SỐNG LẠI

SỐNG LẠI

song-lai

Trong chương trình “Những điều bạn có thể chưa biết” của đài VTV3 có tường thuật một trường hợp lạ lùng: Một phụ nữ bị nhồi máu cơ tim.  Chị tắt thở.  Chị đã chết.  Nhưng nhiều giờ sau, chị tỉnh lại.  Các bác sĩ hỏi chị đã thấy gì trong thời gian ấy.  Chị trả lời: chị thấy mình như bay bổng lên cao, và từ trên cao chị nhìn xuống thấy các bác sĩ, các y tá đang chăm sóc cho mình, nhìn thấy thân xác mình nằm bất động, nhìn thấy thuốc men, dụng cụ y tế.  Chị cũng nhìn thấy một chiếc giày tennis cũ màu xanh da trời, đế giày bị mòn ở mép trong bàn chân, giây giày màu trắng, đầu một sợi dây thòng xuống dưới đáy giày.  Nghe lời tả rất chi tiết của chị, vị bác sĩ chuyên điều tra băn khoăn để ý tìm kiếm.  Một hôm vị bác sĩ đi qua tòa nhà đối diện nhìn sang bệnh viện, bà giật mình kinh hãi vì thấy ở tầng ba của tòa nhà, trên một gờ xi măng rất cheo leo, có một chiếc giày tennis cũ ai đã đặt ở đó tự hồi nào.  Vị bác sĩ quan sát kỹ lưỡng và thấy chiếc giày giống từng chi tiết với chiếc giày mà người chết kể lại: chiếc giày vải cũ màu xanh, đế giày mòn ở mép trong, dây giày màu trắng, đầu một dây thòng xuống nằm ở dưới đáy giày.

Đó là một trong 1370 trường hợp trở về từ cõi chết mà các bác sĩ Đức và Mỹ đã điều tra.  Theo những người có kinh nghiệm về cái chết này thuật lại thì: Cuộc sống ở “cõi bên kia” hạnh phúc hơn cuộc sống ở đời này.  Và sau khi “chết đi sống lại”, không ai còn sợ chết nữa, không ai muốn kiếm tiền bạc, danh vọng, lạc thú gì nữa.  Điều duy nhất mà họ quan tâm là sống yêu thương, quảng đại, phục vụ mọi người.  Tất nhiên đây chưa phải là bằng chứng chắc chắn về việc người chết sống lại.  Nhưng nó rất gần với mặc khải của Lời Chúa hôm nay.  Và kinh nghiệm hiếm có của họ rất có thể hữu ích cho ta.  Kinh nghiệm của họ nói với ta hai điều:

1) Có cuộc sống khác ở bên kia cái chết.  Kinh nghiệm của họ phù hợp với niềm tin dân gian, nhất là của người Việt Nam vẫn tin rằng: thác là phế thách, còn là tinh anh.  Vì tin có sự sống ở bên kia cái chết mà chúng ta mới thờ kính tổ tiên, cúng quảy, giỗ chạp.

Niềm tin ấy phù hợp với giáo lý của Chúa.  Khi Môsê thấy Chúa hiện ra trong bụi gai cháy đỏ.  Ông hỏi Chúa là ai.  Chúa trả lời: “Ta là Thiên Chúa của Abraham, Isaác, Giacóp”.  Vào thời của Môsê, Abraham đã qua đời được 5, 6 trăm năm.  Vậy mà Chúa vẫn tự giới thiệu là Thiên Chúa Abraham, tức là Abraham vẫn sống, đang sống bên Chúa.  Vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của người sống chứ không phải Thiên Chúa của kẻ chết.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nhiều lần nhắc đến cuộc sống sau cái chết như dụ ngôn người giàu có và Lagiarô, trong dụ ngôn về ngày phán xét, dụ ngôn lúa đồng và cỏ dại.

Theo thánh Phaolô, cuộc sống đời sau mới là đích điểm mà mọi tạo vật nhắm tới.  Trong thư Rôma, Ngài viết: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người.  Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt phải chịu vậy.  Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến nay, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,19-23).

Chúng ta rên siết vì cuộc sống hiện tại đầy khổ ải.  Chúng ta mong chờ cuộc sống đích thực ở mai sau.  Đời sống này là thời kỳ thai nghén.  Ta phải chịu đau đớn để sinh vào đời sau.

2) Cuộc sống ở bên kia rất khác với cuộc sống hiện tại.  Khi Chúa Giêsu trả lời người Sadducêô, Chúa Giêsu đã mặc khải ba chân lý.

Chân lý thứ nhất: Chỉ những ai được tuyển chọn mới được vào Nước Chúa.  Sự sống đời sau có đó.  Nhưng không phải ai cũng vào được.  Chỉ có những người được xét là xứng đáng mới được vào.  Trong Phúc Âm, nhiều lần Chúa đã nói tới việc tuyển chọn này.  Chúa sẽ loại chiên ra khỏi dê, lúa tốt ra khỏi cỏ dại, cá tốt ra khỏi cá xấu.  Tiêu chuẩn để chọn lựa là Tám mối phúc, nhất là giới răn bác ái yêu thương.

Chân lý thứ hai: Người ta sẽ giống như thiên thần.  Đời sống trên trời sẽ không có gì giống với đời sống dưới đất.  Sẽ không còn đói khát nên sẽ không cần ăn uống.  Sẽ chẳng có lấy vợ lấy chồng, sẽ chẳng cần sinh con để nối dõi vì người ta không bao giờ chết nữa.  Nếu vậy, trên trời ta có còn là ta nữa không hay ta trở thành một người khác, một kiếp khác?  Thưa, tuy có khác nhưng ta vẫn là ta.  Đứa bé bụ bẫm hôm nay chẳng có gì giống với cái bào thai ngọ nguậy trong bụng mẹ hôm qua.  Nhưng cả hai chỉ là một.  Bà cụ 90 tuổi hôm nay chẳng còn gì giống với cô thiếu nữ mà bà đã là cách nay 70 năm.  Nhưng cả hai vẫn là một.  Chú bướm xinh đẹp nhởn nhơ bay lượn trên khóm hoa hôm nay chẳng có gì giống với gã sâu xấu xí lê la trên đất hôm qua.  Nhưng cả hai vẫn chỉ là một.

Trên trời, ta sống một cuộc sống khác, không ăn uống, không lấy vợ lấy chồng.  Nhưng ta vẫn là ta.  Có khác biệt nhưng vẫn có liên tục.

Chân lý thứ ba: Ta sẽ trở thành con Thiên Chúa.  Sống lại rồi, ta như đứa con bấy lâu phiêu bạt xa quê nay được trở lại nhà cha mẹ.  Tâm hồn luôn bị dằn vặt vì niềm khao khát vô biên, nay mới được no thỏa: Thiên Chúa chính là hạnh phúc lấp đầy được vực thẳm khao khát vô biên của ta.  Thánh Augustinô đã nói: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, nên lòng con mãi khắc khoải băn khoăn cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”.  Là con Thiên Chúa, hạnh phúc lớn nhất của ta là được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi là cội nguồn hạnh phúc, nên thánh Phaolô đã nói: “Những đau khổ ta chịu bây giờ không thấm gì so với hạnh phúc sau này ta sẽ được.  Và mọi tạo vật mong tới ngày được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, để được cùng con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,22).  Vì hạnh phúc ấy mà tám mẹ con trong bài đọc thứ nhất đã cam chịu mọi khổ hình.

Lời Chúa hôm nay đem lại cho ta bao niềm hy vọng.  Chúa cho ta biết, đời ta sẽ không đi trong bất định, lạc vào hư vô, nhưng đời ta có một cùng đích, đó là trở về với Thiên Chúa là cội nguồn của ta.  Đời ta sẽ không chìm đắm trong đau khổ, nhưng sẽ vươn lên hạnh phúc, hạnh phúc làm con Thiên Chúa, hạnh phúc chia sẻ sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Đời ta như vậy sẽ không đi vào mạt kiếp lụi tàn, nhưng sẽ triển nở trong vinh quang tự do.  Đúng như lời thánh Phaolô nói: “Gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ; gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí” (1Cr 15,43-44)

Lạy Chúa, xin cho con biết sống ở đời này theo đúng Lời Chúa dạy, để mai sau con xứng đáng được trở nên con của Chúa.  Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Một trong những trường hợp trở về từ cõi chết, đó là trường hợp của mục sư Don Piper, tác giả cuốn sách “Khi Đức Tin Chiến Thắng: Câu Chuyện Có Thật Về Sự Sống Và Cái Chết”, New Yor Times Best Seller, kể về trải nghiệm của mình về những khoảnh khắc của “cuộc sống sau cái chết”.  Mời bạn đón đọc tại đường link:

http://suyniemhangngay.net/ 2016/10/16/khi-duc-tin-chien- thang/

Langthangchieutim gởi

Ðảng CSVN ‘vã mồ hôi’ đối diện nguy cơ ‘tự tan rã’

Ðảng CSVN ‘vã mồ hôi’ đối diện nguy cơ ‘tự tan rã’

Nguoi-viet.com

Ba nhân vật chóp bu của đảng CSVN gồm Nguyễn Phú Trọng (giữa), Nguyễn Xuân Phúc (phải) và Trần Ðại Quang (trái) đang đối diện với nguy cơ tan rã của đảng. (Hình: KHAM/AFP/Getty Images)

HÀ NỘI (NV) – Ðảng CSVN đang lo lắng đối phó với tình trạng “tự chuyển biến,” “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ của đảng. Một điều cho thấy đảng chính trị độc tài này ở Việt Nam đang sợ bị tan rã từ trong ra.

Cuộc họp trung ương đảng CSVN vừa diễn ra vào các ngày từ 9 đến 15 tháng 10, 2016. Ngay hôm khai mạc, trang mạng “chinhphu.vn” đăng bản tin thuật lời ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cảnh cáo nguy cơ tan rã của đảng CSVN khi mà tình trạng “tự chuyển biến,” “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ của đảng “vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.”

Trên tổng thế, tại hội nghị này, Ban Chấp Hành Trung Ương của đảng CSVN “thảo luận, cho ý kiến về tình hình kinh tế-xã hội năm 2016, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2017; một số chủ trương, chính sách lớn nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện ‘tự diễn biến,’ ‘tự chuyển hóa’ trong nội bộ và một số vấn đề quan trọng khác…”

Tuy nhiên, hôm 31 tháng 10, hai tuần lễ sau khi hội nghị châm dứt, Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) đăng tải toàn văn “Nghị quyết Trung ương 4 – Khóa XII” hoàn toàn đề cập đến một vấn đề duy nhất là đưa các giải pháp đối phó với vấn nạn “tự chuyển biến,” “tự chuyển hóa” của “một bộ phận không nhỏ” của đảng CSVN. Nếu không đối phó được, hệ quả tất yếu sẽ dẫn tới sự tan rã của đảng.

Nghị quyết này được phổ biến tới tất cả các “chi bộ” đảng trên cả nước. Nó tố cáo “một bộ phận không nhỏ” các đảng viên CSVN đã nhìn ra sự bịp bợm của đảng. Những kẻ có chức có quyền trong đảng chỉ tận dụng cơ hội để đục khoét, tham nhũng.

Một chuyện chính yếu vốn được lập đi lập lại hàng năm được bản nghị quyết nhắc lại nữa là “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi” nhưng bản nghị quyết nói trên kêu rằng “có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.” Ðồng thời “tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty.”

Bản nghị quyết kể ra rằng, “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn ‘tự diễn biến,’ ‘tự chuyển hóa’; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao.”

Bản nghị quyết kêu rằng “sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới ‘tự diễn biến,’ ‘tự chuyển hóa’ chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc.”

Những vấn nạn nêu trên “làm giảm sút vai trò lãnh đạo của đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của đảng và chế độ,” bản nghị quyết viết.

Bản nghị quyết kêu rằng, “Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược ‘diễn biến hòa bình,’ lợi dụng các vấn đề ‘dân chủ,’ ‘nhân quyền,’ dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ xúy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa; Ðồng thời, cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn.”

Bản nghị quyết vạch ra những dấu hiệu của “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ đảng như “Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện ‘đa nguyên, đa đảng’; đòi thực hiện thể chế ‘tam quyền phân lập,’ phát triển ‘xã hội dân sự.’ ‘Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.’ ‘Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Ðảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.’ Ðòi ‘phi chính trị hóa’ quân đội và công an.”

 Bản nghị quyết viết tiếp: “Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Ðảng và Nhà nước.” “Phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng đối với báo chí, văn học-nghệ thuật. “Lợi dụng vấn đề ‘dân chủ,’ ‘nhân quyền,’ dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với đảng và nhà nước.”

Ðể đối phó lại với nguy cơ tan rã, ngoài nhu cầu “tự phê bình và phê bình” nghị quyết đề ra chủ trương họp tập ở mọi cấp, mọi ngành “tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng.”

“Hàng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, ‘tự diễn biến,’ ‘tự chuyển hóa’; các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình,” nghị quyết nói trên viết.

Ðồng thời với việc đó, đảng CSVN sẽ “tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo chí, xuất bản, Internet, mạng xã hội. phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, ‘tự diễn biến,’ ‘tự chuyển hóa.’”

Mấy ngày gần đây, người ta thấy nhiều báo trong nước phổ biến một bài viết rất dài của ông Bộ Trưởng Thông Tin và Truyền Thông CSVN Trương Minh Tuấn, “Nguy cơ ‘tự diễn biến,’ ‘tự chuyển hóa’ trong báo chí và giải pháp khắc phục.”

Ông ta lên án giới làm thông tin tuyên truyền phục vụ chế độ tuy ăn lương nhà nước mà lại có “thái độ hai mặt, theo chủ nghĩa cơ hội; tách rời đảng và quyền tự do báo chí; tùy tiện coi báo chí phương Tây là chuẩn mực; báo chí phục vụ nhóm lợi ích.”

