Tham nhũng dưới chế độ Cộng sản-Trần Trung Đạo

Báo Tiếng Dân

Trần Trung Đạo

13-7-2023

Dưới chế độ Cộng sản (CS) tham nhũng mang tính đảng. Tính đảng là gì?

Tính đảng gắn liền với sự ra đời, lý tưởng và con đường đấu tranh của đảng cộng sản. Đảng cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân – ra đời trên cơ sở kết hợp giữa lý luận (chủ nghĩa xã hội khoa học – hệ tư tưởng của giai cấp công nhân) và thực tiễn (phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản)”. (Tạp chí Xây Dựng Đảng ngày 22 tháng 8, 2021).

Nói một cách dễ hiểu, tính đảng là những đặc điểm mang tính bản chất gắn liền với sự ra đời, phát triển và mất đi của ý thức hệ Cộng sản mà đại diện là đảng Cộng sản.

“Chuyên chính vô sản”, “nền tảng lý luận và tư tưởng của đảng Cộng sản đặt cơ sở trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử”, “vai trò lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng sản trong mọi lãnh vực của đời sống xã hội” v.v.. là những tính đảng. Các tính đảng đó cùng tồn tại với đảng Cộng sản và trong lòng cơ chế Cộng sản.

“Tính đảng độc tài chuyên chính” đẻ ra “tính đảng tham nhũng thối nát” và vì thế “tính đảng tham nhũng thối nát” không thể nào bị ngăn chặn hay xóa bỏ khi nào “tính đảng độc tài chuyên chính” còn tồn tại.

000_8ZX9LJ.jpg

Đó là quan hệ nhân quả giữa “chuyên chính” và “tham nhũng”, và quan hệ đó tồn tại suốt chiều dài của đảng Cộng sản.

Câu hỏi thường được đặt ra liệu tham nhũng có thể được ngăn chặn hay xóa bỏ dưới chế độ Cộng sản hay không, câu trả lời đúng theo quy luật xã hội là “không”.

Câu trả lời đó không phải võ đoán mà dựa theo “cơ sở lý luận kinh điển” của hệ tư tưởng Cộng sản và thực tế xã hội tại các nước cựu Cộng sản từ LX cho tới Đông Âu.

Nhìn lại tình trạng tham nhũng tại Liên Xô.

Craig R. Whitney, từng là Chủ Bút của New York Times, khi còn là một phóng viên tại Liên Xô đã mô tả xã hội Liên Xô giống hệt như đang xảy ra tại Việt Nam ngày nay. Ông viết trên New York Times ngày 7 tháng 5, 1978, Liên Xô “là một xã hội tham nhũng tràn lan, nơi các quan chức biển thủ hàng trăm tỷ đôla mỗi năm từ các doanh nghiệp nhà nước và nơi một cảnh sát sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ nếu khoản hối lộ chưa đúng.” (The New York Times, In Soviet, Widespread Practice of Bribery Helps One Get a Car, Get an Apartment and Get Ahead, May 7, 1978).

Lenin xem tham nhũng là kẻ thù số một của chế độ nhưng không diệt được tham nhũng. Nửa thế kỷ sau, Nikita S. Khrushchev cũng thề sống chết với tham nhũng nhưng cuối cùng, một trong những nguyên nhân chính và sâu xa nhất đã nhận chìm chế độ Cộng sản Liên Xô chính là tham nhũng.

Lý do đơn giản. Một khi toàn bộ đời sống đất nước đặt trọn trong tay một nhóm người nắm giữ mọi quyền sinh sát, nhóm người đó sẽ lạm quyền, sẽ tham ô, sẽ tham nhũng, sẽ băng hoại và sẽ thối nát.

Là con người ai chẳng có ít nhiều lòng tham và dễ mềm lòng trước cám dỗ. Tham nhũng xảy ra ở khắp nơi và trong mọi xã hội. Khác chăng, tham nhũng ở các nước dân chủ phát xuất từ lòng tham cá nhân và tham nhũng dưới chế độ Cộng sản phát xuất từ hệ thống.

Cá nhân cựu Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi can tội hối lộ và trốn thuế nhưng nền Cộng Hòa Ý thì không. Cá nhân cựu Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy can tội hối lộ quan tòa nhưng nền Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp thì không.

Ngoài nguyên tắc tam quyền phân lập, kiểm soát và thăng bằng (check and balance) giữa các ngành, sức mạnh của người dân qua các tổ chức xã hội dân sự tại các nước dân chủ đã đóng góp phần quan trọng trong việc trong sạch hóa không ngừng xã hội.

Các nước Cộng sản không có những đặc điểm đó.

Lịch sử cho thấy nếu tham nhũng có thể ngăn chặn được thì Liên Xô đã không sụp đổ năm 1991.

Sau các giai đoạn thanh trừng đẫm máu của Stalin, thời Leonid Brezhnev (1964–1982) là thời kỳ Cộng sản chuyên chính nhất tại LX nhưng đồng thời cũng là thời kỳ tham nhũng phát xuất từ hàng ngũ cán bộ cao cấp diễn ra nhiều nhất.

Để củng cố quyền lực sau khi loại bỏ Nikita Khrushchev, Brezhnev đưa vào trung ương những cán bộ thuộc thành phần thân tín được gọi là “những cán bộ được đề cử” (nomenklatyra) và thành phần này sống đời sống xa hoa giữa một nền kinh tế đang suy thoái trầm trọng.

Tái hiện cuộc sống thời Liên Xô qua triển lãm bảo tàng | Hồ sơ ...

Sau khi Leonid Brezhnev chết (1982), một ủy ban điều tra đã khám phá ra nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Uzbekistan đã thất thoát một ngân sách khổng lồ lên tới 6.5 tỷ đôla theo thời giá 1988 vào tay các lãnh đạo CS trong đó có con rể của Brezhnev.

Khi hung thần Brezhnev còn sống, những cán bộ này được hệ thống quyền lực bao che. Tờ Pravda dưới thời kỳ cởi mở của Gorbachev cho rằng tham nhũng tại LX đã bị cơ chế hóa. (Soviet Uncover Massive Corruption : Billions Lost in Uzbekistan Case Involving Brezhnev Kin, L.A. Times, Jan. 24, 1988).

Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, nghiên cứu về “tính đảng tham nhũng thối nát” của LX là một quan tâm chuyên môn của các phân tích gia Mỹ. Lý do, chính quyền Mỹ biết tham nhũng là điểm băng hoại mang tính bản chất của chế độ Cộng sản nên đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu tình trạng tham nhũng tại Liên Xô, Ba Lan và các nước Cộng sản.

Bản phân tích mật số SOV 8510145X với tựa “The Soviet Anticorruption Campaign: Causes, Consequences, And Prospects” của CIA vào tháng 8, 1985 được bạch hóa năm 2014 cho biết nguồn gốc của phong trào chống đối tại Ba Lan phát xuất từ tình trạng tham nhũng trầm trọng trong hệ thống đảng và nhà nước Cộng sản Ba Lan. (General CIA Records, Publication Date: August 1, 1985).

Đến thời hung thần Yuri Andropov cũng thế. Yuri Andropov, còn được gọi là “đồ tể của Budapest” vì vai trò của y trong vụ đàn áp cuộc nổi dậy tại Hungary 1956, Mùa Xuân Tiệp Khắc 1968 và từng là giám đốc KGB từ 1967 đến 1982, khi lên nắm quyền Tổng Bí Thư đảng Cộng sản LX đã ra lịnh bỏ tù hàng loạt cán bộ các cấp lãnh đạo đảng vì tội tham nhũng.

Andropov chết, Konstantin Chernenko lên thay và cũng tiếp tục chính sách chống tham nhũng của Andropov nhưng cả hai cuối cùng đều thất bại.

Một thước đo được quốc tế công nhận để đo lường các chính sách chống tham nhũng và sự trong sạch của bộ máy công quyền tại một nước là tính minh bạch của chính phủ nước đó.

Minh bạch của chính phủ (Governmental transparency) là gì?

Theo định nghĩa của The Encyclopedia of American Politics, minh bạch của chính phủ (Governmental transparency) là “Công khai, trách nhiệm, và thành thật xác định tính minh bạch của chính phủ. Trong một xã hội tự do, minh bạch là trách nhiệm của chính phủ để chia sẻ thông tin với người dân. Minh bạch là trọng tâm để qua đó người dân quy trách nhiệm cho các viên chức chính quyền.”

Theo định nghĩa đó, ba đặc điểm của minh bạch cần phải có gồm (1) công khai, (2) trách nhiệm và (3) thành thật. Đồng thời, ba hậu quả của không minh bạch trong chính phủ gồm (1) thông tin bị bưng bít, (2) lạm dụng quyền hành và (3) tham nhũng.

Dưới chế độ CSVN hiện nay, nếu chỉ phải trả lời theo lối trắc nghiệm, một người có nhận thức chính trị căn bản nào cũng có thể dễ dàng chọn “không” cho ba đặc điểm và “có” cho ba hậu quả.

Thử lướt qua tính minh bạch tại vài nước Cộng sản điển hình.

Tại Liên Xô. Là lãnh đạo Cộng sản cao cấp nhất của đảng và nhà nước Liên Xô, hơn ai hết, Mikhail Gorbachev biết rất rõ rằng hệ thống Soviet dựa vào tuyên truyền dối trá và nhà tù, hơn 70 năm đã kìm hãm sự phát triển tự do của nhận thức con người, đi ngược lại sự chuyển động tự nhiên của xã hội.

Vào cuối thập niên 1980, văn minh nhân loại đã phát triển đến mức những câu chuyện tuyên truyền hoang đường về một thiên đường Cộng sản đã thành những chuyện cười trong các quán rượu ở Nga, và nhà tù không thể nhốt hết 300 triệu người dân trong 15 nước thuộc liên bang Xô Viết.

Muốn Liên Xô tồn tại, đảng Cộng sản phải thực hiện những thay đổi tận gốc rễ của chế độ và trước hết là minh bạch. Chính từ lý do đó, một trong những trọng điểm của chương trình Glasnost (Cởi mở) mà Gorbachev phát động vào năm 1986 là để gia tăng mức độ minh bạch trong chính phủ.

