Tiếp tục một năm u ám, CPJ nói ’21 nhà báo đang bị bỏ tù’ tại Việt Nam (BBC)

BBC

Nhà báo, nhà hoạt động Phạm Đoan Trang, người đang chịu mức án tù chín năm tù giam với tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” cùng các nhà báo khác và blogger đã được đề cập trong báo cáo của CPJ

Số lượng nhà báo bị bỏ tù trên toàn cầu lập ‘mức kỷ lục’ mới, theo báo cáo thường niên do Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (CPJ) công bố vào hôm nay 14/12.

Báo cáo về số nhà báo bị tù giam năm 2022 của CPJ, một tổ chức độc lập và phi lợi nhuận đóng tại Hoa Kỳ cho thấy:

“Năm 2022, cũng đánh dấu với sự xung đột và đàn áp, các lãnh đạo ở những thể chế chuyên chế thì tăng cường hình sự hóa việc đưa tin độc lập.”

‘Kỷ lục mới’

Theo báo cáo, tính đến ngày 01/12, đã có 363 nhà báo bị bắt giữ trên toàn cầu, con số cao nhất trong lịch sử 30 năm thực hiện báo cáo của CPJ.

Trước đó, báo cáo năm 2021 của CPJ cho thấy số nhà báo, phóng viên trên toàn cầu bị bỏ tù tăng cao, với tổng số 293 người bị giam giữ.

Số lượng nhà báo bị bắt giam tăng hơn 20% so với năm 2021.

Iran là quốc gia có số nhà báo bị giam giữ đông nhất với 62 người, xếp hạng tiếp theo là Trung Quốc (43 người), Myanmar (42 người) và Thổ Nhĩ Kỳ (40 người), Belarus (26 người), Ai Cập (21 người), Việt Nam (21 người).

Tại châu Á, số lượng nhà báo bị kết tội ‘chống nhà nước’ chiếm tỷ lệ cao nhất. Số liệu tại Trung Quốc được cho có thể không đầy đủ vì sự kiểm duyệt chặt chẽ của quốc gia này.

Theo CPJ, điều này cho thấy một cột mốc tăm tối khác trong bức tranh truyền thông toàn cầu “đang đi xuống”.

’21 nhà báo bị bỏ tù

Theo CPJ, tính đến ngày 01/12, Việt Nam đang giam giữ 21 nhà báo

Năm nay, Việt Nam xếp vị thứ sáu trong số các nước có số lượng nhà báo bị bỏ tù nhiều nhất.

“Sự áp bức truyền thông tại Trung Quốc, Myanmar và Việt Nam đã khiến châu Á trở thành nơi có số lượng nhà báo bị bỏ tù cao nhất, với tổng cộng 119 người”, CPJ đề cập.

Tính đến ngày 01/12/2022, Việt Nam đang giam giữ 21 nhà báo, theo CPJ.

“Với 21 nhà báo bị tù giam, Việt Nam cho thấy rất ít sự chấp nhận đối với nền báo chí độc lập, đưa ra những bản án nặng nề cho những người bị kết tội chống phá nước”, báo cáo nêu rõ.

Nhà báo Phạm Đoan Trang, người đang chịu mức án tù chín năm tù giam với tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” cùng các nhà báo khác và blogger đã được đề cập trong báo cáo của CPJ.

Nhà báo Phạm Đoan Trang đã bị chuyển từ Hà Nội sang một trại giam ở An Phước, Bình Dương.

“Đây là một chiến thuật phổ biến để ngăn chặn việc thăm tù thường xuyên”, CPJ nhận định.

Hồi tháng 7, nhà báo, nhà hoạt động Phạm Đoan Trang được CPJ công bố trao tặng Giải thưởng Tự do Báo chí Quốc tế năm 2022, cùng với ba nhà báo khác từ Cuba, Iraq, và Ukaine. Lễ trao giải đã diễn ra vào ngày 14/11 vừa qua tại New York.

Trong thông cáo về giải thưởng, Chủ tịch của CPJ Jodie Ginsberg nói, “Những người được trao giải của chúng tôi đại diện cho phần tốt nhất của báo chí: một công việc vạch rõ những tác động từ chiến tranh, tham nhũng, lạm dụng quyền lực trong mọi mặt đời sống thường ngày.”

CPJ đồng thời nhắc lại hồi tháng Mười, Việt Nam đã kết án 8 năm tù giam và 5 năm quản chế đối với nhà báo Lê Mạnh Hà, còn tháng 8, Việt Nam cũng bỏ tù blogger Lê Anh Hùng 5 năm tù vì “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân”.

‘Vẫn ảm đạm’

Báo cáo CPJ nêu “Năm 2022, cũng đánh dấu với sự xung đột và đàn áp, các lãnh đạo ở những thể chế chuyên chế thì tăng cường hình sự hóa việc đưa tin độc lập.”

Vào tháng 11, nhận định về viễn cảnh báo chí sắp tới ở Việt Nam, Kian Vesteinsson, nhà nghiên cứu cấp cao từ tổ chức Freedom House nói với BBC:

“Bức tranh về tự do biểu đạt và tự do báo chí tại Việt Nam là ảm đạm.

“Trong năm qua, chính phủ Việt Nam đã xóa thông tin trên mạng với tốc độ đáng báo động, bỏ tù nhà báo và blogger trong thời gian lâu. Vấn đề kiểm duyệt chỉ có thể tồi tệ hơn mà thôi.”

Để có nền dân chủ tại Việt Nam, nhà nghiên cứu Kian Vesteinsson từ tổ chức Freedom House đề cập đến hai yếu tố là truyền thông độc lập và xã hội dân sự.

“Một điều quan trọng là các chính phủ dân chủ trên thế giới phải tăng cường cuộc chiến cho quyền tự do biểu đạt ở Việt Nam.”

“Một lộ trình chính là hỗ trợ nền truyền thông độc lập tại Việt Nam và xã hội dân sự thông qua tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật. Ví dụ, các chính phủ có thể cung cấp công nghệ giúp người dân Việt Nam thoát khỏi việc kiểm duyệt và giúp họ an toàn không bị theo dõi.”

“Các nhà làm luật nên cần ủng hộ việc thả tự do vô điều kiện nhiều người đã bị tù giam không công bằng vì biểu đạt trên mạng tại Việt Nam, như Nguyễn Văn Hóa và Phạm Đoan Trang.”

Ngày 11/10, Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc với 145 phiếu ủng hộ. Nói với BBC hồi tháng 11, Beh Lih Yi, Điều phối viên Chương trình châu Á từ Committee to Protect Journalists (CPJ) cho rằng hồ sơ nhân quyền của Việt Nam sẽ bị giám sát chặt chẽ.

“Việt Nam chắc chắn có thể cải thiện hồ sơ tự do báo chí trong ngắn hạn nếu có ý chí làm điều này. Việt Nam đang là một nền kinh tế trỗi dậy tại châu Á và hiện là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, điều này có nghĩa hồ sơ về nhân quyền, bao gồm việc đối xử với các nhà báo sẽ bị giám sát chặt chẽ hơn.”

Phạm Đoan Trang được trao giải Tự do Báo chí 2022

Để có nền dân chủ tại Việt Nam, nhà nghiên cứu Kian Vesteinsson từ tổ chức Freedom House đề cập đến hai yếu tố là truyền thông độc lập và xã hội dân sự

Báo cáo ‘Tình trạng Dân chủ Toàn cầu năm 2022’ được Viện International Institute for Democracy and Electoral Assistance (International IDEA) công bố cuối tháng 11 cho thâay1 trong khu vực Đông Nam Á, thì Campuchia, Lào và Việt Nam “vẫn gắn chặt với chủ nghĩa chuyên chế mà không thấy dấu hiệu thay đổi nào”.

Trong các nhóm nước, thì IDEA xếp Việt Nam nằm ở nhóm nước theo chế độ chuyên chế (authoritarian regime), theo báo cáo:

“Việt Nam, giống Trung Quốc và Singapore đã thành công trong việc mang lại sự thịnh vượng kinh tế mà không trao quyền dân chủ, mang lại cho thể chế cộng sản một vỏ ngoài về tính chính danh trước quần chúng.”

“Ở Trung Quốc và Việt Nam, người dân có thể cảm thấy tiến trình dân chủ hiện là không khả thi hoặc quá nhiều rủi ro.”

Ảo tưởng quyền lực

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Ngọc Huy

13-12-2022

“Mày có biết tao là ai không?”

Đó là một câu nói ngày càng phổ biến khi những kẻ ảo tưởng quyền lực/hoặc có quyền lực thực sự, lạm dụng để giải quyết các vấn đề mà vốn dĩ không cần đến quyền lực và bạo lực.

Vụ việc ông Dũng dùng gậy đánh vào nữ caddy ở sân golf là một biểu hiện của ảo tưởng quyền lực để hành xử với người mà ông xem là yếu thế hơn mình.

Tôi lấy giả định cái gậy golf đó mà đập vào mặt một ai đó cũng có quyền lực như ông Dũng (là thương gia, là chính trị gia, hay một tay anh chị nào đó) thì chắc chắn là sự việc không bị “ngâm” lâu đến vậy. Nhưng giả định đó chắc chắn không xảy ra vì ông Dũng biết ông đang vụt gậy golf vào mặt ai – một cô gái yếu thế, một người làm công, một người ít được xã hội biết đến.

Đó là một hành động bắt nạt người khác một cách hèn hạ.

Khi dùng tới vũ lực để bắt nạt người yếu thế hơn mình, Dũng không lường trước được về một thứ quyền lực khác. Đó là quyền lực của số đông đang đứng về lẽ phải và công bằng. Khi một cô gái yếu thế không thể nói lên tiếng nói uất ức của mình, thì vẫn còn đó tiếng nói lương tri của những con người thấy bất bình mà lên tiếng.

Ông Dũng đã có giải trình, đã có lời xin lỗi nhưng đó là giải trình quanh co và xem việc làm cố tình đó như một tai nạn ngoài ý muốn lúc nóng giận. Ông vẫn chưa nói lên sự thật về việc lạm dụng quyền lực, thứ mà ông ấy có thể cũng áp dụng hàng ngày ở nơi ông làm việc, chỉ khác là không dùng vũ lực thôi. Thứ đó mới nguy hiểm và là căn nguyên của mọi sự bất công trong xã hội.

Ở một khía cạnh khác, ông quyền lực có thể có ở bất cứ ai và dưới nhiều hình thức. Thứ quyền lực tạm bợ đó có thể được sinh ra do sự nuông chiều của cha mẹ với con cái, sự nịnh hót và phục tùng của nhân viên dưới quyền tại cơ quan tạo ra thói quen xấu cho Dũng là một ông Hội đồng cấp tỉnh, ông đang là đại biểu của nhân dân, người đại diện nhân dân nói lên tiếng nói đối thoại với chính quyền. Thế mà ông lại dùng gậy đập vào mặt nhân dân như thế. Rất hỗn! Ông nên từ nhiệm trước khi bị HĐND phế truất vai trò của ông. Đừng ngồi cái ghế ấy nữa.

