn bà lớn chế độ cũ là thường, người ta nói nghe đến nhàm cái lỗ tai. Ví dụ Tổng thống Thiệu, người có rất nhiều bồ, một trong những cô bồ của ông ta là Helen, vợ Đại tá Hoàng Đức Ninh, Tỉnh trưởng Bạc Liêu. Giữa Nguyễn Văn Thiệu – Hoàng Đức Ninh – Hoàng Đức Nhã có mối họ hàng rất gần (họ là anh em cùng mẹ khác cha). Do đó, Hoàng Đức Ninh tha hồ tung hoành sách nhiễu dân lành.

Tỉnh trưởng Lâm Chánh Ngôn, xuất thân từ một gia đình gia giáo ở Vĩnh Long cho nên thời kỳ làm Tỉnh trưởng của ông ta không đến nỗi dữ dằn, độc ác. Chỉ có một chuyện nhắc để cho vui giữa ông Ngôn và Dương Văn Ba, trong một cuộc nhậu nhân dịp Tết năm 1969 hai bên suýt đánh lộn với nhau. Ngày đó Phó Tỉnh trưởng Hành chính Bạc Liêu (xin lỗi quên mất tên) tổ chức ăn tết tại Dinh Phó Tỉnh trưởng. Quan quyền, chức sắc có cỡ trong tỉnh đều có mặt. Lâm Chánh Ngôn uống rượu say rủ Dương Văn Ba cụng ly. Nhưng để chứng tỏ là bề trên, ông ta cố tình đưa ly đụng ngay giữa trán của ông Ba. Tuổi trẻ máu nóng và cũng đã ngà ngà rượu, ông Ba đánh một thoi vào bụng ông Ngôn (cũng là nhẹ thôi để khỏi mất mặt). Tỉnh trưởng Ngôn nổi nóng, chửi bới và đòi bắn Dương Văn Ba tại chỗ. Chánh án Xuân, Quận trưởng Thới, Tiểu Khu phó Xính can ngăn giải hoà. Tiệc tan, Lâm Chánh Ngôn chiều hôm sau mời ông Ba lại nhà chơi, cười khà khà lại tiếp tục uống rượu. Thực ra giữa tôi và Lâm Chánh Ngôn không có đụng chạm nào sâu sắc. Một số thường dân bị bắt bớ oan ức, tôi can thiệp và bảo lãnh, ông ta đều thả ra. Quan hệ giữa một dân biểu với tay Tỉnh trưởng trong thời kỳ đó, dư luận trong tỉnh rất chú ý. Tay Ngôn có phần nào nể vì tôi, ông biết rõ giữa tôi và em của ông có tình bạn khá thân, cùng hoạt động cho Hội Liên Trường (Hội Cựu Ái hữu Học sinh các trường Pétrus Ký, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Gia Long – những trường lớn nhất của miền Nam. Hội này làm công tác xã hội cấp học bổng cho nhiều học sinh giỏi, con nhà nghèo. Họ đã xây được một trụ sơ lớn ở góc đường Hùng Vương và Trần Phú, quận 5). Trước mặt đông đảo quan khách, tôi vẫn phải giữ ý với ông ta. Phải nói Lâm Chánh Ngôn là tay hay uống rượu, mà uống rượu nhiều thì không phải là người có lòng dạ hiểm độc, tiểu nhân. Một tay tỉnh trưởng muốn hại một dân biểu đối lập, muốn làm mất mặt một người, quá dễ. Chỉ cần sai mấy tên sĩ quan “tà lọt” cho uống vài chai whisky, biểu bắn ai nó cũng bắn, đừng nói chi tới chuyện “đánh cho bể mặt ngoài đường”. Lâm Chánh Ngôn không làm việc đó với tôi.

Bạc Liêu là một tỉnh mua bán trù phú. Có rất nhiều tay “xì thẩu”, muốn làm giàu thêm nữa, chỉ cần bợ đỡ tỉnh trưởng, sẽ có thêm nhiều đặc quyền đặc lợi.

