Những nhà văn khác chiến tuyến

Những nhà văn khác chiến tuyến

Bởi  AdminTD

 27/10/2021

Nguyễn Hưng Quốc

27-10-2021

Trong hai năm 1979 và 1980, tôi có dịp gặp Chế Lan Viên (1920-1989) vài lần tại Sài Gòn. Có lần, tôi nghe ông kể chuyện Võ Phiến từ Mỹ viết thư về cho con, trích hai câu Kiều: “Thôi thôi còn nói chi con / Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người” và khen tuỳ bút, và đặc biệt phiếm luận, của Võ Phiến xuất sắc, “nhất Việt Nam”, hiếm có người địch lại được. Năm 1985, vượt biên thoát và sang Pháp định cư, trong một bài viết đăng trên Quê Mẹ, tôi có nhắc lại chuyện ấy. Võ Phiến thích và dùng ngay lời khen ấy để quảng cáo cho các tập Tuỳ bút và Tạp luận mới được nhà Văn Nghệ tái bản tại Mỹ.

Sau này, giao thiệp với Võ Phiến nhiều, tôi biết ông thích không phải chỉ vì nội dung của lời khen mà vì lời khen ấy xuất phát từ một người có nhiều ân nghĩa với ông từ trước năm 1945, lúc ông chỉ là một học sinh trung học ở Qui Nhơn, được học với Chế Lan Viên trong vài tháng và được Chế Lan Viên khuyến khích đi vào con đường viết lách. Sau đó, khi ra Huế học, Võ Phiến được gặp Chế Lan Viên nhiều lần và tiếp tục được Chế Lan Viên động viên.

Đó là về tình riêng. Đứng về phương diện văn học, Võ Phiến rất thích Chế Lan Viên không những trong thơ mà còn cả trong văn xuôi. Võ Phiến kể với tôi là từ nhỏ, ông đã thuộc lòng nhiều trang trong tập Vàng sao (1942) của Chế Lan Viên. Bao giờ ông cũng nhắc đến Chế Lan Viên một cách trân trọng. Ngay cả khi ông mất trí nhớ, khi ông quên tên tuổi của nhiều bạn bè chung quanh ông, ông vẫn hỏi thăm tôi về Chế Lan Viên như tôi đã kể trong bài “Võ Phiến, những lần gặp sau cùng”.

Sự ngưỡng mộ giữa Võ Phiến và Chế Lan Viên với nhau có thể được giải thích bằng quan hệ ngoài đời của họ. Về phương diện này, sự ngưỡng mộ giữa Võ Phiến (1925-2015) và Nguyễn Khải (1930-2008) đáng nói hơn.

Giữa Võ Phiến và Nguyễn Khải có vài điểm giống nhau. Giống, trước hết, ở tài năng: Võ Phiến được xem là một trong những nhà văn xuất sắc nhất ở miền Nam trước 1975 và ở hải ngoại sau 1975; Nguyễn Khải cũng được xem là một trong những nhà văn xuất sắc nhất ở miền Bắc trước 1975 và trong cả nước sau 1975. Giống, còn ở phong cách: Cả hai đều thích và đều có năng khiếu trong việc phân tích tâm lý nhân vật một cách tỉ mỉ và hết sức tinh tế. Nhưng giữa hai người cũng có những khác biệt to lớn, trong đó, sự khác biệt quan trọng nhất là về chính trị: Võ Phiến được xem là một nhà văn chống Cộng, sau năm 1975, tất cả các tác phẩm của ông đều nằm ở hàng đầu trong danh sách sách bị cấm; Nguyễn Khải, ngược lại, là đảng viên Cộng sản, một đại tá trong quân đội, người được xem là một trong những đứa con cưng của chế độ. Có thể nói hai người ở hai vị trí đối nghịch hẳn với nhau. Tuy nhiên, điều đáng để ý là họ lại vẫn thích nhau.

Trong những cuộc chuyện trò với Võ Phiến, tôi biết ông thích ba nhà văn nổi bật trong phong trào đổi mới tại Việt Nam: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài và Bảo Ninh. Với các nhà văn thời tiền-đổi mới (trước năm 1986), có vẻ ông thích Nguyễn Khải nhất. Ông đọc Nguyễn Khải khá nhiều và thỉnh thoảng khen ngợi Nguyễn Khải là một cây bút tài hoa, thông minh và sắc sảo.

Còn phía Nguyễn Khải thì sao? Tôi chưa hề gặp và cũng chưa bao giờ chuyện trò với Nguyễn Khải nên không biết ông đánh giá thế nào về Võ Phiến. Chỉ nghe Võ Phiến kể là năm 1989, Nguyễn Khải sang Mỹ có điện thoại cho Võ Phiến và bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Võ Phiến. Sau lần nói chuyện ngắn ngủi ấy, Nguyễn Khải gửi tặng Võ Phiến chiếc đồng hồ ông đang mang kèm theo một bức thư như sau:

“New York 12/8/89

“Anh Võ Phiến thân mến,

“Được nói chuyện với anh vài phút, Khải vui quá, chẳng biết có cơ hội nào gặp lại, xin kính tặng anh cái đồng hồ đeo tay cũ kĩ, Khải đã dùng từ nhiều năm nay, mong được anh nhìn vật mà nhớ đến Khải.

“Một lần nữa, Khải xin kính chúc anh chị và toàn gia luôn luôn vui mạnh.

Kính

Nguyễn Khải”

Trong lần ghé thăm Võ Phiến vào đầu năm 2007, Võ Phiến tặng lại tôi chiếc đồng hồ và bức thư ấy để làm kỷ niệm. Lúc ấy chiếc đồng hồ đã hết pin, không còn chạy được nữa.

Mỗi lần nhìn chiếc đồng hồ và đọc lại bức thư của Nguyễn Khải, tôi đều nghĩ đến quan hệ giữa giới cầm bút với nhau. Một cách chính thức, trên các trang viết, do nhiều lý do và với nhiều lực đẩy khác nhau, người ta có thể phê phán nhau, công kích nhau, nhưng ở chỗ riêng tư, họ vẫn đọc nhau và, tự thâm tâm, họ vẫn có thể nể phục nhau. Văn học có những biên giới khác với chính trị. Nếu có điều kiện, tìm hiểu sâu hơn, với nhiều tài liệu và chứng cứ hơn, về vấn đề này, chắc cũng thú vị lắm.

Ảnh chụp bức thư viết tay của nhà văn Nguyễn Khải gửi nhà văn Võ Phiến ngày 12/8/1989. Nguồn: Nguyễn Hưng Quốc

CHA VÀ CON CÙNG CƯỜI…

Lê Vi

CHA VÀ CON CÙNG CƯỜI…

Tựa gốc: “Hardship of Life” (sự thử thách gay go của cuộc sống).

Trong hình, người cha là Munzir, bị mất chân phải do một quả bom được thả xuống khi anh đi qua một khu chợ ở Idlib, Syria. Anh đang nhấc bổng cậu con trai Mustafa của mình trên tay. Bé Mustafa ra đời không có hai tay và hai chân, vì hội chứng tetra-amelia từ loại thuốc mà mẹ bé buộc phải dùng sau khi bị tấn công bằng khí độc thần kinh trong chiến tranh ở Syria.

Bức hình hai cha con Munzir và Mustafa đang vui chơi bên nhau được nhà nhiếp ảnh Mehmet Aslan chụp ở tỉnh Hatay, Thổ Nhĩ Kỳ.

Theo tác giả, trong tương lai, bé Mustafa sẽ cần được ghép vào cơ thể những tay và chân giả điện tử đặc biệt. Tuy vậy, các sản phẩm ấy vẫn chưa có sẵn ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Tác phẩm nầy của Mehmet Aslan được cuộc thi Nhiếp ảnh quốc tế Siena Awards 2021 trao giải “Tác phẩm nhiếp ảnh của năm”. Tất cả tác phẩm đoạt giải sẽ được trưng bày ở lễ hội giải thưởng Siena tại Ý.

NGUYỄN HỮU THIỆN

May be an image of child, standing and outdoors

Vừa làm nữ tu vừa làm luật sư. Tại sao không?

Bang Uong

Vừa làm nữ tu vừa làm luật sư. Tại sao không?

{Sơ Francesca, luật sư tình nguyện tại toà án Roma để phục vụ người nghèo}

Một nữ tu muốn vừa là luật sư vừa muốn sống ơn gọi tu trì. Có thể không? Đó là trường hợp của sơ Francesca, 27 tuổi, dòng Phan Sinh. Sơ đã được khấn dòng và sau đó tốt nghiệp dân luật với luận án về luật hình sự, đã được báo Người đưa tin chiều của Ý kể lại. Sơ muốn làm luật sư để phục vụ người nghèo.

Bài báo không đưa ra nhiều chi tiết về sơ Francesca, nhưng có vẻ sơ đã yêu thích nghiên cứu về luật trước khi trở thành nữ tu và đã từ bỏ điều yêu thích để gia nhập dòng. Sau đó sơ nhận ra rằng là một nữ tu và làm một luật sư là hai điều tương thích với nhau. Sơ chia sẻ: “Khi đó tôi kết hợp đời sống tu trì với tài năng mà Chúa đã ban cho tôi, đó là niềm đam mê của tôi đối với luật pháp”.

Sơ Francesca không sử dụng Facebook hay Instagram. Chia sẻ với báo Người đưa tin chiều của Ý, sơ cho biết rằng sơ không muốn nói về mình nhưng sơ được bề trên cho phép thuật lại câu chuyện của sơ, vì nó phản ánh một sự thật quan trọng về Giáo hội và các thành viên của các dòng tu: Họ hiện diện trong cuộc sống hàng ngày và để phục vụ những người khốn khổ nhất. Các tu sĩ luôn luôn hiện diện trong mọi giai tầng của xã hội.

