Việt Nam nếu đa đảng sẽ đổ máu?

Việt Nam nếu đa đảng sẽ đổ máu?

Lê Diễn Đức

RFA

Khi nói đến tiến trình tiến tới dân chủ hoá của Việt Nam, mặc dù còn mờ mịt, xa vời, có ý kiến cho rằng, xã hội Việt Nam nếu có đa đảng sẽ đổ máu.

Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) luôn tuyên truyền rằng, khi họ là lực lượng duy nhất giữ độc quyền cai trị thì xã hội ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế. Điều này đánh trúng vào tâm lý của dân chúng vốn sợ chiến tranh, xung đột sau một cuộc chiến đã quá dài và tổn thất sinh mạng và vật chất quá lớn.

Cách nguỵ biện trên rõ ràng là bóp méo hoặc thiếu hiểu biết về khái niệm dân chủ.

Dân chủ về bản chất không chỉ là một mô hình nhà nước, cũng không hoàn toàn giống như người ta viết trong các bản hiến pháp.

Dân chủ là quan điểm sống, dựa trên lòng tin vào con người, vào nhân loại và chủ nghĩa nhân đạo. Dân chủ là một cuộc thảo luận. Nhưng cuộc thảo luận chỉ thực sự có ý nghĩa nơi mà con người tin cậy lẫn nhau và tìm kiếm sự thật một cách lương thiện. Dân chủ có nghĩa là cuộc nói chuyện giữa những người bình đẳng, sự suy nghĩ của những công dân tự do trước con mắt quan sát của toàn xã hội.

Wiston Churchil, cựu Thủ tướng Anh, đã có lần nói đùa nhưng rất chính xác rằng, “Dân chủ là mô hình nhà nước tệ nhất, ngoại trừ tất cả các mô hình nhà nước được biết cho đến nay”.

Có nghĩa rằng, Dân chủ không phải là phuơng thức hoàn hảo, nhưng là tốt nhất, phục vụ cho nhân loại trong lịch sử.

Chính trị Dân chủ gìn giữ hài hoà giữa sự thống nhất và đa dạng, cũng như sự xung khắc, dựa trên nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Chính trị dân chủ không phân chia bạn-thù. Vinh quang của nó không phải là chiến tranh, và mục tiêu của nó không phải là tiêu diệt kẻ thù. Trong xã hội dân chủ có ba nhóm người: ủng hộ/dao động/đối thủ. Mục tiêu của Dân chủ là kéo về phía mình những người dao động để nhận được đa số.

Chính trị Dân chủ không phải là vấn đề sống và chết. Dân chủ không cho phép sử dụng các phương tiện chiến đấu, xung đột vũ trang, giết chết đối thủ. Dân chủ tìm cách thuyết phục các chương trình của mình để tìm kiếm sự ủng hộ mới nhằm đạt được đa số, mà nhờ đó sẽ giành chiến thắng trong cuộc bầu cử.

Dân chủ là một hệ thống chính trị duy trì và phục hồi sự đồng thuận của xã hội và đồng thời giữ gìn, điều chỉnh sự khác biệt và tranh cãi miễn là nó nằm trong khuôn khổ pháp luật. Dân chủ tìm kiếm điểm cân bằng giữa hai xu hướng tương phản, một trong số đó là sự thống nhất, và hướng kia – những khác biệt và mâu thuẫn. Một điểm cân bằng – tức là một sự thỏa hiệp, nhượng bộ, tuy nhiên không loại trừ việc giữ lập trường của mình và thuyết phục các khuynh hướng khác chấp nhận. Trong ý nghĩa này – thỏa hiệp là linh hồn của nền dân chủ.

Từ ngày ra đời đến khi cướp được chính quyền, rồi cưỡng chế miền Nam, giữ vai trò thống trị duy nhất trên đất nước Việt Nam, ĐCSVN luôn luôn chủ trương đàn áp, thủ tiêu mọi lực lượng chính trị khác quan điểm với mình. Một chế độ công an trị được thiết lập. Các nhà bất đồng chính kiến bị tù đày, cô lập. Báo chí truyền thông trở thành công cụ tuyên truyền phục vụ cho mục đích cầm quyền. Sự thống nhất của dân chúng mà như ĐCSVN nói, ví dụ như đi theo đảng và tin chọn đảng làm lãnh đạo, đều là sự áp đặt. Bởi vì cấu trúc nhà nước được hình thành qua sự sắp đặt của các đại hội đảng, chứ không qua bầu cử tự do.

Trong một tư duy dùng bạo lực để tiêu diệt đối thủ/kẻ thù ấy, nói rằng, nếu có đa đảng, ở Việt Nam sẽ đổ máu không có gì là lạ.

Vào năm 1989, khi người dân Ba Lan tập trung trong Công đoàn Đoàn Kết, biểu tình, bãi công dồn dập, làm tê liệt đời sống đất nước, có nghĩa rằng, Đảng Cộng Sản Ba Lan đã nhận thấy một tín hiệu khác. Sự đàn áp cao độ của nhà cầm quyền trong giai đoạn ban hành tình trạng thiết quân luật 1981-1983 với gần 10 ngàn người đối lập dân chủ bị bắt giam và xét xử, đã không mang lại kết quả nào, ngược lại, càng đổ thêm dầu vào ngọn lửa của cao trào cách mạng.

Đảng Cộng Sản Ba Lan, lúc bấy giờ, chấp nhận ngồi vào bàn tròn đàm phán với lực lượng đối lập và kết quả là chấp nhận sự hoạt động của các tổ chức xã hội và tiến hành bầu cử tự do (hạn chế) vào ngày 3 tháng 6 năm 1989. Thắng lợi toàn diện của phe đối lập trong cuộc bầu cử này, đã dẫn đến những thắng lợi tiếp theo trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1990 và bầu cử quốc hội toàn phần năm 1991.

Cuộc chuyển hoá từ chế độ độc tài qua dân chủ đã diễn ra êm ả, hoà bình và không đổ giọt máu nào. Tất cả ai vào sân chơi dân chủ đều tôn trọng một nguyên tắc khắt khe, bất di bất dịch của nó là không triệt hạ nhau bằng bạo lực. Chỉ lá phiếu của người dân là vũ khí duy nhất để loại bỏ nhau trong cuộc tranh đua quyền lực.

Các cuộc chạy đua vào Nhà Trắng ở Mỹ cũng làm nổi bật sự khác biệt giữa hai khuynh hướng Cộng hoà cvà Dân chủ. Trong mỗi kỳ bầu cử, nước Mỹ gần như bị chia thành hai phần tương đương màu xanh (Dân Chủ) và đỏ (Cộng hoà). Người đắc cử Tổng thống thường cũng chỉ nhích hơn người thua cuộc 1-3% số phiếu, điều này cho thấy cuộc tranh đua hết sức quyết liệt.

Cộng đồng người Việt ở Mỹ như người ta nhận xét khá phức tạp và chia rẽ. Trong các kỳ bầu cử địa phương, người ta sôi nổi công kích nhau trên các phương tiện truyền thông, nhưng kết quả cuối cùng vẫn là sự lựa chọn của dân chúng. Không có bất kỳ mâu thuẫn nào dẫn đến xung đột bạo lực.

Dân chủ là phải biết thất bại, biết nhìn nhận nó một cách sòng phẳng, nhưng có trách nhiệm. Vì thế, người thua trong cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ luôn gọi điện chúc mừng người chiến thắng.

Rất tiếc, Việt Nam hiện nay chưa có một lục lượng đối lập có tổ chức đủ mạnh để buộc ĐCSVN phải ngồi vào bàn thương lượng. Nhưng những người bất mãn với chế độ và có ý thức phản kháng không ít. Các tổ chức dân sự đang nhen nhóm hoạt động là hạt nhân cần thiết cho sự phát triển xã hội dân chủ tương lai.

Một khi tạo được áp lực mạnh mẽ của quần chúng, nhà cầm quyền ắt sẽ thay đổi. Và nếu ĐCSVN can đảm nhận rằng, sân chơi dân chủ là nơi bình đẳng nhất cho cuộc tranh đua, thì chắc chắn chẳng thể nào có đổ máu.

Mặc dù xã hội Việt Nam tồn tại những bất đồng sâu sắc do chính sách của ĐCSVN gây ra, nhưng thiết nghĩ, khi đã chấp nhận dân chủ, đồng ý với luật chơi, tất cả các tổ chức khác sẽ bình đẳng với ĐCSVN trong việc tranh giành lá phiếu của người dân.

Như vậy, đổ máu hay không chẳng phụ thuộc vào việc xã hội Việt Nam có đa đảng mà hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ hành xử của ĐCSVN.

© Lê Diễn Đức – RFA

Chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ ?

Chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ ?

nguyenthituhuy

Tựa đề bài viết này của tôi lấy cảm hứng từ một câu châm ngôn của các trí thức Nga : “Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa », trong một phân tích rất đáng đọc « Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô đều sai », của Leon Aron, do Trần Ngọc Cư dịch, đăng trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế :

http://nghiencuuquocte.net/2015/02/07/moi-dieu-ban-tuong-ban-biet-ve-su-sup-cua-lien-xo-deu-sai/

Tôi không muốn xâm phạm tự do đọc và tự do tiếp nhận của quý độc giả, mọi người sẽ có cảm nhận và đánh giá của mình về bài viết của Leon Aron. Ở đây tôi chỉ nêu ra một tiếp nhận của tôi.

Tác giả bài viết cho thấy rằng Liên Xô sụp đổ hoàn toàn không phải do bị các  « thế lực phản động tác động », như là cách giải thích của các giáo trình chính thống tại Việt Nam, cũng không phải do áp lực về kinh tế, mà là do ý thức về nhân phẩm và đạo đức của người dân Nga và của cả lãnh đạo Liên Xô. Họ không muốn và không thể tiếp tục sống trong « suy đồi tinh thần và những hệ quả xói mòn đạo lý của thời đại Xít-ta-lin ». (Cá nhân tôi có lẽ sẽ lựa chọn chữ « đạo đức » để dịch, nhưng tôi tôn trọng cách dịch này của dịch giả Trần Ngọc Cư).