Thời kỳ ông Ngôn làm Tỉnh trưởng Bạc Liêu là do sự đỡ đầu của Tướng Đặng Văn Quang. Nhưng Tướng Quang làm sao mạnh bằng Thiệu, cho nên Hoàng Đức Ninh thời kỳ đó đang làm Quận Trưởng quận Thạnh Trị đã tạo dư luận râm ran trong giới em út là “tao sẽ về làm Tỉnh trưởng Bạc Liêu thay thế thằng Ngôn”. Dân Bạc Liêu đã biết việc đó 6 tháng trước khi anh ta về, vì gốc của anh ta là gốc bự số 1. Tỉnh Bạc Liêu dĩ nhiên béo bở hơn quận Thạnh Trị (Phú Lộc). Hoàng Đức Ninh không giành ghế tỉnh trưởng Sóc Trăng của Đại tá Quách Huỳnh Hà vì Đại tá Hà có nhiều thời gian làm thư ký riêng cho Thiệu. Ninh nhắm ghế tỉnh trưởng Bạc Liêu, “món ăn” ở Bạc Liêu béo bở không thua Sóc Trăng. Helen, vợ của Ninh, là người vận động chức đó cho chồng. Đầu năm 1970, Hoàng Đức Ninh chính thức về Bạc Liêu thay thế Lâm Chánh Ngôn.

Lúc Trung tá Ninh làm Quận trưởng Thạnh Trị (Phú Lộc) có nhiều chuyện kể cười ra nước mắt.

Chuyện thứ nhất là chuyện “Đại đội heo”

“Đại đội heo” là một đại đội địa phương quân dưới quyền trực tiếp chỉ huy của Trung tá Ninh, quận trưởng. Biệt tài của đại đội này trước khi đi hành quân, tên nào tên nấy cũng được uống rượu cho say. Vào các vùng xôi đậu tha hồ vét của, tha hồ bắt heo: heo lớn, heo bé, đực cái đều bắt tuốt. Mỗi lần đại đội hành quân đi về, chiến lợi phẩm là 50-70 con heo của dân.

Thành tích lẫy lừng của Đại đội heo là hể gặp người tình nghi Việt cộng là “sát”. Chưa hết, vẻ vang hơn, đại đội này được tha hồ hãm hiếp đàn bà con gái. Nhỏ cũng hiếp, già lão cũng hiếp, không tha. Đại đội heo là đại đội hung thần ác qủy đối với dân các vùng trong ở Thạnh Trị Sóc Trăng. Một ông Hội Đồng tỉnh ở Bạc Liêu tên Đỗ Khắc Tường, máu còn trẻ và nóng, chơi “gan” lên tiếng tố cáo đại đội heo trên nhật báo Tin Sáng thời đó (chính tôi cho đăng các tin tức này).

Tên Đại đội trưởng Đại đội heo, đọc tin đó trên báo, đang nằm dưỡng bệnh tại bệnh viện Trương Bá Hân – Sóc Trăng, lập tức bỏ bệnh viện về, tính kế hoạch “sát” Đỗ Khắc Tường. Một người bà con ở Phú Lộc biết tin vội vã cấp báo cho Nghị viên Hội đồng tỉnh Đỗ Khắc Tường, ông này lúc đó sợ quá, bỏ lên Sài Gòn “trốn “ gần 2 tháng. (Khi hăng tiết, tố cáo tùm lum trên báo. Lúc hay tin đại đội trưởng Đại đội heo sắp “hỏi thăm sức khoẻ” . Tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng).

Trời cao có mắt, khoảng 2 tháng sau, tên đại úy Đại đội trưởng Đại đội heo trong một cuộc hành quân càn quét, đạp nhằm mìn cụt cả hai giò. Người bà con ở Phú Lộc lại thông báo tin vui, Đỗ Khắc Tường trở về Bạc Liêu. Bà má và vợ của ông mừng quá cúng heo quay tạ lễ trời phật đã cứu chồng thoát nạn.

Chuyện một xe gạo và chuyện hãy đạp cửa phòng tôi

Hoàng Đức Ninh ăn hối lộ rất công khai, dạn dĩ. Ông ta thường nói thẳng điều mình muốn.

Một lần đi thực tế tra xét tình hình các nhà máy xay lúa trong quận Thạnh Trị, cứ vào mỗi nhà máy, kêu chủ lại, ông ta nói thẳng: “Quân đội đổ mồ hôi và lấy tính mạng bảo vệ cho các ông bà chủ được an toàn làm ăn, khỏi bị Việt cộng phá phách thu thuế. Đổi lại mấy người nên làm nghĩa vụ đóng góp cho chi khu. Hai tháng một lần, mỗi nhà máy đóng góp cho chi khu một xe gạo 7 tấn”.

