Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả (Gioan Baotixita)
Việt Nam nhận hàng tỷ USD trợ giúp về biến đổi khí hậu trong khi chính quyền bỏ tù các nhà môi trường
SINGAPORE — Việt Nam đã bắt giữ một nhà hoạt động môi trường hàng đầu chỉ vài tháng sau khi ký thỏa thuận nhận hàng tỷ đô la viện trợ quốc tế để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, một phần của hiệp định bao gồm các điều kiện trong đó chính phủ sẽ lôi kéo các nhà hoạt động cơ sở tham gia vào nỗ lực cùng chống biến đổi khí hậu này.
Bà Hoàng Thị Minh Hồng, 51 tuổi, đã bị bắt vào cuối tháng trước như một phần của điều mà các nhóm nhân quyền nói là một chiến dịch có phương pháp của chính quyền Việt Nam nhằm vô hiệu hóa phong trào khí hậu ở cơ sở của đất nước và bịt miệng những tiếng nói độc lập với chính phủ.
Được coi là một trụ cột của tổ chức hoạt động phi lợi nhuận của Việt Nam và là một nhà phê bình hàng đầu về nhiên liệu hóa thạch, Hồng đã dẫn đầu các cuộc vận động kiến nghị và phản đối các nhà máy chạy bằng than.
Bà là nhà môi trường nổi tiếng thứ năm ở Việt Nam bị buộc tội trốn thuế trong hai năm, nhưng là người đầu tiên bị nhắm mục tiêu kể từ khi một liên minh quốc tế, bao gồm Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, đồng ý vào tháng Mười Hai để giúp Việt Nam cắt giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch bằng cách cung cấp 15,5 tỷ đô la tài trợ. Các chuyên gia tài chính cho biết đây là một trong những thương vụ lớn nhất thuộc loại này.
Hiệp định ký kết với Việt Nam nêu rõ rằng “cần tham vấn thường xuyên” với “các phương tiện truyền thông, các tổ chức phi chính phủ và các bên liên quan khác để đảm bảo sự đồng thuận xã hội rộng rãi”.
Vài tuần trước khi bị giam giữ, bà Hồng nói trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Washington Post tại Thành phố Hồ Chí Minh rằng phong trào khí hậu cơ sở ở Việt Nam đang trên bờ vực bị vô hiệu hóa hoàn toàn.
Bốn trong số các nhà môi trường hàng đầu của đất nước, tất cả đều chỉ trích các chính sách năng lượng của chính phủ, đã ngồi sau song sắt, các tổ chức của họ trong tình trạng vật vờ.
Cô đã lùi lại một bước các hoạt động của mình trong những tháng gần đây, bao gồm cả việc từ chức giám đốc điều hành của tổ chức phi lợi nhuận môi trường CHANGE, cô nói. Nhưng cô lo lắng đã quá muộn (nay cô đã bị bắt)
“Nếu họ đến tìm tôi,” Hong nói, “phong trào sẽ biến mất.”
Lời Bàn:
Việc bắt giữ các nhà hoạt động môi trường sẽ làm thất vọng các chính phủ cấp viện cho Việt Nam và càng làm giảm uy tín của chính phủ Việt Nam vốn chưa hề tuân thủ bất kỳ hiệp định nào.
Con thuyền Việt Nam trôi dạt trong tình trạng mất phương hướng, qua các sự kiện lớn đang xảy ra, từ chuyện Tòa Án trở thành trò hề khi luật sư biện hộ phải đi trốn ra Nước Ngoài sau khi cáo buộc Côn An làm sai trình tự tố tụng và ngụy tạo tang chứng, chuyện chủ quyền quốc gia bị xâm phạm ở vùng biển đặc quyền, chuyện lòng dân bất ổn qua sự cố đồng bào thiểu số bị áp bức vùng lên tấn công hai đồn công an cùng lúc, chuyện càng chống tham những càng có đông cán bộ cao cấp nhất bị loại, và làm tê liệt guồng máy lãnh đạo đến mức không còn thuốc cho bệnh viện, không còn tiền chi cho thị trường…
Con thuyền chỉ còn lại một ông lão lú lẫn hoang tưởng đang nắm bánh lái cùng với các cộng sự ăn bò dát vàng, ăn đất, ăn dân.
NGA THỜI SA HOÀNG VÀ NGA THỜI PUTIN SAO GIỐNG NHAU ĐẾN THẾ
NGA THỜI SA HOÀNG VÀ NGA THỜI PUTIN SAO GIỐNG NHAU ĐẾN THẾ
(Bài cũ nay mới ứng nghiệm nên đăng lại. Không phải tự khen chứ, mình cứ như thầy bói).
Sau khi nước Nga của Sa Hoàng Nicholas Đệ Nhị thua sấp mặt trong chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905) để tranh giành, xâu xé vùng Mãn Châu và Triều Tiên. Nước Nga buộc phải ký hoà ước Portsmouth nhục nhã với chiến thắng tuyệt đối cho nước Nhật. Tiếp đến, khi tham gia vào chiến tranh thế giới thứ nhất.
Quân đội Nga với hàng ngũ sĩ quan được thăng chức chủ yếu dựa trên lòng trung thành với Sa Hoàng, dự trữ vũ khí thì cạn kiệt, dẫn đến thất bại liên tiếp của quân đội Nga. Tháng 9/1915, Sa Hoàng đã phải đích thân chỉ huy quân đội. Đến tháng 11/1916, lạm phát, bãi công, khó khăn trong việc cung ứng ra tiền tuyến đã đẩy xã hội Nga rơi vào rối loạn. Hậu phương như vậy, nên chiến trường dần tan rã.
Tháng 1/1917, đã có hơn một triệu quân nhân Nga đào ngũ. Đỉnh điểm cho rối loạn xã hội là cuộc cách mạng Nga tháng 10/1917.
Hiện tại thì sao? Xã hội Nga với tỉ lệ sinh liên tục giảm. Có tới 16% đàn ông Nga nghiện rượu. Kinh tế khó khăn vì cấm vận Quốc tế sau khi cướp trắng bán đảo Crimea của Ukraine năm 2014.
Giờ đây, với quân đội mà sĩ quan chỉ huy cũng được bổ nhiệm dựa vào lòng trung thành với Putin. Kinh tế thì chủ yếu nằm trong tay nhóm tư bản thân hữu. Vũ khí thì theo như lời quảng bá là “hiện đại, không nơi nào có trên Thế giới”, thực ra chỉ đủ để diễu binh, làm màu trên Quảng Trường Đỏ.
Hãy nhìn đoàn xe dài 64km nằm xếp lớp vì thiếu nhiên liệu và bánh lốp ở cửa ngõ thủ đô Kiev của Ukraine hồi đầu cuộc chiến và xác xe tăng Nga nằm như cua rang muối thì khắc biết.
Liên tục thất bại trên chiến trường. Putin giờ cũng trực tiếp chỉ huy quân đội như Sa Hoàng Nicholas II năm xưa. Sao mà giống nhau đến thế? Liệu có một cuộc cách mạng nổ ra như cách mạng tháng 10/1917? Cách mạng cũng tốt cho chính nước Nga và Thế giới đấy!
Hai nhóm vũ trang, Quân đoàn Tình nguyện Nga (RVC) và Quân đoàn Tự do Nga cho biết họ đã thực hiện các cuộc tấn công ở khu vực Belgorod phía tây nước Nga trong những tuần gần đây.
Nhưng hi vọng, nếu có một cuộc cách mạng nổ ra ở Nga, nó sẽ không sản sinh ra một nhà nước, một chế độ mang cái học thuyết quái quỷ làm khổ một nửa Thế giới suốt từ 1917 đến tận ngày nay, mà một số dân tộc còn chưa thoát ra được và thống khổ vì nó.
Anh em cuồng Nga không nên đọc stt này! Sẽ rất dễ bị đột quỵ.
FB. LE HUYNH PHUONG THAO
Có thể và không thể…
Có thể và không thể…
- Bạn có thể cuồng Putin và cuồng Nga nhưng bạn không thể phủ nhận Nga của Putin đã xâm lược Ukraine một cách trắng trợn.
- Bạn có thể tin vào bộ máy tuyên truyền của Putin về chủ nghĩa dân tộc, phát xít ở Ukraine blabla…nhưng bạn không thể phủ nhận cả thế giới đang tẩy chay Nga và ủng hộ Ukraine. Không lẽ thế giới lại ngớ ngẩn đi ủng hộ nhà nước phát xít và tẩy chay một nhà nước tốt đẹp như Nga?!
- Bạn có thể tin là quân đội Nga đang chiến đấu với quân đội phát xít Ukraine để giải phóng cho người dân Ukraine nhưng bạn không thể phủ nhận là chính phủ Ukraine đang có cả dân tộc ủng hộ. Người dân Ukraine đang tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống lại đội quân xâm lược Nga. Họ không cần một cuộc giải phóng nào cả! Nếu chính phủ Ukraine không được người dân ủng hộ mạnh mẽ thì đã sụp đổ từ lâu.
