S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trần Danh San

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

Nơi chương 33, trong cuốn Đèn Cù I (Trần Đĩnh, Người Việt Books 2014) tôi đọc được câu: “Bị đánh đuổi sau Nhân văn – Giai phẩm, Nguyễn Mạnh Tường đói quá – có lần lả đi ở đường Trần Hưng Đạo…”

Bộ thiệt vậy sao?

Thiệt chớ!

Chính người trong cuộc cũng khẳng định vậy mà:

“Chúng tôi có một con chó do bạn bè cho. Nó rất khôn và chúng tôi yêu nó lắm. Nhưng nó đã già và chúng tôi không còn khả năng mua cho nó thịt và những thức ăn tăng sức, nó không còn sức đứng lên trong chuồng, ngẩng đầu nhìn tất cả chúng tôi, với một ánh mắt tin yêu của loài vật, chắc chắn với những dòng nước mắt và một nỗi buồn sâu thẳm vì đã đến lúc phải rời chủ. Chúng tôi bật khóc khi nó nấc những hơi thở cuối cùng…” (Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié – Hanoi, 1954 -1991: Procès d’un intellectuel. Trans Nguyễn Quốc Vĩ – Kẻ Bị Mất Phép Thông Công Hà Nội, 1954-1991: Bản Án Cho Một Trí Thức).

Ủa! Sao luật sư ở bên Tây về (với hai cái bằng tiến sỹ lận) mà đói dữ vậy cà?

Theo nhiều người thì vì Nguyễn Mạnh Tường có “dây dưa” với nhóm Nhân Văn nên bị trừng trị. Cũng không ít kẻ nghĩ rằng ông bị chế độ hiện hành “chôn sống” vì đã trót dại lên tiếng (“Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây Dựng Quan Điểm Lãnh Đạo”) trong một phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc, vào hôm 30 Tháng Mười, 1956.

Thực ra, số phận của Nguyễn Mạnh Tường (nói riêng) và đám luật sư miền Bắc (nói chung) đã được “an bài” trước đó:

“Ngày 17-11-1950, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 158-SL, quyết định việc bổ sung cán bộ công nông vào ngạch thẩm phán và thăng bổ các thẩm phán toà án nhân dân huyện lên toà án nhân dân tỉnh… Từ đây, theo ông Vũ Đình Hòe : ‘các thẩm phán huyện, đa số là đảng viên cộng sản, chỉ qua lớp chính trị và nghiệp vụ’. Quan điểm lựa chọn thẩm phán chủ yếu ‘đứng trên lập trường nhân dân’ của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lâu dài đến nền tư pháp Việt Nam.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, USA: 2012).

Muốn biết cái nền tư pháp công nông hóa của bác Hồ “ảnh hưởng lâu dài” ra sao, xin xem qua dáng điệu và cử chỉ của một vị thầy cãi (được “mời bào chữa” cho ông Hoàng Minh Chính) sau khi nhân vật này bị bắt lại, vào năm 1996:

“Hôm xử Chính tôi không ra đứng ở cổng toà mà đến Hồng Ngọc tối trước. Đang trò chuyện thì ông luật sư K. gia đình mời bào chữa cho Chính đi vào. Một cái bóng lúp xúp. Cụp vai, cúi đầu thì thào dăm ba câu, cái dáng sợ bị nghe trộm, nhòm trộm. Tuy nhớn nhác nhưng ông trung thực, trước sau chỉ khe khẽ chối (nhưng lại gắt): Tôi không cãi được… ý gia đình như thế thì không cãi được đâu.

Hà, con gái cả Chính kêu lên: Thế thì im hả bác? Lúng túng giây lát ông luật sư lại gắt giọng nhưng vẫn thì thào: Không cãi được mà. Tôi hỏi thế nghĩa là gia đình nhận tội thì cãi được? Ông nói: Đã nhận thì cần gì cãi. Rồi lúp xúp đi ra. Ông biết trong bóng tối quanh đây đầy những con mắt lúc này đang theo đõi chặt. Rồi máy ghi âm. Có khi chụp ảnh nữa. Qua tư thế ọp ẹp, ông cố để lộ rõ ông đầu hàng Nhà nước.” (T. Đĩnh, s.đ.d., tập II, chương 27).

Giới luật sư ở miền Nam thì không thế: không “nhớn nhác,” không “lúp xúp,” không “cụp vai,” không “thì thào” gì sất. Đã thế, họ còn nói rất to (“bằng loa phóng thanh”) cho cả bàn dân thiên hạ nghe luôn:

Sau sự kiện giới trí thức Tiệp Khắc ban hành Hiến Chương 77 chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản Tiệp Khắc, tại Sài Gòn, trong vòng đai lửa của chế độ mới, hai Luật Sư Trần Danh San và Triệu Bá Thiệp không thể im lặng. Cả hai đồng hoàn thành văn bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”.

Hai anh và nhóm trí thức bất khuất gồm hơn mười luật sư, giáo sư, kỹ sư trước 1975 hành nghề tại Huế và Sài Gòn đã hẹn nhau chia làm hai ngã tiến theo hai đường tập trung trước Nhà Thờ Ðức Bà vào chiều ngày 23 Tháng 4, 1977. Trần Danh San dùng cái loa phóng thanh qua một máy ghi âm nhỏ đọc lên bản ‘Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng’ đến cùng đồng bào Sài Gòn, cũng của miền Nam lẫn miền Bắc đang mong chờ lần phục sinh từ bãi lầy cộng sản…

Trong trại giam Phan Đăng Lưu anh nhận đòn tứ trụ với sức chịu đựng tưởng chừng như không thực: Với thân hình cao không quá “một thước-sáu” nhận đòn đánh hội đồng từ bốn tên lực lưỡng chuyên nghiệp tra khảo người.

Sau những trận đòn chạm tới điểm chết, sau những tháng kiên giam nơi hầm tối của anh, viên cán bộ trưởng trại Phan Đăng Lưu có câu hỏi: Anh có ngừng chống đối không? Trần Danh San trả lời chắc chắn: Chống đối là điều tất nhiên! Câu trả lời được nhiều bạn tù nơi Phan Đăng Lưu năm ấy hiện nay đang cư trú tại vùng Nam Cali nghe rõ. (Phan Nhật Nam. “Trần Danh San, Tiếng Hò Khoan Đã Tắt”).

Chưa hết đâu!

Sau đó, khi ở A20 – nơi còn được A-20 Nguyễn Chí Thiệp mệnh danh là Trại Kiên Giam – Trần Danh San còn tham gia vào việc làm báo chui (underground press) nữa chớ:

“Anh đã chấp nhận đánh đu với tử thần để vừa cung cấp cho mọi người những thông tin cập nhật, những bài viết giúp họ mở mang kiến thức, kiên định lập trường, vừa giữ vai trò điều hợp một số hoạt động đấu tranh ở trong trại.

Sau khi Vũ Văn Ánh bị cùm trong xà lim rồi bị tuyên phạt ‘biệt giam vô thời hạn’, tôi được chỉ định làm ‘thư ký tòa soạn’ cho tờ báo. Nhiệm vụ của tôi là tuyển chọn bài, sửa chữa chút đỉnh chính tả, văn phạm rồi giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen lên khuôn; sau đó tôi kiểm soát lại lần cuối và phát hành.

Trần Danh San kín đáo giao cho tôi một bài viết rất hay: Vì Sao Chúng Ta Tranh Đấu. Tôi đã giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen đăng trong Hợp Đoàn số 4. Bài viết được nhiều anh em tù, đặc biệt là những anh em tù chính trị có án, ưa thích.” (Phạm Đức Nhì. “Nén Nhang Cho Một Anh Hùng”).

Đến tờ Hợp Đoàn số 5 thì cả đám lần lượt … vô cùm. Riêng Vũ Ánh, Trần Danh San, Nguyễn Chí Thiệp thì bị cùm hơi lâu khiến A-20 Nguyễn Thanh Khiết đâm ra sốt ruột và xót ruột:

Sáu năm biệt giam

ba muỗng nước, ba muỗng cơm

chưa lần lung lay ý chí

một đời anh – một đời sĩ khí

bước thấp, bước cao cắn nhục mà đi

ngọn bút hiên ngang

thay làn tên mũi đạn

giữa trại thù nét mực chưa phai

Dù thế, dù “sáu năm biệt giam/ ba muỗng nước/ ba muỗng cơm” nhưng Trần Danh San vẫn không hề nao núng:

“Tôi nhớ trại trưởng phân trại E của A-20, Lê Đồng Vũ mà chúng ta gọi là Tư Nhừ vì hắn mang lon thiếu tá công an, giọng lúc nào cũng nhừa nhựa như thằng say rượu, không biết nó sẽ rút cây K-54 ra bắn mình lúc nào, hỏi khích…: ‘Thế nào, anh San còn bẻ gậy chống trời nữa không’. Trần Danh San đáp tỉnh bơ: ‘Tất nhiên, cán bộ.’ Câu chuyện về bạn có thể viết được một cuốn tiểu sử rất dày về đời tư, đời công và đời tù của một nhà tranh đấu.”  (Vũ Ánh. “Bài Điếu Văn Cho Trần Danh San Một A-20 Vừa Ra Đi Vĩnh Viễn”).

Sao Trần Danh San lại quyết liệt và ngang tàng đến thế?

Câu trả lời có thể tìm được qua câu tâm sự của chính ông với một người bạn đồng tù: “Phải cho thế hệ sau biết để các em, các cháu có thêm nghị lực, dũng khí đi tiếp con đường chúng ta đi.”

Với ít nhiều chủ quan, tôi tin rằng không ít quí vị luật sư của thế hệ đến sau (Đặng Đình Bách, Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, Võ An Đôn, Lê Trần Luật, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Nguyễn Bắc Truyển …) đều đã được thừa hưởng cái “dũng khí” từ những người đi trước như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Danh San…


 

Little Saigon ở Seattle sắp có Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam trị giá 55 triệu đô la

Đằng-Giao/Người Việt

SEATTLE, Washington (NV) – Tổ chức bất vụ lợi Friends of Little Saigon (FLS) gần đây đạt được bước đột phá đáng kể khi mua được lô đất rộng 16,500 sq ft trên đường South Jackson Street, Seattle, Washington, mở đường cho việc thành lập Trung Tâm Kinh Tế và Văn Hóa Việt Nam đầu tiên tại đây.

 

Ba phụ nữ có công đầu trong việc thành lập Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam tại Little Saigon, Seattle, Washington. Từ trái, Tiến Sĩ Tâm Đinh, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị FLS; cô Valerie Trần, giám đốc hoạt động FLS; và cô Quỳnh Phạm, giám đốc điều hành FLS. (Hình: Friends of Little Saigon)

Đây là thành quả của hơn một thập niên lập kế hoạch, vận động và gây quỹ của FLS cùng các hội đoàn bạn. Trung Tâm Kinh Tế và Văn Hóa Việt Nam dự định khởi công vào cuối năm 2025 và khánh thành vào cuối năm 2027.

 

Nói với phóng viên nhật báo Người Việt, cô Quỳnh Phạm, giám đốc điều hành FLS, cho biết: “FLS đã theo đuổi dự án này từ hơn 10 năm nay và chúng tôi vô cùng hãnh diện đã có hôm nay.” Cô hứng khởi nói tiếp: “Chúng tôi có được $11 triệu tài trợ trong tay và sẽ quyên góp từ $3 đến $5 triệu để trang trải chi phí hoạt động ban đầu.”

 

Số tiền $11 triệu là tài trợ của thành phố Seattle, King County, và chính phủ liên bang, cô cho biết.

Phần trên của trung tâm là khu chung cư giá phải chăng sẽ do cơ quan Seattle Chinatown International District Preservation and Development Authority (SCIDpda), đối tác của FLS, đảm nhận.

Tiến Sĩ Tâm Đinh, giáo sư xã hội học đại học Seattle University và là chủ tịch Hội Đồng Quản Trị FLS, bày tỏ lòng biết ơn khi trả lời nguyệt san International Examiner hôm 5 Tháng Mười như sau: “Chúng tôi có mặt ở đây ngày hôm nay vì sự làm việc chăm chỉ, sự hy sinh và ước mơ của thế hệ đi trước và chúng tôi rất vui mừng được tiếp tục công việc này cho thế hệ tiếp theo.”

 

Trung Tâm Kinh Tế và Văn Hóa Việt Nam ở Seattle là điểm son của cộng đồng gốc Việt tại đây và xa hơn nữa.

 

Thượng Nghị Sĩ Joe Nguyễn (Dân Chủ, Địa Hạt 34) chia sẻ với nhật báo Người Việt khi biết tin này: “Là người gốc Việt có gia đình gắn liền với kinh nghiệm tị nạn, tôi không thể nhấn mạnh đủ rằng điều này có ý nghĩa như thế nào, không chỉ đối với cộng đồng Seattle, mà còn đối với người Việt ở khắp nơi.”

Ông thêm: “Trung tâm này là ngôi nhà của nhiều người, là những câu chuyện văn hóa và di sản của chúng tôi, tất cả đều ở dưới một mái nhà. Và nó không chỉ dành cho chúng tôi ở đây.”

“Hãy tưởng tượng ai đó đến từ một thị trấn nhỏ hoặc một quốc gia khác đang tìm cách kết nối với nguồn gốc Việt Nam của họ, trung tâm này cũng sẽ dành cho họ. Chúng ta đang nói về một nơi duy trì truyền thống của chúng ta cho dù chúng ta ở đâu trên thế giới,” ông hãnh diện chia sẻ.

