Nữ nhà văn Ukraine, Victoria Amelina bị tên lửa của Nga giết ở tuổi 37 -BBC

Nữ nhà văn Ukraine, Victoria Amelina chết vì vết thương nặng trong bệnh viện sau vụ tên lửa của Nga bắn vào Kramatorsk thứ Ba tuần trước.

Năm nay bà mới 37 tuổi và là cây bút được giới trẻ Ukraine mến mộ.

Bà là người thứ 13 chết vì vụ oanh kích của quân Nga vào các mục tiêu dân sự ở Kramatorsk, thành phố do Ukraine kiểm soát nhưng nằm gần vùng Nga chiếm ở Đông Ukraine.

BBC.COM

Nữ nhà văn Ukraine, Victoria Amelina bị tên lửa của Nga giết ở tuổi 37 – BBC News Tiếng Việt

Dân chủ rơi vào đầu và Cộng sản rơi vào đầu

Báo Tiếng D ân

Dương Quốc Chính

3-7-2023

Campuchia được dân chủ rơi vào đầu, không cần đấu tranh gì cả, nhờ cuộc bầu cử tự do do Liên Hiệp quốc giám sát, sau khi Việt Nam rút quân. Bản chất việc này là do Liên Xô trên đà sụp đổ nên Việt Nam bị áp lực phải rút quân và Campuchia bắt buộc phải có tổng tuyển cử tự do để thành lập một chính phủ mới, được quốc tế công nhận.

Nước Nga, gần thời điểm, cũng có dân chủ rơi vào đầu, khi Liên Xô tự sụp đổ bởi quyết định của Tổng thống Nga Boris Yeltsin và trước đó là cuộc cải cách bất thành của Tổng thống Liên Xô Gorbachev. Bản chất bắt nguồn từ sự mục nát của chế độ Cộng sản ở Liên Xô.

Như vậy có nghĩa là, dân chủ không tới từ sự đấu tranh của dân Nga hay dân Campuchia, dân trí chính trị của họ cũng chưa đủ để thấy sự cần thiết phải có dân chủ và tự do.

Từ đó dẫn đến hai nền dân chủ què quặt, giả cầy ở cả hai nước. Thấy vậy mà không phải vậy. Nước Nga thì quá rõ rồi, Tổng thống Nga thậm chí còn quyền lực hơn một số Tổng Bí thư đảng Cộng sản trước đây, Putin đang có quyền lực kiểu Stalin và hơn Khrushchev.

Bây giờ là Campuchia, Hun Sen sắp truyền ngôi cho con trai, đại tướng Hun Manet, tốt nghiệp West Point danh giá của Mỹ, để [Hun Sen] làm thái thượng hoàng. Đảng đối lập, vì một số “hạn chế” khác nhau, đã không có cửa gì để cạnh tranh. Hun Sen có lẽ là thủ tướng nắm quyền lâu nhất trong lịch sử. Đến giờ là 38 năm.

Khác với Thái Lan, tuy cùng theo thể chế quân chủ lập hiến (có dân chủ), nhưng vua Campuchia không thể kiểm soát được hành pháp/thủ tướng lạm quyền.

Không thể có nền dân chủ đích thực khi dân trí chính trị không đủ cao. Các nước có dân chủ rơi vào đầu đều có hậu quả là sẽ có nền dân chủ giả cầy hoặc mất tự do. Bắt đầu từ Philippines, Ấn Độ, Myanmar. Indonesia thì hơn một tý. Các nước trên đều được thực dân trao trả độc lập khoảng từ năm 1947-1949.

Đông Âu là một trường hợp khác, người dân đã tự đấu tranh. Trường hợp dân chủ rơi vào đầu mà thành dân chủ thật có lẽ chỉ là ba nước Baltic thuộc Liên Xô. Nhưng đó là vì họ bị Liên Xô xâm lược để sát nhập cuối cùng, từ 1941. Nói đúng ra là họ (cả Đông Âu và ba nước Baltic) bị Cộng sản rơi vào đầu, nên thoát được ra dễ dàng.

VỊ HOÀNG ĐẾ CUỐI CÙNG GIA NHẬP ĐẠO CÔNG GIÁO

Niềm Vui Tin Mừng

Dịp kỷ niệm ngày an táng vị hoàng đế cuối cùng của Triều Nguyễn, tức Vua Bảo Đại, tại Paris ngày 6 tháng 8 năm 1997, tạp chí Aleteia có bài viết về việc vị hoàng đế này cuối cùng đã gia nhập Giáo Hội Công Giáo do ảnh hưởng liên tiếp của hai người vợ Công Giáo:

  1. TÌNH YÊU TỪ LẦN GẶP ĐẦU TIÊN Ở ĐÀ LẠT

Năm 1933, khi đang đi nghỉ tại một khu nghỉ dưỡng sang trọng ở miền Trung Việt Nam, Bảo Đại gặp Jeanne-Marie-Thérèse. Hai người trẻ tuổi ngay lập tức rất hợp nhau: Họ đã nhận được cùng một nền giáo dục phương Tây. Cô gái trẻ xuất thân từ một gia đình trí thức địa chủ giàu có, một trong những gia đình Công Giáo lâu đời nhất nước, vừa học xong ở Pháp, nơi cô đã được gửi đi, giống như Bảo Đại, năm 12 tuổi. Bắt đầu học tại trường nội trú Canons of Notre-Dame và sau đó tại tu viện Les Oiseaux ở Neuilly.

Mộng Điệp: Giai nhân khiến Bảo Đại thất hứa với Nam Phương Hoàng hậu ...