- Bạn có thể cho là truyền thông phương Tây không khách quan nhưng bạn không thể phủ nhận suốt bao năm qua trong tất cả mọi lĩnh vực thì cách đưa tin của các hãng truyền thông này được coi là chuẩn mực và đáng tin cậy nhất. Một lý do quan trọng đó là họ độc lập với chính quyền, chứ không phải là cái loa của chính quyền. Họ đưa tin từ thực địa, nhiều khi phải trả giá bằng tính mạng, chứ không phải ngồi nhà tổng hợp tin tức.
- Bạn có thể xem tổng thống Ukraine là “thằng hề” nhưng bạn không thể phủ nhận sự can đảm và tài năng của ông khi đất nước lâm nguy. Và “thằng hề” này đang tập hợp được cả một dân tộc đứng cùng mình dũng cảm chống lại đội quân xâm lược mạnh gấp nhiều lần. Cũng “thằng hề” này hàng ngày đang được rất rất nhiều các nguyên thủ quốc gia, quốc hội các nước lắng nghe.
- Bạn có thể cho NATO là mối nguy cho Nga nhưng bạn không thể phủ nhận là hiện nay các nước cạnh Nga mà không phải là thành viên NATO chính là những mục tiêu tiềm tàng nhất cho sự hung hăng của Nga. Vì vậy vào NATO là sự tìm kiếm bảo đảm an ninh của các nước nhỏ, để có thể tự do tìm kiếm con đường phát triển cho chính mình.
- Bạn có thể không thích phương Tây nhưng bạn không thể phủ nhận thực tế là sau sụp đổ của Liên Xô, các nước XHCN cũ nếu nhanh chóng thoát Nga, hội nhập với EU đều phát triển rất tốt, còn những nước nào vẫn nhùng nhằng với Nga thì sau bao năm vẫn lẹt đẹt, phát triển rất kém, tham nhũng tràn lan, chính thể thì độc tài toàn trị. Người Việt thường hay khuyên nhau chọn bạn mà chơi!
- Bạn có thể cho Ukraine đã dại dột khi dám chống lại quân xâm lược Nga, và đã để cho chiến tranh tàn phá đất nước nhưng bạn không thể phủ nhận trong lịch sử VN ông cha ta cũng đã từng không chấp nhận đầu hàng mặc dù cái giá phải trả là rất lớn. Và không ai chỉ trích cho việc chống lại kẻ thù là một việc làm dại dột!
Tóm lại bạn có thể nghĩ và đánh giá sự việc theo ý bạn, nhưng thực tế nó xảy ra thế nào là cái mà bạn không thể phủ nhận, mà cái đó mới là quan trọng nhé!
FBer Đỗ Vũ
Cóp từ FB Trần Quốc Quân
NGA, MỘT DÂN TỘC BẤT HẠNH!
NGA, MỘT DÂN TỘC BẤT HẠNH!
Cho tới thời điểm hiện tại, quân Nga đã và đang rơi vào ba tình huống bất lợi:
- Đem quân đi tấn công xâm lược nước khác mà không thể đánh nhanh thắng nhanh, cuộc chiến lại kéo dài dằng dai.
- Đem quân đi tấn công xâm lược nước khác mà bây giờ phải lui về thế thủ trên nước người.
- Lại thêm có sự nổi loạn trong hàng ngũ quân đội giữa quân chính quy và đội quân đánh thuê Wagner như hiện nay.
Liệu Putin có thể thắng ở Ukraine không?
Nhưng điều bất hạnh (cho dân tộc Ukraine và cho cả dân tộc Nga) là ngay cả khi Putin có bị buộc phải ra đi chăng nữa, thì không có gì bảo đảm rằng người kế vị sẽ ôn hòa, biết cân nhắc thời cuộc hơn, cũng không có gì bảo đảm nước Nga sẽ thay đổi theo chiều hướng dân chủ!
FB. SONG CHI
NGA, MỘT ĐẤT NƯỚC ĐANG CÓ NỘI CHIẾN
Khoảng 30.000 binh sĩ Wagner hiện đã nắm quyền kiểm soát một khu vực rộng lớn ở phía bắc thành phố Rostov của Nga. Cách thủ đô Nga hơn 200km
Có thể nói nội chiến nước Nga đã bắt đầu, nội tại nước Nga có đến 3-4 lực lượng.
- Tập đoàn lính đánh thuê Wagner
- Quân đội Nga xanh đã hiện hữu bấy lâu nay chống lại quân đội Nga.
- Bộ quốc phòng Nga
- Một bộ phận quân đội không ủng hộ chính sách của Pu.tin. FB. NGUYỄN ĐẠO
III. NGA – NỒI DA XÁO THỊT HAY CUỘC KÁCH MỆNH THÁNG 6 ZĨ ĐẠI
Kênh chính thức của Wagner đã tuyên chiến với Putin: “Putin đã lựa chọn sai lầm. Chuyện này càng tồi tệ hơn cho ông ta. Chúng ta sẽ sớm có một tổng thống mới!”.
Trước đó Wagner chỉ đòi mang đầu của Shoigu với Gerasimov tới thôi, chứ chưa công khai nhắm vào Putin. Nay thì sống mái luôn rồi!
Theo đánh giá tức thời của Bộ Quốc phòng Anh, trong những giờ sắp tới, lòng trung thành của lực lượng an ninh Nga và đặc biệt là Vệ binh quốc gia Nga sẽ đóng vai trò then chốt đối với diễn biến của cuộc khủng hoảng diễn ra này.
Nói chung là dù không biết diễn biến sắp tới mèo nào cắn mỉu nào. Nhưng mà lúc này lên bia nhắm từ từ được rồi anh em. Đằng nào nước Nga của Putin cũng nát rồi!
Chủ quán, cho chai ướp lạnh!
FB DUAN DANG
Tin mới – Ông Prigozhin tạm dừng hoạt động của lực lượng Wagner ở Nga sau thỏa thuận do Belarus làm môi giới giữa Nga-Ukraine
Cập nhật tình hình quân Wagner chống đối quân đội Nga
Để thấy thương vợ nhà hơn – Tràm Cà Mau – Truyện ngắn
Tác giả: Tràm Cà Mau
Rất nhiều bà vợ hiểu biết, hiền lành, dễ thương, ngày đêm vun xới cho hạnh phúc gia đình. Bởi hạnh phúc gia đình, có thể nói là thứ quý báu nhất trên đời, khó có gì sánh bằng. Sống trên thế gian, ai ai cũng mưu cầu hạnh phúc, chỉ có người mất trí khôn mới không biết quý không khí êm ấm của gia đình. Nếu trong một đất nước, mà nhà nhà đều được hạnh phúc đơm đầy, thì quốc gia đó, đạt được lý tưởng mơ ước, không cần giàu, mạnh, hay tiếng tăm.
Người ta kiếm cho ra nhiều tiền, không kể nhọc nhằn, lao tâm khổ trí, cũng chỉ để mưu cầu hạnh phúc. (Họ tưởng tiền bạc có thể mua được hạnh phúc) Theo đuổi danh vọng, cũng là một thứ đi tìm hạnh phúc cá nhân, khoan kể đúng hay sai.
Tuy nhiên, có không ít bà vợ đã cố ý hay vô tình phá vở hạnh phúc êm đềm thường ngày, bằng cách làm khó chồng, đay nghiến, nói lời độc ác, hành động hoang loạn, bất mãn triền miên và chê bai chồng đủ điều. Các bà nầy, đã tự đập vở hạnh phúc đang có, và bỏ phí tháng ngày trời cho. Có thể, đến khi mất đi ông chồng dễ ghét đó, các bà mới chợt ý thức được hành động đáng trách của họ, và lúc đó tiếc thương thì cũng đã quá muộn màng.
Ai đã từng ít nhiều đau khổ vì bị vợ hành, xin đọc các trích đoạn sau đây. Đoạn đầu là bản dịch chương 1 phần 6 của tập “Đắc Nhân Tâm” do học giả Nguyễn Hiến Lê dịch, nguyên tác của Dale Carnegie, sẽ thấy an ủi vô cùng. Vì thế gian đã có những danh nhân bị vợ hành gấp trăm mình.
Xin để thì giờ đọc, mà tìm đuợc chút an ủi và hạnh phúc. Nếu đã đọc rồi, cũng nên đọc lại, vẫn thấy hay vô cùng. Chương 1 phần 6 của cuốn Đắc Nhân Tâm viết như sau:
Chôn sống hạnh phúc gia đình cách nào lẹ nhất?
Năm 1852, Hoàng đế Nã Phá Luân đệ tam say mê Nữ bá tước Mari Eugénie Ignace Augustine de Montiji, người đàn bà đẹp nhất thế giới và cưới nàng. Cận thần có người can gián Hoàng đế vì lẽ không được “môn đăng hộ đối”.
