S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một con đường sắt

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một con đường sắt

Ngày 6 tháng 10, 2021, ông Lê Ngọc Sơn – giáo viên giảng dạy bộ môn tiếng Anh, trường An Lợi, xã An Phước, Long Thành – nộp đơn xin nghỉ việc. Lý do: “Công tác trong một cơ sở giáo dục nhưng có quá nhiều điều phi giáo dục, tởm nhất là nạn dối trá, tôi cảm thấy mình không phù hợp nên nghỉ.”

Tờ đơn hiếm hoi này khiến tôi nhớ đến một bài viết cũ (“Lòng Tự Trọng Của Một Học Trò Dốt”) trên trang Dân Trí. Xin ghi lại đôi ba đoạn ngắn :

“Lá đơn xin phép nghỉ học của một học sinh lớp 10 câu cú lủng củng, đầy lỗi chính tả sơ đẳng như của một học sinh lớp 1, lớp 2 đã khiến những người quan tâm đến giáo dục không khỏi giật mình…

“M viết: ‘Hôm lay, em viết cái Đơn lày mong cô và nhà trường cho em ngỉ học vì chong lúc Học em quá đùa nghích và Học Hành còn yếu và làm cho lớp 10H xa xút và không thể vươn lên Được, và làm cho nhiều thầy cô gia phải nhác nhở lên em ngĩ em không xứng Đáng làm học sinh của chường.”

Bên dưới là lời bình của nhà báo Bùi Hoàng Tám:

“Với trình độ như hiện nay, M. không đủ khả năng ‘đọc thông, viết thạo’, một tiêu chuẩn của học sinh lớp 1. Như vậy, đã gần 10 năm qua, em luôn ‘ngồi nhầm lớp’. Một giả thiết đặt ra: Nếu không xin nghỉ học, M. hoàn toàn có thể học hết THPT và sau đó, tham dự kỳ thi tốt nghiệp. Và với tỉ lệ đỗ 98 – 99% hiện nay, việc em có tấm bằng tú tài là hoàn toàn trong tầm tay.

“Bước tiếp theo, nếu có ‘ô dù’ che chắn, em xin đi làm một hai năm, sau đó theo một lớp chuyên tu, tại chức và chỉ 4 năm sau nữa, em có bằng cử nhân. Từ đây, con đường quan lộ hoàn toàn có thể mở ra đối với em. Biết đâu, sẽ chẳng có ngày xuất hiện tấm danh thiếp TS. Trần Văn M. chủ tịch hoặc giám đốc… 

“Thế nhưng Trần Văn M. đã xin nghỉ học. Lý do em đưa ra thật đáng trân trọng: Sợ làm ảnh hưởng đến lớp 10H và em tự nhận thấy mình ‘không xứng đáng làm học sinh của trường”. Đó chính là danh dự, tính tự trọng và lòng dũng cảm. Phải là người giàu lòng tự trọng, quý danh dự và rất dũng cảm, em mới viết được lá đơn này. 

“Gần đây, tình trạng một số lãnh đạo không đủ năng lực để đảm nhận chức vụ ‘ngồi nhầm chỗ’ được giao không phải là hiếm. Trong đó, số người không chỉ không hoàn thành nhiệm vụ mà còn để xảy ra tiêu cực ở những cơ quan nằm trong bộ máy nhà nước cũng không ít. Thế nhưng cho đến nay, hình như chưa thấy có vị lãnh đạo nào đủ lòng tự trọng và danh dự, sự dũng cảm để xin từ chức giống như em Trần Văn M làm đơn xin nghỉ học. 

“Hi vọng sẽ có ‘một ngày đẹp trời’ nào đó, chúng ta thấy xuất hiện trên thông tin đại chúng đơn từ chức của một bộ trưởng, một chủ tịch tỉnh hay một vụ trưởng, một chủ tịch huyện và thậm chí chỉ là chủ tịch xã với lý do để bộ ngành hoặc địa phương mình phụ trách sa sút ‘không xứng đáng với nhiệm vụ được giao”.

Nhà báo Bùi Hoàng Tám viết những lời lẽ thống thiết kể trên vào hôm 15 tháng 8 năm 2012. Hy vọng của ông, xem ra, hơi xa thực tế. “Danh dự” và “dũng cảm” là những hạn từ, dường như, không có trong tự điển của giới quan chức Việt Nam. Gần mười năm đã qua nhưng chưa thấy một nhân vật nào xin từ chức vì … “không xứng đáng với nhiệm vụ được giao” cả!

Ngày 2 tháng 1, 2021, báo Công An Nhân Dân cho hay: “Hiện, tình trạng di cư từ châu thổ Cửu Long đến TP Hồ Chí Minh, miền Đông Nam Bộ đáng báo động… số lượng di cư khỏi châu thổ này trong thập niên vừa qua là gần 1,1 triệu người.”

Hôm 12 tháng 10, 2021, Tổng Cục Thống Kê cho biết : “… hơn 1 triệu người lao động đã rời thành phố lớn, trung tâm công nghiệp về các vùng quê diễn ra liên tục từ tháng 7 đến nay… số liệu thống kê lần này chưa tính đến dòng người về quê từ đầu tháng 10, khi TP HCM và các tỉnh phía Nam nới lỏng giãn cách.”

Đất nước cứ như một que sắt nóng, và lúc nào cũng có hằng triệu người dân cuống cuồng lo tìm đường chạy tứ tung. Blogger Trường Sơn (VNTB) nhận xét: “Chết hơn hai chục ngàn người; với hơn hai ngàn trẻ mồ côi; hàng triệu người dân di tản khỏi Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai; hơn 70% doanh nghiệp ‘thở ngáp cá’;…nặng nề, đau xót quá! Ấy vậy mà chưa có mảy may một ai lên tiếng về trách nhiệm này?”

Vụ đường sắt Cát Linh – Hà Đông cũng vậy.

Báo Lao Động, số ra ngày 2 tháng 6, 2020,gọi đây là một “bi kịch” ở tầm mức quốc tế: “Một dự án đội từ 552 triệu USD lên 891,92 triệu USD. Chậm tiến độ 10 năm. Đang phải trả lãi mỗi năm 650 tỉ. Đang bị đòi thêm 50 triệu USD, giao tiền ngay. Chưa rõ ngày vận hành. Và biết chắc sẽ lỗ. Nó là gì nếu không phải là một khúc xương 13 km không thể nuốt!”

Bi kịch này đã kéo dài hơn 10 năm (qua bốn đời bộ trưởng) nhưng mãi đến ngày 15 tháng 9, 2021 thì lãnh đạo BTGTVTmới “chốt thời gian hoàn thành, bàn giao dự án đường sắt đô thị tuyến Cát Linh – Hà Đông trong năm nay.”

Thiệt là vui sướng và nhẹ nhõm.

Niềm vui, tiếc thay, không kéo dài lâu!

Chưa đầy một tháng sau, ngày 13 tháng 10, 2021, báo Trí Thức lại ái ngại cho hay: “Tổng thầu Trung Quốc ‘từ chối hợp tác’ để hoàn thiện đường sắt Cát Linh-Hà Đông… Được khởi công tháng 10/2011, dự kiến dự án hoàn thành đưa vào khai thác vào năm 2015. Tuy nhiên, dự án đã 8 lần chậm trễ nên chốt mốc vận hành vào năm 2020. Đến thời điểm này, tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông chưa rõ bao giờ về đích.”

FB Trần Thất mỉa mai:Các chú ăn dầy quá/ Ăn cả trong lẫn ngoài/ Ăn cả trên lẫn dưới/ Giờ há miệng mắc quai?

Vô tư mà nói thì tuy đây là một dự án tuy đội vốn hơi nhiều (“từ 552 triệu USD lên 891,92 triệu USD”) nhưng vẫn chưa có bằng chứng cụ thể nào về số tiền lại quả ăn dầy, ăn mỏng, ăn thêm, ăn theo, ăn bẩn, ăn vụng, ăn gian, ăn quỵt, ăn lường, ăn giựt… nào ráo trọi.

Tuy thế, FB Phạm Lưu Vũ vẫn kết luận rất khắt khe: “Một tuyến đường hút vào đấy bao nhiêu kẻ tội đồ, tạo ra nghiệp nặng, anh linh của tổ tiên ta tất sẽ không tha cho chúng, sẽ đọa chúng ở dưới địa ngục hoặc ngạ quỷ, hoặc súc sinh trong vô lượng kiếp… thì đến đời con cháu chúng ta, sẽ đỡ phải gặp lại chúng, chất lượng người Việt ở thời vị lai sẽ tử tế hơn, chả như bây giờ.”

Không ai có được một cái nhìn tích cực như nhà báo Phi Hùng:

“Trên đường Nguyễn Trãi, nơi có đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông đi qua, rất nhiều phương tiện chọn bóng mát của công trình này để di chuyển phía dưới. Trong khi nắng nóng oi bức ở nhiều tuyến đường trở thành nỗi ám ảnh của nhiều người thì tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông ít nhiều đã mang đến cảm giác thoải mái cho những ai đi qua. Những người công nhân tranh thủ nghỉ trưa dưới gầm nhà ga trên đường Láng. Những người bán hàng rong cũng tranh thủ chợp mắt dưới gầm đường sắt Cát Linh – Hà Đông.”