Khi đọc diễn văn kết thúc hội nghị Trung Ương 4, ông Nguyễn Phú Trọng thấy kêu ca đảng viên “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của đảng; thậm chí sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc…”

Liệu những cuộc học tập sắp được tổ chức có cứu được đảng CSVN khi cái “bộ phận không nhỏ” cứ lớn lên mãi? (TN)

““ÔNG ĐỘI TRƯỞNG ”

From:  Suong Quynh
 ““ÔNG ĐỘI TRƯỞNG ”

Hạ Đình Nguyên – Phần 1
Thật thú vị, khi tự hỏi: “Ông Trọng thuộc loại người nào?”. Trong khi làm vườn, quét sân, đốt lá, hay nhổ cỏ tôi luôn tự hỏi mình, tôi có thiên kiến, định kiến, thành kiến gì với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chăng, mà cứ nghe ông phát biểu, là tôi bị cảm lạnh hoặc mất ngủ! Mất ngủ mỗi lần nghe ông nói, từ khi ông lên làm Tổng Bí thư cho đến nay. Rồi cố quên ông đi, nhưng mới đây nữa, với Hội nghị Trung ương lần 4 vừa kết thúc, lại phải nhìn ông và nghe ông đọc diễn văn, dù có người bảo, nghe làm gì cho mệt! Vốn là công dân bình thường, rất xa Hà Nội, không quen biết hay quan hệ hay… tư thù cá nhân gì với ông, vậy mà cứ khó chịu. Lại tự hỏi, vì sao ông ấy có thể trở thành Tổng Bí thư của một Đảng có chiều dài lịch sử như thế? Do đâu ông lại được tái nhiệm lần thứ hai? Và vì sao mấy trăm người ở Ban Chấp hành Trung ương lại nhất tề bầu ông? Tôi nghĩ đây là thắc mắc và cũng là nỗi ray rứt của nhiều người, chứ không riêng ai. Có lẽ lời giải đáp mù mờ nhất, mà cũng khả dĩ ổn nhất, ấy là do vận nước đã đến hồi… phải như thế! Có thể ông là nút thắt cuối cùng của một tiến trình suy

sụp “đúng quy trình”? Sự lên ngôi của ông là kết quả của tiến trình đi xuống tiệm tiến 20 năm, và đến ông, liệu là sự kết thúc một thời đại mà ông gọi là “rực rỡ nhất lịch sử”? Và thật là thú vị, khi đọc tựa đề bài viết của tác giả Thuận An cách đây không lâu: “Ông Nguyễn Phú Trọng là loại người nào?“. Đây là một câu hỏi cần thiết, và nó có chút tương ứng cái tính tò mò có sẵn trong tôi về con người nổi tiếng và đặc biệt ấy. Tìm hiểu về ông cũng là điều lý thú, về tính đặc trưng hiếm có ở cá nhân ông, lại bởi ông không phải là người dân đơn thuần, mà là người ở vị trí cầm vận mệnh của đất nước này, theo nguyên tắc ông là người của công chúng. Ngoài cái lý lịch mặt trắng thư sinh(1) từ nhỏ đến lớn ông bám vào con chữ mà nổi lên thành một lãnh tụ số một của Đảng Cộng sản Việt Nam, hẳn ông phải là người thế nào chứ! Ông ấy nổi tiếng về những câu/ý mà ông phát biểu. Nhiều lắm, và rất điển hình. Nhưng chỉ xin dẫn vài điều có thể là đặc trưng về tính cách của ông đang còn gây ấn tượng đậm đà trong dư luận. Đặc điểm 1: Lập trường cách mạng kiên định với tầm thế giới. Sau khi đắc cử chức Tổng Bí thư lần I với lời hứa là sẽ “đột phá” cái gì đó rất lằng nhằng, ông xuất ngoại sang Cuba với bài diễn văn làm chấn động trong chính trường thế giới, đến độ bà Tổng thống Brasil, với vai chủ nhà đứng ra mời khách, đã vùng vằng bực dọc, hủy bỏ chuyến đón tiếp ông mà không xin lỗi tiếng nào. Đoàn đại biểu do ông dẫn đầu phải quay về sớm, chuyên viên trong đoàn phải bở hơi tai đăng ký xin lại lịch trình bay phức tạp qua gần 20 nước. Bài diễn văn độc đáo đã bộc lộ ý chí mãnh liệt của ông: Muốn tái dựng phong trào Cách mạng xã hội chủ nghĩa, ít nhất là ở quy mô các nước đang phát triển, mà Việt Nam đang là tấm gương chiếu sáng (đọc lại bài diễn văn ấy là thấy ngay). Trong khi Liên Xô sụp đổ, Trung Quốc rời bỏ chủ nghĩa xã hội để trở thành chủ nghĩa bá quyền mèo trắng mèo đen, ông nuôi tham vọng đưa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của ông, sớm trở thành ngọn cờ đầu của phe xã hội chủ nghĩa. Bà Tổng thống Brasil quá mừng rằng đã (suýt) được tiếp xúc với một linh hồn từ thế kỷ 19 mới hồi sinh. Sự kiện này tuy đã thành một sự cố gây dư luận ồn ào trong nước và ngoài nước, nhưng nó biểu trưng tínhcách mạng kiên định nơi ông, như ông đã thấm nhuần trong sách giáo khoa của trường Đảng. Dân gian thường nói: kẻ điếc thì “dũng cảm”, vì không nghe được tiếng súng. Ông đã kiên trì đề cao và nâng niu, trang trí lại cái chủ nghĩa mà nhân loại đã sợ chết khiếp gần thế kỷ nay! Đặc điểm 2: Biểu trưng người miền Bắc và có lý luận. Ở tầm nội trị, để chuẩn bị cho sự thành công Đại hội 12 của mình, ông khoanh vùng về việc bầu cử: “Tổng Bí thư phải là người miền Bắc, phải là người có lý luận”. Và câu nói cũng nổi tiếng: dân chủ đến thế là cùng, vì mọi điều tiếng không hay ông đều bỏ ngoài tai. Buồn cười thật! Đành rằng miền Bắc Việt Nam là có trước miền Nam, dân Việt từ miền Bắc mà Nam tiến theo chiều dài lịch sử mở nước và dựng nước, nhưng đâu đơn giản là kẻ ra đi (Nam tiến) kém hơn người ở lại? Sao ông cả gan dám nói về đề tài mà ông không từng học hành? Tri thức cải biên Lê-Mao của ông không bao gồm môn lịch sử, xã hội học, dân tộc học… Trong lịch sử Việt Nam chưa có một ông vua hay quan nào dám phát biểu như vậy. Trong thời đại này, cái ý tưởng ấy lại càng dị hợm hơn. Nó lạc hậu về mọi loại kích thước. Và lại nữa, phải là người “có lý luận”. Cái lý luận thì xưa nay vốn vô cùng vô tận. Mà thế nào là “có lý luận”? Mà có nhất thiết phải là lý luận Lê-Mao theo cái ông học và cách ông hiểu, mới được gọi là lý luận chăng? Ông muốn kích hoạt cho tinh thần người miền Bắc nhằm tạo vây cánh, hay chỉ muốn loại trừ những người ở phía Nammà lý luận bốc đồng như thế? Đằng nào thì cũng không ổn! Phát biểu ấy, nếu ông sinh hoạt trong một chi bộ nghiêm khắc nào đó, có thể bị kiểm điểm ít nhất là ba ngày chưa xong, và bị hạ tầng công tác, vì ngoài cái tính nói càn, lại mắc phải tội kỳ thị địa phương, gây mất đoàn kết trong bộ Đảng và trong nhân dân. Xóm tôi ở có khối người “có lý luận”, kể cả lý luận Mác-Lê, mà thuộc loại origin nữa, họ học và đọc từ nguyên bản chứ chẳng phải từ sách chế, mà hà tất phải là người Bắc mới có. Mà cũng có cả người Bắc di cư vào từ 1945, 1954, 1975 và liên tục cho đến nay, không thiếu, mà cũng giỏi lý luận lắm. Xác định cái sự “có lý luận” bởi cái bằng “Mác-Lê – Xây dựng Đảng” như ông, thì cũng có người có nốt, tuy ít người thích học, và cũng không dám khoe khoang. Theo ý ông, dù người có lý luận như ông mà không phải là người Bắc là không được, mà dù người Bắc như ông mà không có lý luận – giống như ông – cũng không được. Thì chỉ còn ông thôi, đúng không? Cũng có nhiều người bàn luận về chuyện này, và họ cười ngất trong quán xá và các chỗ vui chơi. Thực tế phải thừa nhận ông là người miền Bắc, và có lý luận – dù cái lý luận ấy ra sao – ông vẫn rất độc đáo và không thể không nổi tiếng: trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, nay mới có một Tổng Bí thư như thế! Đặc điểm 3: Một người không tham vọng quyền lực. Để hướng dẫn/khống chế đại biểu trong chuyện bầu cử Quốc hội, ông đã ra chỉ thị rất ngon lành: “không đưa vào danh sách ứng cử những người có tham vọng quyền lực”. Và cái Chỉ thị 244 do ông đạo diễn đã trắng trợn tước quyền dân chủ của Đảng viên đại biểu: “không được ứng cử, không được quyền chấp nhận đề cử” những ai bị khoanh vùng bởi Bộ Chính trị mà ông là người chủ trì. Đây là chỉ thị để cả Đảng thi hành. Không những chỉ là Quốc hội, ông cũng đã đưa ra tiêu chí này khi tiến hành tổ chức Đại hội Đảng 12. Đi sâu để phân tích cái “Có tham vọng quyền lực” thì tác giả Thuận An đã nói kỹ xin không lặp lại, nay có lẽ cả quan và dân cả nước đang quẩn chân không biết làm sao để chứng minh thế nào là “có tham vọng quyền lực” nằm trong bụng của ai đó để “không bầu vào Quốc hội”? Và không có cái tham vọng ấy thì phải có cái gì thay vào đó chứ? Chắc cái ấy là loại siêu quyền lực xã hội chủ nghĩa vốn rất khó hiểu chăng? Thế mà mọi việc cũng đã xong xuôi. Ông thuyết phục được mọi người trong Đảng, và mọi người trong Đảng đã để cho ông thuyết phục. Điều đáng kinh ngạc lần này là ở cái Đại hội Đảng do ông cầm đầu, đã bầu ông. Liệu có gì bí ẩn bên trong Đảng, hay bên ngoài… biên giới Quốc gia? Chẳng ai tiếc rẻ gì những kẻ ra đi, nhưng lại ngỡ ngàng về người ở lại. Có thể phác họa sơ bộ về ông với bốn điểm đậm đặc sau: – Cách mạng xã hội chủ nghĩa triệt để (cho Thế giới thứ 3) –

Ôsin Ả Rập – S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

 Ôsin Ả Rập

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Ảnh của tuongnangtien

Đi Hà Giang về, nhà văn Vũ Ngọc Tiến buồn rầu cho biết là đã bị một bà lão “cật vấn” như sau:

“Bác sống gần Trung ương, đi nhiều, hiểu rộng hơn mụ nhà quê, hãy chỉ vẽ cho chứ tôi thì chịu. Tôi sống gần trọn một kiếp người vẫn không hiểu nổi vì sao ba đứa con gái mình dứt ruột đẻ ra lại phải bán hết nhà cửa mới đủ tiền nộp cho công ty môi giới trên thị xã, ném con cho bà ngoại chỉ để đi làm đầy tớ bưng bô, hót cứt ở xứ người, hở giời? Ở cái xứ Đài Loan ấy làm kẻ tôi đòi cũng sướng hơn làm người tự do bên ta hay sao?”

Thắc mắc của bà mẹ Việt Nam ở Hà Giang được giải đáp qua một bài báo ngắn (Taiwan Shelter Helps Abused Vietnamese Workers”) của K. Oanh Ha, trên nhật báo Mercury News – số ra ngày 12 tháng 12 năm 2006. Xin trích dẫn một đoạn ngắn:

 “Bà Tạ Thị Giám, 36 tuổi, rời nhà nơi làng quê nghèo nàn ở ngoại thành Hà Nội để lao động cật lực trong một viện dưỡng lão tại Đài Loan, với hi vọng có tiền cho con đi học… Bà đã bị biến thành nô lệ cho người chủ Đài Loan, bị chủ đánh đập, không cho ăn, và buộc phải làm việc cho đến khi gục ngã. Bà Giám cho biết: Họ đối xử với chúng tôi như một con vật, chứ không phải là một con người… vì biết rằng chúng tôi đã lâm đến bước đường cùng, không còn nương tựa vào ai được nữa.”

Bà Tạ Thị Giám. Ảnh: SJMN

“Một phụ nữ khác, 34 tuổi, đang sống ở trung tâm lánh nạn cho biết chị đã bị cưỡng hiếp, nhưng không bao giờ dám công khai nói chuyện đó ra. Chị sợ hai con ở nhà sẽ đau lòng và sợ bị chồng bỏ… Chị nói trong nước mắt: Tôi vét sạch cả tiền của gia đình để đi… Tôi không thể trở về Việt Nam trắng tay được. Tôi phải tranh thủ cơ hội ở đây.

Đây là những câu chuyện đau lòng quen thuộc về thân phận của những phụ nữ Việt Nam đi làm ô sin ở Đài Loan, hồi mười năm trước. Nỗi đau của họ, tuy thế, vẫn “chưa đáng kể” nếu so với lớp đồng nghiệp hiện nay đang sống tại Ả Rập. Nơi mà “hàng chục ngàn lao động nhập cư không được trả lương, phải đi xin ăn và bới rác kiếm thức ăn thừa” – theo tường trình của thông tín viên Tú Anh (RFI) đọc được vào hôm 7 tháng 8 năm vừa qua:

Chính phủ Manila lập kế hoạch cứu trợ pháp lý và nhân đạo để hồi hương nhân công lao động ở Ả Rập Xê Út. Do dầu hỏa xuống giá, từ nhiều tháng nay, hàng chục ngàn lao động nhập cư không được trả lương, phải đi xin ăn và bới rác kiếm thức ăn thừa.

Sau khi Ấn Độ đem 50.000 lao động từ Ả Rập Xê Út về nước, đến lượt Philippines chuẩn bị di tản 20.000 công nhân lâm vào hoàn cảnh khốn khó.

Theo hãng tin Asia News, một phái đoàn chính phủ Manila sẽ bay sang Ryadh vào ngày 10/08 tới đây để trợ giúp khẩn cấp cho 20.000 lao động Philippines đang kêu cứu. Bộ Ngoại Giao Philippines cho biết, phái đoàn chính phủ sẽ thảo luận với Ả Rập Xê Út một giải pháp lâu dài.

Trong khi đó, theo lời bộ trưởng Lao Động Silvestre Bello thì tổng thống Rodrigo Duterte chỉ thị “phải đem hết công nhân về nước, càng sớm càng tốt”.

Tuyệt nhiên không có một bản tin nào, từ bất cứ đâu, đề cập đến những hoạt động “cứu trợ pháp lý và nhân đạo để hồi hương” những công nhân công lao động” Việt Nam. Thảm cảnh của hơn hai mươi ngàn người Việt ở Ả Rập, phần lớn là phụ nữ, chỉ được truyền tải qua những trang FB cá nhân. Xin ghi lại đôi ba:

Su H Gueng. Ảnh: FB

Mọi người ai biết thông tin về gia đình hãy báo cho họ giùm em.
Em tên là: Su H Gueng . Sinh ngày 08/07/1989.
Thôn : qle Mọi người ai biết thông tin về gia đình hãy báo cho họ giùm em.
Em tên là: Su H Gueng . Sinh ngày 08/07/1989.
Thôn : qleoi xã Ayun Hạ. Huyện Phu Thien, tỉnh Gia Lai. Đi xkld sang Ả Rập Saudi qua Cty Nam Việt chi nhánh Thanh hoá. Giám đốc tên Luyến sdt : 0919654476. Sáng nay ngày 25/10 được đưa vào trại tỵ nạn ở Ruyadh với tinh thần kg ổn định , kg có giấy tờ tuỳ thân, đồ đạc với tinh thần không ổn định

 thần kg ổn định . Dt kg có và nhớ dc rằng có mang dt nhưng cắm cho người lái taxi. Và em ghi dc sdt của gd ơ vn lên tay . Nhưng qua sdt kia tôi gọi về kg đúng . Kg biết chủ nhà đối xử thế nào, họ cho uống thuốc gì mà giờ lúc nhớ, lúc kg. Người ngơ ngác . lại bảo muốn về bà chủ nhưng kg nhớ gì. Mọi người ai biết thông tin về gia đình xin báo cho họ giúp em.
Thay mặt em
Hien Truong xin cảm ơn.

See More

Nguyễn Thị Hiền. Ảnh: FB

Kính thưa. .

 tên tôi là. nguyễn thị hiền sinh ngày. 14/02/1983. Quê quán .thôn vinh tứ xã an lão. Huyện bình lục tỉnh hà nam tôi được môi giới cty việt hà giới thiệu sang ảrập xêut .để làm giúp việc gia đình. Trước khi đi tôi có được cty đào tạo và thời gian chờ đợi là 1 tháng đen ngày 15/12/2014 .tôi được cty đua ra sân bay để đến ảrập xêut .thời gian đầu chủ cũng đối sử tốt với tôi lương tháng cũng trả dầy đủ nhưng càng về sau thời gian làm việc của tôi dài .tôi không có thời gian để nghỉ ngơi .ăn uống không đảm bảo .nhiều hôm tôi phải ăn cơm thiu và cơm thừa .các con của chủ nhà rất nghịch và hỗn.nó làm hỏng đồ gì .chủ cũng chửi mắng tôi. Không cho tôi một lời giải thích. Thậm chí còn đòi đánh tôi.

Và những thời gian sau tiền lương không trả và bỏ đói tôi. Tôi muốn gọi về cty giúp đỡ nhưng chủ không cho tôi dùng điện thoại. Lên tôi không liên lạc được với ai hết. Đến ngày 01/07/2015 tôi đã tìm cách chốn ra đại sứ quán kêu cứu.

Tôi đã ở dsq 24 ngày. Đến ngày 26/07/2015 tôi được đsq đưa tôi vào trại đến đã 1năm. Gia đình tôi có liên lạc với cty .nhưng họ không hề giải quyết cho tôi .io tôi bị chủ kiện lần 1 bắt tôi bồi thường hợp đồng là 90 trieu tiền vn.lần 2 kiện tôi 115 trieu tien vn.