Nhưng Hoàng đế nói: “Có cần chi điều đó”. Cái duyên và vẻ đẹp lộng lẫy của nàng làm cho Hoàng đế mê ly như gặp tiên. Trong một bài diễn văn, Hoàng đế nói như thách cả nước Pháp: “Trẫm đã cưới một người đàn bà mà Trẫm yêu và ngưỡng mộ, như vậy còn hơn là cưới một người mà Trẫm không được biết”.
Hoàng đế và Hoàng hậu có đủ điều kiện để cuộc lương duyên hoàn toàn theo lý tưởng: Sức mạnh, tiền bạc, quyền thế quang vinh, sắc đẹp, tình yêu. Chưa bao giờ người ta thấy hạnh phúc thiêng liêng trong gia đình chói lọi rực rỡ như vậy.
Than ôi! Chẳng bao lâu, lửa thiêng đó chập chờn, lu mờ và tắt hẳn. Nã Phá Luân đã có thể làm cho nàng Eugénie thành một bà Hoàng hậu được, nhưng không có gì ở đời này, cả tình thương của ông, cả uy quyền của ông, có thể thay đổi nổi tính tình của người đàn bà đó.
Bà điên cuồng vì ghen tuông bị nghi ngờ nó giày vò bà, làm cho đời sống của ông không được mảy may tự do. Bà không kể gì tới mệnh lệnh của ông nữa, bà sồng sộc xông vào văn phòng của ông trong khi ông bề bộn việc nước; Trong lúc ông bàn kín việc quốc gia đại sự, bà cũng vào cho kỳ được mới nghe. Bà nhất định không bao giờ để cho ông ở một mình hết, luôn luôn sợ ông có ngoại tình.
Thường thường bà chạy lại nhà một bà chị để phàn nàn về chồng, trút hết tâm sự, khóc la, đe dọa. Có lắm lần bà đạp cửa vô thư viện của ông để chửi ông nữa. Cho nên, làm chủ mười hai tòa cung điện lộng lẫy mà Nã Phá Luân đệ tam không có lấy một cái tủ để trốn trong đó cho yên thân được.
Rồi sau xảy ra sao?
Đoạn văn bản này trích trong cuốn sách thú vị của E. A. Rheinhardt “Nã Phá Luân và Eugénie: Bi hài kịch của một đế chính” trả lời câu hỏi đó:
“Như vậy, rốt cuộc Nã Phá Luân có ngoại tình thiệt và ông luôn luôn lén lút ra khỏi cung, đội chiếc nón nỉ kéo sụp xuống che mắt, có độc một người hầu cận theo sau, để đi tới nơi hẹn hò với một giai nhân… Nếu không phải, như hồi còn hàn vi, để đi lang thang trong kinh đô, vơ vẩn dạo chơi trong những con đường mà các vị Hoàng đế chỉ được nghe tả trong sách…”.
Đó, cách cư xử của bà Eugénie đem tới kết quả như vậy đó. Đành rằng bà vẫn luôn luôn là Hoàng hậu nước Pháp. Đành rằng bà là người đẹp nhất thế giới. Nhưng khốn nạn thay, cả chức Hoàng hậu và sắc đẹp đó không đủ cứu vãn tình yêu bị ngạt trong không khí đầy chất độc, vì những cuộc bất hòa đó.
Phải, Eugénie cũng có thể kêu Trời như Job “Ghét của nào, Trời trao của đó”. Trời trao ư? Không đâu. Chính bà đã tự đem trút nó lên đầu bà vì cái máu ghen và những lời đay nghiến của bà. Đành hanh, nhiếc móc, giày vò, thứ khí giới tai hại nhất mà Diêm Vương đặt ra để tiêu diệt tình yêu. Khí giới đó chắc chắn có hiệu quả hơn hết cũng như nọc rắn hổ vậy, không ai thoát khỏi chết.
Bá tước phu nhân Tolstoi tìm thấy chân lý đó – nhưng trễ quá. Lúc lâm chung, bà thú với con gái bà rằng: “Chính má đã làm cho ba các con chết”. Con gái bà không biết trả lời ra sao, sa lệ. Vì biết rằng quả đúng như vậy: Ông Tolstoi chết vì bà đầu độc đời ông bằng những lời đay nghiến cay chua không ngớt, những cuộc xung khắc bất tận.
Mà cặp vợ chồng đó có đủ những điều kiện của hạnh phúc. Tolstoi là một văn sĩ nổi danh nhất hoàn cầu. Ngoài vinh quang đó ra, ông bà lại giàu sang, có địa vị quan trọng trong xã hội và có nhiều con. Không bao giờ một cuộc hôn nhân trổ bông dưới nền trời tươi sáng hơn nữa. Mới đầu, hạnh phúc của ông bà đầy đủ quá, hoàn toàn quá, đến nỗi có khi cả hai đều quỳ gối, cầu xin Thượng đế gìn giữ họ trong cảnh thần tiên đó.
Rồi thì một sự lạ lùng xảy ra. Lần lần Tolstoi biến đổi tính nết, thành một người khác hẳn. Ông xấu hổ về những danh tác ông đã viết, và bắt đầu từ lúc đó ông miệt mài viết những bài thuyết giáo về hòa bình và kêu gọi diệt trừ chiến tranh và khổ cực cho nhân loại.
Ông thú rằng hồi thiếu thời, ông đã mắc những tội lỗi không thể tưởng tượng được, cả tội giết người nữa và để chuộc tội, ông nhất định theo đúng giáo lý Cơ Đốc. Ông phân phát hết thảy những của cải của ông và thề sống trong cảnh nghèo. Ông làm lụng ngoài đồng, chặt cây, phơi cỏ, đóng lấy giày, quét lấy phòng, ăn trong đĩa bằng gỗ, ráng yêu cả những kẻ thù ông.
Đời của ông là một bi kịch, mà như vậy chỉ do hôn nhân của ông. Bà ưa xa hoa, ông thì ghét. Bà ham danh vọng, thích được tôn trọng, thích giao du, mà ông lại không màng gì tới những thú tầm phào đó. Bà đòi có nhiều vàng, sống một cuộc đời sang trọng, còn ông thì cho giàu có là một tội lỗi.
Trong nhiều năm, bà đay nghiến ông, thịnh nộ với ông, mạt sát ông, vì ông in sách cho không, không đòi quyền tác giả, mà bà thì không muốn bỏ những món tiền đó.
Khi ông chống lại thì bà phát cơn động kinh, lăn trên mặt đất, ngậm ở môi một ve thuốc phiện, thề sẽ tự tử hay dọa sẽ đâm đầu xuống giếng.
Có một chi tiết mà tôi cho là vô cùng thương tâm trong đời của ông bà. Như tôi đã nói, lúc mới cưới, cuộc tình duyên đó thiệt đẹp đẽ, vậy mà 48 năm sau, ông Tolstoi đến nỗi hễ trông thấy mặt bà là chịu không nổi… Có khi, buổi tối, bà già cô đơn đó thèm khát tình thương, lại quỳ bên ông và xin ông đọc cho nghe những đoạn dịu dàng cảm động, mà ông viết vô nhật ký để tặng bà, 50 năm trước.
Và khi ông đọc, sống lại những ngày tươi sáng rực rỡ, bây giờ đã tan như mây khói, cả hai đều rơi lệ. Than ôi! Thực trạng khác xa những mơ mộng thiếu thời một cách độc địa làm sao!
Sau cùng, năm 82 tuổi, Tolstoi không chịu nổi sự bất hòa ghê gớm trong gia đình nữa và một buổi tối, tháng 10 năm 1910, tuyết sa đầy trời ông trốn bà, đi xa, trong đêm tối và lạnh lẽo, không biết là đi về đâu.
Mười một ngày sau, ông đau phổi mà chết tại một nhà ga. Lời cầu xin cuối cùng của ông là đừng để ông thấy mặt vợ ông.
Đó, bà Tolstoi phải chuộc những cơn giận, lời dọa nạt, lời trách móc với cái giá đó. Có lẽ độc giả tự nhủ rằng có nhiều chỗ bà phàn nàn cũng đáng. Phải. Nhưng vấn đề không phải ở đó. Vấn đề ở chỗ này: Bà phàn nàn có ích gì cho bà không? Hay là, trái lại, chỉ làm cho tình thế đã tệ hại còn tệ hại thêm nhiều?
Khi trễ quá rồi, bà mới tự thú: “Tôi tin chắc rằng hồi đó tôi điên”.
Bi kịch thảm thương nhất trong đời Lincoln cũng là cuộc hôn nhân của ông. Tôi nói rõ: Không phải là vụ ám sát ông mà là cuộc hôn nhân của ông. Khi tên Booth hạ sát ông bằng một viên đạn, ông không hay rằng người ta mới bắn ông, nhưng trong 23 năm trời, gần như mỗi ngày, ông được nếm “những trái cây chua chát của một duyên nợ đau khổ” như lời ông Herdon, người bạn ông đã nói. Thiệt vậy, trong gần một phần tư thế kỷ, bà Lincoln rút dần mạch sống của đời ông bằng cách khích bác, gây lộn, giày vò, đay nghiến ông.