Dân Biểu Thái Mỹ-Linh (Dân Chủ, Địa Hạt 41) vui vẻ nói: “Tôi có hai đứa con sinh ra bên này. Trung tâm này sẽ là nơi tôi kể cho hai đứa về phong tục và văn hóa Việt Nam.”

“Từ nay, chúng tôi có chỗ để tổ chức Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu, hoặc Ngày Quốc Hận và trả lại sự yên tĩnh cho các cơ sở tôn giáo,” bà tiếp. “Tôi hãnh diện vì trung tâm này.”

 

Thượng Nghị Sĩ Joe Nguyễn của tiểu bang Washington. (Hình: Facebook Sen. Joe Nguyen)

Mọi việc bắt đầu từ nhiều năm trước.

Năm 2011, một nhóm người gốc Việt năng nổ và chủ doanh nghiệp nhỏ tại Seattle thành lập FLS vì lo ngại sâu xa rằng Little Saigon, trung tâm văn hóa và kinh tế do các nhà lãnh đạo tị nạn thành lập vào đầu thập niên 1980, có thể biến mất vì thiếu nhà ở đa dạng lại thêm nhiều tội phạm dẫn đến sự phân tán.

Năm 2012, họ nghĩ đến kế hoạch chống chọi và thấy rằng quyền sở hữu và kiểm soát của cộng đồng rất quan trọng để xoay chuyển tình thế, đồng thời xác định ba đòn bẩy chính: trung tâm văn hóa, nhiều tiệm bán lẻ hơn, và nhà ở giá phải chăng.

 

Trong thời kỳ đại dịch, các cơ sở kinh doanh ở Little Saigon và Chinatown International District (CID) phải chật vật để tồn tại do vắng khách và nạn phá hoại cũng như tội phạm đường phố gia tăng. Năm 2022, siêu thị Viet-Wah tại 1032 South Jackson Street, trụ cột của Little Sai Gon, đóng cửa sau bốn thập niên.

 

Gần đây, tệ nạn buôn bán ma túy, trộm cắp và các tội phạm khác đã tập trung gần đường 12 và đường Jackson, khiến nhật báo The Seattle Times phải đăng bài báo có tựa đề u ám là “Little Saigon ở Seattle đã bị lãng quên” vào ngày 30 Tháng Tám.

Trung tâm văn hóa, theo cô Quỳnh, sẽ chào đón các hoạt động văn hóa, triển lãm, âm nhạc và khiêu vũ, nấu ăn, và các lớp học ngôn ngữ cùng với các doanh nghiệp khởi nghiệp và các hàng quán khác. FLS hợp tác với SCIDpda để xây dựng 71 đơn vị nhà ở giá phải chăng tại trung tâm.

Bà Jamie Lee, đồng giám đốc điều hành SCIDpda, nói với International Examiner rằng cấu trúc sẽ cao năm tầng, với trung tâm văn hóa ở tầng trệt. FLS sẽ sở hữu và vận hành trung tâm văn hóa. SCIDpda sẽ sở hữu và quản lý nhà ở.

Bà nói: “Chúng tôi dự kiến phần nhà ở sẽ tốn khoảng $53 triệu.”

 

Dân Biểu Thái Mỹ-Linh (Dân Chủ) của tiểu bang Washington. (Hình: housedemocrats.wa.gov/thai)

 

Cô Quỳnh đã gắn bó với FLS từ những ngày đầu thành lập. Cô từng làm cho bà Jamie Lee tại SCIDpda, nơi dự án ra đời. Cô đam mê dự án Little Saigon Landmark từ khi còn nhỏ. Cha mẹ cô làm chủ và và điều hành nhà hàng Như Ý Lucky ở Kent cho đến khi đóng cửa vào khoảng năm 2005. Mẹ cô còn mở tiệm Purity Nail & Spa ở Covington. Tiệm bị đóng cửa vì đại dịch COVID-19. Cô từng làm việc bán thời gian ở cả hai nơi khi còn đi học. Cô nói: “Bây giờ tôi là mẹ. Tôi có hai đứa con nhỏ. Nếu tôi không làm việc này thì con tôi sẽ thừa hưởng di sản văn hóa nào?”

Ngoài cô Quỳnh, mọi thành viên của FLS đều chung vai góp sức để có hôm nay. Cô Valerie Trần, giám đốc hoạt động FLS, cũng đam mê viễn ảnh này. Cô lớn lên trong một khu dân cư chủ yếu là người da trắng ở Central Valley, California, không có mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng Việt. Công việc của cô tại CID với tư cách là nhà quy hoạch đô thị đưa đẩy cô gặp cô Quỳnh và cô gia nhập Hội Đồng Quản Trị FLS năm 2018.

“Tôi hy vọng dự án Landmark này sẽ giúp khôi phục sự tồn tại cho cộng đồng,” cô Valerie nói với International Examiner. “Người lớn tuổi có thể tự hào và thấy mình được phản ảnh trong đó. Đây là nơi khơi dậy sự sáng tạo cho thế hệ sau để họ có thể tiếp nối di sản của thế hệ trước.”

Cô Quỳnh Phạm chia sẻ: “Tôi rất quan tâm sâu xa đến trung tâm này vì nó là chỗ cho gia đình, người lớn tuổi và trẻ em. Đây sẽ là nơi để gia đình tôi và con cái tôi tự hào và thường xuyên ghé thăm.”


 

Các Sinh Hoạt hiện nay của tổ chức FLS – Những Người Bạn của Sài Gòn Nhỏ ở thành phố Seattle, tiểu bang Washington

Dự án Landmark theo dòng thời gian

 

Kế hoạch Hành động Little Sài Gòn 

2012 – 2020 xác định quyền sở hữu và kiểm soát của cộng đồng là rất quan trọng để chống lại việc di dời và đô thị hóa đang đe dọa sự tồn tại của cộng đồng người Việt ở Seattle. Vào ngày 4 tháng 9, Hội đồng Thành phố Seattle thông qua Nghị quyết 31403 sau nỗ lực vận động quan trọng của FLS và các đối tác. Nghị quyết cho phép Nghiên cứu khả thi để phát triển “Dự án mang tính bước ngoặt”.

2014 – Nghiên cứu khả thi được hoàn thành với sự cộng tác của Cơ quan Bảo tồn và Phát triển Khu Phố Tàu Quốc tế Seattle (SCIDpda) , xác định các địa điểm tiềm năng, mục đích sử dụng và nghiên cứu tổng thể để đề xuất mô hình bền vững về mặt tài chính cho dự án Landmark.

2016 – FLS hoàn thành Báo cáo Gắn kết Cộng đồng Landmark để đảm bảo rằng nhu cầu của cộng đồng Việt Nam đa dạng và đang thay đổi vẫn định hướng cho tầm nhìn của Dự án Landmark.

2018 – Dự án Landmark trở thành một trong những dự án “tiến hành” nhận tài trợ từ Sáng kiến ​​Phát triển Công bằng Seattle (EDI) đặt tại Văn phòng Kế hoạch và Phát triển Cộng đồng (OPCD) của Seattle. EDI được tạo ra sau những nỗ lực vận động của FLS với sự cộng tác của Lực lượng đặc nhiệm về chủng tộc và công bằng xã hội.

2022 – FLS phát triển Kế hoạch hành động Little Sài Gòn năm 2030 , cung cấp lộ trình hướng dẫn cộng đồng Little Sài Gòn và các đối tác cùng hợp tác 

Kế hoạch bao gồm các ưu tiên dành cho các doanh nghiệp nhỏ đa dạng, khả năng chi trả nhà ở, cơ sở hạ tầng & tiện nghi cũng như sự hợp tác, tất cả đều là những thành phần quan trọng của dự án Little Sài Gòn Landmark.

2023 – FLS đóng cửa tại địa điểm Landmark tại 10th Ave South và South Jackson Street. 

FLS sẽ sở hữu và quản lý khoảng 7.500 ft vuông cho Trung tâm Kinh tế và Văn hóa Việt Nam, trong đó có (các) bếp ăn thương mại, không gian cho quầy hàng, chỗ ngồi mở, không gian văn phòng và không gian linh hoạt cho các hoạt động văn hóa.

 

 

Lơp học Việt Ngữ và Văn Hóa Việt ở Little Saigon

Mùa xuân năm 2023 là sinh viên tốt nghiệp khóa học ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam Cấp 2 của chúng tôi.

SỰ PHÂN BIỆT – MAI THỊ MÙI

MAI THỊ MÙI

Khi Obama đắc cử tổng thống Hoa Kỳ, dân Mỹ xầm xì, xôn xao về một tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ. Cái đó gọi là phân biệt chủng tộc.

Thánh Martino khi vào tu viện cũng không được tôn trọng vì ông là dân da đen. Cái đó gọi là phân biệt màu da.

Hoàng tử Anh William lấy Kate Middleton không sao. Tới lượt Harry lấy Meghan Markle thì hoàng gia xào xáo. Đó là sự phân biệt đẳng cấp.

Tại sao dân Chúa phải là dân Israel? Tại sao Đức giáo hoàng Gioan Phaolo II vẫn bị người ta xầm xì vì cái gốc Ba lan. Đó không phải phân biệt thì là gì? Vậy thì, phân biệt vùng miền, phân biệt tôn giáo, phân biệt chủng tộc, màu da, đẳng cấp vốn luôn là định kiến cố hữu trong mỗi người. Từ thuở khai thiên lập địa đã có sự phân biệt. Nhưng qua thời gian, theo sự phát triển của xã hội hướng tới sự văn minh và nhân đạo mà người ta giấu bớt cái tính xấu ấy đi. Gọi là giấu bởi vì nó chỉ ẩn đi chứ không mất đi. Và vì không mất đi nên mỗi khi có dịp là nó trỗi dậy. Nhưng, như đã nói, vì để thể hiện sự văn minh và nhân đạo mà người ta tránh nói đến nó. Thực tế là ai trong chúng ta cũng có sự phân biệt.

Cách đây gần thế kỷ, mỗi khi nhắc đến người Nhật người ta thường thêm chữ lùn. Mà quả thật người Nhật khi ấy họ rất lùn. Nhưng đến hôm nay thì sao? Chiều cao của họ hiện nay xấp xỉ người Châu Âu. Nhìn đội bóng chuyền nữ của Nhật mà sửng sốt. Cô nào cô nấy như cầu thủ bóng đá quốc tế. Vậy hồi đó khi nghe thế giới gọi mình là lùn, người Nhật có giận dỗi, gào lên là chúng mày miệt thị tụi tao không? Không. Họ lặng lẽ thay đổi chế độ dinh dưỡng để có được người Nhật như ngày hôm nay. Chứ ngồi đó mà tủi thân, khóc lóc, lên án cả thế giới thì đến hôm nay vẫn còn lùn. Mà lùn thì người ta bảo lùn là đúng rồi. Cãi cái gì!

Các bác cứ bảo tư bản nó bóc lột. Ấy thế mà đi làm toàn chọn công ty Mỹ với Châu Âu. Không chọn được nữa thì mới quay về Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc. Bọn Mỹ với Châu Âu nó cũng chả thèm đi cãi nhau với các bác làm gì. Làm cho nó lương cao, phúc lợi xã hội tốt, bảo hiểm đóng đầy đủ, chế độ lương thưởng rõ ràng. Quan hệ chủ-tớ văn minh, nhân ái. Bóc lột hay không cứ nhìn cách người lao động chọn công ty thì biết. Đấy, nó đâu cần thanh minh, thanh nga là chúng tôi không bóc lột. Cứ nhìn nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN tăng trưởng âm thì đủ biết thằng nào bóc, thằng nào lột ngay.

Vậy cho nên muốn người ta không phân biệt thì mình phải giống người ta. Khi giống nhau tức là trở nên một thì mới không có sự phân biệt. Ví dụ người ta cân 1 kí là mười lạng thì mình cũng cân đủ 10 lạng. Ai bảo cân 8 lạng thì người ta mới phân biệt “Bắc kỳ cân điêu”. Đẩy cái xe chôm chôm ra giữa đường, bày cái bảng 15 ngàn 1/2kg, số 1 rõ to, số 2 rõ bé, người ta ghé vào mua mới tức điên liên. Tức thì người ta chửi cái loại “Bắc kỳ ma giáo” đúng quá rồi còn gì. Cứ tạo ra sự khác biệt thì người ta phải phân biệt thôi. Nếu cả chợ ai cũng cân 1kg=1000gr, ai cũng bán xấp bánh tráng 30 cái chứ không phải 28 cái ngoài lành trong rách, ai cũng buôn thẳng, bán thật thì khi ấy trong đầu người ta chỉ có khái niệm cái chợ chứ làm gì có con mẹ Bắc kỳ bán cá trong chợ, thằng Bắc kỳ đẩy xe chôm chôm đầu chợ hay con Bắc kỳ bán mía cuối chợ.