Gorbachev chủ trương tạo một không khí tranh luận giữa chính phủ và người dân về tất cả các vấn đề của đất nước, và điều này cũng có nghĩa giới hạn quyền kiểm soát của trung ương như đã có trước đây. Nhưng những cố gắng của Gorbachev đến quá trễ và trở thành con dao hai lưỡi, chặt đứt chế độ mà ông ta nỗ lực để cứu vãn.

Từ Đặng Tiểu Bình Đến Tập Cận Bình và Minh Bạch

Học bài học Liên Xô, Đặng Tiểu Bình và các thế hệ lãnh đạo Trung Cộng sau y đã chọn lựa ban cho người dân cơm áo nhưng siết chặt xã hội Trung Quốc bằng một chế độ hà khắc về đời sống tinh thần không khác gì Tần Thủy Hoàng hai ngàn hai trăm năm trước.

Lãnh đạo Trung Cộng ngăn cấm sử dụng internet ngoài giới hạn cho phép. Các mạng thông tin xã hội quen thuộc với phần lớn nhân loại như Facebook, Twitter hay Youtube bị chặn. Mọi đường thông tin ra ngoài Trung Quốc đều do Đề án Lá chắn Vàng (Golden Shield Project) thuộc Bộ An ninh kiểm soát. Để trấn áp dân chúng trong lãnh vực thông tin, Bộ An ninh Trung Cộng tuyển dụng một lực lượng an ninh mạng khoảng 2 triệu nhân viên.

Trong một bài bình luận gởi riêng cho báo New York Times ngày 15 tháng 6, 2015, Bào Đồng (Bao Tong), cựu Trưởng Ban Cải cách Chính trị Trung Ương đảng CSTQ và là Thư ký riêng của cố Thủ tướng Triệu Tử Dương, nhận xét rằng chính sách “làm giàu trước đã” của Đặng đã biến xã hội Trung Quốc thành một xã hội tham nhũng từ địa phương đến trung ương, lãng phí tài nguyên, tàn phá môi trường thiên nhiên và di họa cho các thế hệ mai sau.

Họ Đặng đã làm mọi cách để gia tăng tổng sản lượng bất chấp những tai họa do các chính sách đó gây ra.

Đầu năm 2015, trước áp lực quốc tế và sức phản kháng của người dân như mạch nước ngầm đang chuyển động, Tập Cận Bình lo lắng và tuyên bố sẽ minh bạch hơn trong các chính sách kinh tế, quốc phòng và đẩy mạnh chính sách chống tham nhũng. Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, hành động của họ Tập chỉ nhằm mục đích thanh trừng các phần tử chống đối và củng cố quyền lực cá nhân hơn là gia tăng minh bạch trong chính phủ.

Trung Cộng tồn tại được bao lâu hiện đang là một chủ đề được các nhà nghiên cứu kinh tế chính trị tập trung vào. Không ai biết chắc về thời điểm hay cách thức nhưng đều đồng ý Trung Cộng sụp đổ chỉ là vấn đề thời gian. Lần nữa, một trong những lý do là không minh bạch trong chính phủ.

Cộng sản Việt Nam và Minh Bạch

Cộng sản Việt Nam, về bên ngoài, đang đối diện với con quái vật Trung Cộng đang ăn tươi nuốt sống từng phần thân thể, và bên trong, là một chế độ toàn trị tồn tại bằng tuyên truyền lừa bịp và nhà tù.

Người dân trong nước có vẻ phấn khởi, vui mừng khi một số cán bộ tham nhũng bị bắt và bị khởi tố. Nhưng một tầng lớp cán bộ tham nhũng vào tù nhưng sẽ có một tầng lớp cán bộ tham nhũng khác lên thay và nếu bị lộ họ sẽ vào tù. Họ có thể nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu trước tòa nhưng sẽ mỉm cười chiến thắng lúc một mình. Chính trị dưới chế độ Cộng sản là sòng bạc quyền lực. Nếu phải ở tù vài năm với tiêu chuẩn đảng viên cao cấp mà giấu được nhiều triệu dollar họ vẫn còn lời to.

“Còn đảng còn mình” | Diễn Đàn Hội Luận Phỏng Vấn Hiện Tình Việt Nam

Bản chất giống nhau thì hậu quả không thể khác dù đó là ở LX trước đây hay Trung cộng và Cộng sản VN hiện nay.

Các tính đảng “độc tài chuyên chính” và “tham nhũng thối nát” có quan hệ hữu cơ và do đó sẽ dẫn tới hậu quả giống nhau không tránh khỏi.

Người dân bình thường có lý do để vui mừng vì hút máu dân lành là một trọng tội nhưng đừng quên những kẻ đáng tội hơn không phải Đinh La Thăng, Tất Thành Cang, Chu Ngọc Anh, Nguyễn Thanh Long v.v.. mà là cơ chế Cộng sản.

Điều đó hiển nhiên đến mức ngay cả cựu TBT đảng Cộng sản Lê Khả Phiêu cũng phải thừa nhận khi phát biểu “Tham nhũng ở nước ta là do cả cơ chế lẫn con người.” (Tìm lại lòng tin đã mất, báo Người Đô Thị, 27 tháng 11, 2014).

Cơ chế chính trị Cộng sản đã bắc thang cho các cán bộ Cộng sản leo lên đài danh vọng và tạo cho họ cơ hội làm giàu trên sự chịu đựng của nhiều triệu dân nghèo, của hàng ngàn học sinh mỗi ngày phải lội sông, lội suối đến trường, của hàng vạn trẻ thơ không áo ấm mùa đông. Nước mắt chảy thành sông trên quê hương Việt Nam giữa tiếng cười của lớp người cai trị suốt gần nửa thế kỷ qua và sẽ chảy cho đến ngày chế độ độc tài sụp đổ.

Tham nhũng tại Việt Nam là một loại cỏ độc ăn sâu trong đất, không thể cắt, không thể nhổ mà phải thay bằng đất mới.


 

Vụ án các chuyến bay giải cứu

Báo Tiếng Dân

Đỗ Duy Ngọc

13-7-2023

Có lẽ trong lịch sử của toà án Việt Nam dưới chế độ Đảng Cộng Sản lãnh đạo, chưa bao giờ có một cuộc xử án mà bị cáo toàn là cán bộ cao cấp đông đúc đến thế. Mà lại là lãnh đạo các ngành quan trọng của đất nước: Công an, ngoại giao, y tế… Một vụ án ai biết chuyện cũng buông ra lời nguyền rủa và tâm trạng thất vọng, mất lòng tin nặng nề.

Trong khi cả nước và đặc biệt là thành phố Sài Gòn bị dính vào cơn đại dịch Covid. Người chết chất chồng trong các xe lạnh, người sống quẫn bách, thiếu lương thực, nhiều nơi phải sống bằng hộp cơm từ thiện, nhiều cuộc chia ly đẫm nước mắt, những người ra đi không được một nén nhang, một vòng hoa đưa tiễn. Và trở về trong hũ cốt.

Cũng trong thời gian đó, nhiều học sinh, sinh viên, người lao động, nhiều người vì hoàn cảnh bị kẹt lại ở xứ người không có phương tiện và điều kiện để trở về với gia đình. Nhà nước liền tổ chức những chuyến bay được gọi tên là những chuyến bay giải cứu để giúp số người này trở lại quê nhà. Ý tưởng quá hay, quá đẹp, quá nhân đạo. Nhưng những người phụ trách, những kẻ quyền chức lợi dụng các chuyến bay đó để hút máu, cắt cổ người dân.

Với quyền lực có sẵn, họ bắt chẹt những người muốn bay về với những số tiền vô lý để chia chác nhau. Họ lợi dụng tình hình để tài sản họ càng nhiều, hầu bao họ càng lớn. Mà họ có thiếu thốn gì đâu, đã ngồi vào các ghế ấy, chẳng có ai nghèo. Tài sản của họ đã là hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn tỷ. Thế mà lòng tham vẫn còn chất ngất, họ liên kết cùng nhau để bóp cổ dân mình.

Không thể tưởng tượng nổi một quan chức là thư ký cho thứ trưởng Y tế 253 lần nhận hối lộ với số tiền lên đến 42,6 tỉ đồng. Liệu y ăn trọn một mình hay chia chác cho ai, đến giờ y vẫn không khai.

Hồ sơ vụ án cho thấy, 54 bị cáo trong vụ án bị đưa ra xét xử với 5 tội danh là: “Đưa hối lộ”, “Nhận hối lộ”, “Môi giới hối lộ”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Trong 54 bị cáo, 21 bị cáo bị truy tố về tội “Nhận hối lộ” và có tới 18 bị cáo bị xét xử theo khoản 4, Điều 354 Bộ luật hình sự với khung hình phạt từ 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; 4 bị cáo bị truy tố về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Qua đó, người ta thấy rõ là quan chức bất kể trường hợp nào, cứ ăn được là ăn, cứ đớp được là đớp, chẳng cần nghĩ đến lương tâm, đến nhân đạo.

Theo cáo trạng truy tố có 25 bị cáo nhận hối lộ gần 165 tỷ đồng. Cũng trong vụ án này, Viện Kiểm sát xác định 23 cá nhân là đại diện các doanh nghiệp đã đưa hối lộ hơn 226 tỷ đồng, 4 cá nhân môi giới hối lộ hơn 74 tỷ đồng và lừa đảo chiếm đoạt số tiền gần 25 tỷ đồng.

Người ta thấy trong hàng ngũ bị cáo có mặt nhiều quan chức cấp cao như Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tô Anh Dũng và Cục trưởng Cục Lãnh sự Nguyễn Thị Hương Lan, Phó Chủ tịch UBND Hà Nội Chử Xuân Dũng; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Trần Văn Tân…

Ngoài ra còn có Nguyễn Quang Linh, Trợ lý Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; Nguyễn Thanh Hải Vụ trưởng Vụ Quan hệ quốc tế Văn phòng Chính phủ; Nguyễn Tiến Thân, Nguyễn Mai Anh cùng là Chuyên viên Vụ Quan hệ quốc tế Văn phòng Chính phủ; Đỗ Hoàng Tùng, Phó Cục trưởng Cục Lãnh sự; Lê Tuấn Anh, Chánh Văn phòng Cục Lãnh sự; Lưu Tuấn Dũng, Phó Trưởng Phòng Bảo hộ công dân, Cục Lãnh sự; Vũ Hồng Nam, Nguyễn Hồng Hà cùng nguyên cán bộ Bộ Ngoại giao; Lý Tiến Hùng, Chuyên viên Vụ khoa học công nghệ và Môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo; Vũ Ngọc Minh, nguyên cán bộ Bộ Ngoại giao; Phạm Trung Kiên, chuyên viên Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế, Bộ Y tế; Ngô Quang Tuấn, chuyên viên Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Giao thông vận tải; Vũ Hồng Quang, Phó Trưởng Phòng vận tải hàng không, Cục Hàng không Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải; Trần Văn Dự, Vũ Anh Tuấn, Vũ Sỹ Cường cùng nguyên cán bộ Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an, Bùi Huy Hoàng, Chuyên viên Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế; Phạm Thị Kim Ngân, cán bộ Phòng Trị sự, Tạp chí Thanh tra, Thanh tra Chính phủ; Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Công ty Cổ phần xúc tiến thương mại và Du lịch Việt Nam và Nguyễn Anh Tuấn, nguyên Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội, Hoàng Văn Hưng, nguyên cán bộ Công an…

Ảnh trên mạng

Đồng thời có một loạt cựu cán bộ thuộc Đại sứ quán Việt Nam tại các quốc gia như Angola, Nhật Bản, Nga, Malaysia… có dính líu đến những chuyến bay giải cứu.