Bà luôn luôn day dứt, đay nghiến rằng ông chẳng được vẻ gì: Nào là lưng thì gù, chân đi thì kéo lê như thằng mọi, dáng điệu cứng như que củi, gai mắt lạ lùng.
Bà nhại dáng đi của ông rồi nghiến răng hỏi ông sao không bắt chước dáng đi lịch sự của bà? Bà oán cả hai tai ông, vừa rộng vừa vểnh ra như tai voi. Bà chê ông mũi lệch, bà chê môi dưới ông trề ra, bà chê ông có vẻ ốm đói; Tay chân lớn quá mà đầu thì nhỏ quá! Hai ông bà trái ngược nhau về đủ mọi phương diện: Giáo dục, tính tình, thị hiếu. Chọi nhau hoài…
Một sử gia thông thạo nhất về đời sống Tổng thống Lincoln có viết: “Giọng nói the thé của bà Lincoln, ở ngoài đường cũng nghe thấy, và những cơn thịnh nộ của bà thì điếc tai hàng xóm. Mà không phải khi bà giận dữ, chỉ la hét mà thôi đâu, bà còn làm hung nữa, có nhiều chứng cớ không chối cãi được”.
Chẳng hạn, sau khi cưới, ông bà lại trọ nhà bà Farly, vợ góa một lương y, có nấu cơm tháng.
Một hôm lúc điểm tâm, ông Lincoln có một cử chỉ hoặc thốt một lời làm cho bà nổi giận. Không ai nhớ ông đã làm gì, nhưng người ta thấy bà Lincoln trong lúc cơn điên lên đến cực điểm, liệng một tách cà phê nóng vào mặt chồng, ngay lúc đông đủ các khách trọ khác.
Lincoln xấu hổ lắm, làm thinh ngồi trơ trên ghế trong khi bà chủ trọ đem chiếc khăn mặt ướt lại chùi má và quần áo ông.
Lòng ghen của bà Lincoln vô lý dữ tợn, và không thể tưởng tượng được, đến nỗi chỉ cần đọc những đoạn tả những cơn giận dữ, bi thảm làm cho ông mất mặt trước công chúng, phải, chỉ cần đọc những đoạn đó, 75 năm sau, cũng còn thấy kinh tởm rùng mình. Sau cùng, bà hóa điên. Người ta cho rằng tánh hạnh bà như vậy; Bởi vì bà mắc bệnh thần kinh. Không thể có lời nào nhân từ hơn để xét bà nữa.
Bây giờ ta hãy tự hỏi: Những cơn thịnh nộ đó, những lời đay nghiến đó, cái lối bù lu bù loa đó có cải thiện ông Lincoln chút nào không?
Một ngàn lần không. Nó chỉ giết hết tình cảm của ông đối với bà, nó làm cho ông suốt đời hối hận rằng đã cưới bà và chỉ muốn có mỗi một hành vi là đi khỏi nhà cho khuất mắt.
Tại tỉnh Springfield, là nơi gia đình Lincoln ở, có 11 ông luật sư. Vì đông quá, không thể kiếm ăn trong tỉnh đó được, họ phải đi ngựa từ tỉnh lỵ này qua tỉnh lỵ khác, theo sau ông tòa David Davis để cãi trong những lúc ông này xử án khắp trong miền. Nhưng trong khi bạn đồng nghiệp của ông Lincoln cứ cuối tuần lại trở về gia đình thì ông Lincoln không muốn về, vì rất kinh tởm sự ở gần bà vợ. Và trong ba tháng hè và ba tháng thu, ông ở xa biệt, không lai vãng gần miền Springfield.
Như vậy trong nhiều năm. Đời sống trong những quán trọ nhà quê đó không vui thú, cũng không đủ tiện nghi; Nhưng sống như vậy, ông còn thích hơn là về nhà để thấy bà Lincoln với những cơn tam bành, lục tặc của bà ấy.
Hành vi của bà Lincoln, Hoàng hậu Eugénie và Bá tước phu nhân Tolstoi có những kết quả như vậy. Chỉ mang lại bất hạnh cho gia đình và diệt hết nguồn ân ái mà mấy bà quý hóa nhất.
Sau khi bàn cãi trong 11 năm ở “Tòa chuyên xử các vụ lôi thôi trong gia đình ở Nữu Ước” và nghiên cứu cả ngàn vụ chồng bỏ nhà ra đi, bà luật sư Bessie Hamburger tuyên bố rằng đàn ông phải trốn vợ vì họ chán nghe vợ rầy rà, gây gổ. Như một văn sĩ đã nói: “Đàn bà đào huyệt chôn hạnh phúc gia đình bằng nanh vuốt của họ”.
Vậy, thưa quý bà, nếu quý bà muốn giữ sự vui vẻ hòa nhã trong gia đình, xin quý bà theo lời khuyên dưới đây: Đừng day dứt đay nghiến chồng!
Không phải chỉ các danh nhân mới khổ vì vợ. Những người bình thường, cũng gặp hoàn cảnh ngang trái, như hai nhân vật trong tập truyện ngắn nhan đề “Hương Tóc Cố Nhân” của Tràm Cà Mau, trích từ trang 59:
Nhiệm sở đầu tiên trong đời làm việc của tôi là một cơ sở quốc doanh, một khu kỹ nghệ, tiền vốn do các quốc gia Liên Âu viện trợ phát triển công nghiệp. Ông tổng giám đốc của tôi là một người Việt có quốc tịch Pháp. Trong sở, ông chỉ nói bằng tiếng Tây, giọng oang oang, oai phong lắm. Lời ông nói, mới nghe thì rất chi là thực dân phong kiến. Câu nói nào của ông cũng có kèm theo những lời vô cùng dao búa chết chóc: “Ông chém mầy. Ông giết mầy. Ông bắn mầy”. Nghe lối nói của ông, chúng tôi hết hồn, run. Vì đa số chúng tôi thường được giáo dục trong lời ăn tiếng nói, tránh những ngôn từ không đẹp, không dám dùng lời thô lổ sống sượng, làm mất lòng người nghe. Những vị giám đốc dưới quyền, sợ ông tổng giám đốc như sợ cọp. Cả ông thầy cũ của chúng tôi đang là nhân viên trong sở, cũng lấm la lấm lét trước mặt ông nầy. Thì chúng tôi là cái “thá” gì, có gan bằng trời hay sao mà không sợ? Tôi hỏi một anh lớn tuổi hơn trong sở, tại sao ông tổng giám đốc có thái độ hung hăng dữ dằn như thế. Anh bảo tôi đừng thèm để ý lời ông nói, miệng ông phun toàn lời độc địa, nhưng tâm ông không xấu. Có lẽ vì ông là kỹ sư đào mỏ, tốt nghiệp ở Pháp, ra làm việc với phu mỏ bên Tây, tiếp xúc toàn cả dân “trời ơi đất hỡi” bên đó, cho nên ăn nói không được thanh nhả, quen thói mạnh miệng. Từ bé cho đến tuổi đó, tôi chưa gặp một người nào có vẻ hung hăng như ông nầy. Thế mà, trước mặt bà vợ đầm, ông xìu như cái mền rách. Ấp a ấp úng, nói cà lăm, bao nhiêu hùng khí trong ông đều tiêu tan cả. Một lần nọ, trong buổi họp, ông đang ba hoa nói trời, nói đất, đang doạ dẫm chuyện nầy chuyện kia, thì vị bí thư của ông hé cửa phòng họp chạy vào, thầm thì với ông câu gì đó. Mặt ông chợt xám ngắt như chì, ông run lên thấy rõ, lính quýnh chưa kịp hành động gì, thì nghe tiếng la oang oang bên ngoài bằng tiếng Tây, giọng đầm:
“Thằng chó đẻ, thằng mọi rợ, thằng khốn nạn, hèn mạt, đê tiện, vô liêm sỉ, bà xé xác mầy ra. Mầy trốn ở đâu bà cũng lôi đầu mày ra, bà trị cho chừa.”