Ảo tưởng quyền lực hay lạm dụng người lãnh đạo, và thậm chí, quyền lực ảo đó cũng có thể xuất hiện ở những người của công chúng. Họ biết họ là ai nên họ thích hỏi: “Mày có biết tao là ai khlong?”

Đóa Hoa Sứ Buồn -Truyện ngắn

Chuyện tình yêu thời vua Tự Đức cấm Đạo

Nguyễn Ngọc Duy Hân 

Ông trùm Thiện ngồi ngắm hang đá vừa mới làm xong, tỏ vẻ hài lòng, chỉ còn tô điểm thêm một chút nữa là tuyệt. Bao nhiêu năm qua, Giáo xứ Hòa Bình đã nổi tiếng vì có hang đá mừng Giáng sinh thật đẹp. Giáo xứ có sẵn một trái núi nho nhỏ do dân tự đắp lấy làm Đài Đức Mẹ. Hai bên là đường đi dốc thoai thoải, ở giữa là ngọn núi mỹ thuật, có đặt tượng Đức Mẹ sầu bi, giáo dân hay đến để đọc kinh, thờ phượng. Đám trẻ con chạy giỡn chung quanh những hàng bông sứ cao luôn trổ hoa, mùi thơm nhẹ nhàng. Mùa Giáng Sinh, ông Thiện hướng dẫn nhóm thanh niên dùng giấy dầu bao lấy núi, phun sơn trắng làm tuyết, sáng tạo thêm những góc cạnh đặc biệt, trang trí thành hang đá Bêlem. Đêm lễ vọng Giáng Sinh ngoài trời, hai cô gái của giáo xứ sẽ được chọn làm thiên thần, từ từ xuất hiện trên đỉnh núi thật uy nghiêm, mọi người sốt sáng dự lễ, thả hồn về Bêlem năm xưa.

Hoa sứ nở quanh năm, rụng phủ đầy mặt đất, ông Thiện chợt thấy một bé gái cúi xuống nhặt hoa tung lên trời, mắt ngước lên trời xanh thăm thẳm, hình như nó đang mơ mộng, cầu nguyện điều gì. Hình ảnh đứa bé làm tim ông bỗng nhói đau, ông cắn chặt môi ngăn cản dòng nước mắt đừng rơi xuống khuôn mặt già nua, héo úa. Mới đó mà đã mấy mươi năm rồi, hơn nửa thế kỷ với biết bao thay đổi, lớp sóng phế hưng, con Tạo xoay vần, nhưng một điều trong ông vẫn không bao giờ đổi thay…

Thời vua Tự Đức cấm đạo, ông trùm Thiện còn là một thanh niên rất trẻ. Ông là con một trong gia đình giàu có, được cưng chiều, cho học chữ Tây trong trường thuốc, cho học đàn violin, nhưng ông không được khỏe mạnh như những thanh niên khác. Thật ra ông không đau bệnh gì, chỉ ốm yếu xanh xao, không thích thể thao, không thể làm được việc nặng. Mà cần gì làm việc nặng, vì tất cả việc nặng nhẹ trong nhà đều đã có tôi tớ làm. Thiện chỉ việc ăn, học, đọc sách, đi dạo, mơ mộng nhìn cõi đời. Nhà ông có trồng nhiều hoa sứ, ông lớn lên giữa những hàng sứ này, mùi thơm của hoa đã ướp vào tóc, vào da thịt ông quen thuộc không thể thiếu.

Hôm đó là một buổi chiều thật đẹp, Thiện bắt gặp một cô gái trẻ do dự bước vào vườn, lên tiếng hỏi:

-Có ai trong nhà không, cho tôi xin ít hoa rụng.

Không hiểu sao Thiện không lên tiếng, đứng yên trong nhà nhìn ra. Cô khoảng đôi mươi, da nâu đen khỏe mạnh, tóc xõa dài, mặc một bộ bà ba đơn giản. Không thấy ai trả lời, cô cúi xuống nhặt những cánh hoa sứ rụng dưới đất, tung lên trời rồi mắt nhìn lên cao, như đang cầu xin điều gì. Hình ảnh thật đẹp, cô gái thật đẹp. Thiện lặng người ngắm. Cô gái chắc có cảm giác nhột nhạt vì có người đang đăm đăm nhìn mình, cô đã nhìn thấy Thiện, bối rối cúi mặt:

-Em… muốn xin ít hoa sứ về làm thuốc.

Thiện bước ra mỉm cười:

-Thuốc gì, bao nhiêu năm nay chưa thấy ai nói hoa sứ có thể làm thuốc cả.

Cô gái nhẹ nhàng:

-Thưa ông, em cũng mới nghe người ta mách, nói là hoa sứ trị được bệnh máu cao, giảm tiểu đường. Mẹ em đang đau nặng, muốn thử xem sao.

Thiện bỗng có cảm tình với cô gái hiếu thảo này:

-Được, cô cứ lấy, để tôi giúp cô.

Thiện cũng lay hoay vừa nhặt hoa cùng cô gái, vừa thăm hỏi gia đạo, hoàn cảnh của cô.

Cô tên Tiên, con gái của bà góa ở đầu xóm, sống bằng nghề trồng trọt. Cô rất giỏi võ, học trò của võ sư Hoàng Thạch trong làng. Sứ hôm nay không rụng nhiều, Thiện bỗng nghịch ngợm nói với Tiên:

-Nhặt hết hoa rồi cũng không được đầy túi, cô có võ, chắc biết leo, có muốn hái trên cây không?

Tiên nhìn Thiện hỏi lại:

-Nếu ông cho phép! Mỗi lần đi ngang đây thường không có ai trong nhà, em không dám nhặt hoa, sẵn đây nếu có được nhiều, em sẽ phơi khô để dành.

Tiên nói xong thì thoăn thoắt leo lên cây, tay cầm túi vải, tay hái hoa, gọn nhẹ dễ dàng. Thiện ngây mắt đứng nhìn, anh là công tử bột, không hề biết leo trèo. Ngày còn bé, Thiện cũng theo bạn bè leo cây, té một lần xuýt gãy xương, từ đó mẹ không cho leo cây nữa.

Sau đó mỗi buổi chiều Tiên thường ghé nhà Thiện nhặt hoa, cả hai thành đôi bạn tâm giao. Tiên không được học cao, nhưng rất thông minh hiểu biết, đạo nghĩa Thánh Hiền vẫn am tường. Thiện nói cho cô biết về Tây học, về thế giới bên ngoài, bắt đầu biết nhớ nhung nếu mấy ngày Tiên không ghé hái bông sứ. Thiện yêu nụ cười của cô, chân chất tươi thắm với hàm răng thật đều, thật đẹp. Tiên có cái chân tình, duyên dáng của cô gái quê mà không quê, hiền lành mà nhanh nhẩu được việc, miệng nói tay làm, không như những tiểu thư khuê các.

Người Pháp bắt đầu về làng ông thật nhiều để giảng đạo, vua Tự Đức vẫn cấm đạo, nhưng đạo Thiên Chúa vẫn phát triển, vẫn có người tử đạo, xã hội bắt đầu thay đổi, nhiễu nhương. Ba má Thiện theo đạo, dạy cho Thiện hiểu về đạo, biết mến Chúa yêu người. Thiện thấu hiểu ngay giáo lý của Chúa, bắt đầu tiếp tay giảng đạo, tìm được niềm vui trong tình yêu của Chúa. Thiện cũng giúp Tiên và má của Tiên hiểu về đạo mới, má Tiên bệnh khá nặng, từ ngày được biết Chúa, bà phó dâng mọi sự cho Chúa, cảm thấy bình an thoải mái hơn.

Về phía má của Thiện thì không được vui vì biết Thiện tới lui, hò hẹn với Tiên, một cô gái nghèo trong xóm. Bà muốn Thiện học thêm, và cưới đứa con gái tài sắc, gia đình môn đăng hộ đối khác mà bà đã nhắm sẵn. Hơn nữa bà thấy rõ ràng Thiện và Tiên không hợp, Tiên giỏi võ, Thiện ốm yếu, Tiên thực tế, Thiện mơ mộng, không hiểu chúng nó hợp nhau ở chỗ nào. Thiện thì vững tin, vì anh biết ba má rất yêu thương chiều chuộng mình, thế nào cũng có ngày ông bà bằng lòng. Thiện yêu Tiên hết lòng dù có nhiều khác biệt, tình anh đối với cô là tình tha thiết, tình trọn vẹn từ trong trái tim, không so sánh, không chọn lựa. Hai người sẽ bổ xung cho nhau, và sẽ sống thật tốt, thật đẹp, căn nhà riêng của hai người sẽ trồng toàn bông sứ……

Nhưng định mệnh đã an bài, Thiện và Tiên đã không bao giờ được kết nghĩa chồng vợ. Ngày hôm đó nhóm thanh niên của làng được tin vua cho hành quyết ba vị không chịu bỏ đạo, đã bị bắt và kết án. Không muốn họ bị tử đạo oan uổng, một người lại là bà con với Tiên, nên cô xung phong vào nhóm cứu người, ra kế hoạch cướp tử tội và vượt ngục.

Kế hoạch tinh vi, ba người tội phạm được giải cứu trong tù trước khi đem ra hành quyết tử đạo, nhưng Tiên đã trúng mũi tên tẩm độc của cai tù, bỏ mạng tại chỗ.

Khi xác Tiên được đem về giao cho bà mẹ đau yếu nằm một chỗ trên giường bệnh, bà chết điếng. Thiện đứng ra giúp việc mai táng, tổ chức lễ, lập chương trình đọc kinh thật chu đáo. Anh chỉ sợ một điều khi nhận làm chủ sự cho buổi đọc kinh cầu hồn, là anh sẽ bật khóc. Thiện vốn nhậy cảm, yếu đuối cả về thể xác lẫn tinh thần, dù cố làm tỉnh, nhưng anh biết sức chịu đựng của mình có hạn. Thiện cầu nguyện xin Chúa cho anh ơn can đảm, anh đã học được nơi Tiên sự can trường.

Thế nhưng buổi lễ cầu nguyện cho Tiên đã bị hủy bỏ. Vua cho lính bắt bớ, ruồng đạo quá kỹ, nếu ra mặt làm lễ cầu nguyện, nhiều người kể cả Thiện cũng sẽ bị bắt. Xác Tiên được chôn trong âm thầm bên nghĩa trang của làng, Thiện cho người trồng kế bên hai cây hoa sứ, cây này là cây “anh”, cây này là cây “em”.