Thay vì ngồi than thở, trách móc, tự ti, giận hờn, đòi bờ-lốc (block), ân-phen (unfriend) những người phân biệt vùng miền thì hãy như người Nhật, lặng lẽ thay đổi để xóa đi định kiến của người khác về mình. Bảo nhau đừng cân điêu, đừng bán gian, đếm dối. Đi đến đâu cũng nhã nhặn, lịch sự, giữ trật tự và giữ vệ sinh. Làm ăn, giao tế đứng đắn, trung thực thì ai người ta phân biệt làm gì. Tôi nói không ai tin thì đến chợ Tân Phong một lần mà xem. Sau lưng trường tiểu học Tân Phong A có xe rau của một anh Bắc kỳ, ngày nào cũng đắt như tôm tươi. Anh còn ngọng n-l luôn ý chứ. Nhưng thái độ buôn bán thì tuyệt vời. Ngoài giá rẻ hơn so với các sạp hàng khác thì gương mặt và lời nói hoà nhã. Mua bầu, bí là luôn tặng kèm hành ngò. Mua cà chua tặng trái chanh. Mua củ hành tặng nắm ớt. Nhà nào ăn ít mua nửa quả bí xanh hay một khe bí bỏ cũng cắt ra bán. Như thế ai chả thương. Tôi thấy Nam, Trung, Bắc gì đều mua của anh ấy hết. Đâu có ai nói tại ông này người Bắc tôi không muốn mua.

Cái passport của mình nó yếu vì vị thế đất nước mình trên trường quốc tế nó bẹp dí. Vừa mới ra khỏi khối Asean là phải xin visa rồi. Mà cũng không phải cứ xin là được. Thế xin không được thì quay ra chửi LSQ à? Người ta ớn mình bỏ mẹ người ta mới không cho. Sang đến nơi thì trốn ở lại. Ở lại thì làm chui, làm bậy, ăn trộm, ăn cướp, nhậu nhẹt, đàn đúm bầy hầy hết đất nước người ta ra thì ai chả ớn. Muốn cho người ta nhìn cái bát-bo mình mà không khinh thì phải thay đổi chứ ngồi đó tủi thân, tủi phận, trách móc, giận hờn thì suốt đời rúc kẹt như con gián.

Đấy, nói túm lại là muốn người khác không phân biệt thì mình đừng khác biệt. Mình hôi thì phải đi tắm. Mình sai thì phải sửa. Mình dốt thì phải học. Quê mùa thì phải quan sát mà học theo. Túng thiếu thì phải khiêm tốn. Chứ thấy người ta né mình thì lại lu loa lên ối giời ôi nó chê tôi hôi. Đèo mẹ! Hôi thì người ta bảo hôi. Cứ bắt người ta ngồi kế bên chịu đựng cho bể lỗ mũi à? Người ta không chịu được thì lại chửi người ta không nhân văn, thiếu nhân ái. Thế mình đã đủ nhân tính chưa?

 MAI THỊ MÙI

From: Truong Le


 

BI HÀI Ở TRẠI TẠM GIAM

Fb Huỳnh Thị Tố Nga

Kim Dao Lam

Khoảng thời gian ở tù đã trải qua, có lẽ khủng hoảng nhất là khoảng thời gian bị giam cách ly để điều tra. Vì nhiều yếu tố chi phối, thứ nhất, bản thân đang ở bên ngoài, đột ngột bị tống vào buồng giam cách ly, mọi thứ ở hai thái cực, từ thiên đường rơi xuống địa ngục. Thứ hai, thời gian bị hỏi cung mỗi ngày từ sáng tới tối, khi trở về phòng giam là cơ thể rã rời như không còn chút năng lượng. Cả ngày phải liên tục làm việc với trạng thái cân não, phải tỉnh táo trong toàn thời gian để không bị ép cung hay mớm cung, suốt mấy tháng ròng như vậy.

Buồng giam cách ly điều tra ở trại tạm giam B5, diện tích sử dụng khoảng 8 mét vuông, nền xi măng đen, một bệ dành cho chỗ nằm hai người, phía sau là một khoảng dành cho tắm giặt và bệ xí. Người nào nằm kế bệ xí, nếu người ở chung không có ý thức, đi vệ sinh dội mạnh là nước văng cả vào chỗ nằm. Tắm giặt, đi vệ sinh hoàn toàn lộ thiên. Đồ dùng cá nhân, và đồ ăn để 1 góc đối diện chỗ nằm, ngay đường đi rộng vài tấc. Phòng chỉ có ánh sáng mờ, đèn được lắp trong một hộp vuông kính mờ, ở góc phía trên cao của trần buồng giam. Ánh sáng chỉ đủ nhìn những vật dụng kích thước lớn, hai người ở chung không nhìn rõ mặt nhau.

THÈM CHỮ.

Bỏ qua việc ăn uống khắc nghiệt như tôi đã nói trong bài viết trước, sẽ có những bi hài khác mà người ở ngoài chắc không tưởng tượng được. Thời gian tôi ở khu điều tra, phòng hai người, thời điểm đó, tất cả phạm nhân nữ chỉ có 4 người, chia ra hai phòng, chỉ có tôi án chính trị, còn hai em án ma túy và một người án giết người. Tôi ở với một em án ma túy, còn trẻ. Tôi hầu như ngoài giờ bị đi cung khi trở về phòng chỉ ngồi hoặc nằm nghe em ấy kể về chuyện em ấy, rồi tôi cũng kể em nghe tại sao tôi bị bắt, tôi giảng giải cho em hiểu cơ bản về chính trị xã hội, em thích nghe, vốn thông minh sẵn, em hiểu và thương tôi, chị em chia sẻ như vậy.

(Hầu như những tù nhân án xã hội tôi gặp và tiếp xúc qua, họ điều quý mến vì biết rằng tôi đi tù không phải phạm tội như họ, họ hỏi tôi về những vấn đề xã hội mà họ chưa hiểu, họ thích nghe và nắm bắt cũng nhanh, họ sống có nghĩa khí, chỉ có vài trường hợp không được tốt, mà mấy người này, ai họ cũng gây chuyện chứ không riêng gì tôi, vậy nên, đối với tôi, cho dù là tù nhân phạm tội, họ vẫn là con người, vẫn phải tôn trọng họ. Sống trong một xã hội không nề nếp, việc họ phạm tội phải được nhìn rộng hơn, vì sao họ phạm tội? Đương nhiên, những trường hợp phạm tội một cách dã man thì tôi sẽ lên án và không bao biện cho họ).

Qua chừng một, hai tháng thì cũng hết chuyện để nói. Lúc đó, chúng tôi, nhất là tôi, thèm một cuốn sách để đọc. Trại giam không cho bất cứ một vật dụng gì có giấy trống hoặc có chữ vào buồng giam. Vỏ hộp bánh kẹo gửi vào họ bỏ hộp ra, chỉ đưa ruột vào. Suốt mấy tháng trời, thèm một cuốn sách, chưa bao giờ cảm giác thèm đọc nó ngốn nghiến mình đến vậy. Có bữa, em ở chung bị đau mắt, xin được chai thuốc nhỏ mắt vào, em nói quản giáo cho luôn tờ hướng dẫn sử dụng, vậy mà thấy nó quý quá chừng, tôi cất để dành, không dám bỏ! Hai chị em nói vui, nếu cứ kéo dài thế này, sau này ra tù chắc mình bị mù chữ vì quên luôn con chữ rồi. Thật sự ở trong phòng tối có mấy mét vuông, ngoài giờ ăn ngủ, chỉ ngồi nói chuyện qua ngày, thời gian trôi qua vô vị không sao diễn tả nổi, bình thường tôi cũng không phải siêng năng đọc sách, nhưng trong hoàn cảnh đó, sách là ước ao, còn quý hơn vàng. Mà nghĩ lại, nếu có sách cũng không đọc được, dù là ban ngày, thì ánh sáng cũng không rọi được vào buồng giam, lúc nào ánh sáng cũng lờ mờ, không thể nhìn chữ. Ở trong không gian như vậy vài tháng thôi, đã thấy mình như ở trong hang, mọi sinh hoạt cơ bản nhất của con người không còn được cảm nhận.

LA HÉT VÀ HÁT.

Phòng giam tối, ẩm thấp, nóng bức và ngột ngạt, thật sự phải chịu đựng lắm mới không phát điên. Dãy tù nam, kế bên dãy nữ không bao giờ thấy nhau, nhưng âm thanh lớn thì nghe rõ. Tôi từng nghe thấy nhiều người nam bị nhốt chịu không nổi, họ la hét, đập cửa đòi thả ra. Có lúc họ gào vài tiếng thì quản giáo lờ đi rồi thôi, nhưng khi họ đập cửa nhiều quá thì quản giáo xuống, thế là vừa tiếng la hét của tù nhân, vừa tiếng quát và đánh đập của quản giáo, tạo nên một âm thanh hỗn độn và dễ làm cho con người phát hoảng và đau lòng. Biết họ bị đánh nhưng lực bất tòng tâm. Ở trong môi trường như vậy, phát điên là bình thường, có vài người chịu không nổi, đã tự tử, thời tôi ở thì không có ai tự tử, nhưng tôi nghe kể lại như vậy.

Những lúc buồn quá, tù nam thường hát, một hai người hát thì người phòng khác hưởng ứng thế là gây ra âm thanh lớn. Có bữa quản giáo xuống, nghe giọng nói biết đã say rồi, anh ta lè nhè, tụi bây im chưa, có tin là tao bỏ tù hết cả đám không? Tụi tôi chỉ biết cười, không nói được gì, chẳng phải đang ở tù sao mà còn hăm bỏ tù!

KHÓC.

Nói, cười rồi khóc. Đó là em chung phòng với tôi, tôi nghe em tâm sự rồi thỉnh thoảng em khóc, thường những người trẻ mang án buôn bán ma túy, họ trải đời và có bản lĩnh lăn lộn, nên đa số cũng là dạng cứng cỏi so với bình thường. Thế nhưng vào tù rồi cũng phải rớt nước mắt. Tôi không nói sâu xa về việc phạm tội của họ, vì nói sâu vào vấn đề thì phải nói quá nhiều vấn đề xã hội, nhiều yếu tố góp phần đẩy họ vào con đường phạm tội. Gia đình, xã hội, sự giáo dục, đời sống kinh tế,… chung quy lại cũng là chánh trị. Vậy nên, nhìn những người trẻ phạm tội như vậy, tôi thương nhiều hơn là trách, vì như vừa nói, bản thân họ cũng không biết được họ phạm tội do nhiều yếu tố tác động như vậy, họ chỉ đơn giản là kiếm tiền, muốn thỏa sức nếm trải cuộc đời, mà không ý thức được tù tội. Ở đây chưa nói đến tội phạm ma túy đường dây tổ chức thế nào, những người trẻ này chỉ là những chấm nhỏ trong những đường dây đó, ai điều hành phía sau, họ đa số chỉ là nạn nhân cho một thị trường ranh ma và đầy cạm bẫy.

Còn tôi, thật sự là tôi chưa bao giờ khóc trong những năm tù tội này. Tôi bình thản đến mức chính tôi còn ngạc nhiên, còn bực mình về bản thân mình, vì đơn giản, có những áp lực đè nặng, chỉ cần khóc được là sẽ vơi bớt, nhưng mà tôi không khóc được. Những lúc nhớ con, nhớ gia đình, cũng chỉ rưng rưng, không ra được giọt nước mắt nào. Điều tra của tôi nói rằng, tính cách tôi giống… mẹ của anh ta(!!!), anh ta nói, mẹ anh ta là một người phụ nữ chịu đựng rất giỏi. Còn tôi, không phải chịu đựng mà là bình thản, lạnh lùng.

Mà thật sự, sao lại phải khóc, bản thân đi tù không phải là bất ngờ, đi tù cũng vì vận mạng chung cho một cộng đồng, lý tưởng hoàn toàn đúng đắn. Có chăng là khóc vì thương nhớ gia đình, nhưng lại cũng không khóc được vì bản tính bẩm sinh đã mấy chục năm không biết khóc, có lúc nào đó hiếm hoi tôi khóc, chỉ một chút rồi thôi.

Đấy, sơ lược về tù là vậy. Chỉ là sơ lược thôi, từ từ tôi sẽ kể tiếp!

HUỲNH THỊ TỐ NGA

Nov 8, 2023

Các anh công an đọc những bài viết của tôi nếu thấy khó chịu thì hãy suy nghĩ lại, tại sao các anh lại thấy khó chịu. Tôi viết 100% thực tế bản thân tôi đã trải qua, không thêm bớt. Vậy nên, thay vì các anh muốn che dấu nó, thì hãy thay đổi nó.

 

*********

Thêm Chi tiết về Chị Huynh Tố Nga (theo Đài Á Châu Tự Do)

Cựu TNLT Huỳnh Thị Tố Nga: Tôi không có tội với nhân dân!Cựu TNLT Huỳnh Thị Tố Nga

 Fb Selena Zen

Bà Nga, 40 tuổi, là chuyên viên xét nghiệm của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (thành phố Hồ Chí Minh). Bà bị bắt ngày 28/01/2019 cùng với anh ruột Huỳnh Minh Tâm vì các hoạt động trực tuyến cổ xuý cho quyền con người và dân chủ đa nguyên.

Trong phiên toà không có luật sư vào cuối tháng 11 năm đó, hai người bị tuyên tổng cộng 14 năm tù. Họ bị kết tội viết và chia sẻ nhiều bài viết có nội dung chống Nhà nước và kêu gọi người dân phản đối Luật An ninh mạng cùng biểu tình đòi tự do dân chủ.

Nói với Đài Á Châu Tự Do (RFA) ngày 25/4, bà khẳng định các hoạt động của mình có mục đích tốt cho dân tộc cho dù có thể có hại cho Đảng Cộng sản cầm quyền.