Thật là ơn ích và quí hóa. Tuy bất khiển dụng nhưng ít nhất thì tuyến đường này cũng tạo ra được bóng mát cho công nhân có chỗ nghỉ trưa, người bán hàng rong có nơi chợp mắt. Sự tổn hại gây ra bởi tuyến đường sắt Cát Linh/ Hà Đông – xem ra – thật không đáng kể, nếu so với con đường cách mạng đẫm máu cùng nước mắt mà Đảng và Bác (kính yêu) đã chọn từ hồi đầu thế kỷ trước và “đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?

Tưởng Năng Tiến

TÂM SỰ CUỐI ĐỜI – (Giám Mục GB. Bùi Tuần)

Bệnh ‘sợ trách nhiệm’ của công chức là do thể chế!

Đài Á Châu Tự Do 

Căn bệnh “sợ trách nhiệm” của lãnh đạo các cấp bị cho gây cản trở đối với sự phát triển của đất nước. Nguyên nhân của căn bệnh này được cho là bởi thể chế độc tài, cơ chế độc đảng và hệ thống pháp lý không rõ ràng.

Phù Vân & Vô Thường-Nguyễn Trung Tây

Nguyễn Trung Tây
Phù Vân & Vô Thường

                                   

Phù vân!
Phù vân! Đại phù vân!
Vô thường!
Vô thường! Đại vô thường!

 

Tháng Mười Một, tháng của mùa thu và của chớm đông. Lá vàng và tuyết trắng nhắc nhở những người còn đang đi trên mặt đất về những người đã nằm xuống trở về với cát bụi. Tháng Mười Một, tháng của các linh hồn thổi gió lạnh buốt nhắc nhở nhân sinh về cuộc sống phù du vô thường. Phù du vô thường nhắc nhở người Kitô hữu câu chuyện nổi tiếng của ông Job trong dòng lịch sử Cựu Ước, một câu chuyện có lẽ vẫn còn làm nhiều người lắc đầu ngán ngẩm cho cuộc sống nhân sinh. Từ một người giàu có, nhà cao cửa rộng, thóc lúa đầy kho, ruộng đồng thẳng cánh, con đàn cháu đống, gia nhân rộn ràng, nhưng chỉ qua một đêm, tự nhiên ông Job thức dậy nhận ra tay mình tay trắng, đúng như ông bà mình đã từng nói,

Bừng con mắt dậy, thấy mình trắng tay.

Đúng như thế, theo như tác giả Sách Ông Job, vào một buổi sáng không dự liệu, không tiên đoán, không ai ngờ, tin dữ liên tiếp đập trống khua chiêng gõ cửa nhà người giàu có khét tiếng của phương Đông. Ông phú hộ Job mở hai cánh cửa ra chỉ để ngỡ ngàng nhận được bao nhiêu hung tin. Dư thừa như lá vàng héo khô mùa thu, như tuyết trắng bay bay mùa đông, hung tin thay phiên nhau mở miệng hét to, gào lớn, báo tin bẩy người con trai, ba người con gái, và tất cả gia nhân cũng như gia súc của người giàu có giờ này đã hoàn toàn tan biến thành tro bụi. Hung tin mở máy phóng thanh ồn ào thông báo cho ông Job biết trộm cướp, lửa trời, và cuồng phong nắm tay nhau ném đá giật sập nhà cửa ruộng nương và giết chết hết tất cả đầy tớ cùng mười người con thân yêu của ông Job. Chỉ trong vòng một khoảng thời gian rất ngắn, tất cả vật chất sung mãn tràn đầy trong nhà một người giàu có bỗng dưng trở nên trống vắng thiếu thốn trắng tay, đúng như Sách Giảng Viên đã từng nói,

Phù vân nối tiếp phù vân.
Tất cả chỉ là phù vân
 (Giảng Viên 1:2).

Phù vân là hơi nước tụ họp gặp mặt nhau trên bầu trời. Từ những dòng sông ngòi cong mình uốn khúc và ngũ đại dương bao la xanh đậm, hơi nước nho nhỏ bốc cao lơ lửng ngập ngừng. Hơi nước của sông gặp gỡ hơi nước của biển. Cả hai cộng lại hóa ra tơ trời. Ngàn vạn sợi tơ của trời đan kết lụa là dệt ra mây trắng lững lờ trôi nổi bồng bềnh. Mây trời nối tiếp mây trời, lang thang nối tiếp lang thang. Mặt trời bình minh phương Đông vươn cao ném tung xuống cõi trần gian hơi nóng. Hơi nóng tỏa nhiệt đốt cháy mây trời, tẩy xóa phù vân. Phù vân biến thành vô thường. Vô thường tiếp nối phù vân. Phù vân nối tiếp vô thường chầm chậm loãng tan biến mất. Có đó rồi mất đó. Mất đó rồi lại hiện ra. Hiện ra rồi lại biến mất, y như hơi nước, y như tơ trời, y như phù vân, y như vô thường, y như cuộc sống nhân sinh thoáng hiện thoáng mất.

Vô thường! Vô thường! Đại vô thường!

Những chú khủng long T-Rex của 65 triệu năm về trước đang cúi đầu gầm gừ nhai xé thịt tươi đỏ máu của đồng loại cũng đâu ngờ thiên tai đang rớt xuống trên đầu. Chỉ trong thoáng chốc, vẩn thạch từ không gian đâm sầm vào mặt quả địa cầu xanh lơ. Lửa đỏ từ trời rớt xuống. Cát bụi trở về cát bụi. Trời và đất khoác lên mầu áo tối đen. Tối đen thổi tắt ánh sáng mặt trời. Tối đen buông màn giăng mắc che phủ địa cầu. Khủng long T-Rex biến mất nhường chỗ cho con người thấp nhỏ đứng lên trên hai bàn chân. Giờ này khủng long và những chú T-Rex chỉ còn lại xương khô hóa thạch sừng sững vươn cao đe dọa trong Viện Bảo Tàng. Những chú khủng long to lớn, sức mạnh đập xuống tan đá vụn sỏi tưởng chừng như là trường tồn vĩnh cửu rồi cũng biến dạng hóa thành cát bụi. Khi vẩn thạch của vũ trụ ghé vào viếng thăm, triệu triệu ngôi mộ lăng tẩm của khủng long ngổn ngang gò đống trải rộng thênh thang khắp mặt địa cầu.

Gần đây nhất, sóng thần nhiệt đới Tsunami hùa nhau đập phá tả tơi nhà cửa, lâu đài, làng mạc, và bãi biển của mười hai quốc gia thuộc vùng Nam Á. Bởi cuồng phong Tsunami, người dân Nam Á biến thành những ông Job của thiên niên kỷ thứ ba. Sóng thần 2004 ầm ầm gào thét mở miệng há to phóng tới, những ông Job của thiên niên kỷ thứ ba bồng bế vợ con bỏ của chạy lấy người.

Cuộc sống nguyên thủy đã là phù phiếm. Bản chất của nhân sinh là hoang đường. Tất cả mọi người đều đã được sinh ra trong tro bụi. Và rồi, một ngày nào đó, chúng ta nhắm mắt lại trở về với bụi tro. Khi nằm xuống, không ai trong chúng ta mang theo được bất cứ một thứ gì về bên kia thế giới, ngoại trừ đôi tay trắng. Tài sản bao nhiêu năm ký cóp chắt chiu để dành, vàng bạc hột xoàn kim cương một hộp, con cái sanh ra đầy nhà, nhà cửa chung cư chập chùng xếp lớp của bao nhiêu năm trả góp, tính toán chi li từng đồng, hà tiện dành dụm từng xu, nhịn miệng bóp bụng từng tô phở rồi cũng chẳng mang theo được. Khi quay về với cát bụi, chúng ta biến tan vào trong hư vô tịch mịch y như phù vân trên trời. Khi chúng ta nằm xuống, tay trắng lại hoàn trắng tay. Tất cả đều trở nên vô thường, có đó rồi mất đó, đúng như con trai của Vua Đavít đã từng nói,

Mọi chuyện đều có lúc, Mọi việc đều có thời.
Một thời để sinh ra và một thời để chết đi
(Giảng Viên 3:1-2).

Ngày xưa có một ông phú hộ rất thành công trên thương trường. Ông làm ăn ngày càng phát đạt, lúa thóc đầy kho, nhiều tiền nhiều của. Một hôm hứng chí với những thành quả mình đã đạt được, người nhà giàu mở miệng nói,

— Bây giờ phải làm chi đây để mà hưởng thụ, ăn chơi sung sướng? Thôi, thì mình sẽ làm như thế này. Việc đầu tiên là sẽ phá những kho thóc cũ đi, xây dựng những kho thóc mới, lớn hơn, đẹp hơn, huy hoàng hơn. Và rồi ta sẽ nói, “Hồn ta ơi, hãy vui lên, hãy hưởng thụ”.