Thạnh Trị có hàng chục nhà máy xay lúa dọc theo Quốc lộ 4 và kể cả ở xã Ông Kho. Cứ 2 tháng, Hoàng Đức Ninh thu được từ các nhà máy xay lúa hàng chục xe gạo. Mỗi xe trị giá 6-7 lạng vàng, tính ra Quận trưởng Ninh mỗi tháng kiếm được trung bình cở 50 lạng vàng từ ngành chà gạo. Có một ông chủ nhà máy, không biết vô tình hay cố ý dở hơi “chơi xỏ” Hoàng Đức Ninh bằng cách chở thẳng một xe gạo 7 tấn đến ngay chi khu Thạnh Trị báo là giao nộp cho Quận trưởng. Ninh nổi giận đùng đùng, gọi tay chủ nhà máy khù khờ vào văn phòng quát: “Mày chơi khăm tao hả?! Tao nói một xe gạo, tức là bọn mày phải đem gạo đi bán mang tiền hoặc vàng đem nộp cho tao. Mày mau đem gạo về đem vàng trở lại. Bằng không tao đóng cửa nhà máy mày lập tức.

Đó là chuyện thật 100%. Giống như chuyện bạc chẵn bạc lẻ. Một Hoa thương hàng tháng phải nộp cho Ninh 1 triệu đồng (do ăn chia quota). Có lần anh chủ tiệm xi măng mang 1 triệu đồng gồm giấy lẻ một đồng, năm đồng, vào văn phòng Tỉnh trưởng nộp. Ninh chửi thề: “Đ..M mày đem tiền lẻ chỗ đâu tao cất. Mau mau đi đổi lại cho tao”. Ông Hoa kiều nộp tiền cho Ninh đến nay vẫn còn sống ở chợ Bạc Liêu, đã hơn 60 tuổi.

Dân buôn bán ở Bạc Liêu còn kể cho nhau nghe giai thoại: “Muốn vào phòng tôi xin cứ đạp cửa” ngụ ý:  Thương buôn nào cần làm việc với Tỉnh trưởng, phải mang theo quà cáp. Thông thường quà là các khánh bằng vàng y, mỗi cái 1-2 lạng vàng. Ai đi tay không vào, Ninh không tiếp, cho đứng ngoài chờ. Những thương gia có máu mặt biết Ninh rất thích vàng Kim Thành, có việc gì cần xin, cứ mang 2-3 thẻ vàng vào, mọi việc xong xuôi. Vào phòng của Ninh không cần lấy tay gõ cửa, chỉ cần lấy chân đạp. Cửa phòng bị đạp, chứng tỏ khách có mang qùa biếu trên tay. Ninh vui vẻ tiếp đón. Người nào dùng tay gõ cửa, Ninh không tiếp. Giai thoại “gõ cửa, đạp cửa” tưởng như chuyện tiếu lâm. Tính cách của Ninh rất ngang tàng, y chẳng sợ ai, kể cả Đặng Văn Quang ở Vùng 4, vì anh của y là Thiệu đang ngồi ở trên ghế vàng Dinh Độc lập.

Hoàng Đức Ninh giỏi đánh hơi thời cuộc. Làm Tỉnh trưởng Bạc Liêu đến năm 1973, Ninh xin Thiệu cho về làm Tư lịnh Đặc khu 44 gồm 3 tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Cao Lãnh. Thiệu lúc ấy thăng chức cho cậu em lên hàm Chuẩn tướng (người ta đồn vợ của Ninh là Helen, lai đầm khá đẹp từng là bồ nhí của Nguyễn Văn Thiệu). Ở Đặc khu 44 thành tích của Hoàng Đức Ninh là cho các tay em bán nhiều xe súng đạn cho dân buôn lậu biên giới, để họ tiếp tế cho Việt cộng. Ninh cũng vơ vét tiền đút lót của các tay trùm buôn lậu biên giới Việt Nam – Campuchia. Thời kỳ này Ninh thường sử dụng máy bay trực thăng của Đặc khu 44 lên Sài Gòn ăn chơi. Mối tình lâm ly của Chuẩn tướng Ninh với cô đào hát cải lương nổi tiếng, cả Sài Gòn ai cũng biết. Vì mê tiền và quyền lực của Ninh mà cô đào dễ thương phải phụ rẫy hậu vệ Tam Lang của Đội tuyển Sài Gòn. Chuẩn tướng Ninh có nhiều tiền đã đạt được tất cả những gì anh ta muốn. Đầu năm 1974, đánh hơi trước được thời cuộc, Ninh xin Thiệu đi làm Tuỳ viên Quân sự tại Bonn (Tây Đức).