Tôi nói rõ trước toà là chúng tôi không có tội với nhân dân và đất nước của mình. Cứ đối lập bị cho là có tội. Nếu cho là có tội thì chúng tôi chỉ có tội với đảng cộng sản.”

Bà cho biết trong phiên toà mở nhưng không cho công chúng tham gia, cũng không có luật sư bào chữa hai anh em đón nhận bản án mà Toà án Nhân dân tỉnh Đồng Nai đưa ra.

Chúng tôi bình thản chấp nhận bản án. Tại vì tôi biết được là khi tôi làm, khi tôi chống lại, khi mình đối lập sẽ bị bắt bớ, bị tù đày.”

Đối xử tệ bạc trong nhà tù

Chế độ dinh dưỡng kém, lao động vất vả và chăm sóc y tế tồi là những vấn đề mà người tù phải trải qua, bà Nga nói sau khi bị giam 13 tháng trong Trại tạm giam B5 của Công an Đồng Nai và 37 tháng trong Trại giam An Phước.

Bà cho biết ở Trại giam An Phước, TNLT nào không tham gia lao động sẽ bị nhốt trong phòng giam chật hẹp cả ngày. Do vậy, hầu như tất cả TNLT phải đi lao động cho dù không vất vả như thường phạm.

Trong khi tù hình sự thường phải làm việc 8-9 giờ/ngày và mức khoán sản phẩm rất cao thì tù chính trị chỉ phải làm trong 6-7 giờ/ngày và không bị ép theo mức khoán.

Tuy nhiên, người tù phải làm hàng mã xuất khẩu sang Trung Quốc và Đài Loan với nguyên liệu từ rác thải tái chế nhưng không trang bị bảo hộ lao động tương xứng. Người tù không được trả công từ lao động của mình nhưng được xét giảm án, và bà Nga được giảm 10 tháng, bà nói với RFA.

Chế độ dinh dưỡng tồi tàn và không phù hợp với chế độ lao động, bà nói.

Khi bị ốm, cho dù là bệnh gì thì trạm xá của trại giam chỉ cấp cho vài thứ thuốc như giảm đau và an thần, cũng như kháng sinh trong trường hợp viêm nhiễm nhưng liều lượng thấp nên bệnh không được chữa trị triệt để. Việc xin phép đi chữa bệnh ở các cơ sở chuyên môn cao ở ngoài trại giam rất khó khăn, bà nhấn mạnh.

Hàng tháng, nữ tù nhân trong trại được cấp băng vệ sinh cùng bột giặt, kem và bàn chải đánh răng.

Bà cho biết trong thời gian hơn ba năm ở An Phước, bà bị kỷ luật bằng hình thức phải ở trong buồng giam hai tháng, với việc hạn chế đi lại nhưng không bị đánh đập và cũng không bị cùm chân.

Sách báo trong thư viện của trại giam ít và cũ, ít có giá trị tham khảo. Đặc biệt, sách về tôn giáo hầu như không có, ngoài mấy cuốn có tính tham khảo, bà nói với RFA.

Hàng tháng, gia đình được gửi thức ăn vào cho người thân, khoảng 6-7 kg trong những lần thăm gặp hay qua đường bưu điện.

Người tù cũng được sử dụng tiền lưu ký do người nhà gửi để mua thêm đồ trong căng tin trại giam nhưng giá ở đây đắt hơn nhiều lần so với giá ngoài thị trường, và nhiều khi phẩm cấp không được bảo đảm.

Một số tù nhân lương tâm sau khi ra tù tố cáo với truyền thông việc bị đối xử tệ bạc trong trại giam An Phước, ở tỉnh Bình Dương, tuy nhiên phóng viên nhiều lần gọi đến các số điện thoại của trại giam trên mạng internet để tìm hiểu vụ việc nhưng không thể kết nối.

Theo cáo trạng do báo chí nhà nước đăng tải, hai anh em Huỳnh Minh Tâm và Huỳnh Thị Tố Nga sinh ra trong gia đình có công với cách mạng nhưng do thường xuyên vào mạng Internet đọc nhiều trang của “các đối tượng phản động” nên cả hai đã “liên hệ và trao đổi với các đối tượng chống đối trong và ngoài nước, thường xuyên chia sẻ, viết và đăng tải nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc, kích động, chống đối chính quyền lên mạng xã hội Facebook.”

Vẫn theo cáo trạng, từ cuối năm 2017 bà Nga đã sử dụng tài khoản Facebook “Selena Zen” và “Diệu Hằng” của mình để thường xuyên đăng tải các bài viết có nội dung bị cho là xuyên tạc tình hình trong nước, phỉ báng chế độ, bóp méo, xuyên tạc lịch sử dân tộc; bôi nhọ và nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Bà Nga cũng đã tham gia biểu tình, viết và đăng tải gần 50 bài viết đề cập nhiều chủ đề khác nhau, kêu gọi người dân xuống đường biểu tình…


 

Một Tù Chính Trị nói về kinh nghiệm ở Trại Giam An Phước, Bình Dương

Hoài Cổ – S.T.T.D -Tưởng Năng Tiến

Tưởng Năng Tiến

Tôi xa quê đã lâu, lâu đến nỗi không còn có thể nói hay đọc được tiếng mẹ đẻ một cách lưu loát và trôi chẩy nữa. Trên đường lưu lạc, có hôm, tôi lỡ bước đến Ayutthaya – nơi được vua U Thong chọn làm kinh đô của Xiêm La, từ thế kỷ XIV.

Nhìn thành quách, đền đài, phế tích điêu tàn giữa ánh nắng chiều mà không khỏi bùi ngùi, và chợt nhớ đến bài thơ (“Thăng Long Hoài Cổ”) của Bà Huyện Thanh Quan:

Tạo hoá gây chi cuộc hý trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương …

Vì vốn liếng biết tiếng Việt nghèo nàn (và vì cách dụng từ có khuynh hướng hàn lâm của tác giả) nên tôi không dám chắc là đã hiểu hết được cái tâm cảm áo não của bà, sau một cuộc bể dâu. May mắn là ngay bên dưới bài thơ thượng dẫn còn có thêm vài câu chú thích, tuy ngắn gọn nhưng khá tường tận:

“Thăng Long là kinh đô nước ta từ đời nhà Lý đến đời nhà Lê, đến đời Minh Mệnh nhà Nguyễn thì đổi ra tỉnh Hà Nội. Đi qua cố đô, Bà huyện Thanh Quan, đại biểu cho giai cấp sĩ phu Bắc Hà, bâng khuâng trước sự di đô đổi triều, đau lòng trước sự tang thương.”

Thì ra là thế!

Tôi vốn không sính chuyện thơ văn (và cũng chả có tinh thần nghinh tân hay hoài cựu gì sất cả) nên hoàn toàn không cảm thấy “bâng khuâng” chi hết, “trước sự di đô đổi triều tang thương” xẩy ra trong thời đại của chính mình. Điều may mắn là dân Việt không chỉ toàn cái thứ thất phu và vô cảm như tôi nên mọi diễn biến thời cuộc, cùng tâm tình của thế nhân, đều đã được giới “sỹ phu Bắc Hà” ghi nhận:

  • Lê Phú Khải: “Ngày vui ngắn chẳng tày gang, không khí hồ hởi vui tươi sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau hòa bình lập lại 1954 ở Hà Nội cũng như toàn miền Bắc mau chóng nhường chỗ cho những ngày ảm đạm, u ám của những cuộc ‘đấu tranh giai cấp’, của cải cách ruộng đất, của cải tạo tư sản, đấu tố …”
  • Nguyễn Khải: “Một nửa nước được độc lập nhưng lòng người tan nát tài sản một đời chắt chiu của họ bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành những người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chẳng có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do, thì cái đầu cũng bị nhà nước trưng thu luôn.”
  • Nguyễn Văn Luận: “Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hà Nội e dè nghe ngóng từng ‘chính sách’ mới ban hành… Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải ‘cung cấp’ một năm theo ‘từng người trong hộ’. Mẹ may thêm chiếc quần ‘đi lao động’ thì con nít cởi truồng.”
  • Bùi Ngọc Tấn: “Quản lý chặt dạ dày, hộ khẩu, duy trì tình trạng thiếu đói cả ở nông thôn và thành phố, chia nhau từng mét chỉ, nửa cây kim, nửa cái bát sành…”

Cuộc hý trường kế tiếp, xẩy ra 21 năm sau (năm 1975) cũng thê lương và thảm thương không kém: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do! Tuy đã mất tự do và công lý nhưng nhiều người cầm bút vẫn còn giữ được lương tâm, và đã khẳng khái nói lên mọi cảm nghĩ chân thật của mình, dù thuộc bên thắng cuộc:

  • Nhà văn Dương Thu Hương: “Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ.”
  • Nhà thơ Phan Huy: “Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô/ Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”
  • Nhà báo Trần Quang Thành: “Những người chóp bu của Cộng sản đã lừa dối nhân dân Việt Nam và lừa dối cả nhân dân toàn thế giới.”
  • Nhà báo Huy Đức: “Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.”

Nó khác ra sao?

Ông Châu Hiển Lý (bộ đội tập kết) cho biết:  “Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. ‘Tính hơn hẳn’ của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.”

Với thời gian, cùng với sự “tồi dở” và “thối nát về mọi mặt” mỗi lúc được “phơi bầy rõ rệt” hơn, dân Việt đều trở nên hoài cổ ít nhiều. “Bao giờ trở lại ngày xưa?”(hay “Ngày xưa ơi biết bao giờ trở lại?”) có lẽ là lời than thở đầu môi, sau mỗi cuộc hý trường ở đất nước này:

Nguyễn Đình Toàn (1936 – ) : Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên/ mất từng con phố đổi tên đường/khi hẹn nhau ta lạc lối tìm/ ôi tình buồn như đã sống thêm (Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên).

Hoàng Anh Tuấn (1932 – 2006) : Mưa hoàng hôn, năm cửa ô sầu hắt hiu trong ngục tù/ Tủi thân nhớ bao ngàу qua/ Mưa ngùi thương nhòa trên giòng sông Hồng Hà/ Ôi còn đâu vàng son mùa thơ hiền hòa/ Đau lòng Tháp Rùa, Thê Húc bơ vơ, Thành Đô xác xơ! (Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội).

Vũ Thành (1926 – 1987) : Rồi đây dù lạc ngàn nơi / Ta hướng về chốn xa vời/
Tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai/ Nghẹn ngào thương nhớ em … Hà Nội ơi! 
(Giấc Mơ Hồi Hương).

Tuy kẻ mất người còn nhưng Nguyễn Đình Toàn, Hoàng Anh Tuấn, Vũ Thành … đều thuộc về một thế hệ đã qua. Họ có “dĩ vãng vàng son” để mà hoài cổ, và đó là chuyện thường tình. Điều bất thường là lớp trẻ bây giờ cũng thế, cũng có khuynh hướng … nhìn lui!

Ngày 4 tháng 10 năm vừa qua, nhà báo Lê Anh Hùng đã ghi lại một bức ảnh của chính ông, trong bộ cánh rất chỉnh tề và lịch sự, cùng với câu hỏi: “Bao giờ cho đến ngày xưa?”

Ngày xưa nào?

Lê Anh Hùng sinh năm 1973. Ông chào đời chưa bao lâu thì “cả nước đã quy về một mối, một mối hận thùmột mối đau thương! Tuổi thơ, cũng như tuổi trẻ của ông (e ) đều không êm đềm hay tươi vui lắm. Vậy mà ông vẫn hoài cảm (hay hoài cổ) thì nghĩ cũng hơi kỳ. Cuộc sống (xem chừng) mỗi lúc một tệ hại hơn với tất cả mọi người dân Việt, bất kể tuổi tác hay thành phần – trừ đám lãnh đạo ở đất nước này:

  • Nguyễn Phú Trọng: “Nhìn tổng quát, đất nước có bao giờ được như thế này không?”
  • Nguyễn Thị Kim Ngân: “Đất nước này được như thế này, ngẩng mặt lên nhìn với bạn bè năm châu bốn biển như thế này, vai trò vị thế như thế này đó là do chúng ta duy trì được sự ổn định chính trị và trật tự an toàn trong cả nước.”
  • Nguyễn Xuân Phúc: “Việt Nam tuy là nước có thu nhập thấp nhưng có chỉ số hạnh phúc cao thứ 5 thế giới.”
  • Nguyễn Mạnh Hùng: “Tôi có một niềm tin rằng người Việt Nam sẽ làm ra những thứ mà thế giới chưa từng làm”.

Sự tự tín, lạc quan và tin tưởng (hay hoang tưởng) của họ không khỏi khiến tôi nhớ những câu than trách của nhà báo Nguyễn Thông : “Đám cai trị xứ này cũng không hẳn là mù mắt, nhưng sự mù đầu mù óc, mù tư duy, suy nghĩ thì quá rõ. Như các cụ xưa bảo, đường quang chẳng đi lại đâm quàng bụi rậm. Quờ quạng cây gậy lý luận khua khoắng dò đường, chỉ đâm vào ngõ cụt.”

Sau cả nước “đâm quàng vào bụi rậm” rồi toàn dân lại “đâm vào ngõ cụt” thì hỏi ai mà không hoài cổ?

Tưởng Năng Tiến


 

Tại sao gia đình tôi hòa thuận?

Tôi rất sợ phải nghe ba mẹ cãi nhau. Tôi thường phải làm quan tòa và lẫn lộn không biết nên nghĩ gì. Mẹ hay nói:

– Con thấy ba kỳ cục không, nếu gặp người đàn bà khác, bà ta đã đập tan mọi thứ trong nhà ra rồi.