Toàn tai to mặt lớn cả. Đáng lẽ với chức quyền như thế, họ có bổn phận và trách nhiệm tìm đủ mọi cách để giúp người dân thuận tiện, ít tốn kém nhất để được trở về như mục đích của chính phủ. Đằng này họ nhẫn tâm siết cổ dân để thu lợi. Hành động đấy gọi là ăn cướp, vô nhân đạo, thiếu tình người khi đồng bào mình gặp cơn hoạn nạn. Con thú còn động lòng trước nỗi đau của đồng loại, họ còn tệ hơn thú vật khi hút máu của người dân trong cơn nguy khốn.

Tuy không đồng tình và ủng hộ việc xử tử hình nhưng trong trường hợp này, nếu bị cáo nào nằm trong khung tử hình thì cũng nên xử án tử một vài người đúng luật và thoả mãn được ý dân. Bởi họ tàn nhẫn quá, vô nhân đạo quá, họ không còn là con người thì không nên để họ tiếp tục được làm người. Số tiền cướp được hàng trăm, hàng ngàn tỷ không quan trọng bằng chuyện làm người lãnh đạo mà vô tâm và tàn ác với đồng bào mình khi mồm luôn cao giọng yêu nước, yêu dân. Có nhiều nhà báo, nhà văn, thầy giáo viết bài, làm thơ ca ngợi chuyến bay giải cứu. Cũng có vị đại sứ viết nguyên cuốn sách ngợi ca. Điều đó đáng ghê tởm hơn con số trăm, ngàn tỷ đồng kia.

Giờ đây, khi chen nhau đứng chật trước vòng móng ngựa. Kẻ thì khóc lóc xin tha, kẻ thì chối không khai đường đi của đồng tiền hốt được, kẻ ngu ngơ bảo lúc nhận tiền không nghĩ là phạm pháp, nghe rất buồn cười. Toàn là một lũ hèn. Khi đang đương chức miệng hét ra lửa, doạ nạt để người ta phải xuỳ tiền ra. Lúc vỡ trận thì tìm đủ cách để nguỵ biện, chối tội, xin tha. Trong danh sách ấy ông bà nào cũng có biệt phủ, biệt thự, có con học Mỹ, học Anh, có vợ thường đi shopping ở các của hàng nổi tiếng ở nước ngoài, bản thân xài tiền như nước. Quả báo nhãn tiền, yêu cầu họ phải trả lại cho các nạn nhân số tiền họ đã bóc lột được, đó mới là đạo lý.

Người dân đang chờ một bản án công minh, những nạn nhân đang đợi những đồng tiền mồ hôi xương máu của mình được trả lại một cách minh bạch. Hãy chờ xem.

Độc Thân mà không Cô Độc – Bác sĩ Nguyễn Ý Đức.

– Bác sĩ Nguyễn Ý Đức.

Có ý kiến cho rằng, khi  rơi vào tình trạng độc thân thì nhiều người cảm thấy cô đơn và hối hả đi tìm một đối tượng mới để “như đũa có đôi”. Nhưng thực ra không hoàn toàn như vậy, vì nhiều người lại enjoy với sự trở lại cuộc sống thong dong một mình một bóng thuở xa xưa.

Trung Tâm cao niên Adult Daycare Center AAA mang niềm vui đến các cụ ...

Tại một trung tâm sinh hoạt của quý vị cao niên, số người cả nam lẫn nữ ly hôn, góa bụa này không phải là ít. Các ông các bà thường trút bầu tâm sự với nhau về hoàn cảnh của mình.

Một ông nói, sau hơn một năm ra vào thương nhớ thì bây giờ tôi đã khuây khỏa với cảnh lẻ loi. Giờ đây mình muốn làm gì thì làm, muốn ăn gì thì nấu lấy, sống thoải mái tự do và cũng “phát hiện” ra rằng mình cũng có thể làm được nhiều điều mà trước đây cứ phải nhờ đến bà xã. Nhưng đôi khi cũng nhơ nhớ làm sao ấy…

Một bà tâm sự bây giờ các cháu đã ở riêng có công ăn việc làm tương đối ổn định, tôi “vô tư” đi đây đi đó, ở với cháu này vài tuần rồi tới nhà cháu khác. Ngày ngày rủ vài bà bạn tới sinh hoạt chung ở đây thì cũng vui. Nhưng đôi khi trái gió trở trời, đau mệt thì cũng thấy thiếu thiếu một bàn tay chăm sóc, một bát cháo nóng do ông ấy nấu. Và cũng buồn buồn…Giá kể còn ông ấy …

 

Một vị thì lại “thẳng như ruột ngựa”, phát ngôn rằng quá khứ là quá khứ, cái gì đã vượt khỏi tầm tay thì cho đi luôn. Chỉ cần dành một thời gian vừa đủ để hồi tưởng tới nhau, rối là “a lê hấp”, sửa soạn cho tương lai, cho những ngày còn lại. Bằng cách mở rộng giao hữu với mọi người, mọi tuổi, cả nam lẫn nữ để bớt lẻ loi. Rồi từ đó biết đâu mình lại chẳng gặp người tâm đầu ý hợp để cùng nhau đi nốt đoạn đường còn lại của cả hai người. Nhưng chớ có “léng phéng” vào trai có vợ gái có chồng, phá hạnh phúc nhà người ta. Cũng như liệu cơm gắp mắm, vừa tầm vừa sức chứ chẳng nên “trâu già” ham cỏ non, không “tương quan lực lượng”, vừa tốn sức lao động mà còn giảm tuổi thọ trời ban cho…

Sinh Hoạt Cao NiênCộng Đồng Người Việt Ottawa - VCCO

Như vậy, độc thân đâu phải là bất hạnh, “độc thân sướng lắm chứ”, nếu mình biết hưởng cái thú của sự độc thân, phải không thưa bà con cô bác?!

Có ý kiến cho rằng độc thân không phải là một ngôi vị, mà chỉ là danh từ diễn tả một người đủ mạnh để tận hưởng cuộc đời độc lập, không phụ thuộc vào người khác. Và đó cũng là một phần tốt nhất cho giai đoạn cuối của đời người mà Thượng Đế đã dành cho.

Bác sĩ Nguyễn ý Đức.

From: Tu-Phung


 

Tinh thần trách nhiệm của vị Thống Đốc sau cùng Ngân Hàng Quốc Gia VNCH

VOA

Ông Thống Đốc đã giữ đúng công tâm của một người công chức của khu vực công và đó là niềm hãnh diện cho VNCH, không bỏ chạy (tinh thần trách nhiệm) và rất trung thực, và bảo vệ tài sản quốc gia đến cùng không rơi vào tay kẻ cướp mà bàn giao vào tay kẻ có trách nhiệm. (Hình minh hoạ)

Đinh Xuân Quân

Nhân dịp tưởng niệm 49 ngày mất của ông Lê Quang Uyển, cựu Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam, chúng tôi xin có bài viết sau đây để nêu lên tinh thần trách nhiệm của một vị công chức cao cấp khi quốc gia lâm vào cơn nguy biến.

Ông Lê Quang Uyển là Thống Đốc cuối cùng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, sinh tháng 9 năm 1937, đã qua đời ngày 26 tháng 1 năm 2018 tại Chiang Mai, Thái Lan, thọ 81 tuổi. Cho đến ngày miền Nam mất vào tay cộng sản năm 1975 trong giới kinh tế tài chính ai cũng biết đến ông Lê Quang Uyển, Thống đốc trẻ tuổi (nhậm chức năm 36 tuổi) của Ngân Hàng Quốc Gia, với những tư duy và hành động đầy trách nhiệm trong vai trò của mình. Trước hết xin phép nhắc đến vài nét tiểu sử của ông, và sau đó tường trình một số hoạt động của ông trong tư cách Thống đốc Ngân hàng Quốc gia.

Sau khi tốt nghiệp HEC (Hautes Etudes Commerciales) tại Paris, một trường danh tiếng về tài chính ngân hàng vào năm 1960, ông Lê Quang Uyển đã về VN phục vụ. Trong một thời gian ngắn ông đã làm cho Ngân hàng Pháp Á (BFA – Banque Francaise de l’Asie). Sau đó ông Lê Quang Uyển cũng như nhiều chuyên viên trẻ khác ở VNCH cũng bị động viên vào quân đội vì lệnh tổng động viên, để chống trả với cuộc xâm nhập của miền Bắc. Ông đã lên đến cấp đại úy.

Sau một thời gian, từ quân đội ông được chuyển sang ngạch “chuyên viên Phủ Tổng thống,” một ngạch công vụ của VNCH dành cho các chuyên viên trẻ, có học thức và nhiều tương lai. Họ được đào tạo để trở thành các lãnh đạo trong tương lai của nghành kinh tế, tài chính, giáo dục, các công ty của chính phủ như nhà đèn, công ty đường, Air VN, vv. Các chuyên viên Phủ Tổng thống sau này có thể được giao những trách nhiệm cao cấp trong ngành hành pháp của VNCH. Ngạch này được thành lập từ thời Tổng thống Ngô Đình Diệm để lôi kéo các chuyên viên giỏi phục vụ cho khu vực công (service public) hay là trong chính phủ VNCH.