Chiều chiều Thiện ra thăm mộ, lòng nao nao, mắt rưng rưng nhìn cây sứ, mong sứ mau lớn có ngày nở hoa. Thỉnh thoảng anh ôm vĩ cầm ra mộ kéo cho Tiên nghe, bài này Tiên thích, bài này Thiện thích, anh kéo đàn và hát mà lòng chùng xuống, tiếng hát nghẹn ngào. Anh nhặt hoa sứ rụng, kết thành hai chữ T – Tiên và Thiện – đặt trên bia mộ và mỉm cười…

Bây giờ đã mấy mươi năm, cây sứ đã già, hoa nở sum suê, mùi hương thơm ngát. Thiện trở thành ông trùm trong xứ, ngoài việc chăm sóc nhà thờ, giúp cha xứ trong ngoài, ông còn phát thuốc, trị bệnh giúp dân. Thiện kết hợp giữa đông y và tây y, chữa trị được rất nhiều người, làm công quả không nhận thù lao. Mọi người đều ngưỡng mộ yêu mến ông, từ già đến trẻ, từ nghèo đến giàu. Có người thắc mắc ông đẹp trai, thông thạo chữ nghĩa Thánh Hiền, tiếng Pháp như gió, đàn hay hát giỏi, nếu không lấy vợ, sao không đi tu làm linh mục. Thiện mỉm cười hiền lành, hơn ai hết ông hiểu được lòng mình, mỗi lần nhìn cánh hoa sứ rơi rụng, mỗi lần lòng ông nhói đau, tu gì được mà tu…

Nguyễn Ngọc Duy Hân

 Chuyện Lạ Từ Bích Họa Bữa Tiệc Ly và Danh Họa Leonardo Da Vinci

 Chuyện Lạ Từ Bích Họa Bữa Tiệc Ly và Danh Họa Leonardo Da Vinci

Khoảng tháng Ba, tháng Tư hằng năm, vào những ngày nắng nóng gay gắt và oi ả nhất, người Công giáo nói riêng và các giáo hội có niềm tin Kitô khác long trọng kính nhớ và tưởng niệm Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Và danh họa Leonardo Da Vinci có công lớn khi tạo nên bức họa Bữa Tiệc Ly kỳ diệu.

Leonardo Da Vinci

Danh họa Leonardo Da Vinci vẽ bích họa Bữa Tiệc Ly (The Last Supper) mất 3 năm liền – không là 7 hoặc 20 năm như một số người nghĩ. Ðó là bức tranh vẽ mô tả Chúa Giêsu và 12 môn đệ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Ngài bị môn đệ Giuđa phản bội. Bữa Tiệc Ly vào chiều tối một ngày thứ Năm, thời điểm Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức Linh mục tư tế.

Leonardo đã tốn nhiều công phu đi tìm người mẫu. Giữa hàng ngàn thanh niên ông mới chọn được một chàng trai có gương mặt thánh thiện, một tính cách thanh khiết tuyệt đối làm người mẫu vẽ Chúa Giêsu. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt 6 tháng liền trước chàng trai để hình ảnh Chúa Giêsu có thể hiện ra trên bức họa.

Những năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 11 môn đệ, chỉ còn Giuđa – người môn đệ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc. Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ thâm độc. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đi người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình…

Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy vẫn chưa đủ để biểu lộ cái ác của Giuđa. Một hôm, Da Vinci được thông báo có một người mà ngoại hình có thể đáp ứng yêu cầu của ông. Người đó đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì tội giết người và nhiều tội ác tày trời khác.

Da Vinci lập tức lên đường đi Rôma. Trước mặt ông là một gã đàn ông nước da đen sạm với mái tóc dài bẩn thỉu xoã xuống, một khuôn mặt xấu xa, hiểm ác, hiển hiện rõ tính cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Ðúng, đây là Giuđa! Ðược phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan, nơi bức tranh đang vẽ dang dở. Mỗi ngày tên tù ngồi trước Da Vinci và người hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công việc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.

Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo với lính gác: “Các anh đem người này đi đi…”. Lính canh túm lấy kẻ tử tù nhưng hắn đột nhiên vùng ra, lao đến quỳ xuống bên chân Da Vinci và khóc nức lên: “Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn tôi! Ngài không nhận ra tôi sao?”. Da Vinci quan sát kẻ mà 6 tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt, rồi ông đáp: “Không, tôi chưa từng nhìn thấy anh cho đến khi anh được đưa đến từ hầm ngục Rôma”. Tên tử tù kêu lên: “Ngài Vinci, hãy nhìn kỹ tôi đi! Tôi chính là người mà ngài đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Giêsu đây…”.

Câu chuyện này có thật, như bích họa Bữa Tiệc Ly là có thật. Chàng trai từng được chọn làm hình mẫu vẽ Chúa Giêsu đã tự biến mình thành hình tượng của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử chỉ sau một thời gian ngắn!

Leonardo di ser Piero da Vinci sinh ngày 15/4/1452 tại Anchiano (Ý), mất ngày 2/5/1519 tại Amboise (Pháp). Ông là một họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giải phẫu, nhà sáng tạo và là một triết gia tự nhiên. Ông được coi là một thiên tài toàn năng người Ý. Tên thành phố Vinci, nơi sinh của ông, nằm trong lãnh thổ của tỉnh Firenze, cách thành phố Firenze 30 km về phía Tây, gần Empoli, cũng là họ của ông. Người ta gọi ông ngắn gọn là Leonardo vì Da Vinci có nghĩa là “đến từ Vinci”, không phải là họ thật của ông. Tên khai sinh là Leonardo di ser Piero da Vinci có nghĩa là “Leonardo là con của Ser Piero, đến từ Vinci”. Ông nổi tiếng với những bức hoạ cổ điển của mình như bức Mona Lisa, bức Bữa Tiệc Ly…

Ông là người có những ý tưởng đi trước thời đại của mình, đặc biệt là sự sáng chế máy bay trực thăng, xe tăng, cách sử dụng hội tụ năng lượng mặt trời, máy tính, sơ thảo lý thuyết kiến tạo địa hình, tàu đáy kép (double hull), cùng nhiều sáng chế khác, khó có thể liệt kê hết ở đây. Một vài thiết kế của ông đã được thực hiện và khả thi ngay lúc ông còn sinh thời. Ứng dụng khoa học trong chế biến kim loại và trong kỹ thuật ở thời đại Phục Hưng còn đang ở trong thời kỳ trứng nước. Thêm vào đó, ông có đóng góp rất lớn vào kiến thức và sự hiểu biết trong lĩnh vực giải phẫu học, thiên văn học, xây dựng dân dụng (civil engineering), quang học và nghiên cứu về thủy lực. Những sản phẩm lưu lại trong cuộc đời ông chỉ còn lại vài bức hoạ, cùng với một vài quyển sổ nháp tay (rơi vãi trong nhiều bộ sưu tập khác nhau các sáng tác của ông), bên trong chứa đựng các ký hoạ, minh hoạ về khoa học, và bút ký.

Bức họa Bữa Tiệc Ly

Nội dung: Bức tranh mô tả một sự kiện tôn giáo trong Kinh Thánh: Giuđa Iscariôt – một môn đệ của Chúa Giêsu – đã tố giác với nhà cầm quyền La Mã để bán đứng thầy của mình chỉ với 30 đồng bạc. Chính giữa bức tranh là chúa Giêsu đang nói với các môn đệ: “Trong anh em có người sẽ bán rẻ Thầy”. 12 môn đệ ngồi đồng bàn, mỗi người một vẻ mặt khác nhau: 3 người thì thầm bàn bạc, 3 người tỏ vẻ giận dữ (trong đó có 1 người đập mạnh tay xuống bàn), 1 người lộ vẻ nghi ngờ, 1 người tỏ ra ngạc nhiên, 1 người ngồi ngay ngắn tỏ lòng trung thành, 2 người lộ vẻ xúc động. Chỉ có một môn đồ mặt tái nhợt, lưng hơi ngả về sau, tay nắm chặt túi tiền – đó chính là Giuđa, người mặc áo xanh thứ tư từ bên trái, tay cầm bọc tiền, có thể là tiền bán Chúa. Sau lưng ông là một khoảng tối, còn sau lưng Chúa Giêsu là ô cửa đầy ánh sáng. Những tia sáng chiếu vào gương mặt Chúa Giêsu làm ánh lên vẻ điềm tĩnh, hiền từ mà cương nghị. Sự tương phản mạnh mẽ này đã biểu đạt được sự căm giận sâu sắc của tác giả đối với lũ gian ác, sự ngưỡng vọng đối với chính nghĩa.

Nghệ thuật: Trước Vinci đã có nhiều họa sĩ nổi tiếng đã vẽ đề tài này, tuy nhiên họ đều thất bại. Bích họa của Da Vinci nổi tiếng nhất vì hai lý do: Thứ nhất, lần đầu tiên buổi tiệc ly được vẽ với các nhân vật hết sức sống động như người thật. Mỗi môn đệ tỏ một thái độ khác nhau khi nghe Chúa báo tin có người phản bội. Người thì bàng hoàng, người thì muốn ngất xỉu (thánh Gioan, người ngồi bên phải Chúa), mấy người khác ngạc nhiên hỏi nhau. Thứ hai, khả năng thể hiện luật viễn cận của Da Vinci trong bức họa rất tuyệt vời, mọi điểm trên bức tranh đều tụ về một điểm chung là khuôn mặt của Chúa. Một trong những nguyên nhân gây thất bại ở các họa phẩm khác là chưa phản ánh chân thực về 12 môn đệ, đặc biệt là hoạt động tâm lý phức tạp của Giuđa. Tác phẩm của Da Vinci đã giải quyết mỹ mãn vấn đề này. Từ đó về sau, không hoạ sĩ nào vẽ lại đề tài này nữa bởi họ cho rằng không thể vượt qua tác phẩm của danh họa Da Vinci.

Để vẽ nên bức tranh này, Vinci đã gặp không ít khó khăn, nhất là phải xử lý nhân vật Giuđa. Để giải quyết khó khăn này, hàng ngày Vinci phải đi lang thang trong thành phố để quan sát cử chỉ, hành động của bọn tội phạm, lưu manh rồi vẽ đi vẽ lại hàng trăm bức họa Judas ở các tư thế khác nhau. Việc đi lang thang trong thành phố như vậy đã nảy sinh lòng nghi ngờ của bao người, trong đó có cả giáo sĩ. Sau đó, nhờ thị trưởng thành phố, Vinci đã giải quyết được hiểu lầm, và bức tranh ngày nay vẫn còn trên tường nhà thờ.