Ngược lại ba thường hỏi:

– Con gái, tuy con còn bé nhưng con có thấy ba chịu đựng mẹ giỏi như thế nào không? Ba phải làm sao đây?

Tôi hay nhìn những tấm hình ba mẹ chụp thời mới cưới treo trên tường, hai người nhìn nhau tươi cười hạnh phúc làm sao. Họ đã từng yêu nhau thắm thiết, tại sao tình yêu lại thay đổi mau chóng và thê thảm như vậy. Họ rất khó quên, khi gây gỗ thường kể đi kể lại những chuyện giận hờn xảy ra năm xửa năm xưa, rồi từ từ nặng lời với nhau. Tôi và em gái cũng hay có chuyện vì giành đồ chơi, hay vì phân công dọn dẹp nhà cửa không đều, nhưng chỉ chút sau là chúng tôi quên và tiếp tục chơi với nhau vui vẻ. Tôi muốn gia đình hòa thuận, êm ấm như hồi tôi còn bé. Lâu rồi chúng tôi không được đi picnic, đi câu cá với nhau.

Ngày ba tôi đập tan những tấm hình đám cưới treo trên tường, là ngày ba mẹ quyết định ly dị. Ba mẹ gọi hai chị em tôi vào phòng, chúng tôi đứng trên những mảnh vụn và được hỏi:

– Hai đứa con phải quyết định, đứa nào muốn ở với mẹ, đứa nào muốn ở với ba. Chúng ta sẽ phải chia hai.

Tôi và em gái chỉ biết khóc. Cách đây mấy tháng, tôi cũng giúp ý kiến thằng Tâm để nó chọn lựa bố hay mẹ. Bây giờ tới phiên nó sẽ giúp tôi? Tôi biết Tâm rất khổ, trong lớp nó không còn muốn chơi với ai cả ngoại trừ tôi. Cô giáo và những bạn hiểu chuyện thường nói lời an ủi, thương hại và cũng làm nó thêm bực mình, muốn lẩn tránh. Nó trở nên ít nói và không cười nữa. Tôi biết rồi sẽ phải trải qua những chuyện y như vậy. Tôi rất sợ.

Đêm hôm đó tôi không ngủ được, chạy sang phòng em thấy nó còn thức, tôi rủ nó ra bàn thờ cùng đọc kinh. Chúng tôi chỉ thuộc kinh Lạy Cha và Kính Mừng, tôi ước gì có thể đọc được những kinh thật dài như người ta đã đọc trong nhà thờ để Chúa hiểu và lắng nghe chúng tôi hơn.

Một chút sau ba má tôi cũng ra phòng khách cùng quỳ đọc kinh với chúng tôi – có lẽ vì nửa đêm tiếng cầu kinh của chị em tôi lớn quá làm họ không ngủ được. Thật là nhiệm mầu, sau khi đọc kinh, ba má tôi đã xin lỗi nhau và quyết định không ly dị nữa. Tất cả chúng tôi cùng khóc.

Tôi nghe mẹ tôi kể với bạn của bà, nhờ sự thành khẩn của hai đứa tôi trong lần đọc kinh đó mà bà đã suy nghĩ lại. Tình trạng gia đình tôi từ đó khá hẳn. Gia đình tôi càng ngày càng hòa thuận.

Ba đã treo lại những tấm hình đám cưới lên tường và treo thêm tấm gia đình bốn người chúng tôi vừa chụp ở tiệm.

Tôi tin lời cầu nguyện sẽ luôn được Chúa chấp nhận nếu mình cầu xin hết lòng và ở trong một hoàn cảnh thật sự cần giúp đỡ. Tôi cũng an tâm không cần phải học nhiều bài kinh dài và mới, Lạy cha và Kính mừng có thể tạm đủ.

ST

nguồn trên mạng

From:TU-PHUNG


 

Các Sinh Hoạt Từ Thiện cuối năm của Cộng Đồng Việt khắp nước Mỹ

Các Chượng Trình Thiện Nguyện bao gồm:

  • Bữa ăn và chăn, quần áo ấm cho người không nhà – Homeless
  • Thăm viếng các cụ cao niên ở nhà hưu dưỡng ỏ các  địa phương trên khắp Hoa Kỳ.
  • Ghi Ân và ủng hộ các anh Thương Phế Binh Quân Lực VNCH
  • Gởi tiền về Việt Nam cho các cơ sở Cô Nhi Viện và Trại Cùi
  • Các Hoạt Động Từ Thiện khác trực tiếp cho đồng bào nghèo, bệnh tật.

Một chương trình vận động gây quỹ cho hoạt động thiện nguyện phục vụ cộng đồng được các tình nguyện viên thực hiện tại Eden, trung tâm thương mại lớn nhất của người Việt ở khu vực thủ đô nước Mỹ.

Tình Bằng Hữu- Bạn Già – Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức

Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức

Tục ngữ Mỹ có câu nói: “Tiếp tục kiếm thêm bạn mới nhưng hãy duy trì bằng hữu cũ, vì bạn mới là bạc mà bạn cũ lại là vàng”.

Cụ Nguyễn Ðình Chiểu của chúng ta trang trọng bạn xưa với:

” Trong đời mấy bậc cố tri,

Mấy trang đồng đạo, mấy nghì đồng tâm”

Nhà thơ Lê Đại Thanh viết:

“Bạn là một nửa bản thân tôi

Nửa da thịt, nửa trái tim, khối óc”

Còn câu sau đây là diễn tả trình bạn trong Nhị Ðộ Mai:

“Nghĩa bằng hữu bậc trung trinh,

Thấy hoa mai bỗng động tình sót xa”

Nhiều vị tuổi cao cũng có ý nghĩ rằng khi về già, ngoài việc có một sức khỏe tốt, một gia đình êm ấm, thì tình bạn lâu năm là một hành trang quý giá mà họ đã mang theo được cho tới giai đoạn cuối của cuộc đời.

Vậy thì bạn hữu là gì?

Hiểu theo nghĩa thông thường, bạn là một nhóm người thường thì không có liên hệ ruột thịt, gắn bó với nhau qua những tương đồng về hoàn cảnh sinh sống.

Họ đến với nhau trong tâm đầu ý hợp, bằng kết nối những tâm tư, những nguồn giao cảm gần giống nhau.

Họ thân với nhau để chia xẻ vui buồn, để cùng thực hiện những hoài bão chung, để nương tựa lẫn nhau.

Họ hiểu nhau, tin tưởng nơi nhau, thích nhau. Đây là một gắn bó của sự thủy chung và thương yêu vị tha và lâu dài. Với nhau, họ là người đồng hành, là người tin cậy.

Bạn hữu khác với người quen biết, gặp nhau trong công việc hàng ngày như ở sở làm, trong cộng đồng, ngoài lối xóm. Đó chỉ là những tiếp xúc trong một thời gian giới hạn và cần thêm nhiều lôi cuốn, kết nối khác nữa để chuyển sang tình bằng hữu.

Trong đời sống hàng ngày, nhiều khi người ta đã lạm dung chữ bạn. Mới gặp nhau vài lần mà đã nói đó là bạn tôi, cứ như là thật. Ông bà chủ lấy lòng nhân viên, sai bạn ơi làm hộ tôi cái này, cái kia sao mà ngọt như mía lùi. Ðể rồi lay off nhau cũng mau như cắt.

Bạn hữu thường tập trung vào mấy nhóm.

Một số người có tinh thần độc lập, tự cho là không cần đến ai. Không phải họ sống cô độc. Nhưng, với họ, những giao tế qua lại thường nhẹ nhàng, có cũng được mà không cũng chẳng sao. Rồi tùy theo hoàn cảnh, tùy theo nhu cầu, nếu cần thì giao tiếp, nếu không có thể quên đi dễ dàng. Họ sống với hiện tại và thỏa mãn với những người mà họ mới gặp hay đã có sẵn. Cho nên khi mất một giao hữu, họ cũng chẳng tiếc mấy.

Những người kỹ tính, lựa bạn mà chơi thì có gắn bó sâu đậm đặc biệt với một số người mà họ coi là rất thân. Nên họ buồn tiếc khi mất. Còn những liên hệ khác thì chỉ là những thiển giao, quen biết nhiều hơn là kết bạn. Họ sống nhiều với bạn xưa và không muốn tìm bạn mới khi tới tuổi cao.

Người hiếu bạn có nhiều bằng hữu hơn: bạn quen từ những năm trước, bạn mới tạo ra sau này. Họ là những người sống với cả quá khứ, hiện tại trong tình bạn và sửa soạn cho tương lai với nhiều bạn bè. Họ luôn luôn dùng giao tế nhân sự để kiếm thêm bạn mới.

Nhiều nhà xã hội học phân biệt bằng hữu tương nhượng, bằng hữu tiếp thu và bằng hữu trong hợp tác.

Khi đôi bên cho nhau lòng trung thành và tình thương yêu thì có sự cân bằng của tình bạn, đôi bên nương tựa lẫn nhau.

Khi chỉ có một bên cống hiến tất cả và bên kia không đáp lễ thì chỉ có tình bạn một chiều.

Khi chỉ hợp tác vì một quyền lợi, một mục đích mà không có thương yêu, chung thủy thì giao tế không bền và rất giới hạn.

Đặc điểm của bằng hữu.

Khác với tình anh em, vợ chồng, bạn hữu có những sắc thái riêng biệt. Đây là một giao hảo có tính cách tự nguyện, một ràng buộc riêng tư do đôi bên hiểu ngầm thương lượng, một liên hệ qua lại trong tinh thần bình đẳng tràn đầy thiện tâm, thiện ý.

Vì tự nguyện với có quyền lựa chọn và được chọn lựa nên không ai bắt buộc ai phải là bạn. Nó cũng không có ràng buộc pháp lý như tình nghĩa vợ chồng, hoặc lễ nghĩa huyết tộc như tình anh chị em ruột thịt.

Cho nên dù có liên hệ huyết mạch, người cùng lối xóm, cùng sở làm mà không có tương khí tương đồng thì cũng không trở nên bằng hữu được. Ta có thể tỏ ra hết sức lịch sự với người cùng phòng, cùng sở nhưng không có điều gì bắt buộc ta phải thích và là bạn người đó. Ta không thể tự coi là bạn của một người khi ta không biết người đó có sẵn sàng nhận ta là bạn không. Tác giả người Pháp J Delille đã nói: “Cha mẹ là do số phận, bạn bè do lựa chọn ”.

Bình đẳng vì tình bạn xây dựng trên cá nhân mỗi con người. Nó không đòi hỏi sự bằng nhau tuyệt đối về học vấn, về địa vị trong xã hội, về sự giàu tiền, lắm bạc như nhau, thành công như nhau. Đã có nhiều tình bạn rất đẹp nẩy nở giữa chủ và thợ, giữa thầy và trò, giữa người giàu và người nghèo.

Tình bạn cũng tôn trọng tính cách độc lập của nhau: mỗi bên có nếp sống riêng tư, tự do quyết định cho đời sống của mình mà không bị bên kia can thiệp. Không có sự áp đặt chủ -nô hoặc khuất phục như lãnh chúa độc tài với thần dân.

Trong tình bạn, đôi bên dành cho nhau những cảm tình tốt, những chăm sóc, quan tâm tận tình, những giúp đỡ khi cần và sự rộng lượng, sẵn sàng với nhau. Thiện ý này không đưa đến sự lợi dụng nhau hoặc phụ thuộc nhau. Người giúp thấy thoải mái làm mà không cho là có bổn phận hoặc bị bắt ép phải làm, mà người nhận không bị ám ảnh là đã đòi hỏi quá nhiều ở bạn.

Vì khi đã phụ thuộc vào nhau thì sự tự do, bình đẳng không còn nữa. Một tình bạn đích thực không những chỉ cởi mở để cho mà còn vui vẻ để nhận.

Tình trạng sẵn sàng với nhau cũng là căn bản của bằng hữu và trong tình bằng hữu, không có sự ghen tị mà còn cần thành thật với nhau, không mầu mè, che đậy.

Để có bằng hữu

Tình bạn có thể được xây dựng trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào của con người.

Căn bản là ít nhất họ có cùng một thôi thúc tình cảm, có sự chia xẻ trao đổi những ý nghĩ giống nhau, có cùng sở thích, quyền lợi. Trong tình bạn tuy cũng có những khác biệt nhưng khác biệt này bổ túc cho nhau. Nếu hoàn toàn giống nhau thì đâu còn đối thoại, đồng cảm.

Bạn thường tìm thấy trong các nhóm có chung sinh hoạt: học cùng trường, ở cùng khu phố, làm cùng nghề, cùng thú vui giải trí, cùng lui tới cơ sở tôn giáo. Nó nẩy sinh ở những lứa tuổi khác nhau. Nhóm trung niên có lợi điểm là có bạn ở mọi lứa già trẻ trong khi người già có bạn ở cùng lứa tuổi hoặc trẻ hơn.

Về giống tính thì thường thường đàn ông đàn bà đều có nhiều bạn như nhau, nhưng chồng thì không hay tâm sự nơi bạn mà tin cẩn vợ hơn, còn vợ thì có nhiều bạn gái để tâm sự ngoài chồng mình.

Bằng hữu nẩy sinh trong những thôi thúc tình cảm giữa hai người. Thôi thúc càng cao thì bằng hữu càng sâu đậm.