Nhưng Trời Cao nói với ông phú hộ,

— Ngốc ơi là ngốc! Đêm nay ta sẽ lấy mạng của nhà ngươi đi, thì nhà ngươi làm được cái chi với tất cả những tài sản thóc lúa trong vựa?

Câu chuyện vừa rồi không phải là câu chuyện cổ học tinh hoa, nhưng là câu chuyện của Tin Mừng trong Luca 12:13-21, ý muốn diễn giải và trình bày tính chất phù vân và vô thường của cuộc sống.

Cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng đã từng than thở về nét phù vân và vô thường của cuộc đời qua câu truyện của tố nga Đạm Tiên, một người con gái đẹp, khi còn sống, người người tấp nập ghé nhà thăm viếng nâng niu đóa quốc sắc thiên hương. Nhưng rồi, cuối cùng cành hoa vàng ngọc cũng nằm xuống. Ngàn vàng một đóa hoa quỳnh bị vùi dập bên đường, trở thành nấm mộ hoang cỏ dại, để rồi đúng ngày

Thanh Minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh,

Hai nàng Kiều cùng đi qua. Thấy ngôi mộ bỏ hoang trống vắng,

Sè sè nắm đất bên đường,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh,

Thúy Kiều mới hỏi em trai là Vương Quan,

Rằng: “Sao trong tiết Thanh Minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế này?

Ý Thúy Kiều muốn nói hôm nay là ngày tảo mộ mà tại sao ngôi mộ này lại hương khói lạnh tanh không nhang không khói y như một ngôi mộ hoang? Vương Quan mới nói với nàng Kiều là người này hồi xưa đẹp nổi tiếng, nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc, quay đầu liếc nhìn một cái thành quách nghiêng ngả, quay đầu liếc nhìn thêm một lần nữa, quốc gia suy tàn. Nhưng rất tiếc, người hoa chết sớm. Bởi không thân nhân, không thân thích, không họ hàng, cho nên thân xác của hoa lý hoa quỳnh bị chôn vùi nông cạn bên vệ đường. Để rồi tới ngày hôm nay, ngày của tảo mộ, hội của đạp cỏ xanh, không ai nhìn ngó, không ai thương tiếc cắm cho một cây nhang để linh hồn ở dưới cõi tuyền đài bớt tẻ lạnh. Lắng nghe câu chuyện của người con gái năm xưa, Thúy Kiều đầm đìa những hạt lệ, than ngắn thở dài, “Ôi! Cuộc sống sao quá là phù vân và vô thường”.

Đó là nói chuyện của hồi xưa. Còn chuyện bây giờ, câu chuyện của thiên niên kỷ thứ ba. Hoa Kỳ là một quốc gia giầu có, một cường quốc dẫn đầu trên thế giới gần như về mọi mặt, kinh tế, thể thao, phim ảnh, và ca nhạc. Nói về kinh tế, nhiều người trên thế giới vẫn mơ ước một ngày sẽ tới, một ngày người ta được đặt chân lên vùng đất hứa Hoa Kỳ, một ngày người ta cúi xuống nhặt vàng bạc ngọc ngà và đô la xanh xanh trên những con đường phố của Hiệp Chủng Quốc. Nói tới thể thao, không ai có thể quên được trong kỳ Thế Vận Hội vừa qua tại Hy Lạp, Hoa Kỳ mang về gần hết những huy chương vàng và huy chương bạc của Thế Vận Hội 2004. Nói về ca nhạc, ai trên thế giới mà lại không biết đến Michael Jackson, Madona, hoặc mới đây Britney Spears và siêu nhạc Rap Eminem. Nói về điện ảnh, ai lại không biết những bộ phim và siêu sao nổi tiếng của Holywood, thủ đô điện ảnh của Hoa Kỳ và của cả thế giới. Để đạt được tới địa vị độc tôn trên thế giới ngày hôm nay, người Hoa Kỳ ai ai cũng phải làm việc không ngừng nghỉ. Không ai trên vùng đất hứa có thể thoát khỏi bàn tay sắt bọc nhung êm của vòng quay làm việc tại thiên đàng hạ giới Hiệp Chủng Quốc. Chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hiệp Chủng Quốc, gia đình Việt Nam sống trên vùng đất mới cũng bị cuốn hút vào trong guồng máy khổng lồ của siêu cường. Cứ sáng sáng chúng ta mở mắt ra, đề máy xe, chạy vào trong những siêu xa lộ. Chúng ta chạy riết, chạy riết, mà vẫn không biết khi nào sẽ phải tách ra khỏi dòng xe cộ ngược xuôi. Vợ chồng Việt Nam, khi mới đặt chân trên vùng đất mới, ai cũng cần phải có một cái nhà. Để đạt được căn nhà mơ ước, bố mẹ làm ngày 8 tiếng. Hết 8 tiếng chúng ta làm thêm 2 tiếng. 2 tiếng cộng lại hóa ra 4 tiếng. 4 tiếng cộng lại hóa ra 8 tiếng của ngày thứ Bẩy cuối tuần. Thứ Bẩy đóng lại mở ra Chúa Nhật, lại thêm 8 tiếng. Sau nhà là TV. Sau TV là bộ ghế sa-lông bằng da. Nhà có rồi, mình cũng cần một cái xe hơi đắt tiền nằm trong nhà để xe chứ. Cứ thế, cuộc sống cuốn hút chúng ta xoáy sâu cuộn tròn vào trong cơn lốc, quên mất đi cuộc sống này thật là phù vân và vô thường.

Bởi những cám dỗ của vật chất, chúng ta cứ như những người mất trí nhớ. Sáng sớm chúng ta mở máy xe lên xa lộ, đạp ga chạy không ngừng nghỉ, chạy tới, chạy miết, chạy quên luôn cái ngã rẽ xa lộ mà mình phải lái ra, cái ngã rẽ đó dẫn chúng ta về lại căn nhà thân thương của mình, nơi đó có cha có mẹ, có vợ có chồng, có con đang ngồi mong chờ ngóng đợi. Bởi những xa lộ không có ngõ ra, thiên niên kỷ thứ ba lại ngập tràn bóng dáng của những thiếu phụ Nam Xương. Đêm đêm bóng dáng của bà Vũ thị Thiết lại chập chờn thoáng ẩn thoáng hiện trên vách tường. Bởi những xa lộ không có ngõ ra, tiếng than thở của thiếu niên Trương Đản trên vùng đất mới vẫn còn vang vọng đâu đây,

— Bố đâu rồi? Mẹ đâu rồi? Con không cần tiền và quần áo đẹp. Con cần bố. Con cần mẹ.

Bạn thân,

Cuộc sống này nguyên thủy đã là phù phiếm, đã là phù vân, đã là vô thường. Nhưng tạ ơn Chúa và tạ ơn cho niềm tin, chỉ có trong Thiên Chúa, con người mới sống trường sinh, sống vĩnh viễn, sống tràn đầy, và sống sung mãn. Tháng Mười Một trong niên lịch phụng vụ nhắc nhở bạn và tôi về những linh hồn Kitô hữu đã nằm xuống; những linh hồn của ông bà, bố mẹ, anh chị em, con cháu, và họ hàng; những linh hồn không bao giờ tan mất bởi họ nằm xuống trong niềm tin vào Thiên Chúa. Vào buổi sáng Phục Sinh đầu tiên của nhân loại, Đức Kitô Phục Sinh đã sống lại, Đức Kitô đã chiến thắng tử thần và lẽ vô thường của cõi nhân sinh. Bởi vì Ngài sống lại trong vinh hiển, Đức Giêsu Phục Sinh đã thay đổi lại thân phận phù vân của con người. Bởi niềm tin vào Đức Kitô, linh hồn của những người tín hữu đã nằm xuống sẽ không bao giờ tan biến vào trong cõi hư vô như phù vân. Và cũng bởi niềm tin, bạn và tôi cũng không sống một đời sống vô thường, bởi vì chúng ta có một niềm tin sắt son vào một Đức Kitô Phục Sinh. 

Vào một ngày kia, ông Job bừng con mắt dậy thấy mình trắng tay. Ngày hôm sau, ghẻ lở viếng thăm, thân xác héo tàn. Nhưng người giàu có của phương Đông năm xưa vẫn không mất niềm tin, nhưng vẫn tiếp tục tin tưởng vào sự quan phòng của Giavê Thiên Chúa. Và đúng như vậy, cuối cùng Thiên Chúa lại ban cho người trắng tay dư thừa ân sủng trời cao và ân phúc trần thế, bởi niềm tin của chính ông ta vào một Thiên Chúa quan phòng.