Thời gian: Có một địa điểm mà mọi du khách đến thành phố Milan (Ý) đều muốn được xem, đó là nơi có bích họa Bữa Tiệc Ly của danh họa Leonardo Da Vinci, được vẽ trên tường nhà thờ Santa Maria della Grazie từ thế kỷ XV (trong 3 năm, từ 1495–1498). Thời gian đó, danh họa làm việc ở Milan dưới sự bảo trợ của công tước Sforza, và chính Sforza đã đặt vẽ bức tranh này. Do lượng khách muốn xem tranh rất đông, mà theo quy định thì mỗi lần chỉ có 25 người được vào xem trong 15 phút nên khách thường phải đặt mua vé trên Internet trước 2 tháng (giá 8 euro). Muốn xem sớm hơn thì có thể mua vé tại một số công ty du lịch với giá đắt hơn, khoảng 20 euro.

Du khách được nhân viên dẫn qua mấy lớp cửa bảo vệ để vào nhà thờ, nơi bức họa được Da Vinci vẽ trên bức tường cách đây 600 năm với kích thước 8,8m x 4,6m. Khi sáng tác bức họa, Da Vinci không theo kỹ thuật lúc bấy giờ là sử dụng thạch cao ướt mà dùng thạch cao khô. Vì vậy, bức tranh bị tàn phai nhanh chóng theo thời gian. Nhiều thế kỷ sau, người ta phải tu sửa rất nhiều lần và việc này cũng gây nhiều tranh cãi về độ chính xác của bức họa.

Khi Pháp chiếm Milan hồi thế kỷ XVIII, quân lính của Napoléon đã phá hoại không thương tiếc bằng cách ném đá lên bích họa này. Trước đó (thế kỷ XVII), một người vô ý thức ở nhà thờ còn nảy ra ý định đục một cánh cửa ra vào ở giữa bức tường, ngay vị trí chân của Chúa. Sau này, cánh cửa bị bít lại, nhưng phần chân Chúa phía dưới bàn (theo các bản vẽ ban đầu có tư thế bắt chéo như khi bị treo trên thánh giá) không được phục hồi lại. Lần bức họa bị phá hoại nặng nề nhất là thời Đệ nhị Thế Chiến, khi nhà thờ bị bỏ bom và hư hỏng nặng. | Báo Công Giáo

Cũng trong căn phòng này, đối diện với bức tranh Buổi tiệc ly là bức Thập Tự Giá của Giovanni Donato da Montorfano – một họa sĩ cùng thời với Da Vinci nhưng ít nổi danh hơn. Cho dù đã từng xem bức tranh nổi tiếng của Da Vinci trong sách, nhưng khi đứng trước tuyệt tác này, nhiều người mới khả dĩ cảm nhận được kích thước to lớn của nó và đặc biệt là nghệ thuật xử lý ánh sáng của danh họa, vì ánh sáng trong bức tranh được vẽ là hướng từ cửa sổ bên trái phía sau.

Phần bên phải của bức tranh được danh họa vẽ sáng hơn, màu sắc trang phục các nhân vật cũng được xử lý rất khéo: Cùng màu xanh, nhưng chiếc áo của những người ngồi bên phải khác với màu xanh chiếc áo của Chúa ở giữa và những người ngồi bên trái. Những điều này khó có thể cảm nhận được trên các bản sao, dù là hình hoặc phim ảnh.

Trầm Thiên Thu (tổng hợp)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Bình luận bóng đá & lãnh đạo quốc gia

Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Cơn suyễn đến bất ngờ khiến tôi phải nằm bẹp (dí) trong một cái nhà trọ tồi tàn, ở ngoại ô Bangkok. Thái Lan lại đang ở giữa mùa mưa, mưa nhiệt đới: tơi tả, xối xả, và tá lả …

Trời buồn, lòng buồn, cả vũ trụ – tất nhiên – cũng buồn luôn và buồn thê thảm! Rượu không dám nhấp môi, đã đành; bia cũng khỏi dám đụng tới luôn. Thuốc lá chỉ cần nhìn cái bao thôi … đã muốn ho hen rồi.

Phen này chắc chết, chết chắc. Adieu, nhân loại. Vĩnh biệt cuộc đời!

Nằm chờ vài ngày mà Thần Chết vẫn chưa chịu đến nên đâm ra chán. Tôi bèn bật TV coi chơi chút xíu. Màn hình bất ngờ hiện ra cảnh trận bóng U 23 Việt Nam vs U 23 Nam Hàn, trên sân cỏ Indonesia. Dù hoàn toàn không mặn mà gì lắm với thể dục thể thao, tôi cũng ráng xem cho đến giây phút cuối. Để lỡ mà qua đời (thiệt) còn có chuyện mà “tám” với mấy con ma, ở thế giới bên kia.

Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy những cầu thủ đồng hương tranh tài. Thiệt không có gì để có thể phàn nàn. Các em chơi rất tới, rất hết mình, và rất đáng ngợi khen.

Đây cũng là lần đầu tiên tôi được nghe những lời bình, bằng tiếng mẹ đẻ, trong một trận túc cầu. Bình luận viên hay nhắc đi nhắc lại những cụm từ rất nặng nề: xử lý tình huống, quật khởi, nỗ lực kiên cường, phương cách đá, tham gia lấy bóng, khoảng cách lợi thế, sự tiếp cận, sự thay người, toả sáng …

Nghe sao mà mệt cầm canh. Tiếng nước tôi (vốn) đâu có gò bó, nghiêm trọng, và thậm xưng dữ vậy – hả Trời? Đến phút thứ 69, cầu thủ Minh Vương sút một quả banh tuyệt đẹp vào lưới đối phương, bình luận viên mô tả đây là … một “siêu phẩm” của bóng đá!

Loại ngôn ngữ cường điệu này (tôi đoán) đã phát triển qua hệ thống loa đài – giăng mắc khắp phố phường, len lách vào từng thôn xóm, và ăn sâu vào tâm trí người dân – từ rất lâu rồi:

“Có một lần từ mặt trận đường 9 ghé về thăm nhà, tôi gặp đúng đêm máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội. Còi báo động từ Nhà hát Lớn rú vang. Quầng sáng ánh đèn điện phía nội thành bỗng như dụi tắt bớt. Rồi những chùm đạn phòng không đỏ lừ thun thút lao lên vòm trời. Rồi bom nổ phía Yên Viên, Cầu Giát…

Còi báo yên, đàn chó trong làng vẫn sủa râm ran, đường làng ngõ xóm vẫn rậm rịch bước chân người, không một ai ngủ lại cả. Các cô các chị thức thẳng từ lúc đó cho tới lúc quẩy gánh rau húng, rau thơm tới các phiên chợ sớm. Người làng Láng chia sẻ âu lo với người nội thành như thế đấy!

Giữa phút tĩnh lặng, nghiêm trang ấy tôi bỗng nghe có tiếng gì động mạnh như tiếng ai đập chiếu trên mặt ao, tiếng đổ vỡ loảng xoảng, ngay sau đó là tiếng kêu la của một người đàn bà:

Ối bà con xã viên đội một, đội hai, đội ba, đội bốn ơi! Lão chồng tôi tàn ác, thâm độc như đế quốc thực dân. Nó đánh tôi trường kỳ, gian khổ như thế này làm sao tôi chịu nổi?

Đêm sau máy bay Mỹ tiếp tục đánh phá Hà Nội. Đúng vào giây phút không ai chợp mắt nổi ấy, bà Hin lại chạy bổ ra đường la hét váng động cả xóm:

Ới bà con xã viên ơi! Chiều nay lão chồng tôi không nấu cơm cho tôi ăn. Nó còn giấu biệt hòm gạo đi. Nó rắp tâm triệt hạ kinh tế tôi đấy mà! (Tô Hoàng – “Nỗi Buồn Lâu Qua.” Talawas blog).

Cuộc chiến đã tàn từ lâu nhưng “nỗi buồn chiến tranh” bao giờ mới “qua” thật khó khó có câu trả lời chính xác nhưng rõ ràng là mãi cho đến tuần rồi (vào hôm 29 tháng 8) thì ngôn ngữ thời chiến, cùng mùi thuốc súng lẫn mùi vị tuyên truyền, vẫn còn thoang thoảng trong buổi tường thuật của trận cầu Asiad 2018. Miệng lưỡi của các đồng chí lãnh đạo hiện nay cũng vậy, cũng vẫn còn âm điệu (phèng la) của những người bán thuốc Sơn Đông:

– Toàn cầu bất ổn nhưng Việt Nam rất ổn

– Chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam trong top 3 thế giới

– Việt Nam là nước giàu nhanh nhất thế giới 10 năm qua

– Ngày nay, chúng ta ngẩng cao đầu, sánh vai cùng cường quốc

– Việt Nam tuy là nước có thu nhập thấp nhưng có chỉ số hạnh phúc cao thứ 5 thế giới

Những gánh Sơn Đông Mãi Võ có nguồn gốc tuốt luốt bên Tầu. Bởi thế, ngay tại sân nhà, đồng chí Tập Cận Bình còn “nổ” lớn hơn nhiều, lớn đến độ mà có lẽ ngay cả chính đương sự cũng phải … ù tai:

Trung Quốc đang ở vào một “thời cơ lịch sử”, bước vào một “kỷ nguyên mới” sẽ được đánh dấu bằng sự kiện đất nước đang trở thành một “lực vĩ đại” [mighty force] trên thế giới và đóng một vai trò gương mẫu [role model] cho việc phát triển chính trị và kinh tế.

Những lời bình có cánh không thể làm thay đổi được tỷ số (3 – 1) trong trận banh  Olympic vừa qua. Những câu tuyên bố thậm xưng và cường điệu của những vị lãnh đạo quốc gia cũng thế. Cũng không thể nâng cao “vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế,” hay thay đổi được “chỉ số thị trường chứng khoán” – đang rơi tự do – bên nước (bạn) Trung Hoa Vỹ Đại.

Đến khi mà thực trạng bị phơi bầy hằng ngày, ở khắp mọi nơi, và vô phương che đậy thì giới quan chức của nhà nước Việt Nam lại loay hoay tìm một cách nói mới (newspeak) để làm giảm nhẹ sự nghiêm trọng của mọi vấn đề:

– Cướp đất = giải phóng mặt bằng

– Thuốc giả = thuốc không có khả năng trị bệnh

– Cầu gẫy = cầu tạo hình chữ V

– Tát = gạt tay trúng

– Đá = dơ chân quá cao

– Ngập = tụ nước

– Lụt = thế nước đang lên

– Chuyến bay bị hủy hay bị chậm = bay chưa đúng giờ

– Tầu Trung Cộng = tầu lạ

– Biểu tình = tụ tập đông người

Theo nhà báo Từ Thức thì những “nhúm từ ngữ ngây ngô” này cũng chả phải là “chuyện tình cờ.” Ông trích dẫn lời của Joseph Goebbels (Bộ Trưởng Thông Tin Tuyên Truyền của Đức Quốc Xã) để minh thị cho nhận xét của mình:

“Chúng ta không muốn (không cần) thuyết phục dân chúng về tư tưởng của ta. Chúng ta chỉ muốn thu nhỏ cái vốn ngữ vựng của họ, tới độ họ chỉ còn đủ chữ để diễn tả tư tưởng của ta.”’