Trong cương vị này ông đã tham gia nhiều chuyến đi công cán của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trong đó có chuyên viếng thăm Manilla. Vì có nhiều đóng góp tích cực trong ngành tài chính, ông đã được đề nghị vào giữ ghế Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, một chức vụ có trách nhiệm giữ tài sản của VNCH và điều động – kiểm soát hệ thống ngân hàng thương mại của VNCH cùng việc tham gia vào chính sách tiền tệ – giữ tỷ lệ của đồng bạc VN, nhất là trong tình thế chiến tranh. Người ta nhớ nhiều nhất về Thống Đốc Uyển qua những vụ sau đây :

Vụ Tín Nghĩa Ngân hàng (TNNH hay Ngân hàng Con Gà Đẻ Trứng Vàng), một si-căn-đan thời VNCH. Tín Nghĩa Ngân hàng là một trong những ngân hàng có tiếng tại VN, có nhiều chi nhánh tại Sài Gòn, Chợ Lớn và tại các tỉnh. Ngân hàng này có tỷ lệ tín dụng cao và làm ăn phát đạt.

Vì có nhiệm vụ kiểm soát hệ thống ngân hàng thương mại VN, ban thanh tra ngân hàng của Ngân hàng Quốc gia có trách nhiệm theo dõi các nghiệp vụ cho vay của mọi ngân hàng có mặt tại VN, kể cả các ngân hàng ngoại quốc như CitiBank, BFA, BOA, v.v. Một thanh tra có báo cáo lên Thống Đốc ‘sơ hở’ trong quy trình cho vay tín dụng của Tín Nghĩa Ngân Hàng và việc này đã trở thành “si-căn-đan tài chính” tại VN. Ông chủ tịch Tổng Giám đốc Tín Nghĩa Ngân hàng, một người có nhiều ảnh hưởng trong giới kinh doanh tài chính đã dùng một số người thân tín trong gia đình để vay các tín dụng. Ông quên rằng những việc làm này cũng khó mà qua mắt các thanh tra của Ngân hàng Quốc gia. Các người được hưởng tín dụng của TNNH có tài sản quá thấp làm sao có thể thế chấp để đi vay một số tín dụng khổng lồ của TNNH. Thật ra thì ông Nguyễn Tấn Đời đã sử dụng những người này đứng tên vay tiền để cho cá nhân ông sử dụng các số tiền tín dụng này để đầu tư riêng.

Hồi thời đó tất cả các quy trình cho vay hay tín dụng đều phải làm bằng tay, chưa có tin học hay computer cho nên muốn kiểm tra phải tới tận nơi và xem xét trực tiếp các hồ sơ cho vay (Các sổ sách và tính toán làm bằng tay hay bằng máy NCR). Thống đốc Uyển đã trình Hội đồng Kinh tế Tài chính dưới sự chủ tọa của TT Thiệu và thảo luận với ngành cảnh sát hình sự để giúp Ngân Hàng Quốc Gia điều tra và đánh giá các hồ sơ cho vay của TNNH.

Nhân cơ hội ông Nguyễn Tấn Đời đi nghỉ mát ở Đà Lạt, Thống đốc Lê Quang Uyển đã gởi các thanh tra ngân hàng và cảnh sát hình sự đến làm cuộc điều tra các hồ sơ tín dụng gian lận của TNNH. Các thanh tra với sự yểm trợ của cảnh sát đã chặn các cửa của Tín Nghĩa Ngân Hàng ở bến Chương Dương để không cho một hồ sơ nào có thể thoát ra ngoài. Trụ sở Tín Nghĩa Ngân hàng cùng ở bến Chương Dương, không xa Ngân Hàng Quốc Gia. Qua việc kiểm tra này các thanh tra đã tìm thấy các hồ sơ tín dụng ‘dởm’. Lúc đó ông Nguyễn Tấn Đời là một Tổng Giám Đốc ngân hàng rất mạnh, có nhiều người che chở và việc kiểm tra sổ sách của TNNH là một kỳ công – đã phải được tổ chức như một chiến dịch quân sự.

Qua việc thanh tra và điều tra này của chuyên viên ngân hàng và cảnh sát, ông Nguyễn Tấn Đời đã bị đưa ra tòa. Ông bị tòa tuyên án và phải vào khám Chí Hòa. Trong trường hợp này Thống đốc Lê Quang Uyển đã làm đúng trách nhiệm của NHQG, là thanh tra hệ thống ngân hàng thương mại dưới quyền ông. Qua vụ này ông đã ngăn chặn được các lạm dụng trong ngành tài chính và đã bảo vệ cho các thân chủ gởi tiền tại TNNH.

Giữ tài sản quốc gia – 16 tấn vàng của VN

Trong những ngày chót của VNCH, một trong những vấn đề đặt ra là làm sao giữ tài sản quốc gia? Làm sao giữ 16 tấn vàng cho VN?

Hoa Kỳ muốn VNCH đưa 16 tấn vàng gởi dự trữ tại Ngân hàng Trung ương FED tại New York (một việc làm bình thường vì đa số các nước kể cả NHQG VN đều có trương mục tại ngân hàng FED New York). Sau khi bàn bạc, TĐ Lê Quang Uyển đã quyết định gởi các thoi vàng đi Thụy Sĩ, tại Ngân Hàng Bank for International Settlements – BIS tại Base.

Theo kinh nghiệm thế giới, nhiều chính phủ Âu châu trước đây bị CS xâm chiếm đã gởi dự trữ vàng của họ tại đây để tránh chiến tranh và sau này giữ được tài sản quốc gia. Một kế hoạch đã được đưa ra để chở 16 tấn vàng sang Thụy Sĩ và NHQG đã cho mướn một chuyến máy bay để chở vàng này đi Thụy Sĩ.

Trong lúc hỗn loạn của những ngày miền Nam sắp mất, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và máy bay được mướn chở vàng đi Basel – Thụy Sĩ đã không thể đáp xuống TSN và kế hoạch gởi vàng qua Thụy Sĩ không thành.

Vào các ngày chót một số nhân viên ngân hàng từ cấp cao đều được cấp Walkie Talkie để dễ liên lạc với nhau hầu bảo vệ tài sản của quốc gia VN. Thống đốc Lê Quang Uyển tử thủ trong NHQG. Khi tiến vào Sài Gòn, quân đội CS đã mang xe tăng dọa bắn phá NHQG. Khi đó Thống Đốc mới cho mở cửa NHQG cho ban quân quản của CS vào.

Khi Cộng sản vào Sài Gòn họ cho phao tin (fake news) là cựu TT Nguyễn Văn Thiệu đã mang 16 tấn vàng đi nước ngoài trong khi nhiều người không có công trong việc này cũng kể công (nhận vơ) về việc giữ số vàng này. Sự thật ra sao? Báo “Tuổi Trẻ” đã đăng bài sau đây, nói về số vàng tại NHQG :

Bài viết trên tờ Tuổi Trẻ trích đoạn như sau:

“…Những ngày đầu tháng 5-1975, tôi vào trình diện tại Ngân hàng Quốc gia ở 17 Bến Chương Dương, thủ đô Sài Gòn cùng các đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân hàng Quốc gia là chờ phân công tác.Trong khi chờ đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan.

Lần kiểm kê cuối cùng. “ … Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên cảm thấy không có gì đặc biệt.Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho chính quyền mới. Tôi không lo âu gì cả vì biết chắc rằng số tiền và vàng nằm trong kho sẽ khớp đúng với sổ sách.

Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của Ngân hàng Quốc gia vẫn được chúng tôi quản lý một cách tuyệt đối an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa và mật mã riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cửa nặng trên 1 tấn.

Đại diện Ban Quân quản là một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá trình kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất thân thiện. Anh hay nắm tay tôi khi trò chuyện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt – chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân hàng Quốc gia.

Số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân hàng Quốc gia vào thời điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi: vàng thoi mua của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED); vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi – Công ty Montagu; và vàng thoi được đúc tại Việt Nam, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào.

Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi.

Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau… Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả số vàng thoi và tiền vàng cổ đều được theo dõi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dõi định kỳ hằng tháng và hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập tồn kho. Kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi ký vào biên bản kiểm kê, lòng cảm thấy nhẹ nhõm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho chính quyền mới đã hoàn tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng còn lại một chút gì, dù khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng chứng minh một cung cách quản lý nghiêm túc của những người đã từng làm việc tại Ngân hàng Quốc gia…”

Tác giả Huỳnh Bửu Sơn cũng liệt kê từng tủ và từng Hầm kho tàng. Và cuối bài viết, ông ghi: “Tổng cộng: 1.234 thoi vàng.”

Việc giữ và bảo tồn tài sản quốc gia, cho thấy là các công chức của NHQG mà đứng đầu là Thống đốc Lê Quang Uyển đã làm việc một cách nghiêm chỉnh, với tinh thần trách nhiệm rất cao. Ông Thống Đốc đã giữ đúng công tâm của một người công chức của khu vực công và đó là niềm hãnh diện cho VNCH, không bỏ chạy (tinh thần trách nhiệm) và rất trung thực, và bảo vệ tài sản quốc gia đến cùng không rơi vào tay kẻ cướp mà bàn giao vào tay kẻ có trách nhiệm. Thống đốc Lê Quang Uyển là một gương cho thế hệ trẻ – cho tinh thần trách nhiệm của công chức miền Nam.

Việc giúp đào tạo các chuyên gia khối kinh tế tài chính

Một khó khăn của VNCH trong những năm 1970 là thiếu ngân sách và khó tuyển mộ chuyên viên trẻ vì lương thấp. Hơn nữa, cơ quan viện trợ Hoa kỳ USAID đã dần rút các chuyên gia và tài trợ của họ ra khỏi các cơ quan kinh tế, tài chính của VN.

Trong việc quản lý vĩ mô kinh tế, chính phủ thường cho bán một số “công khố phiếu” ra cho công chúng, nợ công chúng để đắp vào thâm hụt ngân sách quốc gia.