 Lời Nguyện

Lạy Chúa, cuộc sống này vô thường và phù vân. Nhưng tạ ơn Chúa đã ban cho con niềm tin vào Chúa. Và bởi niềm tin vào Chúa, tháng Mười Một của các linh hồn, của lá thu vàng và tuyết đông trắng, của phù vân và vô thường không làm con thất vọng và muộn phiền, nhưng càng thêm tin tưởng vào bàn tay quyền năng, nhân diện từ bi, và tình yêu khoan dung của một Thiên Chúa chậm bất bình, tràn đầy vị tha 

 Nguyễn Trung Tây

Facebook đã đổi tên thành Meta, và chính thức tuyên bố sẽ tập trung vào việc xây dựng metaverse.

BBC News Tiếng Việt 

Facebook đã đổi tên thành Meta, và chính thức tuyên bố sẽ tập trung vào việc xây dựng metaverse.

Thế thì metaverse là gì?

Metaverse là một thuật ngữ trong quyển tiểu thuyết khoa học viễn tưởng “Snow Crash” của nhà văn Mỹ, Neal Stephenson, xuất bản vào năm 1992.

Nhân vật chính trong Snow Crash có tên là Hiro, một hacker và là một tài xế giao pizza cho một băng đảng mafia. Và khái niệm thế giới ảo lần đầu xuất hiện trong tiểu thuyết này như sau: “Hiro không có ở đây. Anh ấy ở trong một vũ trụ mô phỏng, máy tính đang vẽ cặp kính và bơm vào tai nghe của anh ta. Về mặt ngôn ngữ thì nơi tưởng tượng này được biết đến với tên gọi Metaverse. Hiro đã dành nhiều thời gian trong Metaverse.”

Theo một trích dẫn trên Amazon thì tác giả Neal Stephenson đã viết tác phẩm này trong khoảng từ năm 1988 đến 1991 khi nghe rất nhiều nhạc buồn bã, dồn dập và bất cần.

Tiểu thuyết này đã thu hút các gã khổng lồ công nghệ tại Thung lũng Silicon. Metaverse đề cập đến một ý tưởng về một môi trường không gian ảo được chia sẻ, và có khả năng sẽ là kỷ nguyên tiếp theo sau internet di động.

Theo Zuckerberg thì hãy tưởng tượng Metaverse như internet định dạng 3D, một môi trường ảo mà người dùng có thể bước vào bên trong thay vì chỉ nhìn vào màn hình. Đây sẽ là một thế giới không giới hạn, kết nối cộng đồng ảo, mọi người có thể gặp gỡ, cùng làm việc bằng cách sử dụng các thiết bị thực tế ảo như Facebook’s Oculus, ứng dụng smartphone hoặc những thiết bị khác.

Về ý kiến chuyên gia, theo Allen Adamson, Đồng sáng lập MetaForce nhận định thì metaverse có lẽ là môi trường 3D, nơi mà mỗi người có thể sống và hành động và nếu trong cuộc họp thì có thể ngồi kế ai đó và người đó trông có vẻ thật và cùng với đó là các ma trận.

May be a cartoon of 1 person and text that says 'METAVERSE "Chúng tôi tin rằng Metaverse sẽ là kỷ nguyên tiếp theo sau Mobile Internet." Mark Zuckerberg Giám đốc Điều hành Meta BBC NEWS TIẾNG VIỆT'

NỀN TƯ PHÁP HOANG DẠI Ở VIỆT NAM CÒN TỒN TẠI ĐẾN BAO GIỜ?

Lê Phú Khải

NỀN TƯ PHÁP HOANG DẠI Ở VIỆT NAM

CÒN TỒN TẠI ĐẾN BAO GIỜ?

LÊ PHÚ KHẢI

Ở những nền tư pháp tử tế, khi một nghi phạm bị bắt thì người đi bắt phải nói với nghi phạm: Ông/Bà được phép mời luật sư. Từ đó trở đi, mỗi lần công an hỏi cung nghi phạm thì luật sư ngồi bên cạnh. Luật sư có quyền không cho người hỏi cung hỏi câu này hoặc câu khác, vì “câu hỏi đó không đúng luật”! Vì luật sư là người nắm luật pháp hơn cả. Mỗi biên bản hỏi cung như thế phải có chữ ký chứng thực của luật sư thì lúc ra toà lời khai mới có giá trị.

Ở Việt Nam thì các vụ án luật sư không được tiếp cận hồ sơ từ đầu, chứ đừng nói gì đến ngồi cạnh nghi phạm khi bị hỏi cung. Ở vụ án Hồ Duy Hải, luật sư không được gặp Hải bao giờ cả. Bị đánh đến thừa sống thiếu chết thì nghi phạm thà nhận là mình “giết người” để không bị tra tấn đau đớn! Những lời khai trong bóng tối như thế ở một nền tư pháp dân chủ đều không có giá trị pháp lý. Vì thế mới có nguyên tắc tối thượng là trọng chứng, không trọng cung. Tất cả các nguyên tắc đó của nền tư pháp văn minh của nhân loại, với chế độ độc đảng, đảng lãnh đạo toàn diện triệt để mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì các nguyên tắc đó đều bị đem vứt vào sọt rác.

Không ai nhìn thấy Hồ Duy Hải lúc xảy ra án mạng cả.

Không có dấu vân tay của Hồ Duy Hải ở hiện trường.

Tang vật để giết người của Hồ Duy Hải là cái thớt và con dao được mua từ ngoài chợ đem về.

Thế mà toà vẫn xử Hồ Duy Hải tử hình!

Còn có gì trắng trợn, coi thường đạo lý và đểu cáng dã man hơn hả ông chánh án Nguyễn Hoà Bình?

Lúc ông từ miền quê nghèo Quảng Ngãi ra kinh kì, ông có hình dung ra mình sẽ quyền thế và giàu có như thế này không, nhờ nền tư pháp mà đại biểu Quốc hội Ngô Bá Thành năm xưa tổng kết trong một câu bất hủ: “Chúng ta có cả một rừng luật, nhưng khi xử thì xử theo luật rừng!”

Oan khiên chồng chất oan khiên lên đầu gần 100 triệu dân đen Việt Nam từ cái nền tư pháp bất lương đó! Đã có biết bao vụ án oan trong quá khứ vì nạn nhân bị ép cung và đánh đập tra tấn dã man!

Người viết bài này xin thống kê một số vụ điển hình:

– Có lẽ vụ điển hình nhất là vụ án mang tên Vụ gián điệp “H122”, năm 1948. Trong vụ này, hàng trăm cán bộ vô tội trong kháng chiến chống Pháp bị giam cầm, do họ bị ép cung, đánh đập mà phải “nhận tội”!

Sự việc tóm tắt như sau: Một tin đồn do Pháp tung ra đã lan truyền trong khu Việt Bắc là có một gián điệp mang bí số H122 đã được Pháp gài vào hàng ngũ ta, và H122 đã cung cấp nhiều tin tức quân sự quan trọng cho Pháp.

Một anh giám mã (coi giữ ngựa) cho một cơ quan đã bị nghi ngờ là H122. Lý do nghi ngờ rất đơn giản: Anh ta đã chạy ra sân lấy vào một chiếc khăn trắng trong lúc có tiếng máy bay của Pháp trên trời. Người ta nghi anh làm ám hiệu bằng chiếc khăn trắng cho máy bay Pháp đến. Thế là anh giám mã bị bắt, bị bức cung. Anh ta đã nhận mình là H122, rồi khai ra những người khác. Cứ thế, người bị bắt mới lại khai tiếp. Con số bị bắt đã lên đến hàng trăm, kể cả cán bộ cao cấp, và cả một bà bán xôi.

Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng Trần Đăng Ninh đã vào cuộc. Ông Trần Đăng Ninh đã đến tận hiện trường và xem xét rất kỹ. Ông thấy rất nhiều điều vô lý. Pháp không thể gài người vào ta mà lại chọn một anh chăn ngựa không biết chữ. Cái sân bé tí trước nhà anh chăn ngựa giữa rừng núi âm u thì không máy bay nào trên trời có thể nhìn thấy một cái khăn màu trắng. Cứ thế, cứ thế, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng xem xét, điều tra cụ thể, quyết liệt, và đã ra lệnh thả mấy trăm “phạm nhân” đang bị giam. Người ta đã gọi ông Trần Đăng Ninh là “Bao Công Việt Nam” từ vụ án đó.

Sau hoà bình 1954, ông Trần Đăng Ninh đã đi máy bay và cố nhìn xuống dưới để xem có thể thấy một cái “khăn trắng” nào không, và sau đó ông đã “an tâm” là mình đã xử án đúng.