Thời của Joseph Goebbels đã qua, và đã xa như dĩ vãng. Mọi thứ ngôn từ ma mị (cùng những trò ma bùn/ma tịt/ma mãnh) đều trở thành lố bịch, và không còn đất sống trong thế giới phẳng hiện nay.

Bài phát biểu của ĐGM Phaolo Nguyễn Thái Hợp, nguyên Giám mục Giáo phận Vinh, phát biểu tại Quốc họi Đài Loan ngày 2/12/2022 về Công ty Formosa Hà Tĩnh làm ô nhiễm môi trường Việt Nam năm 2016

Bauxit Việt Nam

Tôi xin phép được tự giới thiệu, Tôi là Giám mục Phaolo NGUYỄN THÁI HỢP, Giám mục giáo phận Vinh và Hà Tĩnh từ năm 2010 đến 2021. Tôi vừa nghỉ hưu vì lý do tuổi tác vào năm ngoái.

Tôi hiện diện ở đây với tư cách vừa là chứng nhân lịch sử của vụ thảm hoạ Formosa, vừa là đại diện chính thức cuả gần 8000 nạn nhân của thảm hoạ này. Trong vai trò và vị thế đặc biệt đó, tôi đã nhiều lần phát biểu về thảm hoạ Formosa tại chính mảnh đất Đài Loan thân yêu này, cũng như tại nhiều nơi ở Mỹ và Âu châu. Hôm nay, tôi chỉ xin ngắn gọn đôi điều về điều kiện Công chứng mà Toà án Đài Loan đòi hỏi các nạn nhân.

我是台塑河靜鋼鐵汙染案件歷史的見證人,也是將近8000名受害者的代表。

我在擔任這個具有特別意義的角色和職位之中,曾多次拜訪台灣這片掛念的土地,我在美國和歐洲的許多場合提過河靜汙染。今天,我想簡單說一下台灣法院要求受害人的申請程序。

1- Thú thật với quí vị, chúng tôi rất bất bình và phẫn nộ về các yêu sách khắt khe, đồng thời vừa bất nhất và bất nhân mà Toà án đã đòi hỏi các nạn nhân khi nạp đơn kiện Cty … Formosa tại Hà Tĩnh, Việt Nam.

其實,我們對於法院向台塑公司提起訴訟時,要求受害者提出非常嚴格,同時不一致和不人道的程序感到非常不滿和憤怒。

Trước đây, Toà đòi phải có giấy uỷ quyền cho các luật sư và phải chứng minh việc uỷ quyền đó vừa bằng văn thư, vừa bằng video chứng thực việc uỷ quyền đó. Dưới một chế độ Công an trị như ở VN hiện nay, việc mời hai luật sư từ ĐL sang Việt Nam để gặp gỡ từng nạn nhân, rồi lấy chữ ký và ghi âm, ghi hình từng người một đã là một điều rất khó khăn, gian lao và nguy hiểm.

幾年前,法院要求我們的律師提供授權書,而且必須以書面形式和通過影片證明授權書的真實性。

但是至今越南這樣的警察制度下,邀請兩位台灣律師到越南,並且跟這些受害人一一見面,簽署委任書,這件事情非常困難危險。

Hai luật sư trẻ …. đã can đảm và tận tình hoàn thành công tác khó khăn và nguy hiểm này. Nếu muốn, quý vị và quý bạn có thể phỏng vấn họ để biết thêm những tình tiết như phim trinh thám.

Bất chấp điều kiện nghiệt ngã, chúng tôi đã hoàn thành một bộ hồ sơ đầu tiên và đã nộp lên Toà án. Không hiểu tại sao, Toà lại không chấp nhận bộ hồ sơ uỷ quyền đó mà đòi bộ hồ sơ uỷ quyền khác.

但是,我們的兩位年輕律師,勇敢地、全心全意地完成了這項艱鉅而危險的任務。

如果你願意,大家可以採訪他們,了解更多細節,這就好像是一部偵探電影。

儘管條件嚴峻,我們還是完成了第一版的文件,並將它們提交給了法院。可惜的是,我們不理解為什麼,法院不接受這一份授權文件,甚至還要求受害者必須再度提供另一份授權文件。

Toà đòi: Đơn khiếu kiện của các nạn nhân phải có công chứng của xóm, xã, phường, huyện, tỉnh, Bộ Ngoại giao Việt Nam, rồi sau đó mới có thể nộp cho Phòng Văn hoá của Đài Loan tại Hà Nội để chuyển tới Toà án tại Đài Loan.

法院要求:受害人的申訴文件需要經越南村、公社、坊、區、省、外交部公證,才可以交給駐河內台灣辦事處審核,並且移交給台灣的法院。

2 – Tại sao Toà án đưa ra điều kiện bất nhân và oan nghiệt này cho các nạn nhân Việt Nam? Đây thuần tuý là một yếu tố pháp lý hay còn ẩn chứa ý đồ nào khác? (為什麼法庭要給越南受害者這種不人道和殘忍的條件?這是純粹的法律因素還是另有隱情?)

Như quý vị và quý bạn đã rõ, liền khi thảm hoạ Formosa xảy ra, các nạn nhân của thảm hoạ này đã nạp đơn lên Toà án Kỳ Anh, Hà Tĩnh, Việt Nam, nơi Công ty Formosa đặt bản doanh, để kiện chính công ty đó. Đơn của các nạn nhân không những không được Toà án Kỳ Anh thụ lý, mà hơn nữa, khi các nạn tiếp tục khiếu kiện đã bị công an đàn áp dã man. Một số nhà báo hay phóng viên bán chuyên nghiệp đưa hình ảnh hay bài viết lên mạng để ủng hộ các nạn nhân đã bị bắt, bị tra tấn. Có những người đã bị bắt và bị kết án tù từ 8 đến 14 hay 20 năm. Có những người phải vội vã bỏ nước ra đi và hiện sống lưu vong.

大家都知道,台塑災難發生初期,受害者立刻就向台塑公司總部所在地,越南河靜的奇英縣法院提出相關告訴,只是受害人的陳情不但沒有被啟英法院受理,受害人在進行申訴的同時,還遭到了警方的殘酷鎮壓。有部分的記者或公民記者在網上發布照片或文章,聲援被抓捕和遭受酷刑的受害者,這些人被抓進監獄判處 8年 至 14 年或 20 年不等的有期徒刑。因為政府的暴力和殘酷,有些人不得不急忙離開,現在正在海外流亡中

Khi quý Toà đòi hỏi: Lá đơn của các nạn nhân ở Việt Nam phải có công chứng của tất cả các cấp từ thôn, xã, huyện …. cho đến bộ Ngoại giao Việt Nam, quý vị có biết rằng họ chính là những người không những đã bị Toà án quê hương của họ không thụ lý hồ sơ, mà hơn nữa còn bị đàn áp dã man? Họ đang sống ở đâu? Dưới chế độ chính trị nào?

當法院要求時:越南受害人的請願書必須經過村、公社、區各級的公證,最後才能交給越南外交部,你知道他們不僅被家鄉法院拒絕,還遭到殘酷迫害嗎? 他們居無地定所,這是一種怎麼樣的政治制度?

Giữa Đài Bắc với Trung Hoa lục địa khoảng cách không gian nào có bao xa? Chắc chắn quý Toà biết rõ những gì đang diễn ra bên ấy. Giả sử có một vụ án tương tự xảy ra với các nạn nhân bên ấy, không hiểu quý Toà có thản nhiên đòi các nạn nhân bên đó cũng phải công chứng hồ sơ như đang đòi hỏi các nạn nhân tại Việt Nam hay chăng?

台北與中國大陸的距離非常靠近, 大家肯定很清楚那邊發生的事情。假設類似的案件發生在那邊的受害人身上,不知道台灣法院會不會像要求越南的受害人一樣,冷酷的要求那邊的受害人對文件進行公證?

3- Sứ vụ của các quan toà phải chăng là trả lại công bằng, công lý và sự thật cho các nạn nhân? Vị quan toà công minh chính trực phải chăng là vị quan toà luôn bênh vực những người cô thân, yếu thế và không thể bị mua chuộc bởi tiền bạc hay chức quyền? Chính vì vậy, không phải vô lý khi có người đã coi việc “bó buộc phải xin công chứng” này như một quỷ kế để bắt buộc các nạn nhân phải đầu hàng vô điều kiện. Thật vậy, trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam hôm nay, việc xin công chứng nói trên là điều không thể thực hiện được, vì nếu thực hiện sẽ dẫn đến tù tội, khổ đau, gia đình tan hoang?

Rất mong quí Toà bình tâm suy nghĩ và tìm giải pháp thay thế cho biện pháp bất khả thi này.

法官的使命是還給受害者正義和真相,公平正義的法官是不是會為那些孤獨、弱小,無法用金錢或權力收買的人來彰顯權益呢?如果,有人將這種“強制公證”當作是一種逼迫受害人無條件投降的手段,我覺得也不無道理。事實上,在越南今天的具體情況下,申請公證手續是不可能的,因為如果做了,會導致入獄、受苦、家破人亡。

我們希望法院能夠好好思考並找到替代方案,並接受受害者的請求。

4- Thay mặt cho gần 8000 nạn nhân, xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ quảng đại của các Thẩm phán, luật sư, phóng viên và tất cả người dân Đài Loan đã tận tâm ủng hộ vụ kiện chống lại thảm hoạ môi trường do Công ty Formosa gây nên tại Hà Tĩnh Việt Nam vào năm 2016.

我代表近8000名受害人,衷心感謝法官、律師、記者和全體台灣人民對2016年台塑公司在越南河靜造成的環境災難案件的關心與支持。

Chúng tôi đặc biệt tri ân sự hỗ trợ tận tình của Linh mục Nguyễn Văn Hùng và Văn phòng Trợ giúp Công nhân, Di dân Việt Nam tại Tân Trúc luôn can đảm đồng hành và tận tình hỗ trợ vụ kiện này.