Chính là sự phán xét của lương tâm, chính là sự đau khổ nội tâm của từng cá nhân đã thúc đẩy sự thay đổi toàn bộ cấu trúc xã hội. Hãy đọc câu này của Aleksandr Yakovlev, một cựu đại sứ Nga, để hiểu người Nga đã chịu đựng những dằn vặt nội tâm như thế nào :

Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa. Mọi việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta phải xét lại tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng ta… Một sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống như chúng ta đã sống trước đây – một cách nhục nhã, ngoài mức chịu đựng”.

Ý kiến trên phản ánh tâm trạng của những người dân Nga. Còn dưới đây là tâm trạng của một lãnh đạo thuộc hàng cao cấp :

« [Chúng ta] ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra – từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên. »

Không có một « thế lực thù địch nào » từ bên ngoài hay « kẻ thù bên trong » nào có thể làm cho chế độ toàn trị Liên Xô sụp đổ. Cái chế độ phi nhân ấy chỉ có thể bị thay thế khi chính những con người trong hệ thống ấy, lãnh đạo cũng như người dân, ý thức được sự nhục nhã của đời sống vô đạo đức và quyết định tự tìm lại phẩm giá cho mình.

Chúng ta, những người Việt Nam ở thế kỷ XXI, chúng ta hãy đọc bài báo của Leon Aron và hãy thử nói xem : chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ ?

Paris, 24/7/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

12 GIÁ TRỊ SỐNG THEO TỔ CHỨC UNESCO

12 GIÁ TRỊ SỐNG THEO TỔ CHỨC UNESCO

Giá trị sống của bạn là những điều mà bạn cho là quan trọng trong cách bạn sống và làm việc: Chúng chi phối việc xác định thứ tự các ưu tiên hoặc ra quyết định của bạn, và, trong sâu thẳm, có lẽ chúng là cái thước đo mà bạn sử dụng để thấy được rằng cuộc sống của bạn có tiến triển theo cách bạn muốn nó diễn ra không.

Giá trị sống trả lời câu hỏi “Tại sao ?” hay “Vì sao ?” một người nào đó làm điều này hoặc không làm điều kia. Ví dụ như một người chạy xe vượt đèn đỏ để nhanh hơn vài chục giây, mà không để ý rằng điều đó có thể nguy hiểm đến tính mạng của bản thân hay của người khác, như vậy trong hành động này, người đó đánh giá cao giá trị “thời gian” mà bỏ qua giá trị “an toàn”.
Sau đây là 12 giá trị sống được nêu ra bởi UNESCO.

1/ HÒA BÌNH

Hòa bình không đơn giản chỉ là vắng bóng chiến tranh, mà là khi chúng ta đang sống hòa thuận và không có sự tranh đấu với nhau.

Hòa bình còn có nghĩa là sống với sự tĩnh lặng và thư thái của nội tâm.

Hòa bình bắt đầu từ nơi mỗi người chúng ta. Xuyên qua sự tĩnh lặng và sự suy nghĩ đúng đắn về ý nghĩa của mọi việc, chúng ta có thể tìm được nhiều cách mới mẻ và sáng tạo để nâng cao hiểu biết về các mối quan hệ và sự hợp tác với tất cả mọi người.

2/ TÔN TRỌNG

Tôn trọng trước hết là tự trọng – là biết rằng tự bản chất bạn cũng là người có giá trị như bất kỳ người nào khác. Một phần của tự trọng là nhận biết những phẩm chất của chính bản thân mình. Tôn trọng chính bản thân là nền tảng làm tăng trưởng về sự tin cậy lẫn nhau. Khi chúng ta tôn trọng chính mình thì cũng sẽ dễ dàng để tôn trọng người khác hơn, và những ai biết tôn trọng sẽ nhận lại đuợc sự tôn trọng. Hãy biết rằng mỗi người đều có giá trị và khi thừa nhận giá trị của người khác thì thế nào cũng chiếm được sự tôn trọng nơi người khác.

Một phần của sự tôn trọng là ý thức rằng bạn có sự khác biệt với người khác trong cách đánh giá, và biết sẳn sàng lắng nghe người khác.

3/ HỢP TÁC

Hợp tác là khi mọi người biết làm việc chung với nhau và cùng hướng về một mục tiêu chung. Một người biết hợp tác thì có những lời lẽ tốt đẹp và cảm giác trong sáng về người khác cũng như đối với nhiệm vụ. Hợp tác phải được chỉ đạo bởi nguyên tắc về sự tôn trọng lẫn nhau.

Một người biết hợp tác sẽ nhận được sự hợp tác. Khi có yêu thương thì có sự hợp tác. Khi nhận thức được những giá trị của cuộc sống, bạn có khả năng tạo ra sự hợp tác.

Sự can đảm, sự quan tâm, sự chăm sóc, và sự đóng góp là sự chuẩn bị đầy đủ cho việc tạo ra sự hợp tác.

4/ TRÁCH NHIỆM

Trách nhiệm là việc bạn góp phần của mình vào công việc chung. Trách nhiệm là đang thực hiện nhiệm vụ với lòng trung thực.

Một người có trách nhiệm thì biết thế nào là phải, là đẹp, là đúng, nhận ra được điều gì tốt để góp phần. Quyền lợi gắn liền với trách nhiệm . Trách nhiệm là đang sử dụng tiềm lực, tài nguyên của chúng ta để tạo ra những thay đổi tích cực. Muốn có hòa bình, chúng ta phải có trách nhiệm tạo ra sự yên ổn. Muốn có một thế giới hài hòa, chúng ta phải có trách nhiệm chăm sóc thiên nhiên. Một người được coi là có trách nhiệm khi người ấy đồng ý góp phần để gánh vác công việc chung với các thành viên khác.

5/ TRUNG THỰC

Trung thực là nói sự thật. Khi trung thực bạn cảm thấy tâm hồn trong sáng và nhẹ nhàng. Một người trung thực và chân chính thì xứng đáng được tin cậy.

Trung thực được thể hiện trong tư tưởng, lời nói và hành động thì sẽ đem lại sự hòa thuận. Trung thực là sử dụng tốt những gì được ủy thác cho bạn. Trung thực là cách xử sự tốt nhất, đó là một mối dây gắn kết tình bạn.

Khi sống trung thực, bạn có thể học và giúp người khác học cách biết trao tặng. Tính tham lam đôi khi là cội rễ của sự bất lương. Đó là đủ cho những người cần, nhưng không bao giờ thỏa mãn cho kẻ tham lam. Khi nhận thức mối quan hệ với nhau có tầm quan trọng như thế nào thì chúng ta nhận ra được giá trị của lòng trung thực.

6/ KHIÊM TỐN

Khiêm tốn là ăn ở, nói năng, làm việc một cách nhẹ nhàng, đơn giản và có hiệu quả. Khiêm tốn gắn liền với lòng tự trọng. Khiêm tốn là khi bạn nhận biết đúng khả năng, uy thế của mình, nhưng không khoác lác khoe khoang. Khi bạn khiêm tốn, tính kiêu ngạo phải trốn xa.

Một người khiêm tốn tìm được niềm vui khi lắng nghe người khác. Khi quân bình được giữa tự trọng và khiêm tốn, bạn có được sức mạnh tâm hồn để tự điều khiển và kiểm soát chính bản thân mình. Khiêm tốn tạo nên một trí óc cởi mở và bạn có thể nhận ra sức mạnh của bản thân và khả năng của người khác.

7/ GIẢN DỊ

Giản dị là sống một cách tự nhiên, không giả tạo. Giản dị là chấp nhận hiện tại và không làm mọi điều trở nên phức tạp. Người giản dị thì thích suy nghĩ và lập luận rõ ràng. Giản dị dạy chúng ta biết tiết kiệm – biết thế nào là sử dụng tài nguyên, tiềm năng một cách khôn ngoan; biết hoạch định đường hướng cho tương lai. Giản dị giúp bạn kiên nhẫn, làm nảy sinh tình bạn và khả năng nâng đỡ lẫn nhau.

Giản dị là hiểu rõ giá trị của những vật chất dù nhỏ bé nhất trong cuộc sống.

8/ KHOAN DUNG

Khoan dung là tôn trọng qua sự hiểu biết lẫn nhau. Hòa bình là mục tiêu, khoan dung là phương pháp. Có khoan dung là bạn trở nên cởi mở và chấp nhận sự khác biệt với những vẻ đẹp của nó.

Mầm mống của sự cố chấp là sợ hãi và dốt nát. Hạt giống khoan dung và yêu thương cần được vun trồng bởi lòng trắc ẩn và sự ân cần quan tâm đến nhau. Người khoan dung thì biết nhìn thấy điều tốt nơi người khác cũng như trong các tình huống. Khoan dung là nhìn nhận cá tính và sự đa dạng trong khi vẫn biết đối phó với các mầm mống gây chia rẽ hoặc bất hòa và tháo gỡ ngòi nổ của sự căng thẳng được tạo ra bởi sự dốt nát.

9/ ĐOÀN KẾT

Đoàn kết là sự hòa thuận giữa các cá nhân trong một nhóm, một tập thể hay một tổ chức. Đoàn kết tồn tại được nhờ sự chấp nhập và hiểu rõ giá trị của mỗi người, cũng như biết đánh giá đúng sự đóng góp của mỗi người đối với tập thể. Sự thiếu tôn trọng dù là nhỏ cũng có thể là lý do làm cho mất đoàn kết.

Đoàn kết được xây dựng qua việc chia sẻ các mục tiêu, niềm hy vọng và viễn tượng tương lai. Khi đoàn kết lại thì nhiệm vụ lớn dường như trở nên dễ dàng thực hiện. Đoàn kết tạo nên kinh nghiệm về sự hợp tác, làm gia tăng sự hăng hái trong nhiệm vụ và tạo ra một bầu khí thân thiện. Đoàn kết tạo ra cảm giác hạnh phúc êm ái và gia tăng sức mạnh cho mọi người.

10/ TÌNH YÊU THƯƠNG

Yêu người khác nghĩa là bạn muốn điều tốt đến với họ. Yêu là biết lắng nghe, là biết chia sẻ. Khi bạn yêu thương trọn vẹn, giân dữ sẽ tránh xa. Tình yêu là giá trị làm cho các mối quan hệ trở nên tốt hơn.

11/ TỰ DO

Tất cả mọi người đều có quyền tự do. Trong sự tự do ấy, mỗi người có bổn phận tôn trọng quyền lợi của những người khác. Tự do tinh thần là một kinh nghiệm khi bạn có những suy nghĩ tích cực về tất cả, kể cả về chính bản thân.Tự do thuộc lãnh vực của lý trí và tâm hồn.