Chân thành yêu nhau, một vài tháng sau, vị vua trẻ tuyên bố đính hôn với một phụ nữ Việt Nam theo Công Giáo. Vui mừng thay, cha mẹ của cô gái trẻ – những người Công Giáo nhiệt thành đã cho xây dựng các nhà thờ và các công trình trong nước – được chứng kiến cuộc hôn nhân của con mình với hoàng đế.

Tin tức gây chấn động, triều đình không lấy làm vui mừng. Đối với triều đình, đó là một thảm họa thực sự ở một đất nước chủ yếu theo đạo Phật, nơi các Kitô hữu vốn là một số dân rất nhỏ, từng bị bách hại từ lâu, thậm chí bởi cả ông cố nội của Bảo Đại.

The Summer Palace of Bảo Đại | Saigon For 91 Days

  1. KẾT HÔN VỚI 1 PHỤ NỮ CÔNG GIÁO

Tai tiếng đã nổ ra trong bối cảnh tin đồn được đưa ra trước đó bởi tờ báo cộng hòa cho rằng hoàng đế đã được rửa tội.

Frederic de Natal cho hay tin ấy hoàn toàn sai sự thật “Không có bằng chứng; nhưng tin đồn đã lan rộng. Tại sao? Bởi vì Bảo Đại thực sự quan tâm đến đạo Công Giáo.”

Vì sự náo động của dư luận do tin đồn gây ra, chính phủ Pháp cuối cùng đã nhận thức được vấn đề này và kiểm duyệt tất cả các bài báo đăng tin sai về lễ rửa tội của ông.

Về phía Tòa Thánh, Đức Piô XI ban đầu từ chối ban miễn chuẩn theo giáo luật cần thiết cho cuộc hôn nhân khác đạo, mặc dù hoàng đế đã yêu cầu. Đức Giáo Hoàng yêu cầu những đứa con tương lai phải được rửa tội, giáo dục trong đạo Công Giáo. Frédéric de Natal giải thích :“Thực tế không thể như thế được; triều đình sẽ phản đối. Nhưng Bảo Đại đã ký một giao thức bí mật, theo đó, ông sẽ bí mật nuôi dạy các con của mình theo đức tin Công Giáo”.

Chính trong bối cảnh đó, lễ cưới – kéo dài bốn ngày, với một phần các nghi lễ hoàn toàn nghiêm cấm đối với công chúng – đã diễn ra tại hoàng cung ở Huế, từ ngày 20 tháng 3 đến ngày 24 tháng 3 năm 1934. Được phú cho một cá tính mạnh mẽ, cô dâu yêu cầu được phong là Hoàng hậu “Nam phương” (“Trời Nam”).

  1. CÁC LỚP GIÁO LÝ KÍN ĐÁO

Hoàng hậu đã nuôi dạy các con của mình theo đạo Công Giáo song song với việc giáo dục chúng trong đạo Phật. Bà đã bí mật cho chúng được rửa tội. Và khi bà cho chúng học giáo lý, chồng bà ở gần và ông cũng lắng nghe bà.

Nhà nghiên cứu lịch sử hoàng gia cho biết, “Nam Phương đã thấm nhuần giáo dục tôn giáo cho ông, đặc biệt bằng cách đọc Kinh thánh cho con trai nghe trước mặt ông. Bầu không khí khác xa với các lễ nghi hoàng gia mà người ta có thể tưởng tượng ra! Bảo Đại giữ mọi thứ bên trong ông, giống như một kho báu bí mật mà cuối cùng sẽ nở rộ vào ngày ông xin lãnh phép rửa”.

Là một phụ nữ trọng bổn phận, Nam Phương đã tận tụy cùng với các nữ tu của Tu hội Đức Bà ở Đà Lạt, mở tu viện Les Oiseaux nơi bà cho các con gái của mình theo học. Nam Phương cũng có một dự án lớn mà bà muốn giao phó cho chồng: đó là đưa Việt Nam trở thành vương quốc Công Giáo đầu tiên ở Châu Á. Trong khi không bao giờ xuất hiện trước công chúng với các nhà chức trách Công Giáo, ông đã bí mật đọc Kinh Thánh.

  1. CẢNH LƯU ĐÀY CỦA VỊ HOÀNG ĐẾ SA CƠ

Năm 1945, Nhật Bản đầu hàng, trao trả nền độc lập cho Việt Nam dưới tay Bảo Đại. Nhưng Bảo Đại đã thoái vị ngay sau khi Hồ Chí Minh cướp chính quyền, tuyên bố lập ra chính phủ VNDCDH. Sau đó, Bảo Đại bị HCM hạ xuống chức vụ “cố vấn tối cao” để làm bù nhìn. Bảo Đại trốn HCM sang Hồng Kông sống lưu vong. Ông được người Pháp đưa trở về VN vào năm 1949, lên làm quốc trưởng chính phủ Quốc gia VN chứ không còn là hoàng đế, và cuối cùng bị phế truất vào tháng 10 năm 1955 bởi Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều đại Việt Nam cuối cùng đã vĩnh viễn rời bỏ chính trường.

Vị cựu hoàng đế này đã lưu vong cùng vợ và năm người con của họ ở Pháp, ở tuổi 42, để sống một cuộc hưu trí rất dài và rất kín đáo ở Cannes, và sau đó ở Paris.

The ex-emperor of Anam, in Indochina, Bao Dai, was in Paris recently ...