我們特別感謝阮神父和新竹教區越南移工移民辦公室的熱忱支持。

Chân thành tri ân Hội Công lý cho các Nạn nhân Formosa dòng dã trong suốt mấy năm vừa qua đã ngược xuôi vất vả đấu tranh vì Công lý và quyền lợi cho các nạn nhân của thảm hoạ Formosa. Chúng tôi không thể quên sự hỗ trợ pháp lý rất tích cực của hai Tổ hợp Luật sư tại Đài Loan đã tận tình đồng hành với chúng tôi suốt mấy năm vừa qua.

衷心感謝扶助鄉鄉災民協會,多年來一直努力為台塑河靜污染的受害者爭取正義和權利。

Chúng tôi rất cảm động và rất biết ơn 7 Nghị sĩ thuộc lưỡng Đảng trong Quốc Hội Hoa Kỳ và 3 Dân biểu Đài Loan đã gửi Văn thư ủng hộ các nạn nhân của thảm hoạ Formosa.

非常感動和感謝寄信的美國國會兩黨7位議員。

Chúng tôi cũng rất ước mong nhận được những lá thư ủng hộ đến từ các Nghị Sĩ, các vị Thẩm Phận, quý Giáo sư, Luật sư cũng như tất cả những người đang tranh đấu cho công lý, công bằng, bảo vệ môi trường sinh thái tại Quốc đảo thân yêu và xinh đẹp này.

我們也期待收到參議員、教區、教授、律師以及所有為了正義、公平、環境保護而奮鬥的人們的支持信。這個可愛美麗的島國的生態學校。

Chúng tôi cầu chúc chương trình của Tổng thống Thái Vân Anh về một Đài Loan Hoà bình, Dân Chủ, Tự do, Phát triển, Thân thiện với Môi trường Sinh thái sớm thực hiện. Tôi nghĩ rằng đó không chỉ là vinh dự của quý vị mà còn niềm vui và hãnh diện của tất cả người Đông Nam Á chúng ta.

希望蔡英文總統提出的和平、民主、自由、發展、環保的台灣理想早日實施。我想這不僅是你們的榮耀,也是我們所有東南亞人的喜悅和驕傲。

感謝您一直以來對我們的支持。

衷心感謝各位朋友。

Xin ơn trên luôn phù trợ chúng ta.

Nguồn FB: Linh Mục Nguyễn Văn Hùng


Nguồn: FB Lê Quốc Quân

Dại gì đa đảng?” – Đỗ Ngà

Báo Tiếng Dân

Đỗ Ngà

Theo báo Vnexpress bản tin Tiếng Anh thì người Việt đầu tư mua nhà ở Mỹ vẫn tăng đều, bất chấp dịch Covid-19 trong những năm qua. Hầu hết thành phần chủ doanh nghiệp đều bị tơi tả mùa dịch nhưng người Việt vẫn cứ mua nhà mở Mỹ tăng lên, điều đó cho thấy thành phần trục lợi dựa trên thảm họa dịch bệnh đang tuồn mạnh tiền ra nước ngoài để mua nhà. Thành phần đó là ai?

Có 2 vụ án liên quan đến trục lợi dựa trên dịch Covid trong những năm qua, đó là vụ án Việt Á với khoản tiền trục lợi thống kê được là 4000 tỷ đồng, và vụ án chuyến bay giải cứu cũng trục lợi người dân Việt Nam đang mắc kẹt ở nước ngoài, cũng với con số tương tự. Đấy là phần nổi của tảng băng, phần chìm là ẩn số không ai có thể thống kê nổi.

Có một thống kê khá thú vị là, mỗi năm, số tiền mà người Việt mang sang Mỹ mua nhà tương đương với kiều hối do người lao động của Việt Nam ở nước ngoài, khoảng từ 3 – 4 tỷ đô la. Mà phần lớn lao động Việt ở nước ngoài là culi trong khi phần nhiều quan chức Đảng Cộng sản Việt Nam trục lợi được là tẩu tán tiền ra nước ngoài bằng cách mua nhà và cho con cái du học Âu – Mỹ. Đây là bức tranh khá thú vị, nó cho thấy culi Việt Nam ra nước ngoài kiếm đô gởi về cho các quan chức mua nhà ngoại, mua giáo dục ngoại cho con cái mình.

Trước đây người Mỹ gốc Việt có nguồn gốc VNCH là chủ yếu, tuy nhiên, càng về sau, tỷ lệ người Việt gốc Cộng Sản ngày một tăng. Hầu hết thành phần này rất giàu có bởi họ kiếm tiền bằng cách móc túi hàng triệu dân Việt để sang Mỹ tiêu xài, trong khi người Mỹ gốc VNCH phải “cày cuốc” vất vả mới có tiền.

Năm 2021, kiều hối đổ về nước 18,1 tỷ đô la. Mức tăng kiều hối hằng năm khoảng 10,1% (cao hơn mức tăng GDP Việt Nam), tuy nhiên do khủng hoảng kinh tế nên dự đoán kiều hối năm nay chỉ tăng khoảng 5%. Theo dự đoán này thì kiều hối năm nay sẽ là khoảng 19 tỷ đô la.

Có thể nói đây là khoản đầu tư sinh lời nhất của Việt Nam, bởi cả nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể mang về khoảng 12 tỷ đô la (ước tính) do hoạt động buôn bán với thế giới, trong đó FDI kiếm về cho Việt Nam con số khoảng 36 tỷ đô la (ước tính), trong khi đó khối nội thì làm chảy mất 24 tỷ đô la (ước tính).

Tốc độ tăng trưởng kiều hối năm nay giảm. Nền kinh tế Việt Nam đang đi vào tâm bão với thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán đang khốn đốn. Dự báo nền kinh tế năm 2023 sẽ không gì làm khả quan lắm vì hàng loạt đại gia bất động sản như Đỗ Anh Dũng, Trịnh Văn Quyết và Trương Mỹ Lan chưa bị khui, vì nếu khui ra nền kinh tế có thể sẽ không trụ nổi. Tuy nhiên, không khui thì sâu mọt vẫn cứ ký sinh trong thân thể nền kinh tế và tiếp tục đục khoét. Năm sau là một năm không mấy hứa hẹn.

Ngày 10 tháng 12, khi đang thăm chính thức Luxembourg, ông Phạm Minh Chính đã đã gởi thông điệp với kiều bào trên khắp thế giới rằng “Đóng góp cho đất nước từ xa cũng là yêu nước”. Đóng góp từ xa là đóng góp bằng gì nếu không phải là kiều hối? Mỗi năm kiều hối tăng đều, lượng kiều hối cao hơn tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thì xem ra dụ kiều bào kiếm tiền dễ hơn là ra chính sách thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh.

Như vậy, nền kinh tế có sao đi nữa thì thành phần có quyền vẫn cứ đầy túi, dù kinh tế có sao đi nữa thì người Việt (kể cả Việt kiều và người Việt đang lao động nước ngoài) cũng phải kiếm tiền gởi về nuôi Cộng Sản ngày một nhiều hơn. Làm đảng độc quyền cai trị sướng thế thì “dại gì đa đảng” kia chứ?

_______

Tham khảohttps://www.vietnamplus.vn/infographics-kieu-hoi-ve-viet-nam-du-kien-lap-ky-luc-181-ty-usd/760799.vnp

NGÀY CÁNH CHUNG – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên
 

 Trước đây, khi giảng tĩnh tâm Mùa Chay, các Linh mục thường nhắc đến “Tứ chung” hay còn gọi là “Bốn sự sau,” nghĩa là Sự chết, Thiên đàng, Hoả ngục và Phán xét.  Đây là những vấn đề liên quan đến cùng đích của đời người.  Đó cũng là những điều mà ai cũng phải trải qua.  Người tín hữu, khi nghĩ đến “Bốn sự sau” cố gắng sống tốt và lo chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng để về với Chúa.
 

Cũng có người sợ hãi không muốn đề cập tới “Bốn sự sau,” vì họ coi đó là điều xui xẻo.  Nhưng, “Bốn sự sau” là một thực tại gắn liền với đời người, dù người ta có né tránh thì cũng không thoát được.  Khi giảng tĩnh tâm, nếu nhấn mạnh tới chủ đề “Bốn sự sau,” thì lại rất có hiệu quả.  Người tín hữu tham dự tĩnh tâm xưng tội rất đông và sốt sắng.  Như thế, nếu năng nghĩ đến sự chết, người ta sẽ sống tốt hơn, nhân ái hơn và cao thượng hơn trong cách đối xử với tha nhân.
     

Vũ trụ này không tồn tại mãi mãi, nhưng sẽ có ngày tận cùng.  Các tác giả Cựu ước đều chung quan điểm này.  Ngôn sứ Malaki là một trong những tác giả trình bày ngày cánh chung của vũ trụ.  Đó sẽ là ngày ngũ hành bị thiêu rụi, và cũng là thời điểm người lành kẻ dữ được xét xử công minh.  Kẻ ác sẽ như rơm rạ bị thiêu đốt, người lành sẽ toả sáng như mặt trời.  Suy tư về đời sau làm cho cuộc đời này có ý nghĩa.  Bởi lẽ nếu không có đời sau thì xấu tốt cũng như nhau, vàng thau cũng đồng giá.  Ngày cánh chung và cuộc phán xét, chính là câu trả lời cho sự khác biệt trong cuộc sống đời này.
 

Bao giờ mới đến ngày cánh chung?  Nhiều thế hệ đã lo lắng băn khoăn và đi tìm câu trả lời.  Vào thi điểm lịch sử bước sang những năm chẵn, như năm 1900, năm 2000, năm 2010…, người ta lo sợ và tuyên truyền sắp đến ngày tận thế.  Nhưng rốt cuộc ngày tận thế vẫn chưa đến.  Chúa Giêsu dặn chúng ta: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt.”  Đối với người tin Chúa, khi nào tận thế xem ra không phải là điều quan trọng, nhưng điều quan trọng là lòng tín trung phó thác nơi Chúa.  Nếu tận thế được diễn tả như trời long đất lở hoặc các hiện tượng thiên nhiên khác, thì Chúa Giêsu lại muốn nói với chúng ta: tận thế cũng có thể là những khó khăn, bách hại và thử thách về niềm tin.  Quả vậy, tin là đi theo con đường thập giá của Chúa Giêsu.  Chúa đã vác thập giá bước đi trong niềm phó thác nơi Chúa Cha.  Như thế, cánh chung đối với chúng ta hôm nay là những gian nan thử thách trong cuộc đời.  Mỗi chúng ta phải vượt qua những gian nan ấy để gìn giữ đức tin tinh tuyền trọn vẹn.  Theo Giáo lý của Giáo Hội Công giáo, nếu ngày phán xét chung còn rất xa vời, thì ngày phán xét riêng lại rất gần đối với chúng ta.  Khi chúng ta kết thúc hành trình trần thế, là lúc chúng ta ra trình diện trước nhan Chúa, để tường trình với Ngài về cuộc sống dương thế của chúng ta, với những ơn lành mà chúng ta đã lãnh nhận, như số vốn Chúa ban để chúng ta sinh lợi thiêng liêng.
 