Tự do là một món quà quý giá. Chỉ có thể tự do thật sự khi các quyền lợi quân bình với những trách nhiệm. Có tự do thực sự khi mọi người có được quyền bình đẳng.

12/ HẠNH PHÚC

Hạnh phúc là trạng thái bình an của tâm hồn khiến con người không có những thay đổi đột ngột hay bạo lực. Khi bạn trao hạnh phúc thì nhận được hạnh phúc. Khi bạn hy vọng, đó là lúc hạnh phúc. Khi bạn yêu thương sự bình an nội tâm và hạnh phúc chợt đến ngay. Nói những lời tốt đẹp về mọi người đem lại hạnh phúc nội tâm. Những hành động trong sáng và quên mình sẽ đem đến hạnh phúc. Hạnh phúc lâu bền là trạng thái của sự hài lòng bên trong.

Khi hài lòng với chính mình, bạn sẽ cảm nhận được hạnh phúc. Khi những lời nói của bạn là “những bông hoa thay vì những hòn đá”, bạn đem lại hạnh phúc cho những người tiếp xúc với bạn.

– “Hạnh phúc sinh ra hạnh phúc. Buồn rầu tạo ra buồn rầu.”

====================//

( Nguồn : sưu tầm từ internet )

Vài câu chuyện vặt của anh tài xế taxi trước ngày Quốc Khánh

Vài câu chuyện vặt của anh tài xế taxi trước ngày Quốc Khánh

Mục: Lang Thang Internet

Trần Hồng Phong

Sáng nay có một phiên tòa, nên tôi đi taxi cho lịch sự. Đoạn đường chỉ vài cây số, mà mấy câu chuyện của anh taxi sao nghe thấy thật quá. Lại toàn những khía cạnh báo chí ít quan tâm, nên xin kể ra đây giúp vui mọi người. Cam đoan hoàn toàn là thật, chỉ có bớt chứ không nói thêm. Giá có bác quan to nào chịu khó vi hành, sẽ dễ dàng kiểm chứng là đúng.

Câu chuyện thứ nhất: Không nghề nào sướng bằng cảnh sát giao thông

Lên xe, thấy có vụ va quẹt ngoài đường, anh tài xế nói “nói thiệt với anh không nghề nào sướng bằng nghề cảnh sát giao thông. Muốn thổi xe nào thì thổi, muốn nói lỗi nào thì nói. Mình dám cãi không. Mà xe ô tô thì cứ dính vào là bạc triệu. Nó nói lỗi rồi đòi cưa đôi. Thay vì phải ký giấy phạt, rồi đi đóng triệu hai (1,2 triệu đồng), thì chi 600 là xong. Ngày nào tụi tôi dính cảnh sát coi như lỗ”.

Câu chuyện thứ hai: Bọn cướp ác quá

Anh kể tiếp: “Bây giờ bọn cướp ác quá. Cướp có cái điện thoại bất quá mấy triệu bạc mà đạp chết con người ta”.

Tôi hỏi: “Là sao? Anh lái taxi chắc nhiều lần thấy cướp giật đồ”.

– Thấy hoài chứ gì. Mà cảnh sát giao thông đứng đó nhìn chứ có làm gì đâu. Thì đó là chuyện của cảnh sát cơ động mà. Hôm rồi tôi chở một con nhỏ cầu 50 triệu chưa chắc đã lành được cái mặt”.

– Là sao?

– Con nhỏ đang chạy xe máy gọi điện thoại. Thằng cướp nó chạy qua giựt. Thay vì chỉ giựt điện thoại, nó sợ con nhỏ la cướp nên đạp quá mạnh vào bánh trước xe. Xe té chà mặt con nhỏ trên nền đường nát bét. Tội nghiệp nó”.

Câu chuyện thứ ba: Lo sợ chuyện tội phạm bùng phát sau ngày Quốc khánh

Anh lại nói: “Để rồi anh coi. Sau ngày Quốc khánh sắp tới (2/9) rồi sẽ biết tình hình phức tạp thế nào?”

Tôi lại hỏi: Là sao?

– Hôm qua tôi đọc báo, thấy đặc xá đợt này 18.000 phạm nhân trên cả nước. Thử hỏi anh trong số 18.000 ngàn người này liệu có mấy người hoàn lương, sống lương thiện được. Cùng lắm là 2.000 chứ gì. Mà người đã có tiền án xin việc ai mà dám nhận. Lại chẳng đi cướp giật, ăn trộm à. Mà không thả ra thì tiền đâu mà mấy ổng nuôi hoài”.

Câu chuyện thứ tư: Lương 45 triệu cũng không giàu được

Tôi nói: Ừ. Bây giờ xin việc khó quá. Cử nhân ra trường không có chỗ làm.

– Hôm rồi tôi chở con nhỏ có vẻ sang trọng. Nó nói sắp qua Úc làm việc trở lại.

Tôi hỏi: Là sao?

– Con nhỏ đó nó học bên Úc về. Nó đi làm lương 45 triệu tháng nhưng nó chê. Nói cha mẹ con bỏ ra trên 2 tỷ cho con đi du học. Mà bây giờ lương có 45 triệu tháng thì con có làm 10 năm cũng không trả được tiền đầu tư của cha mẹ, mà cũng không thể nào dư giả được. Nên con qua Úc làm lại, bên đó con làm được 3000 đô/tháng.

– Trời, lương 45 triệu mà còn chê. Nhiều người cầu được 15, 20 triệu mà không có.

– Thì đó là nó nói vậy. Mà nói thiệt với anh như anh em mình đi làm nuôi vợ con, thì lương có 50 triệu tháng thì một năm cũng chỉ dư cùng lắm trăm triệu. Cày cả chục năm may ra là mua được căn hộ chung cư hạng xoàng. Chẳng bao giờ giàu nổi mà mơ. Đó là giả tỷ như vậy.

Tôi cười: Thì cũng có biết bao nhiều người giàu có đó thôi.

– Những người muốn giàu thì phải làm ăn kinh doanh. Mà kinh doanh thì hoặc là phá sản, hoặc là giàu. Còn không nữa thì phải đi theo con đường công chức cán bộ, làm quan.

Câu chuyện đến đây thì hết vì chiếc taxi đã đến nơi. Tôi xuống xe, tính tiền. Anh taxi nhận tiền, nói “Cám ơn anh. Chúc anh mọi việc tốt đẹp”.

Tự do ngôn luận trách nhiệm và đạo đức

Tự do ngôn luận trách nhiệm và đạo đức

Triết học Đường phố

Joseptuat

(Tranh biếm hoạ chính trị của nghệ sỹ Kuang Biao)

(Tranh biếm hoạ chính trị của nghệ sỹ Kuang Biao)

Có một vài người đang phê phán những người ủng hộ “tự do ngôn luận” là vô trách nhiệm và không có đạo đức. Vậy ai đó cho tôi biết trách nhiệm và đạo đức của những kẻ đang cấm “tự do ngôn luận” ở xã hội này?

Tôi thấy ở đây họ không phê phán con người cụ thể, mà họ đang phê phán quyền “tự do ngôn luận” là tệ hại và xấu xa.

Ngay tự bản chất các quyền căn bản không mang trong nó trách nhiệm và đạo đức. Nếu bạn phê phán tự do ngôn luận là vô trách nhiệm và vô đạo đức chẳng khác nào bạn chỉ tay lên mặt trời và mắng rằng: thật là vô trách nhiệm và thiếu đạo đức. Hãy thận trọng cách đánh tráo vấn đề kiểu này, vì đôi lúc nguyền rủa những người ủng hộ “tự do ngôn luận” một cách nào đó bạn cũng lầm tưởng tự do ngôn luận là vô trách nhiệm và thiếu đạo đức.

Trách nhiệm và đạo đức không có ở con chó, không có ở con bò, không có trong không khí, trong lửa, trong nước, bởi vì đó là chuẩn mực do con người đặt ra, và nó dùng để đánh giá con người cụ thể, chứ không phải để quy chụp về những điều hiển nhiên.

Điều hiển nhiên đó là: mọi người sinh ra đều bình đẳng, và đều phải được hưởng những quyền căn bản của con người. Và các quyền căn bản không thể bị cấm đoán vì nó cần thiết cho một xã hội văn minh, giàu mạnh như con người cần không khí và nước.

Và còn một điều hiển nhiên nữa là: con người dù là bậc tu hành, nhà tri thức, khoa học, chính trị gia, kẻ phạm tội… thì vẫn có những người vô trách nhiệm và không có lương tâm. Và nếu một bậc tu hành của một tôn giáo nào đó sống vô trách nhiệm, thiếu đạo đức thì không đồng nghĩa tôn giáo đó là xấu xa và tội tệ. Bởi thế, không có chuyện người ủng hộ “tự do ngôn luận” vô trách nhiệm và thiếu đạo đức thì quyền được nói, được viết, được hát là vô trách nhiệm và không đạo đức.

Quyền con người như tiền bạc, tự thân tiền bạc không xấu, không tốt và ai đó chê tiền vì cách hành xử của người dùng tiền thì đó là người ngu.

Nói gọn thế này:

Nếu bạn phê phán một quyền căn bản nào đó của con người là xấu xa, không thích hợp cho một đất nước, thì bạn đang coi người dân trong đất nước đó không phải là con người.

Danh phải chính!

Danh phải chính!

“Nhà nước chuyên chính vô sản hay nhà nước XHCN KHÔNG có tính CHÍNH DANH, không được MỘT lá phiếu bầu của dân. Nó sẽ không tự buông ‘mác lê’ quy hàng mà sẽ cố thủ đến cùng. Động lực của nó chính là đặc quyền đặc lợi quá lớn, được quyền tự tung tự tác phè phỡn vơ vét trên sự đau khổ của dân chúng”.

____

VIẾT NHÂN DỊP CMT8 VÀ QUỐC KHÁNH 2/9

Phương Nguyễn

25-08-2015

Tính chính danh của nhà lãnh đạo, của nhà nước, nói nôm na là “ai đặt ông lên làm vua, làm tổng thống, làm chủ tịch”

Thời phong kiến, các vị vua Trung hoa và Việt Nam tự xưng mình là “thiên tử”, là con trời. Tính chính danh của ngôi vua là do trời “chỉ định“. Thêm vào đó là đạo đức của người “quân tử” ngày xưa phải là phải “trung quân ái quốc”, trung với vua là yêu nước. Phải hành xử theo câu “quân xử thần tử thần bất tử bất trung” là vua biểu chết mày phải chết hông được cãi.