Các ban ạ.tôi sang đây để làm việc gia đình tôi rất khó khan chồng tôi chết còn 2 đứa con nhỏ bơ vơ không nơi nương tựa .vì quá bất đắc dĩ lên tôi mới phải bươn chải . tôi viết bài này lên với cộng đồng. Mong chia sẻ giúp đỡ tôi. Đến các cấp có thẩm quyền. Va nhà báo vào cuộc để cứu giúp tôi sớm được về đoàn tụ với 2 đứa con nhỏ cửa tôi. Tôi xin chan chân thành cảm ơn.

Không có nhà báo nào Việt Nam “vào cuộc” hết, đã đành; cũng không có “giới chức thẩm quyền nào” của đất nước này lên tiếng cả.

Ngoại Trưởng Ấn Độ Sushma Swaraj cho biết bộ ngoại giao đã gửi đặc sứ đến thủ đô Ả Rập, và công nhân của họ sẽ được đưa về nước trong vòng hai ngày. Cùng lúc, Bộ Trưởng Lao Động Phillippines, Silvestre Bello loan báo chỉ thị của tổng thống Rodrigo Duterte “phải đem hết công nhân về nước, càng sớm càng tốt.”

Tuyệt nhiên, không thấy ông Phạm Bình Minh và ông Đào Ngọc Dung hé môi hay nhúc nhích một ngón tay nào ráo.

Trang tin tức của ĐSQCHXHCNVN tại Vương Quốc Ả Rập chỉ có một bản tin duy nhất liên quan đến lực lượng lao động VN, đề ngày … 22 tháng 05 năm 2015!

Thứ Tư, ngày 02-11-2016

» 29-03-2016 Đại sứ quán tham gia giải chạy ASEAN 2016
» 30-09-2015 Đàm phán về 3 dự án ODA Ả rập-Xê út cung cấp cho Việt Nam trong năm 2015
» 12-09-2015 ĐẠI SỨ QUÁN VIỆT NAM TẠI Ả-RẬP XÊ-ÚT TỔ CHỨC KỶ NIỆM 70 NĂM QUỐC KHÁNH NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
» 31-07-2015 Ả rập-Xê út tiếp tục cung cấp 3 dự án ODA cho Việt Nam trong năm 2015
» 22-05-2015 Tăng cường, hoàn thiện mô hình quản lý lao động Việt Nam tại thị trường Ả-rập Xê-út

Gần đây T.T Phillippines Rodrigo Duterte bị dư luận lên án như một “người khùng.”  Tuy thế, ngay sau khi nghe tiếng kêu cứu của dân Phi tại Ả Rập, “người khùng” này đã ra lệnh: “phải đem hết công nhân về nước, càng sớm càng tốt.”

Giới lãnh đạo Việt Nam, may thay, không ai điên/khùng gì ráo. Lú lẫn cũng không luôn. Họ chỉ bị câm hay điếc, hoặc (có lẽ) cả hai.

Từ đôi mắt bò

Từ đôi mắt bò

Ảnh của tuankhanh

Trong hầu hết các vụ quan chức địa phương đến từng nhà tịch thu tiền cứu trợ, với lý do để chia đều cho tất cả mọi người, có một tình tiết đáng chú ý: hầu hết những người bị thu tiền đều bất bình nhưng đành im lặng chấp nhận. Tình tiết này gợi lên nhiều suy nghĩ, đặc biệt rằng quan chức địa phương ở Việt Nam đã trở thành loại cường hào ác bá từ bao giờ, mà không ai dám phản đối công khai.

Hai tiếng nhân dân giờ âm vang xót xa và chịu đựng. Họ là tầng cuối cùng trên đất nước này, bị dẫm đạp, bị tước đoạt mà không hề dám cất lên một lời phản kháng. Số phận con người hèn mọn như ngọn cỏ trong đất nước mà nơi nào hai tiếng nhân dân cũng được đọc lớn, kẻ hoa. Tự nhiên, tôi nhớ đến con bò thoi thóp sống trong mùa bão lụt vừa qua ở miền Trung.

Trong trận lụt kinh hồn táng đởm trung tuần tháng 10/2016, Quảng Bình gánh chịu những đau thương không bút mực nào tả xiết. Những con số đếm giản đơn cho biết cả ngàn ngôi nhà ngập đến nóc, ruộng vườn hoa màu chìm trong biển nước. Gà vịt trâu bò chết lặng theo con nước dâng. Những con số đếm nhạt nhẽo nhưng căng phồng hàng ngàn câu chuyện về sống chết và phận người quẫy đạp để sinh tồn.

Trên các trang mạng xã hội. Người ta chuyền tay nhau bức ảnh vể một con bò, được chủ nuôi treo đầu cao khỏi mặt nước để không chết chìm, nhưng nước thì đã ngập đến mũi. Đây có thể là bức ảnh bao quát nhất, chỉ có cái đầu và đôi mắt tuyệt vọng, mệt mỏi của con vật, nhưng lại như nói hết, gào thét hết được trong thinh không về con người, về quê nhà, về nỗi đau và tương lai.

Không biết bức ảnh mờ nhạt, hay ánh mắt của con bò đã đục dần trong giờ phút hiu hắt của sự sống. Đôi mắt là người ta nhớ đến nhân vật phu kéo xe của Nguyễn Công Hoan. Người đàn ông mệt mỏi, kéo xe kiếm cơm qua ngày, thở dốc với từng ngày sống, mà nhà văn xứ Bắc Ninh mô tả rằng đôi mắt mờ đục, gượng sống như trái nhãn, không còn nhìn thấy tương lai.

Cũng cùng trong ngày tháng đó, thế giới chứng kiến một giải Nobel Văn Chương đến lạ, vì giải được trao cho một người chọn một đời hát rong ở Mỹ. Có không biết bao nhiêu là bất bình cũng như hân hoan trước sự kiện này. Thậm chí những người bảo vệ giá trị văn học, coi việc trao giải thưởng này như một sự sỉ nhục đối với giới cầm bút.

Vì sao Viện Hàn Lâm Thụy Điển lại có một quyết định bất thường như vậy? Tổng thư ký thường trực của Viện Hàn Lâm Thụy Điển là bà Sara Danius nói rằng Bob Dylan đã là người gợi nhớ lại thời kỳ thi ca Hy Lạp cổ, với những cách sáng tác và phổ biến thơ không khác gì các thi sĩ Homer và Sappho từ hơn 2500 năm trước”. Tạm gác lại các điều tranh cãi về đúng-sai. Điều mà Viện Hàn Lâm Thụy Điển quyết định, cho thấy những cái nhìn đột phá và ngẫu hứng. Nó xác định về các giá trị của nghệ thuật trí tuệ không có lằn ranh và định kiến. Sự sửng sốt của những người chứng kiến giải Nobel Văn Chương 2016, không chỉ là kết quả lạ lùng, mà có cả sự phát hiện về quan điểm của Ban tuyển chọn giải Nobel, mà tường chừng đã quá cũ mòn và bị câu nệ bởi các nguyên tắc, cũng như danh tiếng của chính mình.

Cùng một thế giới, cùng một thời gian. Con người ngoài kia mở ra những thách thức và tranh cãi về trí tuệ. Mở ra những lý luận mới về giá trị tinh thần và tương lai. Còn ở nơi đây, Quảng Bình quê chúng ta, người ta chỉ còn loay hoay và cuống cuồng nghĩ ra cách dùng một sợi dây để treo đầu, cứu sống một con bò.

Thật nghiệt ngã. Nước dâng cao ngập mái nhà. Ngập ruộng vườn và cuộc sống, lại khiến người Việt nghĩ nhiều hơn về số phận của mình.

Không phải thiên tai cố “cực đoan” mà mỗi ngày mưa lũ càng nhiều. Ngay trong các thành phố lớn, mưa chỉ cần kéo dài vài tiếng, nội thành đã không khác gì phố biển. Quảng Bình, Hà Tĩnh, Lào Cai, Cần Thơ, An Giang… khắp nơi đang đối diện với lũ lụt, sạt lở như chuỗi tin dữ của ngày phán xét.

Người dân Việt đang phải trả giá cho những gì mà họ không làm. Nỗi oan khiên này cay đắng biết dường nào. Từ năm 1993, người dân xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã kêu cứu khắp các nơi về chuyện Lâm trường Bố Trạch – do ai đó chống lưng, ban bệ nào bao che để cùng chia chác – đã tàn phá liên tục rừng đầu nguồn. Cả tỉnh Quảng Bình có diện tích tự nhiên 173,75km2, trong đó phần lớn rừng. Người dân đau xót kể lại rằng nơi đây ngày xưa chim muông khắp nơi, cổ thụ thì lớn đến mức 4-5 người chia nhau ôm mới hết vòng… nhưng Lâm trường Bố Trạch hủy diệt tất cả. Đến năm 2013 thì đợt lũ dầu tiên quét sạch mọi thứ do rừng không còn đã diễn ra. Thiên nhiên chết dần, mà con người đứng ra bảo vệ rừng cũng bị tấn công, bắt bớ. Tháng 12/ 2014, đã từng có những cuộc xung đột lớn giữa dân chúng và phía Lâm trường Bố Trạch, nhưng tiếng kêu của dân chúng không thấu được đến đâu cả.

Hôm nay lụt tràn về Hà Tĩnh, mà nguyên nhân chính là nhà máy thủy điện xả lũ vô trách nhiệm. Giải trình của chính Chi cục Thủy lợi tỉnh Hà Tĩnh cho biết, bởi mưa lớn cộng với nhà máy thủy điện Hố Hô xả lũ với lưu lượng từ 500 m3/s – 1.800 m3/s, hồ Bộc Nguyên xả 150-200m3/s… đã làm cho địa phương bị ngập lụt.

Chuyện nhà máy thủy điện xả lũ vô trách nhiệm, coi thường tài sản và mạng sống con người không còn là chuyện lạ. Ở Việt Nam, nơi đâu có nhà máy thủy điện là nơi đó có sự cố xả lũ. Lời trách yêu của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Đặng Quốc Khánh với nhà máy thủy điện Hố Hô rằng “Xả lũ hết cỡ như thế dân không kịp trở tay”, cũng vô trách nhiệm không kém. Sống và chết của hàng ngàn con người ở Hà Tĩnh như vậy đó, chỉ được giải đáp bằng những lời vuốt ve nhau lấy lệ. Nỗi đau thì con người vốn đành cam chịu đã lâu. Có thể chôn kín trong lòng đến tận mộ sâu. May ra chỉ còn đôi mắt mờ đục và tuyệt vọng của con bò hôm nay, là để minh chứng cho cây độc đã đơm hoa kết trái, mà kẻ gieo xuống, không phải là dân lành.

Đôi mắt của con bò cố sống sót ở Quảng Bình hôm nay, sẽ đi vào lịch sử. Nó là bức tranh hiện thực đau nghiến, nhưng căng phồng những nỗi niềm mà người dân cũng đang loay hoay và cố sống sót như chính con bò của mình. Gần một thế kỷ sau, hình ảnh đôi mắt của một con người không tương lai của Nguyễn Công Hoan lại ám ảnh người xem, nhưng lần này còn thấp hơn nữa, qua số phận một con vật.

Con bò vô danh ấy thật may mắn. Vì nó có được người chủ tử tế và nghĩ đến nó. Còn hàng triệu con người Việt Nam khác đang đối diện với môi trường đang vào thảm họa, ai sẽ cứu họ trong một ngày mai đầy thảng thốt? Và tương tự những người dân sống sót qua thảm họa, lại bị tước đoạt cả phần cứu trợ của mình, sự chịu đựng của một dân tộc ngày càng sâu hoắm và khủng khiếp ấy, khi nào mới chạm đáy và người người tỉnh giấc?

60 năm cuộc nổi dậy Budapest 1956

60 năm cuộc nổi dậy Budapest 1956

Kính Hòa, phóng viên RFA

2016-10-31 In trang này
Xe tăng Liên Xô tại Budapest, Hungary hôm 12/11/1956.

Xe tăng Liên Xô tại Budapest, Hungary hôm 12/11/1956.

AFP/INTERCONTINENTALE

Ngày 23 tháng 10 năm 1956, cách đây tròn 60 năm người dân Hungary nổi dậy đòi dân chủ. Ngày 4 tháng 11 cùng năm, xe tăng Liên Xô kéo vào Hungary dẹp tan cuộc nổi dậy. Theo một số thống kê, có đến 30 ngàn người chết trong cuộc nổi dậy này.

Ý nghĩa của cuộc cách mạng

Ông Nguyễn Hoàng Linh, nhà báo độc lập, người nghiên cứu về cuộc nổi dậy Budapest 1956 dành cho RFA cuộc trao đổi sau đây nhân kỷ niệm 60 năm chính biến quan trọng này. Ông Nguyễn Hoàng Linh hiện sống và làm việc tại thủ đô Budapest của Hungary.

Nguyễn Hoàng Linh: Cuộc cách mạng của người dân Hungary diễn ra vào ngày 23 tháng 10 năm 1956, mà bên đây người ta mới kỷ niệm sáu thập niên cuộc cách mạng đó. Vào ngày đó đã có cuộc biểu tình lớn của sinh viên đại học bách khoa. Đầu tiên họ xuống đường để muốn nói lời ủng hộ những nổ lực dân chủ của người Ba Lan thời đó. Vì lúc ấy bên Ba Lan trong khoảng thời gian từ mùa hè đến mùa thu, cũng có những chuyển động dân chủ như vậy. Sau rồi đám đông đó lại đi đến những đòi hỏi dân chủ khác tại chính Hungary. Và đỉnh điểm là đến buổi tối hôm đó có đến ba bốn trăm ngàn người đến đài phát thanh lúc đó, đòi đọc những yêu sách về dân chủ, cũng như yêu sách đòi chính quyền thân Nga phải từ chức. Và một số yêu sách đó về sau này được gọi là 13 hay 16 yêu sách đòi Nga Sô phải lập tức rút khỏi Hungary, và Hungary phải trở thành một quốc gia trung lập, lấy mô hình nước Áo, hồi năm 1955 đã rút ra được khỏi sự lệ thuộc vào Nga Sô để trở thành một quốc gia trung lập.

Khoảng chưa đầy hai tuần thì cuộc cách mạng đó bị dập tắt, nhưng dư âm của nó còn lại rất lâu sau này.
-Nhà báo Nguyễn Hoàng Linh

Lúc đầu cuộc cách mạng đó diễn ra với những nổ lực rất ôn hòa. Tuy nhiên, sau đó hai ngày, vào ngày 25 tháng mười khi đoàn tuần hành tập trung trước Quốc hội Hungary thì bị mật vụ cộng sản của Hung cũng như những đội quân của Nga Sô bắn vào đám đông làm cho mấy trăm người thiệt mạng, một sự kiện mà bây giờ người ta gọi là Ngày thứ Năm đẫm máu. Và đỉnh điểm của nó là ông Nagy Imre, một chính khách cộng sản nhưng theo xu hướng dân chủ, cải cách được đưa lên nắm quyền thì ông chấp nhận toàn bộ những yêu sách của những người khởi nghĩa.

Cho đến cuối tháng 10 năm 1956 thì dường như cuộc cách mạng đó đã giành được thắng lợi, khi mà bên Nga nói rằng họ chấp nhận những yêu sách đó, nhưng một cách phủ phàng là sáng sớm ngày 4 tháng 11 quân Nga vào Hungary. Khoảng chưa đầy hai tuần thì cuộc cách mạng đó bị dập tắt, nhưng dư âm của nó còn lại rất lâu sau này. Chẳng hạn như năm 1968, cái gọi là mùa xuân Prague bên Tiệp Khắc cũng do những lãnh tụ cộng sản theo xu hướng cải tổ thời đó, theo con đường của ông Imre Nagy, tức là tìm kiếm, tạo dựng một chủ nghĩa cộng sản mang khuôn mặt nhân tính. Đó là ý nghĩa của cuộc cách mạng đó, người dân Hung và mọi người trên thế giới vẫn nhắc.