– Vụ thứ hai, cũng rất điển hình, phức tạp, quyết liệt và đầy kịch tính, xảy ra vào các năm 1963-1964, là vụ án ở nhà máy cơ khí Gia Lâm, Hà Nội. Giám đốc Võ Văn Khang bỗng dưng bị chết. Tám cán bộ đảng và công đoàn nhà máy bị bắt. Vì giám đốc công an Hà Nội lúc đó là ông Long, cho đây là vụ giết người. Bị bức cung khốc liệt, cả tám người đều nhận tội! Thế là án đã “nhanh chóng được phá”. Thành tích được nhanh chóng báo cáo lên cấp trên để được khen thưởng. Nhưng Đại uý Tích ở công an Hưng Yên, khi khám nghiệm tử thi nạn nhân được vớt lên ở cửa sông Hồng, đã quả quyết báo lên ngay trong đêm với Cục trưởng Cục Cảnh sát Lê Hữu Qua là nạn nhân đã tự sát. Đại uý Tích đã làm báo cáo tường trình cụ thể, và ông cùng đồng nghiệp, cùng Cục trưởng Qua kiên quyết chống lại kết luận giám đốc cơ khí Gia Lâm Khang bị giết. Được Thứ trưởng Lê Quốc Thân ủng hộ, Giám đốc công an Long cũng kiên quyết đấu lại.

Bốn năm trời tranh cãi, hồ sơ biên bản vụ án đã lên cả tạ giấy. Bất phân thắng bại, nên cuối cùng phải mời một đoàn chuyên gia của Bộ Công an Cộng hoà Dân chủ Đức sang giúp. Người Đức đi sang một chuyên cơ gồm 10 chuyên gia các lĩnh vực hình sự. Trong đó có một chuyên gia được mệnh danh là “chuyên gia thắt cổ”. Ông này có một bộ sách dày, có hình vẽ và ghi chép tỉ mỉ các vụ án thắt cổ có từ thời Hy – La cổ đại đến sau này. Với ông chuyên gia này, chỉ cần nhìn hiện trường có người thắt cổ, ông có thể kết luận đến 50% là nạn nhân bị thắt cổ hay tự thắt cổ. Những chuyên gia Đức khẳng định rằng hung thủ luôn để lại dấu vết ở hiện trường. Và đã có dấu vết thì nhất định tìm ra hung thủ. Và quả thật, chỉ sau một thời gian ngắn, vụ án đã được làm sáng tỏ với những luận cứ khoa học không thể chối cãi, không thể tranh luận gì nữa. Tám cán bộ “nhận tội” khi bị bắt đã được tha bổng. Theo lời Cục trưởng Qua, vụ án này đã được đưa vào giáo trình của ngành tư pháp nhiều nước.

Trước khi về, người Đức chỉ khuyên chúng ta không nên đổi tên đường, tên làng, tên xóm. Vì như thế sau này rất khó phá án.

– Vụ thứ ba là vụ án Nguyễn Thanh Chấn. Nguyễn Thanh Chấn bị nhục hình, bức cung phải nhận tội “giết người”! và tù đã 10 năm. Bỗng kẻ giết người lù lù ra đầu thú nên ông Chấn được tha!

– Vụ thứ tư là vụ ông Đặng Kim Bền, một nông dân đã gần 70 tuổi ở An Giang, bị toà án tỉnh Tiền Giang kết án tử hình sau giảm xuống chung thân. Ông Bền mang một bó cây bù-đà để ở nóc xe khách. Khi bị công an hỏi bó lá cây này của ai? Ông đã nhận và bị kết án tử hình vì sự ngu dốt của bà chánh án tỉnh Tiền Giang, xem cây bù-đà có chất gây nghiện là cây thuốc phiện!

Khi đó tôi là phóng viên thường trú ở đồng bằng sông Cửu Long, được bà vợ của ông Bền đi thăm nuôi chồng kể cho nghe hết sự tình về “tội” của chồng bà. Tôi đã làm tường trình lên Chủ tịch nước Lê Đức Anh lúc đó. Và bằng một đường dây riêng, bức thư đã đến tay Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Ông Bền được tha bỗng. Khi vợ ông Bền lên đón chồng về quê sau khi được ân xá, bà đã đền ơn nhà báo một ký đường Thốt nốt – đặc sản của quê bà. Cái biên lai gửi thư qua bưu điện lên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, đề ngày 25-9-1995, tôi còn giữ đến bây giờ làm kỷ niệm.

Viết đến đây, tôi bỗng nhớ đến những dòng mở đầu trịnh trọng của bản Tuyên ngôn Quyền Con Người của Cách mạng Pháp 1789: “Các đại biểu của nhân dân Pháp họp thành Quốc hội, cho rằng việc không biết tới, sự lãng quên hay sự coi thường các quyền của Con Người là những nguyên nhân gây ra những đau khổ chung thân và sự hư hỏng của những kẻ cầm quyền, vì thế đã quyết định trình bày các quyền tự nhiên thiêng liêng và không thể tước bỏ được của Con Người”.

Chừng nào còn chế độ độc đảng độc tài, không có toà án độc lập thì những đau khổ chung thân của gần trăm triệu dân đen Việt Nam vẫn còn mãi.

L.P.K.

Dân chủ kiểu Tây và dân chủ kiểu Ta

Dân chủ kiểu Tây và dân chủ kiểu Ta

Bởi  AdminTD

 Mạc Văn Trang

29-10-2021

Bà con xem 2 chuyện tương tự, xảy ra ở Tây và Ta, Luật pháp có 2 cách giải quyết khác nhau.

  1. Trường hợp Tổng thống Pháp Emmanuel Macron

Tổng thống yêu cầu mọi người dân bắt buộc tiêm vaccine, nhưng một số người dân phản đối, coi đó là “độc tài” và Michel-Ange Flori một nhà làm quảng cáo đã “biếm hoạ” tổng thống giống như Hitler…

Bảng quảng cáo mô tả ông Macron như là Adolf Hitler như một phần của chiến dịch chống lại việc tiêm chủng Coronavirus bắt buộc, bên cạnh khẩu hiệu ‘Tuân theo: Tiêm chủng’

Theo Ebiz, “Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đang kiện người tạo ra một tấm áp phích mô tả ông là Adolf Hitler trong chiến dịch chống lại việc tiêm chủng Coronavirus bắt buộc”…

Bức tranh đã được trưng bày ở miền Nam nước Pháp vào đầu tháng này, bao gồm cả ở thành phố cảng Toulon ở Địa Trung Hải, bên cạnh khẩu hiệu ‘Tuân theo: Hãy tiêm chủng’.

Trong tất cả các áp phích, biểu tượng Đức Quốc xã đã được thay thế bằng LREM – ám chỉ đến đảng của ông Macron”…

Các Luật sư của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã thực hiện hành động pháp lý nộp đơn kiên Michel-Ange Flori.

Ông Flori cho biết: “Họ xác nhận rằng đã có đơn khiếu nại từ Elysée. Tôi đã rất ngạc nhiên và bị sốc”.

Flori còn có “tiền sự”, nhiều lần vẽ tranh “bôi xấu” hình ảnh Tổng thống.

Nhưng ông luôn tự cho mình là một nhà đấu tranh cho tự do ngôn luận, người coi thường thói đạo đức giả của ‘Je Suis Charlie’ của Pháp”.

Như vậy, một công dân xúc phạm Tổng thống cũng là một công dân, thì phải kiện nhau ra Toà xét xử.

  1. Trường hợp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

TBT Trọng bị blogger Phạm Thành viết nhiều bài phê phán, xúc phạm và xuất bản thành cuốn sách “Nguyễn Phú Trọng- thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo?” phát tán trong xã hội.

Nhưng các Luật sư của TBT Trọng không kiện, mà công an bắt ông Thành, rồi đem ra xét xử với tội danh: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117, khoản 1 – Bộ luật Hình sự năm 2015” và bị kết án 5 năm 6 tháng tù…

Mà tội chủ yếu của ông Thành là: “Đến tháng 7-2019, Phạm Chí Thành tập hợp các bài viết đã đăng tải và được sao lưu trong máy tính, rồi biên soạn, chỉnh sửa lại thành tập tin (file) tài liệu riêng. Thành tự thiết kế bìa, đặt tên sách là “Thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo”, ghi thông tin tác giả là “Bà Đầm Xòe Phạm Thành & Các còm sĩ”… sau đó thuê in rồi phát tán quyển sách trên”…

Đại diện bên bị hại của TBT Nguyễn Phú Trọng không hề xuất hiện.

TÓM LẠI:

– Tổng thống Pháp cũng là 1 công dân, khi bị công dân khác xúc phạm thì phải kiện ra Toà, xét xử theo Luật dân sự.

– Ông Thành xúc phạm TBT Trọng là “chống phá Nhà nước CHXHCNVN”, bị xét tội hình sự.

Hai nền dân chủ khác nhau vậy đó.

(Ps: Tôi chưa biết kết quả Toà bên Pháp xử vụ Tổng thống kiện ông Flori ra sao. Bạn nào biết thông tin dùm. Cám ơn).

______

Tiếng DânTheo tweet của ông Michel-Ange Flori, người chủ billboard, ông bị phạt €10,000.

PARIS CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM – BÀ NGUYÊN SA TRỊNH THÚY NGA

PARIS CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM

BÀ NGUYÊN SA TRỊNH THÚY NGA

WESTMINSTER (NV) – Mười chín năm qua, từ ngày nhà thơ Nguyên Sa qua đời (18 Tháng Tư 1998), những đóa cúc vàng trên mộ ông trong nghĩa trang ở thành phố Westminster vẫn vàng rực, nhờ sự chăm sóc ân cần từ người vợ thủy chung.