    Tin vào ngày cánh chung ở cuối cùng của lịch sử, chúng ta tin cậy vào những giá trị vĩnh cửu.  Đền thờ Giêrusalem rất quan trọng đối với người Do Thái.  Đây là trung tâm văn hoá và là niềm tự hào của dân tộc.  Đền thờ còn là biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Ngài.  Ấy vậy mà Chúa Giêsu tuyên bố: những điều anh em đang chiêm ngưỡng và tự hào, sẽ có ngày ra tro bụi.  Viện vào câu nói này, khi tố cáo Chúa trước Công nghị, một số kỳ lão Do Thái đã nói: “Chúng tôi có nghe ông ấy nói: Tôi sẽ phá Đền thờ này do tay người phàm xây dựng, và nội ba ngày, tôi sẽ xây một Đền thờ khác, không phải do tay người phàm” (Mc 14,58).  Quả là một lời vu khống xuyên tạc.  Đền thờ bị phá huỷ là một sự kiện lịch sử, đã xảy ra vào năm 70 sau Công nguyên, khi tướng Titô của La Mã chiếm thành Giêrusalem.  Đền thờ nguy nga là thế, bỗng trở thành đống gạch vụn, “không còn tảng đã nào trên tảng đá nào.”  Đền thờ là thiêng liêng đối với người Do Thái, nhưng cũng hữu hạn và nhất thời.  Đền thờ là biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa, chứ không phải là Thiên Chúa.  Người tin Chúa mà chỉ gắn bó với Đền thờ như thể đó là thực tại vĩnh cửu, thì sẽ phải thất vọng.
   

Niềm tin vào ngày cánh chung không phải lý do để sống lười biếng.  Thánh Phaolô chia sẻ với giáo dân Thê-xa-lô-ni-ca về cuộc sống tự lập của ngài.  Ngài cũng khuyên mọi người hãy chịu khó làm việc, để nuôi sống bản thân và giúp đỡ người khác.Ngài lên án những người lười biếng và khiển trách họ là vô kỷ luật. Lời khuyên của thánh Phaolô luôn phù hợp với đời sống hiện tại của chúng ta.
   

Trong khi chờ đợi ngày cánh chung, hãy sống và làm việc.  Hãy cho đi để được nhận lãnh. Hãy khích lệ để được an vui, vì những gì ta cho đi là còn lại mãi.
    

Cuộc sống là tiếng vọng.

Điều bạn gửi đi sẽ quay trở về.
Điều bạn gieo trồng bạn sẽ gặt hái.
Điều bạn cho đi bạn sẽ nhận lại.
Điều bạn thấy ở người khác tồn tại trong chính bạn (Khuyết danh).
 
TGM Giuse Vũ Văn Thiên 

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

Mừng sinh nhật 100 tuổi của Giáo sư Doãn Quốc Sỹ

Le Thanh Hoang Dan

Mừng sinh nhật 100 tuổi của Giáo sư Doãn Quốc Sỹ, cựu giáo sư Sư Phạm Sài Gòn. Giáo sư Doãn Quốc Sỹ là một nhà giáo khả kính, một nhà văn nổi tiếng của miền Nam trước năm 1975.

“… Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Khu Rừng Lau, một trường thiên tiểu thuyết gồm có: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965), Những Ngả Sông (1966)…

Theo Lê Văn, đặc phái viên Việt Ngữ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, trong một cuộc phỏng vấn ông, có dẫn chuyện rằng “Ba Sinh Hương Lửa người ta thường ví như những tác phẩm lớn của Nga như Chiến tranh và hòa bình” trong đó nội dung mô tả lại những cảm xúc đớn đau của một thế hệ thanh niên mới lớn tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó phát giác ra mình đã bị lợi dụng như công cụ đấu tranh giai cấp của những người cộng sản và “có lẽ chính vì thế mà anh đã bị cộng sản bỏ tù khi họ khi chiếm được miền Nam”

Sau năm 1975, ông bị chính quyền Việt Nam giam cầm nhiều lần vì tội “viết văn chống phá cách mạng”, tổng cộng là 14 năm. Ông có tên trong danh sách những tên “biệt kích văn hóa”, bị bắt trong chiến dịch khởi động ngày 3 tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, cùng hàng trăm nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, nhân sĩ miền Nam bị xếp hạng “phản động”: Trần Dạ Từ, Đằng Giao, Nhã Ca, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hữu Hiệu, Hoàng Anh Tuấn, Thân Trọng Kỳ, Hoàng Vĩnh Lộc, Trịnh Viết Thành, họa sĩ Chóe, Như Phong Lê Văn Tiến, linh mục Trần Hữu Thanh, linh mục Đinh Bình Định, thượng tọa Thích Huyền Quang… Ông được phép di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1995. Hiện nay ông sống tại Houston, Texas từ khi sang định cư tại Hoa Kỳ.

Ông là tác giả của khoảng 25 cuốn sách. Chuyện ngụ ngôn của ông có tựa đề Con cá mắc cạn đã được dịch ra tiếng Anh (The Stranded Fish) và có trong sách Việt Nam: bạn đồng hành văn chương của một du khách (Vietnam: A traveler’s literary companion) do John Balaban và Nguyễn Quí Đức biên soạn.” (Wikipedia)

VIẾT CÁO PHÓ CHO MÌNH – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Suy Niệm Hàng Ngày

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Sẽ đến thời chúng ta không còn viết sơ yếu lý lịch nhưng bắt đầu viết cáo phó cho mình.  Tôi không chắc ai là người nói câu đó đầu tiên, nhưng nó hàm chứa một sự khôn ngoan.

Sơ yếu lý lịch và cáo phó khác nhau ở điểm nào?  Sơ yếu nói lên những thành tựu của bạn, cáo phó thể hiện cách bạn muốn được tưởng nhớ và những điều tốt lành nuôi dưỡng nào bạn muốn để lại.  Nhưng chính xác làm thế nào để viết được cáo phó sao cho nó đừng chỉ là một phiên bản kiểu khác của lý lịch?  Tôi xin đưa ra gợi ý thế này.

Trong Do Thái giáo, có truyền thống là hằng năm, một người trưởng thành phải đưa ra một di chúc tâm linh.  Ban đầu, nó là kiểu di chúc thông thường, tập trung vào việc mai táng, phân chia tài sản, cách xử lý những việc còn dang dở trong đời mình về mặt pháp lý và thực tế.  Tuy nhiên, qua thời gian, nó biến đổi thành dạng di chúc tập trung hơn vào việc xem lại đời mình, nêu bật những gì quý báu nhất đời, những hối hận và xin lỗi thật tâm, những lời chúc phúc cho những người mà mình muốn có lời từ biệt thật đặc biệt.  Di nguyện này được xem lại và viết lại hàng năm, cuối cùng là được đọc to trong tang lễ như là lời cuối cùng chúng ta muốn để lại cho người thân yêu.

Đây có lẽ là một việc làm rất hữu ích cho chúng ta, trừ việc di chúc này không phải viết ra để đưa cho luật sư, nhưng trong tinh thần cầu nguyện, gửi gắm cho một linh hướng, một cha giải tội đang giúp chúng ta.  Vậy di chúc tâm linh này nói đến những chuyện gì?

Nếu bạn đang cần những ví dụ, thì tôi xin đưa ra tác phẩm và những bài viết của Richard Groves, đồng sáng lập Trung tâm Nghệ thuật Thiêng liêng của Đời sống.  Trong hơn 30 năm ông làm việc trong lĩnh vực tâm linh cuối đời và cho chúng ta một vài hướng dẫn rất hữu ích về việc lập một di chúc tâm linh và đều đặn làm mới nó.  Di chúc tâm linh tập trung vào ba điểm này.

Thứ nhất: Trong cuộc đời, Thiên Chúa muốn tôi làm gì?  Tôi đã làm chưa?  Tất cả chúng ta đều có một vài ý thức về ơn gọi, ý thức mình có một mục đích khi tồn tại trên đời, ý thức mình đã được giao nhiệm vụ để hoàn thành trong đời.  Có lẽ chúng ta chỉ nhận thức thoáng qua về nó, nhưng với một mức độ nào đó, mỗi một chúng ta đều ý thức về một bổn phận và mục đích nào đó.  Việc đầu tiên trong di chúc tâm linh là cố nắm bắt điều này.  Thiên Chúa muốn tôi làm gì trong cuộc đời?  Tôi đã làm tốt hay tệ việc đó?

Thứ hai: Tôi cần phải nói lời xin lỗi với ai?  Tôi có những điều gì hối tiếc?  Cũng như người khác đã làm tổn thương ta, thì chúng ta cũng có thể làm tổn thương người khác.  Trừ phi chết trẻ, tất cả chúng ta đều từng mắc sai lầm, từng làm tổn thương người khác và làm những việc mà mình hối tiếc.  Một di chúc tâm linh là xác định việc này với một lòng thành thật tận cùng và hối hận sâu sắc.  Chúng ta không bao giờ có tấm lòng cao cả, cao thượng, sùng tín và xứng đáng được tôn trọng hơn, khi chúng ta quỳ gối chân thành nhận ra điểm yếu của mình, xin lỗi và hỏi xem chúng ta cần làm gì để sửa chữa.

Thứ ba: Trước khi qua đời, tôi muốn chúc phúc và trao lại món quà nuôi dưỡng cụ thể cho ai?  Chúng ta được gần giống Thiên Chúa (truyền năng lượng thần thiêng vào cuộc đời) những khi chúng ta ái mộ người khác, tán thành người khác, cho họ những gì chúng ta có thể làm để giúp cuộc đời họ tốt hơn.  Nhiệm vụ của chúng ta là làm việc này cho tất cả mọi người, nhưng chúng ta đâu thể làm cho tất cả, nên chúng ta làm cho một số người, và là những người cụ thể.  Trong di chúc tâm linh, chúng ta có dịp để nói lên những người mà chúng ta muốn chúc phúc nhất.  Khi tiên tri Ê-li mất, người hầu cận ngài là tiên tri Ê-li-sê nài xin ông để lại cho mình “phần gấp đôi” thần trí của ông.  

Khi chết, chúng ta phải để lại tinh thần của mình làm của nuôi dưỡng cho tất cả mọi người, nhưng có những người cụ thể mà chúng ta muốn để lại “phần gấp đôi.”  Trong di chúc này, chúng ta nêu lên những người đó là ai.