Kinh tế không mấy dư giả. Chỉ còn một vài cận thần, tì nữ trung thành cùng lưu vong với ông. Bà Nam Phương, đau khổ vì sự không chung thủy của chồng, đã rời bỏ ông bất chấp lời xác tin hôn nhân của bà và đến cư trú tại căn hộ ở Corrèze, nơi bà qua đời ở tuổi 52. Về phần Bảo Đại, ông đã tìm lại ở Pháp lối sống của thời trẻ, tiếp tục săn bắn, chơi gôn và xe thể thao. Ông tiếp tục các cuộc phiêu lưu đa tình của mình… cho đến khi ông gặp Monique Baudot, một phụ nữ 23 tuổi quê ở vùng Lorraine, vào năm 1969.

5. CÔNG CHÚA MONIQUE VÀ NHÀ THỜ SAINT LOUIS DES INVALIDES

Chính tại đại sứ quán Zaire, ánh mắt họ đã gặp nhau. Monique Baudot phụ trách văn phòng báo chí của đại sứ quán. Bà kết hôn với hoàng đế năm 1972. Được gọi là Công nương Monique, bà là một phụ nữ rất sùng đạo với tính cách kín đáo, thường xuyên đi lễ tại nhà thờ Saint-Louis des Invalides ở Paris. Cuối cùng, bà đã thuyết phục được chồng mình gia nhập cộng đồng Công giáo. Năm 1988, ông được rửa tội lấy tên thánh là Jean-Robert.

Chùm ảnh: Tuổi già bên người vợ Pháp của cựu hoàng Bảo Đại - Redsvn.net

Mặc dù buổi lễ diễn ra rất riêng tư, nhưng một số người thân cận với cả gia đình lẫn Đức Hồng Y Lustiger, Tổng Giám mục Paris vào thời điểm đó, xác nhận Bảo Đại đã chuẩn bị lâu dài để lãnh nhận phép rửa, một điều có thể được coi như một con đường rất đặc thù hướng tới đức tin Công giáo được đánh dấu bởi chứng từ sống động của hai người vợ: Nam Phương trước, sau đó là công nương Monique.

Nhà nghiên cứu lịch sử hoàng gia kết luận “Sau khi được rửa tội, Bảo Đại đã gia nhập Giáo Hội Công Giáo một cách sốt sắng. Ông đã trở thành một Kitô hữu tận tụy. Sau khi trở thành một hoàng đế lưu vong và là một người đàn ông cô đơn, ông đã tìm thấy ơn cứu chuộc nơi Chúa Kitô.”

Chuyện về cựu hoàng Bảo Đại và Monique Baudot - người vợ cuối cùng ...

Vũ Văn An Vietcatholic


 

Việt Nam kêu gọi các hãng nền tảng mạng xã hội lớn dùng AI để loại những nội dung “chống Nhà nước”

Việt Nam kêu gọi các hãng nền tảng mạng xã hội lớn dùng AI để loại những nội dung “chống Nhà nước"Suốt thời gian mấy năm qua, Việt Nam đã tăng cường áp lực đối với những mạng xã hội trong việc xóa bỏ nội dung “nhạy cảm chính trị”.

Reuters

Chính phủ Việt Nam tiếp tục yêu cầu những nền tảng mạng xã hội hãy sử dụng trí tuệ nhân tạo để tự động phát hiện và xóa những nội dung trên mạng bị Hà Nội cho là “nhạy cảm” về chính trị.

Mạng Diplomat ngày 3/7 dẫn lại tin mà Reuters loan hôm 30/6. Theo đó các nền tảng như Facebook, TikTok, YouTube bị chính phủ Việt Nam yêu cầu phải phối hợp với các cơ quan chức năng xóa bỏ nội dung bị cho “độc hại”.

Yêu cầu vừa nêu được lặp lại tại cuộc họp tổng kết giữa năm của Bộ Thông tin- Truyền thông Việt Nam. Theo Diplomat, đây là dấu chỉ mới nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam mong muốn hạn chế các mạng xã hội do giúp khơi dậy sự bất đồng với giới cầm quyền.

Suốt thời gian mấy năm qua, Việt Nam đã tăng cường áp lực đối với những mạng xã hội trong việc xóa bỏ nội dung “nhạy cảm chính trị”. Biện pháp này đi đôi với việc đàn áp mà hằng chục nhà báo độc lập, các nhà bảo vệ nhân quyền bị bắt và bị kết án với những bản án nặng nề.

Vào năm 2018, Việt Nam đã thông qua Luật An ninh mạng buộc Facebook và Google trong vòng 24 tiếng đồng hồ phải gỡ những bài viết bị cho “đe dọa an ninh quốc gia” sau khi Hà Nội yêu cầu.

Trong năm 2021, Facebook buộc phải gỡ gần 2.000 bài đăng bị Việt Nam yêu cầu, sang nửa đầu năm 2022, thêm gần 1.000 bài đăng bị Hà Nội buộc Facebook phải lấy xuống.

Tại hội nghỉ tổng kết giữa kỳ vừa qua, Bộ Thông tin- Truyền thông Việt Nam cho biết, trong nửa đầu năm nay, Facebook phải gỡ xuống gần 2.600 bài đăng, YouTube xóa hơn 6.100 video, TikTok gỡ 415 đường dẫn theo yêu cầu của Chính phủ Hà Nội.

Thống kê cho thấy, Việt Nam là thị trường với số lượng người dùng Facebook lớn thứ bảy trên thế giới; và là thị trường lớn thứ sáu thế giới với số lượng người sử dụng Tik Tok.