Vợ nhà thơ Nguyên Sa, bà Trịnh Thúy Nga, người đi vào cõi thơ Nguyên Sa với những câu mở đầu “tếu táo”: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm/Như con mèo ngái ngủ trên tay anh /Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình /Ðể anh giận sao chả là nước biển!…”

Trên đời, chắc chỉ có mình ông, nhà thơ Nguyên Sa, viết thư thông báo đám cưới của mình bằng thơ. Cũng chẳng có ai đặt tựa cho bài thơ báo hỷ “cộc lốc” như ông – chỉ vỏn vẹn một chữ “Nga,” tên người con gái ông lấy làm vợ.

Thế mà người ta nhớ! Có ai mà không nhớ thơ tình Nguyên Sa!

Và bà Nguyên Sa-Trịnh Thúy Nga, luôn nhớ một câu chuyện chẳng thể nào cũ.

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên nhà thơ Nguyên Sa: Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy  buôn bán lớn, sợ Việt Cộng làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông.”

Tháng Giêng Mai Thảo đã qua
Tháng Tư chợt nhớ Nguyên Sa, lại buồn.
(Thơ Ngọc Hoài Phương)

Quen nhau tháng Mười Hai năm 1952, đến mùa Hè năm 1953, ông làm bài thơ tỏ tình tặng bà. Cho đến giờ, chưa ai biết nội dung bài thơ đó như thế nào, vì bà muốn giữ kín, cho riêng bà. Chỉ biết rằng, trái tim của cô nữ sinh tên Nga từ đó có một hình bóng, mà cô luôn trân trọng nhớ về, từ mùa Hè năm đó.

Bà hồi tưởng lại: “Hồi đó tôi còn trẻ, cũng chẳng suy nghĩ gì cả, chỉ lo học thi đậu xong rồi về. Phải lo học xong cho sớm chứ đời sống bên Pháp đắt đỏ lắm. Cũng trong năm 1953, cụ thân sinh ông Lan mất ở Hà Nội, ông ấy phải ngưng học, về nước để giúp đỡ gia đình. Lúc đó chúng tôi yêu nhau rồi, ông ấy cũng muốn dỗ dành tôi về Việt Nam chung, nhưng tôi còn ham học cao lên. Tuổi trẻ mà, ai cũng có giấc mơ lớn, và tôi cũng muốn thực hiện ước mơ của mình.”

Cuộc chia tay này là nguyên nhân bài thơ “Paris có gì lạ không em?” ra đời trong nỗi nhớ khắc khoải của ông.

“Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về mắt vẫn lánh đen
Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
Chả biết tay ai làm lá sen?…”

Câu hỏi cuối ông gởi lại bà trong sự chờ đợi, thay cho câu hỏi “Em có bằng lòng làm vợ anh không?” Để rồi hai năm sau gặp lại nhau ở Paris, khi bà khẽ gật đầu ưng thuận “làm lá sen” suốt đời cho ông, thì ông mới viết bài thơ đính hôn thay cho thiệp báo hỷ gởi cho gia đình, bằng hữu, trong niềm vui sướng tột độ.

“Chúng mình lấy nhau
Cần gì phải ai hỏi…
Cả anh cũng không cần phải hỏi anh
‘Có bằng lòng lấy em?…’
Vì anh đã trả lời anh
Cũng như em trả lời em
Và cũng nghẹn ngào nước mắt!…”
(Nga – Nguyên Sa)

Bà Nga nhớ lại: “Sinh viên tụi tôi ở lại Pháp sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, gia đình lo tản cư vào Nam nên đâu có gởi tiền qua được. Chúng tôi ra Tòa Đốc Lý Paris ký giấy hôn thú, bạn bè theo đông lắm. Xong kéo nhau ra quán cà phê đối diện uống cà phê, ăn bánh. Bạn bè chung tiền trả tiền cho cô dâu, chú rể. Thế thôi.”

Đám cưới sinh viên Việt Nam nghèo ở kinh đô ánh sáng diễn ra như thế. Chú rể chẳng mặc lễ phục, cô dâu không có áo cưới, mà ngay cả nhẫn cưới họ cũng chẳng mua được. Nhưng có sao đâu, vì ông trao cho bà những thứ quý hơn nhẫn cưới.

“Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau
Nếu anh không có tiền mua nhẫn đeo tay
Anh sẽ hôn đền em
Và anh bảo em soi gương
Nhìn vết môi anh trên má
Môi anh tròn lắm cơ
Tròn hơn cả chữ O
Tròn hơn cả chiếc nhẫnTròn hơn cả hai chiếc
nhẫn đeo tay!…”

(Nga – Nguyên Sa)

***

Mười chín năm ông ra đi, chữ O tròn trên má vẫn chẳng phai nhòa, vì với bà, ông chẳng bao giờ đi xa cả, mà chỉ chuyển chỗ từ ngôi nhà ở thành phố Irvine đến nơi đầy nắng và gió ở thành phố Westminster.

“Đối với tôi thì lúc nào ông cũng quanh quẩn đâu đây, trong cái nhà này. Tôi ở trong nhà, hay đi bất cứ con đường nào, đều thấy hình bóng ông ở bên cạnh tôi hết.” Bà Nga nói.

Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết, lúc sinh thời Nguyên Sa rất thích hoa cúc vàng – như câu thơ trong bài “Áo lụa Hà Đông” của ông: Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc – nên bà Nga chỉ mang hoa cúc ra mộ ông thôi. “Nếu để ý sẽ thấy, hoa cúc vàng trên mộ nhà thơ Nguyên Sa không bao giờ tàn hay héo cả vì được bà Nga chăm sóc rất kỹ. Hoa sắp héo sẽ được bà thay bằng hoa mới.” Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết.

Hôm gặp bà ở mộ ông, bà cho hay: “Ông ấy không bao giờ nghĩ đến cái chết, hay mình được chôn cất ở đâu cả. Khi ông ấy mất, tôi ra đây xem rồi chọn cho ông chỗ này. Nó gần hồ nước, lại dưới một bóng cây. Lúc trước trông vắng vẻ, giờ trông ấm cúng vì chung quanh ông có rất nhiều bạn bè.”

“Hồi nhà tôi mới mất, ngày nào tôi cũng ra đây, sửa bông, cắt cỏ. Giờ thì lớn tuổi rồi, thì một tuần tôi ra thăm ông ấy 2 lần. Nhiều khi bực mình với ông ấy cũng ra đây nói cho ông ấy biết.”

“Hồi ông Lan còn sống, tôi rất ít tiếp xúc với bạn ông ấy lắm, nhưng từ hồi ông ra đây, tôi được gặp nhiều người thăm ông, an ủi nâng đỡ tôi. Tôi nhớ ông Đỗ Ngọc Yến (nhà báo, sáng lập nhật báo Người Việt), hồi đó, cứ có ai từ xa đến Little Saigon, muốn gặp tôi thì ông ấy cứ nói cứ ra thăm mộ Nguyên Sa thì gặp bà Nga. Cho nên ở đây tôi được gặp nhiều người lắm, kể cả bạn cũ ở Việt Nam sang chơi. Cuối năm còn có người hẹn tôi ra đây cho cá kho, dưa chua nữa.”

Điều trùng hợp là sự lựa chọn nơi yên nghỉ cho ông, lại chính là nơi ông từng mơ ước được về qua câu thơ của ông, được bà khắc trên mộ.

“Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”

Và trong bài Tân Ước trong tập thơ cuối cùng, hình như lời “năn nỉ” của ông cũng được bà chiều theo.

“…Anh vẫn nhận ra em, em khác biệt mà vẫn đồng nhất, giấc mơ gián đoạn bao nhiêu, em vẫn trở lại, giấc mơ phi lý, em khắng khít bằng những liên tục vuốt ve, liên tục hiền dịu, liên tục chăm sóc. Em liên tục không gian em, liên tục luận lý em. Tân ước nói có thế giới ở ngoài thế giới, khác biệt và bao trùm thế giới. Em có phải là giấc mơ ở trong giấc mơ và phủ kín giấc mơ?”.

Chẳng biết như thế nào, nhưng trong thế giới thật này, “Nga buồn như con chó ốm”, tiếp tục dùng đôi tay “làm lá sen” phủ kín cho đến tận cùng.

Tác Giả: Vũ Đình Trọn

From: An Van Thieu

BẠN CÓ THỂ THA THỨ TRƯỚC KHI BẠN TIN TƯỞNG 

  BẠN CÓ THỂ THA THỨ TRƯỚC KHI BẠN TIN TƯỞNG 

          Thứ tư, ngày 27 tháng 10 năm 2021

“Đừng khăng khăng đòi trả đũa đó không phải là việc của anh chị em làm. Chúa nói, ‘Ta sẽ làm công việc phán xét. Ta sẽ lo điều đó.’” (Rô-ma 12:19 BD Sứ Điệp). 