Kính Hòa: Từ 1945 đến 1956 khi người Nga chiếm đóng Hungary, tình hình ở đó khác so với các quốc gia cộng sản khác như là Việt Nam, Trung quốc, hay Cuba, có phải không?

000_ARP2971802.jpg
Xe tăng Liên Xô tại Đại lộ Saint Joseph, Budapest, Hungary hôm 06/11/1956. AFP/INTERCONTINENTALE

Nguyễn Hoàng Linh: Những người cộng sản không có vai trò lớn trong việc mà như chúng ta gọi là giải phóng nước Hung khỏi ách phát xít. Trong thế chiến thứ hai, chính quyền Hung thời đó và chính quyền Đức là đồng minh với nhau, cho nên khi thua cuộc thì cũng chịu nhiều thiệt hại. Khi mà Liên Xô đưa quân vào Hungary dù với danh nghĩa là giải phóng như vậy, thực chất trong các giấy tờ của họ, họ gọi là một sự chiếm đóng, họ coi Hung là một quốc gia thù địch đối với họ. Cho nên sự hiện diện của quân đội Xô Viết ở Hung là một điều nhức nhối đối với dân Hung, vì người ta cho đó là một sự chiếm đóng.

Từ năm 1945 đến 1948, ở Hung vẫn có chế độ đa đảng, nhưng từ 1948 trở đi sau khi dùng bạo lực, hoặc là những mánh khóe gian dối trong các cuộc bầu cử, để mà độc quyền thì đảng cộng sản Hung không được ủng hộ của đa số người dân Hung. Cho nên cái quá trình ấy nó âm ỉ từ lâu rồi, chứ không đợi đến năm 1956.

Mà cũng cần nhắc lại là năm 1953, ông Nagy Imre, vị Thủ tướng cách mạng sau này, có một nhiệm kỳ Thủ tướng, và ông ấy đã làm một số cải tổ rất sâu rộng. Trước hết là về kinh tế, rồi đến một số quyết sách về chính trị, chẳng hạn như đại ân xá, hay là phục hồi những nạn nhân của những lãnh đạo cộng sản độc tài trước đó. Tức là từ 1953 Hungary đã có hơi hướng, mơ ước về một nền dân chủ như vậy rồi.

Sự nổi dậy trong tâm thức của con người

Kính Hòa: Hungary cũng là quốc gia đầu tiên thoát khỏi cộng sản ở Đông Âu trong những năm cuối của thập niên 80. Sau sự biến 1956, Hungary có gì thay đổi không so với các quốc gia cộng sản tương đồng?

Nguyễn Hoàng Linh: Xã hội Hungary thay đổi một cách ghê gớm sau năm 1956. Có đến 200 ngàn người Hung di tản ra nước ngoài sau cuộc cách mạng. Khi họ đến các quốc gia khác thì họ được vinh danh là đem đến những điều mới đến các quốc gia tiếp nhận họ.

Từ năm 1956 trở đi, trong lòng nước Hung lúc nào cũng có những phe đối lập dân chủ, thân phương Tây, hay nói khác đi là họ tiếp nhận những tư tưởng, tiến bộ từ phương Tây. Sau này người ta nói nếu không có 1956 thì cũng không có 1989. Và một điều đặc biệt là những yêu sách vào năm 1989, lúc nước Hung thay đồi thể chế, gần như là sự lặp lại của những yêu sách 1956.

1956 của Hungary vẫn được coi là sự nổi dậy trong tâm thức của con người, khi mà họ có lòng yêu tự do, yêu độc lập, không muốn nước mình phụ thuộc vào bên ngoài.
-Nhà báo Nguyễn Hoàng Linh

Ngoài ra cần nhấn mạnh một sự kiện rất quan trọng của lịch sử Hungary, là cho đến 1989, trong hơn ba thập niên như vậy cuộc cách mạng 1956 vẫn bị gọi là bạo loạn phản cách mạng. Cho đến đầu năm 1989, thì một lãnh tụ của ban lãnh đạo thượng đỉnh lúc đó là ông Pozsgay Imre nói là cần phải nhìn nhận lại, xem 1956 là cuộc cách mạng của nhân dân. Người ta đánh giá là kể từ thời điểm đó, thể chế cộng sản ở Hungary không còn mang tính chính danh nữa, không còn tính hợp thức nữa, và đó là bước đầu tiên dẫn đến sự sụp đổ của chế độ cộng sản Hungary vào mùa thu năm 1989.

Kính Hòa: Nếu có thể thì ông có một so sánh nào không giữa những chuyển động trong lòng xã hội Hungary trước 1989 và những chuyển động xã hội tại Việt Nam hiện nay?

Nguyễn Hoàng Linh: Nếu so sánh thì rất khó, vì những tương quan rất khác nhau, hoàn cảnh cũng khác nhau. Tuy nhiên mình cũng có thế nói rằng ước vọng được tự do, ước vọng được độc lập không bị các thế lực bên ngoài chi phối nó có trong lòng tất cả các dân tộc, trong lòng tất cả những người dân có ý thức về quốc gia và dân tộc. Nếu mà nhìn như vậy thì 1956 của Hungary vẫn được coi là sự nổi dậy trong tâm thức của con người, khi mà họ có lòng yêu tự do, yêu độc lập, không muốn nước mình phụ thuộc vào bên ngoài.

Có thể nói rằng đây là nổ lực đầu tiên của một nước bên trong khối cộng sản, nó làm cho phe cộng sản có những rạn nứt từ năm 1956 đến 1989 khi mà có những thay đổi thật sự. Thời gian cũng dài, nó trải qua đến 3 thập niên. Nhưng sau này giới sử học cũng như giới bình luận chính trị nói rằng cũng cần có những khoản thời gian như thế để làm cho những chuyện đó trở nên hiện thực, để cho những chuyển động đó tạo nên những biến đổi rất sâu sắc trong lòng một quốc gia.

Kính Hòa: Xin ám ơn ông.

Nếu Đảng tự nhốt quyền lực trong “lồng pháp luật”

Nếu Đảng tự nhốt quyền lực trong “lồng pháp luật”

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-10-31

 

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, ảnh minh họa chụp hôm 5/10/2016 tại Hà Nội.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, ảnh minh họa chụp hôm 5/10/2016 tại Hà Nội.

 AFP

Nếu Đảng tự nhốt quyền lực trong “lồng pháp luật”

 02:27/06:40

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tham nhũng ngày càng nghiêm trọng, đe dọa sự phát triển kinh tế và sự tồn vong của chế độ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri Hà Nội hôm 7/10/2016 là cần có cơ chế kiểm soát quyền lực và phải nhốt quyền lực trong “lồng luật pháp”.

Cần chống tham nhũng từ gốc

Trả lời phỏng vấn của Nam Nguyên thực hiện qua điện thoại vào tối 28/10/2016, TS Nguyễn Thanh Giang một nhà hoạt động ở Hà Nội mô tả điều ông gọi là “hai buồng trứng cơ bản” đẻ ra tham nhũng, thứ nhất đất đai là tài sản toàn dân, thứ hai kinh tế quốc doanh làm chủ đạo… Vẫn theo TS Nguyễn Thanh Giang, ở Việt Nam tài nguyên, đất đai về hình thức là của toàn dân, nhưng các thế lực, những người có quyền có chức đã lạm dụng quyền sử dụng…  tình trạng này sản sinh ra lợi ích nhóm và chiếm đoạt đất đai của nhân dân để làm giàu. Hiện nay giai cấp tư bản Đỏ kếch xù hơn tư bản ngày xưa đã từng bị Đảng Cộng sản Việt Nam tiêu diệt. TS Nguyễn Thanh Giang nhấn mạnh:

Tôi cho là chống tham nhũng bằng cách chống những người tham nhũng thì không đời nào chống được, mà phải chống cái nguyên nhân sản sinh ra những người tham nhũng.
-TS Nguyễn Thanh Giang

 

“Tôi cho là chống tham nhũng bằng cách chống những người tham nhũng thì không đời nào chống được, mà phải chống cái nguyên nhân sản sinh ra những người tham nhũng.”

Ở các nước dân chủ áp dụng chế độ tam quyền phân lập, Hành pháp – Lập pháp – Tư pháp có vị thế độc lập và giám sát lẫn nhau cho nên quyền lực được giám sát có hiệu quả. Trong khi đó ở Việt Nam, trước trào lưu mong muốn cải cách chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngay từ năm 2012 đã tái khẳng định Việt Nam không theo thể chế tam quyền phân lập.

Điều 4 Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tuy rằng, có thêm một ít dòng được cho là mới mẻ, đó là “Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.” Ông Nguyễn Phú Trọng cũng như các giới chức cao cấp của Đảng và Nhà nước luôn có chung một cách lập luận, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Nhốt quyền lực sẽ trói tay Đảng

Được biết, ngày 7/10 khi tiếp xúc cử tri Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói phải có cơ chế kiểm soát quyền lực và nhốt quyền lực vào lồng pháp luật. TS Nguyễn Thanh Giang từ Hà Nội nhận định:

“ Mãi cho tới gần đây ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mới nói được một câu tương đối hay như vậy. Nhưng nếu nhốt quyền lực vào cái lồng luật pháp thì Đảng bị trói tay, không còn Đảng.  Ông ấy nói điều ấy phi thực tế, ở Việt Nam chính ông Nguyễn Phú Trọng luôn kêu gọi tất cả mọi thứ đều phải dồn cho Đảng, quân đội, công an tất cả phục vụ Đảng và chính ông ấy nói Hiến pháp chỉ là thể chế hóa Cương lĩnh Đảng, tức là ông ấy đặt Đảng trên cả dân tộc, trên cả pháp luật thì đời nào mà ông ấy chống được tham nhũng.”

Trong cùng một ý nghĩa về việc tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 20 năm đề ra rất nhiều Nghị quyết để phòng chống tham nhũng, mà không đạt hiệu quả. Ông Nguyễn Trung Dân, cựu Phó Tổng Biên tập phụ trách báo Du Lịch, người từng bị cách chức năm 2009 sau khi duyệt đăng bài viết “Tản mạn đảo xa”, đề cao tinh thần yêu nước trước mối đe dọa từ phương Bắc, từ Saigon nhận định:

“Bao giờ mà pháp luật không được thượng tôn, luật pháp làm ra không bình đẳng vẫn có sự phân biệt giữa người này người khác, phân biệt nhân thân giữa người này người kia… tóm lại một câu, khi nào Đảng vẫn đứng trên pháp luật, Đảng chỉ huy pháp luật thì chắc chắn không thể có được sự gọi là minh bạch và rõ ràng để mà xử lý tham nhũng hết.”

Trên một phương diện khác, chế độ độc đảng ở Việt Nam được cho là một chính quyền mạnh và ổn định. Đây là những điều kiện tối cần thiết để giúp một quốc gia thành đạt về mặt kinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu chính trị đã ghi nhận sự kiện Đài Loan, Nam Hàn từng có nhiều thập niên gần như độc đảng, chế độ chính trị khắc nghiệt nhưng các nước đó đã phát triển kinh tế vững mạnh và bước tiếp theo mới thực hiện cải cách chính trị dân chủ.

Nếu nhốt quyền lực vào cái lồng luật pháp thì Đảng bị trói tay, không còn Đảng.
-TS Nguyễn Thanh Giang

 

TS Nguyễn Thanh Giang nhận định về việc tại sao Việt Nam tiếng gọi là chính quyền mạnh và ổn định, nhưng lại ách tắc kinh tế tụt hậu so với láng giềng trong khu vực. Ông nói:

“ Sự ổn định ở Việt Nam là một thứ ổn định khiên cưỡng, ổn định áp chế bằng độc quyền, độc tài, độc đoán, áp chế bằng súng đạn và nhà tù, áp chế bằng sự đàn áp dã man dưới mọi hình thức của công an và chính quyền. Sự ổn định đó giống như nồi áp suất đang bị bít rất chặt bởi luật pháp chỉ phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam. Cho nên sự ổn định đến một lúc nào đó sẽ nổ bung ra. Thực tế đó được nhìn thấy như ở các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả bậc thầy xã hội chủ nghĩa của Cộng sản Việt Nam là Cộng sản Liên Xô trước đây.”

Cuộc chiến đấu phòng chống tham nhũng không ngừng nghỉ ở Việt Nam được xem như  thất bại. Lên tiếng trong Hội nghị lấy ý kiến đánh giá 10 năm chống tham nhũng ở Việt Nam tổ chức hôm 27/10 ở Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình nhìn nhận tình trạng tham nhũng trên cả nước là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước và trên hết là đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Theo TS Nguyễn Thanh Giang tham nhũng quyền lực là tình trạng phổ biến ở Việt Nam. Tham nhũng quyền lực lại có vai trò nguy hiểm nhất từ đó biến hóa muôn hình vạn trạng các loại tham nhũng khác. Nếu lời hứa hẹn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “nhốt quyền lực trong lồng pháp luật” không phải là một lời nói suông, hay theo cách mô tả của TS Nguyễn Thanh Giang là nói cho sướng miệng, thì đây có thể là một sự may mắn cho tiến trình cải cách ở Việt Nam.

“Năm năm vàng son 1955-60” của Việt Nam Cộng Hòa

“Năm năm vàng son 1955-60” của Việt Nam Cộng Hòa

Nguyễn Tiến Hưng Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Virginia, Hoa Kỳ

  • 30 tháng 10 2016

BBC

Saigon

SAIGON

Từ cao nguyên Tây Tạng, con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy như thác lũ xuống phía nam qua tỉnh Vân Nam, tới Lào, Thái Lan, Kampuchia, rồi Việt Nam trước khi ra Biển Đông.

May cho Miền Nam là có hồ lớn Tonle Sap ở Campuchia hút đi một phần lớn lượng nước từ thượng nguồn cho nên từ đây dòng sông lại uốn khúc hiền hòa chảy vào Miền Nam.

Tới gần biên giới thì con sông chia ra làm 8 nhánh. Nhưng con số 9 được coi là may mắn cho nên phải tìm ra cho được một nhánh nữa, tuy là rất nhỏ (dài khoảng 10 dậm) để cộng lại thành ra 9 nhánh, gọi là Cửu Long Giang.

Dòng sông Chín Con Rồng uốn mình tưới nước cho vùng đồng bằng Nam Bộ mầu mỡ, phì nhiêu trở thành vựa lúa của cả nước. Người nông dân nơi đây chỉ cần trồng mỗi năm một vụ là cũng đủ ăn, lại còn dư thừa để tiếp tế ra Miền Bắc và xuất cảng.

Khởi đầu gian khó

Nhưng trong mười năm chiến tranh loạn lạc, trên một phần ba đất trồng trọt đã bị bỏ hoang, nhường chỗ cho những bụi rậm và cỏ dại lan tràn.

Một phần lớn hệ thống kênh rạch cũng bị khô cạn hay sình lầy. Hệ thống bơm nước, thoát nước cũng bị hư hại. Bởi vậy, sản xuất thóc gạo của Miền Nam trong mười năm trước 1955 đã bị giảm đi đáng kể.

Ngoài ra, các phương tiện giao thông như đường bộ, đường sắt, cầu cống và các cơ sở công kỹ nghệ như đường trắng, rượu bia, sợi bông cũng đều bị hư hại.

Cho nên vào năm 1955, khi “Một Quốc Gia Vừa Ra Đời” như báo chí Mỹ tuyên dương thì quốc gia ấy đã phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường.

Saigon

GETTY IMAGES

Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp, kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nểnkinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế.

May mắn là trong năm năm đầu, từ mùa Thu 1955 tới mùa Thu 1960, Miền Nam có được năm năm vàng son, vừa có hòa bình lại được đồng minh Hoa kỳ hết lòng yểm trợ vật chất và kỹ thuật cho nên đã thu lượm được nhiều kết quả có thể nói là vượt bực.

Hồi tưởng lại thời gian ấy, nhiều độc giả chắc còn nhớ lại cái cảnh thanh bình khi các em học sinh mặc áo chemise trắng, quần xanh, các nữ sinh với những chiếc áo dài trắng tha thướt ngày ngày cắp sách đến trường.