Vì là con trời nên ngôi vua phải được truyền cho cháu trời, chắt trời… là lẽ đương nhiên. Và tuy hằng ngày các vị Thiên tử này đều được tung hô vạng tuế nhưng triều đại nào cũng bị diệt vong do hôn quân vô đạo và kém cỏi. Mỗi lần thay đổi “thiên tử” là một lần dấy động binh đao.

Ngày nay, đa số các nước trên thế giới theo chê độ dân chủ, tức là nhà nước do dân bầu lên. Các nước còn vua thì cũng theo chế độ quân chủ lập hiến, là chính phủ cũng do dân bầu, và thật sự điều hành đất nước, chứ không phải là nhà vua. Một Tổng thống, một thủ tướng ở các nước dân chủ ngày nay tính chính danh của họ là ở các lá phiếu bầu của người dân. Ai được dân thích thì làm, dân ghét thì xuống, nhự nhàng êm đẹp và không có vụ truyền ngôi nối ngôi gì cả. Dễ thấy là các nước này dù có thay đổi các nhà lãnh đạo thì đất nước họ luôn ổn định bền vững. Tất cả là ý muốn của người dân.

Và ở các nước theo chủ nghĩa CỘNG SẢN có một thứ nhà nước có tên gọi là “Nhà nước chuyên chính vô sản” hay “nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Theo lý thuyết của Mác-Lê thì nhà nước XHCN này là do giai cấp vô sản đứng lên làm cách mạng, “cướp” được chính quyền và thiết lập nền chuyên chính vô sản. Nhiệm vụ của nó là xây dựng chế độ mới và “chuyên chính đối với các phần tử thù địch chống lại nhân dân”

Đó, nhà nước chuyên chính vô sản này nó tự cướp chính quyền, nó tự đưa nó lên làm nắm quyền, ai chống đối nó thì chính thị là “các phần tử thù địch chống lại nhân dân”.

Nhà nước XHCN lại thích bày ra việc bầu cử, qua đó tạo tính chính danh cho mình và để khoe là ta “dân chủ gấp triệu lần bọn tư bản!”. Bầu hay không bầu gì thì cũng là Đảng nắm chính quyền.

Nhà nước chuyên chính vô sản hay nhà nước XHCN KHÔNG có tính CHÍNH DANH, không được MỘT lá phiếu bầu của dân. Nó sẽ không tự buông “mác lê” quy hàng mà sẽ cố thủ đến cùng. Động lực của nó chính là đặc quyền đặc lợi quá lớn, được quyền tự tung tự tác phè phỡn vơ vét trên sự đau khổ của dân chúng.

Sự chịu đựng của dân đã gần đến mức tận cùng rồi!

Ngày tàn của bạo chúa sẽ luôn luôn rất khó coi!

Cơn lốc chứng khoán và sự trú ẩn vào đồng đô la

Cơn lốc chứng khoán và sự trú ẩn vào đồng đô la

Nam Nguyên, phóng viên RFA

RFA

Cơn lốc chứng khoán và sự trú ẩn vào đồng đô la Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg10204811.jpg

Các nhà đầu tư chứng khoán theo dõi giá cổ phiếu trên bảng điện tử tại một sàn chứng khoán ở Hà Nội hôm 25/8/2015.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Tỷ giá tăng kịch trần ở các ngân hàng thương mại, trên thị trường chợ đen giá đô la vượt mức 22.900đ. Trong khi đó thị trường chứng khoán Việt Nam lao dốc thê thảm. Phải chăng Việt Nam đang thực sự rơi vào cơn lốc xoáy tiền tệ Trung Quốc.

Trả lời phỏng vấn của Nam Nguyên vào tối 25/8/2015, TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định rằng, toàn bộ các thị trường lớn trên thế giới đang có sự điều chỉnh, Trung Quốc chỉ là một nhân tố. Tình hình liên quan đến giá dầu, cuộc chiến về giá dầu của Ả Rập Saudi và Iran.

Nhà nghiên cứu này cho rằng, tình trạng giá dầu giảm phản ánh nhiều thứ hơn, vừa là sự cạnh tranh nguồn cung của các nước sản xuất dầu, vừa là sự giảm nguồn cầu của Trung Quốc cũng làm cho giá giảm. TS Nguyễn Đức Thành tiếp lời:

“Tôi nghĩ đấy là một yếu tố lớn, còn việc Trung Quốc phá giá đồng tiền thì nó chỉ phản ánh cái kết cục hiện nay là sự khó khăn của nền kinh tế Trung Quốc. Cá nhân tôi không cho rằng Trung Quốc chủ động phát động một cuộc chiến tranh tiền tệ, bởi vì Trung Quốc đang ở thế bị động chứ không phải thế chủ động trong vấn đề giảm giá. Sự giảm giá phản ánh nội tại nền kinh tế Trung Quốc đang suy yếu một cách nhanh hơn chính họ có thể tưởng tượng được, cũng như là giới quan sát có thể tưởng tượng được.

Đây chính là điều khó vì thế giới đang đứng trước cái ngưỡng của sự điều chỉnh. Tôi cho rằng nền kinh tế Việt Nam, thị trường kinh tế Việt Nam cũng đang trong khuynh hướng chung như vậy. Tôi không cho rằng Việt Nam hiện nay đang bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh tiền tệ của Trung Quốc. Bởi vì hiện nay chính sách của Việt Nam rất là rõ sau việc Trung Quốc bất ngờ điều chỉnh. Tuy nó cũng tạo ra một số bất ngờ nhưng bản thân chúng tôi, cũng như các nhà hoạch định chính sách khác của Việt Nam đã nhận ra được vấn đề cốt lõi là sự bị động, thụ động của chính phía Trung Quốc và những điều chúng tôi phân tích liên quan đến giá dầu giảm.”

“ Cá nhân tôi không cho rằng Trung Quốc chủ động phát động một cuộc chiến tranh tiền tệ, bởi vì Trung Quốc đang ở thế bị động chứ không phải thế chủ động trong vấn đề giảm giá.
– TS Nguyễn Đức Thành”

Đánh giá về các biện pháp hạ giá đồng tiền Việt Nam và nới biên độ tỷ giá vừa qua của Ngân hàng Nhà nước, ông Bùi Kiến Thành chuyên gia tài chính hiện sống và làm việc ở Hà Nội nhấn mạnh tới thực tế sức khỏe nền kinh tế Việt Nam. Ông nói việc phá giá đồng bạc Việt Nam không hẳn chỉ là ảnh hưởng ngoại lai, mà Ngân hàng Nhà nước đã có cơ hội nhân thể Trung Quốc phá giá, để có thể vượt ra ngoài cam kết không hạ giá quá 2% trong năm 2015. Với các quyết định phá giá 1% và nới biên độ mua bán đồng đô la thêm 2% lên mức 3% là khá lớn. Chuyên gia Bùi Kiến Thành đặt câu hỏi:

“Nhưng mục đích để làm gì, nếu nói mục đích để khuyến khích hàng Việt Nam xuất khẩu thì Việt Nam có hàng gì mà xuất khẩu. Những mặt hàng tỷ lệ nội địa hóa lớn thì đâu có bao nhiêu, chỉ là nông sản thủy sản không phải là các mặt hàng chủ lực. Ngoài ra mình xuất khẩu giày dép may mặc thì nguyên liệu nhập khẩu gia công rồi xuất khẩu, tỷ lệ phần nguyên liệu nhập khẩu sẽ tăng giá lên vì đồng bạc Việt Nam mất giá, đồng đô la mua nguyên liệu sẽ đắt lên. Như vậy cộng trừ lại chưa chắc gì nó ảnh hưởng tốt cho vấn đề làm giảm giá thành của Việt Nam để tăng năng lực xuất khẩu lên. Điều này phải thận trọng chứ không phải là áp dụng một cách máy móc những nguyên lý về tiền tệ mà các nước khác áp dụng, Việt Nam mình hoàn cảnh nó khác.”

Đối với thông tin thị trường chứng khoán Việt Nam hoảng loạn mà báo chí gọi là ngày đen tối, phiên giao dịch lao dốc ngày 24/8/2015 đã làm tổng vốn hóa thị trường bị mất 60 ngàn tỷ đồng tương đương khoảng 3 tỷ USD. Nếu so với đỉnh cao giữa tháng 7 thì đến hết ngày 24/8 thị trường chứng khoán Việt Nam đã mất khoảng 7,6 tỷ USD.

Tình hình không sáng sủa

Nhận định về tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam với các biểu hiện tiêu cực vừa qua, TS Nguyễn Đức Thành nhận định:

“Tôi cho là sự điều chỉnh ở đây là do thị trường đón nhận các tin mà có thể cảm thấy là tiêu cực của bầu không khí chung đối với thị trường tài chính thế giới, sự bất ổn của Trung Quốc, kể cả các thị trường lớn như Mỹ, bản thân các nhà đầu tư cũng có những kỳ vọng mà có thể nó tiêu cực theo môi trường hiện nay thì họ có những sự điều chỉnh của họ. Thế còn diễn biến xa hơn, tôi không có khả năng dự báo được xa hơn, vì là nó tùy thuộc rất nhiều vào những kỳ vọng và tính toán của các nhà đầu tư và quan điểm của họ về tương lai, không chỉ Việt Nam mà của thế giới nữa…sự điều chỉnh hiện nay theo tôi là ngắn hạn cục bộ thôi.”

Trong câu chuyện với chúng tôi, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành có cách nhìn rất tiêu cực về thị trường chứng khoán Việt Nam. Ông nói:

“Thị trường chứng khoán Việt Nam không phải là một thị trường thật mà là thị trường ảo. Giá chứng khoán dựa trên đầu cơ chứ không dựa trên sức khỏe doanh nghiệp, chỉ cần một tín hiệu không tốt thì mấy ông đầu cơ bỏ chạy. Mấy ông bán ra nhiều mà không có người mua thì tất nhiên chứng khoán phải xuống. Còn nếu những doanh nghiệp thực sự ăn nên làm ra tốt thì lại khác. Nhưng cũng có trường hợp doanh nghiệp có fundamental tốt nhưng bị ở trong tình trạng gọi là náo loạn bị stampede đạp nhau mà chạy, lúc đó là khủng hoảng những anh tốt cũng bị tai nạn do sự đạp lên nhau mà chạy thôi.”