Một câu hỏi thường được nêu ra là tại sao ta có ước muốn gắn bó với đối tượng này mà lại hững hờ với đối tượng khác. Có những tình bạn xuất hiện như tia chớp trên nền trời xanh: mới chỉ gặp một vài lần, chưa biết quá trình, hiện tại của nhau nhưng đã dành cảm tình cho nhau, đã muốn được có bạn và được nhận là bạn. Ý thức chưa thấy gì, nhưng tiềm thức đã nhận ra và tiên đoán là nhiều triển vọng tình bạn sẽ nẩy nở sau này.

Sự bá vai, chèo kéo, nài nỉ không đưa tới tình bạn, như các cụ ta thường nói: “Thấy người sang bắt quàng làm họ”.

Đồng nghiệp, đồng sở không đương nhiên thành bằng hữu vì đây chỉ là giao tế khách quan, không vượt qua lãnh vực nghề nghiệp.

Một vấn đề tế nhị là sự xét đoán và chấp nhận trong tình bạn: nhận xét một cách khách quan về việc làm của bạn hoặc chấp nhận và hỗ trợ vô điều kiện. Đa số đều kỳ vọng có sự chấp nhận không phê phán từ bạn mình. Một số khác lại tin cậy ở nhận xét của bạn để quyết định và để học cách hành xử trong hoàn cảnh mới. Như vậy mặc dù con người không thích bị đánh giá, nhưng một nhận xét chân thành của bạn có thể có ích cho họ.

Bạn Già
Giống như lúc mới sinh và trong thời còn thơ ấu, tuổi già đôi khi chịu một số phận không mấy vui là phải phụ thuộc vào người khác nhất là sau khi đã có nhiều mất mát.

Nhưng, thay vì vươn ra khỏi sự phụ thuộc như lớp tuổi thơ thì người già lại đi sâu vào vòng phụ thuộc. Họ không còn làm việc, bị giảm lợi tức, con cái đi ở riêng, mất dần bạn bè, người thân yêu, kém sức khỏe, bệnh hoạn. Cho nên về già mà có được những bạn cố tri thân thiết hoặc tạo thêm ra những bạn mới để nương tựa lẫn nhau là một điều rất an ủi.

Nhiều người cho rằng dù họ hàng thân thuộc có giúp đỡ nhưng bằng hữu thường gần gũi nhau hơn, dễ nói với nhau hơn. Và có nhiều điều mà chính người phối ngẫu cũng không cung ứng được bằng những bạn cố tri. Họ đã cùng vui buồn có nhau khi xưa mà bây giờ già rồi vẫn còn bên nhau. Họ nương tựa lẫn nhau để có bầu có bạn, hiểu nhau để giúp đỡ lẫn nhau. Họ lắng nghe nhau tâm sự, kể lại cho nhau những kỷ niệm, những việc đã cùng làm. Họ đối xử, xưng hô thân mật như mấy chục năm về trước.

Thường thường người già muốn có những người bạn cùng lứa tuổi, có hoàn cảnh như nhau, sở thích kinh nghiệm như nhau, sống gần nhau để thuận tiện qua lại. Nhưng họ cũng có khuynh hướng là tạo thêm bạn mới ở lứa tuổi trẻ hơn để thay thế vào chỗ của những người bạn cùng tuổi sẽ lần lượt ra đi. Cũng có người già tập trung nuôi dưỡng bạn cố tri, giới hạn trong việc tìm thêm bạn mới để tiết kiệm sinh lực và để tránh gặp những trái ý không cần thiết.

Về già cũng có một số hoàn cảnh khiến cho tình bạn gặp trở ngại.

Kém sức khỏe đưa đến không cùng nhau sinh hoạt. Quá phụ thuộc vào bạn trong các công việc hàng ngày. Nếu sự phụ thuộc quá nhiều thì đôi khi bạn cũng thấy khó chịu, xa dần. Rồi người già rơi vào cảnh cô lập, nhất là khi giảm khả năng đối thoại với tai nghễnh ngãng, mắt kèm nhèm.

Cũng nhiều người già không có thì giờ nhiều cho bạn bè vì bận rộn chăm sóc cho sức khỏe của mình hoặc để nghỉ ngơi. Ngoài ra, có trường hợp trong đó khi dư giả thì bạn bè năng tới lui, mà nghèo khó thì lại thưa vắng qua lại. Như tình huống của Nguyễn Hữu Chỉnh: “Ðã hẳn ai là mặt cố tri; Giầu sang tìm đến, khó tìm đi”

Tình nghĩa vợ chồng già dù như đũa có đôi, nhưng cũng nên có những bạn riêng để phòng hờ thời gian đơn côi, góa bụa.

Khi mất người phối ngẫu, lão nam cảm thấy lẻ bóng nhiều hơn vì đã mất người bạn đầu gối tay ấp cả dăm ba chục năm.

Bình thường quý lão bà có nhiều bạn tâm tình trong suốt cuộc đời. Nhưng khi bạn hiền ra đi, thì cụ bà thấy quan hệ với bằng hữu cũ của vợ chồng giảm dần. Cũng may là họ dễ dàng tạo thêm bạn mới, giao hảo mới bằng cánh tham dự vào nhiều sinh hoạt cộng đồng, tôn giáo. Đa số bạn của cụ bà khi đó là cô quả cùng cảnh ngộ, chỉ có một số nhỏ có gia đình. Cho nên khi còn sống với nhau mà bà vợ không chịu giao tế tạo bạn cho mình thì khi ở góa sẽ có nguy cơ cô đơn. Nhất là khi chẳng may khả năng tài chánh lại không được dồi dào.

Kết luận

Mặc dù có thể có những căng thẳng, những thay đổi ngoài tầm kiểm soát, tình bạn vẫn giúp người già cảm thấy vui lên rất nhiều. Cho nên mất một bạn cố tri là một tai biến vì nhiều người già cảm thấy không còn đủ thời gian để thay thế cái khoảng trống tình cảm đó.

Hơn nữa, như Simone de Beauvoir đã viết:” Cái chết của người bạn thân thiết là sự đoạn tuyệt đột ngột với quá khứ của mình. Chúng ta không những mất một sự hiện diện mà còn mất cả một phần của cuộc sống mà chúng ta đã gửi gắm nơi họ”.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức

From: Truong Le


 

ĐẦU TƯ CHO SỰ THÁNH THIỆN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được!”.

Tháng 10/2021, công chúa Mako, Nhật Bản, từ bỏ hoàng gia và 1,3 triệu Mỹ kim hồi môn để xe duyên với Komuro, một luật sư, con của một người mẹ đơn thân. Theo luật hoàng gia, kết hôn với một thường dân, các thành viên nữ phải từ bỏ tước vị và không có một nghi lễ cưới hỏi truyền thống. Mako chia sẻ, “Chúng tôi nghĩ, mình đã tìm được người bạn đời quý giá. Tôi muốn một cuộc sống yên ả trong môi trường mới của tôi!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu Mako đã hy sinh tất cả, đầu tư cho tiếng gọi của con tim, người môn đệ Kitô cũng phải bỏ vốn để ‘đầu tư cho sự thánh thiện’ của mình. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ, ‘vốn’ đó không chỉ là “hết những gì mình có”, mà cả “cha mẹ”; thậm chí “mạng sống!”.

Minh hoạ kế hoạch của một người xây tháp, Ngài nói đến các kế hoạch. Sẽ là gì? Hy sinh nhiều! Nhưng như cảm giác vui mừng khi cắt băng khánh thành toà tháp, mọi nỗ lực ‘đầu tư cho sự thánh thiện’ của bạn sẽ mang lại một sự hỷ hoan đến tận đời đời!

Chúa Giêsu còn đưa ra một ví dụ khác, một vị vua sắp đi giao chiến. Đâu là mục tiêu tiên kiến của một kế hoạch chiến đấu? Rất đơn giản: “Không gì thay được chiến thắng!”. Thế nhưng, chiến tranh luôn nghiệt ngã và nếu khả năng bị đánh bại là một điều có thể thấy trước; tốt hơn, nên tìm chiến thuật khác. Cũng thế, với sự thánh thiện, bạn sẽ dễ dàng thắng một số “trận”; đang khi có những “trận” phải tránh hoàn toàn. Vì thế, đừng ngu khờ đánh giá cao năng lực bản thân; điều này xảy ra, đặc biệt, khi chúng ta biết mình không thể không phạm tội, và nghĩ rằng, bản thân đủ mạnh để vượt qua. Ảo tưởng! Vì một đôi khi, chiến lược đối đầu tốt nhất không phải là chiến đấu, mà là chạy trốn!

Vậy đâu là nguồn vốn? Với Chúa Giêsu, ‘nguồn vốn’ Ngài đề nghị xem ra ‘khá cực đoan’ và cũng ‘khá cường điệu’ khi mỗi người phải từ bỏ “hết những gì mình có” kể cả “cha mẹ”, thậm chí “mạng sống!”. Những điều này dẫu quan trọng đến đâu cũng không thể chiếm vị trí hàng đầu trong trái tim người môn đệ, nơi ‘một Ai đó’ đã chiếm hữu! Chính Ngài đã để Chúa Cha chiếm trọn trái tim, con người, tâm trí khi triệt để chu toàn ý Cha, kể cả cái chết. Vì thế, Ngài đã trở nên khuôn mẫu cho chúng ta noi theo. Vậy mà tuyệt vời thay! Đi theo Chúa Giêsu trên con đường Ngài đi lại thực sự dẫn đến một tình yêu lớn hơn, phong nhiêu hơn và vĩnh cửu hơn khi Thiên Chúa sẽ trả lại cho chúng ta “gấp trăm ở đời này” và “sự sống miên viễn ở đời sau!”.

Anh Chị em,

‘Đầu tư cho sự thánh thiện’ quả không rẻ, cũng không dễ! Và không ai có thể làm điều này nếu không có sự trợ giúp của ân sủng. Chúng ta yếu đuối và luôn yếu đuối, nhưng tin rằng, ân sủng Chúa không bao giờ thiếu để mỗi người có thể đi vào những lối hẹp Tin Mừng. Hãy để Thiên Chúa chiếm trọn con người mình và cứ thực hành yêu thương, vâng phục. Trong thư Rôma hôm nay, Phaolô viết, “Yêu thương là chu toàn lề luật”; đồng thời, chúng ta rộng lượng với tha nhân như Thánh Vịnh đáp ca nhắc nhủ, “Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn!”. Được như thế, bạn đã đầu tư tốt!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giúp con tháo cởi những ‘sợi tơ vàng’ còn vương víu; nhờ đó, con có thể chấp cánh bay cao trên ‘bầu trời nên thánh!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Nỗi buồn lớn nhất của người già không phải bệnh tật…

Lương Văn Can 75.

Kimtrong Lam

Nỗi buồn lớn nhất của người già không phải bệnh tật mà là một điều tưởng chừng như nghịch lý.

Người ta sợ tuổi già không ai chăm sóc, nhưng đó chưa phải là tất cả. Chính điều này mới là sự ám ảnh của người già.

Ông Hùng, 71 tuổi: Cuộc sống ở quê khiến tôi tự do và thoải mái

Tôi năm nay đã 71 tuổi rồi, tôi làm trong ngành điện, đã nghỉ hưu. Tôi sống một mình ở quê, dù cô đơn nhưng tôi thấy cuộc sống thoải mái. Tôi có 4 người con, tôi đã mất vợ từ sớm. Các con tôi may mắn có công việc và gia đình ổn cả.

Không ai trong số chúng muốn sống với tôi, ban đầu buồn nhưng tôi nghĩ các con cũng có gia đình, hãy để chúng sống riêng thật thoải mái.

Tôi ở quê thường chơi cờ, đi bộ cùng với những người lớn tuổi trong làng quê.

Từ lâu tôi chỉ có bạn bè bầu bạn, vợ mất sớm nên tôi chỉ có những người bạn. Dù điều kiện có hạn nhưng chúng tôi là một nhóm bạn cũ cùng nhau vui vẻ và tôi đã có khoảng thời gian rất vui vẻ.

Dù các con của tôi không ở bên cạnh nhưng tôi vẫn có lương hưu riêng. Cộng thêm tiền bảo hiểm thì tôi sống thoải mái.

Sau khi nhập viện vì đau tim, chú Hùng phải chuyển đến nhà con trai

Cứ tưởng chú Hùng có thể sống mãi những năm tháng hạnh phúc ở làng quê, nhưng rồi ông bị đột quỵ, may mắn cứu được nhưng sức khỏe giảm sút đi rất nhiều. Nếu không có những người bạn qua đi tìm ông thì có lẽ ông đã mất rồi.

Cả 4 đứa con đều về thăm bố. Họ sợ hãi và nói sẽ đưa chú Hùng lên sống cùng. Ban đầu chú Hùng không đồng ý nhưng rồi vì sức khỏe yếu ông đành đồng ý.

Chú Hùng chọn sống với con trai út, căn nhà của con trai út rộng rãi nhất nên cũng thoải mái.

Ngày ông Hùng đi những người bạn cũng khuyên nhủ ông lên đó vì ở quê chẳng có ai chăm sóc cả.

Thật không thoải mái khi sống ở nhà con trai

Khi lên thành phố thì chú Hùng tâm sự:

Ban đầu gia đình con trai rất nồng nhiệt, con để tôi ở phòng riêng, mua giường, nội thất mới. Mỗi bữa con đều làm những món tôi thích.