Cha mẹ, anh em thì lo công việc làm ăn. Giầu có thì chưa thấy nhưng hầu hết đã đủ ăn đủ mặc, xã hội trật tự, kỷ cương. Tuy dù có nhiều bất mãn khó tránh về chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng tương đối thì ta phải công nhận rằng đây là thời gian hào quang nhất của Cộng Hòa Việt Nam.

Định cư gần một triệu người di cư từ Miền Bắc

Công việc đầu tiên và khẩn cấp nhất là phải định cư tới gần một triệu người, tương đương bằng 7% dân số Miền Bắc di cư vào Nam.

Đoàn người này hoàn toàn ‘tay trắng’ – chúng tôi gọi là đoàn người ‘bốn không’: không nhà cửa, đất đai, tiền bạc, ngành nghề chuyên môn ngoài nghề nông.

Làm sao tìm được nơi ăn, chỗ ở, tạo dựng lại được công ăn việc làm, đào giếng nước, xây nhà thương, bệnh xá, trường học cho con em để đáp ứng nhu cầu? Ngoài việc hành chính, lại còn tìm đâu ra bác sĩ, y tá, thầy dạy cho con em?

Saigon

GETTY IMAGES

Sau này khi nói về thành công của Tổng thống Diệm về việc này, TT Kennedy viết cho ông nhân ngày Quốc Khánh 26/10/1961:

“Thưa Tổng thống,

Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất, và được điều hành tốt đẹp nhất trong thời hiện đại.”

Tái thiết và phát triển nông nghiệp

Ưu tiên của công việc tái thiết và phát triển phải là nông nghiệp vì đại đa số nhân dân làm nghề nông. Đồng bằng Cửu Long là vựa lúa của cả nước, nhưng sản xuất đã giảm đi đáng kể trong mười năm ly loạn.

Thời tiền chiến sản xuất lên tới 4,2 triệu tấn (1939). Tới 1954 chỉ còn 2,5 triệu tấn. Cũng năm 1939 xuất cảng gạo là gần 2 triệu tấn, năm 1954 chỉ còn 520.000 tấn.

Tại vùng đồng bằng, trong tổng số là 7 triệu hecta đất trồng trọt có tới 2,5 triệu hecta (trên một phần ba) bị bỏ hoang. Lúa gạo là mạch máu của người dân cho nên công việc đầu tiên là phải đưa diện tích này vào canh tác.

Đây là một cố gắng vượt mức vì không những nó đòi hỏi phải tốn phí nhiều tiền bạc, công sức, để sửa chữa lại hệ thống thủy lợi, vét nạo kênh rạch, lại còn làm sao xây dựng được quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất cho người nông dân.

Saigon

GETTY IMAGES

Cải cách điền địa: Khó khăn và giải pháp thành công

Người khôn của khó. Lo lắng chính của người dân là làm sao có được một mảnh đất để sinh sống. Nếu như mảnh đất ấy lại nằm gần sông nước thì là vàng.

‘Đất Nước tôi’: đất và nước. Chỉ có Việt Nam ta là dùng hai chữ đất và nước để chỉ quê hương, tổ quốc mình vì tấc đất là tấc vàng.

Các biện pháp cải cách ruộng đất bắt đầu vào năm 1955 với lệnh giới hạn địa tô (tiền thuê đất) và những biện pháp giúp cho tá điền (người nông dân thuê đất) có được sự yên tâm về quyền sử dụng đất.

Cải cách điền địa là công việc rất khó khăn của các chính phủ Á Châu, nhưng ở Miền Nam là khó khăn nhất.

Làm sao mà lấy ruộng của người này chuyển cho người khác, nhất là khi đất canh tác lại tập trung vào một số rất nhỏ đại điền chủ? Họ là những người nắm thực quyền tại địa phương và gián tiếp, tại đô thị. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sự tập trung quyền sở hữu đất vào một số điền chủ là cao nhất ở vùng Đông Nam Á: chỉ có 2,5% điền chủ mà đã sở hữu tới một nửa diện tích canh tác, trung bình mỗi điền chủ có hơn 50 mẫu đất.

Trước tình huống ấy, TT Diệm đã phải đối mặt với một khủng hoảng xã hội rất có thể xẩy ra nếu như phát động mạnh chương trình cải cách điền địa. Nhưng TT Diệm vẫn đặt vấn đề này là ưu tiên số một của chính sách kinh tế, bắt đầu ngay từ 1955 bằng việc cải tổ quy chế tá điền.

Để hỗ trợ cho nông dân được yên tâm khi đi làm thuê, điền chủ phải ký hợp đồng với tá điền về điều kiện thuê đất: tiền thuê đất, thời hạn thuê, triển hạn khế ước, giảm tô trong trường hợp mất mùa.

Kết quả về nông nghiệp trong 5 năm rất khả quan: sản xuất cây lương thực tăng 32%, vượt qua tất cả mức sản xuất thời tiền chiến. Năm 1959, sản xuất gạo lên 5,3 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử kinh tế Miền Nam cho tới thời điểm đó. Về xuất cảng: với tổng số là 340.000 tấn, năm 1960 cũng đánh dấu mức xuất cảng cao nhất.

Phát triển công kỹ nghệ và quy chế ‘Quốc tịch Việt’

Dưới thời Pháp thuộc, kỹ nghệ và tài nguyên hầu như không được phát triển vì người Pháp chia ra hai vùng rõ rệt: Miền Bắc tập trung vào kỹ nghệ và khai thác hầm mỏ, Miền Nam thì căn bản là tập trung vào nông nghiệp, chỉ có một số sản phẩm tiêu thụ như nhà máy bia, diêm quẹt, thuốc lá, độc quyền thuốc phiện.

Bởi vậy từ 1955, Miền Nam bị cắt đứt tiếp liệu về than và khoáng sản. Chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư lại thật ít ỏi vì Pháp đã rút đi hầu hết.

Từng bước, chính phủ bắt đầu khai thác tài nguyên với ba dự án chính: mỏ than Nông Sơn, thủy điện Đa Nhim, và phốt phát tại Hoàng Sa – Trường Sa. Lúc ấy thì chưa biết là có dự trữ dầu lửa lớn ở những quần đảo này.

Lý do sâu xa [của quy định Quốc tịch Việt] là vì khi ấy cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp; TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam, và ông tiên liệu trước, mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam, với mục đích là để họ sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp

Một chuyện ít người biết là việc đổi quốc tịch.

Nhiều người lên án hành động của TT Diệm là độc tài khi ông đưa ra quy định vào hè 1955 căn bản là nhắm vào các thương gia người Tầu (đa số sinh sống ở Chợ Lớn): nếu muốn làm ăn ở Việt Nam thì phải đổi ra quốc tịch Việt Nam.

Chúng tôi nghiên cứu thì mới hiểu lý do sâu xa là vì thời gian ấy, cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp, cho nên khi TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam thì ông tiên liệu trước và mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam với mục đích là để cho họ (vì có nhiều vốn liếng) sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp.

Một kích thích nổi bật khác về kinh tế là chính sách cởi mở, ưu đãi đối với các nhà đầu tư ngoại quốc: bảo đảm về chiến tranh, cam kết không tịch thu hay quốc hữu hóa tài sản của người ngoại quốc, ưu đãi về thuế má và cho phép chuyển tiền lời ra ngoại quốc.

Hạ tầng cơ sở

Tái thiết mạng lưới giao thông đã bị hư hại trong thời chiến và xây dựng thêm nữa là đòi hỏi tiên quyết cho việc phát triển kinh tế và xã hội.

Tới năm 1960, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và các tuyến hàng không đã được cải thiện canh tân và mở rộng đáng kể. Hệ thống vận chuyển hiện đại bao gồm đường sắt, một mạng lưới các đường quốc lộ, liên tỉnh lộ, hương lộ, đường thủy và đường hàng không.

Đường bộ: trong khoảng 9.000 dặm đường, có hơn 2.000 dặm là bê tông nhựa; 3.000 dặm đường có cán đá, và khoảng 4.000 dặm là đường hương lộ.

Đường sắt: năm 1955 giao thông đường sắt cũng được sửa chữa và canh tân. Tới 1959 toàn hệ thống bao gồm 870 dặm, gồm một tuyến đường chính chạy từ Sàigòn đến Đông Hà, nối kết toàn bộ các tỉnh dọc miền duyên hải (nhiều khúc bị cắt đứt trong 12 năm chiến tranh).

Một chi nhánh đường sắt (có móc để leo đồi) đi từ Phan Rang lên Đà Lạt, và một chặng nối với mỏ than Nông Sơn. Một khúc ngắn về phía đông bắc, đi từ Sàigòn tới Lộc Ninh.

Hàng không: hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam – Air Vietnam – được thành lập lúc đầu để bay trong nước. Ngoài phi trường Tân Sơn Nhất, các phi trường được sửa chữa lại và xây dựng thêm gồm Huế, Đà Nẵng, Nha trang, Qui Nhơn, Biên Hòa, Đà Lạt, Ban mê Thuột, Pleiku, Hải Ninh, Cần Thơ, Phú quốc.

Từ nội địa, Air Vietnam bắt đầu bay tới Phnom Penh, Siem Reap, Bangkok, Vientianne và Savannakhet. Đường quốc tế phần lớn được đảm nhiệm bởi các hãng Air France, Pan American, World Airways, British Airways, Royal Dutch, Cathay Pacific và Thai Airways.

Ngân hàng và tiền tệ

Thiết lập được một ngân hàng trung ương và một hệ thống ngân hàng thương mại để thay thế cho Banque de L’Indochine và các ngân hàng thương mại Pháp ở Sài Gòn là một thành quả lớn của thời đệ Nhất Cộng Hòa.

Ngay từ tháng 1/1955, Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam được thành lập để phát hành đồng tiền Việt Nam và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng trung ương tân tiến.

Giáo dục và đào tạo

Saigon

GETTY IMAGES

Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế lâu dài. Trong thời kỳ 1955-1960, Miền Nam đã phát triển giáo dục rất nhanh.

Tiểu học: 1960, đã có tới 4.266 trường tiểu học công và 325 trường tiểu học tư thục. Tổng số học trò lên tới gần 1.200.000.

Trung học: các trường trung học công lập tăng từ 29 lên 101 trường. Nguyên trường Gia Long: số học sinh đã tăng từ 1.200 lên tới 5.000.

Đại học: trước năm 1954, Miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà Nội. Năm 1955, chính thức thành lập đại học Sài Gòn, rồi tới Đại học Huế, Đà Lạt. Tới năm 1962 tổng số sinh viên lên tới 12.000.

Xem như vậy, thành quả của “Năm Năm Vàng Son 1955-1960” là thời gian quý hóa nhất của lịch sử Cộng Hòa Việt Nam.

Ngày Quốc Khánh 26/10/1960 Tổng thống Eisenhower viết cho TT Diệm:

“Kính thưa Tổng Thống,

Trong năm năm ngắn ngủi kể từ khi thành lập nước Cộng hòa, nhân dân Miền Nam đã phát triển đất nước của mình trong hầu hết các lĩnh vực. Tôi đặc biệt ấn tượng bởi một thí dụ. Tôi được thông báo rằng năm ngoái hơn 1.200.000 trẻ em Việt Nam đã có thể đi học trường tiểu học, như vậy là nhiều hơn gấp ba lần so với năm năm trước đó. Điều này chắc chắn là một yếu tố hết sức thuận lợi cho tương lai của Việt Nam. Đồng thời khả năng của Việt Nam để tự bảo vệ chống lại cộng sản đã lớn mạnh một cách không thể đo lường được kể từ khi họ tranh đấu hữu hiệu để trở thành một nước Cộng Hòa độc lập.”

Hòa bình là một điều kiện tiên quyết cho xây dựng và phát triển.

Nhân dân Miền Nam đã có được năm năm vàng son để làm ăn, sinh sống trong hoàn cảnh tương đối là thanh bình. Tuy còn nghèo nhưng mỗi ngày lại thêm một bước tiến.

Saigon

FORUM TRUNG TAM ASIA

Bao nhiêu độc giả cao niên còn nhớ lại những kỷ niệm êm đềm về thời gian ấy. Thí dụ bạn có thể đi bất cứ nơi nào một cách tự do từ Cà Mau ra tới tận Đông Hà. Mờ sáng lên xe buýt ra Vũng Tầu tắm biển hay buổi chiều đến ga xe lửa gần chợ Bến Thành mua vé đi Đà Lạt.

Chỉ trong chốc lát, con tầu bắt đầu phun khói, còi tầu rít lên trước khi khởi hành. Khi mặt trời hé rạng thì tầu chạy ngang bờ biển cát trắng Phan Rang, rẽ trái rồi ỳ ạch leo tuyến đường sắt có móc để trèo dốc lên Đà Lạt. Cái thú vui khi rời ga Đà Lạt (đẹp nhất Đông Nam Á) để mau tới “Café Tùng” hay “Phở Bằng” thưởng thức một ly cà phê sữa nóng thì khó có thể diễn tả được.

Với sự thông minh, cần cù của người dân Việt thì chỉ cần có hòa bình là tiến bộ trông thấy. Người dân lam lũ vất vả nhưng luôn vui với cuộc sống. Người nông phu không quản ngại thức khuya, dậy sớm để cầy sâu cuốc bẫm, chờ đợi cho tới ngày lúa vàng.

Tâm tư ấy luôn được phản ảnh trong thơ văn, âm nhạc Miền Nam trong thời gian này. Và khi thanh bình, con người lại đối xử với nhau cho hài hòa thì mọi việc – dù là tát cạn cả Biển Đông – cũng đều có thể ước mơ.

Tuy các kết quả phát triển kinh tế xã hội thời đó thật là nhỏ nhoi theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng là rất đáng kể so với các nước láng giềng lúc ấy như ngay cả Nam Hàn dưới thời Tổng thống Lý Thừa Vãn.

Miền Nam thực sự đã đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho mô hình phát triển sau này của Nam Hàn dưới thời Tổng thống Phác Chính Hy. Xây dựng và phát triển trong hòa bình đã đưa Miền Nam tới chỗ vươn lên – kinh tế học gọi là điểm cất cánh (take-offĐ để trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á.

Buổi bình minh của Nền Cộng Hòa (“The First Day”) thật là huy hoàng rực rỡ. Nhiều quan sát viên ngoại quốc cho rằng đây chính là “một cuộc cách mạng đã bị mất đi” (the lost revolution) của Miền Nam Việt Nam.

Bài viết của Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, trích dẫn từ cuốn sách ‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào’ mới xuất bản tại Hoa Kỳ. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ. Ông là tác giả cuốnKhi Đồng minh Tháo chạy vàlà đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh.

 

TẢN MẠN VỀ NGƯỜI VIỆT: SỰ TỆ HẠI CỦA VĂN HÓA “KHÔN LỎI”

 TẢN MẠN VỀ NGƯỜI VIỆT: SỰ TỆ HẠI  CỦA VĂN HÓA “KHÔN LỎI”

Trích EPHATA 717

Trong cách ứng xử của người Việt, không khó để nhận ra một nét ‘văn hóa’ đặc  thù, đó chính là “khôn lỏi”. Nó phản ánh trong mọi ngóc ngách của đời sống, và đang trở thành mối nguy hại trong thời đại hội nhập văn minh.

Đứng xếp hàng ở quầy thanh toán siêu thị, có hai đứa trẻ đứng gần nhau. Người mẹ đứa trẻ đứng sau bảo nó chen lên tính tiền trước, nó không nghe lời và vẫn xếp hàng theo đúng thứ tự.

Khi ra ngoài, người mẹ ấy mắng con: “Mày ngu lắm, mua ít đồ thì giành tính trước cho nhanh. Chắc sau này ra đời toàn bị chúng nó ngồi trên đầu thôi !” Đứa bé ngây thơ cúi gằm nhận lỗi.

Thái độ bực tức của bậc phụ huynh kia không phải là cá biệt. Xuất phát từ tâm lý lo sợ con mình bị thiệt thòi, con mình bị mất cơ hội tốt, nên một số cha mẹ Việt dạy con thói khôn lỏi, đi tắt, nhằm đạt được lợi ích một cách ngắn nhất, dễ dàng nhất mà không phải tốn nhiều công sức học hỏi, lao động.