 

MỘT THỂ CHẾ ĂN TÀN PHÁ HOẠI

Tăng Bui

 

Có thể là hình ảnh về 5 người và văn bản cho biết 'f1 YouTube VIDEO THỜISỰ THẾGIỚI Kinh doanh aa XE DULỊCH VĂNHÓA GIẢITRÍ THẾTHAO 15:20GMT+7 Ngân sách cứ thu được 3 đồng thì chi 2 đồng cho bộ máy SỨCKHỎE L.THANH THẬT BẠNĐỌC chứng TTo 4tháng trong máy. Tuổi Trétrên News gân 30 ước đồng. Thảodược, 00 đồng, tổng chi khoảng àc đồng pháphiệ cho đồng cho Chia inhnghiệm giúp con giải Rao vặt 770m2 8:46PM 早'

MỘT THỂ CHẾ ĂN TÀN PHÁ HOẠI

Dân số Mỹ 350 triệu:

– 100 Thượng nghị viện (Mỹ có Hạ viện thì VN cũng có HĐND tỉnh)

– 2,1 triệu công chức.

VIỆT NAM: dân số 96 triệu:

– 490 Nghị sĩ (ĐBQH).

– 2,8 triệu công chức; đó là chưa tính lũ bậu xậu cấp cơ sở như Thôn, Ấp, Công an viên, Dân phòng…

Nuôi một bầy KỀN KỀN đông như vậy thì DÂN nào chịu cho nổi; DN nào chịu cho nổi.

 

Ông Phan Sơn Tùng, người kêu gọi thành lập “Đảng Việt Nam thịnh vượng” bị án sáu năm tù

Theo RFA và VOA tiếng Việt

Ông Phan Sơn Tùng, người kêu gọi thành lập “Đảng Việt Nam thịnh vượng” bị án sáu năm tù

Ngày 03/7, Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội kết án Phan Sơn Tùng, người kêu gọi thành lập “Đảng Việt Nam thịnh vượng,” với mức án sáu năm tù giam cho tội danh “tuyên truyền chống nhà nước” theo Điều 117 của Bộ luật Hình sự.

Ông Phan Sơn Tùng, 39 tuổi, bị bắt ngày 31/8/2022 vì kêu gọi thành lập đảng nhằm cạnh tranh quyền lãnh đạo với Đảng Cộng sản Việt Nam, kêu gọi xoá bỏ bất bình đẳng quyền lực chính trị bằng việc loại bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội, yêu sách được tự do lập hội và tổ chức chính trị ở Việt Nam. Ông cũng có nhiều bài viết trên Facebook và Youtube có nội dung bị cơ quan chức năng Việt Nam cho là “chống phá Nhà nước.”

Phiên toà bắt đầu vào lúc 8 giờ 30 sáng thứ hai và kết thúc vào trưa cùng ngày. Hai luật sư tham gia bào chữa cho ông Phan Sơn Tùng là Lê Văn Luân và Ngô Anh Tuấn.

Sau khi phiên toà kết thúc, luật sư Ngô Anh Tuấn nói với phóng viên của Đài Á Châu Tự Do (RFA):

“Ông Tùng hoàn toàn nhận các hành vi mình làm nhưng mà ông Tùng đánh giá hành vi đó chưa đủ cấu thành tội phạm. Ông Tùng vẫn khẳng định rằng các hành vi đó không vi phạm pháp luật và các luật sư bào chữa cũng chứng minh tương tự. Tuy nhiên, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

Ở phiên toà này, ông Tùng có nhiều tình tiết giảm nhẹ và trong suốt quá trình diễn ra phiên toà, ngay cả trong phần tranh luận, phía đại diện Viện Kiểm sát không đưa ra tình tiết tăng nặng nào. Tuy nhiên, trong phần luận tội, Toà áp dụng tình tiết tăng nặng ‘phạm tội nhiều lần’ cho nên là mức án của ông Tùng giữ nguyên mức thấp nhất mà Viện Kiểm sát đề xuất là từ 6 đến 7 năm.

Chúng tôi bất ngờ là vì thế. Tôi nghĩ mức án của ông Tùng là 5 năm hoặc thấp hơn.”

Theo cáo trạng, Phan Sơn Tùng là người tạo lập và quản lý ba trang Youtube mang tên “Vì Việt Nam thịnh vượng,” “Phan Sơn Tùng,” và “Sơn Tùng TV” cùng trang Facebook “David Phan” đăng tải khoảng 1.000 video clip với hơn 148 triệu lượt người xem và 530.000 lượt người theo dõi.

Vẫn theo cáo trạng, trên bốn trang mạng xã hội nói trên, Phan Sơn Tùng đã làm và phát tán 16 video clip với nội dung chứa thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; có sáu nội dung tuyên truyền thông tin gây chiến tranh tâm lý; 17 nội dung xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Các video clip này chủ yếu để tuyên truyền nhằm chống Nhà nước, chống Đảng, chống chính quyền. 

Cáo trạng còn nói từ ngày 05/8 đến ngày 31/8/2022, Phan Sơn Tùng còn kêu gọi thành lập tổ chức bất hợp pháp có tên “Đảng Việt Nam thịnh vượng.”

Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hà Nội cũng nói ông Phan Sơn Tùng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, và đã nộp số tiền phạt hơn 27 triệu đồng từ việc bán mũ có in dòng chữ “Vì Việt Nam Thịnh Vượng” và kiếm tiền quảng cáo từ 16 video clip có nội dung cấm.