Không lâu nữa, sơ Francesca sẽ hiện diện tại các phòng xử án, với chiếc khăn choàng của luật sư trên vai và chiếc lúp trên đầu, thực hiện một vai trò quan trọng: là luật sư tình nguyện tại toà án Roma để bào chữa cho những người yếu thế nhất. Lý do sơ muốn trở thành luật sư chính là vì thánh Phanxicô Assisi đã yêu cầu sống nghèo khó. Sơ giải thích rằng đối với thánh nhân, sống nghèo có nghĩa là làm việc bằng chính đôi tay của mình để sống nghèo giữa những người nghèo. Sơ nói: “Ngày nay, đối với hầu hết mọi người, có một phiên tòa đang chờ xử lý là trở thành những người nghèo của thời đại chúng ta”.

Kể từ tháng 4 năm nay, sơ Francesca đã thường xuyên đến toà án, với sự âm thầm không muốn gây chú ý, tham dự các phiên điều trần cần thiết để hoàn thành khóa thực tập và tham gia kỳ thi cấp nhà nước với tư cách là luật sư. Khi sơ được cho phép hiện diện trong phòng xử án, các thẩm phán đã kinh ngạc khi thấy một nữ tu trước mặt họ. Họ nghĩ có lẽ sơ là một nhân chứng, chứ không nghĩ rằng sơ là một thực tập viên. Và họ rất vui được thảo luận cùng sơ trong phòng xử án. Sơ nghiên cứu kỹ càng hàng giờ, chính xác từng chi tiết của hồ sơ. Đối với sơ Francesca, sự hiện diện của sơ ở toà án là để phục vụ người nghèo.

Trong 15 tháng nữa, khi hoàn thành kỳ thi, sơ Francesca sẽ đánh dấu một hành trình đã được bắt đầu khi sơ cảm thấy lời mời gọi đến với ơn gọi thứ hai của mình, đó là trở thành một luật sư.

Sau khi tuyên khấn lần đầu, sơ bắt đầu con đường học tập. Rời thành phố Salerno ở miền nam nước Ý, sơ Francesca đến Roma để theo đuổi niềm đam mê. Tại đây sơ phải phân chia thời gian của mình, chạy qua chạy lại giữa tu viện và các bài thi luật học. Sơ nhớ lại: “Con đường tốt nghiệp của tôi đầy thử thách. Nhưng tôi sẽ không nói nó vất vả mệt mỏi vì tôi thực sự thích những gì tôi đang học”.

Sơ Francesca đã tốt nghiệp ngành luật với số điểm 105/110. Luận án của sơ về triết học của luật pháp, tập trung các lập luận xung quanh phiên toà hình sự. Đó là chủ đề yêu thích của sơ, như luật sư đỡ đầu thực tập của sơ đã nói: “Sơ ấy biết về lĩnh vực này nhiều hơn tôi!”

Luật sư đỡ đầu của sơ Francesca luôn nhắc rằng ông muốn sơ nhìn vào môi trường pháp lý với đôi mắt nhân đạo, không bị vấy bẩn bởi tham vọng và lòng tham không kiềm chế. Và luôn nhắc rằng sơ thực sự sẽ phục vụ người nghèo.

(Hồng Thủy – Vatican)

Đời là bể khổ? Thái độ của chúng ta trước đau khổ.

Đời là bể khổ? Thái độ của chúng ta trước đau khổ.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

1)Có ai trong chúng ta nói rằng suốt đời không có đau khổ?

Nhà Phật nói đến Khổ đế (là một trong tứ diệu đế): Sự thật về đau khổ có ba thứ làm chúng ta đau khổ là:Tuổi già, bịnh tật và cái chết. Ngay cả khi không già, không bịnh tật và chưa chết, con người vẫn đau khổ vì khi ta có những ham muốn và thèm khát nhưng ta không đạt được ước nguyện đó. Ngay cả khi thoả mãn những nhu cầu đó rồi sau đó ta vẫn chán nãn, không hài lòng nên dẫn đến đau khổ (1)

 Dầu nghèo nàn hay giàu có, dầu sang trọng hay hèn kém đều đã trải nghiệm đau khổ.

Nếu nghèo không có tiền đi bác sĩ mua thuốc trị bịnh. Khổ vì không có tiền để trả tiền điện, nước, tiền chợ, tiền sinh hoạt tối thiểu cho các nhu cầu căn bản để sống còn, để tồn tại. Khổ vì nợ nần chồng chất không biết bao giờ trả được.

Người có tiền cũng khổ; hoặc bị mất tiền vì bị lường gạt, bị đánh cắp, hoặc con cái hư hỏng không chịu học hành theo băng nhóm hút sì ke, ma túy, phá làng phá xóm v.v…

Có người đau khổ vì bị người yêu bất ngờ chia tay.  

Khổ thể xác vì không đủ cơm ăn, áo mặc, cực nhọc cả ngày, đổ mồ hôi để kiếm miếng ăn.

 Khổ vì chẳng may gặp gặp bịnh nan y như ung thư, stroke heart attack rồi bị tê liệt nằm một chỗ không chữa trị được.    

Hoặc con người bị bịnh đui mù, què quặt do bẩm sinh hay do biến chứng từ các bịnh khác.

Khổ tinh thần vì mất người thân yêu, mất do tai nạn trên bờ như bị xe đụng hay tai nạn dưới nước như tắm biển, câu cá bị nước cuốn, hay bị lật thuyền.

Con người còn bị đau khổ vì mất chức, mất quyền, mất tiền bạc v.v…

Con người còn chịu đau khổ vì bị mất danh dự do bị vu cáo, vì vô tình hay cố ý bị đặt chuyện, dựng chuyện để nói xấu, hạ uy tín, hạ nhục làm cho chúng ta đau khổ.

 2)Đau khổ không chừa một ai. Còn sống là còn đau khổ.

*Cảm nghiệm đau khổ, cay đắng, đau đớn khi tôi mất đi đứa con trai đang sống chung trong nhà chỉ mới 48 tuổi. Đóng góp mọi thứ sinh hoạt trong gia đình. Ra đi vì tai nạn khi hai con còn nhỏ 16 và 11 tuổi. Con trai tôi chịu sống chung mặc dầu đủ điều kiện ra ở riêng. Ở chung nhà để đóng góp mọi chi phí sinh hoạt trong nhà như điện nước, thuế má…

Khi vắng bóng con trai, bầu khí trong nhà vô cùng trống vắng, vẫn còn cảm giác con tôi đi đâu đó, sẽ trở về?

*Sau tháng 04 năm 1975, đang có đời sống tự do thoải mái với vợ và các con. Bị cộng sản lường gạt, kêu gọi “trình diện học tập cải tạo”, đi trình diện, bị tù gần 8 năm trong các trại tù trong rừng núi âm u, sơn lam, chướng khí ở miền Bắc như Lào Cai, Vĩnh Phú… bị bỏ đói triền miên. Ăn bo bo không xay, ăn khoai mì (ngoài bắc gọi là sắn) cứng ngắt, ăn bắp, khoai trừ cơm. Mỗi bữa cơm vài khúc khoai mì đắng nghét, hoặc vài trái bắp cứng ngắt với tô canh rau cải chỉ lỏng bỏng nước và rau.

Trong tù tất cả anh em đều sụt cân, ốm nhom ốm nhách như những bộ xương cách trí biết đi. Những năm 1978, 1979 cứ vài ngày anh em tù chúng tôi đã ra đi vì kiệt sức.

Đây là cảm nghiệm đau khổ lâu dài nhất.

 * Cuộc đời của thánh Gióp cũng là bài học suy gẫm về cuộc đời mà nhiều người hay than thở “đời là bể khổ”.

Ông Gíóp là người kính sợ Thiên Chúa. Bảy người con trai và ba người con gái đều chết hết và tài sản của ông cũng bị cướp hết nhà cửa không còn.

Bấy giờ ông Gióp trỗi dậy, xé áo mình ra, cạo đầu sấp mình xuống đất, sụp lạy và nói:

“Thân trần truồng sinh ra từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. ĐỨC CHÚA đã ban cho, ĐỨC CHÚA lại lấy đi: Xin chúc tụng danh ĐỨC CHÚA (Gióp 1-20,21)

3)Tại sao Thiên Chúa là Đấng tốt lành và nhân từ vô cùng lại để chúng ta phải chịu đau khổ?

Lm Paul O’Sullivan đã viết như sau:

*Nguyên nhân rất đơn giản chỉ vì đau khổ là một hồng ân trọng đại (trang 113) (1)

Khó khăn lớn nhất về đau khổ là chúng ta không biết cách chịu đau khổ.

(trang 115) (2)

Những đau khổ hằng ngày của chúng ta, đau khổ nhỏ nhất cũng như đau khổ lớn nhất, nếu như chịu được cho nên, sẽ đem lại cho chúng ta triều thiên tử đạo.

-Nếu chúng ta không chịu đau khổ cho nên thì chúng ta sẽ bị mất hết các ân sủng và phần thưởng vô giá mà đau khổ lẽ ra đã đem đến cho chúng ta.

Chúng ta hãy ghi nhớ những điều này về vấn đề đau khổ:

*Mỗi khi gặp đau khổ, chúng ta được thông phần vào cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu Kitô, vì thế đau khổ đem lại một công phúc khôn lường.

*Nếu chúng ta biết chấp nhận một cách nhẫn nại vì lòng mến Chúa, đau khổ sẽ mất hết nọc độc và sự cay đắng của nó.

*Nếu chúng ta cầu xin, nhất định Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta dư đủ sức mạnh để chấp nhận đau khổ Người gởi đến cho chúng ta.

*Những đau khổ sẽ cứu chúng ta khỏi những cực hình ghê rợn trong luyện ngục.

*Đau khổ, nếu chịu cho nên, sẽ làm cho chúng ta trở nên những vị thánh.(3)

(1) (2) (3) Trích Sách “Con đường nên thánh dễ dàng” của Lm Paul O’Sullivan, O.P

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

(1) Tứ diệu đế là gì?

Ngày 25-10-2021

Đảng Cộng sản Việt Nam quyết chống lại xã hội dân sự đến cùng?

Đảng Cộng sản Việt Nam quyết chống lại xã hội dân sự đến cùng?