Từ những câu tục ngữ xa xưa: “Khôn ăn người, dại người ăn”, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “ông đưa chân giò, bà thò chai rượu”… Đã phản ánh tư tưởng tiểu nông bao gồm những thói quen, tập quán, phong tục, hành vi và thái độ ứng xử của người Việt với phương thức sản xuất nhỏ và những điều kiện sinh hoạt phù hợp với bối cảnh nông nghiệp, nông thôn dẫn đến cách nghĩ của họ cũng hết sức vụn vặt, lẻ tẻ, không có tầm nhìn xa, không có tính chiến lược, thiếu khả năng khái quát tổng hợp.

Thói cục bộ, bản vị địa phương cũng là một đặc điểm tâm lý nổi bật của người Việt xưa: “Một người làm quan cả họ được nhờ”, dẫn đến việc kéo bè kéo cánh, ít giao lưu mở rộng quan hệ nên đã hạn chế rất nhiều đến tầm nhìn cũng như sự phong phú về nhân cách.

Họ chỉ thấy lợi trước mắt, không thấy lợi lâu dài, chỉ thấy lợi ích cá nhân, không thấy lợi ích tập thể. “Bè ai người nấy chống/ Ruộng ai người ấy đắp bờ”. Sống trong một làng quây quần vài chục, nhiều thì trên trăm nóc nhà, nhà ai có việc gì thì chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn, chuyện xảy ra

ở đầu làng, cuối làng đã biết.

Dư luận tạo ra tiếng tăm, tai tiếng, điều tiếng. Điều này làm nảy sinh tâm lý sĩ diện cá nhân, sống phụ thuộc rất nhiều vào điều tiếng bên ngoài. Người ta sống theo dư luận và tự mình điều chỉnh ứng xử theo dư luận đó.

Khi giáo dục con trẻ, họ cũng dựa vào thói quen, dựa vào kinh nghiệm, lo sợ con em mình “khôn nhà dại chợ”. Do đó tâm lý khó tiếp thu cái mới, ngại thay đổi để an phận thủ thừa, quen nín nhịn, nín nhịn cả với điều chướng tai, gai mắt bởi “Một điều nhịn chín điều lành”, vì cái lợi của bản thân mà làm ngơ trước sự bất công xảy ra quanh mình. Tư duy của ông bà cha mẹ Việt vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách của lớp trẻ hôm nay. Và nguy hại là, khôn lỏi, láu cá đôi lúc còn bị đánh đồng với văn hóa ứng xử, được cho là cách thức giao tiếp khôn khéo, nhạy bén, thức thời.

Có lẽ rõ nhất vẫn là ở nơi chốn cơ quan, công sở. Thói luồn lách, nịnh bợ cấp trên, để đón thời cơ, để giành suất “đi tắt đón đầu” mau chóng thăng quan tiến chức. Đội trên tất phải đạp dưới, họ chia bè phái để thu nạp người thân, họ hàng, đệ tử. Mặt khác lại thanh trừng những người có chính kiến đối lập, những người không xu nịnh, trung thực và cầu tiến.

Nhưng khi ra ‘biển lớn, sóng to’, thói khôn lỏi, ranh vặt khó phát huy tác dụng, thậm chí còn khiến người Việt mất điểm trước bạn bè quốc tế.

Còn nhớ những vụ ồn ào về chen lấn, xô đẩy, lấy quá nhiều thức ăn tự chọn trong các chuyến du lịch nước ngoài của một bộ phận du khách Việt Nam cho đến các thương vụ mua bán lớn bị phía nước ngoài phạt vì vi phạm các điều  khoản hợp đồng, và đau xót hơn là bị lừa đảo vì thói “tham bát bỏ mâm” của chính người Việt với nhau.

Một vị tiến sĩ cho rằng: “Thương lái Trung Quốc đặt hàng trồng khoai lang rồi bỏ chạy, sau đó đến thu gom dứa, cau non, sầu riêng non, bông thanh long… và tiếp tục biến mất. Ý đồ của thương lái Trung Quốc như thế nào chưa bàn tới nhưng trước tiên là do người Việt ham lợi”.

Còn theo nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Trọng Hiền: “Khôn lỏi thể hiện tầm phát triển của dân trí xã hội còn chứa đựng nhiều ‘bản năng tự nhiên’. Trong một xã hội văn minh, sự giành giật bản năng hoang dã luôn cần được kiểm soát bởi hệ thống luật pháp và đạo đức. Nếu không, nó sẽ kìm hãm xã hội ở dạng chậm phát triển, thậm chí không chịu phát triển. Cái sự khôn lỏi lan tràn trong xã hội ta, tôi cho đó là điều đáng buồn bởi nó sẽ chi phối cơ bản lòng tốt nói chung của con người.”

Văn hóa ứng xử trong xã hội văn minh hội nhập là cả một quãng đường dài cần phải học hỏi, tiếp thu và không ngại phá bỏ những tư tưởng lạc hậu, hẹp hòi, bảo thủ. “Chân thành là sự khôn ngoan cao cấp” – Lời này có lẽ luôn thích hợp.

Theo DÂN TRÍ

Nền y tế của nước Mỹ theo tôi được biết.

Nền y tế của nước Mỹ theo tôi được biết.

Tác giả: Phùng văn Phụng

Sở dĩ nhiều người muốn định cư ở Mỹ là muốn được phúc lợi xã hội mà nước Mỹ dành cho họ.

+ 1)   Một người được con cháu bảo lảnh qua Mỹ, không có một ngày nào làm việc đóng thuế ở nước Mỹ, nhưng khi đến tuổi về hưu, 65 tuổi, nếu có quốc tịch Mỹ, họ vẫn được hưởng phúc lợi đầy đủ. Họ được hưởng trợ cấp xã hội, một tháng hai vợ chồng nhận được khoảng 1100 đô la và tiền thức ăn (food) khoảng 150 đô la. Nếu bị bịnh, họ có “Medicaid”, nằm nhà thương không mất tiền.

Tôi có đứa cháu bị cancer (bướu) ở ruột già,  chưa có thẻ xanh là thẻ thường trú nhân, vì trục trặc về di trú, nhưng có làm việc ở Mỹ, có đóng thuế hàng năm nên được điều trị ở bịnh viện công (Ben Taub), chỉ đóng số tiền rất nhỏ tượng trưng.

Nếu trị bịnh ung thư ở nước Mỹ, mất vài tháng, chi phí điều trị lên đến vài trăm ngàn đô la là sự thường vì phải trả tiền khám bịnh của bác sĩ, tiền thuốc (thường rất mắc), tiền phòng khi nằm trong bịnh viện.

Lần trước phải mổ bướu ở ruột, thời gian mổ khoảng 3 giờ, anh ta chỉ phải trả $50 đô la. Khi bịnh ung thư ruột già lây lan sang gan, lần thứ hai này phải mổ gan nên mất nhiều thời gian hơn, khoảng 5 giờ, nhưng cũng chỉ phải trả tượng trưng là $150 đô la. Hiện nay đang điều trị, vừa xạ trị, vừa hoá trị không mất tiền vì không có “income”, không có tài sản.

+ 2)  Khi thất nghiệp hay không có đủ tiền mua bảo hiểm và không có tài sản, nếu ở quận Harris, thành phố Houston, Texas có thể xin thẻ vàng, khám bịnh, lấy thuốc không mất tiền, chỉ có chịu khó chờ đợi hơi lâu để khám bịnh và lấy thuốc mà thôi. Nếu bị bịnh nhiều thì xin vào nằm điều trị tại bịnh viện “Ben Taub” cũng không mất tiền (giống như nhà thương Chợ Rẫy, Bình Dân, Hồng Bàng ở Sài gòn trước năm 1975, là nhà thương thí khám bịnh, nằm điều trị không tốn tiền).

Ngoài ra nếu người nào có lương thấp (low income) có thể nộp đơn xin bảo hiểm sức khỏe gọi là  “Obama care” chánh phủ trợ giúp thêm để có bảo hiểm sức khỏe.

+ 3)  Sau năm 1975, từ khi ‘nhà thương’ đổi thành bịnh viện, dân chúng dầu giàu nghèo đều cũng phải trả tiền mới được điều trị. Cho nên hiện nay ở Việt nam nếu bị bịnh nặng như đau tim cần mổ, bịnh ung thư, v.v… không có tiền chỉ có chết mà thôi.

+ 4)  Khi về hưu :

Khi đến tuổi 65 nếu có đi làm đủ 10 năm hay 40 “quarter” thì được cấp medicare.

Nếu bị bịnh khi đi bác sĩ hay nằm nhà thương thì Medicare chỉ trả 80% chi phí, còn cá nhân người bịnh trả 20% chi phí. Do đó nhiều người mua thêm “Supplement Medicare” để khi nằm nhà thương hay đi bác sĩ thì “supplement medicare” trả hết những chi phí nào mà medicare không trả.Ngoài ra không chỉ được nằm trong bịnh viện có 150 ngày, bịnh nhân còn được chi trả cho thêm một năm (365 ngày) nữa nếu phải nằm trong bịnh viện.

Nếu một cá nhân không khả năng mua “Supplement Medicare” thì vào một chương trình Advange Medicare thì phải trả một phần “deduct” tiền mình phải đóng góp lúc đi khám bịnh hay nằm trong nhà thương. Số tiền đóng góp của mình tùy theo qui định trong giao kèo (policy) của mỗi hảng.

Người bịnh dầu giàu hay nghèo khi vào bất cứ nhà thương nào cũng được chăm sóc như nhau. Lương bổng của y tá, bác sĩ đã khá cao rồi nên họ không làm khó dễ bịnh nhân để đòi tiền “hối lộ”. Khi trở về nhà, bịnh nhân được bác sĩ hay y tá gọi hỏi thăm sức khỏe và được thăm dò để biết nhân viên bịnh viện có làm việc đàng hoàng không, có cần sửa chữa điều gì không?

Có một lần tôi đi khám, mổ mắt cườm. Buổi sáng vào phòng thay quần áo, mặc áo nhà thương, đẩy xe vào khu săn sóc, chuyền nước biển, cân, đo huyết áp, hỏi han thật kỹ các bịnh đang có, đang uống thuốc gì, hai ba bác sĩ đến thăm, trước khi gây mê và mổ mắt.

Sau đó họ đẩy xe vào phòng mổ mắt, hai y tá đến thăm, sau đó bác sĩ mổ mắt đến  và họ đã gây mê lúc nào không hay. Khi tỉnh dậy, sau chừng một giờ đã thấy đưa ra bên ngoài, phòng chờ đợi, có y tá đưa mình đến tận xe nhà, đậu bên ngoài, dẫn mình lên xe , rồi họ mới vào bên trong, không phải hối lộ cho ai một đồng nào. Họ rất tử tế, vui vẻ dầu mình là người Á châu không phải là người Mỹ.

Vì có bảo hiểm “medicare supplement” nên không phải trả đồng nào.

Xem thêm  :   Những điều nên biết về hành nghề Y ở Mỹ

Mùa tạ ơn cuối tháng 10 năm 2016

Phùng văn Phụng

“Sấm Trạng Trình” nói gì về sự sụp đổ của nhà Sản?

“Sấm Trạng Trình” nói gì về sự sụp đổ của nhà Sản?

Nguyễn Tiến Dân

6-10-2016

1- Phụ nữ, mỗi tháng, họ hành kinh 1 lần. Cộng sản, cứ 5 năm, Đại hội Đảng 1 đận. Đận sau, bao giờ cũng hoành tráng hơn, so với đận trước. Kể cả, cái bánh vẽ. Chỉ có mỗi 1 thứ, không bao giờ thay đổi. Đó là, “Báo cáo Chính trị của Đại hội”. Báo cáo nào, rồi cũng vẫn “kiên định chủ nghĩa Mác – Lê”. Kèm theo tí dưa góp, “Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Xem lắm, thấy nhàm. Nhàm đến mức, Báo cáo Chính trị của Đại hội này, chỉ cần sửa vài từ, là có thể, dùng cho Đại hội sau. Đến kì hành kinh, à quên, đến kì Đại hội Đảng các cấp, chỉ có mỗi một vấn đề khiến người ta tò mò: Dân Việt, sẽ bị kẻ nào cai trị trong 5 năm tới. Và, sau bao lâu nữa, chúng sẽ giúp Việt nam, soán được cái ngôi đội sổ của thiên hạ.

Đại hội lần thứ 12 vừa rồi, chẳng phải là ngoại lệ. Phần lớn thời gian của nó, được dùng cho việc đấu đá và tranh giành ngôi vị. Đó là kì Đại hội, chỉ của riêng 2 ông: Phú Trọng và Tấn Dũng. Trước khi bước vào Đại hội, nhiều người bán nhà, để đặt cửa Tấn Dũng. Chẳng phải, họ yêu quí ông ta. Chỉ vì, thế và lực của ông ta, quá mạnh. Chỉ những kẻ xổng chuồng ở trại “Tâm thần Trâu quỳ” ra, mới cổ vũ cho Phú Trọng. Một cái anh chàng, văn dốt – võ nhát. Cả đời, chỉ biết đánh võ mồm. Nói gì, cũng sai – làm gì, cũng hỏng. Sức thì yếu – tuổi lại phá khung.

Kết cục, đảo lộn hoàn toàn. Phi lí, đến mức cùng cực. Sau Đại hội, ối kẻ bị vỡ tim mà chết.

Giải thích cho cái sự thành công của Phú Trọng, thiên hạ, đưa ra 3 giả thuyết: Một là, mả bố nhà Phú Trọng, táng được vào Hàm Rồng – Hai là, Phú Trọng giả “lú”. Nhưng thật ra, ông ta thông minh tuyệt đỉnh – Ba là, Trung cộng chống lưng và thổi đít ông lên.

Ai cũng cố sống – cố chết, bảo vệ cho bằng được, cái quan điểm riêng của mình. Thế nên, những cuộc tranh luận về đề tài đó, không bao giờ chấm dứt và bất phân thắng bại.

Cho đến 1 ngày đẹp trời, hiền triết Nguyễn Khắc Mai, đưa ra 1 đôi câu đối (đồn rằng, đó là sấm của Trạng Trình). Bấy giờ, thiên hạ mới ngã ngửa người: Tất cả, là mệnh Trời và sự sụp đổ của nhà Sản, không những chỉ là tất yếu, mà nó còn xảy ra trong 1 tương lai hết sức gần. Nguyên văn, đôi câu đối:

秉 燭 無 明 光 自 滅

重 銀 薄 福 產 必 亡

Bỉnh chúc vô minh quang tự diệt.

Trọng ngân bạc phúc sản tất vong.

Dịch đôi câu đối này, theo cái nghĩa thông thường, nhiều người đã làm. Mình không dám, “vẽ rắn – thêm chân”. Chỉ xin, được nói đôi ba điều, về cái ẩn ý đằng sau của nó:

– Vế thứ nhất: Ai cũng biết, khi dầu hết – bấc sẽ tàn. Ngọn đèn nào, cũng tắt. Bóng đêm, sẽ ập tới.

CNCS, cũng vậy. Giờ đây, nó đã phá sản hoàn toàn, về mặt Lý luận. “Kinh tế thị trường”, thì được pha với “định hướng XHCN”. Để, làm thành 1 nồi lẩu thập cẩm. Mà mùi vị của nó, khắm vô cùng. Đổ đi, thì tiếc. Còn ăn vào, bụng sẽ trương phềnh lên. Chế độ “người bóc lột người” của cái bon Thực dân – Phong kiến thối nát, đã bị đập tan. Thế vào đó, cũng vẫn chỉ là chế độ “người bóc lột người”. Có điều, tỉ lần, độc ác và man rợ hơn. Một ông Vua, bị đánh đổ. Thế vào đó, là cả 1 lũ ngợm người. Chúng làm “Vua tập thể”… Nói tất cả những thứ đó, chỉ để minh chứng 1 điều: Nguồn nhiên liệu, để giúp thắp sáng lên cái lí tưởng CS, đã không còn.