Ngân Hàng Quốc Gia cũng tham gia vào các chính sách tiền tệ và cũng mua một số công khố phiều của chính phủ. Tiền lời của công khố phiếu được bỏ vào một quỹ của Ngân Hàng Quốc Gia và của Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín, được Thống Đốc Uyển quyết định dùng để trả lương cho nhân viên kinh tế tài chính và chia thưởng cho nhân viên của Ngân Hàng Quốc Gia. Lúc đó VNCH rất thiếu chuyên viên kinh tế ngân hàng và nhờ những biện pháp đó, NHQG đã giúp cho guồng máy kinh tế tài chính làm việc một cách bình thường. Qua việc này, Thống Đốc giúp bồi đắp vào các chỗ hổng trả lương cho chuyên viên mà trước đây cơ quan USAID tài trợ nhưng các ngân khoản viện trợ ngày càng giảm. Nhờ vậy một số chuyên viên trẻ đã được gởi đi làm tại các bộ như Tài Chính, Nha Thuế Vụ hay bộ Kế Hoạch, nói chung mọi nơi trong nghành kinh tế tài chính cần chuyên gia.

Để đầu tư cho hậu chiến, ông cũng có chương trình kéo các chuyên viên tài chính ngân hàng trẻ gia nhập Ngân Hàng Quốc Gia gây dựng nhân sự cho tương lai của ngành ngân hàng VN. Một số được tuyển mộ vào làm trong Văn Phòng Thống Đốc của Ngân Hàng Quốc Gia.

Thống Đốc cũng dùng Quỹ Phát Triển (QPT) Kinh tế Quốc Gia mà ông làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị gởi các chuyên viên của QPT đi giúp các bộ. QPT là một chi nhánh – thành phần của NHQG nhận được vốn của Hoa Kỳ (USAID) và được Trung Hoa Dân Quốc giúp vốn. Ngoài việc tái tài trợ các ngân hàng phát triển VN (Ngân Hàng Phát Triển Kỹ Nghệ, Ngân Hàng Phát Triển Nông nghiệp, SOFIDIV,vv.) Quỹ Phát Triển Kinh tế Quốc Gia có một số chuyên viên trẻ được gởi đi trợ giúp các Bộ Kế Hoạch, bộ Tài Chính qua việc tham gia vào công tác xây dựng Kế Hoạch Phát Triển Hậu chiến, nhất là sau khi ký kết Hiệp Định Paris.

Ngoài việc này, Thống Đốc Lê Quang Uyển cũng cố vấn cho TT Thiệu chọn người trong khối Kinh tế Tài Chính, trong đó ông có giới thiệu TS Nguyễn Văn Hảo làm “Tổng Giám Đốc” Quỹ Phát Triển và sau này trở thành phó Thủ Tướng đặc trách về Kinh tế Tài chính.

Thống Đốc Lê Quang Uyển và tù cải tạo

Ông Lê Quang Uyển, cũng như bao nhiêu nhân viên chính quyền và sĩ quan khác, đã phải đi trình diện cải tạo. Khác với Phó Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia, ông Nguyễn Văn Dõng, cũng tốt nghiệp HEC, ông không trình diện khi CS kêu gọi thành phần nội các ra trình diện (Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia có hàm bộ trưởng). Ông Phó Thống Đốc Nguyễn Văn Dõng đã ra trình diện và được đưa ra trại tù Thanh Cẩm, Thanh Hóa. Tại đây ông Dõng đã ở cùng buồng và nằm ngay bên cạnh một người bạn thân của tác giả bài này. Ông đã qua đời vào khoảng năm 1978 vì thiếu dinh dưỡng.

Ông Lê Quang Uyển đã ra trình diện bên thắng trận với cấp bậc đại úy của quân Lực VNCH. Ông bị đi cải tạo 3 năm. Ông Uyển đã đi Pháp cùng vợ, bà Geneviève LyLap, một công dân Pháp và là nhân viên Tòa Đại sứ Pháp tại Sài Gòn. Trước khi rời đất nước ông được Thường vụ Bộ chính trị Cộng Sản mời ở lại cộng tác với chính quyền Việt Nam, nhưng ông từ chối. Có thể ông đã nhìn thấy khả năng chuyên môn cao và nhân cách là những ưu tiên thấp -có thể rất thấp- trong guồng máy chính quyền cộng sản nên ông đã cương quyết ra đi.

Năm 1981 ông Uyển tham gia làm việc với ngân hàng Banque Indosuez. Ông làm giám đốc chi nhánh tại Saudi Arabia cho đến năm 1990. Sau đó ông đứng đầu “Al BankAl Saudi Al Fransi” (Saudi French Bank), ngân hàng duy nhất của Pháp tại Arập Saoudi với hơn hai ngàn nhân viên. Và ông cũng được phái đi làm cho nhiều chi nhánh của ngân hàng Indosuez tại nhiều nước khác nhau.

Ông Lê Quang Uyển đã về hưu tại Chiang Mai, Thái Lan. Ông là hình ảnh một công chức VNCH có tư cách xứng đáng đại diện cho hình ảnh khu vực công của miền Nam, có tinh thần trách nhiệm rất cao.

Nhân dịp 49 ngày ông qua đời tôi viết bài này để đề cao tinh thần trách nhiệm và tinh thần phục vụ cao độ của một công chức cao cấp VNCH, cựu Thống Đốc Lê Quang Uyển.

TS Đinh Xuân Quân

* TS Đinh Xuân Quân là cựu nhân viên Quỹ Phát Triển trực thuộc NHQG, đồng thời là cựu GS Đại Học Luật Khoa, ban Kinh tế, Đại Học Saigon (khóa 1974-1975). Hiện nay ông là chuyên gia cố vấn kinh tế cho Liên Hiệp Quốc (UNDP+World Bank) và đã tham gia USAID làm việc tại nhiều nước như Afghanistan, Iraq, Indonesia, Liberia, vv. kể cả Việt Nam. (qdinh2@yahoo.com)

Sâu mọt và giòi bọ- Tạ Duy Anh

Sâu mọt và giòi bọ

Tạ Duy Anh

Sáng nay đọc báo mới biết vụ giải cứu mang tên “Ngạo nghễ Việt Nam” đã khiến 54 quan chức phải ra tòa. Tôi nghĩ số người bị tòa lương tâm giày vò (giả định họ còn có lương tâm) cao hơn nhiều. Nhưng kể cả chấp nhận con số 54, cùng với số tiền họ móc từ túi những đồng bào lâm vào cảnh cùng đường (số thực chắc ngạo nghễ hơn nhiều!), cũng đủ thấy ghê rợn.

Họ là ai?

Họ đều là đảng viên, không phải đảng viên làm sao chui được vào những chỗ béo bở như vậy.

Họ hầu hết đều có bằng Lý luận cao cấp chính trị.

Nhiều người trong số đó từng “thành kính và trang nghiêm” sụt sịt thề cống hiến cho dân cho nước.

Họ chắc chắn đều có huân, huy chương, bằng khen, giấy khen các loại.

Nhưng rốt cuộc thì họ là ai?

Họ thua xa bất cứ con giòi bọ nào.

Xin đăng lại bài viết và in báo đã gần 20 năm, nhân sự kiện nói ở trên.

***

Chuyện như đùa nhưng lại là sự thật trăm phần trăm.

Một tờ báo nọ có đăng bài nhàn đàm về tham nhũng của tôi, bằng thứ giọng có phần châm biếm. Sau khi báo ra, Tổng biên tập liền nhận được thư và điện thoại của một vài người, đều giấu tung tích, trước thì dọa nạt, sau nhũn nhặn xin góp ý về những cặp từ cần thay trong bài viết vừa kể.

Cuối cùng thì mọi ý kiến “đóng góp” đều toát lên ý sau đây: Ông tác giả nên cân nhắc để có lời cải chính. Gọi bọn tham nhũng là sâu mọt thì được chứ ví họ như giòi bọ là quá lời! Giòi bọ chuyên rúc ráy những nơi bẩn thỉu, xú uế. Rằng thì dù sao, dù có xấu xa, nhơ bẩn mấy đi nữa thì họ, những kẻ bị chỉ đích danh là tham nhũng ấy vẫn cứ… là người!

Nghe thấy cũng có phần thống thiết, chân thành, đáng thương.

Sâu mọt hay giòi bọ thì cũng cùng đục khoét, ăn bám, phá hoại, làm nhũng nhiễu thân chủ mà thôi. Nhưng sâu mọt nghe không tởm, không bẩn bằng giòi bọ. Tham nhũng mà cũng vẫn còn biết tự ái kia đấy! Nhưng bình tâm để suy xét thì thấy rằng, thực ra lũ giặc nội xâm này cũng có lý khi đòi được đối xử nhẹ tay. Bởi vì:

– Thứ nhất: Chúng là những kẻ đạo mạo, ăn mặc vào loại tươm tất, nhiều kẻ không thiếu những từ văn hoa khi nói với người khác.

– Thứ hai: Tuy tham nhũng nhưng chúng luôn luôn cho mọi người cảm giác đang cống hiến hết mình bao gồm cả sức lực lẫn trí tuệ, lẫn hạnh phúc riêng cho sự nghiệp chung.

– Thứ ba: Chúng toàn chén những thứ thơm tho, béo bổ, quý hiếm… thuộc hàng cao lương mỹ vị, kèm những chai rượu mà đám giàu có châu Âu, châu Úc cũng phải ngần ngại khi nhấc từ trên kệ xuống. Tham nhũng mà phải ăn cơm bụi, cơm bình dân, uống nước vối loãng thì có họa điên!

– Thứ tư: Chúng chỉ gặm, khoét những chỗ mọt mục, những chỗ sơ hở…

– Cuối cùng là chúng không bao giờ làm cho kho công quỹ hết nhẵn mà thường bớt lại cái vỏ rỗng bên ngoài để mọi người cứ yên trí mà cống nạp tiếp!

Với năm đặc tính nổi trội và khác biệt trên, lẽ nào lại ví chúng như giòi bọ, là loại chỉ đục, gặm những xác chết.

Sau khi suy nghĩ, tôi bèn nói với ngài Tổng biên tập là tôi đồng ý với đề nghị của tầng lớp tham nhũng và bài viết nên sửa theo ý tránh từ giòi bọ.

Nào ngờ ý kiến của tôi vừa được nêu ra thì một con ruồi xanh óng ánh như viên minh châu đáp xuống trước mặt, dùng chân chặn ngòi bút, không cho viết tiếp. Tôi hất ra, nó lại xông vào, ghì chặt lấy. Tôi dọa di nát, nó cũng nhất định không buông, tức là chấp nhận chết, kể cả không toàn thây. Lạ nhỉ, dù chết cũng không sợ, thì vấn đề phải kinh hoàng lắm.