Bởi  AdminTD

 Jackhammer Nguyễn

26-10-2021

Nhà nước của Đảng Cộng sản Việt Nam ghét cay ghét đắng xã hội dân sự là chuyện ai cũng rõ, vì nếu có tồn tại một xã hội dân sự, thì sự toàn trị của Đảng bị chấm dứt.

Nhưng câu chuyện Tịnh Thất Bồng Lai ở tỉnh Long An, cho thấy sự hằn học của chế độ đối với xã hội dân sự bước thêm một bước mới, hay nói đúng hơn là Đảng dùng một phương cách mới để loại bỏ xã hội dân sự, đó là truyền thông dân túy xã hội đen.

Nếu bạn đọc nào chưa tường minh câu chuyện Tịnh Thất Bồng Lai, xin theo dõi câu chuyện đó qua bản tóm tắt rất đầy đủ của nhà báo Lê Đại Anh Kiệt, từ Việt Nam.

Những sự kiện mà mà nhà báo Lê Đại Anh Kiệt đưa ra để chứng minh rằng, Tịnh Thất Bồng Lai là một tổ chức từ thiện thật sự, được rút ra từ chính báo chí nhà nước Việt Nam, hơn một năm trước đây.

Nhưng chính những kết quả tốt đẹp của một tổ chức từ thiện làm cho Đảng chột dạ, mà lo ngại nhất là các tổ chức sai nha của Đảng, như Giáo hội Phật giáo quốc doanh và các viên chức công an xã. Giáo hội quốc doanh địa phương không thu được cảm tình, và kèm theo đó là tiền công đức của Phật tử, nên bực tức, các viên chức công an xã ăn hối lộ không được (đòi vài trăm triệu để làm chứng minh nhân dân cho các cháu bé), nên cũng bực tức. Đảng phải bảo vệ các sai nha này, bảo vệ họ cũng là bảo vệ chế độ.

Trong cuộc phản công chống lại xã hội dân sự này, Đảng có thêm một đồng minh bất ngờ, đó là các kênh YouTube lá cải. Gương mặt tiêu biểu cho truyền thông mạng xã hội dân túy lá cải này là bà Nguyễn Phương Hằng, vợ của một nhân vật tài phiệt nổi tiếng, cả tiếng tăm lẫn tai tiếng, là ông Dũng Lò Vôi ở Bình Dương.

Thoạt tiên, bà Hằng dùng kênh YouTube của mình để tấn công các nhân vật showbizz nổi tiếng. Với một ngôn ngữ tinh tướng, bình dân, bà Hằng thu hút hàng triệu người xem, vượt qua các cơ quan ngôn luận của Đảng. Trên Tiếng Dân, tôi có viết về bà Hằng khi bà ta mới xuất hiện, qua bài: Các góc nhìn khác nhau về “hiện tượng” Nguyễn Phương Hằng.

Tôi cho rằng, xem những chuyện lá cải của bà Hằng dù sao cũng sống động hơn các bài tuyên truyền buồn chán của Đảng. Lúc ấy tôi cho là bà ta sẽ không đụng đến Đảng với sự tinh khôn ranh mãnh của một doanh nhân “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Bà ta đã không đụng đến Đảng, và còn đi xa hơn là… hợp tác với Đảng, trong một chiến dịch tấn công Tịnh Thất Bồng Lai. Một số bằng chứng đáng tin cậy cho thấy, các nhân vật gọi là … nhân chứng của bà Hằng lại là nhân viên công an.

Điều này không làm tôi ngạc nhiên nếu nó xảy ra, vì trước hay sau thì bà ta cũng sẽ hợp tác. Đó là mẫu số chung của tầng lớp trung lưu Việt Nam hiện nay, là đời sống của họ gắn liền vào chế độ: Thần cậy cây đa, cây Đa cậy Thần, huống hồ chi gia đình bà Hằng thuộc loại trung lưu tầng lớp trên, tạo nên sự nghiệp nhờ vào việc sử dụng tài nguyên đất đai do … Đảng và Nhà nước quản lý.

Về phía Đảng, việc sử dụng những lực lượng “quần chúng tự phát” như bà Hằng cũng không phải là lần đầu tiên. Họ đã sử dụng nó trong cải cách ruộng đất, lúc “cải tạo tư bản công thương nghiệp”, khi đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, biểu tình đòi đất của nông dân, biểu tình chống ô nhiễm môi trường như vụ Formosa…

Sử dụng những người như bà Hằng trong chuyện Tịnh Thất Bồng Lai, Đảng có nhiều cái lợi:

– Thứ nhất, đó là những công việc hạ cấp (dirty work), nếu Đảng tránh làm sẽ giữ được uy tín. Đảng chỉ đứng bên ngoài phụ họa, như một số bài trên Vietnamnet, Kênh14… té nước theo mưa.

– Thứ hai, Đảng lấy được tiếng tôn trọng tự do ngôn luận, đối với “những tiếng nói” phi truyền thống như của bà Hằng.

Dùng câu chuyện Tịnh Thất Bồng Lai, nhuốm màu tôn giáo, Đảng còn có thể lấy được cảm tình một tầng lớp tương đối có học thức ở thành thị, vốn nghi ngại những tổ chức có màu sắc tính ngưỡng bình dân (Cao Đài, Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương…).

Tôi đã từng vạch rõ, rằng Đảng Cộng sản Việt Nam để cho các YouTube tin vịt hải ngoại lan tràn bên trong nước mà không ngăn chận, vì những tin vịt do Donald Trump và phe nhóm tung ra chỉ làm mất uy tín cho nền dân chủ Mỹ trong con mắt dân chúng Việt Nam. Nay Đảng mở rộng hoạt động, thêm vào những đồng minh nội địa, mà lời ăn tiếng nói, phong cách cũng không khác gì các kênh YouTube hải ngoại pro-Trump phao tin vịt.

Chiến thuật mới này của Đảng Cộng sản Việt Nam rất có hiệu quả trong việc tấn công vào xã hội dân sự Việt Nam đang manh nha hình thành, nhất là trong thời kỳ vàng thau lẫn lộn đầy tin vịt, trong khi các cơ quan với sứ mạng truyền thông Việt ngữ, nhận tiền thuế từ chính phủ Hoa Kỳ, im hơi lặng tiếng.

Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam nên lưu ý, “cứu cánh biện minh cho phương tiện” không bao giờ đưa đến điều gì hay ho. Việc dung túng các loại YouTube tin vịt, bệnh hoạn đủ loại từ hải ngoại cho tới quốc nội, sẽ phản tác dụng, “gậy ông đập lưng ông”. Và coi chừng, đến một lúc nào đó thì phù thủy sẽ lụy âm binh.

Báo quốc doanh!

Báo quốc doanh!

Bởi  AdminTD

Nguyễn Đình Bổn

26-10-2021

Hôm trước có báo Thanh Niên “xuất khẩu bất động sản” thì nay có báo Tuổi Trẻ “Tăng ni, phật tử cung nghinh Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ về cõi niết bàn“!?

Cái tựa trên 10 chữ đã sai nghiêm trọng về diễn đạt và thuật ngữ Phật giáo. Nếu tăng ni, Phật tử mà cung nghinh ông hòa thượng về cõi niết bàn hẳn là họ đang đứng đó (cái cõi niết bàn á) để đón ông. Nếu vậy cái cõi niết bàn đó đông vui phải biết! Mà làm gì có cõi niết bàn?

Ảnh chụp màn hình

Bởi niết bàn trong Phật giáo không phải là một cõi thiên đường như Thiên chúa giáo, mà đó là một trạng thái tâm linh hoàn toàn vắng lặng, thanh tịnh, không còn bất cứ khởi niệm nào khi một cá nhân đã diệt tham ái và chấm dứt phiền não, khổ đau.

Ông Đoàn Trung Còn (1908–1988), pháp danh Hồng Tai, hay Tỳ kheo Thích Hồng Tại, là một cư sĩ Phật giáo và học giả Phật học có tiếng tại Việt Nam Cộng Hòa, giải thích: Niết bàn là “cảnh trí của nhà tu hành dứt sạch các phiền não và tự biết rằng mình chẳng còn luyến ái”!

Do tính chất ngôn ngữ của con người chỉ có thể mô tả cái chúng ta thấy, ta biết trong thế giới này nên thuật ngữ niết bàn rất khó diễn đạt cho rõ ràng.

Tương truyền có người hỏi Thích Ca: Sau khi chết, người giác ngộ sẽ đi về đâu? Phật sai người ấy lượm củi khô, nhóm lửa. Càng nhiều củi, lửa càng cháy mạnh, khi không bỏ thêm củi nữa thì đám lửa lụi tàn dần. Phật hỏi: “Lửa đi về đâu?”, “Không! Nó chỉ tắt”.

Củi như một ví dụ là nhiên liệu của cõi tham ái này. Khi chúng ta vẫn còn tham sống, tức là bỏ thêm củi vào lửa, năng lượng đó làm ta luân hồi trong vô minh. Không còn củi, không còn tham sân si, không còn cả ước muốn thành Phật, đó là vô ngã. Hết củi, lửa tắt. Mọi phiền não chấm dứt, cứu cánh thanh tịnh. Hành giả vẫn còn tại thế gian nhưng đã chứng ngộ niết bàn thì gọi hữu dư niết bàn và khi thân xác hoại diệt là vô dư niết bàn.

Còn sự chứng ngộ đó an lạc ra sao, thanh tịnh thế nào, chỉ người chứng ngộ mới hiểu.

Facebooker gây nhiều tranh cãi Nguyễn Phương Hằng bị nhà báo kiện

Facebooker gây nhiều tranh cãi Nguyễn Phương Hằng bị nhà báo kiện

27/10/2021

Bà Nguyễn Phương Hằng trong một buổi livestream. Các chương trình livestream của bà đã thu hút đông đảo khán giả ở Việt Nam

Bà Nguyễn Phương Hằng, một trong những người tường trình trực tiếp qua mạng (livestreamer) được theo dõi nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay vốn đã lên tiếng tố cáo nhiều nghệ sỹ trong nước ‘ăn chặn tiền từ thiện’, giờ đây bị kiện về tội ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích hợp pháp của cá nhân’ theo điều 258 Bộ Luật Hình sự của Việt Nam.