Trong quyển sách đầy thách thức: Bốn điều quan trọng nhất (The Four Things That Matter Most), bác sĩ Ira Byock, người chăm sóc cho những người hấp hối, nói rằng có bốn điều chúng ta cần nói với những người thân yêu trước khi họ qua đời.  Xin tha thứ cho tôi”, “Tôi tha thứ cho bạn”, “Cám ơn”, và “Tôi yêu bạn”. Ông nói đúng, nhưng với những chuyện chẳng ngờ, những căng thẳng, tổn thương, đau lòng và thăng trầm trong tình cảm, kể cả với những người mà chúng ta yêu thương nhất, không phải lúc nào cũng dễ (và đôi khi là bất khả thi) nói ra những lời này cách rõ ràng nhất.  

Một di chúc tâm linh cho chúng ta cơ hội để nói những lời này với tâm tư vượt lên những căng thẳng thường che mờ tình cảm giữa chúng ta, và ngăn chúng ta nói rõ những lời quan trọng này, để rồi ở tang lễ, sau những lời điếu văn, chúng ta sẽ không còn chuyện gì dang dở.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Vàng & phân

Báo Nguoi-Viêt

(Hình minh họa: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)

Nếu bạn để chính phủ (Cộng Sản) điều hành sa mạc Sahara, trong 5 năm chúng ta sẽ thiếu cát. – Milton Friedman

Bắt đầu từ thế kỷ 12, người Nhật “phát minh” ra một nghi thức tự tử (hara-kiri) mà ai ngó thấy cũng phải hết hồn. Họ đâm dao vào bụng trái, rồi rạch qua phải, xong thốc ngược mũi lên phần ngực. Chết là cái chắc!

Bởi vậy mới có thành ngữ “gan như Nhật.” Qua đến đầu thế kỷ 21, nhân loại mới được nghe nói tới một trường hợp tự tử cũng bằng dao nhưng ghê rợn hơn nhiều – theo bản tin (“Một Phụ Nữ Chết Ở Trụ Sở Công An Với Nhiều Vết Ðâm”) của báo Dân Trí:

“Ngày 13 Tháng Tư, công an thị trấn Long Hải tiếp nhận thông tin từ một gia đình ngụ trong thị trấn về việc bị mất trộm tài sản. Qua camera an ninh, chủ nhà nghi ngờ chị T. là người trộm tiền. Ðầu giờ chiều cùng ngày, công an thị trấn Long Hải đã mời chị T. đến trụ sở làm việc. Sau hơn hai giờ làm việc, công an cho gia đình bảo lãnh chị ra về.

Khoảng 30 phút sau chị T. quay lại trụ sở công an thị trấn Long Hải. Khi cán bộ công an thị trấn Long Hải đi ra khu vực phía sau thì phát hiện chị T. nằm dưới đất với con dao còn trên ngực. Chị T. được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong. Qua khám nghiệm tử thi, trên người chị T. có 12 vết đâm.”

Ngay cả giới hiệp sĩ đạo Nhật mà đọc bản tin dẫn thượng (chắc) cũng sợ teo chim. Sao lại có một phụ nữ Việt Nam gan dạ tới cỡ đó, hả Trời. Dám quyên sinh bằng một cái dao… rất cùn nên phải tự đâm vào mình tới 12 lần lận!

Sự can đảm quá cỡ thợ mộc của chị T. khiến cho blogger Hải Âu nghi ngại, và xem đây là một “chuyện quá hoang đường!” Thực ra, gần đây, có nhiều vụ tự tử còn “hoang đường” hơn nữa:

-Ngày 9 Tháng Hai, ông Nguyễn Thành Ngôn treo cổ bằng dây giầy tại đồn công an Yên Thành, Nghệ An.

-Ngày 3 Tháng Năm, ông Nguyễn Hữu Tấn dùng dao cắt cổ đứt lìa tại đồn công an Bình Minh, Vĩnh Long.

-Ngày 14 Tháng Sáu, ông Ngô Chí Tâm thắt cổ bằng dây thun quần tại đồn công an Thủ Ðức, Sài Gòn.

-Ngày 7 Tháng Bảy, ông Nguyễn Hồng Ðê thắt cổ bằng áo dài tay tại đồn công an Ninh Hải, Phan Rang.

Cùng với những phương cách quyên sinh hoang đường kể trên, người Việt còn có nhiều kiểu hy sinh rất lạ mắt và khó tin không kém:

-Ngày 12 Tháng Mười Hai, 1953, ông Bế Văn Ðàn hy sinh lấy vai làm giá súng.

-Ngày 1 Tháng Hai, 1954, ông Tô Vĩnh Diện hy sinh lấy thân chèn pháo.

-Ngày 13 Tháng Ba, 1954, ông Phan Ðình Giót hy sinh lấy thân mình lấp lỗ châu mai.

Ðó là chưa kể đến nhiều đợt hy sinh ở bình diện tập thể, chưa từng xảy ra ở một quốc gia nào khác – ngoài Việt Nam:

Sau cuộc Cải Cách Ruộng Ðất (1953-1956) tại miền Bắc, toàn thể nông dân ở đây đã “tự nguyện” mang hết đồng ruộng giao nộp lại cho nhà nước (bằng cách gia nhập hợp tác xã) để chính phủ thực hiện chính sách… đất đai là của toàn dân.

Trong cuộc Cải Tạo Công Thương Nghiệp, kéo dài nhiều đợt, ở miền Nam, không ít người dân ở vùng đất này cũng đã “tự nguyện” mang hết tài sản (nhà, xe, cơ sở thương mại) cho nhà nước dưới hình thức hiến tặng.

Ngoài ruộng đất, xe cộ, nhà cửa, cơ sở làm ăn…, đã có lúc dân Việt còn mang luôn vàng cho (không) chính quyền cách mạng nữa kìa. Ký giả Trà Phương, báo mạng VNExpress, số ra ngày 13 Tháng Mười, 2010, có bài tường thuật, kèm hình ảnh (ngó) vô cùng cảm động:

“Sau khi giành độc lập, đất nước gặp nhiều khó khăn về tài chính, ngày 4 Tháng Chín, 1945, Bác Hồ đã phát động Tuần Lễ Vàng kêu gọi mọi người ủng hộ ngân sách quốc gia. Trong tuần lễ này, giới công thương có đóng góp nhiều nhất.”

Dù với đủ kiểu và đủ cách hy sinh của người dân (về tính mạng cũng như tài sản) ròng rã hơn 70 năm qua, Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam – xem ra – vẫn nhất định không chịu phát triển. Quốc khố vẫn cứ trống trơn, cũng y như lúc vừa cướp được chính quyền, và nợ công thì đang chồng chất.

Theo TTXVN, đây là vấn đề đã được Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu lên lên trong hội nghị tổng kết ngành tài chính vào ngày 6 Tháng Giêng: “Nợ công trong năm năm qua tăng trung bình gấp ba lần tốc độ tăng trưởng… tốc độ tăng chi thường xuyên cao… thu ngân sách không đủ chi thường xuyên và trả nợ… nếu không chấm dứt tình trạng này, sự sụp đổ nền tài khóa quốc gia không thể tránh khỏi… Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị các cơ quan chức năng phải có cải cách đột phá trong tư duy ngân sách…”

Khuynh hướng tư duy “đột phá” đang được nhắc đến nhiều nhất là… huy động nguồn lực vàng trong dân! Nói nào ngay thì kiểu “tư duy” này cũng gần giống như chuyện bác Hồ phát động “tuần lễ vàng” hồi năm 1945 thôi, chớ cũng không được “đột phá” gì cho lắm.

Cái gì chớ vàng thì hiện nay người dân không thiếu, và còn có nhiều hơn hồi trước nữa kìa (đó là chưa kể đô la) nhưng e là họ thiếu niềm tin vào cái nhà nước hiện hành. Liên quan đến vấn đề huy động vàng trong dân, trong cuộc phỏng vấn do báo Dân Trí thực hiện, Tiến Sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính-ngân hàng, góp ý: “Hiện nay, chưa có thống kê rằng, loại vàng nào trong dân là nhiều, vàng miếng, vàng trang sức, nữ trang, để đưa ra lời khuyên cho các nhà hoạch định chính sách và giúp người dân hiểu được chủ trương. Tôi cho rằng, nếu chúng ta làm tốt chủ trương này, thì đây là cơ hội lớn để phát triển đất nước, gia tăng tài sản cho Ngân Hàng Nhà Nước, đồng thời, nó cũng là cơ hội kinh doanh, kiếm lời cho người dân.”

Ông nội tiến sĩ này không biết từ hang hóc nào mới chui ra, hay chắc mới từ… trên trời rớt xuống nên không biết những chuyện cười (ra nước mắt) như sau, ở nước CHXHCNVN:

-Báo Một Thế Giới, 2 Tháng Tư, 2015: “Gửi tiết kiệm một chỉ vàng nhận lại một ổ bánh mì thịt”

-Báo Kiến Thức, 9 Tháng Ba, 2015: “Gửi tiết kiệm 20 năm mua được… 3 kg thịt”

-Báo Tuổi Trẻ, 10 Tháng Ba, 2015: “Gửi tiết kiệm 20 năm, một căn hộ còn ba tô phở”

-Ðài SBTN, 16 Tháng Năm, 2015: “Vietcombank khóa tài khoản nhà hoạt động theo lệnh công an”

-Báo Thanh Niên, 25 Tháng Tám, 2016: “Tiền ở ngân hàng lại ‘bốc hơi’ hàng loạt”

-Báo Ðiện Tử Ðài Tiếng Nói Việt Nam, 10 Tháng Năm, 2017: “Lào Cai: Hàng chục tỷ gửi tiết kiệm ‘bốc hơi’ chỉ còn 1 triệu đồng“

Dân Việt không ít kẻ đã gửi gắm niềm tin vào đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh và đang nhận lại nguyên một băng trộm cướp. Tuy thế, báo Dân Trí, số ra ngày 16 Tháng Bảy, lại vừa có bản tin (“Bộ Tài Chính Ðôn Ðốc Trả Nợ Tiền Vay Dân Sau Hai Cuộc Khảng Chiến”) đọc mà muốn trào nước mắt luôn: “Ðó là những khoản mà người cho vay và cơ quan nhận vay đều ý thức rằng sẽ được trả và phải hoàn trả. Cụ thể những khoản vay được nhà nước đảm bảo trả là những khoản: Công phiếu kháng chiến, phát hành trong các năm 1948, 1949, 1950, 1951, 1952; Công trái quốc gia, phát hành năm 1951; Công trái Nam Bộ, phát hành năm 1947, 1958; Công phiếu nuôi quân phát hành năm 1964 và những khoản vay khác (tiền hoặc lương thực) do các cơ quan chính quyền từ cấp huyện trở lên vay theo lệnh của cấp trên để mua sắm vũ khí, nuôi quân đánh giặc…”