Tiếng rầm rầm bên ngoài phòng. Ông tổng giám đốc của tôi nói giọng run run khẩn cấp:
“Chốt cửa lại. Chốt cửa lại”
Một anh kỹ sư chạy mau về phía cửa, kê nghiêng cái ghế vào nắm tay cầm, gia cố cho chắc thêm. Bên ngoài , bà đầm đang hành hạ cánh cửa, đấm đá, dộng, đập. Tiếng ầm ầm như bọn cướp phá nhà. Bên trong, ông tổng giám đốc của tôi mặt xanh như tàu lá, sợ đến mồ hôi chảy thành giòng. Bây giờ thì tất cả cái vẻ oai phong hống hách thường ngày của ông đều tan biến đâu cả. Ông lắp bắp :
“Kêu cảnh sát, kêu cảnh sát, kêu.. kêu…”
Có lẽ ông giả vờ nói cho đỡ ngượng, bớt xấu hổ, chứ ai mà cả gan dám kêu cảnh sát vào bắt vợ ông. Chúng tôi án binh bất động, ngồi thừ ra, mặt anh nào cũng sượng sần, không dám cười, nói gì cả. Bên ngoài, tiếng thoá mạ, xỉ vả của bà đầm nghe léo nhéo, ồn ào liên tục. Đấm đá cánh cửa một hồi lâu không hiệu quả, mà bên trong im khe. Bà đầm rùng rùng chạy xuống lầu, ra sân đậu xe, khiêng một tảng đá lớn, bà dộng mạnh vào tấm kiếng trước của chiếc công xa sang trọng láng bóng mà ông thường sử dụng. Ầm một tiếng, tấm kiếng vở tan tành thành từng mãnh vụn nhỏ như hạt bắp khô. Tảng đá chui tọt vào trong lòng xe. Anh tài xế đứng gần đó, ôm đầu la, tiếng thất thanh : “Ối trời ơi.”. Bà đầm đứng chống nạnh kêu gào, chửi bới, đá ầm ầm vào xe thêm một hồi lâu nữa, mới hậm hực lửng thửng bỏ đi. Ông tổng giám đốc tuyên bố buổi họp tạm chấm dứt. Có lẽ, ông không còn lòng dạ nào mà tiếp tục phiên họp.
Sau nầy, tôi nghe anh tài xế riêng của ông kể thêm rằng, khi bà con của ông tổng giám đốc có kỵ giỗ, đem mâm thức ăn đến biếu. Bà đầm nầy đứng ngay cửa, cầm cả mâm thức ăn liệng ra sân. Choang một tiếng, cả mâm đồng và chén dĩa bể loảng xoảng. Bà đầm gào lên rằng: “ Không có bà con chi với ai cả. Không ai ăn các thứ dơ bẩn nầy.”
Ông tổng giám đốc đầy uy quyền, hống hách của tôi, tưởng đâu trên đầu không còn có ai, thế mà cũng chịu thua bà vợ, thua đậm, thua hoàn toàn, thua không cách gì gỡ được. Lâu lâu, bà vào sở, làm náo loạn vài ba tiếng rồi ra về. Bị vợ đì đến thế, nhưng ông không hổ thẹn với ai cả. Bởi ông sợ vợ ông, chứ có sợ vợ người khác đâu . Cái hung hăng của ông đối với cấp dưới quyền vẫn không giảm đi chút nào.
Ông Tư là người chỉ huy trực tiếp của tôi, có dáng vẻ hiền lành, đứng đắn, ăn nói nhỏ nhẹ. Mỗi sáng bà vợ đi theo vào sở, ngồi trước mặt ông để canh chừng. Mỗi khi điện thoại reo, bà cầm lên nghe trước, hỏi xem ai bên kia dây, rồi mới trao cho ông. Những khi nghe giọng đàn bà bên kia đường dây, thì bà ghé tai sát vào ống nghe, để biết hai người đang nói chuyện gì. Bà ngồi từ sáng sớm đến chiều tối cùng đi, cùng về với ông. Đứa con còn nhỏ bà giao cho vú em săn sóc. Ông như một tù nhân bị giam lỏng. Mỗi khi có chuyện cần, ông đi qua phòng khác, lầu khác, thì bà lẽo đẽo đi theo như một cái đuôi. Bà đứng đợi ông nói chuyện xong, rồi dẫn độ ông về lại văn phòng. Những lần họp chung trong phòng ông tổng giám đốc, bà đứng canh trước cửa. Thế cũng chưa đủ. Lâu lâu bà dùng điện thoại của phòng khác, kêu vào, và xin được nói chuyện với ông Tư. Nhiều khi tôi nghe ông Tư càu nhàu trên điện thoại: “ Bà làm phiền hoài. Người ta đang họp. Khổ quá, như thế nầy thì làm ăn chi được?” Có lẽ ông tổng giám đốc cũng nghe, nghe rõ, và thông cảm cho ông Tư hơn ai cả, vì cả hai ông đều chung hội chung thuyền, thuộc loại râu quặp vào bên trong, khổ vì vợ.
Một lần tôi hỏi bà Tư:
“Bác đứng canh bên ngoài cửa, ai vào ra bác đều biết. Có phải họp lâu, bác nhớ bác trai quá, nên kêu điện thoại để nghe tiếng cho đỡ nhớ phải không?”
Bà xí một tiếng dài, nói mà hai hàm răng nghiến lại:
“Nhớ cái khỉ. Tên già dịch đó, nhớ làm chi cho bận tâm. Tôi kêu điện thoại, vì sợ lão tụt ống máng xuống, trốn đi làm chuyện bất chính.”
Tôi phì cười nói:
“Ở trên lầu ba cao thế nầy, ai mà đủ can đảm tuột ống máng xuống. Té một cái là vỡ đầu chết ngắt. Mà cả sở đông đảo vào ra, thể diện đâu mà ông giám đốc Tư lại tụt ống máng giữa ban ngày ban mặt? Giả dụ như bác Tư thành công trong việc tuột ống máng đi nữa, làm sao mà leo trở lại được. Có là siêu nhân mang cánh bay chăng. Giả như ông ta xuống được, về lại được, thì thời gian cấp bách đó, đâu có làm được cái trò khỉ gì mà bác lo?”
“Tôi vẫn cứ lo như thường. Trên đời nầy, chuyện gì vô lý nhất, cũng vẫn có thể xẩy ra. Muốn là được. Anh có nghe câu nói đó chăng?”
Tôi thấy tội nghiệp cho bà, và tội cho cả ông Tư rất hiền lành. Tôi nắm tay bà, thân mật nói đùa:
“Tôi cũng rất thù ghét cái bọn đàn ông trăng hoa, gạt vợ dối con. Tôi đứng về phe bác. Tôi sẽ canh ông Tư cho bác. Khi nào có họp, mà ông Tư lẻn đến cửa sổ, có vẻ muốn tuột máng xối xuống lầu, thì tôi sẽ chạy ra hô hoán, thông báo cho bác ngay. Bác yên chí lớn.”
“Thật không? Anh không sợ ‘thằng chả’ trù ếm sao?”
“Sợ cái quái gì? Không làm sở nầy, thì tôi đi làm sở khác. Việc chi sợ ai. Tôi chỉ sợ…chỉ sợ …”
Tôi định nói chỉ sợ dàn bà con gái mà thôi, nhưng kịp giữ miệng không nói ra. Bà mừng rỡ, mắt sáng lên và nói:
“Thật nghe! Anh đứng về phe tôi. Nếu thật, thì anh thề độc đi”
“Tôi sợ chi mà không thề độc?”
“Anh tử tế quá. Tôi sẽ giới thiệu cô em gái út của tôi cho anh. Đẹp, giỏi không ai bằng.”
Nghe bà đòi giới thiệu em gái, mà tôi sợ tái mặt, lạnh cả người.
Mấy lần, tôi thấy ông Tư đi làm, mà không có bà đi theo. Chưa kịp hỏi thăm xã giao rằng bà vợ của ông có được mạnh khoẻ không, thì nghe tiếng chân bà chạy xồng xộc bên ngoài, phóng vào phòng, áo quần xốc xếch, mặt mày hớt hải, mắt nhìn lơ láo. Bà hỏi anh thư ký riêng của ông Tư:
“Nãy giờ ông ấy có đi đâu không?”
“Thưa bà không.”
“Có thật không? Hay là anh nói dối.”
Bà bước mau qua phòng tôi ngồi, hỏi tôi có chắc ông Tư không đi đâu từ sáng đến giờ. Tôi xác nhận, và hỏi bà:
“Sáng nay bác ngủ trể hay sao mà không đi chung với bác trai?”
Bà ghé sát, tai thì thầm:
“Tôi vờ nói mệt, sáng nay không đi theo được. Khi ổng vừa lái xe ra đi, tôi đang mang đồ ngủ, vội vã kêu taxi bảo rượt theo đến đây. Thấy xe của giả đậu trong sân, chắc chắn là không đi đâu khác, tôi chạy gấp về, thay mau áo quần, và kêu xe đến ngay đây. Tôi sợ trong thời gian đó, giả trốn đi đâu khác.”
Một lần, anh thư ký riêng bị ông Tư la rầy, anh giận, chờ dịp trả thù. Lần đó, bà Tư cũng giả mệt, đến sở sau. Bà cũng hớt hải hỏi anh thư ký. Anh bảo rằng, ông có đi đâu đó một chốc. Quả thật ông có qua lầu khác bàn chuyện sở với đồng nghiệp. Thế là bà Tư nổi cơn tam bành lên, kêu gào, khóc lóc, la hét, chửi ông Tư bằng những lời tục tỉu. Từ chuyện nhỏ, xé thành lớn.