Điều gì khiến bạn không thể tha thứ cho một người nào đó đã làm tổn thương bạn? Nếu bạn bị tổn thương sâu sắc, bạn có thể ngần ngại để tha thứ vì bạn chưa sẵn sàng để tin tưởng người đó một lần nữa. Đây là điều bạn cần hiểu: Tha thứ và tin tưởng không nhất thiết phải đi đôi với nhau.  

Tha thứ không có nghĩa là phải khôi phục lòng tin ngay lập tức. Tha thứ là tức thì còn sự tin cậy phải được xây dựng lại qua thời gian. Tha thứ dựa trên ân điển còn sự tin cậy được xây dựng trên các việc làm. Bạn giành được sự tin cậy chứ bạn không giành được sự tha thứ. 

Nhiều người không muốn tha thứ cho người khác vì họ nghĩ rằng họ phải tin tưởng những người đó một lần nữa. Nhưng điều đó không đúng. Tin tưởng và tha thứ là hai vấn đề khác nhau! Tôi xin nói lại một lần nữa: Tha thứ cho một người nào đó không có nghĩa là bạn phải tin tưởng người đó. Họ vẫn phải giành được sư tin tưởng của bạn. 

Trong các mối quan hệ mà có người nghiện ngập hay hành hung, ngược đãi, sự tha thứ vẫn có thể xảy ra. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng có nghĩa là mọi thứ có thể trở lại như trước đây. 

Tha thứ và khôi phục lại mối quan hệ là hai điều khác nhau. 

Tha thứ chỉ là phần của bạn. Điều đó không phụ thuộc vào việc người kia có xin bạn tha thứ, đáp lại sự tha thứ của bạn, hay nhận biết họ cần sự tha thứ của bạn hay không. Bạn tha thứ vì lợi ích của bạn.  

Phục hồi một mối quan hệ đòi hỏi nhiều hơn là sự tha thứ. Nó cần phải có sự ăn năn. Nó đòi hỏi sự bồi thường và xây dựng lại lòng tin. Và nó thường phải có thời gian. 

Bạn có đang mắc kẹt trong sự không tha thứ không? Hãy bắt đầu quá trình tha thứ ngay hôm nay. Sau đó, dùng tất cả thời gian bạn cần để xây dựng lại lòng tin cậy. 

Suy Gẫm—Thảo Luận—Cầu Nguyện:   

– Bạn đã được ích lợi như thế nào khi tha thứ cho một người nào đó mặc dầu bạn vẫn không tin tưởng họ? 

– Bạn đã làm việc như thế nào để xây dựng lại lòng tin với một người nào đó? 

– Bạn có đang lưỡng lự trong việc tha thứ cho một người nào đó vì bạn không tin tưởng họ không? Bạn có thể thực hiện những bước nào tiến tới sự tha thứ ngày hôm nay? Bạn đã sẵn sàng để bắt đầu xây dựng lại lòng tin cậy với người đó chưa? 

***

Thơ chị Phượng Lau họa theo bài tĩnh nguyện ngày hôm qua, ngày 26 tháng 10 năm 2021 

TẠI SAO BẠN NÊN THA THỨ?

https://www.facebook.com/tim.phan.10 

Chủ thấy tội nghiệp đầy tớ,
Cho nên hủy bỏ nợ nần còn ghi.
Và để cho anh ấy đi,
Đầy tớ rảnh nợ chủ thì thỏa vui.

Chúa bảo buông bỏ tổn thương,
Xoá đi oán giận chớ vương vấn lòng!
Tha thứ cho người khác dùm!
Ôn đi nhắc lại cuối cùng khổ thân!

Đây là ba lý do tại sao:

1. Bởi vì chúa tha thứ cho bạn:

Chúa Trời sai Chúa Giê-xu,
Xuống thế gian để chết thay cho người.
Để trả tội lỗi con người,
Án tù món nợ người đời làm sai.

2. Bởi vì oán giận là tự hành hạ mình:

Đó là vết thương tự gây,
Oán giận thêm tổn thương thay cho mình!
Chuyện quá khứ đã qua dần,
Kẻ làm cay đắng cũng lần lãng quên.

Quá khứ không thể tổn thương,
Trừ khi bạn mở vết thương nhủ lòng.
Tổn thương thêm hại chất chồng,
Bạn khiêng, bạn gánh, cuối cùng bạn suy.

3. Bởi vì bạn cần sự tha thứ mỗi ngày:

Kinh Thánh dạy chớ khắc ghi,
Oán thù chi hãy xoá đi hận thù!
Bạn nhận tha thứ từ Trời,
Bạn phải tha thứ những người xung quanh.
 

Quá trình liên tục xoay quanh,
Thứ tha làm bạn an lành sống vui.
Cầu xin tha thứ tội vơi,
Chấp nhận tha thứ Chúa tôi, con người.

YOU CAN FORGIVE BEFORE YOU TRUST 

By Rick Warren — October 27, 2021
From Connecting With God: The Lord’s Prayer 

 “Don’t insist on getting even; that’s not for you to do. ‘I’ll do the judging,’ says God. ‘I’ll take care of it'” (Romans 12:19 The Message). 

What’s keeping you from forgiving someone who’s hurt you? If you’ve been hurt deeply, you may hesitate to forgive because you’re not ready to trust that person again. Here’s something you need to understand: Forgiveness and trust do not necessarily go hand in hand. 

Forgiveness does not mean there needs to be an instant restoration of trust. Forgiveness is instant; trust must be rebuilt over time. Forgiveness is based on grace; trust is built on works. You earn trust; you don’t earn forgiveness. 

Many people don’t want to forgive others because they think they’d have to trust them again. But that’s not true. Trust and forgiveness are two different issues! Let me say it again: Forgiving someone does not mean you have to trust that person. They still must earn your trust. 

In relationships where people struggle with addictions or abuse, forgiveness is still possible. But it doesn’t always mean things can go back to the way they were. 

Forgiveness and the restoration of a relationship are two different things. 

Forgiveness is only your part. It doesn’t depend on whether the other person asks for your forgiveness, responds to your forgiveness, or recognizes they need your forgiveness. You forgive for your sake. 

Restoration of a relationship takes far more than forgiveness. It takes repentance. It takes restitution and a rebuilding of trust. And it often takes time. 

Are you stuck in unforgiveness? Begin the process of forgiveness today. Then take all the time you need to rebuild trust. 

Talk It Over

  • How have you benefited from forgiving someone even though you still didn’t trust them? 
  • How have you worked to rebuild trust with someone? 

Are you hesitating to forgive someone because you don’t trust them? What steps can you take toward forgiveness today? Are you ready to start to rebuild trust with that person? 

From: buidm328 & NguyenNThu

MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Khi nói đến giới răn hay huấn lệnh là nói đến sự bó buộc.  Quả vậy, một huấn lệnh thường mang nội dung yêu cầu phải làm hoặc cấm làm một điều gì đó.  Như thế, phải chăng kính mến Chúa là một điều buộc?  Nếu coi việc kính mến Chúa là một điều buộc, thì chẳng còn phải là một tình yêu tự nguyện, mà khi không xuất phát từ tự nguyện, thì chẳng còn phải là tình yêu, hay có chăng thì đó chỉ là tình yêu gượng ép.

Bài đọc thứ nhất (sách Đệ nhị Luật) và bài Tin Mừng theo thánh Máccô hôm nay nói với chúng ta về các huấn lệnh.  Trong số các huấn lệnh của Thiên Chúa thời Cựu ước, ông Môisen đã nhấn mạnh tới một lệnh truyền căn bản: “Các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Người mà tôi truyền dạy cho các ngươi, cho con cái, cháu chắt các ngươi tuân giữ mọi ngày trong đời sống các ngươi, để các ngươi được sống lâu dài.”  Những lời trên đây thực ra không phải là một điều áp đặt.  Đây là những lời đề nghị hay một lời mời gọi, kèm theo lời hứa cho một tương lai tốt lành.  Người tin Chúa không bị ép buộc, nhưng khôn ngoan suy nghĩ để lựa chọn và quyết định: nếu yêu mến Chúa và tôn kính Ngài, thì họ sẽ được Chúa chúc lành cho trong mọi ngày của đời sống dương thế, được trường thọ và hạnh phúc.  Tác giả Thánh vịnh 17 (Phần Đáp ca) cũng diễn tả lý do yêu mến Chúa, là vì Ngài là sơn động cho ta trú ẩn.  Ngài là đá tảng, là chiến luỹ và là vị cứu tinh đối với những ai cậy trông phó thác nơi Ngài.