Đêm về vừa nằm xuống, tay đặt lên trán nghĩ ngợi, thì tôi rơi vào trạng thái nửa thức nửa ngủ. Đúng lúc ấy con ruồi xanh mẹ xuất hiện. Nó đanh đá mắng tôi xa xả và nói rằng nó không muốn con nó bị ô danh khi bị đem ra ví với bọn tham nhũng. Giòi bọ là giòi bọ chứ không thể “như” tham nhũng được. Giòi bọ dù sao vẫn có ích… chẳng hạn làm sạch môi trường, hoặc có thể dùng làm mồi câu cá… chứ tham nhũng thì chỉ thuần túy phá hoại và bôi bẩn.

Tôi nhớ là trong mơ mình hét lên: Vậy mày nghĩ giúp tao cái tên để gọi bọn tham nhũng! GIÒI BỌ cũng không được, thì biết gọi chúng bằng cái tên gì bây giờ?

L.T.

Nguồn: FB Lao Ta

Đảng Cộng hòa kêu gọi điều tra hoạt động do thám của Trung Quốc tại các thành phố của Hoa Kỳ

Theo báo Tuần Tin – Newsweek

Tám Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa đang thúc giục FBI và Bộ Tư pháp điều tra các báo cáo rằng nhà nước Trung Quốc đang bí mật điều hành bảy “trung tâm giám sát” trên khắp Hoa Kỳ, nhằm “đe dọa và theo dõi những người Mỹ gốc Hoa có quan điểm bất đồng.”

Sự kêu gọi thông qua một bức thư ngỏ gửi tới Trợ lý Tổng chưởng lý Matthew Olsen và Giám đốc FBI Christopher Wray. Nỗ lực này do Thượng nghị sĩ bang Tennessee, Marsha Blackburn, dẫn đầu .

Rep. Marsha Blackburn is running to replace Sen. Bob Corker next year

Thượng Nghị Sĩ Marsha Blackburn, Ảnh của Cameron Costa | CNBC

Sự phát triển diễn ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa Washington và Bắc Kinh, với các siêu cường đối địch xung đột về tình trạng của Đài Loan, chủ quyền trên Biển Đông, tranh chấp nhân quyền và hoạt động do thám. Vào tháng 2, một khinh khí cầu do thám của Trung Quốc bị nghi ngờ thu thập tin tức trong lãnh thổ  đã bị bắn hạ ngoài khơi bờ biển Nam Carolina , sau khi nó bay qua phần lớn lục địa Hoa Kỳ.

Vào tháng 6, Ngoại trưởng Anthony Blinken đã đến thăm Trung Quốc trong nỗ lực giảm căng thẳng, khiến ông trở thành nhà ngoại giao hàng đầu của Hoa Kỳ làm như vậy trong 5 năm.

Bức thư đề cập đến một cuộc điều tra của Daily Caller cho biết các cơ quan tình báo Trung Quốc đang hoạt động trong bảy “trung tâm dịch vụ” trên khắp Hoa Kỳ trong khi vẫn duy trì liên kết chặt chẽ với các cơ quan thực thi pháp luật ở Bắc Kinh.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào ngày 23 tháng 10 năm 2022, tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Tám thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đã viết thư cho FBI và DoJ kêu gọi điều tra sau các báo cáo rằng Trung Quốc đang điều hành bảy “trung tâm giám sát” bí mật trên khắp nước Mỹ.GETTY/LINTAO ZHANG

Những tổ chức này được cho là hoạt động với tên gọi ‘Trung tâm Dịch vụ Trung Quốc ở nước ngoài (OCSC)’ ngoài các tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Hoa Kỳ, tuyên bố rằng họ quảng bá văn hóa Trung Quốc và hỗ trợ công dân của đất nước.

Các Thượng nghị sĩ đã viết: “Các OCSC này—rõ ràng được thành lập để ‘quảng bá văn hóa Trung Quốc và hỗ trợ công dân Trung Quốc sống ở nước ngoài’—được cho là đã phối hợp với Bộ Công an Trung Quốc (MPS), cơ quan cảnh sát quốc gia Trung Quốc.

“MPS cũng phục vụ như một cơ quan tình báo cho ĐCSTQ [Đảng Cộng sản Trung Quốc cầm quyền], đó là lý do tại sao những cáo buộc này rất đáng lo ngại và cần được điều tra ngay lập tức. Mục đích của ĐCSTQ là rõ ràng với hoạt động của các OCSC này: đe dọa và giám sát người Mỹ gốc Hoa với những ý kiến ​​bất đồng.”

Cùng với việc yêu cầu một cuộc điều tra, các Thượng nghị sĩ GOP đã hỏi FBI và Bộ Tư pháp liệu họ có đồng ý rằng OCSC được thành lập để “ép buộc và giám sát những người Mỹ gốc Hoa bất đồng chính kiến” hay không và liệu họ có biết về bất kỳ kế hoạch nào của Bắc Kinh nhằm mở rộng chương trình hay không. vào các thành phố khác.

Ngoài Blackburn, lá thư còn có chữ ký của Thượng nghị sĩ John Cornyn, Thượng nghị sĩ Deb Fischer, Thượng nghị sĩ Kevin Cramer, Thượng nghị sĩ Bill Hagerty, Thượng nghị sĩ Ted Cruz , Thượng nghị sĩ Mike Braun và Thượng nghị sĩ Steve Daines.

Newsweek đã liên hệ với Thượng nghị sĩ Blackburn và Đại sứ quán Trung Quốc tại Hoa Kỳ để xin bình luận, thông qua biểu mẫu liên hệ trên trang web chính thức và email của bà.

Trung Quốc Hoa KỳTrong bức ảnh này do Hải quân Hoa Kỳ cung cấp, USS Chung-Hoon quan sát một tàu hải quân Trung Quốc thực hiện cái cắt ngang đường đi của tàu khu trục Mỹ, buộc tàu Mỹ phải giảm tốc độ để tránh va chạm tại eo biển giữa Đài Loan và Trung Quốc đại lục. Ảnh của T. RICHARD / AP

Vào ngày 3 tháng 6, một tàu chiến Trung Quốc đã áp sát tàu khu trục Hoa Kỳ trong vòng 150 feet ở eo biển Đài Loan, khiến hải quân Hoa Kỳ cáo buộc các đối tác Trung Quốc của họ thực hiện “các cuộc diễn tập một cách không an toàn”.

Vào thứ Bảy, cựu Tư lệnh Đồng minh Tối cao NATO Châu Âu James Stavridis đã chia sẻ một đoạn clip về vụ việc trên Twitter , cảnh báo những sự kiện như vậy có thể dẫn đến chiến tranh mở màn.

Ông nói: “Là một cựu thuyền trưởng của một tàu khu trục tương tự của Mỹ, tôi gần như ngừng đập khi xem video này. Đây là hành vi cực kỳ thiếu chuyên nghiệp và khiêu khích của Hải quân Trung Quốc. Chiến tranh bắt đầu từ những sự cố như thế này. Thật đáng xấu hổ”. Hải quân PLA [Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc].”


 

Bom Chùm vừa được Mỹ cung cấp cho Ukraine có gì lạ?

Tổng hợp báo chí ở Hoa Kỳ

  • Điện Kremlin cho biết sẽ là một “yếu tố thay đổi cuộc chơi” nếu Ukraine bắt đầu sử dụng bom chùm.
  • Bộ trưởng Quốc phòng Nga cảnh báo rằng Moscow sẽ buộc phải sử dụng vũ khí tương tự.
  • Moscow đã bị cáo buộc sử dụng bom chùm kể từ khi bắt đầu chiến tranh.
tại sao bom chùm bị cấm bơi phân nứa số quốc gia trên thế giới

Mất bao lâu để Việt Nam bắt kịp thế giới?

Oanh Vy Lý

Mất bao lâu để Việt Nam bắt kịp thế giới?

GDP đầu người hiện tại của Việt Nam là $3,600 và mức tăng trưởng là 7%. Vậy mất bao lâu để có thế bắt kịp các nước khác?

– Thái Lan, GDP $7,200. Việt Nam cần 11 năm.

– Malaysia, GDP $11,000. Việt Nam cần 17 năm.

– Hàn Quốc, GDP $31,000. Việt Nam cần 32 năm.

– Đài Loan, GDP $33,000. Việt Nam cần 33 năm.

– Nhật Bản, GDP $39,000. Việt Nam cần 36 năm.

– Pháp, GDP $43,000. Việt Nam cần 37 năm.

– Đức, GDP $50,000. Việt Nam cần 39 năm.

– Mỹ, GDP $69,000. Việt Nam cần 44 năm.

– Singapore, GDP $72,000. Việt Nam cần 45 năm.

– Luxembourg, GDP $135,000. Việt Nam cần 54 năm.

Với điều kiện là các nước khác không tăng trưởng, không phát triển gì thêm và dặm chân tại chỗ. Nếu họ phát triển ở mức 1-3% thì Việt Nam phải mất 100 năm để bắt kịp Hàn Quốc và 200 năm để theo kịp Singapore.

Tất cả số liệu đều công khai trên các tổ chức như Ngân Hàng Thế Giới, IMF và CIA.

Ngày xuất bản bài viết này là 24/12/2022. Mong năm 2023 sẽ khác.

Tổng hợp nhiều nguồn

FB.Peter Nguyenthanh

 

 


 

Quốc nạn giả dối

Oanh Vy Lý

Quốc nạn giả dối

Thầy giáo Nguyễn Minh Trung (người dẫn đoàn Việt Nam) và nhà trường THPT Gia Định (nơi ông Trung làm giáo viên) đã ăn cắp bài thi Genius Olympiad 2023 của một nữ sinh trường khác để “giao” cho một nam sinh trường mình, bài thi này trúng giải, sự việc bùng nổ. Không dừng lại, cả thầy giáo Trung, cô hiệu trưởng Gia Định và gia đình của thí sinh “ăn cắp” bài không những không nhận lỗi mà còn lớn tiếng kêu oan, trơ tráo bịa đặt và đe dọa nạn nhân.

Bây giờ thì ban tổ chức Genius Olympiad 2023 của Mỹ đã chính thức lên tiếng, xác nhận đây là một vụ gian lận nghiêm trọng, và hủy kết quả đối với thí sinh trúng giải, đồng thời thực hiện các biện pháp cần thiết đối với giáo viên hướng dẫn (ông Trung). Như vậy, sự việc đã rõ.