Lãnh đạo CS, toàn những kẻ không có Tâm – chẳng đủ Tầm. Bởi thế, chẳng thể đưa được cái mớ Lí thuyết ma mọi CS vào thực tiễn: Bấc, đã bị thối.

Bấc thối, không thể dẫn dầu. Đã thế, dầu cặn lại còn bị pha trôn với rất nhiều nước lã. Ngọn đèn CS, vẫn còn cháy, đã là 1 kì công của Tạo hóa. Nhưng cái sự leo lét của nó, chắc cũng chẳng còn kéo dài được bao lâu. Bởi, ở phía chân trời, cơn báo táp Dân chủ đã xuất hiện và đang sầm sập kéo về. Sinh khí tràn trề, sẽ quét sạch bầu không khí ô nhiễm và hắc ám. Ngày tàn của Đảng CS, đã đến.

– Vế thứ 2: Những người Cộng sản, sinh ra trong nghèo khó và thất học. Do đó, không hiểu Đạo lý. Chúng luôn tối mắt – tối mũi trước đồng tiền. Chỉ cần có tiền, dẫu có phải hủy diệt môi trường – dẫu có phải hủy hoại giống nòi – dẫu có phải thiêu rụi cả non sông gấm vóc Việt nam, chúng cũng chẳng từ. Ngày đêm, chúng chỉ ngồi nghĩ ra những mưu ma – chước quỷ. Cốt sao, cướp sạch được mọi thứ của thiên hạ. Từ Chính quyền – của nổi – của chìm – thuế má, cho tới quyền của con người. Tàn ác và man dại, còn hơn cả bầy cầm thú.

Của phi nghĩa, chẳng bền – Bọn bạc phúc, sao có thể ổn cố được. Bởi thế, tương lai của nhà Sản, đã được Trạng Trình đóng đinh trong có mỗi 1 chữ. Đó là, “vong”.

2- Có lần, một độc giả hỏi mình: “Bác nói, chế độ CS, nhất định sẽ sụp đổ. Nhưng liệu bác có nói được, khi nào thì nó sụp đổ hay không?”. Mình thưa với bác ấy: “Chế độ CS, chúng hoàn toàn đi ngược với tất cả những qui luật của Tự nhiên và Xã hội. Bởi vậy, sự sụp đổ của nó, là 1 điều chắc chắn. Tôi không phải là nhà Tiên tri. Bởi thế, không thể biết được chính xác, bao giờ thì nó sẽ sụp đổ. Nhưng có một vĩ nhân, sống cách đây trên 5 trăm năm, đã đưa ra dự đoán về sự kiện này. Mời bác, tìm đọc đôi câu đối của Trạng Trình. Nó đang được lan truyền rất nhanh, trong các tầng lớp Nhân dân. Khảo cổ – nghiệm kim, người ta đều thấy: Trạng Trình, liệu việc như Thần. Nếu lần này cũng ứng nghiệm, thì nhà Sản, không sống sót được qua khóa 12”. Bác ấy hỏi: “Tại sao?”. Xin thưa:

Câu sấm này của Trạng Trình, chứa ẩn 1 điều hết sức kì diệu: Có đủ mặt, cả tứ trụ Triều đình nhà Sản: Quang – Trọng – Ngân – Phúc. Ở đó, không có 1 chữ nào, có tên là Dũng cả. Từ cái chi tiết này, có thể khẳng định: Kì vừa rồi, Dũng trượt. Chẳng phải, vì ông ta kém cạnh Phú Trọng. Dũng trượt, là do mệnh Trời.

Còn cái câu “sản tất vong”, có thể hiểu là: Khi lãnh đạo chủ chốt của nhà Sản, hội tụ đủ cả 4 nhân vật có tên trong đôi vế đó, thời khắc cáo chung của nó, đã đến. Sợ thiên hạ chưa tin, Trạng Trình, còn nhấn kép vào cái sự kiện này. Bằng cách, hai chữ cuối của 2 vế: bên này, ông để chữ “diệt” – bên kia, ông để chữ “vong”. Ngụ ý, chạy đằng nào, chúng mày cũng phải chết.

Bác ấy, chẳng chịu: “Đó chỉ là sự suy diễn, sao có thể đáng tin. Thực tế, Đảng CS, đang ở trong thời kì mạnh nhất. Nó không thể đổ sập, trong một vài năm tới được”. Mình thưa lại:

– Tất cả mọi triệu chứng, đều cho thấy: Ngày mà Đảng CS Việt nam, sẽ nằm đúng vị trí của nó, ở trong cái đống rác của Lịch sử, đã kề cận lắm rồi. Thiên ương và Nhân tai, đang diễn ra hết sức dồn dập và hết sức nghiêm trọng. Kinh tế, suy thoái – Dân chúng, bất an – Cán bộ, biến chất. Giữa thanh thiên – bạch nhật, chúng thản nhiên vác dao – vác súng, xông vào tận trụ sở làm việc, để thanh toán lẫn nhau. Cái độc ác và cái giả dối, đang trắng trợn lên ngôi. Trong khi, Đảng CS cầm quyền, vô kế khả thi, để dẫn dắt Đất nước, thoát ra ngoài những cuộc khủng hoảng đó. Không những thế, họ còn cố tình làm cho nó trầm trọng thêm. Cùng 1 lúc, họ gây thù – chuốc oán với dân chúng, thông qua việc bóp nghẹt Tự do – Dân chủ và mưu sinh của họ. Đồng thời, gây thù – chuốc oán với chính những cộng sự của mình, thông qua chiêu bài “chống tham nhũng”. Mà thực tế, chỉ là tranh quyền – đoạt vị và thâu tóm tiền bạc của nhau. Cả Xã hội, đã đến lúc loạn hết cả lên. Mọi thứ, đã nằm ngoài tầm kiểm soát của Đảng.

Đảng CS Việt nam, đã vỡ trận.

Thiên – Địa – Nhân, đã cùng đặt thời gian. Để, đếm ngược.

3- Đến đây, lại xuất hiện 1 câu hỏi nan giải. Nếu, Trạng Trình đã biết trước, sẽ có 1 thế lực đủ mạnh, để lật nhào được chế độ CS. Thì, ông dự đoán: ai sẽ là “người cầm cái”, trong cái gọi là cuộc Cách mạng ấy?

– Chế độ CS, đã dùng bạo lực, để cướp Chính quyền. Đó là 1 sự thực, không thể chối cãi. “Sinh nghề – tử nghiệp”. Chúng sẽ chết, trong bạo lực. Điều đó, vô nghi. Bạo lực này, có thể, xuất phát từ quần chúng. Cũng có thể, được sinh ra, ngay trong nội bộ của chúng. Hoặc, đồng thời cả hai nhân tố đó. Không có chuyện, chúng chết, do quân đội nước ngoài đổ bộ vào và tiêu diệt chúng. Như, sự việc đã từng xảy ra, ở Campuchia hoặc Iraq.

Suốt bảy chục năm có dư, phải sống dưới ách cai trị tàn bạo của CS. Người dân Việt nam, đã quá hiểu bộ mặt thật của chúng. Chúng đàn áp người dân, khiến họ không thể mở miệng – không thể ngóc đầu. Chúng bóc lột họ, đến tận xương – tận tủy. Ai cũng căm ghét chúng và ai cũng muốn tiễn chúng, về với cái Tổ tiên Mác – Lê nhà chúng nó. Tuy vậy, họ vẫn chưa tập hợp được, trong một cái Mặt trận rộng rãi, có tổ chức chặt chẽ và có sự chỉ huy thống nhất. Do đó, dẫu có đông, cũng không mạnh. Họ, lại chưa được luyện tập, một cách thường xuyên. Quan trọng nhất, họ vẫn sợ CS. Họ biết, chúng rất tàn bạo. Nói theo cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng sẵn sàng, “tắm tất cả những cuộc xuống đường của Nhân dân ta, trong bể máu”. Do đó, sẽ là ảo tưởng, nếu nghĩ rằng: những cuộc xuống đường một cách ôn hòa và lẻ tẻ như hiện nay, có thể lật đổ được chế độ CS.

Nguyễn Phú Trọng, quá hiểu điều đó. Ông biết, cái Đảng đểu của ông, rồi sẽ bị đổ. Bởi chính những thế lực, nằm ngay trong nội bộ của nó. Chính vì vậy, ông phải nhanh chóng thâu tóm quyền lực. Để tự mình, giữ được cái thể chế thối nát này, ít nhất, cho đến hết cái thế kỉ thứ 21. Hệ quả, tất cả những thế lực trong Đảng, dám cả gan ngáng chân ông, đều phải bị tiêu diệt. Nhưng, đó chỉ là sự giãy giụa trong cơn tuyệt vọng của 1 kẻ cuồng tín và giáo điều.

Xưa – nay, có ai “bẻ nạng – chống Trời” mà đã thành công?

a- Binh pháp Tôn tử, có câu: 主孰有道. Chủ thục hữu Đạo. Nghĩa là, bên nào có chính nghĩa, bên đó có nhiều cơ hội để giành phần thắng.

Trong cuộc đấu đá nội bộ lần này, tất cả các phe phái, đều không vì quyền lợi của Nhân dân và của Đất nước. Do đó, chúng không được sự ủng hộ của Nhân dân. Tuy nhiên, cái phe bảo thủ của Phú Trọng, luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê, cộng với xu thế ngả Tàu, sẽ làm mất lòng dân nhiều hơn. Chỉ cần, phe kia tung ra được bằng chứng khả tín. Phe bảo thủ, khó lòng mà chống đỡ. Chuyện đó, nào có khó gì. Bằng chứng, đầy. Mật ước Thành đô, chẳng hạn.

Đó là lí do thứ nhất, khiến phe Trọng tất bại.

b- Muốn “đội đá – vá trời”, trước hết. phải kiểm đếm lực lượng. Chí ít, trong tay phải có đủ cả 2 thứ, đó là quân và tiền. Đây toàn là những thứ, mà Trọng không có.

Thân, là Bí thư Quân ủy Trung ương, cộng thêm, tay đàn em thân tín nắm Bộ Quốc phòng. Điều đó, hoàn toàn không đồng nghĩa với việc, đã nắm chắc Quân cán. Ai “lương tướng” – ai “bẩn tướng”, Trọng sao biết được. Mảng kinh tế, xưa nay, cũng lại do Dũng nắm. Những tử huyệt của nó, nằm ở đâu, Dũng biết. Muốn phá Trong, dễ ợt. “Trong tay sẵn có đồng tiền/ Nói quấy nói quá, chúng nghe rầm rầm”.

Trong cái cuộc chiến sinh – tử này, Trọng chỉ nắm chắc trong tay, có đúng 1 thứ. Đó là, bọn Tuyên giáo. Bọn này, mồm cá ngão. Cả đời, chỉ biết ăn tục và nói phét. “Tiếng hát” của chúng, dẫu có hay, cũng chẳng thể “làm cho giặc điếc tai”. Có thực, mới vực được Đạo.

Đó là lí do thứ hai, khiến phe Trọng nhất định bại.

c- Sách Lục thao, thiên Quân thế chép rằng: 无恐惧,无犹豫。用兵之害,犹豫最大. Vô khủng cụ, vô do dự. Dụng binh chi hại, do dự tối đại. Tạm dịch: Không được sợ sệt, không được do dự. Trong tất cả những tai hại của việc dụng binh, do dự đứng đầu.

Khốn nỗi, đây lại là sở trường của Trọng. Muốn diệt chuột, nhưng ông ta lại sợ vỡ bình. Chống tham nhũng, lúc thế yếu, chỉ muốn dùng vũ khí phê bình và tự phê bình. Khi đã “lên hương”, lại ti toe, muốn dùng đại bác và hỏa tiễn xuyên lục địa. Kế hay – mẹo hiểm, dẫu có bày ra với những thằng cha ba phải và nhút nhát, phỏng có ích gì. Viên Thiệu, há chẳng phải tấm gương tày liếp đó sao? Tầm như Trọng, diệt ruồi cũng khó. Sao dám uống thuốc liều, để cưỡi lên lưng cọp.

Đó là lí do thứ 3 khiến phe Trọng tất bại.

d- “Yếu, đừng đứng ra trước gió”. Vừa mới ốm dây, đang còn phải ăn trả bữa. Thế mà, Trọng dám cả gan vác đinh ba, bổ cùng 1 lúc vào cả ba bốn con cọp. Ông muốn: loại Quang – sờ đít Thăng – xách tai Hoàng và mục tiêu cuối cùng, tóm gáy cừu thù Tấn Dũng.

Trong câu Sấm của Trạng Trình, xin độc giả, hãy để ý kĩ đến 1 điểm khác thường: Tứ trụ, được chia ra làm 2 mảng và cho vào cả 2 vế. Có điều, 2 mảng ấy, không quân bình. Quang được tách ra, để đứng riêng ở 1 vế. Ba tay còn lại, chung nhau 1 cái chuồng. Trong cái chuồng ấy, Trọng và Ngân dính với nhau, làm thành 1 cặp đôi hoàn chỉnh. Bỏ chữ Trọng, chữ Ngân ở đây, chẳng có ý nghĩa gì và ngược lại. Riêng Phúc, hình như, chưa được sự tín nhiệm tuyết đối. Do đó, tuy là đồng bọn và được đồng sàng. Nhưng quan hệ với đôi kia, vẫn bị lép vế và chỉ được đứng ở hạng chầu rìa.

Một khi, đã là câu đối, 2 cái vế của nó, phải đối nhau chan chat. Từ cái logic hình thức đó, mà suy ra rằng: Quang, hoàn toàn đối nghịch với 3 tay kia. Thực tế diễn ra, cũng gần đúng như vậy. Chỉ cần, xét trên vài luận điểm:

– Trong phiên tòa xét xử Dương Chí Dũng, ông ta khai ra những chi tiết, có liên quan tới Trần Đại Quang. Những chi tiết này, hoàn toàn bất lợi cho ngài Chủ tịch. Bởi thế, ngay lập tức, Chí Dũng đã bị quan tòa bịt miệng. Tuy vậy, không hiểu sao, cái Video clip ấy, lại bị rò rỉ ra bên ngoài. Phiên tòa ấy, chỉ có 2 loại người được vào: Công an và Tuyên giáo. Lộ ra ngoài, chẳng có loại thứ 3. Công an, dẫu cho ăn gan hùm, cũng không dám tố Thủ trưởng của mình. Do đó, có thể kết luận, 1 cách hết sức chắc chắn: Chính bọn Tuyên giáo lẻo mép, đã cố tình tiết lộ chi tiết này. Tuyên giáo, là con đẻ của đứa nào và tại sao, chúng lại làm như thế? Câu trả lời, xin nhường cho độc giả.

– Cái màn kia, tuy đê hèn và hiểm độc. Nhưng chưa đủ sức, đánh gục được Đại Quang. Lý do, tướng Phạm Quý Ngọ, nhân chứng duy nhất trong vụ này, “đang sống, bỗng đột ngột, chuyển sang từ trần”. Người chết, hết chuyện. Nghi án, đã được đóng lại vĩnh viễn. Cay cú, Trọng bày keo khác. Ông cho ban hành riêng, cái Thông báo số 13- TB/TW. Thông báo này, xác quyết: “Tuổi của đảng viên, xác định theo tuổi khai trong hồ sơ lý lịch gốc”. Đến nước này, Đại Quang hết đỡ. Quá lứa – nhỡ thì. Chỉ một hai năm nữa, Quang sẽ phải “ô tô ma tích”, cắp đít về hưu. Cùng với vết nhơ, khai man Lí lịch. Trong khi, Trọng lại có “miễn chiến bài”, về cái chuyện tuổi tác. Chưa kể đến chuyện, Trọng còn lần mò, để chen chân ngồi vào Đảng ủy Công an Trung ương. Chút quyền lực cuối cùng của Quang, cũng chẳng còn. Ông ta, trở thành dạng “hữu danh – vô thực”. Phú Trọng, quá giỏi. Ép Quang, hơn ép giò. Quang đã về rồi, khác gì, con rắn mới lột. Đánh kiểu gì, chẳng chết. Hai tay còn lại, không ai đủ trình và chẳng ai dám mơ, tới cái chân Tổng Bí thư. Trọng, “đành” phải lỗi hẹn, để ôm trọng trách hết khóa. Đó là lí do cơ bản nhất, khiến Trọng phải loại cho bằng được Đại Quang. Để, giữ vững ngôi vị, “tay tham nhũng quyền lực số một của Việt nam”.