“ Thị trường chứng khoán Việt Nam không phải là một thị trường thật mà là thị trường ảo. Giá chứng khoán dựa trên đầu cơ chứ không dựa trên sức khỏe doanh nghiệp, chỉ cần một tín hiệu không tốt thì mấy ông đầu cơ bỏ chạy
– Chuyên gia Bùi Kiến Thành”

Cùng với cơn lốc chứng khoán, giá đô la tại các ngân hàng đã tăng hết biên độ cho phép tức 22.547 đồng. Trong khi đó ở thị trường chợ đen người mua đô la phải chịu giá tới 22.900 đồng, đây là mức chênh lệch khá cao. Chuyên gia Bùi Kiến Thành  nhận định:

“Đây là biểu hiện của vấn đề trú ẩn, thấy đồng tiền Việt Nam đương yếu như thế thì phải tìm cách trú ẩn, mua đô la hay mua vàng trú ẩn trong khi nền kinh tế bất ổn. Chuyện này xảy ra thường xuyên trong tất cả các nền kinh tế không riêng gì Việt Nam. Khi thấy tình hình kinh tế bất ổn rồi, những người có tiền không đầu tư vào chứng khoán được, vào bất động sản được, không đầu tư vào doanh nghiệp được, người ta muốn bảo vệ giá trị đồng tiền thì người ta mua đô la, mà khi người mua nhiều mà người bán ít thì tự nhiên giá nó lên… Vì vậy phải làm sao cho nền kinh tế phát triển để có nơi cho người có tiền có thể đầu tư.”

Kết thúc câu chuyện với chúng tôi, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành nhận định rằng, Việt Nam cần nhìn vào tình hình nội tại của mình như thế nào để làm việc, chứ không phải nhìn vào vấn đề tỷ giá trên thế giới. Chắc chắn với tình hình cả thế giới bị xáo động như thế này, nếu các nước khác người ta co lại không nhập khẩu, Việt Nam dù có xuất khẩu gì thì cũng bị teo tóp lại. Như vậy tình hình kinh tế Việt Nam từ giờ đến cuối năm không sáng sủa chút nào, mà dùng chính sách tỷ giá tiền tệ để giải quyết vấn đề kinh tế Việt Nam thì nó chỉ có tác dụng rất hạn chế.

Ông Bùi Kiến Thành cho rằng giải quyết kinh tế Việt Nam là làm sao cho doanh nghiệp phát triển, làm sao sản xuất ra những mặt hàng có thể bán được với giá phải chăng, giá cạnh tranh. Theo ông, hiện giờ Việt Nam chưa làm được và làm sao có thể làm được khi một loạt rào cản đang bao vây doanh nghiệp, từ quản lý hành chính khó khăn cho tới nạn tham nhũng và điều gọi là chi phí quan hệ chiếm tỷ lệ quá lớn trong giá thành sản xuất.

TÔI LÀ AI MÀ PHÁN XÉT

TÔI LÀ AI MÀ PHÁN XÉT

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có lẽ câu được trích nhiều nhất của Giáo hoàng Phanxicô là khi ngài trả lời câu hỏi trực diện về một vấn đề luân lý đặc biệt nghiêm trọng và bất định.  Câu trả lời lừng danh gây nhiều tranh cãi của ngài là: Tôi là ai mà phán xét?

Dù nhận định này thường được xem là nói đùa và không nghiêm trọng lắm, nhưng thực sự, đây là một lời có căn cứ vững vàng.  Dường như, chính Chúa Giêsu cũng nói một điều về căn bản là tương tự. Ví dụ như, khi Đức Giêsu nói chuyện với ông Nicôđêmô, Ngài đã nói một chuyện căn bản: Ta không phán xét ai.

Nếu Tin mừng theo thánh Gioan là khả tín, thì như thế Chúa Giêsu không phán xét ai.  Thiên Chúa không phán xét ai.  Nhưng phải xét theo bối cảnh.  Điều này không có nghĩa là không có bất kỳ phán xét luân lý nào, và không có nghĩa là hành động của chúng ta không cần quan tâm đến sự kiểm soát đạo đức.  Có phán xét, nhưng không phải là phán xét tưởng tượng trong tâm thức chung.  Theo những gì Chúa Giêsu nói với chúng ta trong Tin mừng thánh Gioan, thì phán xét như thế này:

Ánh sáng, chân lý, và tinh thần Thiên Chúa đến trong thế giới.  Chúng ta phán xét bản thân dựa theo cách chúng ta sống ra sao trước những sự này: Ánh sáng Thiên Chúa đã đến thế gian, nhưng chúng ta chọn sống trong bóng tối.  Đó là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta.  Chân lý Thiên Chúa đã được mặc khải, nhưng chúng ta chọn sống trong sai trái, trong dối trá.  Đó là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta.  Và tinh thần của Thiên Chúa đã đến thế gian, nhưng chúng ta chọn sống ngoài tinh thần Chúa, và ở lại trong một tinh thần khác.  Đó cũng là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta.  Thiên Chúa không phán xét ai.  Còn chúng ta phán xét nhau.  Do đó, chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa không lên án ai, nhưng chúng ta lại chọn lên án nhau.  Và Thiên Chúa không trừng phạt ai, nhưng chúng ta chọn trừng phạt nhau.  Phán xét luân lý tiêu cực là thứ chúng ta tự áp đặt cho mình.  Có lẽ điều này hơi mơ hồ trừu tượng, nhưng không phải vậy.  Chúng ta biết điều này trong cuộc sống, chúng ta cảm nhận trong mình cái nhãn cho những hành động của chúng ta, một ví dụ là: Chúng ta phán xét bản thân nhờ Thần Khí như thế nào:

Tinh thần của Thiên Chúa, Thần Khí, không phải là một sự trừu tượng và không thể nắm bắt.  Thánh Phaolô, trong thư gởi tín hữu Galat, đã mô tả Thần Khí bằng những khái niệm rất rõ ràng, để không bị thói tự lập luận làm cho mơ hồ và nhập nhằng.  Ngài mô tả và xác định Thần Khí như thế nào?

Để làm rõ mọi sự, trước hết, thánh tông đồ đưa ra một tương phản bằng cách nói những sự gì không phải là Thần Khí.  Thánh Phaolô nói rằng, tinh thần của Thiên Chúa, không phải là tinh thần chìu theo bản thân, ham mê nhục dục, ghen tỵ, kình địch, chống đối, nóng giận, sinh sự, say sưa, bè phái.  Bất kỳ lúc nào, chúng ta nuôi dưỡng tính cách này trong đời mình, thì chúng ta đừng tự lừa dối bản thân rằng mình đang sống trong tinh thần Thiên Chúa, bất chấp chúng ta có giữ đạo thường xuyên, sốt sắng, và thành khẩn đến đâu chăng nữa.  Thánh Phaolô nói, Thần Khí là tinh thần nhân đạo, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tử tế, tốt lành, khả tín, ân cần, và khiết tịnh.  Chỉ khi sống trong các nhân đức này, thì chúng ta mới sống trong tinh thần Thiên Chúa.

Vậy nên, phán xét là như thế này: Tinh thần của Thiên Chúa (nhân đạo, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tử tế, tốt lành, khả tín, ân cần, và khiết tịnh) đã được bày tỏ cho biết.  Chúng ta có thể chọn sống trong những nhân đức này hay có thể chọn sống trong những thứ đối lập (chìu theo bản thân, ham mê nhục dục, ghen tỵ, kình địch, chống đối, nóng giận, sinh sự, say sưa, bè phái.)  Một chọn lựa dẫn chúng ta sống với Thiên Chúa, và chọn lựa kia dẫn chúng ta xa khỏi Chúa.  Và chọn lựa đó là của chúng ta, chứ không phải từ bên ngoài.  Chúng ta phán xét chính mình.  Thiên Chúa không phán xét ai.  Thiên Chúa không cần phải phán xét.

Khi xem xét từ quan điểm này, chúng ta làm rõ được một số hiểu lầm gây rối loạn trong tâm thức các tín hữu cũng như trong tâm thức của những người chỉ trích.  Chúng ta thường nghe lời chỉ trích này: Nếu Thiên Chúa là toàn thiện, toàn mến, và hoàn toàn thương xót, thì làm sao Thiên Chúa có thể kết án con người đời đời trong hỏa ngục?  Một câu hỏi có căn cứ, dù không thực sự đủ suy tư.  Tại sao?  Bởi Thiên Chúa không phán xét ai, Thiên Chúa không trừng phạt ai.  Thiên Chúa không kết án ai xuống hỏa ngục.  Những điều này là chúng ta gây ra cho mình.  Chúng ta tự phán xét mình, tự trừng phạt mình, và tự đẩy mình vào đủ loại hỏa ngục bất kỳ lúc nào chúng ta chọn không sống trong ánh sáng, chân lý và tinh thần Thiên Chúa.  Và phán xét này là do chúng ta tự gây ra, trừng phạt này là do tay chúng ta, và lửa hỏa ngục là bởi chúng ta mà ra.

Chúng ta rút được một số bài học từ việc này.  Trước hết, như chúng ta vừa thấy, sự thật Thiên Chúa không phán xét ai, giúp cho chúng ta làm rõ biện thần luận của chúng ta, nghĩa là giúp giảm đi tất cả những hiểu lầm quanh lòng thương xót Thiên Chúa, và xóa bỏ lời cáo buộc rằng một Thiên Chúa hoàn toàn thương xót lại có thể kết án con người đời đời trong hỏa ngục.  Và hơn nữa, đây là một thách thức mạnh mẽ đòi chúng ta phải bớt phán xét đi, hãy để lúa và cỏ lùng tự phân loại theo thời gian, để ánh sáng phán quyết bóng tối, để sự thật phán xét sai lầm, và như giáo hoàng Phanxicô, chúng ta hãy bớt vội vàng phán xét nhân danh Thiên Chúa, và hãy biết nói rằng: “Tôi là ai mà phán xét?”

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Tại sao họ lại hung ác đến vậy?

Tại sao họ lại hung ác đến vậy?

Hai nghi can vụ thảm sát ở Yên Bái.

Hai nghi can vụ thảm sát ở Yên Bái.