Không biết ông Tư nỗi đoá, doạ dẫm bà thế nào, mà bà chạy ra đường khóc lóc, la hét. Bà nạy đá, cục lớn bằng nắm tay, pháo kích vào sở ào ào. Mấy ông lao công phải chạy ra ngăn cản, và doạ bà. Bà không sợ. Bà thét to từ ngoài vào sở rằng, ông Tư mang bằng kỹ sư giả từ Pháp về, dối gạt chính quyền. Bà yêu cầu bỏ tù ông Tư, vì ông có liên hệ đến bọn buôn hàng quốc cấm. Bà thoá mạ ông chồng đủ các thứ ngôn ngữ hàng tôm hàng cá, bình dân nhất. Bao nhiêu hư hại do bà pháo kích, ông Tư phải trả đủ, trừ vào lương.
Ông Tư giận, sa thải anh thư ký riêng. Rồi ông bà cũng làm hoà nhau. Nhiều hôm tôi thấy bà mệt mỏi, ngủ gật, mặt mày phờ phạc. Tôi hỏi xã giao:
“Bác có vẻ mệt đấy. Về nhà ngủ một giấc cho sướng. Để tôi canh ông Tư cho.”
“Không được đâu. Cả đêm tôi không dám ngủ say, sợ giả lén dậy đi đâu. Phải nắm chặt tay giả cho chắc.”
“Tội nghiệp bác. Chắc vì thương bác trai quá, nên ghen và khổ như vậy.”
Bà Tư nghiến răng nói như gào:
“Thương! Thương cái xương không còn. Tôi ghét cay ghét đắng, hận thù thằng chả đến tận tim gan. Kiếp trước tôi mang nợ thằng chả, nên kiếp nầy khổ như thế đấy.”
“Bác trai có làm điều gì bậy bạ, tổn thương đến tình nghĩa vợ chồng không?”
“Phải chờ cho đến khi làm việc bậy bạ sao?”
Tôi nói đùa:
“Bác muốn ngủ yên mỗi đêm, thì cứ mua một sợi xích, khoá chân bác trai vào chân giường, cất kỹ chìa khoá. Thế là bác tha hồ mà ngáy.”
Bà Tư cười. Mấy hôm sau, ông Tư vào sở la lối om sòm, xổ giọng mầy tao với tôi. Tôi không ngờ bà Tư làm thật, muốn xích ông Tư vào giường như xích nô lệ. Ông không chịu, và hai vợ chồng gây gổ nhau. Tôi biết lỗi. Xin lỗi ông Tư nhiều lần ông mới tạm nguôi.
Tôi tưởng bà Tư nguyên là thôn nữ, thất học ngu dốt nên ghen tuông bậy bạ. Ghen tuông một cách vô lý, dốt nát. Nhưng một lần có phái đoàn viện trợ đa quốc gia, tới thăm khu kỹ nghệ, để xem viện trợ của họ có được dùng hợp lý hay không. Gồm đại diện của Pháp, Anh, Đức, Ý và Tây Ban Nha. Trong buổi tiếp tân, bà Tư nói tiếng Đức, tiếng Ý, và tiếng Anh theo giọng Luân Đôn, nói rôm rốp như nói tiếng mẹ đẻ. Bà còn kể cả chuyện khôi hài, làm các ông cười vui nhộn. Sau đó, tôi mới biết bà được gởi đi du học bên Pháp từ thuở nhỏ. Chỉ học chuyên về sinh ngữ. Bà có khiếu, nói song suốt tám ngôn ngữ khác nhau.
Thưa các bạn đọc, bạn có thấy sung sướng khi so sánh vợ nhà với quý phu nhân nầy hay không? Thì ra, vợ mình cũng còn dễ thương quá, chưa đến nỗi nào./.
Tràm Cà Mau
From: Tu-Phung
Lòng trung thực đã ‘cứu rỗi’ hai người đàn ông
Lòng trung thực đã ‘cứu rỗi’ hai người đàn ông
Một người đàn ông đến ngân hàng để rút tiền tiết kiệm. Khi đếm lại số tiền nhận được, anh ta hơi sững lại. Thay vì 120.000 rupee (đơn vị tiền tệ của Ấn Độ, tương đương khoảng 36 triệu VNĐ) và trên giấy tờ cũng đã ghi nhận con số này, nhưng có lẽ giao dịch viên đã nhầm nên đã đưa cho anh ta tới 140.000 rupee.
Thế nhưng, khi người đàn ông liếc nhìn nam giao dịch viên thì thấy người này không có biểu hiện gì là đã nhận ra sai sót, còn lịch sự chào anh. Thấy vậy, người đàn ông đã lẳng lặng cho tiền vào túi, rời đi trong im lặng.
Vừa đi, anh ta vừa nghĩ, cái ngân hàng này lớn như vậy, mất có 20.000 rupee thì cũng chẳng ảnh hưởng gì tới hoạt động của họ. Mà có phải do anh cố tình đâu. Đây là sai sót của họ mà, họ chẳng có lý do gì để kiện tụng hay làm khó anh cả. Từ trước đến nay, anh cũng thi thoảng trả nhầm tiền cho người khác, nhưng có ai đến tìm anh để trả lại đâu. Vì sao anh phải trả lại tiền cho ngân hàng. Cứ như thế, người đàn ông đã nghĩ ra đủ thứ lý do cho việc “ỉm” số tiền trả thừa của ngân hàng.
Song càng về gần đến nhà, người đàn ông lại nhớ đến nụ cười lịch sự của giao dịch viên. Anh ta rất tử tế, hòa nhã và còn cảm ơn lúc anh rời đi nữa mà chẳng hề hay biết chuyện gì đang xảy ra. Không biết anh ta có phải đền số tiền này cho ngân hàng không nhỉ?
Người đàn ông bắt đầu cảm thấy hơi có lỗi. Hai mươi ngàn rupee không phải số tiền quá lớn, nhưng cũng chẳng phải số tiền nhỏ. Nó có thể là thu nhập một tháng của bất kỳ người dân nào. Chẳng phải anh đang lợi dụng sai lầm của người khác ư?
Vậy là người đàn ông bắt đầu bồn chồn, mồ hôi túa ra khi đấu tranh tư tưởng có nên giữ số tiền đó hay không. Anh cảm thấy hơi khó thở. Rồi cuối cùng, anh nhìn đồng hồ, chỉ còn 1 tiếng nữa là ngân hàng đóng cửa và quyết định đem 20.000 rupee quay lại. Chỉ đến lúc này, sự căng thẳng trong anh mới bắt đầu giảm đi.
Khi nhận xong số tiền thừa từ người đàn ông, người giao dịch viên mới bắt đầu thở phào và cảm ơn anh rối rít. Anh ta lấy 1000 rupee từ trong túi của mình để cảm ơn người đàn ông và nói: “Cảm ơn anh rất nhiều. Hôm nay anh đã giúp tôi 1 việc lớn đấy. Tôi đang lo sẽ phải bù tiền lương của mình vào chỗ tiền bị nhầm lẫn. Thật hiếm có người nào trung thực như anh. Anh hãy nhận số tiền ít ỏi này của tôi thay cho lời cảm ơn và mua bánh kẹo cho các con của anh nhé”.
Người đàn ông nghe những lời nói này, vừa xúc động vừa lại có chút hổ thẹn. Chẳng phải ban đầu, anh đã định ỉm đi hay sao? May mắn là cuối cùng, lương tâm của anh đã chiến thắng.
“Thực ra tôi mới là người phải cảm ơn anh đấy. Lẽ ra tôi mới là người phải tặng anh số tiền này. Vì thế, tôi xin phép không nhận món quà của anh”, người đàn ông từ tốn đáp.
Giao dịch viên này lấy làm lạ, mới hỏi lại vị khách tại sao lại nói thế.
“Hai mươi ngàn rupee anh trao nhầm đã cho tôi cơ hội được tự đánh giá bản thân mình. Nếu không có sự nhầm lẫn của anh, tôi sẽ không biết việc chiến đấu với lòng tham của bản thân lại khó khăn đến thế. Tôi đã mất hàng giờ để suy nghĩ, để đấu tranh tư tưởng, và may mắn là, cuối cùng tôi đã làm đúng. Tôi đã vượt qua được sự tham lam, ích kỷ để chiến thắng và giữ được sự trung thực. Đây đúng là 1 cơ hội hiếm có. Vì thế, người tôi muốn cảm ơn là anh”, người đàn ông thú nhận.
Sưu tầm.
From: Anh Dang & KimBang Nguyen
NGHỀ ĂN CẮP CỦA NGƯỜI VIỆT Ở ĐỨC – (HẬU QUẢ TRĂM NĂM TRỒNG NGƯỜI)
Tác giả: Phạm Thị Hoài
– Có lần tôi đi một phiên tòa xử nhanh hai thanh niên Việt Nam ăn trộm trong cửa hàng. Một chàng diện Nike Air Max chói chang, một chàng quần bò Dolce Gabbana rất xước. Cả hai đều mới sang Đức hai tuần trước, đơn xin tị nạn còn chưa nộp. Họ ăn trộm phụ kiện, nước hoa và mỹ phẩm trị giá gần 1000 Euro, trong một cửa hàng mà họ hiển nhiên là những vật thể lạ.