Ở với con trai thì tôi cũng có thời gian chơi với cháu. Nhưng rồi thời gian tốt đẹp không kéo dài được. Tôi có thói quen tắm cách ngày vì tôi cho rằng mình không làm gì nên chẳng cần ngày nào tắm. Nhưng con dâu tôi nghĩ tôi bẩn nên thường bảo con trai nhắc nhở tôi đi tắm.Tôi còn nhớ con dâu đã nói: “Bố nặng mùi quá, anh bảo bố đi tắm đi, nếu không em sẽ không ăn cơm cùng đâu”.

Quần áo cũng thế, tôi nghĩ 2, 3 ngày mới thay lần. Đồ lót thì tôi thay thường xuyên. Nhưng con dâu không đồng ý.

Tôi muốn giúp cháu học bài nhưng cháu không muốn tôi giúp. Sau đó tôi biết con dâu không muốn tôi dạy cho cháu.

Địa vị của tôi trong gia đình ngày càng thấp, giống như một gánh nặng

Chú Hùng còn tâm sự thêm: Tôi thấy địa vị của mình trong nhà con trai ngày càng thấp, dù tôi có muốn giúp đỡ gì thì con dâu cũng bảo không cần.

Có lần con dâu ốm, con trai đi làm nên tôi cố gắng nấu bữa tối giúp con dâu. Nhưng tối đó con dâu kéo chồng vào phòng vào là tôi nấu quá mặn, khiến nó không thể ăn được. Nghe xong, tôi cảm thấy rất buồn, thấy mình như một gánh nặng. Con trai tôi không nói gì, chỉ mời tôi ra phòng khách xem TV.

Tôi sống những ngày cảm xúc buồn tủi lẫn lộn. Tôi là người lớn tuổi nhất nhà, nhưng tôi phải hứng chịu mọi sự giận dữ của các con.

Bây giờ tôi sống rất thận trọng, dè dặt với gia đình con trai

Tôi rất muốn nói chuyện với con dâu, nhưng tôi không thể chịu nổi cảnh nó sẽ làm khổ con trai nếu tôi nói ra.

Tôi nhận ra mình phải ăn nói cẩn thận để không làm mất lòng con dâu. Nếu con dâu thực sự không chịu nổi mà yêu cầu con trai để tôi về quê thì cuộc sống của tôi sẽ càng khó khăn hơn đối với một ông già ốm yếu.

Nếu tôi về quê chắc chắn sẽ không có ai chăm sóc cả. Thế nên tôi sẽ tự lập, chiều theo ý của con dâu. Những ngày bây giờ của tôi thật sự là bi kịch.

VietBF@sưu tập


 

Một cuộc kéo lùi lịch sử phát triển nhân loại

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Thông

7-11-2023

Đó là sự kiện mang tên “cách mạng tháng 10” và những hệ quả mà nó gây ra bảy chục năm sau.

Năm 2023, tháng 10, hôm nay 7.11, cách đây đúng 106 năm, xảy ra cuộc bạo loạn cách mạng tháng 10 ở Nga, cái nước đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo với người anh em Ukraine, một thời môi răng trong thể chế Liên Xô. Bản chất thật của Liên Xô và Nga, cách mạng và chiến tranh, dù có che giấu khéo mấy, lâu mấy, cũng có lúc bật ra, phô bày. Cách mạng ư, chẳng qua là bạo lực, chém giết, say máu, tàn bạo, là “cách mẹ cái mạng chúng nó đi”.

Trên quả địa cầu, những anh cộng sản hoặc đám thiên tả ưa làm cách mạng, thích dùng từ “cách mạng” nhất. Cách mạng thực chất là phá bỏ, thay đổi, chém giết, vậy mà thời nay họ cứ hô hào mọi người “phát huy tinh thần cách mạng”, chả biết định phá cái gì, chém giết ai.

Tại sao xảy ra tháng 11 mà lại gọi cách mạng tháng 10. Đó cũng là sự oái oăm. Cứ tra Gu gồ thì rõ ngay, không cần giải thích lòng thòng. Vả lại, Liên Xô nơi đẻ ra cách mạng, nó thích gọi thế thì đàn em phải chiều, nó mà phạt, không u đầu cũng sứt tai.

Bây giờ đã gần 10 giờ đêm của ngày kỷ niệm “thứ 106” nhưng hầu như chả tờ báo nào đất An Nam (*), kể cả TTXVN, đưa tin về việc xứ ta tổ chức mít tinh, kỷ niệm cách mạng tháng 10. Một chữ cũng không. Nếu dính tí ti, thì đó là tin lấy từ báo Nga, cho biết đám tàn dư cộng sản Zyuganov kéo nhau đi tuần hành, thu hút được vài ông già bà cả còn mắc nợ với Lênin và chính quyền Xô-viết.

Chủ tịch Đảng Cộng sản Liên bang Nga, Genady Zyuganov phát biểu tại lễ kỷ niệm Cách mạng tháng Mười ở Nga. Ảnh: XUÂN HƯNG/ báo ND

Nhớ những năm xa ấy, thập niên 60 và nửa đầu 70 khi tôi còn ở Bắc, cứ mỗn lần tới ngày 7.11 hằng năm, bất kể năm chẵn năm lẻ, cả miền Bắc, mười mấy triệu người (chính xác là 17, còn miền Nam 14, cả nước 31 triệu, “31 triệu nhân dân, tất cả hành quân, tất cả thành chiến sĩ”, đọc câu thơ này của ông Lành, không hiểu các vị ấy vào miền Nam đánh nhau với ai) cứ như lên đồng.

Hình như không khí hội hè chỉ kém kỷ niệm quốc khánh 2.9. Chỗ nào cũng khẩu hiệu “Tinh thần của cách mạng tháng 10 bất diệt”, “Lênin vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”, “Tình hữu nghị Việt Xô đời đời bền vững”, “Chủ nghĩa Mác, Lênin bách chiến bách thắng vô địch muôn năm”… rộn ràng chả khác chi nhánh nhà thờ họ giỗ tổ.

Dù có tài tiên đoán như cụ Trạng Trình cũng không thể nào nghĩ sự bất diệt ấy 2 chục năm sau lại tang thương, tẻ ngắt như thế này. Vậy mà ông hàng xóm nhà tôi còn cười, bảo, chôn vùi hạ huyệt cách mạng tháng 10 như thế vẫn còn khí muộn. Âm khí vẫn còn. Sự khư khư ôm lấy nó của ai đó chỉ là kết quả từ đầu óc tăm tối, thủ cựu.

Nhiều năm trở lại đây, chính người Nga cũng không muốn nhắc lại cách mạng tháng 10, còn nếu có nhắc, họ gọi là sai lầm lịch sử, gây một quá khứ đau thương, phát triển trì trệ, ì ạch cho nước Nga. Những người cộng sản còn sót lại ở Nga, nhóm Gennady Zyuganov nếu có trương cờ, giăng biểu ngữ, tuần hành… lôi kéo được một số người thì chẳng qua cũng chỉ ăn mày dĩ vãng, dựa hơi quá khứ để trang điểm cho hiện tại cùng quẫn mà thôi.

Lại nhớ sau năm 1991 (năm Liên Xô tan rã, chủ nghĩa xã hội vào đường cùng), cứ mỗi lần đến dịp kỷ niệm cách mạng tháng 10, người ta vẫn gượng tổ chức. Ngay cả khi người Nga đã quên thì “người ta” vẫn nhớ. Còn chút dĩ vãng nhợt nhạt, yếu ớt, mỏng manh nhưng đúng đường xưa lối cũ ấy mà không cố tôn lên, tô vẽ cho nó thì biết sống làm sao.

Thật tội nghiệp. Thứ mà kẻ sinh ra nó đã vứt vào sọt rác lịch sử không thương tiếc, thì vẫn có người bấu víu vào nhấm nháp cầm hơi để tồn tại qua ngày đoạn tháng.

_____

(*) Ghi chú của Tiếng Dân: Thật ra, hôm nay vẫn có các bài viết về Cách mạng Tháng Mười trên các báo “lề phải”, nhưng có lẽ các bài báo này được giấu trong các mục khác, nên tác giả không thấy. Lúc 5h28′ sáng 7-11-2023, báo Quân đội Nhân dân có bài: Cách mạng Tháng Mười Nga khai mở một thời đại mới. Lúc 6h12′, trang VietnamPlus của TBT Trần Tiến Duẩn, thuộc Thông Tấn xã Việt Nam, có bài: Cách mạng Tháng 10 Nga: Một trong những sự kiện vĩ đại nhất thế kỷ 20.

Rải rác đây đó trên các tờ báo địa phương đều có các bài viết về Cách mạng Tháng Mười. Lúc 8h57′ sáng, báo Lâm Đồng tuyên chiến: Cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc về Cách mạng Tháng Mười Nga. Lúc 10h44, bài trên báo Bình Phước: Cách mạng Tháng 10 Nga: Một trong những sự kiện vĩ đại nhất thế kỷ 20. Bài trên báo Hòa Bình, lúc 16h58′: Kỷ niệm 106 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7-11-1917 / 7-11-2023) Cách mạng Tháng Mười Nga với giá trị trường tồn về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Riêng báo Nhân Dân, lúc 10h52′ sáng nay, có bài: Dâng hoa kỷ niệm 106 năm Cách mạng Tháng Mười Nga. Buổi chiều, lúc 17h25′, VOV có bài: Cách mạng tháng Mười Nga luôn là động lực của sự tiến bộ, hòa hợp và phát triển. Gần cuối ngày, sau khi bài viết của tác giả Nguyễn Thông lên mạng, hơn 1 tiếng sau, báo Nhân Dân có bài: Kỷ niệm 106 năm Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại tại Liên bang Nga


 

Hàng trăm người kêu gọi tổng bí thư và chủ tịch nước Việt Nam điều tra lại 3 vụ ‘án oan’

Ông Nguyễn Hòa Bình khẳng định trước Quốc hội không có án oanChánh án Tòa án Nhân dân Tối cáo Nguyễn Hòa Bình. Ảnh  toaan.gov

 

Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Nguyễn Hòa Bình hôm 6/11 nói trước Quốc hội rằng việc xét xử các vụ án hình sự bảo đảm nghiêm minh, đúng người, đúng tội, chưa phát hiện trường hợp kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.

 

(Từ trái sang) Ba tử tù Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng và Lê Văn Mạnh đều bị cáo buộc tội giết người mà họ nói là bị kết án oan. Ông Mạnh đã bị hành quyết hôm 22/9 còn ông Hải và ông Chưởng đang chờ ngày thi hành án.
(Từ trái sang) Ba tử tù Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng và Lê Văn Mạnh đều bị cáo buộc tội giết người mà họ nói là bị kết án oan. Ông Mạnh đã bị hành quyết hôm 22/9.

Hàng trăm người đã ký tên vào một thỉnh nguyện thư do các luật sư thảo ra để yêu cầu các lãnh đạo cao nhất của Việt Nam cùng các cơ quan có thẩm quyền xem xét và điều tra lại các vụ án mà họ cho là oan sai đối với các tử tù Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng và Lê Văn Mạnh.

 

Đây là những vụ án được chú ý nhiều nhất trong những năm trở lại đây bởi việc xét xử mà các luật sư cho là còn có nhiều “sai sót” và sự phản đối từ gia đình của các tử tù này. Nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế và cả đại diện Liên Hợp Quốc cũng đã lên tiếng kêu gọi chính phủ Việt Nam điều tra xét xử lại ba vụ án mà họ nói là có dấu hiệu oan sai.

Bất chấp sự phản đối của nhiều nước phương Tây và người dân trong nước, chính quyền Việt Nam đã hành quyết ông Mạnh vào ngày 22/9 trong lúc gia đình vẫn đang đi kêu oan cho ông. Một báo cáo viên đặc biệt của LHQ hồi đầu tháng 10 nói ông “bàng hoàng” và “thất vọng” trước việc chính phủ Việt Nam hành quyết ông Mạnh.

Giống như ông Hải và ông Chưởng, ông Mạnh bị buộc tội giết người và bị kết án tử hình chỉ với những lời thú nhận tội mà sau đó ông đã rút lại với lý do đã bị buộc phải nhận tội do tra tấn và nhục hình. Ông Mạnh bị giam giữ hơn 18 năm trước khi bị hành quyết. Còn ông Chưởng và ông Hải cũng đang bị giam giữ hơn 10 năm qua và đang chờ ngày thi hành án.

“Các Luật sư và gia đình các bị án đã gửi nhiều Kiến nghị, Tâm thư và đưa ra nhiều tài liệu chứng cứ chứng minh việc khởi tố, truy tố, xét xử và kết án tử hình đối với cả 03 tử tù Nguyễn Văn Chưởng, Hồ Duy Hải, Lê Văn Mạnh là không khách quan, thiếu thuyết phục, nhiều tài liệu chứng cứ mâu thuẫn nhưng chưa được làm rõ”, Luật sư Lê Văn Hòa, người đang tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho ông Nguyễn Trường Chinh kêu oan cho con là tử tù Nguyễn Văn Chưởng, viết trong thỉnh nguyện thư hiện đã được 365 người ký tên tính đến ngày 6/11.

Ông Chưởng bị cáo buộc là chủ mưu và tham gia chém giết thiếu tá cảnh sát Nguyễn Văn Sinh “nhằm cướp tài sản” và bị Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng kết án tử hình vào năm 2008.