Người đứng đơn kiện là ông Nguyễn Đức Hiển, phó Tổng biên tập báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hiển gửi đơn tố cáo bà Hằng đến Công an tỉnh Bình Dương hôm 26/10, tờ Tuổi Trẻ đưa tin.

Theo nội dung đơn kiện được Tuổi Trẻ dẫn lại, ông Hiển cáo buộc bà Hằng ‘hoàn toàn bịa đặt, vu khống’ những nội dung nói về ông trong những buổi livestream của bà, và điều này ‘đã xâm hại nghiêm trọng những giá trị mà ông nỗ lực xây dựng’.

Nguyên đơn cho rằng bà Hằng ‘đã có hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vu khống, làm nhục ông’ cũng như tờ báo nơi ông đang làm việc.

“Việc bà Hằng xúc phạm, vu khống cá nhân tôi và các hoạt động nghề nghiệp của tôi đã trực tiếp gây ảnh hưởng tới hoạt động bình thường và uy tín của các tổ chức mà tôi là thành viên”, đơn kiện của ông Hiển viết. “Nhiều tin nhắn, bình luận của người đọc, người xem dưới các bài viết và đoạn phim của bà Hằng đã thể hiện sự công kích, tiêu cực sỉ vả tôi… trong thời gian dài”.

Hiện tại bà Hằng, vốn là doanh nhân nổi tiếng có chồng là ông Huỳnh Uy Dũng, tức Dũng Lò vôi, chủ Khu du lịch Đại Nam ở tỉnh Bình Dương, và đội ngũ luật sư của bà chưa có phản hồi chính thức về đơn kiện này. Bản thân bà Hằng là giám đốc điều hành (CEO) của Đại Nam.

Trước đó, ông Hiển đã công khai lên án bà Hằng ‘là phát ngôn thiếu chuẩn mực trên các nền tảng mạng xã hội’ và nói rằng bà Hằng ‘không thể cho mình quyền xúc phạm bất kỳ ai trên mạng’.

Đơn kiện của ông Hiển cho rằng bà Hằng ‘đã nhắm vào tính tò mò, sự bất bình về lòng tin của dư luận để tạo ra chấn động tiêu cực trong cộng đồng, khai thác các giá trị mạng xã hội để phục vụ cho lợi ích của cá nhân mà cố ý bỏ mặc các tác động tiêu cực của nó mang lại, như các lời lẽ thô tục, thiếu đạo đức, đi ngược với giá trị xã hội, gây hoang mang dư luận, gây chiến tranh tâm lý, chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, kích động người khác’.

Ngoài đơn kiện của ông Hiển, bà Hằng cũng đang bị kiện trong một vụ kiện khác với nguyên đơn là bà Lê Thị Giàu, Chủ tịch Công ty Thực phẩm Bình Tây với yêu cầu bồi thường lên đến 1.000 tỉ đồng. Bà Giàu tố cáo bà Hằng đã ‘vu khống, bịa đặt’ về bà khi nói bà là ‘doanh nhân lừa đảo’.

Bà Hằng đã làm dậy sóng mạng xã hội Việt Nam trong thời gian qua với những buổi livestream thu hút rất đông đảo người dân trong nước mà trong đó bà cáo buộc giới nghệ sỹ có nhiều điều xấu xa, trong đó có hành vi ăn chặn tiền từ thiện. Theo quan sát của VOA, không ít nghệ sĩ đã phản bác, phủ nhận.

Bà được biết đến với việc dùng lời lẽ mạnh bạo, có người cho là ‘có phần thô tục’, để tấn công các nghệ sỹ. Nhiều nghệ sỹ nổi tiếng cả trong nước và hải ngoại đã bị bà đem ra ‘mổ xẻ’. Tuy nhiên, nhiều cáo buộc của bà Hằng bị một phần dư luận cho là lời nói không có bằng chứng.

Những cáo buộc của bà Hằng đã gây ra nhiều tranh cãi. Mặc dù bà có lượng ủng hộ viên đông đảo hoan nghênh và ca ngợi hành động của bà, nhưng bà cũng đối mặt với rất nhiều lên án, chỉ trích.

Cookie Dương: ‘Tin giả tàn phá cộng đồng Việt từ trong ra ngoài’

Cookie Dương: ‘Tin giả tàn phá cộng đồng Việt từ trong ra ngoài’

VOA Tiếng Việt

25/10/2021

Những người lan truyền tin giả đánh vào nỗi sợ của cộng đồng gốc Việt tị nạn ở Mỹ để ‘kiểm soát suy nghĩ của họ’ và hậu quả của tin giả đã khiến nhiều gia đình tan nát và khiến họ có hành động gây hại cho lợi ích cộng đồng, một bạn trẻ gốc Việt đấu tranh chống tin giả nói với VOA.

Trong vòng mấy năm qua, nhất là trong cuộc bầu cử tổng thống của Mỹ hồi năm ngoái, hàng loạt các kênh tin giả của người Việt xuất hiện trên các kênh mạng xã hội như YouTube và Facebook mỗi ngày đều lan truyền những tin tức thất thiệt hay bóp méo về chính trị Mỹ. 

Nhận thức được về tin giả và tác hại của tin giả đối với cộng đồng, nhiều bạn trẻ Việt đã tình nguyện tham gia vào công việc kiểm chứng thông tin, biên dịch để phổ biến thông tin chính thống đến với cộng đồng người Việt lớn tuổi vốn không đọc được tiếng Anh nên dễ trở thành nạn nhân của tin giả.

Cô Cookie Dương, 23 tuổi, hiện đang làm công việc tư vấn kinh doanh tại Los Angeles, California, là một trong những bạn trẻ này. Cô là người sáng lập và điều phối trang Interpreter vốn chuyển dịch tin tức chính thống từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Nỗ lực của Cookie Dương và nhóm của cô đã gây được tiếng vang với kênh truyền hình HBO để họ làm một chương trình về nạn tin giả, khiến YouTube mới đây đóng cửa một kênh tin vịt vốn làm mưa làm gió trong cộng đồng người Việt thời gian qua.

‘Xây dựng cộng đồng lành mạnh’

“Rất nhiều người đã gửi những lời động viên đến Cookie và các bạn Interpreter, nhưng cũng có những lời lẽ rất khiếm nhã, nhưng con số đó rất nhỏ so với những lời động viên,” cô Cookie nói với VOA từ Los Angeles về hiệu ứng sau khi chương trình HBO phát sóng.

Cookie Dương nói công việc của cô và nhóm Interpreter ‘hoàn toàn bất vụ lợi’, ‘để giúp đỡ cộng đồng’ và ‘để tạo sức mạnh cho cộng đồng gốc Việt tham gia vào chính trị Mỹ một cách lành mạnh’.

Lý do cô khởi động dự án Interpreter hồi tháng 6 năm 2020 là ‘hết sức tình cờ’ khi cô vướng vào tranh cãi dữ dội với cha cô xung quanh cuộc biểu tình ‘Black Lives Matter’, cô cho biết. “Tôi nhận ra cách nhìn của tôi đối với các vấn đề nhức nhối của xã hội rất khác cách nhìn của ba. Ba tôi đang xem và đọc những kênh rất khác với những gì mà tôi đọc.”

“Khi tôi tìm hiểu vấn đề để giúp mình hiểu ba hơn, tôi đã tình cờ thấy được nạn tin giả trong cộng đồng người Việt tại Mỹ,” cô Cookie nói thêm.

Bắt đầu chỉ có mình cô, nhưng đến nay dự án Interpreter của Cookie Dương đã có đến 60 bạn trẻ là cộng tác viên, tình nguyện viên chuyên chuyển dịch tin tức từ các nguồn tin khả tín trên báo chí Mỹ, cô cho biết và mô tả những bạn trẻ này ‘rất có lý tưởng’, ‘rất yêu cộng đồng’ và cũng gặp vấn đề giống như cô là ‘có người thân trong gia đình là nạn nhân của tin giả’.

Nhóm Interpreter của cô trong giai đoạn bầu cử hồi năm ngoái ‘đã rất vất vả’ vì trên mạng của người Việt tràn ngập tin giả, theo lời cô, và hiện nay tập trung vào việc đưa tin đúng về vaccine ngừa Covid-19 cũng như đẩy lùi những thông tin thiên lệch hay phân biệt chủng tộc.

Cô cho biết nhóm của cô ‘không có thời gian để làm công tác kiểm chứng các tin giả được đưa trên các kênh mạng xã hội của người Việt’ vì ‘quá nhiều’.

‘Bịa chuyện và bóp méo’

Cô Cookie Dương, vốn đến Mỹ từ năm 11 tuổi và đã tốt nghiệp ngành Quan hệ Quốc tế ở Đại học Nam California, cũng trao đổi với VOA về những thủ thuật làm tin giả của những tay tin giả người Việt mà cô nhận ra được trong quá trình tìm hiểu.

Theo cô, cách mà những tay tin giả này thường dùng là ‘bóp méo, cắt nghĩa thông tin theo ý đồ của họ để thao túng người đọc.’

Thứ hai, họ ‘lấy nguồn tin chủ yếu từ những trang cánh hữu, cực đoan’ – tức là một phần nhỏ bức tranh để khiến khán giả có cái nhìn sai lầm về toàn bộ bức tranh.

Thứ ba là họ ‘bịa đặt những lời nói dối trắng trợn, chẳng hạn như ‘Biden có âm mưu với Trung Quốc hay có âm mưu với cộng sản, ngụy tạo hình ảnh Obama quỳ gối trước Iran…’, cũng theo lời Cookie Dương.

Cô giải thích lý do nhiều người Việt mê mẩn nghe và tin theo tin giả như sau: “Do di sản tị nạn của họ, họ chạy trốn khỏi Việt Nam để đến cho nên cách duy nhất để họ tiếp cận chính trị là đóng khung mọi thứ vào cộng sản hay không cộng sản.” 