Hoàng Đức Ninh, anh của Hoàng Đức Nhã, có nhiều nợ máu, nợ tiền với nhân dân Vùng 4. Thời anh ta làm Tỉnh trưởng Bạc Liêu, dựa vào thế lực của Ninh, nhiều sĩ quan cấp dưới phạm nhiều tội ác tày trời với nhân dân vùng xôi đậu. Điển hình Thiếu tá địa phương quân Nguyễn Văn Sỹ, gốc là trung uý Phòng Nhì Tiểu khu Bạc Liêu, khi vào Phước Long làm quận trưởng Sỹ đã sát hại nhiều thường dân vô tội. Vào ruồng bố ở xã Vĩnh Hưng, một xã xôi đậu hạng nặng, Sỹ cho bắt đàn bà con gái ở truồng như nhộng đi ngoài đường biểu diễn. Sỹ còn bắt các ông sư lấy gióng gánh khiêng các phụ nữ trần truồng đi khắp xã, như khiêng heo. Cùng một thành tích và cùng một đòn ngón như Nguyễn Văn Sỹ cũng vào thời đó, dưới quyền Hoàng Đức Ninh, còn có Thiếu tá Mã Thành Nghĩa, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Địa phương quân 414. Thành tích của Nghĩa mỗi lần trước khi hành quân, cho lính được nhậu say bí tỉ, vào xã Vĩnh Hưng, xã Phước Long, tha hồ hãm hiếp đàn bà con gái.

Ngày 30 tháng 4-1975, biết thế nào cũng phải đền tội, Thiếu tá Mã Thành Nghĩa đã tự sát bằng súng Rulô. Còn Nguyễn Văn Sỹ có quá nhiều nợ máu, UBND Cách Mạng quận Phước Long đã lập Toà án, đem Sỹ xử bắn. Kết thúc cuộc đời gian ác của hai thanh niên hễ uống rượu vào là muốn thấy máu của đồng bào.

Đại đội trưởng Đại đội heo, Thiếu tá Sỹ quận trưởng Phước Long, Thiếu tá Nghĩa tiểu đoàn trưởng 411, là những đàn em điển hình sự tàn ác của Hoàng Đức Ninh. Chúng đã dám tàn ác, do có Ninh che chở. Lịch sử của dân Bạc Liêu có thể quên nhiều thứ, nhưng dân Phước Long, Thạnh Trị không thể nào quên chuyện của Ninh và đàn em tàn ác vào một thời kỳ hỗn mang, coi mạng người rẻ hơn mạng cầm thú, nhân danh chiến tranh.

Giai thoại về Hoàng Đức Ninh giống như một cuốn tiểu thuyết ly kỳ, rùng rợn. Chỉ nhắc lại một vài sự vụ để nói rằng lịch sử có thể tha thứ nhiều điều, lòng thù hận có thể nguôi đi theo thời gian, nhưng những con cháu sinh ra sau 1975 cần được biết về những nỗi thống khổ mà cha ông chú bác của họ đã phải trải qua trong thời kỳ chiến tranh giành độc lập. Chiến tuyến có thể xóa mờ nhưng tội ác ngàn đời vẫn phải ghi chép là tội ác. Tội ác không phải tràn lan. Tội ác giống như dòng nước bẩn đổ xuống thung lũng ma quái. Ánh sáng văn minh phải có thời gian mới soi rọi, xua tan những hắc khí của một thời ma quỷ lộng hành.