Theo luật sư Lê Văn Luân, Phan Sơn Tùng trước đây từng làm việc trong Ban quản lý dự án của Công ty BĐS Viettel. Sau đó, thân chủ của ông tự thành lập công ty riêng để hoạt động, và trao đổi về các vấn đề của đất nước. Trước tình hình xã hội đầy nhức nhối với đủ các tệ nạn, Phan Sơn Tùng đã lên tiếng bằng cách tổng hợp và phân tích các vấn đề dưới góc nhìn cá nhân, mục đích chính yếu là để xây dựng một nước Việt Nam vững mạnh hơn, và theo đó Nhà nước cũng sẽ trong sạch và phát huy được các vai trò trước nhân dân.

Sau khi bị bắt, Phan Sơn Tùng đã hợp tác với cơ quan điều tra, thừa nhận về hành vi, khoá toàn bộ các video bị cáo buộc vi phạm, nộp lại số tiền bán mũ. Số tiền nhận được từ số lượt xem bởi Youtube, Phan Sơn Tùng đã thực hiện thủ tục nộp thuế với cơ quan thuế theo quy định, luật sư Lê Văn Luân viết trên trang Facebook cá nhân.

Ông Phan Sơn Tùng là người hoạt động thứ sáu bị kết tội “tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 117 của BLHS 2015 hoặc Điều 88 của BLHS 19999 từ đầu năm 2023 đến nay. Trước đó, hai ông Trần Văn Bang và Đặng Đăng Phước bị án tám năm tù, hai ông Trương Văn Dũng và Nguyễn Lân Thắng cùng bị án sáu năm, và ông Bùi Tuấn Lâm bị án năm năm sáu tháng tù giam.

 

Ông Phan sơn Tùng, nhà bất đồng chính kiến với đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị bắt giam từ tháng 8, năm ngoái, 2022.

Trung Quốc hạn chế xuất khẩu hai kim loại được sử dụng trong chip hiệu suất cao

Theo nhật báo Phố Wall

Chip Silicon-Germanium

Con chip silicon-germanium này chuyển đổi bộ kích hoạt kỹ thuật số thành xung bức xạ 5 pico giây với phổ tần số vượt quá 1 terahertz.

SINGAPORE—Trung Quốc cho biết họ đang hạn chế xuất khẩu các sản phẩm và vật liệu có chứa gali và gecmani, những kim loại quan trọng trong chất bán dẫn, trạm gốc 5G và tấm pin mặt trời, một động thái mà các nhà điều hành ngành coi là sự trả đũa đối với các hạn chế của Hoa Kỳ và các nước khác . -chip đầu cuối và thiết bị sản xuất chip sang Trung Quốc.

Trung Quốc và Mỹ đang cạnh tranh nhau về sự thống trị công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, điện toán lượng tử và công nghệ năng lượng sạch.

Hoa Kỳ cho biết các biện pháp của họ đối với các nhà sản xuất chip của Trung Quốc nhằm ngăn chặn Trung Quốc phát triển các công nghệ có thể mang lại lợi thế cho quốc phòng hoặc các lĩnh vực khác mà Washington cho là quan trọng đối với an ninh quốc gia và Washington đã khuyến khích các đồng minh của mình thực hiện các biện pháp tương tự.

Bắc Kinh nói rằng các biện pháp này nhằm ngăn chặn sự phát triển kinh tế của Trung Quốc . Trung Quốc đã phản ứng bằng cách đưa vào danh sách đen hai công ty quốc phòng của Mỹ— Lockheed Martin và một chi nhánh của Raytheon Technologies — và cấm các công ty cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng sử dụng các sản phẩm của nhà sản xuất chất bán dẫn Micron Technology của Mỹ .

Periodic Table Element Zinc Gallium Germanium Stock Photo - Download ...

Trong khi giá trị xuất khẩu gali và germanium đã rèn và chưa gia công của Trung Quốc lần lượt chỉ là 36 triệu đô la và 54 triệu đô la, theo dữ liệu hải quan Trung Quốc, tác động của các hạn chế xuất khẩu có thể lớn hơn nhiều.

Trung Quốc thống trị toàn cầu về sản xuất, tinh chế và chế biến nhiều nguyên liệu thô quan trọng, bao gồm gali và gecmani, là các sản phẩm phụ từ quá trình chế biến các mặt hàng như kẽm, than đá hoặc bauxite.

Gali, một kim loại mềm, màu bạc ở nhiệt độ phòng, là một thành phần trong một loại chất bán dẫn đang phát triển nhanh được sử dụng trong bộ sạc điện thoại và xe điện, trong số các ứng dụng thương mại và quân sự ngày càng tăng.

Gallium arsenide—một hợp chất với asen—được sử dụng rộng rãi cho các con chip hiệu suất cao vì nó có khả năng chịu nhiệt và độ ẩm cao hơn và dẫn điện tốt hơn silicon. Tại thời điểm này, “không tồn tại chất thay thế hiệu quả nào cho GaAs trong các ứng dụng này,” Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ năm 2023 về gali lưu ý.

Gallium-nitride, được hình thành khi gallium kết hợp với nitơ, cũng được sử dụng trong các hệ thống phòng thủ tên lửa và radar tiên tiến. Theo Precedence Research, doanh số bán chip gali-nitrit ước tính đạt 2,47 tỷ đô la vào năm ngoái và dự kiến ​​sẽ tăng lên 19,3 tỷ đô la vào năm 2030. Chip gali-arsenua dự kiến ​​sẽ tăng từ 1,4 tỷ đô la năm ngoái lên 3,4 tỷ đô la vào năm 2030, theo Nghiên cứu và Thị trường.