“Họ [những người làm tin giả] chạm vào nỗi sợ hãi của người Việt để có thể kiểm soát được họ, cũng giống như [cựu Tổng thống] Trump đánh vào nỗi sợ hãi của những người da trắng cực hữu rằng đất nước của họ đang bị người da màu xâm lấn,” cô phân tích.

Giải thích vì sao có nhiều người Việt vẫn tin vào tin giả từ lần này đến lần khác mặc dù những thông tin này sau đó đều được thực tế chứng minh là ‘tin xạo’, cô Dương nói: “Rất ít người có thể tự nhận mình là sai, nhất là những người Việt lớn tuổi vốn được coi là đã đủ khôn ngoan.”

“Nếu những kẻ tung tin giả đã lan truyền thuyết âm mưu thì cho dù kết quả có đi về hướng nào đi nữa thì họ vẫn có thể nói bẻ sang một âm mưu khác,” cô giải thích.

Cô khẳng định nhờ vào việc lợi dụng sự nhẹ dạ của nhiều người Việt mà những người tung tin giả ‘có rất nhiều lợi nhuận từ số lượt xem, quảng cáo và bán hàng’.

Tác hại của tin giả

Do thông tin là sức mạnh nên cô Cookie Dương cho rằng hậu quả mà tin giả đem đến cho cộng đồng người Việt ở Mỹ ‘rất là tai hại’. Cô nói ‘nó tàn phá cộng đồng từ trong ra ngoài’.

“Nhiều gia đình đã tan nát. Nhiều bậc cha mẹ đã quá cực đoan đến nỗi họ từ con, khiến những đứa con đã quay đi, không bao giờ nói chuyện với cha mẹ của họ nữa vì những ý kiến của cha mẹ họ quá kinh khủng để họ có thể tiếp tục kết nối với cha mẹ,” cô cho biết.

Về phía cộng đồng Việt nói chung, cô Dương cho rằng khi những người Việt nhận thông tin sai lệch thì ‘họ sẽ đi bỏ phiếu đi ngược lại lợi ích của bản thân họ và có hại cho cộng đồng họ vì họ bầu cho những người không đại diện cho lợi ích của họ’.

Về tác hại của tin giả đối với nước Mỹ, cô Dương nói: “Tin giả tìm mọi cách làm xói mòn niềm tin vào nền dân chủ Mỹ, luôn kết nối những âm mưu gì đó với Trung Quốc hoặc là với cộng sản.” 

Cô cho biết, giới trẻ gốc Việt khi biết được về trang Interpreter của cô đã lên trang lấy thông tin gửi cho cha mẹ họ xem và họ nói với cô rằng ‘nó rất có ích’.

Cookie Dương nói cô ‘không mong tác động gì đến những người những người đã quá cực đoan’ mà ‘chỉ hướng đến giúp những người còn suy nghĩ lý trí’.

Sau khi xuất hiện trên kênh truyền hình HBO, cô cho biết ba của cô ‘chỉ nói là ba sẽ coi’.

“Ba của Cookie biết rằng dù ba có nói gì đi nữa cũng không thể thay đổi suy nghĩ của Cookie nên ba không tranh luận nữa,” cô cho biết. “Nhưng từ kinh nghiệm này ba mẹ Cookie sẽ rất cẩn thận khi đọc tin vì biết rằng con gái họ đang làm việc để chống tin giả.” 

Về tương lai của dự án Interpreter, Cookie Dương nói ‘sẽ tiếp tục đến chừng nào cộng đồng còn cần chống tin giả’ và cho rằng trong tương lai ‘cộng đồng sẽ cần việc kiểm chứng thông tin trực tiếp hơn’.

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Theo tôi thì phải gọi là đất nước đang đến hồi tàn mạt và sụp đổ!

Van Son

Nếu gọi là đất nước trên đà suy thoái thì e rằng không chính xác. Theo tôi thì phải gọi là đất nước đang đến hồi tàn mạt và sụp đổ!

Nguyễn Văn Tuấn nguyên giảng sư Đại Học Y Khoa New South Wales & University of Technology, Sydney:

Tôi vừa có một chuyến đi gần 1 tháng ở bên nhà. Đó là một thời gian tương đối dài đối với tôi, một phần là vì công việc, và một phần khác là nghỉ hè. Chính vì hai việc này mà tôi có dịp đi đây đó, và có dịp quan sát quê hương — không phải từ phòng máy lạnh, mà từ thực địa. Tôi e rằng những quan sát và cảm nhận của tôi hơi bi quan. Thú thật, tôi không thấy một Việt Nam sẽ “tươi sáng”, mà chỉ thấy một đất nước sẽ tiếp tục tụt hậu và lệ thuộc, nhất là trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN

  1. Một đất nước trên đà suy thoái.

Cái ấn tượng chung và bao quát trong chuyến về thăm quê là đất nước này đang trên đà suy thoái hầu như về mọi mặt. Mặc cho những con số thống kê kinh tế màu hồng được tô vẽ bởi Nhà nước, trong thực tế thì cuộc sống của người dân càng ngày càng khó hơn.. Hơn 70% dân số là nông dân hay sống ở miệt quê, nên chúng ta thử xem qua cuộc sống của một gia đình nông dân tiêu biểu, gồm vợ, chồng và 2 con. Gia đình này làm ra gạo để các tập đoàn Nhà nước đem đi xuất khẩu lấy ngoại tệ (và chia chác?) nhưng số tiền mà họ để dành thì chẳng bao nhiêu..

Gia đình này có thể có 5 công đất (hoặc cao lắm là 10 công đất), sau một năm quần quật làm việc “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, cả nhà chỉ để dành khoảng 10-15 triệu đồng, có khi còn không bằng một bữa nhậu của các quan chức. Cuộc sống của người nông dân là nợ triền miên.. Đầu mùa thì vay ngân hàng để mua giống, mua phân, mua thuốc trừ sâu; Thu hoạch xong thì phải trả nợ cộng tiền lời cho ngân hàng. Rồi đến mùa vụ kế tiếp thì cái vòng vay – trả nợ lại bắt đầu. Con của người nông dân đi học, thì mỗi đứa phải gánh ít nhất là 10 loại phí khác nhau, có khi lên đến 20 phí!

Các trường, các uỷ ban nhân dân, các cơ quan công quyền, v.v. đua nhau sáng chế ra những loại phí để moi móc túi tiền người dân vốn đã quá ít ỏi. Họ không cần biết người dân có tiền hay không, phí là phí, và phải đóng phí. Không ít gia đình không có tiền đóng phí nên cho con nghỉ học. Đã có tình trạng người dân không đủ tiền trả viện phí nên tìm đến con đường tự tử. Môi trường sống xuống cấp thê thảm. Sự gia tăng dân số gây áp lực vô cùng lớn đến môi sinh. Mật độ dân số tăng nhanh, ngay cả ở vùng nông thôn. Có thể nói rằng hầu hết các con sông ở VN đang chết. Tất tần tật, kể cả heo gà và có khi cả người chết, cũng bị vứt xuống sông.

Những con sông VN đang chết vì chúng đã biến thành những bãi rác di động khổng lồ. Đó là chưa nói đến sự xâm nhập của nước mặn vào các con sông vùng Đồng bằng sông Cửu Long, một phần là do mấy cái đập lớn Tàu xây trên thượng nguồn của sông. Tôi cho rằng sự suy thoái về môi trường là mối đe dọa lớn nhất đến sự tồn vong của đất nước. Ở đất nước này, chính quyền đã mắc cái bệnh vô cảm quá lâu, và bệnh đã trở thành mãn tính, rất khó cứu chữa.

Cái bệnh vô cảm của chính quyền nó còn lan truyền sang cả xã hội, mà trong đó mọi người dùng mọi phương cách và thủ đoạn để tranh nhau ngoi lên mặt đất mà sống… Có thể nói cả xã hội đang chạy đua. Cái chữ “chạy” ở VN đã có một ý nghĩa khác… Dân chạy để đưa con cái vào đại học, vào cơ quan Nhà nước để hi vọng đổi đời. Quan chức cũng chạy đua vào các chức vụ trong guồng máy công quyền, và họ chạy bằng tiền. Tiền dĩ nhiên là từ dân. Thành ra, cuối cùng thì người dân lãnh đủ. Sự suy thoái ở VN diễn ra trên mọi mặt, từ kinh tế, môi trường, y tế, giáo dục, đến đạo đức xã hội.

  1. Đất nước đang bị “bán”

Một anh bạn tôi vốn là một doanh nhân (businessman) thành đạt cứ mỗi lần gặp tôi là than thở rằng đất nước này đang bị bán dần cho người nước ngoài. Mà, đúng là như thế thật. Ở khắp nơi, từ Đà Nẵng, đến Nha Trang, tận Phú Quốc, người ta “qui hoạch” đất để bán cho các tập đoàn nước ngoài xây resort, khách sạn, căn hộ cao cấp. Một trong những “ông chủ” mới thừa tiền để mua tất cả của Việt Nam là người Tàu lục địa. Chẳng những đất đai được bán, các thương hiệu của VN cũng dần dần bị các tập đoàn kinh tế nước ngoài thu tóm và kiểm soát.

Chẳng hạn như các tập đoàn Thái Lan đã thu tóm những thương hiệu bán lẻ và hàng điện tử của Việt Nam.. Tuy nhiên, người dân có vẻ “ok” khi người Thái kiểm soát các cửa hàng này, vì dù sao thì người Thái đem hàng của họ sang còn có phẩm chất tốt và đáng tin cậy hơn là hàng hoá độc hại của Tàu cộng.

Đó là chưa kể một loại buôn bán khác: buôn bán phụ nữ. Phụ nữ Việt Nam được quảng cáo ở các nước như Tàu, Đài Loan, Singapore và Đại Hàn. Chưa bao giờ người Việt Nam chịu nhục khi con gái VN được cho đứng trong lồng kiếng như là những món hàng để người ta qua lại ngắm nghía và trả giá ! Thử hỏi, có người Việt Nam nào tự hào được khi đồng hương mình bị đem ra rao bán như thế… Xin đừng nói đó là những trường hợp cá biệt; đó là tín hiệu cho thấy một đất nước đang bị suy thoái về đạo đức xã hội.