Vụ việc không chỉ là điều nhục nhã đối với các cá nhân “vừa ăn cắp, vừa la làng”, mà còn xấu hổ thêm cho cả ngành giáo dục lẫn thể diện của hai chữ Việt Nam trong mắt thế giới. Nhưng sự ăn cắp này có phải là cá biệt để khiến cộng đồng phải thảng thốt?

– Không.

Nền giáo dục từ lâu đã vận hành trên một sự dối trá được chấp nhận như một lẽ thường. Hãy hỏi giáo viên cả nước xem được bao nhiêu người tự soạn giáo án, hay là chỉ lên mạng tải về và thay tên đổi họ? Hãy hỏi giáo viên xem những cái “Sáng kiến kinh nghiệm” suốt vài chục năm nay họ lấy từ đâu? Rồi nội dung các bài học thực chất là gì nếu không phải là học thuộc và cho học sinh chép lại, đi thi thì ra rả viết lại thứ văn mẫu ấy với những cảm xúc giả tạo? Rồi những giờ dạy “diễn” mỗi khi có người dự giờ kiểm tra mà trước đó học sinh đã được công khai bày cho sự sắp đặt giả dối. Bao nhiêu những giấy tờ vô bổ mà ai cũng biết là chẳng hơn gì mớ giấy lộn nhưng tất cả đều “thật lòng” làm láo, cốt để đủ hồ sơ. Những kỳ thi học sinh giỏi và điển hình là cuộc thi Sáng tạo Khoa học kỹ thuật, phần lớn là sản phẩm của thầy (đấy là chưa nói đến việc thầy đã lấy chúng từ đâu), thế mà cứ đến hẹn lại lên, bày ra những sản phẩm “siêu trí tuệ” chỉ cốt làm cho đẹp bộ mặt của trường, của sở, của ngành GD.

Đối phó và đối phó, đó là hai chữ có thể khái quát tính chất của giáo dục hiện nay.

Tất cả đều đồng lòng nói dối. Nói dối riết thì “lộng giả thành chân”, họ tin luôn rằng đó là sự thật, là điều tốt đẹp cần duy trì. Nói dối từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, quanh năm suốt tháng miệt mài diễn với nhau như những diễn viên hạng A.

Như thế, một vụ ăn cắp bài thi và trâng tráo đáp trả đến cùng, nào đâu phải là cái gì cá biệt, phải không? Nó chỉ là sản phẩm tất yếu của một môi trường giáo dục mắc bệnh thành tích giả dối đã di căn vào xương tủy. Những người làm giáo dục như ông thầy Trung và cô hiệu trưởng kia, họ chỉ xấu xa vì bị phát hiện; còn ngày ngày ở mọi nơi, người ta vẫn đang down bài giảng, down sáng kiến kinh nghiệm cùng bao nhiêu những kế hoạch giảng dạy và đủ thứ hồ sơ về làm của riêng bên cạnh những tiết dự giờ “biểu diễn” giả trân không chớp mắt; người quản lý biết, cấp trên biết, tất cả đều biết, nhưng chấp nhận, miễn sao đủ và đẹp là thành “lao động tiên tiến”, thành “chiến sĩ thi đua”…

Những kẻ như ông thầy Trung và bà hiệu trưởng Vân của THPT Gia Định tất nhiên là không xứng đáng có mặt trong môi trường giáo dục nữa, nhưng thử hỏi: đang có bao nhiêu những thầy cô như thế trong nền giáo dục Việt Nam với vô vàn biểu hiện và cách thức khác nhau? Giáo dục Việt Nam cần làm một cuộc thay máu chứ không phải chữa triệu chứng ngoài da.

Nam sinh lớp 10 “ăn cắp” bài thi là nạn nhân của người lớn, nạn nhân của giáo dục mắc bệnh thành tích giả dối; còn em nữ sinh bị cướp công cũng là nạn nhân, theo một cách khác. Nhưng trong nền giáo dục giả dối như đã nói, không chỉ 2 em, mà đau đớn thay, phần lớn đang bị làm hỏng, bị hủy hoại một cách vô cảm và tàn nhẫn. Cứ đọc những bài văn “nói dối leo lẻo” để được điểm theo quy định thì rõ mức độ tàn phá.

Khi giáo dục không khai phóng mà chỉ nhằm đào tạo con người công cụ thì nó không cách gì tự nắm tóc mình mà nhấc lên được. Ở đó, cả đến những người ngay thật cũng khó mà sống cho thẳng ngay.

Lại nhớ lời của bà Diệp Thị Hồng Liên (cựu trưởng phòng khảo thí) trong vụ án gian lận thi cử ở Hòa Bình, nói giữa phiên tòa năm 2020: “Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật”. Đây là một sự thật cay đắng, tất nhiên không thể dùng để chạy tội, nhưng nó phản ánh cái khuyết tật của cả một hệ thống mà trong đó ngành giáo dục chỉ là một hợp phần. Ở đây, chẳng ai có thể vỗ ngực được, vì mỗi người vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân, trừ khi anh đã hành động thiết thực để chống lại sự hủ bại ấy.

Viết đến đây lại thấy xấu hổ quá, không dám nói to nữa…

Thái Hạo

Vài suy nghĩ khi đọc sách của ông Võ Hồng Phúc

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Đình Cống

10-7-2023

Đó là sách “Chuyện của chúng tôi”, viết dưới dạng hồi ký. Sách được nhiều người quan tâm và đánh giá cao.

Ông Phúc người xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, sinh năm 1945, thời còn bé ở quê nhà, lớn lên và trưởng thành ở Hà Nội. Ông nguyên là Bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư (2002 – 2011), ủy viên BCH TƯ Đảng khóa VIII, IX, X, đại biểu QH khóa XI, XII.

Ông Phúc viết sách kể qua về quê hương và thời đi học. Chủ yếu kể những chuyên ông đã làm ở Bộ Kế hoach và đầu tư khi mới tốt nghiêp đại học, làm cán bộ tập sự ngành địa chất, cho đến lúc nghỉ hưu sau khi làm hai nhiệm kỳ bộ trưởng.

Phần lớn câu chuyện kể về những việc vận động sự giúp đỡ của chính phủ Nhật, về quan hệ tốt đẹp với những người bạn Nhật.

Sau khi đọc xong cuốn sách tôi nhận thấy ông Phúc tuy là đảng viên, nhưng là người tốt, rất tốt, có tài năng, liêm khiết, trung thực, dũng cảm, được nhiều người yêu mến, tin cậy (ông đã từng bị một đảng viên chèn ép mãi, không cho vào Đảng. Chỉ sau khi người đảng viên đó chuyển đi nơi khác, ông mới được kết nạp khi tuổi đã khá lớn).

Trong những năm đầu của thế kỷ 21 ông đã cùng với một số cán bộ như ông (mà báo chí thường gọi là những nhà “kỹ trị”) đã đưa được nền kinh tế hội nhập quốc tế, phát triển với tốc độ khá cao. Việc đó làm cho một số người có ảo tưởng rằng, Việt Nam sẽ nhanh chóng hóa hổ, hóa rồng, Đảng còn vạch kế hoạch đến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành nước công nghiêp hóa, hiện đại hóa.

Nhưng rồi thực tế không được như vậy, đến nỗi bà Phạm Chi Lan (người viết “Vài dòng cảm nghĩ về ‘Chuyện của chúng tôi’ được đăng ở đầu sách) đã phát biểu rằng: “Tôi hoàn toàn chia sẻ sự tiếc nuối của tác giả: Giá như chúng ta học tốt hơn những bài học mà người Nhật đã giúp cho Việt Nam, sử dụng hiệu quả hơn tiền thuế mà người dân Nhật Bản dành cho chúng ta”. Và có lần bà Chi Lan đã nói: Việt Nam là đất nước không chịu phát triển.

Khi ta gặp khó khăn, không thể phát triển, người ngoài có thể giúp. Nếu ta không chịu phát triển thì chẳng ai có thể bắt ép.

Sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn cuối Thế kỷ 20, đầu Thế kỷ 21 có dựa vào sự hợp tác, giúp đỡ của một số nước phương Tây, Nhật, Úc, và đặc biệt nhờ Mỹ bỏ cấm vận. Họ giúp vì thấy rằng ta có lợi họ cũng có lợi theo, và một phần cũng vì lòng nhân đạo, giúp đất nước bị chiến tranh tàn phá. Họ giúp không vì một nghĩa vụ nào cả. Thế nhưng đã từng có vài ý nghĩ sai, cho rằng trước đây họ ủng hộ Mỹ xâm lược thì bây giờ phải giúp Việt Nam kiến thiết (Lời ông Phạm Văn Đồng nói với ông Lý Quang Diệu trong chuyến thăm Singapore năm 1978).

Bà Chi lan than thở: Giá như chúng ta học tốt hơn, sử dụng hiệu quả hơn.

Xin hỏi: Tại sao chúng ta không thể học tốt và tại sao ta sử dụng kém hiệu quả sự giúp đỡ? Không học được, không phải vì người ta không biết dạy, không muốn dạy, không phải vì cán bộ của ta kém trình độ, Người ta rất muốn dạy và biết dạy, cán bộ của chúng ta, trừ một số ít đầu óc bị u mê, còn những người như ông Phúc, như bà Chi Lan và những nhà kỹ trị khác rất giỏi, thừa sức học. Nhưng những điều quan trọng mà người ta muốn dạy thì cán bộ của ta bị Đảng cấm học.

Người Nhật đã xây dựng lại một đất nước bị đổ nát gấp nhiều lần Việt nam, lại mang nỗi nhục vì thua trận, phải đầu hàng và chịu sự cai quản của người Mỹ. Ban đầu khi bị Mỹ đem quân đến đóng, họ căm thù lắm chứ. Thế nhưng, khi biết được sự tử tế của người Mỹ, họ đã thật tâm xóa bỏ hận thù và hợp tác, được Mỹ giúp đỡ tận tình. Đặc biệt họ đã chọn được con đường phát triển đúng đắn, xây dựng chế độ dân chủ với tam quyền phân lập, với xã hội dân sự, toàn dân đoàn kết, thương yêu, đùm bọc nhau, thật lòng hợp tác với Mỹ, người dân thực sự được tự do.

Còn ta, nghị quyết 102 của Đảng cấm nói đến tam quyền, cấm nói đến xã hội dân sự, vẫn tuyên truyền thù hận “đế quốc Mỹ” và tự kiêu về việc “đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”. Rồi còn đặt ra điều luật “Cấm lợi dụng quền tự do …” để kết án nặng những người bất đồng chính kiến, dám phản biện.