Gallium chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc , theo đánh giá của Nhà Trắng về chuỗi cung ứng nội địa vào năm 2021. Khoảng 53% lượng gallium của Hoa Kỳ được nhập khẩu từ Trung Quốc từ năm 2018 đến 2021, theo Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ…

Germanium, một kim loại bóng, có màu trắng xám, cũng có thể làm cho silicon trở thành một ống dẫn nhanh hơn và thường được tìm thấy trong pin mặt trời và hệ thống sợi quang.

—Lingling Wei và Asa Fitch đã đóng góp cho bài báo này.


Ai giải thích dùm nghịch lý!

Chau Trieu

1/ VN là một nước nhỏ về diện tích, nghèo về kinh tế và rất đông dân. Nhưng rất thích dùng ngân sách công làm thật nhiều tượng đài lập bất chấp xấu đẹp và đặt ở những nơi chẳng mấy ai nhìn. Ngoài ra còn lập ra rất nhiều kỷ lục về bánh chưng to nhất, bánh tét lớn nhất, áo dài … dài nhất. Toàn làm những thứ cũ kỹ và không biết làm để làm gì, ngoài việc để khoe mẽ, gọi là “có kỷ lục thế giới”.

2/ Nước Mỹ là một nước lớn về diện tích, hùng mạnh về kinh tế, quân sự, và dân không đông so với diện tích của đất nước. Nhưng việc xây tượng đài v.v… là việc người dân bỏ tiền ra làm, nhà nước chẳng thèm quan tâm, chỉ quan tâm xem đặt ở đâu và có (vô tình hoặc cố ý) xúc phạm ai không. Ngoài ra họ chỉ lo làm con chip nhỏ nhất, nghiên cứu thuốc ngăn ngừa con Cô Vy bé nhất, làm con robot nhỏ gọn nhất, sản xuất xe tiết kiệm xăng nhất. Họ còn có rất nhiều tổ chức đi gom quần áo và đồ dùng gia đình cũ để mở các tiệm bán hàng 1 đồng hoặc 0 đồng cho người nghèo. Nói gọn lại là làm gì cho đỡ tốn tiền nhất, như một gã bủn xỉn, không cần biết người ta nghĩ gì về mình.

Như vậy là sao hả quý vị?

Nguồn: Vũ Thị Phương Anh

 

DÂN NÀO THÌ CHÍNH QUYỀN ẤY!!!

DÂN NÀO THÌ CHÍNH QUYỀN ẤY

Sáng sớm, một bạn báo cho biết “Thanh Hóa đã thông báo tạm dừng xây dựng khu tượng đài trăm tỉ tại Sầm Sơn”. Vui vì tin này, dù biết là mới chỉ “tạm dừng” chứ không phải “hủy”. Tuy nhiên, trước mắt gần 300 tỉ đồng tiền dân và 32ha công thổ quý giá sẽ tạm thời chưa bị nướng mất vào một công trình có quá nhiều lý do để không nên hiện diện. Có mấy vấn đề muốn bàn rộng thêm xung quanh quyết định “tạm dừng” này của chính quyền Thanh Hóa.

  1. Dân nào thì chính quyền ấy.

Tôi đã nói quan điểm này nhiều lần, những quyết định của chính quyền sẽ chịu ảnh hưởng tùy vào mức độ nhận thức và thái độ của dân chúng. Nếu dân không lên tiếng một cách mạnh mẽ thì công trình sẽ vẫn được tiến hành xây dựng; và nếu chỉ có “chửi bới” thì chính quyền sẽ không những vẫn làm mà còn quy kết những cá nhân lên tiếng ấy là chống đối/chống phá. Phản đối cần lý lẽ và sự phân tích thấu lý để không ai có thể ngụy biện hoặc chụp mũ được nữa.

  1. Tượng đài này có thể vẫn sẽ bị tiến hành vào một thời điểm khác, bất chấp mong muốn của nhân dân trước những phi lý của nó. Tuy nhiên, dù thế, thì việc lên tiếng sẽ không bao giờ vô ích, vì nó chứng tỏ cho dân chúng thấy một chính quyền đang không đồng hành cùng nguyện vọng của họ; và nhất là giúp dân nhìn rõ hơn, sâu hơn vào bản chất của hệ thống công quyền.

Việc phân tích xác đáng là để bóc tách một cách thuyết phục những vô lý của một công trình, từ đó giúp dân chúng nâng cao hiểu biết, ý thức sâu sắc về quyền của mình, và “vỡ lẽ” về những dối lừa. Đây chính là một cách khai dân trí. Và nó đòi hỏi lòng kiên nhẫn, tâm thế trường viễn và sự bền bỉ trong hành trình khai phát các giá trị cho một cộng đồng còn nhiều rối loạn và mù mờ.

  1. Chính quyền chỉ thay đổi khi người dân thay đổi.

Nghĩa là từng người dân sẽ phải ý thức về trách nhiệm của mình trước các sự hành xử của chính quyền. Việc chạy theo sự kiện có thể sẽ là bất tận và chẳng mang lại một hiệu quả thật sự nào cả nếu nó chỉ thuần túy để xả cái ẩn ức bất bình hay tệ hơn, một thói quen.