  1. Tham nhũng tràn lan

Không cần phải nhờ đến tổ chức minh bạch quốc tế chúng ta mới biết VN là một trong những nước tham nhũng nhất thế giới. Chỉ cần tiếp xúc với hải quan, hay bất cứ cơ quan công quyền nào, người dân đều có thể nếm “mùi tham nhũng”. Tham nhũng từ dưới lên trên, từ bên này sang bên kia, từ cấp thấp đến cấp cao. Có khi tham nhũng công khai, và kẻ vòi tiền mặc cả cái giá mà không hề xấu hổ.

Các cơ quan Nhà nước phải hối lộ các cơ quan Nhà nước khác, và họ xem đó là bình thường. Ngay cả những ngành dịch vụ tưởng như là “trí thức” như giáo dục và y tế mà cũng tham nhũng, và vì họ có học nên tham nhũng ở hai ngành này còn “tinh tế” hơn các ngành khác! Có thể nói là tham nhũng (và hối lộ) đã trở thành một thứ văn hoá. Cái văn hoá này nó ăn sâu vào não trạng của cán bộ Nhà nước. Đã là văn hoá thì nó rất khó xoá bỏ một sớm một chiều. Ngay cả ông tổng Phú Trọng còn thú nhận rằng trạng tham nhũng như “ghẻ ruồi, rất ngứa ngáy, khó chịu”, nhưng cho đến nay ông cũng không làm được cái gì để giảm tình trạng này.

  1. Xã hội bất an

Có thể nói không ngoa rằng VN là một xã hội bất an. Đọc báo hàng ngày thấy tin tức về tội phạm dày đặc khắp nơi. Chẳng những sự phổ biến của tội phạm, mà sự manh động của các vụ án càng ngày càng táo tợn. Chưa nơi nào có những vụ giết người vô cớ như ở VN: Chỉ một cái nhìn cũng có thể dẫn đến cái chết! Đáng ngại nhất là tội phạm đã lan tràn về tận vùng quê.

Ở quê tôi, nơi mà ngày xưa là một làng êm ả, ngày nay là một cộng đồng bất an vì những vụ chém giết xảy ra hầu như hàng tuần ! Người dân dưới quê cảm thấy mệt mỏi, không muốn nuôi trồng gì nữa, vì nạn trộm cắp hoành hành triền miên. Nuôi cá chưa đủ lớn thì đã bị trộm câu mất. Trồng một cây mít, trái chưa chín thì đã có trộm hái dùm. Chưa bao giờ tình trạng trộm cắp phổ biến như hiện nay ở vùng nông thôn.

Đó là chưa nói đến tai nạn giao thông vốn còn kinh hoàng hơn cả trộm cắp. Ở VN, bước ra đường là chấp nhận rủi ro tai nạn, thậm chí chết vì sự hỗn loạn của hệ thống giao thông. Thật vậy, tai nạn giao thông ở VN đã và đang trở thành nỗi kinh hoàng của không chỉ người dân địa phương mà còn ở du khách. Một dạng bất an khác là (mất) an toàn thực phẩm.

Có thể nói rằng đây là vấn đề làm cho cả dân số quan tâm nhất (theo như kết quả của một cuộc điều tra xã hội chỉ ra).. Đi đến đâu, ở bất cứ thời điểm nào, người ta cũng nói đến những loại hàng hoá độc hại được tuồn vào thị trường Việt Nam từ một cái nguồn quen thuộc: Tàu cộng. Ngay cả ở dưới quê tôi, người dân còn không dám mua trái cây có xuất xứ từ Tàu.. Không có một nông sản nào của Tàu sản xuất được xem là an toàn.

Ngày nay, ngay cả các bợm nhậu cũng e dè những món ăn ở nhà hàng, quán nhậu, vì không ai dám chắc đó là hàng hoá của VN hay của Tàu. Nhưng điều đáng buồn nhất là sự tiếp tay của các doanh nghiệp Việt Nam để cho hàng hoá Tàu hoành hành đất nước ta và dân tộc ta. Thật không ngoa khi gọi những doanh nghiệp này là “gian thương”. Cũng không ngoa để nói rằng gian thương cấu kết với những cán bộ tham nhũng đang giết chết kinh tế nước nhà và người dân.

  1. Trí thức không có tiếng nói, không có phản đối

Theo dõi báo chí ở VN, dễ dàng thấy sự trống vắng tiếng nói của giới trí thức. Trước một sự kiện tương đối quan trọng như đại hội đảng csvn, mà không hề có bất cứ một bình luận độc lập nào, không hề có một bài phân tích về các nhân vật chóp bu trong đảng, hoàn toàn không có một phát biểu mang tính viễn kiến của bất cứ một nhân vật “lãnh đạo” tương lai nào!

Thay vào đó là những tiếng nói của những người mang danh “sư sĩ” nhưng cách họ nói và ngôn ngữ của họ thì chẳng khác sự “cò mồi” là bao nhiêu.. Trước hiện tình đất nước, giới có học nói chung có vẻ lãnh đạm. Họ không quan tâm. Họ thường chạy trốn thực tế bằng cách biện minh rằng “chỉ lo việc chuyên môn”… Thật ra, cũng khó trách họ, vì nếu họ nói ra những ý kiến thì có thể sẽ bị phạt nặng nề, thậm chí tù đày. Ngay cả yêu nước là một tình cảm thiêng liêng mà cũng phải được tổ chức và … cho phép. Một xã hội đối xử với giới trí thức như thế thì làm sao bền vững được.

  1. Guồng máy quản lý bất tài

Thật ra, sự bất tài của quan chức Nhà Nước không còn gì là bí mật. Vì bất tài, nên họ thường “sản xuất” ra những quy định hài hước, và có khi cực kỳ vô lí và phi khoa học. Chúng ta còn nhớ trước đây, họ cho ra quy định mang danh “ngực nở chân dài” để được lái xe ô-tô, gây ra một trận cười cấp quốc gia. Tưởng như thế đã là hi hữu, ai ngờ họ lạ tái xuất với một quy định “trời ơi”: Xe ô-tô 4 bánh phải có bình chữa cháy. Quy định này làm trò cười cho cả thế giới và các hãng sản xuất xe hơi.

Tưởng quy định như thế đã là vô lý, họ còn cho ra một quy định “trên trời” như xe trên 10 chỗ ngồi phải có găng tay và khẩu trang lọc độc! (Tất nhiên, không phải ai trong guồng máy Nhà nước đều là bất tài, vẫn có người tài đó, nhưng cái ấn tượng chung mà người dân có thì đó là một guồng máy gồm những người bất tài, ăn bám nhân dân).

  1. Tuy bất tài, nhưng guồng máy đó rất giỏi trong việc hành hạ dân

Sự hành dân của guồng máy quản lí & hành chính của Việt Nam phải nói là vô song trên thế giới. Đối với người dân, có việc đến cổng công đường là một nỗi sợ, một cơn ác mộng. Hầu như không có một việc gì, từ nhỏ đến lớn, mà trôi chảy lần đầu khi đến gặp các quan chức Nhà nước. Tôi về quê và nghe nhiều câu chuyện hành dân mà nói theo tiếng Anh là “incredible” — không thể tin được.

Chỉ cần cái họ viết sai dấu (như “Nguyển” thay vì “Nguyễn”) là cũng bị hành và tốn tiền triệu! Những lỗi sai chính tả đó là của họ (quan chức, cán bộ), nhưng họ vẫn hành dân một cách vô tư.. Họ tìm mọi cách, mọi lúc để“đá” dân từ cơ quan này sang cơ quan khác, và biến dân như những trái banh để họ làm tiền. Thực dân Pháp ngày xưa có lẽ cũng không hành dân như cán bộ nhà nước ngày nay.

Năm 2016 này Việt Nam sẽ tham gia cộng đồng Kinh Tế ASEAN (ASEAN Economic Community hay AEC). Mục tiêu là hình thành một cộng đồng kinh tế có khả năng cạnh tranh cao, hàng hoá và dịch vụ, đầu tư sẽ tự do lưu chuyển giữa các nước thành viên. Tôi ghé thăm một đại học lớn ở Thái Lan vào năm 2013, và giới trí thức bên đó đã bàn rất nhiều về viễn cảnh này, họ tư vấn cho chính phủ để chuẩn bị hoà nhập vào AEC…

Nhưng ngạc nhiên thay, ở VN rất ít thảo luận về AEC và những tác động của nó đến cuộc sống của người dân! Nhưng với tình trạng suy thoái, đất nước bị “bán”, tham nhũng tràn lan, xã hội bất an, trí thức không có tiếng nói, guồng máy quản lý bất tài nhưng giỏi hành dân, thì không nói ra, chúng ta cũng biết là khả năng cạnh tranh của VN không cao trong AEC. Khả năng cạnh tranh không cao rất có thể dẫn đến nguy cơ lệ thuộc.

Tái bút : Nhiều người khi đọc những bài và ý kiến như thế này thường hỏi một cách hằn học rằng “ông có phải là người Việt Nam hay không mà phê phán đất nước như thế”, “ông đã làm gì cho đất nước này”, hay “nói thì hay, vậy giải pháp là gì”, v.v.

Tôi nghĩ những câu hỏi đó không tốt mấy, và có phần … lạc đề. Vấn đề là cái xấu đang hoành hành đất nước này, chứ đâu phải tôi là ai hay tôi đã làm gì cho đất nước. Chẳng lẽ chỉ có người có công và đóng góp cho đất nước mới được“phép” phê bình sao.

Nghĩ như thế thì e rằng quá nhỏ mọn. Mà, muốn biết tôi đã làm gì thì cũng chẳng khó khăn gì trong thời đại google này. Giải pháp nó nằm ngay ở mỗi cá nhân chúng ta. Mỗi người cần phải làm tốt và sống tử tế là giải pháp tốt nhất để đẩy lùi cái ác, cái xấu, cái bất công, cái bất cập trong xã hội.