Nghe nói Tướng Nguyễn Cao Kỳ đang vận động xin sớm trở về Việt Nam, kể cả gặp Ngô Công Đức tại Hoa kỳ, nhờ ông Đức vận động. Thực tế, Nguyễn Cao Kỳ đã được chính phủ ở Hà Nội cho phép về Việt Nam trong dịp tết năm 2004. Người ta không thể quên Tướng Kỳ năm 1965 đã đích thân lái máy bay dội bom miền Bắc cùng chuyến với Phạm Phú Quốc. Phạm Phú Quốc tử nạn vì máy bay bị bắn rơi. Còn Tướng Kỳ an toàn trở về. Ông ta chỉ làm màn trình diễn một lần. Khoảng cuối tháng 4-1975, trước cảnh di tản ồ ạt của dân, kể cả sĩ quan, tướng lãnh VNCH, Nguyễn Cao Kỳ đã từng tuyên bố một câu với đài BBC: “Tôi còn cái quần đùi cũng ở lại Việt Nam đánh nhau với cộng sản”. Kỳ cũng đã từng xin gặp Đại tướng Dương Văn Minh đề xuất hợp tác với Tướng Minh một giải pháp quân sự. Cũng đừng quên rằng dưới thời Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ Tướng, đã có một Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc Cảnh sát Quốc gia, ngông nghênh gấp mấy lần Chuẩn tướng Hoàng Đức Ninh. Người ta không thể nào quên tấm ảnh trên báo Newsweek. Nguyễn Ngọc Loan kề súng lục ngay vào màng tang một người tù Việt cộng và bóp cò. Đó là một tấm ảnh thuộc vào loại hy hữu của thế kỷ thứ 20, làm cả thế giới chấn động. Nguyễn Ngọc Loan không thể là một Loan ngông nghênh (điên điên, luôn luôn mặc áo nhà binh cụt tay, bỏ ra ngoài, chân đi dép cao su Thái) nếu không có Nguyễn Cao Kỳ. Hoàng Đức Ninh không thể là Ninh tàn ác, vô đạo nếu không có ông anh Nguyễn Văn Thiệu.

Nguyễn Ngọc Loan đã chết tại Mỹ khoảng cuối năm 2001, trước đó ông ta là chủ một nhà hàng ăn ở bang Virginia. Ông ta bị các chủ nhà hàng ăn khác trong tiểu Bang Virginia phản đối không cho tham gia vào nghịêp đoàn các chủ nhà hàng ăn uống vì tội “sát nhân”. Nguyễn Ngọc Loan đã vận động ký giả chụp bức ảnh “giết người” của ông ta, để ký giả này lên tiếng, “tôi chỉ chụp ảnh ông ta vì lý do nghề nghiệp, tôi không kết tội ông ta giết người, vì lúc đó là thời chiến tranh, bắn chết một người cộng sản, ông ta chỉ làm nhiệm vụ của một người lính. Cũng như tôi, tôi chụp ảnh ông ta, là tôi làm nhiệm vụ của một nhà báo. Tôi không có ý kiến khắt khe buộc tội ông ta”. Mặc dù được lời bào chữa của tác giả chụp bức ảnh, Nguyễn Ngọc Loan cũng không thuyết phục được giới chủ nhà hàng ăn bên Mỹ. (Tưởng cũng nên nhắc lại trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, Nguyễn Ngọc Loan lúc chỉ huy trận đánh trong Chợ Lớn, đã từng bị quân giải phóng bắn què giò).

Nay mai Hoàng Đức Ninh, Hoàng Đức Nhã có thể lại nhờ người vận động xin được về nước, giống như Nguyễn Cao Kỳ đã từng làm (ông ta đã được về ). Lịch sử có còn là lịch sử hay không?

Đức Chúa có thể tha thứ mọi điều, kể cả đối với Luxiphe.

Nhưng một số dân Bạc Liêu, Cà Mau khó quên và khó tha thứ những vết bẩn đầy máu của thời kỳ Hoàng Đức Ninh.

Noi Gương Chúa Giêsu Sống Chứng Tá Tin Mừng

Noi Gương Chúa Giêsu Sống Chứng Tá Tin Mừng

Chuacuuthe.com

VRNs (09.03.2015) -Sài Gòn- Kể từ khi khởi sự sứ vụ cách công khai, ngoài việc giảng dạy ra, Chúa Giêsu đã dùng quyền năng của Ngài để thực hiện nhiều dấu lạ như xua trừ ma quỷ, cho kẻ què đi được, cho kẻ điếc được nghe, người mù được thấy, thậm chí cho kẻ chết sống lại. Thiết nghĩ, nếu phải chọn một câu ngắn nhất để nói về những việc Chúa đã thực hiện, có lẽ tôi sẽ chọn câu Lời Chúa trong sách Tông Đồ Công Vụ: “Đi đến đâu, Chúa Giêsu thi ân giáng phúc đến đó” (Cv 10, 38).