Gia đình ông Chưởng hôm 4/8 nhận được thông báo về việc Tòa đã ra quyết định tiến hành tử hình ông nhưng không được biết ngày thi hành án. Ông Chinh đã đi kêu oan cho con trai tử tù của mình trong hơn 16 năm qua.

Cùng với nhiều tiếng nói từ cộng đồng quốc tế, Văn phòng Nhân quyền LHQ hồi tháng 8 nói rằng họ “rất quan ngại trước các thông tin về việc Việt Nam sắp xử tử ông Nguyễn Văn Chưởng giữa những cáo buộc nghiêm trọng về tra tấn và vi phạm xét xử công bằng”.

Nói về vụ của ông Chưởng, LS Hòa, người từng có hàng chục năm làm việc trong ngành công an và Ban Nội chính Trung ương trước khi hành nghề luật, nêu ra trong thỉnh nguyện thư rằng có “vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng trong việc bảo vệ hiện trường”, việc thu giữ và quản lý vật chứng “rất tùy tiện”, khám nghiệm hiện trường “sơ sài, bỏ lọt nhiều vật chứng quan trọng”, và đặc biệt ông Chưởng “có chứng cứ ngoại phạm nhưng không được điều tra làm rõ”.

Ông Chinh nói với VOA rằng con trai ông ở Hải Dương tại thời điểm vụ án xảy ra ở Hải Phòng ngày 14/7/2007.

Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao đã nghi ngờ tính khách quan của bản án phúc thẩm đối với ông Chưởng nhưng Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao do Chánh án Trương Hòa Bình làm chủ tọa đã bác kháng nghị này.

Còn trong vụ án Hồ Duy Hải, thỉnh nguyện thư nói rằng có “dấu hiệu hành vi cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án” như “rút bớt các tài liệu quan trọng và không sử dụng những kết quả kiểm tra xác minh có lợi cho Hồ Duy Hải”.

Ông Hải bị buộc tội giết chết hai phụ nữ ở tỉnh Long An vào năm 2008. Hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm tuyên phạt bị cáo này mức án tử hình, song ông Hải và gia đình kêu oan. Hàng nghìn người trên khắp thế giới cũng đã từng kiến nghị đòi công lý cho ông hồi tháng 5/2020.

Thỉnh nguyện thư còn kiến nghị cho vụ án của Lê Văn Mạnh, người đã bị thi hành án vì bị kết tội giết và hãm hiếp một em gái vị thành niên ở Thanh Hóa vào năm 2005. Trong 7 phiên tòa xét xử, ông Mạnh đều nói mình không giết người. Mẹ của ông, bà Nguyễn Thị Việt, nói với VOA rằng con trai bà cùng bà đi chuyển nhà cho em gái vào thời điểm án mạng xảy ra nên không thể là kẻ giết người.

LS Hòa thắc mắc trong thỉnh nguyện thư về việc tại sao các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Thanh Hóa lại phải vội vã thực thi Bản án tử hình đối với Mạnh đến như vậy.

“Phải chăng các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Thanh Hóa sợ vụ án bị lật lại, nếu không thể chứng minh Lê Văn Mạnh có tội một cách thuyết phục, thì họ phải bị xử lý nghiêm khắc của pháp luật”, thỉnh nguyện thư viết.

Ngoài Tổng bí thư Trọng và Chủ tịch Thưởng, thỉnh nguyện thư còn đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án TANDTC và các đại biểu quốc hội “quan tâm xem xét, chỉ đạo các cơ quan chức năng có thẩm quyền ngay lập tức tiến hành các thủ tục đặc biệt để giải quyết dứt điểm 3 vụ án nêu trên”.

“Tôi thấy rằng các cơ quan tố tụng tiến hành vụ án Nguyễn Văn Chưởng nói riêng và các vụ án Hồ Duy Hải và Lê Văn Mạnh (nói chung) đều vi phạm nghiêm trọng về tố tụng”, LS Hòa, người đã dừng hành nghề luật từ năm 2021 “vì mất niềm tin vào nền tư pháp Việt Nam”, nói với VOA.

“Vụ án đối với sinh mệnh con người, đặc biệt là họ bị kết án tử hình mà có dấu hiệu oan sai thì điều đó rất là nghiêm trọng và xuất phát từ động cơ đó nên tôi luôn có kiến nghị để hy vọng các nhà lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Quốc hội Việt Nam cũng như các cơ quan chức năng kiểm tra làm rõ các oan sai đối với họ”, vẫn lời ông.

LS Hòa cho biết ông sẽ gửi thỉnh nguyện thư tới ông Trọng, ông Thưởng và các cơ quan công quyền khi có 500 người ký ủng hộ để kiến nghị tạm dừng thi hành án vô thời hạn ông Chưởng và ông Hải trong khi giải quyết hậu quả việc truy tố kết tội oan cũng như xử lý theo pháp luật đối với các cá nhân người tiến hành tố tụng trực tiếp thụ lý giải quyết các vụ án oan này nếu không chứng minh được họ có tội.

VOA đã nhiều lần gửi đề nghị bình luận tới Bộ Ngoại giao Việt Nam về những phản đối của các gia đình, các luật sư và các tổ chức quốc tế đối với việc kết án và thi hành án các tử tù này nhưng không được hồi âm.

Ông Lê Văn Cường, em trai ông Mạnh, cho VOA biết việc xin chữ ký của tất cả mọi người trong và ngoài nước của LS Hoà để gửi thư thỉnh nguyện tới tổng bí thư, chủ tịch nước và các cơ quan công quyền là “hết sức cần thiết”.

“Vụ án Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải cũng đang trong tình trạng giống như của anh trai tôi (Lê Văn Mạnh) nếu không được cộng đồng mạng, những người yêu công lý trong và ngoài nước lên tiếng giúp đỡ thì cũng có thể họ sẽ bị công an, toà án và Viện Kiểm sát âm thầm giết chết như anh trai tôi vậy”, ông Cường nói. “Yêu cầu toà án Nhân dân tối cao hủy hồ sơ điều tra lại cả 3 vụ án trên”.

Còn theo LS Trần Anh Tùng, người cũng ký tên trong thỉnh nguyện thư, sẽ không có cơ hội để sửa chữa những sai sót sau khi thi hành án tử hình và tất cả mọi người cần phải lên tiếng trước khi quá muộn.

“Cái đó rất là đáng sợ,” LS Tùng, thuộc đoàn Luật sư TPHCM, nói với VOA. “Với tình trạng như thế này, tất cả mọi người cần phải đồng thanh để lên tiếng vì biết đâu đó một ngày nào đó án oan mắc vào gia đình mình. Mọi người cần phải có ý thức về việc đó. Khi mình thấy trường hợp có vấn đề mà không lên tiếng thì đến lúc gia đình mình mà (gặp án oan) thì ai lên tiếng.”

Ông Chinh, bố ông Chưởng nói với VOA rằng ông hy vọng thỉnh nguyện thư “có nhiều người biết và sẽ tới tai mắt người có tâm đức” để cứu con ông cũng như các tử tù khác.


Đạp Trên Dư Luận Mà Đi hay Dốt Nát, kém nhậy bén?

 

 

 

Chánh án Nguyễn Hoà Bình bị chê “kém nhạy bén” vì tự khen, bất chấp hàng loạt ‘án oan’Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Nguyễn Hòa Bình

Chánh án Nguyễn Hoà Bình tự khen, bất chấp hàng loạt ‘án oan’

Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao Nguyễn Hoà Bình vừa phát động ‘cuộc thi sáng tác ca khúc về Tòa án’ hôm 1 tháng 11. Cuộc thi được nói là chiến dịch tuyên truyền, nhằm “ca ngợi, tôn vinh những cống hiến, thành tựu của ngành toà án”.

Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh dư luận Việt Nam gần đây liên tiếp lên án các quyết định của Chính phủ Việt Nam liên quan đến ‘án oan’, mà tâm điểm là những vụ việc của các tử tù như Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng, và Lê Văn Mạnh (vừa bị thi hành án tử hình trong tháng 9/2023).

 

Kém nhận thức thời cuộc

Trao đổi với đài Á châu Tự do, luật sư Lê Văn Hoà, người từng nắm vị trí tổ trưởng tổ kiểm tra án oan – Ban Nội chính Trung ương, cho biết phản ứng của ông trước thông tin ngành toà án mở chiến dịch tuyên truyền về họ:

“Cái việc mà ông Chánh án Nguyễn Hoà Bình, là chánh án tối cao, mà lại đi đặt phát động một cái chiến dịch kêu gọi các nhạc sĩ sáng tác những ca khúc để tôn vinh ngành toà án, thì tôi cho rằng đây là chuyện rất khôi hài.

Cá nhân tôi thì thấy ông Nguyễn Hoà Bình rất là kém về nhận thức thời cuộc, ông ta không nhận thức được liệu cái ngành của ông ấy, có xứng đáng với lòng tin yêu của người dân Việt Nam hay không, mà lại đưa ra vào thời điểm này, thì tôi cho rằng đấy là điều rất nực cười.”

Vị luật sư thuộc đoàn luật sư thành phố Hà Nội cũng khẳng định đang tồn tại tình trạng xử oán oan sai trong hệ thống toà án ở Việt Nam. Ông cũng cho biết bản thân đang theo đuổi bốn vụ án có dấu hiệu oan sai rất rõ ràng, và có tính chất nghiêm trọng. Trong đó bao gồm cả nỗ lực kêu oan của gia đình tử tù Nguyễn Văn Chưởng.

Do đó, luật sư Lê Văn Hoà cho rằng việc ngành toà án nói chung và ông chánh án Nguyễn Hoà Bình nói riêng, bất chấp thực tế án oan vẫn đang là đề tài nhức nhối, mà lại đi tự ca ngợi mình, là điều “thiếu tự trọng”, ông nói thêm:

“Nếu là người có tự trọng và có hiểu biết thì không ai lại tự đi ca ngợi mình, đó là điều không nhạy bén. Cái đó phải để cho xã hội tôn vinh, thực tế cuộc sống người ta tôn vinh. Chứ còn bây giờ trong ngành mình tự ca ngợi thì tôi cho rằng đó là điều không nhạy bén.

Ông ta phải biết rằng hiện nay ngành toà án, hệ thống thẩm phán, hiện nay là một trong những ngành, theo cá nhân tôi, chiếm rất ít lòng tin yêu của người dân Việt Nam.”

Không tin vào ngành tư pháp VN

chuong.jpeg
Ông Nguyễn Trường Chinh (cha của tử tù Nguyễn Văn Chưởng) trong một cuộc biểu tình đòi công lý cho con trai -FB Ng.Tr.Chinh

Một vị luật sư khác đang hành nghề ở trong nước cũng bày tỏ sự thất vọng với đài RFA, dưới điều kiện ẩn danh vì lý do an toàn, khi nghe tin vị thẩm phán của Toà Tối cao nhờ cậy giới văn-nghệ-sĩ để ca ngợi ngành toà án, ông này cho hay:

Tôi thấy họ giống như là con chim công đang tỉa tót bộ lông, bộ cánh của mình để làm sao cho nó sặc sỡ, trong khi bản chất của vấn đề là làm sao đấu tranh cho thẩm phán người ta độc lập, xét xử công bằng, hoặc là thư ký được tăng lương, thì họ không đi vào bản chất của vấn đề, không đi vào chiều sâu, bản chất lập pháp. Tôi thấy rất thất vọng!”

Vị Luật sư này nói thêm, có vẻ như lại một lần nữa bệnh hình thức tái phát trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam. Do đó ông cho rằng bản thân ông đã không còn tin vào khả năng bảo vệ công lý của hệ thống toà án ở Việt Nam, bất chấp tuyên bố của chánh án Nguyễn Hoà Bình rằng, các thẩm phán luôn “bất chấp hiểm nguy và cám dỗ” để bảo vệ công lý:

Cá nhân tôi cho rằng ngành tư pháp ở Việt Nam không thể nào đáp ứng được kỳ vọng của người dân, và những người hành nghề luật. Bởi vì từ trước đến nay có bao giờ họ đạt được công lý đâu.

Nếu bên này đưa ra quyền lợi cho họ cao hơn, hoặc mua chuộc được thẩm phán, thì họ sẽ xử cho bên đó thắng. Còn bên kia không có tiền, không có quan hệ thì tất nhiên bị xử thua.

Tôi không bao giờ tin rằng hệ thống này có thể tự sửa chữa hoặc cái ngành tư pháp này có đạt được cái gì đấy gọi là công bằng, công lý ở Việt Nam.”

Câu hỏi đặt ra là liệu nỗ lực tuyên truyền này có mạng lại bất cứ tác động nào thực chất, để vực lại hình ảnh của hệ thống toà án Việt Nam trong con mắt công chúng không, hay đây sẽ lại là một dự án chỉ dừng ở việc tiêu tiền ngân sách?

Bình luận về khía cạnh này, luật sư Lê Văn Hoà khẳng định không những nỗ lực tuyên truyền này không thành công, mà còn phản tác dụng, ông nói thêm:

“Cá nhân tôi cho rằng việc này chắc chắn sẽ phản tác dụng, cá nhân tôi đánh giá, nếu các nhạc sĩ có lòng tự trọng, và người ta có nhìn nhận rất đúng về thời cuộc, thì chả ai dại gì đi viết bài, sáng tác ca khúc để ca ngợi ngành toà án trong thời điểm hiện nay. Tôi tin chắc điều đó!”