Hỡi Israen, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy, anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em đã phán với anh em.”  Qua những lời này, ông Môisen muốn khẳng định với những người Do Thái: những mệnh lệnh Chúa truyền dạy không thể chỉ được lắng nghe, nhưng phải được thực hành. Một số người Do Thái đạo đức quá chú trọng đến tuân giữ Lề luật một cách tỉ mỉ, mà lại lãng quên việc thực thi tinh thần của Lề luật.  Vì vậy, Chúa đã khiển trách họ: “Dân này chỉ tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa Ta” (Mc 7,6).  Thực hành lời Chúa dạy là bảo đảm cho chúng ta được hạnh phúc đời này và đời sau.  Lời hứa miền đất tràn trề sữa và mật, trong truyền thống Do Thái, là niềm hy vọng nuôi dưỡng niềm tin của dân riêng Chúa đã chọn.  Đối với người Kitô hữu, đó chính là hạnh phúc đời đời Thiên Chúa ban cho những ai thực thi lòng mến Chúa yêu người.

Thực ra mến Chúa yêu người không phải là hai giới răn tách biệt, nhưng là một giới răn duy nhất, như hai mặt của một tấm huy chương.  Lòng mến Chúa phải được chứng minh bằng việc yêu người.  Tình mến mọi người phải được dựa trên nền tảng lòng mến Chúa, vì đó là lòng mến vô vị lợi, không dựa trên những tiêu chuẩn trần gian, không phân biệt và không biên giới.  Thánh Gioan đã khẳng định với chúng ta: ai nói mến Chúa mà không thực hành đức thương yêu với tha nhân thì là kẻ nói dối, vì tha nhân là những người nhìn thấy mà họ không thương yêu, thì làm sao họ mến Đấng mà họ không nhìn thấy?  (x. 1 Ga 4,20).

Người tín hữu có một mẫu gương về lòng mến hoàn hảo, đó là Đức Giêsu Kitô.  Người là vị tư tế thánh thiện, vô tội tinh tuyền, tách biệt khỏi kẻ tội lỗi và đã được nâng cao trên các tầng trời.  Trên cây thập giá Đức Giêsu đã minh chứng tình mến đối với Chúa Cha và tình mến đối với nhân loại.  Tác giả thư gửi tín hữu Hípri đã chứng minh Chúa Giêsu là vị tư tế tối cao.  Ngày hôm nay, vị Tư tế đó vẫn đang chuyển cầu cho chúng ta (Bài đọc II).

 “Hỡi Israel, hãy nghe đây, Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Chúa độc nhất.  Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi.  Những lời tôi truyền cho ngươi hôm nay, phải ghi tạc vào lòng.”  Đây là lời kinh mà những người Do Thái đạo đức phải tụng mỗi ngày, để rồi lời ấy vang lên trong mọi giây phút của cuộc sống.  Lời ấy cũng là động lực chi phối mọi lời nói, hành vi và ý tưởng của những ai muốn tuân giữ lề luật.  Đây cũng là câu Lời Chúa được chọn để đọc trong giờ Kinh Phụng vụ vào tối thứ Bảy hằng tuần.  Xin cho lời kinh ấy luôn vang vọng trong tâm trí và cuộc đời chúng ta, để khởi đi từ lòng mến Chúa, chúng ta sẽ thực thi đức yêu người.

Hôm nay là ngày vọng lễ Các Thánh.  Các thánh là những người mến Chúa yêu người.  Các ngài đã trải qua nhiều gian nan thử thách, nhưng vẫn một lòng tín trung.  Có nhiều vị thà hy sinh mạng sống còn hơn là bỏ Đạo.  Có nhiều vị chấp nhận một cuộc sống trầm lặng trong suy tư cầu nguyện.  Có nhiều vị thánh đã trải qua một cuộc sống rất đơn sơ bình dị, như một người cha, một người mẹ trong gia đình, một công dân của xã hội, một người phong lưu hoặc một người nghèo khó.  Tất cả các thánh đều có một điểm chung: đó là lòng mến Chúa yêu người.  Thánh Phaolô đã khẳng định: Ai yêu thương, thì đã chu toàn lề luật (Rm 13,8b).  Nên thánh chính là thực thi giới răn mến Chúa yêu người.

Lạy Chúa là nguồn mạch sự thánh thiện, xin che chở nâng đỡ chúng con trong hành trình cuộc đời, cũng là hành trình nên thánh.  Amen.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

KIẾP SAU (NẾU CÓ) DÙ THƯƠNG HAY KHÔNG THƯƠNG, CŨNG KHÔNG CÒN DỊP GẶP LẠI NHAU ĐÂU”

Van Pham

KIẾP SAU (NẾU CÓ) DÙ THƯƠNG HAY KHÔNG THƯƠNG, CŨNG KHÔNG CÒN DỊP GẶP LẠI NHAU ĐÂU”

Thư của Tôn Vận Tuyền, cựu Thủ Tướng Đài Loan đã để lại những lời căn dặn cho con như sau:

Các con thân mến, viết những điều căn dặn này, cha dựa trên 3 nguyên tắc như sau :

  1. Đời sống là vô thường, không ai biết trước mình sống được bao lâu, có những việc cần, nếu được nói ra sớm để hiểu thì hay hơn.
  2. Cha là cha của các con, nếu không nói ra thì chắc không ai nói rõ với các con những việc này đâu!
  3. Những điều căn dặn để ghi nhớ này là kết quả của bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời của chính bản thân mà Cha ghi nhận được, nó sẽ giúp các con tránh những nhầm lẫn hoang phí trên con đường trưởng thành của các con.

Dưới đây là những điều nên ghi nhớ trong cuộc đời :

  1. Nếu có người đối xử với con không tốt, đừng thèm để tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời nầy, không ai có bổn phận phải đôi xử tốt với con cả, ngoại trừ cha và mẹ của các con. Nếu có người đối xử tốt với con, ngoài việc các con phải biết ơn, trân quý, các con cũng nên thận trọng một chút, vì người đời thường làm việc gì cũng có mục đích của nó, chớ có vội vàng cho là bạn tốt của mình ngay.
  2. Không có người nào mà không thể thay thế hay tồn tại mãi với mình được cả; không có vật gì mà nhất thiết phải sở hữu, bám chặt lấy nó. Nếu hiểu rõ được nguyên lý nầy, thì sau nầy trong cuộc đời, lỡ người bạn đời không còn muốn cùng đi trọn cuộc đời, hay vì lý do gì con bị mất đi những gì trân quý nhất trong đời con, thì cũng nên hiểu: đó cũng không phải là chuyện trời sập.
  3. Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay ta để lãng phi thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi! Cho nên, nếu ta càng trân biết quý sinh mạng của mình càng sớm, thì ta được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn. Trông mong được sống trường thọ, chi bằng mình cứ tận hưởng cuộc đời mình ngay từ bây giờ.
  4. Trên đời nầy chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Aí tình chẳng qua là một cảm xúc nhất thời, cảm giác nầy tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà biến thiên, thay đổi. Nếu người yêu bất diệt rời bỏ con rồi, hãy chịu khó nhẫn nại một chút, để thời gian dần dần trôi qua, để tâm tư mình từ từ lắng đọng, cái đau khổ cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi. Không nên cứ ôm ấp cái ảo ảnh yêu thương mãi, cũng không nên quá bi luy vì thất tình.
  5. Tuy có nhiều người trên thế giới này thành công, nổi tiếng mà chẳng có học hành nhiều, chẳng có bằng cấp cao, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không cần học hành nhiều sẽ thành công. Kiến thức đạt được do việc học hành, giáo dục là vũ khi trong tay của mình. Ta có thể lập nên sự nghiệp với bàn tay trắng, nhưng không thể trong tay không có tấc sắt. Nên nhớ kỹ điều nầy !
  6. Cha không yêu cầu các con phải phụng dưỡng cha trong nửa quãng đời còn lại của cha sau nầy. Ngược lại, cha cũng không thể bao bọc nữa quãng đời sau này của các con. Lúc các con đã trưởng thành, độc lập, đó cũng là lúc cha đã làm tròn thiên chức của mình. Sau nầy các con có đi xe bus công cộng hay đi ô-tô nhà, các con ăn soup vi cá hay ăn mi gói, đều là trách nhiệm của các con.
  7. Các con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ TÍN, nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ TÍN với mình. Các con có thể yêu cầu mình phải đối xử TỐT với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử TỐT với mình. Mình đối xử người ta thế nào, không có nghiã là nguời ta sẽ đối xử lại mình như thế, nếu không hiểu rõ được điều nầy, sẽ tự chuốc lấy buồn phiền cho mình.
  8. Trong mười mấy, hai mươi năm nay, có người tuần nào cũng mua vé số, nhưng vẫn nghèo trắng tay, điều nầy chứng minh: muốn phát đạt, phải siêng năng làm ăn mới khá được. Trên thế gian nầy không có cái gì là miễn phí cả.
  9. Sum họp gia đình, thân thích đều là duyên phận, bất luận trong kiếp nầy chúng ta sống chung với nhau được bao lâu, như thế nào, nên trân trọng và hãy qúy khoảng thời gian chúng ta được chung sống với nhau. Kiếp sau (nếu có), dù ta có thuơng hay không thương, cũng không có dịp gặp lại nhau đâu.

Sưu tầm

May be an image of 1 person