Nguyễn Hưng Quốc

Đọc báo chí trong nước mấy tháng vừa qua, điều ám ảnh tôi nhiều nhất là các vụ sát nhân dã man có khi chỉ vì những lý do hết sức nhỏ nhặt, thậm chí, vu vơ, hay nói theo một số nhà báo trong nước, là “lãng xẹt”.

Tối ngày 8 tháng 8 vừa qua, trong một quán karaoke ở Hải Phòng, nghĩ là anh Nguyễn Tuấn Định nhìn “đểu” mình, một số thanh niên dùng tuýp sắt đánh anh đến bị chấn thương sọ não, phải chở vào bệnh viện cấp cứu. Chưa đã cơn giận, các thanh niên này còn chạy đến bệnh viện dùng dao chém chết anh Định ngay trên băng-ca lúc chờ bác sĩ khám và chữa.

Mấy ngày sau, ở Bến Tre, Huỳnh Văn Phương và Lê Văn Tèo, cả hai đều 35 tuổi, đi xe gắn máy, bị đụng quẹt vào xe của anh Phạm Văn Phường, 25 tuổi. Phương và Tèo nhào xuống đánh anh Phường. Chưa đủ, Phương và Tèo chạy vào một căn nhà dọc đường lấy dao ra cắt cổ anh Phường. Nạn nhân chết ngay tại chỗ.

Ra đường thì thế; ở nhà có an toàn hơn không? Không. Cũng trong mấy tháng vừa qua, ở Việt Nam xảy ra mấy vụ giết người, ở đó, cả gia đình đều bị giết.

Như vụ giết người tại Nghệ An, chẳng hạn. Vy Văn Mằn vào vườn của anh Lô Văn Thọ hái trộm mấy trái chanh, bị anh Thọ bắt gặp. Hai người cãi vã nhau. Mằn nhào đến đánh anh Thọ. Chưa đủ. Mằn chụp con dao chém liên tục vào đầu anh Thọ khiến anh Thọ chết tại chỗ. Vợ anh Thọ, chị Lê Thị Yến thấy vậy sợ hãi ôm con chạy trốn. Mằn rượt theo. Gặp bà Chương, mẹ anh Thọ, Mằn chém chết; sau đó, chém chị Yến và cả đứa con chị địu trên lưng, mới một tuổi. Như vậy, chỉ vì mấy trái chanh, Vy Văn Mằn giết cả gia đình anh Lô Văn Thọ, kể cả một em bé sơ sinh.

Vụ giết người ở Nghệ An xảy ra chưa bao lâu thì đến vụ giết người cũng tàn độc không kém ở Bình Phước. Nguyễn Hải Dương, 24 tuổi, bị gia đình người yêu phản đối, bèn rủ bạn đến nhà người yêu cũ, giết sáu người trong gia đình, kể cả người mình từng yêu. Chỉ có một em bé chưa tới hai tuổi là được tha mạng.

Rồi xảy ra vụ án ở Yên Bái. Vì một sự tranh chấp nhỏ trên mảnh đất làm nương, Đặng Văn Hùng, 26 tuổi, xô xát với anh Trần Đức Long. Bị đánh, Anh Long bỏ chạy, Hùng rượt theo, chém tới tấp vào đầu vào cổ anh Long nhiều nhát. Chị Hoa, vợ anh Long, bỏ chạy. Hùng rượt theo, chém chị chết. Chưa hết. Hùng chạy vào nhà anh Long, chém chết em vợ anh Long. Cũng chưa hết. Thấy con trai anh Long, mới hai tuổi, đang đứng trên giường, Hùng “tiện tay” nhào đến chém mấy nhát khiến bé chết ngay tại chỗ.

Kể ra, ở đâu cũng có hiện tượng giết người. Ở Tây phương, không kể các cuộc khủng bố, thỉnh thoảng vẫn có những tên tâm thần cầm súng bắn xối xả vào đám đông. Tuy nhiên, những vụ giết người vì các vụ cãi cọ hay tranh chấp vu vơ nho nhỏ rất hiếm hoi. Ở Việt Nam trước đây, nơi người dân được xem là hiền hoà và hiếu hoà, những vụ giết người như thế cũng khá hiếm hoi. Vậy tại sao bây giờ những vụ giết người tàn bạo như thế lại xảy ra nhiều đến như vậy?

Tiến sĩ Đỗ Cảnh Thìn, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu tội phạm học thuộc Học viện Cảnh sát Nhân dân, cho các vụ thảm án liên tục như vậy là không bình thường. Hơn nữa, ông còn cho những tội ác “không bình thường” ấy không phải là cái gì “đột xuất bất ngờ” mà chỉ là “hệ quả của sự tác động từ nhiều yếu tố tiêu cực”. Những “yếu tố tiêu cực” ấy là gì? Theo ông Thìn, “trong cuộc sống hiện nay có rất nhiều áp lực, nhiều cạnh tranh, sức ép từ việc làm, khó khăn về kinh tế, vướng mắc trong đời sống, sự phân tầng xã hội diễn ra gay gắt, những mặt tiêu cực của yếu tố thị trường, những mâu thuẫn, xung đột, tranh chấp trong cuộc sống hàng ngày… đã làm cho một bộ phận dân chúng, nhất là những người trẻ tuổi không thích nghi được”. Vì không thích nghi được, nhiều thanh niên “dễ bị chấn thương tinh thần, không định vị được giá trị cuộc sống” và “mất phương hướng, tiêu cực trong suy nghĩ và hành động, đặc biệt là những hành động cực đoan, gây tội ác”.

Đỗ Cảnh Thìn còn đổ lỗi “những hình ảnh bạo lực, lạnh lùng, vô cảm; lối sống nặng về tranh đoạt vật chất, thích hưởng thụ, chạy theo đồng tiền bằng mọi giá hay những phương thức, thủ đoạn tàn bạo, dã man, phi nhân tính của tội phạm… lan tràn trên sách báo, phim ảnh, Internet đang hàng ngày, hàng giờ tác động, “thẩm thấu” vào nhận thức, lối sống, hành vi của không ít người, nhất là những người trẻ tuổi kỹ năng sống hạn chế, kiến thức, kinh nghiệm sống còn non nớt, từ đó dễ dẫn đến những hành vi lệch lạc chuẩn mực xã hội.”

Tuy nhiên, vấn đề là: tại sao ở các nước khác, cũng thị trường hoá, cũng đầy những phim ảnh bạo động, thanh niên lại không bị “chấn thương” và “mất phương hướng” để dẫn đến những vụ giết người một cách độc ác như thế? Nguyên nhân chính, như vậy, không phải chỉ ở nền kinh tế thị trường hay phim ảnh.

Theo tôi, có hai nguyên nhân nên để ý: luật pháp và văn hoá.

Trước hết, về phương diện văn hoá, lâu nay đã có nhiều người lên tiếng báo động về sự suy đồi trong đạo đức xã hội. Tất cả các giá trị thiêng liêng, các chuẩn mực trong quan hệ giữa người và người đều bị phá sản. Mọi người ào ạt chạy theo lợi nhuận và những quyền lợi cá nhân. Người ta đâm ra vô cảm trước những nỗi đau khổ của người khác. Người ta có khuynh hướng sử dụng bạo lực để giải quyết mọi tranh chấp. Ở trường học, chỉ cần một chút xích mích, học sinh, kể cả học sinh nữ, ẩu đả và hành hạ nhau trước cái nhìn dửng dưng của các học sinh khác. Ngoài đường, chỉ cần đụng quẹt xe một chút xíu, người ta chửi bới, hơn nữa, đánh đá nhau. Trong xã hội, bạo lực được xem là cách chính để giải quyết mâu thuẫn. Trong môi trường văn hoá như thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi một số người sẵn sàng giết người một cách dễ dàng và dã man như chúng ta từng thấy qua các bài tường thuật trên báo chí.

Nguyên nhân thứ hai là về luật pháp. Luật pháp Việt Nam khắc nghiệt nhưng không nghiêm minh. Khắc nghiệt ở chỗ Việt Nam vẫn còn duy trì án tử hình và trên thực tế, rất nhiều người bị án tử hình vì tội giết người, nhưng không nghiêm minh vì có rất nhiều người phạm tội, dưới nhiều hình thức và với nhiều mức độ khác nhau, vẫn vô can, thậm chí, sống ung dung và thanh thản ngoài đời. Đó là lý do tại sao Đặng Văn Hùng giết chết đứa con anh Trần Đức Long: “Giết để sau này không bị trả thù”. Hùng sợ đứa bé mấy chục năm sau, lớn lên, trả thù mình mà không hề sợ vì tội giết người hàng loạt như vậy sẽ bị án tử hình. Rõ ràng người ta không tin và cũng không sợ pháp luật. Không tin nên người ta sẵn sàng động chân động tay để giải quyết mọi xung đột. Không sợ nên chỉ vì những xung đột nho nhỏ, người ta có thể xuống tay giết người không hề một chút đắn đo suy nghĩ.

Để ngăn chận các vụ giết người vì cãi vã, bởi vậy, không những cần củng cố các giá trị văn hoá, người ta cần phải làm cho pháp luật thực sự nghiêm minh.

Trương Duy Nhất mở lại trang blog ‘Một Góc Nhìn Khác’

Trương Duy Nhất mở lại trang blog ‘Một Góc Nhìn Khác’

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-08-24

Blogger Trương Duy Nhất

Blogger Trương Duy Nhất

AFP

Sau một thời gian dài vắng bóng trang blog Một góc nhìn khác đã được nhà báo Trương Duy Nhất cho phục hồi hoạt động vào hôm nay.

Lên tiếng với Đài Á Châu Tự do, ông Nhất cho biết những lý do đã thôi thúc ông đưa trang blog trở lại hoạt động:

Thứ nhất tôi là một nhà báo, một người cầm bút, trước một thực trạng nhiều vấn đề cần nói, cần viết như thế mà mình ngồi yên thì nó không ổn. Nó không ổn tí nào. Trước đây mình đã nói rồi, không chỉ vì những năm tháng ở trong tù mà bây giờ mình muốn yên thân mình không lên tiếng được. Có những người như chị Thêu, vợ anh Trịnh Bá Khiêm bạn tù của tôi ở trại 6, những người nông dân bị mất đất, ngay ngày hôm trước họ ra khỏi trại tù thì ngày hôm sau họ đã đấu tranh giữ đất.  Những người nông dân còn như thế, huống hồ gì những người trí thức như chúng ta. Chính hình ảnh những người nông dân đó cũng là một phần thôi thúc tôi mở lại trang web.”