Gs/Bs Nguyễn Văn Tuấn

GHEN TỊ-(Bài giảng của Thánh Gioan Vianney)

May be an image of 1 person and text that says 'Ghen tị thì được lợi lộcgi? Chẳng được gì hết! Chúng ta có giàu hơn khi người khác nghèo hơn không? Chúng ta có hạnh phúc hơn khi họ đau khổ hơn không? Chúng ta bất hanh khi trở than người ghen tị! -Cha Thánh Gioan Vianney'

GHEN TỊ.

(Bài giảng của Thánh Gioan Vianney)

Ghen tị là sự buồn phiền chúng ta cảm nhận khi thấy người khác có điều tốt lành.

Ghen tị và kiêu ngạo là anh em với nhau, ai ghen tị thì cũng kiêu ngạo. Ghen tị đến từ Hỏa Ngục, ma qủy đã phạm tội kiêu ngạo và ghen tị, nó ghen tị vì thấy chúng ta được Thiên Chúa yêu thương, ban cho chúng ta hạnh phúc vinh quang.

Tại sao chúng ta ghen tị với hạnh phúc và sự lành của người khác?

Là bởi vì chúng ta kiêu ngạo; chỉ muốn mình là người duy nhất trên thế gian sở hữu những của cải, tài năng, được sự kính nể và yêu mến của mọi người. Chúng ta ghen tị với những người ngang hàng được trỗi vượt hơn mình; chúng ta ghen tị với những người cấp dưới được ngang hàng với mình. Cũng thế, ma qủy từ khi bị sa ngã cảm thấy giận dữ và ghen tức khi thấy chúng ta được thừa kế vinh quang của Thiên Chúa; người ghen tị cũng cảm thấy khó chịu khi thấy những người xung quanh được giàu có về vật chất lẫn tin thần.

Chúng ta cũng giống ma qủy khi bước theo vết chân của nó, chúng ta bực tức với điều lành và thích thú với điều dữ. Nếu có ai bị mất mát điều gì, nếu họ phạm sai lầm, kém may mắn, bị sa sút thì chúng ta khoái chí. Ma qủy cũng thế, nó thích thú khi chúng ta phạm tội, hay khi nó làm cho chúng ta sa ngã.

Ghen tị thì được lợi lộc gì? Chẳng được gì hết! Chúng ta có giàu hơn khi người khác nghèo hơn không? Chúng ta có hạnh phúc hơn khi họ đau khổ hơn không? Chúng ta bất hạnh khi trở thành người ghen tị!

Thánh Cyprian nói: “ Những tội khác thì còn có giới hạn, còn tội ghen tị thì không! “ Thực tế, người ghen tị còn có nhiều tội độc hại khác như: nói xấu, vu khống, xảo quyệt, lặp đi lặp lại những gì mình biết, còn điều không biết thì bịa đặt ra, hay thổi phồng lên.

Qua sự ghen tị của ma qủy, cái chết đã đi vào thế gian, và cũng qua sự ghen tị, chúng ta giết hại những người khác bởi những ác ý lừa dối, làm người khác mất danh dự, địa vị hay việc làm. Người tín hữu tốt lành không bao giờ làm như vậy.

Họ chẳng ghen tị với ai, nhưng yêu thương mọi người; vui mừng khi người khác gặp điều tốt lành, đau xót và cảm thông khi bất hạnh xảy đến với người khác. Nếu chúng ta là những tín hữu tốt lành, chúng ta sẽ hạnh phúc biết bao!

Hãy trở nên những tín hữu tốt lành, chúng ta sẽ không còn ghen tị với người khác; chúng ta sẽ không bao giờ nói xấu ai; chúng ta sẽ hân hoan vui sướng, tâm hồn chúng ta sẽ tràn ngập bình an; và chúng ta sẽ nhìn thấy Thiên Đàng hiện diện ngay trong thế giới, ngay trong cộng đoàn, và ngay trong gia đình của chúng ta.

Sưu tầm.

Từ quốc gia mù chữ, nghèo tài nguyên, Singapore đã vươn lên thành ‘con rồng châu Á’ thế nào?

Ho Quang Vinh

Đáng để học hỏi.

Từ quốc gia mù chữ, nghèo tài nguyên, Singapore đã vươn lên thành ‘con rồng châu Á’ thế nào?

Nửa thế kỷ trước, Singapore là một đất nước nghèo nàn với đa số người dân mù chữ và không có tài nguyên. Ngày nay, họ trở thành quốc gia có nền giáo dục hàng đầu thế giới và là con rồng Châu Á. Nhớ lại những ngày đầu lập quốc, Singapore còn chỉ hy vọng một lúc nào đó sẽ phát triển giống như Sài Gòn (theo BBC).

Năm 1965, thu nhập bình quân đầu người của Singapore ở mức 500 USD, đến năm 1991, con số này là 14.500 USD. Vào năm 2010, GDP bình quân đầu người đã đạt mức 56.532 USD tính theo đồng giá sức mua (PPP), cao nhất trên thế giới (Theo tờ Wall Street Journal, báo cáo từ Knight Frank và Citi Private Wealth).

Nhìn vào điều kiện tự nhiên của Singapore thời bấy giờ, đất nước này chỉ có diện tích khoảng 700 km2, rộng hơn Hà Nội một chút (diện tích Hà Nội năm 1961 là 584 km2 theo cuốn Lịch sử Hà Nội của Papin Philippe năm 2001); và hiện nay dân số Singapore là khoảng 5.5 triệu người, thấp hơn dân số Sài Gòn ngày nay. Trong khi đó, tài nguyên thiên nhiên hoàn toàn không có gì, nguồn cấp nước thiếu thốn và gần như phải phụ thuộc hoàn toàn vào Malaysia.

Có nhiều yếu tố đã tạo nên kỳ tích ở quốc đảo sư tử. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến hai khía cạnh là giáo dục và tri thức, vốn là những nhân tố vô cùng quan trọng tạo nên bệ phóng cho sự phát triển thần kỳ đó.

Trọng dụng nhân tài

Nhân tài là yếu tố then chốt làm nên thành công của một quốc gia. Theo chính phủ Singapore: “Lãnh đạo xấu sẽ đuổi người tốt, người giỏi, không cho họ được giữ những chức vụ quan trọng”. Bởi vậy, rất nhiều người tài, có học vấn cao được tuyển chọn để nắm giữ chức vụ trong bộ máy lãnh đạo của đất nước.

Cac nhà lãnh đạo ở Singapore đều là những người có học vấn cao.

Ví dụ, vị Thủ tướng thứ hai của Singapore là ông Goh Chok Tong, tốt nghiệp tại trường Đại học danh tiếng Williams College (Mỹ), về chuyên ngành Phát triển kinh tế. Ông cũng là một người có tài năng, gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp chính trị.

Các quan chức và bộ trưởng của Singapore cũng đều tốt nghiệp các trường đại học nổi tiếng trên thế giới. Ông Phó thủ tướng Jayakumar phụ trách về an ninh quốc gia đã tốt nghiệp tại khoa Luật, trường Đại học Yale Law của Mỹ. Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao George Yong-Boon Yeo, cũng tốt nghiệp trường Cambridge của Anh. Bộ trưởng Chánh Văn phòng Nội các Lim Swee Say tốt nghiệp trường Loughborough của Anh. Bộ trưởng Bộ quốc phòng Teo Chee Hean, tốt nghiệp trường Đại học Hoàng gia Imperial College London – Anh.

Singapore không những tìm và sử dụng người tài trong công dân nước mình, mà còn thu hút nhân tài từ nước khác đến. Người tài đến Singapore làm việc, được định cư lâu dài, và được gia nhập quốc tịch một cách dễ dàng.

Xây dựng nền giáo dục song ngữ

Singapore đã giành được độc lập từ nước Anh. Tuy nhiên, đất nước này không loại bỏ tiếng Anh trong giáo dục cũng như đời sống hàng ngày. Cả bộ máy hành chính mà người Anh xây dựng lên ở Singapore trong hơn 100 năm đô hộ cũng không bị loại bỏ. Tất cả những nền hành chính tiên tiến đó đều được tiếp thu và vận dụng ở Singapore. Nhân dân được tự do cư trú, quyền tư hữu không bị xóa bỏ.

alt

Vườn Nam là công trình lớn nhất với diện tích 54 ha. Nó được mở cửa ngày 29/6/2012. Điểm nhấn của công trình là những cây nhân tạo khổng lồ cao tối đa 54 m, giúp hấp thu năng lượng từ ánh sáng mặt trời, hứng nước mưa và thoát hơi cho các tòa nhà gần đó. Phần thân cây trở thành nơi sống của các loài thực vật và cây leo.

Với Singapore: “Nắm vững tiếng Anh, đó là chìa khóa để giành lấy tri thức, công nghệ cao của phương Tây”.

Với tư duy đó, chính phủ Singapore lúc bấy giờ coi chương trình giáo dục song ngữ như nền tảng cốt yếu của hệ thống giáo dục. Khi đưa ra quyết định này, chính phủ cũng gặp phải một số phản đối từ công luận. Tuy nhiên, Singapore vẫn quyết định bằng mọi giá cần phải đưa tiếng Anh – ngôn ngữ chung của thế giới vào giảng dạy cùng với tiếng mẹ đẻ trong chương trình giáo dục phổ thông.

Lý do chính phủ kiên quyết với chính sách giáo dục song ngữ này là bởi, nếu Singapore chỉ dùng tiếng mẹ đẻ, thì một đất nước nhỏ như vậy sẽ gặp rất nhiều trở ngại khi tiến ra thị trường quốc tế. Và nếu đất nước chỉ tập trung vào đào tạo bằng tiếng Anh, thì tinh thần dân tộc và bản sắc văn hoá của Singapore sẽ bị mai một.

Chính sách giáo dục vô cùng khôn ngoan đã giúp các thế hệ Singapore vừa giỏi về tiếng Anh mà vẫn không kém đi về tiếng Hoa

Vậy là một hệ thống giáo dục kết hợp cả hai ngôn ngữ đã ra đời. Nếu các tiếng mẹ đẻ (bao gồm tiếng Hoa, Malaysia và Ấn Độ) gắn kết người dân Singapore bằng nguồn gốc, văn hóa thì tiếng Anh sẽ kết nối các dân tộc Singapore với nhau và với thế giới.