Đổi mới từ năm 1986 thực chất là sửa sai, là cởi trói cho người dân. Ai sai, ai trói? Đảng chứ ai. Thế mà không một người nào trong lãnh đạo công nhận điều đó, mà còn to mồm khoe khoang là nhờ sự sáng suốt của họ. Kinh tế thị trường, phát triển kinh tế tư nhân là làm ngược lại với Mác Lê, nhưng lại tuyên truyền là “vận dụng sáng tạo” với giải thích sáng tạo là gắn thêm cái đuôi định hướng XHCN, là kinh tế thị trường đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy nghị quyết của Đảng và kinh tế quốc doanh làm cơ sở. Đó là một sự cấy ghép, lai giống giữa loài chim và cua cá để tạo ra một thứ bầy nhầy, một quái thai. Mà kinh tế thị trường có sự quản lý phần nào của nhà nước thì có gì sáng tạo, Nó đã được Ricardo (1773-1823) bàn đến cách đây trên hai trăm năm.

Một số năm trước đây, mức tăng GDP tuyệt đối của Việt Nam thực tế không đáng bao nhiêu, nhưng tính ra số phần trăm khá cao là vì mẫu số để tính quá thấp, thế mà theo tuyên truyền thì ta có chỉ số tăng GDP thuộc loại nhất thế giới. Hơn nữa, việc tăng đó chủ yếu là do khai thác tài nguyên vô tội vạ, do giải phóng sức lao động thô sơ, dựa vào tiền đi vay (chưa biết bao giờ mới trả hết nợ) chứ chưa phải dựa vào lao động sáng tạo, không phải dựa vào công nghệ cao và phần lớn sự tăng trưởng lọt vào túi các công ty nước ngoài.

Nhiều ý kiến cho rằng, để phát triển cần đổi mới chính trị. Nhưng ý kiến đó chỉ được nói thầm với nhau, còn nếu bị mật vụ nghe thấy thì nguy cơ bị vu oan để phải nhận bản án trên chục năm tù là khó tránh.

Theo ông Phúc thì, ông Đỗ Mười dặn phải học Nhật Bản để xây dựng đất nước, nhưng Đảng lại ra nghị quyết cấm nhiều thứ quan trọng cần học. Thì ra, ông Mười nói thế nhưng ông không biết phải học cái gì.

Chúng ta bị Mỹ cấm vận làm cho đã khổ càng khổ thêm. Chúng ta tuyên truyền, đổ tội cho Mỹ mà không chịu nhận nguyên nhân chính là từ phía chúng ta. Cứ suy theo lời ông Nguyễn Phú Trọng thì ta có như thế nào mới bị người ta cấm vận chứ.

Tại sao ta sử dụng kém hiệu quả sự giúp đỡ? Có vài nguyên nhân mà chủ yếu là sự tham nhũng, là mua quan bán tước, là không xác định đúng nguyên nhân cơ bản để hướng sự đấu tranh vào đúng chỗ. Những nhà lý luận của Đảng phải tốn nhiều công sức mới rút ra nguyên nhân của tệ nạn là sự thoái hóa về đạo đức, sự tự diễn biến, tự chuyển hóa của một số cán bộ ở mọi cấp, mọi ngành. Người ta tưởng như thế là đã nắm được yết hầu của con ngựa tham nhũng, chỉ cần bóp mạnh một cái là nó chết. Nhưng không phải, đó chỉ mới là vuốt đuôi. (mà không khéo còn bị nó đá hậu).

Nguyên nhân cơ bản ở chỗ khác, từ trong học thuyết Mác Lê với độc quyền đảng trị, với việc đồng nhất đảng và nhà nước, đồng thời đặt Đảng trùm lên mọi luật pháp, là những sai lầm về đường lối mà không chịu nghe phản biện, mà tự kiêu cho rằng, Mác Lê là chân lý vĩnh cửu, Đảng hoàn toàn đúng, ai nói gì khác là thù địch, phải bị tiêu diệt.

Đường lối cán bộ của Đảng có một số điều phản dân chủ, phản khoa học, phản tiến bộ nên mới để lọt vào một số lớn kẻ cơ hội, chúng có nhiều mưu ma chước quỷ mà thiếu trung thực, thiếu trí tuệ, chỉ giỏi việc làm vinh thân phì gia, lôi bè kéo cánh tạo đa số để thắng trong bầu cử, gạt ra ngoài những người liêm khiết, có năng lực. Những “Lồng nhốt quyền lực”, nghị quyết về “Chống chạy chức chạy quyền” chỉ là những quy định tầm phào, vô giá trị, phản khoa học.

Phòng chống tham nhũng là việc của nhà nước, nhưng Đảng tranh lấy để làm. Đặt tên là Ban Phòng Chống tham nhũng, nhưng chủ yếu chỉ chờ người ta tham nhũng rồi phát hiện và đốt lò, chứ chẳng thấy phòng chỗ nào, chống chỗ nào (để nó không thể xảy ra).

Đọc sách của ông Phúc rồi đối chiếu với thực tế, tôi thấy những điều được viết ra đều là sự thật, phản ánh sự suy nghĩ và hoạt động tích cực của một số người thuộc tầng lớp tinh hoa, có may mắn lọt được vào những vị trí cần thiết để thắp lên vài ngọn nến trong khu rừng đêm đầy bóng tối. Ông Phúc chưa đủ sức đụng đến một phần khác của sự thật là những khu rừng âm u, tối tăm, đầy rắn rết. Dù sao, được như thế đã là tốt.

***

Tôi biết Trung Cộng, một mặt rất chăm lo đội ngũ tinh hoa của họ, mặt khác xúi giục lãnh đạo Việt Nam tìm cách hạn chế, tiêu diệt tinh hoa của dân tộc (bằng cách vu cho họ tội chống Đảng, chống chế độ). Có diệt được hết tinh hoa của Việt Nam thì Tàu Cộng mới dễ bề thi thố âm mưu thôn tính lãnh thổ. Lãnh đạo Việt Nam vì kém trí tuệ nên mắc vào mưu thâm mà không biết.

Trước đây tôi tự hỏi, đất nước bị toàn trị như vậy, bị tham nhũng như vậy, nhân quyền bị coi rẻ, giáo dục, đạo đức xuống cấp, thế mà đa số người dân vẫn sống được qua ngày, nhờ vào đâu? Nghị quyết Đảng viết rõ ràng là, nhờ sự lãnh đạo của họ. Nhưng không phải. Đảng càng tăng cường lãnh đạo thì sai càng nhiều. Tôi cho rằng nhờ vào một số cán bộ như ông Phúc, họ là đảng viên, nhưng trước hết là tinh hoa của dân tộc.

Chính nhờ những người này gặp may mắn, giữ được vài vị trí xứng đáng mà phát huy được tác dung tích cực. Chính nhờ họ mà phát triển được kinh tế, dù rằng châm chạp. Cứ cho rằng bọn tham nhũng ra sức vơ vét, nhưng chúng không thể vơ vét cạn kiệt mà còn phải chừa một số ít cho dân, để cho dân còn thở được.

Tuy vậy trong lúc giới tinh hoa làm được vài việc tốt thì khá nhiều bọn cơ hội kéo bè kết cánh để xâu xé, để trục lợi. Người tinh hoa thường chỉ thích làm việc mà không thích đấu tranh. Nếu xảy ra cuộc đấu tranh giữa những người tinh hoa, trung thực, với bọn cơ hội thì phần thắng thường nghiêng về bọn cơ hội, vì chúng có nhiều mưu mô xảo trá, lại dựa được vào nguyên tắc của Đảng là thiểu số phải phục tùng đa số.

Vậy làm sao để những người tinh hoa của dân tộc thoát được âm mưu của Trung Cộng để khỏi bị hủy diệt và liên kết được với nhau để phát huy sức mạnh. Đến lúc đó may ra mới thắng được phần nào bọn cơ hội để phát triển đất nước như nhiều người mong đợi.

Có một ngày nào đó, bạn bỗng nhận ra mình đã già!

Nguyễn Hoành

Đó là khi bạn không còn hứng thú với những thứ lòe loẹt, những cảnh sắc rực rỡ, những nơi náo nhiệt và ồn ào thanh âm.

Già, là khi bạn thức dậy lúc 4 giờ sáng, chỉ để nghe tiếng gà gáy ban mai và nằm đợi ánh bình minh lóe sáng sau rèm cửa…

Già, là tối tối pha một ấm trà vừa đủ đặc, bật đài nghe những bài hát xưa cũ, đọc những cuốn sách cũ, chiêm nghiệm về cuộc đời, nửa gần nửa xa.

Già, là khi bạn thích lang thang trên đường phố một mình, thích nhìn những bức tường loang lổ, những gốc cây rêu phong, những mái nhà cũ kỹ, thích những quán cổ, bàn ghế phủ bụi, không gian mốc thếch và mặt người trầm tư sau lớp sương thời gian.

Già, là khi bạn thích cảm giác được yên tĩnh một mình, chỉ một mình chìm trong những hoài niệm. Dạo này, thường nhắc đến những chuyện cũ. Có lẽ bởi thời gian đã gấp quá rồi!

Già, là khi bạn thấy mình ngày càng kiệm lời. Kiệm lời với chính bản thân, nhiều khi nghe tiếng nói của mình vang lên cũng giật mình.

Già, là khi bạn bắt đầu tìm kiếm một nơi thật sự để đến, để sống và cất giữ tuổi già. Không phải để an dưỡng mà là để tách khỏi những ồn ào, thị phi.

Già, là khi bạn thôi không bận tâm những yêu thương, ghét bỏ, để lòng mình tha thứ cho qua hết giận hờn, buông bỏ bớt những nhạt nhòa, nghi kị. Chỉ giữ lại cho mình những niềm tin và đích đến, sống lặng lẽ và nhẹ nhàng, tự do trong khoảng trời riêng của chính mình.

Già, là sống chỉ đủ cho mình, cho những người mình yêu, thế thôi…

Còn lại thì cứ như mây trời, lang bạt qua đời nhau, đã từng vui, đã từng buồn rồi mỗi người đôi ngả. Năm tháng đã qua ấy, tôi gọi tên là thanh xuân.

Sưu Tầm

Cóp từ FB Những Câu Chuyện Nhân Văn