Nhưng sẽ là hữu ích khi ta gắn việc lên tiếng về những sự kiện ấy một cách có ý thức với việc chỉ ra những sai lầm trong quản trị và đánh thức dân chúng. Nhìn ở góc độ này, việc “chạy theo sự kiện” sẽ trở thành một phương tiện, một cách thức hợp lý cho quá trình khai dân trí. Khi 1/3 dân số đã trưởng thành thì một cuộc thay đổi mới có thể diễn ra, và kết quả của nó mới bền vững và tươi sáng. Một dân chúng u mê làm “cách mạng” thì dân tộc ấy bất hạnh.

Tôi chỉ có một hi vọng rằng, những người đang mong muốn về một thay đổi triệt để cho tương lai hưng thịnh của đất nước và hạnh phúc ấm êm của dân Việt sẽ giữ được sự kiên trì và thường trực cái ý thức khai trí ấy.

Ngăn chính quyền làm bậy chỉ là phụ, nâng cao dân trí mới là chủ đạo. Xin đừng nói rằng, họ (dân) biết cả đấy, vấn đề là họ chỉ biết rồi để đó chứ không hành động, nên nói lắm cũng bằng thừa. Xin thưa, không có mấy người thật sự “biết” một cách đúng nghĩa đâu, có chăng phần lớn là những bất mãn mơ hồ được nuôi lớn trong một cực đoan do thiếu nền tảng văn hóa.

Nguồn: Thái Hạo

ĐỐT SÁCH – Nguyễn Ngọc Chính

Anh Tran–Tao Hoang

Nguyễn Ngọc Chính

“Nơi nào người ta đốt sách thì họ sẽ kết thúc bằng việc đốt sinh mạng con người”.

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, thừa tướng Lý Tư đã đề nghị dẹp bỏ tự do ngôn luận để thống nhất chính kiến và tư tưởng. Lý Tư chỉ trích giới trí thức dùng ‘sự dối trá’ qua sách vở để tạo phản trong quần chúng.

Chủ trương Đốt sách, Chôn nho (Phần thư, Khanh nho) của Tần Thủy Hoàng được thực hiện từ năm 213 trước Công nguyên. Qua đó, tất cả những kinh điển từ thời Chư tử Bách gia (trừ sách Pháp gia, trường phái của Lý Tư) đều bị đốt sạch. Lý Tư còn đề nghị đốt tất cả thi, thư, sách vở, trừ những quyển được viết vào thời nhà Tần. Sách trong lĩnh vực triết lý và thi ca, trừ những sách của Bác sĩ (cố vấn nhà vua) đều bị đốt. Những nho sinh dùng sử sách để chỉ trích chính quyền đều bị hành hình. Những ai dựa vào chế độ cũ để phê phán chế độ mới sẽ bị xử tội chém ngang lưng.

Lý Tư tấu: “Thần xin rằng sử sách không phải do Tần ghi chép đều bị đem đốt. Ngoại trừ quan chức không phải là tiến sĩ thì trong thiên hạ không ai được phép cất giữ Thi, Thư, sách của Bách gia, tất cả đều phải đem đốt. Nếu dám dùng những lời ngụ ngôn trong Thi, Thư thì chém bêu đầu ở chợ. Lấy xưa mà chê nay thì giết cả họ. Quan lại thấy mà không tố cáo sẽ bị coi là đồng phạm. Nay lệnh trong ba mươi ngày mà không đem đốt, sẽ bị xăm mặt và bắt đi xây dựng trường thành”.

Năm 212 TCN, Tần Thuỷ Hoàng phát hiện ở Hàm Dương có một số nho sinh đã từng bình phẩm về mình liền hạ lệnh bắt để thẩm vấn. Các nho sinh không chịu nổi tra khảo, lại khai ra thêm một loạt người khác. Tần Thuỷ Hoàng hạ lệnh đem tất cả trên 460 nho sinh đó chôn sống ngoài thành Hàm Dương. Đốt sách, chôn Nho là hành vi được người đời sau coi là tàn bạo nhất của Tần Thủy Hoàng. Đó cũng là tội danh hàng ngàn năm sau vẫn còn ghi nhớ. Không riêng gì người Hán mà cả nhân loại lên án.

Trong thâm tâm, Tần Thủy Hoàng cũng như Lý Tư đều biết rất rõ, lệnh đốt sách không thể nào xóa sạch những tư tưởng trong đầu óc dân chúng, những cuốn sách ‘khó đốt’ nhất là nằm trong tinh thần con người. Như vậy, việc đốt sách thực tế chỉ là một thủ đoạn chứ không tạo được tác dụng triệt để trong việc xóa sạch vết tích văn hóa-chính trị như mong muốn.

***

Việt Nam vốn tự hào là quốc gia có hơn 4000 năm văn hiến, nhưng sách vở của người xưa để lại thì rất ít. Nguyên nhân chính là vì quân nhà Minh bên Tàu đã ra lệnh hủy hết sách vở ngay trong những ngày đầu đô hộ nước ta để dễ bề cai trị. Sau này, cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Hoa từ năm 1953 đến 1966 cũng đã gây nhiều ảnh hưởng đến miền Bắc. Do đó, xét về mặt lịch sử, Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kỳ sách vở bị tiêu hủy cho phù hợp với những thay đổi qua các giai đoạn chính trị.

Trên thực tế, tại miền Bắc, ngay sau khi tiếp quản Hà Nội, việc kiểm duyệt sách báo, bài viết trước khi đem phổ biến ra công chúng đã được thực hiện ngay từ năm 1954. Đối với các loại sách báo đã in ra từ trước 1954 dưới thời Pháp thuộc cũng đã bị đốt. Thế cho nên, việc đốt sách tại miền Nam năm 1975 chỉ là rập khuôn của chính sách cũ năm 1954.