Ông Nhất nói thêm là trang Một Góc Nhìn Khác vẫn giữ nguyên tên gọi, nội dung, và hình thức như trước, vì nó đã trở thành một thương hiệu được nhiều độc giả chú ý.

Chỉ có một thay đổi nhỏ là ông Nhất thay đổi tên miền từ VN sang ORG, có tính cách quốc tế, giải thích là ông làm điều đó để duy trì dễ dàng và bền vững trang web hơn.

Cũng cần nhắc lại ông Trương Duy Nhất bị công an bắt giữ hồi 2013, đầu tháng Ba 2014, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng phạt ông 2 năm tù, cáo buộc ông tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước vì đã viết 11 bài đăng trên trang blog của ông, như bài tựa đề  “chấm điểm Thủ tướng“, hoặc bài yêu cầu “Tổng bí thư phải ra đi“.

Cáo trạng được đưa ra tại phiên xử ông Nhất cho rằng các bài viết này của ông “đã làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền và làm mất uy tín cá nhân các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam”.

Tại phiên tòa, ông Trương Duy Nhất nói rõ ông “chỉ ra những khuyết điểm, sai lầm, những hiện tượng chưa đúng với hy vọng lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ thấy ra, khắc phục, sửa chữa và rút kinh nghiệm“, và nói lời cuối cùng của ông trước tòa là “Có những loại tù mà người ta cảm thấy ân hận hay xấu hổ, nhưng trường hợp của tôi thì tôi thấy tự hào”.

Tháng 5 vừa qua, ông được trả tự do.

Hồi 2014, tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới có trụ sở tại Pháp vinh danh ông là một trong 100 anh hùng thông tin của thế giới.

Kỷ niệm CM tháng 8 và 2/9: Hãy chôn “chiếc bẫy” xuống địa ngục

Kỷ niệm CM tháng 8 và 2/9: Hãy chôn “chiếc bẫy” xuống địa ngục

Võ Thị Hảo

RFA

“Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?…”

(Theo hồi ký “Đèn cù” của  Trần Đĩnh)

Những oan hồn tạo ra từ 70 năm nay trên con đường cách mạng ấy đã và đang rộn ràng hòa vào những đôi mắt sống của người dân. Những mắt ấy mở chong đêm ngày theo dõi và tính sổ những cuộc bội phản nhân dân, đợi ngày kết thúc cái chính thể phi tự nhiên ấy , tới  một cuộc Đại Giải Oan cho nước Việt.

  • Giết và giẫm đạp cả thi thể “Mẹ nuôi cách mạng”

Những chứng nhân của thời Cải cách ruộng đất hoặc những người đã đọc, đã nghe kể qua câu chuyện này thì không thể không bị ám ảnh về số phận đau thương của bà và hàng triệu người VN khác bởi chính sự phản trắc, sự tàn ác của chính những người đứng đầu đất nước và cán bộ đội cải cách thời đó. Không một lý do nào có thể biện minh  cho những tội ác ấy.

Người ta vẫn phải nhắc đến người đàn bà ấy, gần 70 năm nay, từ ngày bà bị chính quyền cách mạng xử tử . Không năm nào không nhắc, nhất là mỗi khi đến dịp rầm rộ kỷ niệm cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9. Chuyện không thể cũ đi, vì nỗi oan chưa được giải và nguyên nhân của những cuộc oan mới ngày càng chồng chất trên đầu nhân dân VN.

Oan hồn của người đàn bà ấy, và hàng triệu người VN khác đương nhiên không thể không bay lượn trên bầu trời Ba Đình, chong triệu đôi mắt đợi ngày kết thúc của cái thể chế phản trắc ấy, bởi cái gì dối trá và đi ngược lại quyền lợi đất nước thì sẽ đến ngày tự hoại.

“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.” Du kích quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng…Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”(Qua lời kể của Tiêu Lang, phóng viên báo Cứu quốc trong đội cải cách ruộng đất- Trần Đĩnh ghi)

Ngày ấy Việt Minh cướp chính quyền thành công và có ngày Cách mạng tháng Tám 1945.

Bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ngây ngất hạnh phúc vào ngày ấy. Lý tưởng giải phóng nô lệ, tự do dân chủ bình đẳng bác ái mà bà theo đuổi nay đã được Việt Minh hứa thực thi trên đất nước của bà.

Người đàn bà ấy đã “phóng xe nhà có cắm cờ đỏ sao vàng, từ Hải Phòng lên Thái Nguyên nơi quân Nhật còn chiếm đóng, đến tận Đình Cả Võ Nhai để báo tin cho con trai và đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền”.

Tư liệu cho biết, bà được người Việt Minh tôn xưng là “Mẹ nuôi của cách mạng”, mẹ nuôi của Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ và Trường Chinh. Cái người đàn bà ngây thơ một lòng tin yêu cách mạng ấy đã cứu  giúp rất nhiều đầu lĩnh cao cấp nhất của Việt Minh như , Hoàng Quốc Việt, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị …

Bà  không biết rằng chính bà và nói đúng hơn là hầu hết dân VN, đã sập một cái bẫy lớn nhất, tàn bạo  nhất, chỉ do đã quá ngây thơ tin vào những lừa mỵ. Bà đã đặt quá nhiều ảo tưởng vào một miếng mồi đặt sẵn trong bẫy.

Đó là miếng mồi được phun thứ nước hoa gây áo giác về lý tưởng giải phóng dân tộc và xóa áp bức, nô lệ.

Dù bà có công lớn với Việt Minh bao nhiêu đi nữa, dù bà có là mẹ nuôi cách mạng, thì cửa bẫy cũng đã sập xuống. Thân xác bà không lâu sau sẽ tan nát bởi các con nuôi của chính bà – những người đã qua thời hàn vi, nay chững chạc đứng trong hàng nguyên thủ quốc gia hãm hại.

Bà Năm vốn là một người lam lũ làm lụng mà có tài kinh doanh. Bắt đầu từ buôn sắt vụn, bà dần tậu ruộng vườn, đồn điền và hiệu buôn.

Theo nhiều tư liệu để lại thì bà Năm đã làm theo lời ngon ngọt của Tổng Thư ký Hội nhà văn VN Nguyễn Đình Thi. Ông Thi cũng có được đức lớn như nhiều người cầm bút VN khác,  là thành danh và lập nghiệp, vinh thân phì gia suốt đời bởi tài năng dẫn dụ kẻ khác bỏ tiền của ra và chết bỏ xác cho cách mạng, còn số phận của những người đã nghe theo ông thì ông phủi tay.

Bà Năm đã bỏ phần lớn tài sản ra để giuisp đỡ nuôi nấng nhiều đoàn quân và và nhiều đầu lĩnh quyền lực nhất của Việt Minh trong đó có Hồ Chí Minh…

Đó là thời Việt Minh còn hàn vi trứng nước, bất cứ lúc nào cũng có thể chết đói hoặc bị bắt giam bởi quân chính phủ Pháp nên họ cần bà và những nhà địa chủ, tư sản, những trí thức nổi tiếng và họ cần xương máu của dân để lập nên ngai vàng cho họ. Thuở ấy, ngay cả việc mua vài khẩu súng thì Việt Minh cũng phải trông vào tài ăn nói để khuyến dụ  dân bỏ vàng ra cho họ thông qua “Tuần lễ vàng”  ….

Bà Năm là một trong những người đóng góp công của  lớn nhất cho Cách mạng Tháng tám. Ngoài nhà cửa, lương thực vải vóc thóc gạo thuốc men vô kể, bà đã đóng góp tương đương 700 lạng vàng. Sau cách mạng 1945, bà cũng theo cách mạng tản cư lên Thái Nguyên, mua lại đồn điền của một ông Tây và tiếp tục dùng đồn điền, tiền bạc  hỗ trợ kháng chiến. Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội đã được che chở và nuôi nấng trong đồn điền của bà.

Khi chính phủ VNDCCH tổ chức Tuần lễ vàng, bà lại đóng góp hơn 100 lạng vàng. Khi thực hiện lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, bà tự tay san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên để hưởng ứng.

Người VN không lạ gì điển tích bát cơm Xiếu mẫu ngày xưa, Hàn Tín thuở hàn vi đói khát, gặp được bà Xiếu mẫu giặt sợi bên sông mang cho bát cơm ăn. Sau này  hiển đạt, ông đã  mời bà Xiếu mẫu đến để bái tạ, trả ơn cả ngàn lạng vàng.

Các cán bộ Việt Minh và cách mạng tháng 8 cùng quan chức VN sau này thì luôn làm ngược lại ông Hàn Tín và đức cư xử của người Việt. Họ ăn vô số bát cơm của bà Năm, mặc quần áo bà, ở nhà bà. Bà nuôi quân, bà cho tiền mua súng, nhưng họ trả ơn bằng cách chà đạp và giết bà cũng như giết nhiều ân nhân khác của cách mạng.

Vì bà chỉ có công, không có tội nên để giết bà, các con nuôi, bây giờ đã là chủ tich, phó chủ tịch nước và toàn những chức danh thuộc hàng đứng đầu nước VNDCCH đã gán cho Mẹ nuôi tội   “giả dối nhằm chui sâu leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại” và tội “tư sản địa chủ cường hào gian ác”.

Nhiều người đưa ra chứng cứ khẳng định rằng Hồ Chí Minh đã viết bài ““Địa chủ ác ghê” ký bút danh là C.B(của Bác) đăng trên báo Nhân dân ngày 21/7/1953. Chính bài báo này là đòn sấm sét, đổ cho bà tội “làm chết 23 gia đình gồm có 200 người…Giết chết 14 nông dân, tra tấn đánh đập hàng chục nông dân…, đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến…”.

Thuở các vị này còn phải sống nhờ vào “bát cơm Siếu mẫu” của bà, họ âu yếm gọi bà là Mẹ Nuôi. Khi cách mạng thành công, vài năm sau, chính quyền đã đủ lông đủ cánh, có Trung quốc tư vấn dạy dỗ và nuôi nấng, lại có cả mấy chục triệu dân đóng sưu thuế cung phụng, thì chính những đầu lĩnh đó đã ký lệnh đem bà ra đấu tố, lăng mạ bà. Bà bị họ phát động cho cả ngàn người đổ tội và chửi rủa, tịch thu hết tài sản.