– Tất nhiên, Đại Quang có thể khoanh tay, ngồi chờ người ta nện mình hay không, lại là chuyện khác. Xét về trình độ và bản lĩnh, ông ta, đều vượt trội, so với cái tay gà mờ Phú Trọng. Con người kín đáo và chuyên làm nghề An ninh như ông ta, một khi đã hành động, ít khi, để lại dấu vết. Trịnh Xuân Thanh, chỉ là khúc nhạc dạo đầu. Kịch hay, đang còn ở phía trước.

Nguyễn Tấn Dũng, cũng là tay sừng sỏ có tiếng. Ông ta, đã từng, làm cho Trọng phải nức nở trước bàn dân thiên hạ. Bây giờ, mất sạch quyền hành. “Hổ xuống đồng bằng, bị chó khinh”. Đòn thù, nếu có giáng xuống ông ta, cũng là điều dễ hiểu. Nhưng còn Đinh La Thăng, ông ta có tội tình gì, khiến cho Phú Trọng phải lao tâm – khổ tứ? Câu trả lời, hết sức đơn giản: Đây là tay tham nhũng và làm thất thoát rất nhiều tiền bạc của Nhân dân và Đất nước. Quan trọng hơn, y rất giàu. “Đánh con – kể tội”. Dân, thì được hả lòng. Còn phe bảo thủ, thu tiền về cả mớ. “Nhất tiễn – song điểu”. Ngu gì, mà không làm.

Xưa, Võ Tòng ở bên Tàu, là 1 dũng sĩ. Cùng bất đắc dĩ, mới phải đánh nhau tay không, với chỉ 1 con hổ. Nay, thư sinh Phú Trọng, dám tay không, xông vào giữa đàn hổ. Ngưỡng mộ, vô cùng.

Đó là lí do thứ 4, khiến phe Trọng tất bại.

Chừng ấy thứ, cũng thừa đủ, để Phú Trọng thân bại – danh liệt. Kể thêm nữa, làm gì. Chỉ biết rằng, cuộc giải phẫu mới bắt đầu. Nhưng mọi thứ, đã rối tinh – rối mù. Còn nội bộ, đã hoảng loạn hết cả lên. Bởi, đố tìm thấy ông cán bộ CS nào, liêm khiết. Các phe phái, đã buộc phải phân hóa – đã buộc phải co cụm – đã buộc phải sắm sửa khí giới và tất cả nín thở, đợi Trọng, sờ đến phao câu của mình.

“Long tranh – hổ đấu” lần này, sẽ phơi bày tất cả những cái thối tha của cái Đảng CS đểu. Kết thúc cuộc chiến, ngôi nhà CS, sẽ bị phá tan hoang. Kẻ thắng cuộc, không thể dựng lại thể chế CS được nữa. “Đắm đò – giặt mẹt”. Họ sẽ phải lưu tên mình trong Lịch sử, bằng cách khác. Tỷ như, cách mà Yeltsin đã làm ở nước Nga, hoặc cách mà Thein Sein vĩ đại đã làm ở Miến điện. Bởi, chỉ có dùng cách đó, sự mất mát của họ, mới không nhiều. Nếu không muốn nói, là ngược lại. Người đó, không thể là Phú Trọng, Vậy, Trạng Trình nhắm ai?

4- Đọc đến câu “Quang tự diệt”, chắc chẳng có ai hiểu 1 cách thô thiển rằng: Nếu bị Trọng ép, Quang sẽ “học tập và làm theo tấm gương” của xạ thủ Đỗ Cường Minh. Không, ngàn vạn lần, không có chuyện đó.

Con tắc kè hoa, khi gặp nạn. Giữa cái sống và cái chết đang cận kề, nó chọn cách làm rụng đuôi của mình và tháo chạy. Những đối thủ của Trọng, cũng thế. Khi bị dồn vào tử địa, họ chỉ có 2 cách lựa chọn: Một là, bị Trọng khai trừ ra khỏi Đảng và bị điệu ra Tòa án của Trọng. Hai là, tự đoạn tuyệt với cái Lý tưởng CS đểu của mình và quay về với Nhân dân. Khôn ngoan, không ai chọn phương án một.

Do đó, lời Sấm của Trạng Trình, phải hiểu là: Nếu bị ép vào tử địa, Đại Quang, sẽ chọn phương án 2. Sau đó, tập hợp lực lượng, để dọn dẹp sạch sẽ cái bãi rác, có tên là CS. Mở đường và đảm bảo cho cái lộ trình Dân chủ hóa ở Việt nam, được diễn ra trong Hòa bình. Máu của con dân Đất Việt, sẽ bị đổ ra 1 cách ít nhất. Còn ông, sẽ ghi tên mình vào Lịch sử, như một “Thein Sein của Việt nam”.

5- Đến đây, bác độc giả cười rũ rượi: “Đó là câu chuyện hoang đường và nhảm nhí nhất, mà trong đời, tôi đã nghe được”. Mình thản nhiên:

– Lịch sử, đã ghi nhận những chuyện hoang đường và nhảm nhí, còn hơn thế nhiều. Chỉ xin, nêu vài dẫn chứng:

Cho đến cuối những năm 80 của thế kỉ trước, ai nói rằng: “Liên xô, thành trì của phe XHCN, sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 1991”, người đó, chắc chắn, bị coi là kẻ hoang tưởng. Trước Đại hội lần thứ 12 của Đảng CS, ai nói rẳng: “Nguyễn Phú Trọng trúng Tổng Bí thư”, người đó, chắc chắn, bị coi là kẻ thần kinh. Euro 2004, ai nói rằng: “Hy lạp, sẽ là đội vô địch”, kẻ đó, chắc chắn, sẽ bị coi là người ngoài hành tinh.

Bác ấy đờ đẫn, như vừa bị trúng phong. Lát sau, lắp bắp hỏi: “Này, cái lão Dân già. Thiên cơ, bất khả lậu. Sao, lão cứ phèng phèng nói ra, như thế? Đã dám nói thế, sao không nói nốt: Bao giờ, thì thiên hạ thái bình?”. Mình cười: “Tôi chỉ là người hát rong. Bác và bà con, chấp làm gì. Trong bài Thử luận Sấm Trạng Trình (Trang Bùi Văn Bồng Ngày 25 – 9 – 2016), tác giả Minh Lê, đưa ra dự đoán: Thân – Dậu niên lai, kiến thái bình. Nghĩa là, nhà Sản sẽ ngắc ngoải vào năm Bính Thân (2016) và không sống được quá năm Đinh Dậu (2017) đâu. Tôi và bác, hãy ráng chờ”.

Nguyễn Tiến Dân

Tạm trú tại: 544 đường Láng – quận Đống đa – Hà nội.

Tel: 0168 – 50 – 56 – 430

Phát triển kinh tế bằng mọi giá: Ai được? Ai mất?

Phát triển kinh tế bằng mọi giá: Ai được? Ai mất?

Cát Linh, RFA
2016-10-28
Hình ảnh nhà máy luyện gang thép Formosa Vũng Áng, Hà Tĩnh ở thị xã Kỳ Anh. Photo AFP

Hình ảnh nhà máy luyện gang thép Formosa Vũng Áng, Hà Tĩnh ở thị xã Kỳ Anh. Photo AFP

Photo AFP

Vấn nạn ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn, nhóm lợi ích …Tất cả phơi bày sau một quá trình tăng trưởng kinh tế bị cho là bằng mọi giá. Ai là người phải gánh chịu tác hại của những tình trạng đó? Và ai hưởng lợi?

Từ tháng 4 năm nay, sau sự cố thảm hoạ môi trường biển do công ty gang thép Formosa Vũng Áng gây ra, các nhà quan sát và các chuyên gia trong và ngoai nước lại gióng lên quan ngại về chính sách phát triển kinh tế thiếu bền vững, bất chấp mọi trả giá kể cả môi trường của chính phủ Việt Nam.

Không đáp ứng về môi trường 

Dự án xây dựng nhà máy luyện thép ở Vũng Áng, Hà Tĩnh từng được cảnh báo có thể gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thế nhưng,  cảnh báo đó đã không thuyết phục được giới thẩm quyền trong bộ máy nhà nước. Việc cấp giấy phép 70 năm cho Formosa vẫn được thực hiện.

Nói về điều này, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, từ Hà Nội nhận định rằng:

“Ông Cự thật sự đã phạm pháp về chuyện cấp giấy phép 70 năm cho Formosa. Vì theo đúng luật thì ông ấy chỉ được quyền, và bất kể ai cũng chỉ được cực đại là 50 năm. Và chính phủ thì mới có quyền cấp trên 50 năm. Ông Võ Kim Cự đã cấp 70 năm rồi.”

Sau khi xảy ra thảm họa môi trường hồi tháng tư, đến cuối tháng sáu, chính phủ phải thừa nhận hóa chất mà nhà máy Formosa Hà Tĩnh thải ra biển giết chết hải sản, san hô tác động đến cuộc sống của hơn 200 ngàn người dân.

TS Nguyễn Quang A trong lần trả lời Đài Á Châu Tự do đã kêu gọi:

“Tai họa môi trường này phải là một bài học cảnh tỉnh đối với các nhà chức trách Việt Nam, phải cân nhắc rất là kỹ. Các chuyên gia thực sự đã cảnh báo về vấn đề phát triển bền vững, về vấn đề hủy hoại môi trường, về những dự án nhất là dự án công nghiệp nặng. Từ lâu lắm rồi từ vụ bauxite Tây nguyên…hoặc ở IDS chúng tôi 8-9 năm trước thì anh Trần Vĩnh Nguyên đã đặt ra khái niệm GDP bẩn, việc chỉ chú trọng tăng trưởng mà không chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường thì có thể được một cái trước mắt, nhưng mà hại một cái vô cùng lâu dài và sẽ rất tốn kém để sửa lại những lỗi lầm đó…rất đáng tiếc những hậu quả ấy nay đã hiển hiện lên rồi.”

Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, trong lần trả lời phỏng vấn qua điện thoại với chúng tôi nói rằng:

“Có lẽ việc này thì theo tôi nghĩ rằng cần phải xem xét lại toàn bộ cái sai trái mà ta vẫn hay gọi là qui trình trong việc cấp phép cho một dự án lớn.”

Tai họa môi trường này phải là một bài học cảnh tỉnh đối với các nhà chức trách Việt Nam, phải cân nhắc rất là kỹ. Các chuyên gia thực sự đã cảnh báo về vấn đề phát triển bền vững, về vấn đề hủy hoại môi trường, về những dự án nhất là dự án công nghiệp nặng – TS Nguyễn Quang A

Tiếp tục những dự án tương tự

Ngay sau đó. trong buổi phát biểu trước cử tri Thành phố Hải Phòng vào tháng tư năm 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói rằng sẽ không phát triển kinh tế bằng mọi giá.

Thêm vào đó báo chí trong nước dẫn lời Thủ tướng rằng “Không thể để tình trạng như Formosa vừa rồi tái diễn trên đất nước ta. Tất cả các dự án đều phải được kiểm soát, kiểm tra, không thể để tái diễn tình trạng ô nhiễm môi trường như vậy được. Chúng ta không phát triển kinh tế bằng mọi giá”

Thế nhưng ngay sau đó, thông tin về dự án nhà máy thép tại Cà Ná do Tôn Hoa Sen thực hiện thêm một lần nữa khiến người dân sợ hãi sau những gì Formosa gây ra và để lại vẫn chưa được giải quyết.

Gần đây nhất, ngày 20 tháng 10 vừa qua, Bộ Công thương Việt Nam đưa ra một danh sách khoảng 30 dự án nhiệt điện, hóa chất, thủy điện, khai thác khoáng sản có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường hoặc có những tồn tại trong chấp hành luật bảo vệ môi trường.

Tất cả những dự án, tập đoàn đó đều là những cơ sở lớn như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tập đoàn công nghiệp than-khoáng sàn Việt Nam, tập đoàn hoá chất Việt Nam, tổng công ty thép Việt Nam.

Trong một lần trả lời đài Á Châu Tự Do về những quyền và trách nhiệm của chính phủ trong việc cấp phép cho các dự án lớn như thế này, chuyên gia tài chánh Bùi Kiến Thành đưa ra nhận xét:

“Tình hình Việt Nam bây giờ nó cũng dễ mua chuộc các cơ quan nhà nước. Đảng với nhà nước cũng rất nhức nhối đã đưa ra bao quyết định phòng chống tham nhũng này nọ nhưng mà có giải quyết được đâu? Vẫn tham nhũng vẫn bị mua chuộc, do đó cái khả năng các nhóm lợi ích nó đem tiền ra ảnh hưởng quyết định của các cơ quan là điều mà có nguy cơ xảy ra.

Trong các bộ các ngành, trong các tổ chức gọi là tư vấn hay tham mưu cho các bộ nó có nhiều vấn đề lắm. Có nhiều khi tổ chức tham mưu cho chính phủ nói một đường nhưng chính phủ làm một nẻo. Chúng ta đã biết các nhà máy điện của Việt Nam bây giờ ngay các nhà máy đang xây dựng lên thì 100% do Trung Quốc thầu và trúng thầu. Công nghệ của Trung Quốc thì lạc hậu làm nhà máy điện chưa xong thì đã lạc hậu rồi thì tại sao nhà nước, tập đoàn điện lực Việt Nam lại chấp nhận cho công ty Trung Quốc thầu hết các nhà máy điện lớn của Việt Nam thì đó là cả vấn đề mà chúng ta phải suy nghĩ, tại làm sao như thế?

Vấn đề này nó sẽ áp dụng vào các dự án lớn khác ở Việt Nam với số tiền to. Tiền to chừng nào thì dự án bị mua chuộc càng lớn chừng ấy.”

Tình hình Việt Nam bây giờ nó cũng dễ mua chuộc các cơ quan nhà nước. Vấn đề này nó sẽ áp dụng vào các dự án lớn khác ở Việt Nam với số tiền to. Tiền to chừng nào thì dự án bị mua chuộc càng lớn chừng ấy – Bùi Kiến Thành

Hậu quả và người nhận hậu quả

Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng từng lên tiếng với Đài Á Châu Tự do rằng “Đã đến lúc phải lên tiếng, phải cảnh báo và phải bằng áp lực xã hội để buộc những người có quyền quyết định phải lắng nghe ý kiến của người dân và phải cân nhắc những vấn đề môi trường, không thể có chuyện đánh đổi tăng trưởng lấy môi trường, hủy hoại môi trường… Hiện bây giờ rất đáng tiếc là những hậu quả ấy đã hiển hiện lên rồi.”

Sau một loạt những sự việc diễn ra liên quan đến vấn đề môi trường, mà cụ thể nhất là vụ Formosa Vũng Áng, cho đến nay, tất cả hình ảnh và tường trình từ báo chí chính thống cho đến truyền thông mạng đều cho thấy người dân đang gánh chịu hậu quả và tổn thất rất nặng nề.

Hệ luỵ khác

Không chỉ dừng lại ở đó, cách xử lý hậu quả và đền bù tổn thất cho người dân trong thời gian qua của chính quyền nhà nước lại gây thêm hệ luỵ khác, đó là mất lòng tin, lòng tin đối với người lãnh đạo cao nhất của đất nước, lòng tin đối với những chính sách cụ thể của chính quyền.

Sự mất niềm tin này theo Giáo sư Chu Hảo “là đỉnh điểm của việc mất lòng tin, đi đôi với việc an sinh xã hội, sự bất an trong lòng dân.”

Theo ông, qua sự kiện cá chết hàng loạt và biển ô nhiễm, người dân đã cảm thấy bất an trong cuộc sống. và  càng ngày họ càng còn cảm thấy khủng hoảng niềm tin và mất hết sự kiên trì vào việc chờ đợi phương hướng giải quyết từ chính quyền và những người lãnh đạo cao nhất.