Hẳn là Chúa Giêsu trở quê quán của Ngài cũng là để ‘thi ân giáng phúc’ cho những người đồng hương. Điều đáng tiếc là, mặc dù những người đồng hương của Chúa Giêsu rất thán phục về những lời hay ý đẹp của Ngài, nhưng họ đã để cho thái độ tự mãn của họ cản trở tâm hồn và cái nhìn của họ, khiến không chịu mở tâm hồn ra để đón nhận ân phúc từ Thiên Chúa, và không nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai.

Những người đồng hương đã tự mãn vì họ nghĩ rằng, họ đã biết rõ gốc gác của Chúa Giêsu (x. Lc 4, 22). Vì lẽ đó, Chúa Giêsu đã không ngần ngại nói với họ của Ngài rằng: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương của mình.” (Lc 4, 24).

Hẳn là Chúa Giêsu thừa biết rằng, câu nói này của Ngài sẽ gây phản cảm và làm chạm tự ái thính giả đồng hương của ngài, Ngài có thể tránh và dùng những lời ngọt tai để lấy lòng họ. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã nói thẳng cho họ biết, để họ loại bỏ thái độ tự mãn.

Ở điểm này, chúng ta nhận thấy hành động của Chúa Giêsu là một hành động mang tính ngôn sứ. Ngài nỗ lực rao truyền Chân lý, sẳn sàng chịu ngược đãi, bách hại. Đúng như nhân gian thường nói: “Thuốc đắng giả tật, sự thật mất lòng.” Thay vì thức tỉnh trước lời dạy của Chúa Giêsu mà sửa đổi, những người đồng hương của Chúa Giêsu đã tiếp tục để cho tính “rừng rú” của họ nổi lên, họ dốc tâm hại Chúa Giêsu, nhưng ‘giờ của Ngài’ chưa đến.

Hành động của những người đồng hương với Chúa Giêsu cho thấy được mối nguy hiểm của việc hành động theo cảm tính. Nếu ta chỉ thích nghe những điều làm ta vui tai, chỉ thích làm những điều đem lại sự thỏa mãn hay ích lợi cho bản thân, mà bất chấp những điều ta nghe hay những việc ta làm có phù hợp với chân lý, với những điều Chúa dạy, như thế ta chưa sống xứng với phẩm giá của mình, mà chỉ sống theo bản năng.

Thái độ tự mãn là một thứ định kiến làm cho ta tưởng rằng mình biết rõ một vấn đề hay một lĩnh vực nào đó, khiến ta không còn nỗ lực hay hứng thú để khám phá và nhận chân ra giá trị của một thực tại nào đó.

Trong tương quan với tha nhân, thái độ tự mãn cũng cản trở ta trong việc khám phá những vẽ đẹp tiềm ẩn, những khía cạnh tích cực nơi tha nhân. Đồng thời, thái độ tự mãn có thể tạo nên định kiến tiêu cực trong cái nhìn của ta về tha nhân.

Trong cuộc sống, đôi khi ta dễ bị cám dỗ chỉ dựa vào vật chất như là tiêu chuẩn để đánh giá người khác, chỉ dừng lại ở cái nhìn hời hợt bên ngoài như cách trang điểm, quần áo, diện mạo, điện thoại, xe, dẫn đến việc trọng vọng những người giàu có, mà coi khinh những người nghèo khó. Rốt cuộc, không thấy hết vẽ đẹp trong tâm hồn của người nghèo khó, và không nhận ra sự hiện hiện của Thiên Chúa nơi họ.

Lạy Chúa, xin giúp con loại bỏ những cái nhìn tiêu cực đối với tha nhân, và giúp con nhìn thấy sự hiện diện của Chúa trong anh chị em để con yêu thương, tôn trọng và tích cực giúp đỡ những anh chị em nghèo khổ xung quanh chúng con. Xin Chúa cũng giúp con biết noi gương Chúa can đảm trong việc loan báo và làm chứng cho Tin Mừng.

Vominh