Thực tế đã chứng minh chính sách giáo dục vô cùng khôn ngoan này đã giúp các thế hệ người Singapore vừa giỏi về tiếng Anh mà vẫn không kém đi về tiếng Hoa. Tiếp bước Nhật Bản cải cách ngay từ nền tảng giáo dục, đảo quốc sư tử “hóa rồng” một cách ngoạn mục và vươn lên trở thành một trong những cường quốc châu Á.

Một nền giáo dục mang tầm quốc tế

Singapore ngày nay tự hào là một quốc gia có nền giáo dục tiên tiến nhất thế giới và là hình mẫu cho nhiều quốc gia khác học tập theo với các trường đại học nổi tiếng như Trường Đại học Quốc gia Singapore (NUS) được thành lập vào năm 1905, Trường Đại học Công nghệ Nanyang (NTU) được thành lập vào năm 1981 và Trường Đại học Quản trị Singapore được thành lập năm 2000. Bên cạnh đó, Singapore cũng là nơi nhiều trường đại học quốc tế từ các quốc gia có nền giáo dục phát triển bậc nhất thế giới chọn để đặt trụ sở, ví dụ như Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) với tên Singapore MIT Alliance tại Singapore hay Trường Đại học Stanford (Mỹ) với tên Singapore Stanford Partnership tại Singapore.

Trong một bài báo được đăng tải trên trang web của Trung tâm Belfer Center thuộc Đại học Harvard, Giám đốc dự án toàn cầu về Khoa học và Công nghệ, Giáo sư Calestous Juma đã trích dẫn thông điệp của chính phủ Singapore về sự thành công của một đất nước Singapore nhỏ bé nhưng giàu mạnh: “Chất lượng nguồn nhân lực chính là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của quốc gia. Đó là sự sáng tạo, mô hình kinh tế, kinh doanh, khả năng làm việc nhóm và nguyên tắc làm việc”.

Ông cũng nhấn mạnh vào sự quan trọng của tri thức trong việc phát triển kinh tế và bác bỏ sự tách bạch trong việc học thuật và thực tiễn: “Những người có tư duy tốt cần phải đào tạo họ thành những nhà phát minh, nhà sáng chế, nhà đầu tư, và doanh nhân giỏi; họ cần phải sáng tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới cho thị trường và làm đời sống của con người trên thế giới trở nên tốt đẹp hơn”.

***

Posted by: Truc Chi <trucsonchi@yahoo.com>

“XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY!”

“XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY!

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Ai trong chúng ta cũng dễ dàng cảm nhận được những thiệt thòi của người mù.  Họ không được nhìn thấy ánh sáng mặt trời.  Họ cũng không cảm nhận được niềm vui nỗi buồn nơi khuôn mặt những người thân.  Thế giới đối với họ là đêm tối trường kỳ.  Tin Mừng hôm nay nói đến một người mù đứng ăn xin tại cổng thành Giêricô.  Trong lúc Chúa Giêsu và các môn đệ từ trong thành đi ra, Người đã trông thấy, và, trước lời van xin của anh, Chúa đã chữa cho anh để anh có thể nhìn thấy như bao người khác.

Nếu người mù thể lý đã thiệt thòi như thế, thì người mù thiêng liêng lại còn thiệt thòi hơn.  Đức Thánh Cha Benêđitô XVI đã trả lời câu hỏi của nhà báo người Đức, ông Peter Seewald: “Ai chỉ biết tin vào những gì mắt trông thấy, thì người đó mù.”  Vị Giáo Hoàng người Đức còn diễn giải thêm về khẳng định này: “bởi vì người đó đã tự hạn chế mình vào một khoảng chân trời hạn hẹp, và không còn nhìn ra được cái cơ bản nữa.  Có ai thấy được trí khôn mình đâu.  Chính những cái quan trọng nền tảng ta không thể thấy thuần bằng mắt” (Thiên Chúa và Trần thế, Tr 23).

Trở lại với bài Tin Mừng hôm nay, thánh sử Mác-cô diễn tả anh mù như một người bị gạt ra bên lề xã hội: anh là một kẻ ăn xin, ngồi bên vệ đường.  Khi anh cố gào lên để có ý cho vị Ngôn sứ có tên là Giêsu nghe thấy, thì bị người ta mắng át đi, bởi anh chẳng là gì trong một đám đông ồn ào náo nhiệt.  Anh chỉ là một chấm nhỏ li ti trong bức tranh “chợ đời.”  Tuy vậy, cũng dưới ngòi bút của thánh Mác-cô, anh mù này lại có một cái nhìn sáng suốt.  Trong đám đông hỗn độn ấy, anh nhận ra vị Ngôn sứ đang đi ngang qua là con vua Đavít, điều mà không mấy người trong đám đông hỗn độn ấy nhận ra.  “Con vua Đavít là một danh xưng mà truyền thống Do Thái vẫn sử dụng để diễn tả Đấng Messia.

Thì ra, những người có con mắt sáng trong đám đông hôm ấy ở cổng thành Giêricô lại không nhìn thấy sứ mạng của Đức Giêsu.  Hơn thế nữa, họ còn đầy thành kiến và khinh thường đối với người mù ăn mày bên vệ đường.  Một cách nào đó, họ là những “người mù,” vì họ chỉ công nhận những gì mà họ nhìn thấy bằng con mắt thể lý.  Thánh Mác-cô kể lại hai phép lạ Chúa chữa người mù.  Trường hợp thứ nhất ở chương 8, câu 22 đến câu 26.  Người được chữa lành là người mù ở Bết-sai-đa.  Phép lạ chữa người mù lần thứ nhất đi liền với những lời cảnh báo phải thận trọng đối với men Pharisiêu và men Hêrôđê.  Chắc chắn thánh Mác-cô muốn khẳng định với chúng ta: quan niệm lầm lạc và ngây thơ trước những cám dỗ chính là một tình trạng mù thiêng liêng nguy hiểm.  Nếu chúng ta đọc trình thuật Chúa Giêsu chữa người mù bẩm sinh trong Tin Mừng Thánh Gioan thì sẽ thấy ngoạn mục hơn nữa (x. Ga 9,1-41).  Người này mù về thể lý, nhưng tinh thần lại hết sức tinh tường và khôn ngoan.

“Lòng tin của anh đã cứu anh!”  Đức tin là điều kiện cần thiết để được hưởng phép lạ.  Đức tin cũng mở mắt để chúng ta nhìn thấy những điều kỳ diệu Chúa đã và đang làm trong lịch sử cũng như trong đời sống cá nhân của mỗi chúng ta.  Tác giả Thánh vịnh 125 mời chúng ta hãy nhận ra những điều kỳ diệu ấy trong biến cố Thiên Chúa giải phóng dân Israen khỏi ách nô lệ Babylon, đưa người Do Thái về với quê hương xứ sở.  Đó cũng là sứ điệp hy vọng mà ngôn sứ Giêrêmia gửi đến cho người Do Thái lưu đày: “Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về, quy tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất…  Chúng trở về nước mắt tuôn rơi, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng tới dòng nước, qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã,” Lời của vị ngôn sứ như một tiếng thét vui mừng trước những điều kỳ diệu Thiên Chúa sẽ thực hiện vì yêu thương dân Ngài.  Sau những năm tháng lưu đầy đau khổ nhục nhằn, Thiên Chúa sẽ giải phóng dân Ngài.  Những người tha hương sẽ được về với quê cha đất tổ.  Trong số đó, có cả những người đui mù, què quặt và bệnh tật (Bài đọc I).

Khi chiêm ngưỡng những kỳ công của Chúa, người tín hữu được mời gọi kể lại hay loan báo những điều tốt lành Chúa đã làm.  Người mù ở thành Giêricô, sau khi được Chúa cho sáng mắt, đã đi theo Chúa.  Cuộc đời anh từ nay đã sang trang.  Trước đây, anh ước ao được sáng mắt để có cuộc sống như mọi người.  Nay, khi mắt đã sáng, anh quyết tâm đi theo Chúa Giêsu.  Anh nhận Người là lý tưởng của đời anh.  Anh đã trở thành môn đệ của Người.  Chúa nhật hôm nay là Chúa nhật cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo, hay còn gọi là Khánh nhật truyền giáo.  Chúng ta hãy ý thức bổn phận loan báo Tin Mừng của người tín hữu.  Truyền giáo là sứ mạng của Giáo Hội.  Truyền giáo cũng là sứ mạng của mỗi người tín hữu.  Truyền giáo không phải chỉ là những thừa sai lên đường đến những xứ sở xa xôi, cũng không chỉ là những nhà giảng thuyết uyên thâm lỗi lạc, mà còn là những nghĩa cử sẻ chia, những tâm tình thân ái mà chúng ta dành cho nhau trong cuộc sống thường ngày.

“Xin cho con được thấy!”  Đó là lời van xin của anh mù, đang ngồi ăn xin bên vệ đường, lối vào thành Giêricô.  Đó cũng là lời cầu xin của chúng ta để nhận ra tình thương của Ngài đang ấp ủ đồng hành chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế.  Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót.  Ngài tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta.  Chúa Giêsu là thày Thượng tế vĩnh viễn theo phẩm hàm Menkisêđê sẽ chuyển cầu cho chúng ta trước tòa Chúa Cha (Bài đọc II).

“Đời người giống như việc đi đường vậy, một bên là gian khổ, một bên là cảnh đẹp.  Ánh mắt bạn phóng được đến đâu, đó chính là cảnh giới của cuộc đời bạn.  Nếu thường xuyên nhìn thấy những người ưu tú hơn mình, điều đó cho thấy bạn đang trên đường lên dốc; Còn nếu thường xuyên nhìn thấy những người không bằng mình, điều đó cho thấy bạn đang xuống dốc và người khác đang phải cố gắng để lên dốc.  Thay vì oán thán, thà thay đổi cách nghĩ, mọi chuyện sẽ bớt nặng nề đi rất nhiều!” (Sưu tầm)

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim