Người chết vì yêu!

Người chết vì yêu!

chị Ann Nguyễn T Kim Hương- Gx Tân Bắc

Trên trang Facebook của anh Lê Cường ghi báo tin về sự ra đi của người vợ thật nhẹ nhàng nhưng cũng thật cảm động.

“Tạm biệt em, em hãy an nghỉ nhé.

Cám ơn em đã hy sinh tất cả vì con…”

Và người vợ trước khi qua đời cũng ghi lại vài dòng nguệch ngoạc gửi cho chồng rằng:

“Cám ơn Chồng về tất cả nha

Đã luôn yêu thương, chăm sóc, nhường nhịn, hy . . .”

Chị Anna Nguyễn Thị Kim Hương đã kết thúc cuộc đời mới chỉ 34 tuổi. Chị đã có một con trai và đang mang thai đứa thứ hai thì nhận được hung tin mình đã bị ung thư phổi. Vì tính mạng của thai nhi chị đã từ chối mọi lối trị liệu hóa học, vì như thế có nghĩa là giết chết bào thai!

Chị Anna sinh hạ Lê Minh Khang ngày 29/02/2021. Ngay sau đó, chị bắt đầu các phương pháp trị liệu hóa học, nhưng quá trễ, người mẹ trẻ anh dũng êm ái trút hơi thở cuối cùng ngày 29/11/2021 để lại chồng và 2 con thơ.

Đây là một cái chết đẹp. Chết cho con được sống. Chết để gìn giữ một sinh linh bé bỏng đã được Thiên Chúa phú bẩm nơi cung lòng của người mẹ. Chắc chắn mai sau khi lớn lên, đứa bé đã được mẹ chết thay đó, sẽ hết lòng cảm ơn mẹ. Nhờ mẹ đã hy sinh tính mạng mình, mà người con được bước vào cuộc đời.

Có thể nói sự kiện người mẹ trẻ hôm nay dám chết cho con được sống, đã hoạ lại hình ảnh rất đẹp của Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành.

Chúa Giê-su đã dùng cái chết để cứu độ trần gian. Thập giá chính là minh chứng của hiến thân, của tình yêu vô vị lợi. Không có hy sinh, từ bỏ, thậm chí hiến dâng mạng sống thì không có yêu thương. Chúa đã trải qua con đường tận hiến vì yêu thương con người, thì những ai cùng đi với Chúa trên con đường thập giá cũng được nên đồng hình đồng dạng với Người.

Vì yêu thương đứa con mà người mẹ trẻ sẵn sàng hy sinh bản thân. Cái chết của chị đã trở thành dấu chứng của tình yêu, của hy sinh. Cái chết mà mọi người xem là mất mát đớn đau thì chị lại cho là niềm vui. Vui vì được dâng hiến đời mình cho người con yêu. Chúa Giêsu đã phán: “Không tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”. (Ga15,13)

Dưới con mắt đức tin, chúng ta được mời gọi nhìn vào sự quan phòng của Chúa.

Nếu qua cái chết, con người chỉ nhìn thấy thất bại đớn đau, thì Thiên Chúa lại nhìn thấy chiến thắng.

Nếu con người chỉ nhìn thấy ngõ cụt, thì Thiên Chúa lại nhìn ra con đường đi tới.

Vâng, Thập giá Chúa Giêsu chính là sức mạnh, là lẽ khôn ngoan, và là vinh dự của người Kitô hữu. Chúng ta được mời gọi nhìn lên Thập giá của Chúa, chúng ta nhìn thấy Thập giá của chính mình để tiếp tục tiến bước trong phó thác xin vâng.

Chị Anna hôm nay ra đi trong sự nuối tiếc của biết bao người thân. Một cuộc đời còn trẻ, còn biết bao mộng ước để làm, để lo cho con cái. Nhưng chị, đã chọn hy sinh, chọn hiến thân như Đức Ky-tô mà chị tôn thờ. Chắc chắn Chúa không để cái chết của chị ra vô ích nhưng qua hy sinh này Chúa sẽ dành phần thưởng lớn lao trên quê trời cho chị, và chắc chắn Chúa cũng sẽ chúc phúc cho chồng cho con luôn được bình an và can đảm đón nhận mọi sự theo thánh ý Chúa.

Chúng ta cùng dâng thánh lễ này phó dâng linh hồn Anna cho lòng thương xót của Chúa. Xin Chúa là Đấng rất nhân từ thương tha thứ cho những yếu đuối của phận người nơi chị Anna. Xin cho chị nương nhờ trong tình thương bao la hải hà của Chúa. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

https://www.facebook.com/cuongle0501

Ơn hoán cải của nữ hoàng trượt băng Hàn Quốc, Kim Yuna

Make Christianity Great As Always is in South Korea.

{Ơn hoán cải của nữ hoàng trượt băng Hàn Quốc, Kim Yuna}

Câu chuyện của nữ vận động viên người Hàn Quốc, nữ hoàng trượt băng đã trở lại Công giáo. Sau khi giải nghệ đã dành một phần tài sản cho các dự án liên đới Công giáo.

Đối với Kim Yuna, sân trượt băng là môi trường sống của cô. Mọi người nhận xét dường như cô được sinh ra cùng với đôi giày trượt băng. Vóc dáng phù hợp với bộ môn thể thao, sự dẫn dắt nhiệt tình của các huấn luyện viên, kết hợp với sức mạnh ý chí đã làm nên những chiến thắng trên sân ở các giải thi đấu quốc gia và quốc tế của Kim Yuna.

Thiếu nữ Hàn Quốc đã nhiều lần ở trên bục cao danh dự, chạm tới những đỉnh cao chiến thắng, nhưng đối Kim Yuna, Thiên đàng thực sự là khi cô khám phá sự bình an trong đức tin Công giáo.

Kim Yuna bắt đầu trượt băng khi mới lên 5 tuổi. Các huấn luyện viên đã nhìn thấy nơi vóc dáng hoàn hảo của cô rất phù hợp cho bộ môn thể thao này. Vì vậy họ đã thuyết phục cha mẹ cô để cô được tập luyện trở thành vận động viên chuyên nghiệp.

Năm 2002, lần đầu tiên tham gia một cuộc thi đấu quốc tế, cô đã giành huy chương vàng. Ngay sau đó, khi tròn 12 tuổi, Kim Yuna đã trở thành vận động viên trượt băng nghệ thuật trẻ nhất giành chức vô địch Hàn Quốc.

Từ lúc đó, cuộc sống của cô trở thành một vòng xoáy của những chuyến du lịch, tập luyện và đi đấu. Trong những lần đi đấu đó, thường xuyên cô giành chiến thắng, nhận được nhiều huy chương vàng. Cô trở thành thần tượng cho các thiếu nữ khác.

Kim Yuna ngày càng nổi tiếng trong làng thể thao thế giới nói chung và Hàn Quốc nói riêng. Mọi thứ chạm vào cô đều trở thành vàng. Các công ty lớn tìm mọi cách để mời cô làm người mẫu quảng cáo cho mặt hàng của họ. Tất cả tin rằng sự hiện diện của cô bảo đảm cho sự thành công đem lại lợi nhuận cho công ty.

Tuy nhiên vào thời điểm thành công rực rỡ đó, Kim Yuna lại cảm thấy lạc lõng, cô đơn. Cô phải thường xuyên di chuyển trên máy bay và lưu lại khách sạn một mình.

Năm 2007, ở giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới, khán giả chứng kiến trước khi vào sân đi đấu, nữ hoàng trượt băng đã làm dấu Thánh Giá. Mọi người còn thấy cô đeo nơi cổ một hình Đức Mẹ. Sau này cô tiết lộ đây là món quà của một nữ tu.

Trong lần thi đấu đó, do bị chấn thương cô không thể thi đấu tốt và giành chiến thắng như những lần trước. Cô chia sẻ, lần đó cô đã cầu nguyện rất nhiều và Đức Mẹ đã giúp cô hoàn thành cuộc thi và đứng vị trí thứ ba.

Một năm sau đó, Kim Yuna và mẹ cô đã lãnh Bí tích Rửa tội, gia nhập Công giáo.

Cô cho biết, cô học yêu Chúa từ bác sĩ, một người có đời sống đạo tốt, và từ các nữ tu đã chăm sóc cho cô khi cô nằm điều trị trong bệnh viện. Từ những người này, Kim Yuna đã tìm được sự bình yên điều cô đang cần. Từ lúc đó, ngày qua ngày, Kim Yuna ngày càng cảm nhận tình yêu Chúa và học yêu Chúa. Cô đã quyết định học giáo lý Công giáo với mong muốn được trở thành Kitô hữu. Cô đã lãnh Bí tích Rửa tội và tiếp tục sự nghiệp thể thao nhưng trong tinh thần mới, tinh thần Kitô. Tinh thần Kitô được nữ hoàng trượt băng thể hiện trong mỗi trận đấu, qua việc thể hiện nét đẹp của thể thao theo đúng nghĩa của nó. Nghĩa là chiến thắng bằng nỗ lực tập luyện và say mê nghệ thuật, không chiến thắng bằng những thủ thuật làm tổn hại đến sự trong sáng của thể thao, làm mất niềm tin nơi khán giả. Vinh quang trong chiến thắng không phải là đích đến cuối cùng, nhưng là một khích lệ để tiếp tục tiến bước với sự thanh thản và bình an, là nguồn cảm hứng cho những người trẻ khác, giúp cho họ không bỏ cuộc trong những thất bại trong mọi lĩnh vực.

Ngày 09/02/2018, Kim Yuna được vinh dự lớn thắp sáng ngọn đuốc Olympic tại Thế vận hội Bình Xương. Ban tổ chức quyết định dành cho cô vinh dự này vì muốn ghi nhận sự nghiệp mà cô đã đạt được trong những lần vô định thế giới và huy chương vàng tại Thế vận hội Vancouver năm 2010.

Năm nay, ở tuổi 30, Kim Yuna đã tạm dừng các giải thi đấu lớn, nhưng không ngưng các hoạt động khác, các hoạt động xã hội đem lại phúc lợi cho người khác. Thực tế, trong nhiều năm qua, nữ vận động viên đã cộng tác với nhiều tổ chức bác ái và các hội dòng để biến các dự án ở các khu vực nghèo trên thế giới thành hiện thực.

Cô quan tâm đặc biệt đến hoàn cảnh của các trẻ em nghèo, bị bỏ rơi. Vì vậy, cô đã thúc đẩy việc thành lập các trường học và hợp tác chặt chẽ với Unicef để hỗ trợ các trẻ em. Và tất nhiên nữ hoàng trượt băng vẫn tiếp tục bảo vệ và sống đức tin Công giáo, điều đã làm cho cuộc đời cô thay đổi mãi mãi.

(Ngọc Yến – Vatican News)

Niềm tin giản đơn đến bất ngờ

Niềm tin giản đơn đến bất ngờ

Vinhsơn Vũ Tứ Quyết S.J

Tạ ơn Chúa vì con bị HIV!

Đây là lời cầu nguyện “ngược đời” của một con người hạnh phúc trong khổ đau. Chị là một người giữa bao người. Chị bình thường trong một cuộc sống bình thường. Thế nhưng, một ngày đã tới, ngày mà chị biết mình bị nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV. Chẳng mấy chốc, mọi người đều rời xa chị. Chị cô đơn đến tuyệt vọng. Chị kiệt sức. Chị muốn chết.

Phúc thay, chị được đưa đến mái ấm có các sơ chăm sóc. Dần dần, sức khỏe chị khá lên. Ngày qua ngày, niềm vui chị nhận được từ những người xa lạ, dần lớn lên trong chị. Lần đầu tiên trong đời chị biết Chúa Giêsu. Lần đầu tiên trong đời chị cảm nhận được tình thương mến lạ lùng từ những người tin vào Giêsu. Lần đầu tiên trong đời chị nhận ra ơn của Chúa ngay trong nghịch cảnh, nhận ra sức sống ngay trong sự tiều tụy. Sự kinh ngạc và niềm vui lớn tới nỗi chị thốt lên: “Nếu con không bị HIV, con nào biết Chúa trên đời. Vì con bị HIV như thế này mà con có dịp biết Chúa. Tạ ơn Chúa.”

Vâng, con người bỏ rơi nhau, còn Chúa thì không bao giờ.

Tại sao con theo đạo Phật, mà Chúa lại bắt con vác thánh giá?

Đó là lời “than trách khó hiểu” của một bà bị tai biến, hiện liệt nửa người, đang ở trong nhà dưỡng lão mà các sơ chăm sóc. Trước kia, bà vốn ở một mình. Nhìn khuôn mặt bà, nghe bà kể chuyện, tôi nhận thấy niềm tiếc nuối rất lớn về quá khứ. Bà nói: “Trước kia con đẹp lắm, làm ăn được lắm, có của ăn của để, bạn bè rất nhiều… Đến một ngày, con bị tai biến, liệt nửa người. Thế là, tiền bạc của con có dư thì cũng không cứu được con. Bạn bè con bỏ con hết, chẳng còn ai. Người thân của con thì ai họ cũng phải lo việc nhà của họ. Con còn lại một mình.”

“Cũng chẳng biết ở đâu, vì không có người chăm sóc, con đành ở trong nhà dưỡng lão này. Từ trước tới giờ, con sùng đạo Phật lắm. Khi vào đây ở, có các sơ, con mới biết Chúa. Các sơ có an ủi con thế này: Bà chịu khó vác thánh giá Chúa trao.”

Bà thắc mắc về số phận khó chấp nhận của mình, bà hỏi tôi: “Khi con bị tai biến, con đâu biết Chúa. Tại sao con theo đạo Phật mà Chúa lại bắt con vác thánh giá?” Nhìn bà, tôi nhủ thầm: “Bà ơi! Bệnh tật là một phần của đời người, chẳng ai tránh được. Chỉ có điều, mỗi người đối diện với bệnh tật một cách mà thôi. Bà buồn rầu và thất vọng không phải vì bà bị bệnh, mà là vì bà bị bỏ rơi và bị quên lãng, là vì bà chưa có sức mạnh từ bên trong, là vì bà chưa có những người thực sự thân thiết yêu thương.”

Cầu chúc bà có thể nhận thấy tình thương mến của những người đang sống với bà.

Đối diện với đau khổ và cái chết, mỗi người chọn cho mình một thế đứng. Tùy điểm tựa mà mỗi người vững vàng hay sụp đổ. Có một điều chắc chắn là ai cũng chết, cũng có một điều khá chắc chắc là hầu như người ta cứ nghĩ mình còn lâu mới chết. Giá trị đời người và giá trị con người, ngày càng bị lãng quên trong cuộc sống xô bồ.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết tìm điểm tựa nơi Ngài, để con sống một cuộc đời đáng sống và chết một cái chết bình an, và dù có chết thì con vẫn sống trong Ngài. Amen.

Vinhsơn Vũ Tứ Quyết S.J

No photo description available.

TỪ MỘT NGƯỜI LƯƠNG DÂN, THEO ĐẠO VÀ TRỞ THÀNH LINH MỤC CỦA CHÚA

Make Christianity Great As Always

TỪ MỘT NGƯỜI LƯƠNG DÂN, THEO ĐẠO VÀ TRỞ THÀNH LINH MỤC CỦA CHÚA

Tân linh mục Phanxico Xavie Lương Văn Tây Dcct, người vừa được Đức Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo truyền chức linh mục vào ngày 16/10/2021 tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp – Dòng Chúa Cứu Thế, quả thật là một trường hợp rất đặc biệt.

Vào năm 2005, ngài gia nhập Hội Thánh Công giáo khi đã tốt nghiệp Đại học và bắt đầu đi làm.

Hai năm sau ngày Rửa tội, ngài vào tìm hiểu Dòng Chúa Cứu Thế.

Đến năm 2014, ngài tuyên khấn lần đầu và năm 2018 khấn trọn đời trong DCCT.

Và nay trở thành linh mục thừa sai DCCT.

….

Được biết, khi còn là sinh viên, ngài tham gia các nhóm sinh hoạt Công giáo và tham gia trong trào Hướng đạo. Vì “chơi với người Công giáo” nên chú Tây cũng thường xuyên lân la đến Nhà thờ và “ngồi ở ngoài để xem lễ”.

Nhìn thấy chàng thanh niên tham dự thánh lễ cách sốt sắng mà không chịu lên rước lễ, nên quý xơ đã tìm gặp “để hỏi cho biết sự tình như thế nào”. Nghe chú Tây bảo, con là người khác tôn giáo, thế là quý xơ đã “tìm cách rủ rê chú theo đạo”.

Chính quý xơ là người đã dạy giáo lý cho chú Tây, hướng dẫn chú trở thành con cái Chúa.

Mục đích theo đạo của chú Tây là để dâng mình cho Chúa trong ơn gọi dâng hiến. Ước nguyện của chú Tây đã được Chúa nhận lời. Chúa đã chọn chú làm con của Chúa, làm tu sĩ và làm linh mục của Chúa.

Hai ông bà cố của tân linh mục đã qua đời khi ngài mới vào Nhà dòng, nên giờ đây Thiên Chúa là Cha duy nhất của ngài và Hội thánh là người mẹ cưu mang ngài.

Thánh ý Chúa quả thật rất nhiệm mầu. Tạ ơn Chúa muôn đời.

Nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần đồng hành và hướng dẫn cha P.x trên nẻo đường sứ vụ, để cha trở thành người mục tử như lòng Chúa mong muốn.

Chúng ta cùng cầu nguyện thật nhiều cho ngài.

May be an image of 2 people, people standing and indoor

Những người vô danh chết vì Đạo Chúa

Make Christianity Great As Always is at Giáo xứ Phường Đúc – Huế.

{Những người vô danh chết vì Đạo Chúa}

Ở sâu trong thôn Thượng Bốn làng Dương Xuân Thượng và Dương Xuân Hạ, thành phố Huế, ít có ai biết ngôi mộ của Mười Hai Ông Cỏ (những người vô danh chết vì đạo Chúa).

Các vua chúa Việt Nam thời xưa nuôi rất nhiều voi, vì voi là loài dễ thuần hóa và thông minh trong chiến đấu. Vào triều vua Gia Long (1802), ở xã Nguyệt Biều, Thừa Thiên có cơ sở dụ voi, và 3 xưởng voi ở xã Phú Xuân và Dương Xuân. Vào thời này các giáo dân bị kết án “Tả Đạo“ (theo đạo Gia tô hay đạo Thiên Chúa ngày nay) đều được đưa về đây bứt cỏ nuôi voi (hay còn gọi là án thảo tượng).

Vào đời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725), có 26 lính ngự lâm quân (21 nam và 5 nữ) không chịu bỏ đạo, bị kết án thảo tượng và khắc tự ở trán, mang xích ở chân và cổ. Trong đó có ông Cai Pho người Thợ Đúc bị bắt năm 1714.

Đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765), theo Đức Cha Lefebvre Từ (nay là Thánh tử đạo Việt Nam) có hai chủng sinh bị kết án và có ông Đamianô quê ở Thợ Đúc.

Đời Huệ Vương Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777), Cha Pigneau người coi xứ đạo lúc bấy giờ cho hay có 30 người bị án này hơn 20 năm. Theo cha Pigneau có 3 giáo dân từ Nha Trang ra Huế chịu án thảo tượng, có một chủng sinh chết vì chịu đựng không nổi.

Như vậy trong 3 đời chúa, thì đời Minh Vương, các vị bị khắc tự “Tả Đạo” ở trán, hai đời chúa sau thì mang miếng gỗ hoặc đồng ghi “Tả Đạo”, chân và cổ mang xích, suốt ngày họ phải chèo đò, vào tận núi để bứt cỏ và bị lính hạch sách đủ điều như cỏ xấu, cỏ bứt không đủ số lượng. Trong thời gian thụ án này, các tù nhân đều vui vẻ sống đạo một cách sốt sắng. Các thừa sai thời bấy giờ thương cảm cũng kêu gọi các giáo dân đi bứt cỏ giúp hoặc góp tiền thuê người bứt cỏ.

Đặc biệt có những trường hợp, quan trên tha không buộc phải mang xích nhưng họ từ chối, hoặc tạo cơ hội để họ trốn nhưng họ cũng không làm vì họ sợ bị hiểu lầm và làm ô danh đạo.

Trong số người bị án thảo tượng thì họ Thợ Đúc có hai vị: ông Câu Pho và ông Đamianô. Hiện nay theo ghi chép, có 12 vị bị án này tại Thợ Đúc được an táng ở sâu trong thôn Thượng Bốn. Dù hữu danh hay vô danh, hy vọng các Ngài đang được hưởng Nhan Thiên Chúa.

Vào năm 1999, Đức Tổng Giám mục Stêphanô đã giao cho Cha sở xứ Thợ Đúc tôn tạo lại mộ Mười Hai Ông Cỏ một cách xứng đáng và tôn nghiêm.

(Anna TrangGiáo xứ Cần Giờ – DCCT)

Chuyện có thật về những người đẹp nổi tiếng đã bỏ tất cả để trở thành nữ tu

Chuyện có thật về những người đẹp nổi tiếng đã bỏ tất cả để trở thành nữ tu

Việc gì trên đời này có thể đem hạnh phúc đến với con người? Có thể làm cho đời sống có ý nghĩa ? Phải chăng đó là tiền bạc? Danh vọng? Địa vị? Hay là sự thành công ? Chỉ có một câu trả lời, chỉ có một Người có thể mang lại hạnh phúc cho chúng ta mà thôi – đó là Chúa Giê-Su Ki- tô, Chúa chúng ta.

 Ba nghệ sĩ tài sắc này đã đi theo tiếng gọi thiêng liêng để theo Chúa, trong khi họ đang tiến trên đài danh vọng

  • Dolores Hart

 

 

 

 

 

 

 

 

  “Nếu mọi người nghe được những gì tôi đã nghe…”

Tên thật Dolores Hicks sanh năm 1938, nghệ danh là Dolores Hart. Cô đã nổi tiếng ngay từ khi bắt đầu đóng phim. Năm 18 tuổi cô đóng vai người yêu của tài từ Elvis Presley trong phim Loving You. Cô là người hôn Elvis lần đầu trên màn ảnh, qua phim này.Trong 5 năm liên tiếp , cô đã đóng các vai chính trong 9 bộ phim với các tài tử lừng danh như Stephen Boy, Montgomerry Clift, George Hamilton, Robert Wagner. Khi ấy cô cũng đang chuẩn bị để kết hôn.

Nhưng năm 24 tuổi, trong khi đang có sự nghiệp vững chắc và ở trên đà thành công, thình lình cô tuyên bố sẽ hủy bỏ tất cả để đi theo Chúa. Việc này xảy ra khi Cô thủ vai Clara trong phim Thánh Phanxicô Assisi, trong lúc quay phim tại Ý, Dolores Hart đã gặp Đức Giáo hoàng Gioan XXIII. Khi cô giới thiệu: “Con là Dolores Hart, thủ vai Thánh nữ Clara ” Đức Thánh Cha trả lời là, “Không, con chính là Thánh Clara!” Những người mến mộ cô rất thất vọng và họ cũng giận dữ nữa khi họ nghe tin Dolores Hart sắp đi tu.  Cô còn chia sẻ là có một vị linh mục tên là Cha Doody từng nói, “Con thật là điên khi quyết định đột ngột như thế!” Dolores Hart đã trả lời thư một người bạn thân khuyên cô nên bỏ ý định đi tu bằng những lời sau:

 “Nếu bạn nghe được như tôi đã nghe tiếng Chúa gọi, hẳn bạn cũng sẽ đi theo Chúa!”

  • Olalla Oliveros

 

 

 

 

 

 

 

 

 

“Chúa không bao giờ lầm lẫn…”

Olalla Oliveros là một siêu mẫu ở Tây Ban Nha, sau chuyển sang đóng phim và làm người mẫu quảng cáo trong nước và quốc tế. Sau khi đi hành hương ở Thánh Địa Fatima nơi Đức Me hiện ra năm 1917, cô đã có cảm giác như có “một trận động đất lớn đã xảy ra trong linh hồn tôi”.  Olalla còn có thị kiến, thấy mình là một nữ tu mặc áo dòng, hình ảnh mà cô đã cho là kỳ quái khi mới thấy lần đầu. Nhưng hình ảnh đó cứ ám  ảnh Olalla  mãi cho đến lúc cô biết là Chúa Giê- Su đã gọi cô từ bỏ lối sống phù hoa để thành nữ tu. ” Chúa không bao giờ lầm lẫn. Ngài kêu gọi tôi đi theo Ngài, và tôi không thể cưỡng lại được ơn gọi ấy”

Hiện nay Olalla Oliveros đang đi tu trong Dòng Kín Thánh Michael ở Spain.                                                                

      Amanda Rosa Perez

 “Hiện giờ tôi sống trong bình an”

Amanda Rosa Perez là người mẫu thành công nhất ở Colombia cho đến 10 năm trước, khi không ai biết tin tức gì của cô nữa . Nhưng sau đó, Cô đã giải nghĩa về sự vắng mặt thình lình của cô trước công chúng. Cô đã được ban ơn hoán cải tâm hồn, và đang làm việc chung với các nữ tu trong một cơ quan tôn giáo. Lúc trước, khi lên đến đỉnh cao của nghề kiểu mẫu, cô bị mắc một cơn bệnh làm mất đi một phần thính giác. “Tôi đã thất vọng, bực tức, mất hướng đi và chìm đắm trong các cuộc vui. Tôi luôn tìm câu trả lời nhưng thế giới vẫn im hơi lặng tiếng…”

Hiện giờ Amanda Rosa Perez năng đi xưng tội, rước Lễ, lần Chuỗi Mân Côi, và lần hạt Lòng Chúa Thương Xót.

“Lúc trước tôi luôn bận rộn, căng thẳng, và hay nổi giận. Tôi chán làm người kiểu mẫu siêu hạng. Tôi chán ngán cái thế giới đầy dối trá, lừa đảo, giả dối, bạo hành ; thế giới chỉ nhìn qua bề ngoài, đầy những việc ngoại tình, nghiện ngập, hút sách; một thế giới chỉ tôn trọng vật chất của cải, hưởng thụ, và những việc vô luân.  Bây giờ tôi cảm thấy rất bình an và thế gian không còn cám dỗ được tôi như trước. Tôi trân quý từng giây phút Thiên Chúa ban cho tôi.  Tôi muốn làm một người mẫu kêu gọi cho việc tôn trọng phẩm giá phụ nữ, thay vì là người mẫu dùng cho các quảng cáo thương mại.”

Bách Việt

From: TU-PHUNG

Hãy nghe một cô chim hót ban đêm vi vút reo ca

Hãy nghe một cô chim hót ban đêm vi vút reo ca

Phan Trần Sinh

Nightbirde đã làm dậy sóng cả thính đường thâu hình sau khi nhận được tới 4 điểm vàng từ giám khảo Simon Cowell trong chương trình AMERICA’S GOT TALENT.

Trước buổi thử giọng ngày 8 tháng 6, Nightbirde, 30 tuổi, tiết lộ với ban giám khảo rằng cô chỉ còn 2% cơ hội sống qua cuộc chiến hiện tại với căn bệnh ung thư. Bất chấp nỗi đau của cô, Nightbirde khuyến khích người hâm mộ nhìn xa hơn hoàn cảnh của cô.

Jane Marczewski đã chia sẻ về cuộc chiến khốc liệt của mình với căn bệnh ung thư và niềm hy vọng mà cô tìm thấy nơi Chúa Giê-su và rồi thể hiện điều đó qua dòng chảy và nhịp điệu âm nhạc của mình.

“Tôi thấy lòng thương xót trong ánh nắng đầy bụi trên những tán cây, trong bàn tay co quắp của mẹ tôi, trong chiếc chăn mà bạn tôi để lại cho tôi, trong sự hòa quyện của tiếng chuông gió. Đó không phải là lòng thương xót mà tôi thỉnh cầu, nhưng dù sao thì đó cũng là lòng Thương Cảm. Và tôi học được một lời cầu nguyện mới: cảm ơn, biết ơn về những gì đang xảy ra cho mình.

”Nightbirde viết trong bài đăng trên blog của mình. “Tôi không có ý đó là một lời cầu nguyện, nhưng sẽ lặp lại cho đến khi tôi thực hiện được điều này. Cứ cho là tôi bị chúc dữ, gọi tôi là kẻ cùng đường, cho rằng tôi là đứa đáng bị khinh chê. Nhưng đó không phải là chung kết. Hãy kết luận rằng tôi là kẻ được (Ngài) chọn, được ban phước, được Ngài tìm kiếm. Tôi biết mình là người được Chúa thì thầm và mạc khải những bí mật của cuộc sống cho. Tôi là người được tiếp nhận trong lòng mình đầy ăm ắp sự thương xót của Chúa dành riêng cho một cách kín nhiệm.”

Cô kết luận: “Ngay cả những ngày tôi không bị bệnh nặng, đôi khi tôi nằm trên nệm trong ánh sáng buổi chiều để lắng nghe Ngài. Tôi biết điều đó nghe có vẻ điên rồ và tôi không thực sự giải thích được, nhưng Chúa đang ở đó — ngay cả bây giờ trong lúc này. Tôi hay nghe người ta nói rằng họ không thể nhìn thấy Chúa, tôi cho rằng lý do là vì họ không trông nhìn xuống đủ thấp, và đúng là như vậy thật. Bạn hãy nhìn xuống thấp hơn. Chúa đang đứng ở trên sàn nhà”.

Mời bạn nghe Chim Đêm hát ở link dưới đây:

httpv://youtu.be/CZJvBfoHDk0?t=3

Chim đêm hát “Mọi sự rồi sẽ ổn thôi”

Chim đêm nói “Cứ vui lên, đừng chờ cho đến khi không còn sự khó mới chịu vui sống”

           Chim đêm được 4 điểm vàng

 

Người mẫu -Tài Tử nổi tiếng nhất bỗng trở thành Nữ Tu

 Người mẫu -Tài Tử nổi tiếng nhất bỗng trở thành Nữ Tu

 

Người mẫu – Tài Tử nổi tiếng nhất bỗng trở thành Nữ Tu.

Cô Olalla Oliveros, một photo Model đang làm người mẫu trên đài truyền hình thể thao Tây Ban Nha, và đồng thời cô cũng là một nữ diễn viên điện ảnh, đã từ bỏ sự nghiệp của mình và theo tiếng gọi quyết định trở thành một nữ tu.

Tây Ban Nha (VietCatholic News 15-12-2014) – Người Mẫu đẹp nổi tiếng, đang trong thời kỳ sự nghiệp hưng thịnh nhất bỗng nhiên theo tiếng gọi trong tâm hồn để trở thành một nữ tu bình dị.

Ðang đứng ở phía trên cùng của sự nghiệp hưng thịnh của cô, một người mẫu Tây Ban Nha xinh đẹp đã cho đi tất cả để trở thành một nữ tu.

Cô Olalla Oliveros, một photo Model đang làm người mẫu trên đài truyền hình thể thao Tây Ban Nha, và đồng thời cô cũng là một nữ diễn viên điện ảnh, đã từ bỏ sự nghiệp của mình và theo tiếng gọi quyết định trở thành một nữ tu.

Từ tháng trước, cô Olalla Oliveros đã gia nhập Dòng thánh Michael.

Cô Olalla Oliveros không muốn nói về bản thân mình, nhưng cô miễn cưỡng cho biết: Cô đã trải qua một biến động rất lớn trong tâm hồn “như một trận đông đất” từ kinh nghiệm của một chuyến viếng thăm viếng Ðức Mẹ Fatima. Từ tiếng gọi này mà cô quyết định rũ bỏ hình ảnh của mình để trở thành một nữ tu. Ðây là một điều mà trước đây cô tưởng là hoàn toàn vô lý nhưng nay đã trở nên hiện thực.

Cuối cùng, cô nhận ra rằng hình ảnh trong tâm trí cô là một Ơn Gọi. “Chúa đã chọn không bao giờ sai.

“Ngài gọi trong hồn tôi, hãy theo Ngài! và tôi không thể từ chối,”

– Oliveros nói.

– Bây giờ tôi chỉ muốn trở thành một nữ tu bình thường.

Trầm Hương Thơ

THẦY MARCEL NGUYỄN TẤN VĂN – NẠN NHÂN CỦA VIỆT CỘNG

 May be an image of 1 person and text

Gương anh hùng:

THẦY MARCEL NGUYỄN TẤN VĂN – NẠN NHÂN CỦA VIỆT CỘNG

Lời toà soạn: Đây là sinh chứng của cha Denis Paquette, bề trên của thầy MARCEL. Ngài cũng đã tự ý ở lại Bắc Việt và cũng đã bị trục xuất vào ngày 23/10/1958. Lúc bấy giờ thầy MARCEL đã bị khổ sai hơn 3 năm.

***

“Không một nỗi gian khổ nào có thể xoá nhoà nụ cười êm dịu luôn phảng phất trên gương mặt gầy hóp của anh được. Và nụ cười tươi nở cho ai, nếu không phải là cho bạn tình Giêsu! Anh là lễ vật của tình yêu, và tình yêu là hạnh phúc hoàn hảo, bất diệt của anh. Anne Marie, em thân mến, anh khuyên em đừng khóc, cố gắng vui vẻ và hiến dâng tất cả cho Chúa”.

Bút tích trên được trích trong bức Ngục trung thư của thầy Marcel gửi cho em gái, hiện là nữ tu Dòng Chúa Cứu Thế tại Sainte Anne de Beaupré, Gia Nã Đại.

Vào tháng 7 năm 1954, khi Bắc Việt rơi vào tay Cộng sản, thầy Marcel đang phục vụ tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt. Thầy tình nguyện gia nhập nhà Dòng tại Hà Nội để làm chứng tá dưới chế độ Cộng sản. Trong số năm tu sĩ phục vụ tại đây, có hai linh mục Gia Nã Đại, một linh mục người Việt và hai tu sĩ, có nhiệm vụ duy trì đời sống của nhà Dòng dưới chế độ đỏ, và giúp đỡ cộng đoàn tín hữu ở lại trong xứ đạo sau biến cố di cư. Các vị Bề trên đã không ngần ngại chấp nhận lời thỉnh cầu của một tu sĩ gương mẫu như thầy Marcel, và chọn thầy để nêu cao tang chứng đức tin như ngọn đuốc sáng trong đêm tối của Giáo Hội thầm lặng và nguyện cầu.

Lúc ấy thầy Marcel được 26 tuổi, và đã khấn dòng được 9 năm. Lòng sốt sắng nồng nhiệt, tinh thần kỷ luật tuyệt mức, chí làm việc và hy sinh là những đặc điểm sáng chói nơi thầy. Từ thuở ban đầu, giữa bốn bức tường của gian phòng Tập viện, thầy đã tha thiết ước ao ơn Tử Đạo. Nên dịp hiếm có vừa đến, thầy đã không ngần ngại hiến dâng.

Trên đường ra Bắc, thầy đã thổ lộ hy vọng hạnh phúc Tử Đạo. Vài tháng sau ngày Việt cộng tiếp thu Hà Nội, tình hình đã rõ rệt và nguy hiểm đang sờ sờ trước mắt, Bề trên đã khuyên thầy nên theo đợt di cư cuối cùng vào Nam. Không ngần ngại, thầy từ chối, viện lẽ đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận mọi cực hình và sự chết vì tình yêu Chúa. Ít lâu sau, thầy nói cùng Bề trên: “Cộng sản sẽ buộc con vu cáo cha, nhưng cha đừng sợ, con sẽ không bao giờ vu cáo cha. Con sẽ kháng cự đến chết, và như thế con sẽ thắng Cộng sản”. Số phận của thầy đã được thực hiện đúng từng li theo lời tiên báo ấy.

Vào một buổi sáng thứ Bảy ngày 07 tháng 05 năm 1955, 7 tháng sau tiếp thu, thầy đã bị bắt và tống giam. Tu sĩ Marcel Nguyễn Tấn Văn đã bị buộc tội làm gián điệp cho Đế Quốc Mỹ và chánh phủ Miền Nan Việt Nam. Từ hăm doạ đến hứa hẹn, người ta bắt ép thầy phải nhận tội và đồng thời tố cáo vị Bề trên Dòng là chỉ huy tổ chức gián điệp và tuyên truyền chống chánh phủ. Thầy sẽ được trả tự do nếu thầy nhận tội và tố cáo vị Bề trên. Thầy Marcel không còn lạ về mánh khoé của Cộng sản và đã anh hùng trung thành cùng Thiên Chúa và lương tâm.

Năm tháng trời đằng đẵng trôi qua trong ngục tối. Có lần thầy đã bị tra hỏi suốt 15 đêm liền. Sức khoẻ mong manh của thầy vượt quá mức chịu đựng, thầy lâm bệnh trầm trọng và trước ngưỡng cửa sự chết, thầy vẫn một lòng sắt son với đức tin và tình yêu Giáo Hội.

Mọi biện pháp đều tỏ ra vô hiệu. Cộng sản không còn hy vọng khai thác thầy được. Thầy lại bị tống vào trại giam trung ương ở Hà Nội, cùng với hàng trăm tù nhân, đa số là Công Giáo, với 2 linh mục. Những bức thư lén lúc từ trại giam gửi ra cho biết nỗi khổ từ nội tâm và chí cương quyết của thầy: “Thưa cha, muốn sống là một điều dễ. Con chỉ việc vu cáo cha. Nhưng cha đừng sợ, con không bao giờ chịu vu cáo cha đâu. Con sẽ kháng cự đến chết”.

Sau này nhiều tù nhân đồng trại được phóng thích, đã nói lên lòng cảm mến và khâm phục thầy trong suốt thời gian bị giam giữ. Gương mặt thầy luôn phản chiếu ánh vui tươi siêu việt. Thầy cầu nguyện suốt ngày, tận tình bác ái với đồng bạn, chia sẻ từng miếng cơm, manh áo hay tiền bạc.

Sau nhiều lần bị tra hỏi vô hiệu. Thầy đã lãnh án 15 năm khổ sai. Thầy bị giải lên trại giam số 1 ở Mỏ Chén, một trại giam hai ngàn tù nhân với hai nghĩa địa để vùi thây những kẻ chết rũ tù. Một đoạn thư trong thời gian ấy: “Ở đây con được phước sống chung với nhiều tín hữu: thầy Quản lý nhà thờ Phát Diệm, bà Tu viện trưởng Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm cũng bị giam ở đây. Tất cả mọi tín hữu trong trại đều rất vững lòng tin. Nhiều người ăn chay nhiệm nhặt ngày thứ Tư và thứ Bảy.

Phần con, từ ngày lên đây, phải đóng vai một cha xứ. Ngoài giờ làm việc, phải tiếp các tù nhân, an ủi họ. Mọi người đều đến với con. Cám ơn Chúa hết lòng. Cuộc tù đầy đã không lay chuyển mức sống thiêng liêng của tâm hồn con. Rất nhiều lúc, Thiên Chúa tỏ rõ ràng là con đang thực hiện thánh ý Người nơi đây”.

Tháng 08 năm 1957, thầy Marcel bị giải sang trại số 2 ở Yên Bái. Chúng tôi không còn được phép thăm viếng thầy nữa: “Tên Văn không tiến bộ tí nào sau thời gian tẩy não. Các ông không nên thăm viếng nữa!” Chúng tôi biệt tin thầy từ đó. Thầy tạ thế ngày 10 tháng 07 năm 1959. Trong ngục ròng rã một năm, thầy kiệt sức vì thiếu ăn, đang lúc bệnh lao hoành hành, và sau cùng cơn bệnh thũng đã kết liễu cuộc đời anh dũng của thầy.

Trưa ngày 10 tháng 07, thầy hấp hối, cha Vinh Bề trên Địa phận Hà Nội, bạn đồng ngục của thầy, đã giúp đỡ thầy trong giây phút cuối cùng. Trên ngôi mộ thầy, các bạn đồng ngục của thầy đã chôn một vỏ chai để ghi dấu.

Thiên Chúa đã thực hiện hoài vọng của thầy Marcel. Tù ngục, tra tấn và sau cùng là cái chết bi đát, tất cả chỉ vì lòng trung thành cùng Thiên Chúa, cùng Giáo Hội, từ chối phá hoại Giáo Hội bằng vu cáo Bề trên: “Nếu con muốn sống thì rất dễ, con chỉ việc vu cáo cha”. Cũng như ngày thầy khấn dòng, trước đau khổ và sự chết, thầy Marcel đã lựa chọn và hiến dâng, sự lựa chọn và hiến dâng đó đã tươi nở nên một ngành hoa đỏ thắm mà các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam hân hạnh tiến dâng lên Thiên Chúa và Giáo Hội.

Nếu các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế khắp hoàn cầu có vinh hạnh tôn dương một người anh cả như thánh Giêrađô, thì các tu sĩ Dòng tại Việt Nam cũng không kém vinh hạnh trước gương sáng thánh thiện và anh dũng của thầy Marcel Nguyễn Tấn Văn tinh hoa của DCCT tại đất Việt.

(Trích Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 183 tháng 8 năm 1964, tr. 252 – 253)

MỘT CÁN BỘ CAO CẤP VỀ HƯU TRỞ LẠI ĐẠO

MỘT CÁN BỘ CAO CẤP VỀ HƯU TRỞ LẠI ĐẠO

(Trích từ hồi ký “Một linh mục trong ngục tù cộng sản’’)

LỜI DẪN: Hồi cha Phêrô Đinh Ngọc Quế phụ trách Hội Legio Mariae Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, các hội viên hoạt động rất nhiệt thành. Các anh chị em này đã dẫn đưa được nhiều người trở lại đạo, trong đó có một số cán bộ lớn bé đã về hưu. Trong hồi ký của mình, Cha Quế kể một số trường hợp là cán bộ to.

Tôi cũng xin nói thêm, chính các thành viên Hội Legio này là những chiến sĩ tiên phong của Chúa Kitô trong việc truyền giáo ở An Thới Đông. Nhờ các anh chị em này cũng như nhờ Cha Chân Tín và các anh em DCCT, một vùng chiến khu của cộng sản trước 75, từ đầu năm 1990, đã dần dần trở nên một họ đạo đông đảo và sinh động của huyện Cần Giờ, ngoại thành Sài Gòn.

***

Một ông cán bộ cao cấp, tren 40 năm tuổi đảng, nhờ anh chị em Legio kiên trì làm việc, đã trở lại đạo. Chính tôi được diễm phúc đến tận nhà Rửa Tội và Thêm Sức cho ông, hợp thức hóa hôn nhân cho ông, dâng Thánh Lễ Tạ Ơn để cho ông cùng gia đình được rước Mình Thánh Chúa. Khi rửa tội cho ông tôi hỏi: Cụ xin gì cùng Hội Thánh Chúa? Cụ thưa:

-Thưa “Đức Cha” , “Đức Cha” rửa tội cho tôi để tôi có sức phục vụ Chúa, Đảng và Nhà Nước.

Mọi nghi lễ được tiến hành tuần tự. Trước khi chính thức đổ nước Rửa Tội cho cụ, tôi, một lẫn nữa, lại hỏi ý muốn của cụ:

-Thưa Cụ, cụ có muốn cho tôi Rửa tội cho cụ không?

Ông cụ rất chững chạc nói lớn:

-Thưa “Đức Cha”, xin “Đức Cha” rửa tội cho tôi để tôi thêm sức phục vụ Chúa, Đảng và Nhà Nước.

Tôi đã đổ nước trên đầu cụ và Thêm Sức cho cụ, đã hợp thức hóa hôn nhân và dâng lễ Tạ Ơn để cụ rước lễ.

Mọi sự diễn biến tốt đẹp. Anh em Legio cùng với gia đình dọn một bữa tiệc nhỏ để mừng ông cụ. Vì sợ đang đau và sợ cụ mệt, nên gia đình định dọn cơm trên giường cho cụ. Nhưng lạ thay, cụ nhất định phải ăn cơm chung, đòi ngồi bên “Đức Cha” để tiếp “Đức Cha” mới được. Cụ nói, cụ cười, cụ đã trở nên như con trẻ. Tinh thần của cụ lúc này thật thoải mái vì cụ đã làm con của Chúa. Cụ cứ lặp đi lặp lại hoài: “Đời tôi chưa bao giờ hạnh phúc như ngày hôm nay. Cám ơn “Đức Cha”, cám ơn anh chị em. Anh chị em nhớ đến thăm tôi luôn nghe.”

Sau này tôi được biết, Rửa tội cho cụ rồi, cụ đổi hẳn tính tình. Trước kia hay gắt gỏng, chửi bới vợ con. Bắt vợ con phải cung phụng, không được thì đập phá. Chửi cả Đảng và Nhà Nước, vì đã cướp công của cụ. Bao nhiêu năm theo cách mạng, rất nhiều thành tích, nhưng giờ đây về hưu, già cả, bệnh tật, hàng tháng Nhà Nước chỉ cấp dưỡng cho mấy chục ngàn (VN). Nhưng bây giờ rửa tội xong, cụ trở nên hiền hòa, gia đình vui hẳn lên. Ai cũng tỏ ra quí mến cụ. Cám ơn Chúa về công việc Chúa đã làm!

(Lm. Phêrô Đinh Ngọc Quế, Hồi ký Một linh mục trong ngục tù cộng sản, trang 33-35. Trích đăng với sự ban phép của Cha Phêrô Bùi Quang Tuấn, Bề Trên Giám Phụ Tỉnh DCCT Hải Ngoại.)

***

LỜI BÀN: Ông cán bộ mà cha Quế kể ở đây có lẽ thuộc thế hệ những người đầu tiên ở VN theo cộng sản và thuộc loại cộng sản “chân chính.” Lớp người này về hưu hồi những năm 80-đầu 90 của thế kỷ trước, khi chế độ cộng sản chưa thành “tư bản đỏ” như hiện nay. Lớp cán bộ này phần lớn thường khá nghèo khi đương chức cũng như khi về hưu, vì thế ở Hà Nội hồi thập niên 80 mới có câu: “Đầu đường đại tá vá xe/ Cuối đường trung tá bán chè đỗ đen”.

Hồi tôi ở Hà Nội cuối những năm 80 tôi thường thấy khá đông các cán bộ này tụ tập ở bờ hồ Tây, khu vực cổng Đền Quan Thánh và nhất là cổng Chùa Trấn Quốc và hay được nghe họ kể chuyện xưa và chửi chế độ. Đây là câu vè tự thú tổng kết cuộc đời họ: “Ăn như tu. Ngủ như tù. Nói như lãnh tụ. Đến khi về già mới biết mình Ngu! Ngu! Ngu!”

Roma 08.07.2021

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT

 VỊ LINH MỤC KHIẾM THỊ ĐẶC BIỆT NHẤT VIỆT NAM

 VỊ LINH MỤC KHIẾM THỊ ĐẶC BIỆT NHẤT VIỆT NAM

Thường thì chỉ người sáng mới dắt được người mù. Ấy vậy mà có mộT người mù lại dắt được rất nhiều người sáng đến bến bờ yêu thương.

Thánh lễ Tạ ơn long trọng bắt đầu diễn ra với Bài ca Nhập Lễ. Trên gian cung Thánh, bàn tay người linh mục trẻ đang lướt nhanh thoăn thoắt trên cuốn sách lễ Rôma in bằng chữ nổi Braille.

Mọi con mắt đổ dồn về phía bàn thờ. Không gian yên ắng đợi chờ. Không ít người cảm động chỉ chực rưng rưng nước mắt.

Trong phút chốc, một thanh âm đĩnh đạc đầy bất ngờ được cất lên dẫn cộng đoàn bước vào Thánh lễ long trọng.

Thứ thanh âm được kết tinh trong nước mắt, tăm tối, khổ đau nhưng vẫn sáng ngời niềm hy vọng. Đúng là Thiên Chúa đã viết thẳng trên những đường cong với bất cứ ai có tấm lòng thành tâm thiện chí. Đó là những gì đã diễn ra trong thánh lễ Tạ ơn của Cha Dương, vị Linh mục mù.

Cha Dương, tên đầy đủ là Phêrô Phạm Văn Dương, sinh ngày 6/6/1973, tại xứ Rú Đất, hạt Bảo Nham, giáo phận Vinh, thuộc địa bàn xã Long Thành, Yên Thành, Nghệ An. Ngài là con thứ 3 trong gia đình làm nông nghiệp và có tới 10 anh chị em.

Cuộc đời dâng hiến của Ngài bắt đầu từ mốc gia nhập dòng Anh em Đức Mẹ Về Trời kể từ năm 1998. Sau một thời gian học tập tại Việt Nam, năm 2002, thầy Dương qua Pháp. Thật không may mắn, đến năm 2004, khi đường tu còn dang dở, đau thương ập đến với người tu sỹ trẻ tuổi khi thầy bị một loại virus đặc biệt tấn công khiến đôi mắt trở nên mù hẳn.

Con đường ơn gọi tưởng chừng chấm dứt. Giữa lúc đau khổ cuộc sống, thầy Phêrô Dương vẫn một lòng tin tưởng vào thánh ý Chúa. Con người lạc quan, có cách nói chuyện vui vẻ, hay đùa, hay tếu ấy không bao giờ đầu hàng số phận.

Và cuộc đời không phụ sự nỗ lực vươn lên và dấn thân miệt mài của vị tu sĩ mù. Ngài được bề trên truyền chức vào ngày 14.10.2012 tại giáo xứ Hyppolyte, TGP Paris, Pháp quốc và chuẩn bị sứ mệnh phục vụ cộng đoàn tại Việt Nam.

Việc phong chức cho người khuyết tật hầu như “xưa nay hiếm”. Nhiều năm trước, báo đài Công giáo loan tin một giáo phận Hàn Quốc quyết định truyền chức cho một chủng sinh khuyết tật để phục vụ anh em đồng cảnh ngộ. Dù sao, đó cũng là trường hợp hy hữu, rất đặc biệt.

Nhìn vào hành trình ơn gọi của tân chức Phêrô Phạm Văn Dương, con người nhận ra Thiên Chúa đưa ra lời mời gọi và tuyển chọn không giống ai: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16).

Cha Phêrô quả là nhân chứng cho tình yêu thương dạt dào không bờ bến của Chúa. Thiên Chúa nhân lành đã “viết thẳng trên những đường cong” qua cuộc đời tưởng chừng như đi vào ngõ cụt của Cha.

Hàng ngày, Cha vẫn tự dâng Lễ và làm các việc mà không hề cần ai trợ giúp, ngoại trừ việc dắt lên dắt xuống. Những ai chứng kiến thì hoàn toàn nể trọng, cảm động và thán phục Cha. Ngoài ra, Cha còn có năng khiếu giảng rất hay và ý nghĩa. Cha đã là tấm gương ngời sáng về sự vượt khó cho những người khổ đau khuyết tật.

Chúng ta cùng cúi đầu tạ ơn Chúa với Cha, chúc mừng Cha và cầu cho Cha mãi là vị mục tử tuy mù loà thể xác nhưng luôn chói sáng nơi tâm hồn tình yêu thương, đó chính là yêu mến Thiên Chúa và xót thương con người.

Giuse Kích