Xã hội tư bản tân tiến một thế kỷ rưỡi sau Marx đã xóa đi nhiều ranh giới giữa các giai cấp đối kháng, song lại mở rộng khoảng cách giữa các đẳng cấp.
Hai thanh niên Nghệ An này chỉ cần đặt một nửa bàn chân vào cửa hàng đó là toàn hộ hệ thống báo động của nó đã đỏ rực.
Hình phạt cho mỗi chàng là một cuối tuần quản thúc, tức chiều tối thứ Sáu khăn gói đến Nhà Quản Thúc Thanh Thiếu Niên ở, chiều tối Chủ Nhật được về.
Đại diện tư pháp cho thanh thiếu niên cằn nhằn rằng thế hơi nặng, phạt lao động công ích là đủ rồi. Công tố viên nhún vai. Thẩm phán thở dài, biết rằng sớm muộn cũng gặp lại họ, nhiều phần sớm hơn phần muộn.
Người Việt ở Đức hoàn toàn vắng mặt trong những tội phạm cỡ lớn như khủng bố, đe dọa an ninh quốc gia; rất khiêm tốn trong những tội phạm tài chính và công nghệ cao; khá thứ yếu trong những lĩnh vực như ma túy, mại dâm…; quả thật không thể sánh vai các bạn thuộc khối Đông Âu cũ do Nga dẫn đầu; nhưng lừng danh trước hết với mafia thuốc lá lậu và ngay sau đó có thứ hạng đáng kể là những người ăn trộm, có lẽ chỉ đứng sau Rumani.
Trong ba năm gần đây, mỗi năm cộng đồng 84.000 người Việt ở Đức phạm khoảng 5000 vụ hình sự, trong đó trên dưới 1000 vụ là tội ăn cắp.
Để so sánh: Cộng đồng Trung Quốc 110.000 người, mỗi năm trên dưới 200 vụ ăn cắp.
Trừ tranh tượng nghệ thuật và bí mật công nghiệp, nói chung không có thứ gì mà người Việt ở đây không thể và không nỡ ăn cắp, từ mèo nhà hàng xóm, xe nôi, xe đạp, hộ chiếu, thẻ tín dụng, điện, nước, biển số, đến nhân thân, vịt trời…; làm nấm ăn cắp nấm, làm xúc xích ăn cắp xúc xích, làm quán ăn cắp tất cả những gì không còn nguyên niêm phong; song phổ biến nhất là ăn cắp trong cửa hàng.
Có thời, đồ ăn cắp được bày ngang nhiên ở nhiều góc Trung Tâm Thương Mại Đồng Xuân, khu chợ Việt Nam nổi tiếng tại quận Lichtenberg.
Đồng bào xúm xít mua đồ tốt giá rẻ, từ hộp thuốc đánh răng, kem dưỡng da, rượu, cà-phê đến túi xách, áo da, quần bò hàng hiệu.
Sự nghiệp bán thuốc lá lậu đã góp phần xây dựng cộng đồng người Việt ở miền Đông nước Đức trong 25 năm qua, song thời hoàng kim của nó đã là dĩ vãng, trong khi ăn cắp thì tương lai còn khá vững bền.
Ta hãy nhớ lại: Ngày 10/5/1996, cuộc chiến giành quyền kiểm soát thị trường thuốc lá lậu ở Berlin giữa các băng đảng Việt Nam – mở màn ngày 6/12/1992 với một xác người Việt ở một bãi đậu xe tại quận Marzahn, Đông Berlin – đạt tới đỉnh cao ghê rợn: Sáu người Việt bị hành hình trong một căn chung cư cũng ở quận Marzahn, tất cả tay đều bị trói, mỗi người lĩnh chính xác hai viên đạn của băng Ngọc Thiện bắn vào đầu.
Bốn ngày sau, để “tháng Năm đẫm máu” đi vào lịch sử tội phạm của thành phố này, băng Quảng Bình “bị hại” đáp lễ bằng ba xác người Việt vứt ở đường tàu quận Lichtenberg.
Mafia Việt Nam một thuở, nghe thì kinh, đếm xác nạn nhân càng kinh, song diện mạo thật thì thô sơ đến bất ngờ. Một số lính, được trìu mến hay trọng thị hay e sợ hay tất cả trộn lại – chỉ trừ không giễu nhại – gọi là “bộ đội”, quân chủ lực của băng Quảng Bình, sa vào tay cảnh sát Berlin không phải như trong phim hình sự, sau những pha săn lùng, đột nhập nghẹt thở. Mà đơn giản là ngớ ngẩn.
Sau một phiên tòa xử tội ăn trộm một chiếc sơ-mi, một bộ đồ tắm và một chiếc quần short trị giá gần 500 DM trong cửa hàng xa xỉ KaDeWe, bị cáo là một phụ nữ Việt nhất định không chịu rời khỏi phòng xét xử.
Cô run rẩy bảo “bộ đội” đang chờ trước cửa tòa án, “bộ đội” sẽ bắt cóc cô để tra khảo, dù cô không khai gì trước tòa.
Một trong những “bộ đội” ấy, súng giắt cạp quần ngẩn ngơ, gần như lao thẳng vào tay cảnh sát, và ngay trong ngày hôm ấy sào huyệt của Quảng Bình bị lật tung, một trong hai khẩu Kalashnikov thu được ở đó chính là vũ khí đoạt mạng ba người ở đường tàu. Vài hôm sau, một trong những “bộ đội” đang bị truy nã cũng dính lưới, không phải trong khi chôn sống một ai đó ngoài rừng, mà trong khi ăn trộm tại một cửa hàng ở quận Lichtenberg.
Ăn cắp vậy là đã góp phần thanh toán mafia thuốc lá, chuyện của người Việt thường trớ trêu như thế.
Không bao giờ nghề buôn lậu thuốc lá của người Việt ở đây còn đạt tới quy mô huy hoàng của những năm chín mươi đó nữa.
Đức không còn là điểm đến hấp dẫn nhất. Chính ở thời điểm đó, Anh quốc nổi lên, với lợi nhuận kếch xù từ nghề trồng cỏ.
Người Việt nghèo nhưng nhiều tham vọng. Họ muốn giàu, nhưng phải là giàu một cục, thật nhanh, thật xổi.
Chắt chiu những đồng tiền lẻ để khấm khá dần lên từng đời như người Tàu ở nước ngoài thì chẳng bõ.
Tuy một bước đổi đời bằng nghề cầm nhầm thì khó, song ăn trộm ở đây một ngày vẫn hơn đi cày ở nhà cả tháng.
Và khác xa huyền thoại, đồng bào tôi – nhất là thế hệ hai chàng Nike và Dolce Gabbana – còn thiếu cần cù hơn cả thiếu kiên nhẫn.
Ăn trộm là nghề nhàn, dạo phố, tia hàng, đi làm như đi chơi mà thu nhập không thua đứng đường bán thuốc lá từ sáng sớm đến tối mịt, tức mỗi tháng trên dưới một ngàn Euro, chưa kể tiền nhà, tiền bảo hiểm y tế và khoảng 350 Euro trợ cấp tị nạn, tất cả do nhà nước trả.
Môi trường lại vô tận, nhân loại còn thì siêu thị còn, siêu thị còn thì người Việt còn. Và gần như không mất vốn. Một cái kìm cắt tem từ. Một cái túi lót lớp giấy bạc để tránh báo động khi qua cổng từ, gần đây người Việt giàu sáng kiến còn khâu luôn lớp giấy bạc vào mặt trong áo khoác.
Và không cần qua đào tạo. Hôm trước theo đàn anh đàn chị đi tia, hôm sau tự mình đã ngon lành khánh thành công ty một thành viên hai ngón.
Và ít mạo hiểm.
Khung hình phạt cao nhất là năm năm, nhưng có ăn cắp cả Nữ thần Chiến thắng lẫn bốn con ngựa trên cổng thành Brandenburger Tor cũng chưa chắc được tuyên bản án ấy.
Xã hội càng yên thì luật pháp càng hiền. Trong thực tế, không mấy người Việt phải ngồi nhiều hơn vài ba tháng. Phần lớn chỉ phạt tiền, mỗi tháng trả dần vài ba chục, án tù thường chuyển thành chế độ hưởng án treo.
Thanh thiếu niên chưa tròn hai mốt tuổi thường chỉ bị cảnh cáo, phạt lao động công ích, tức dọn dẹp lau chùi ngay trong trại, hay quản thúc cuối tuần.
Có lần tôi suýt phì cười vì bản án dành cho một thanh niên Việt Nam ăn cắp 17 gói cà-phê: bắt về trại đi học tiếng Đức!
Thế là hôm ấy khi ra cửa, tôi bảo, hai cháu chịu khó đi học tiếng Đức nhé, đừng ăn trộm nữa. Chàng Dolce Gabbana đáp, bọn Phát Xít, nó xử oan, cháu có cầm đồ đâu. Cầm đồ ở đây không phải là cầm đồ mà là cầm đồ. Tôi đã tưởng mình khá thông thạo ngôn ngữ của đồng bào ở Berlin, song có lần hỏi một chị làm nghề gì và nghe câu trả lời, em nhặt tay nhặt chân, tôi vẫn hơi sững sờ.
Ám ảnh của chiến tranh mấy chục năm trước vụt hiện về: Đó là một buổi sáng, từ hầm trú ẩn nơi sơ tán chui lên, đứa trẻ khi ấy là tôi cùng người lớn và những đứa trẻ khác lặng lẽ đi nhặt những mẩu chân tay vô danh, có cái là nguyên một tảng ở khúc hông và bẹn, văng rải rác gần một hố bom mới toanh. Nhưng ở Berlin, người phụ nữ Việt Nam nọ là chủ một tiệm làm móng, việc thường trực là lấy khóe, tỉa da thừa ở móng tay móng chân.
Tôi hỏi, cái gì cầm đồ?
Chàng Nike nhanh nhẹn giải thích, đồ thì cháu cầm, thằng này – hất hàm về phía Dolce Gabbana – chỉ bóc tem thôi. Nhưng cháu đã ra đến cửa đâu. Luật pháp đéo gì, bất công! Tôi bảo, bóc tem với cầm đồ thì đúng là định ăn trộm rồi, oan với ai nữa.
Dolce Gabbana trừng mắt: Cô bênh bọn Đức lợn hử? Người Việt thì phải giúp người Việt chứ! Cô có phải người Việt không hử? Vâng, tôi đúng là người Việt, sống ở Đức. Tháng trước, ở Trung Tâm Thương Mại Đồng Xuân, trong lễ hội “40 năm hội nhập và phát triển” của người Việt ở Đức, ông Nguyễn Thiện Nhân, tốt nghiệp đại học và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đức, thay mặt chính phủ Việt Nam cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của chính phủ và nhân dân Đức, rồi kết thúc bài phát biểu bằng tiếng Đức của mình với lời gửi gắm đến cộng đồng người Việt đang sống ở đây: Đồng bào hãy chứng tỏ lòng biết ơn nước Đức bằng cách tôn trọng luật pháp Đức.
Hóa ra là chuyện ơn huệ. Vậy việc hai khách du lịch Việt Nam vừa ăn trộm ở Zürich thật không đáng để làm ồn. Họ vừa không có gì mang ơn Thụy Sĩ để phải tôn trọng luật pháp nước này, vừa quá vặt vãnh so với hệ thống công ty hai ngón, chẳng hạn của người Việt ở Đức
Chợ Đồng Xuân bên đông Đức Berlin, là cái ổ của việt cộng đi lậu qua di trú, chúng nó trở thành động đỉ, buôn bạch phiến, du côn, du đảng, ma cô, mafia…
Chúng nó bắt cóc chó nhà người Đức về thui sống để ăn, chúng cột mõm con chó để không la được, chúng cột 4 chân để không giãy được, chúng treo lên quạt máy trần nhà nơi chúng được tạm cư gọi là nhà xã hội cho người di dân lậu chưa hợp lệ giấy tờ.
Chúng dùng lửa bình ga khè như để sửa nóc nhà đê thui từng phần con chó đang còn sống, nướng chín tái và xẽo ra ăn tại chổ, cảnh sát Đức được dân Đức báo có khói cháy khét, nên xông vào bắt mấy chục đứa toàn dân Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Phòng và Hải Dương.
Chưa hết, bọn gái thì qua làm đỉ, chơi xã láng cho mang bầu để đẻ là được ở lại do sanh con trên nước Đức, vậy là lợi dụng sơ hở của luật pháp, chơi tới bến, không cần biết cha và cứ vậy mà ôm và nách con ngồi lê đôi mách, ăn tiền EURO trợ cấp!
Chưa kể, bọn chúng bán thuốc lắc, bạch phiến, cần sa, cỏ… Bị cảnh sát phát hiện rượt xét và bắt, chúng giết luôn cảnh sát… Đến 3 lần, mỗi lần 2 người, tổng cộng 6 cảnh sát mất tích, sau này tìm ra được là cảnh sát bị đem vào rừng Đen chôn sau khi bị giết, chúng bán luôn vũ khí súng lậu…
Tác giả: Phạm Thị Hoài
From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen
RỒI SẼ NÊN THẾ NÀO? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào? Vì quả thực, bàn tay Chúa đã ở với nó!”.
Suy niệm “Năm chiếc bánh và hai con cá”, Philip Clarke Brewer viết, “Chúa sử dụng những gì bạn có, để lấp đầy một nhu cầu bạn không bao giờ có thể lấp đầy; sử dụng nơi bạn ở, để đưa bạn đến một nơi bạn
không bao giờ có thể đến; sử dụng những gì bạn làm, để hoàn tất những gì bạn không bao giờ có thể làm; và Ngài sử dụng bạn, dù bạn là ai, để trở thành một ai đó mà bạn không bao giờ có thể trở thành, và không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’”.
Kính thưa Anh Chị em,
“Không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’”; đó cũng là những gì họ hàng của Zacharia – Êlisabeth tự hỏi về Gioan! Tin Mừng ngày lễ sinh nhật Vị Tiền Hô của Chúa tường thuật cảnh nhộn nhịp dưới mái nhà của ông bà khi xóm diềng đến chúc mừng họ.
Một em bé chào đời là cách Thiên Chúa nói với thế giới rằng, “Nó sẽ tiếp tục!”; ngày sinh của một thơ nhi phản ánh vẻ đẹp và sự huyền nhiệm vô hạn của Thiên Chúa, Đấng nói rằng, ‘Đã có những phóng chiếu của Ta trên hình nó!’. Cha mẹ của em bé có thể coi đó như một nhầm lẫn, sai sót; nhưng Thiên Chúa thì không! Một đôi vợ chồng hiếm muộn mong mỏi nó; Thiên Chúa khát khao nó! Với bất cứ một sinh linh nào, chúng ta đều tin như thế, phương chi với Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Chuộc. Thánh Tôma Aquinô viết, “Gioan đã được thánh hoá từ trong dạ mẹ”; còn Luca, “Em đã đầy Thánh Thần ngay trong lòng mẹ!”.
Với bài đọc thứ nhất, Isaia chia sẻ một trải nghiệm tương tự, “Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ”. Được tạo thành cách lạ lùng; Isaia được sai đi còn lạ lùng hơn, “Này, Ta làm cho con nên ánh sáng các dân!”. Kỳ diệu thay, những lời này ứng nghiệm trên Chúa Giêsu Kitô, Ánh Sáng Muôn Dân. Phaolô cũng xác nhận điều này qua bài đọc hai, “Thiên Chúa ban cho Israel Đức Giêsu làm Đấng Cứu Độ, Đấng Gioan tiên báo”. Trước huyền nhiệm của việc tạo thành và sai đi này, dẫu không biết ‘rồi sẽ nên thế nào’, Thánh Vịnh đáp ca cũng trào tràn tâm tình tạ ơn, “Con ca ngợi Chúa, vì con được tạo thành cách lạ lùng!”.
Anh Chị em,
“Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào?”. Bàn tay Chúa ở với Gioan, Ngài can thiệp để Gioan sinh ra trong một hoàn cảnh đặc biệt cho một sứ mệnh đặc biệt. Nhờ ơn Chúa, Gioan chu toàn sứ mệnh cách nghiêm túc và hoàn tất sứ vụ cách vẻ vang! Cũng thế, sự xuất hiện của bạn và tôi , ‘lúc này và ở đây’ không phải là ngẫu nhiên, nhưng phát xuất từ ý định ngàn đời của Thiên Chúa! Ân sủng và tình thương Ngài ‘không rời chúng ta nửa bước’. Ngài kỳ vọng mỗi người sẽ trở thành ‘một ai đó’ mà ngay chúng ta cũng ‘không biết rồi sẽ nên thế nào!’. Thú vị thay, ‘một ai đó’, chúng ta không biết, nhưng Thiên Chúa biết! Vậy, hãy cộng tác với ơn Chúa, chu toàn bổn phận theo đấng bậc mình cách nghiêm túc và hoàn tất nó cách vẻ vang. Và như vậy, chúng ta làm vui lòng Đấng đã kêu gọi mình từ lòng mẹ như Ngài đã gọi Gioan!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, dạy con kinh ngạc trước những việc Chúa làm trên con, trên anh chị em con. Cho con vững tin, dẫu không biết ‘rồi sẽ nên thế nào’ trong kế hoạch ngàn đời của Ngài!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: KimBang Nguyen