Rồi bà bị bắn bằng một loạt đạn hèn hạ từ sau lưng.

Nhớ công ơn nuôi nấng của bà, các con nuôi ưu tiên cho Mẹ cho bà được xử chết đầu tiên để làm điểm tựa phát động “cuộc cách mạng long trời lở đất”.

Chưa đủ, họ còn cho đội cải cách ruộng đất nhảy lên giẫm đạp xác bà cho gẫy nát để  lọt vào cỗ áo quan rẻ mạt. Hai con trai của bà, dù cũng đã tham gia cách mạng lập công lớn nhưng cũng bị đấu tố, dù còn sống sót nhưng cả đời cũng bị trù dập và suốt đời sống trong địa ngục vì nỗi oan khuất trút lên đầu cả dòng họ.

* “Người bịt râu”

Con bà Năm đội đơn gần 70 năm đi đòi công lý cho bà và gia đình nhưng tận đến bây giờ, dù  đảng và nhà nước VN biết rõ, những tác giả gây ra tội ác ất chết từ lâu nhưng nhà cầm quyền hiện tại cũng không chịu trả lại công bằng cho gia đinh bà.

Để làm được cách mạng tháng 8 và xây dựng được thể chế cộng sản và vận hành nó, người ta phải có gan đem Mẹ nuôi cách mạng ra hành hạ, giết chết rồi giẫm đạp lên xác. Cũng phải có gan  tráo trở đổ tội và giết hại bao đồng chí mình – những đồng chí đã vì lý tưởng mà đem của nhà, đem tri thức ra để xây dựng những chi bộ đầu tiên cho cách mạng, làm cái nôi nuôi nấng đưa Việt Minh, đưa kháng chiến đến thắng lợi?!

Để làm được cuộc cách mạng và thể chế cộng sản, họ cũng phải có gan đổ tội cho người vô tội, dám chửi bới nhục mạ cha mẹ theo số đông để sống sót hoặc để tiến thân. Họ phải đủ gan để “thà giết nhầm mười người còn hơn bỏ sót một địch” và đào tận gốc trốc tận rễ trí thức cùng những người tài giởi giàu có!

Theo hồi ký “Đèn cù “ của Trần Đĩnh thì lúc đó ông là phóng viên báo Nhân dân được Trường Chinh cử viết bài tường thuật về vụ đấu tố. Hồ Chí Minh đã ngụy trang bằng cách bịt râu, Trường Chinh thì đeo kính râm bí mật tới dự vụ đấu tố.

Đến khi sửa sai cải cách ruộng đất, oan án của bà Năm, dù những người có quyền lực nhất đều biết nhưng cũng không chịu làm chỉ vì họ không thể thừa nhận cái sai và tội ác của chính họ trực tiếp gây ra và tiếp tục che giấu.

Cải cách Ruộng đất đi kèm Chỉnh đốn Đảng là quà tặng mang tính “bom nguyên tử”, “bom chất độc” đầu tiên mà cách mạng đã giáng cho những ân nhân của họ và người  dân VN. Bằng việc vu oan, cướp, tra khảo và giết, họ đã đem ruộng đất cướp được chia cho bần cố nông nhưng để cướp đoạt lại vĩnh viễn vào 3 năm sau đó – 1959 cho đến tận bây giờ dưới mỹ từ “sở hữu toàn dân”.

Từ 1959 đến nay, rồi qua và Hiến pháp 1980, Luật Hợp tác xã 1990, người VN bị tước đoạt quyền sở hữu ruộng đất, sống vật vờ hồn xác trên mảnh đất mình đổ mồ hôi xương máu. Riêng nông dân cũng phải gánh hơn một ngàn loại và lệ phí ngoài sưu cao thuế nặng để nuôi bộ máy tham nhũng một cổ ba tròng. Chưa đủ, họ hoàn toàn có thể bị chính quyền kết hợp với một lực lượng bạo quyền nào đó cướp đi bất cứ lúc nào và khi họ có phản ứng kêu oan thì sẽ bị đàn áp, bắt giam thậm chí đánh chết trong đồn công an và con cháu, anh em gia đình cũng bị trả thù thành không chốn nương thân.

* Hãy chôn chiếc bẫy xuống địa ngục vì đây là thế giới Người

Đó là thành quả Cách mạng Tháng Tám. Thành quả của một chính thể độc tài cộng sản. Đó chính là chiếc bẫy khổng lồ với bộ răng sắc nhọn trường tồn đã 70 năm trên đầu dân VN. Chiếc bẫy đó đã quy định đường ray vận hành cho nó: bất cứ ai lên cầm quyền cũng phải quay ra phản bội quyền lội nhân dân, đất nước và dân tộc để giữ ghế và quyền lợi riêng cùng phe nhóm.

Lẽ ra người VN đã có thể an lòng lắng dịu với những số phận đau thương do những chính sách và hành vi sai lầm của chính quyền cách mạng gây nên, nếu như những nhà cầm quyền thế hệ ấy và thế hệ sau biết cư xử công bằng, minh oan, đền bù cho họ và vận hành bộ máy cầm quyền theo đúng những điều họ đã hứa ban đầu khi hô hào dân nổi dậy giúp họ giành chính quyền.

Nhưng không, ngay cả thế hệ sau này không liên quan gì đến tội ác thời các thế hệ tiền bối đã làm nhưng họ cũng không sửa sai, lại tiếp tục lừa mỵ và phản trắc người dân

Người oan đã chết, thân xác họ đã tan hòa vào đất, nhưng nỗi oan và món nợ mà xã hội nợ họ thì tồn tại mãi mãi trong người sống. Nỗi oan đó chỉ lắng dịu đi khi xã hội giải oan cho họ bằng hành động, chứ không chỉ bằng lời nói.

Hãy chôn chiếc bẫy xuống địa ngục, vì đây là thế giới Người.

Và không chỉ dân đâu, chính những người có quyền lực đang hành ác hiện nay cũng cần thoát khỏi chiếc bẫy đó, vì chẳng quyền lực, địa vị, tiền bạc nào tồn tại được mãi mãi. Họ và con cháu họ cũng cần được trở lại làm người, sống trong tự trọng và bình an.

VTH

Tượng đài và đôi điều suy nghĩ

Tượng đài và đôi điều suy nghĩ

Mục: Bình Luận

Chuacuuthe.com

Những ngày qua, dư luận xôn xao, lên tiếng, bình luận … thậm chí phẫn nộ cho cái dự án tượng đài nghìn tỷ. Lên tiếng cũng đúng thôi bởi lẽ giữa một đất nước mà còn quá nhiều người nghèo thì phải nói với những công trình bất cập như vậy.

Thật ra, chuyện ghi công một con người, một vị lãnh đạo cũng đúng thôi nhưng xét cho cùng thì vị đó có xứng với những gì người ta dành cho hay không và tâm tư của mọi người dành cho người đó như thế nào mới là quan trọng. Có khi, không khéo tượng mà người ta dựng lên đó lại không phải là người đáng để người ta tôn kính thật để rồi gây nhiều tranh cãi, gây nhiều phản ứng trái chiều.

Đứng trước chuyện tượng đài, xem ra có nhiều phản ứng hay nói cách khác là dị ứng. Nhưng nếu nhìn lại bản thân mình, đang khi mình phản ứng chuyện xây tượng thì trong cung cách sống của mình, mình cố tình dựng tượng mình lên để cho bao nhiêu người sống chung quanh phải khổ.

Có khi là người chồng trong gia đình. Ông không đòi vợ con xây tượng nhưng lối sống gia trưởng đã làm cho vợ con và gia đình phải khổ.

Một gia đình kia, người vợ hơn ba mươi năm sống trong cảnh người chồng quá độc đoán, bà khóc hết nước mắt vì chồng. Những tháng ngày còn lại trong đời sống hôn nhân cũng chỉ là nước mắt và khổ đau. Một bức tượng quá lớn trong gia đình đó đến độ vợ và con phải sợ.

Hay có khi trong một cộng đoàn tu nào đó cũng vậy. Có những vị lãnh đạo của cộng đoàn, sau những năm phục vụ, lẽ ra thanh thản ra đi để nhường chỗ cho người chị em khác lên lãnh đạo cộng đoàn nhưng rồi không như nhiều người mong muốn. Chị phụ trách tuy đã xuống rồi đó nhưng rồi nhìn cung cách sống của chị nhiều người nhận ra rằng chị đang muốn xây một bức tượng lớn cho nhiều người cung kính. Dù không nói hay có thể biện minh bằng những lời lẽ xem ra khôn khéo theo kiểu thế gian nhưng ai ai cũng thấy được rằng chị muốn níu kéo điều gì đó mà lẽ ra phải nên nhường lại cho người kế vị.

Thế đó ! Trong đời thường, đâu đó hay ngay trong bản thân ta, ta cũng muốn khẳng định bản thân mình cho người khác nhưng có khi lại là điều sai lầm. Chuyện quan trọng là nhân cách, cung cách sống của ta như thế nào trong lòng người khác khi ta ở cái tuổi về chiều, ở cái tuổi nghỉ ngơi.

Có người dường như nuối tiếc với những gì mình đang có nhưng rồi đến lúc phải chuyển giao ta nên chuyển giao sao cho đẹp để người tiếp nối có thể tiếp tục xây dựng những gì mà ta đã làm. Nếu như chuyển giao đẹp và sống đúng nhân cách của mình thì khi đó chắc chắn trong lòng người khác ta có một chỗ đứng hay một có một sự trân trọng nào đó mà người khác dành cho ta.

Có khi ta cố gắng xây tượng ta trong lòng người khác nhưng có khi lại là phản ứng ngược. Cần tấm lòng chứ không cần những cục xi măng sắt thép để làm gì.

Cuộc đời như vòng xoay, chẳng ai có thể tồn tại mãi. Ai cũng phải ra đi và khép lại những năm tháng sống ở chốn dương gian. Chuyện quan trọng là ta sống như thế nào, tấm lòng ta như thế nào với anh chị em đồng loại.

Có khi bức tượng được xây lên thật hoành tráng nhưng đàng sau bức tượng đó là nhiều lời ai oán. Cần lắm những tấm lòng với anh chị em đồng loại chứ không phải là những bức tượng gạch cát đá xi măng.