Hồi ký của Một người Hà Nội ghi lại sự kiện đốt sách năm 1954 khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc: “Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường”.

*

Tại miền Nam, trong thời điêu linh ngay sau ngày 30/4/1975, việc đốt sách được thể hiện qua chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động. Tự bản thân khẩu hiệu trong chiến dịch đã nêu rõ 2 mục đích: (1) về chính trị, bài trừ các luồng tư tưởng phản động chống đối chế độ và (2) về văn hóa, xóa bỏ hình thức được coi là ‘đồi trụy theo hình thức tư bản’.

Một trong những việc làm cấp thiết của chính quyền mới khi miền Nam sụp đổ là niêm phong, tịch thu sách tại các thư viện. Những tác phẩm của nhà in, nhà xuất bản và nhà sách lớn tại Sài Gòn như Khai Trí, Sống Mới, Độc Lập, Đồng Nai, Nam Cường, Trí Đăng… đều bị niêm phong và cấm lưu hành.

Đội ngũ những người cầm bút miền Nam phải nói là rất đông và bao gồm nhiều lãnh vực. Về triết học phương Tây có Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan… Triết Đông có Nguyễn Đăng Thục, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Khắc Kham, Nghiêm Toản, Kim Định, Nhất Hạnh…

Phần biên khảo có Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Đức, Lê Văn Lý, Trương Văn Chình, Đào Văn Tập, Phạm Thế Ngũ, Vương Hồng Sển, Thanh Lãng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Văn Xuân, Lê Tuyên, Đoàn Thêm, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Bạt Tụy, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Văn Sâm…

Về thi ca có Nguyên Sa, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử Lê…. Phê bình văn học có Tam Ích, Cao Huy Khanh, Lê Huy Oanh, Đỗ Long Vân, Đặng Tiến, Uyên Thao, Huỳnh Phan Anh…

Đông đảo nhất là văn chương với Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc, Mặc Thu, Mặc Đỗ, Thanh Nam, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Phan Du, Đỗ Tấn, Nguyễn Mạnh Côn, Sơn Nam, Võ Hồng, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Đình Toàn, Chu Tử, Viên Linh, Duyên Anh, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Vũ Hạnh, Y Uyên, Cung Tích Biền, Duy Lam, Thế Uyên, Lê Tất Điều, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang, Nguyễn Thụy Long, Phan Lạc Tiếp, Thế Nguyên, Thế Phong, Diễm Châu, Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh…

Toàn bộ sách ấn hành tại miền Nam của những tác giả nêu trên (còn một số người nữa mà người viết bài này không thể nhớ hết) đều bị ‘đánh đồng’ là tàn dư Mỹ-Ngụy, văn hóa nô dịch, phản động và đồi trụy. Các cấp chính quyền từ phường, xã, quận, huyện, thành phố ra chỉ thị tập trung tất cả các loại sách vở, từ tiểu thuyết, biên khảo cho đến sách giáo khoa để hỏa thiêu.

Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc. Tại các cửa hàng kinh doanh, sách báo bị thu gom để thiêu hủy, coi như đốt cháy cả cơ nghiệp lẫn con người những cá nhân có liên quan. Tất nhiên, những người có sách bị đốt cũng có phản ứng quyết liệt. Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long ghi lại một diễn biến trong vụ đốt sách năm 1975:

“Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhâp tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu, có kẻ mạng vong. Những chú nhỏ miệng còn hôi sữa, những cô bé chưa ráo máu đầu là nạn nhân vô tội. Trên cánh tay còn đeo tấm băng đỏ, quả thật súng đạn vô tình! Cả chủ tiệm cũng mạng vong”.

Nguyễn Thụy Long là cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học nổi tiếng với câu “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Những tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Long như Loan mắt nhung, Kinh nước đen cũng gian truân không kém cuộc đời của tác giả, chúng được xếp vào loại ‘văn hóa nô dịch’ nên phải lên giàn hỏa.

Năm 1975, Duyên Anh (Vũ Mộng Long) bị chính quyền mới coi như ‘một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của miền Nam’ với hơn 50 tác phẩm văn chương, trong đó nổi bật có Luật hè phố, Dzũng Đakao, Điệu ru nước mắt, Vẻ buồn tỉnh lỵ, Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy. Chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung.

Vượt biển sang Pháp, Duyên Anh tiếp tục viết và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó có Un Russe à Saigon và La colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư Đại học Sorbonne, coi Duyên Anh là ‘nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia’.

Đầu năm 1997, Duyên Anh từ trần tại Pháp. Dù muốn dù không, nhiều người ngậm ngùi nghĩ đến tác giả của truyện ngắn đọc đến mủi lòng, có tựa đề là Con sáo của em tôi đăng trên Chỉ Đạo năm 1956. Những truyện ngắn, truyện dài thật trong sáng của tuổi ô mai như Dưới dàn hoa thiên lý hoặc du côn du đãng như Dzũng Dakao… Tất cả lần lượt được hóa kiếp bằng ngọn lửa.

Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng xuất bản sau năm 1975 có đoạn viết:

“… Một số người như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống Cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ.

Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống Cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa Cộng Sản…

Họ cho văn nghệ là sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện để đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là ‘viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ’, Doãn Quốc Sĩ coi mình như một ‘viên kim cương, răng Cộng Sản không sao nhá được’…”

Trong vụ án được mệnh danh là Những tên Biệt kích Cầm bút năm 1986, một số nhà văn ra tòa tại Sài Gòn với tội ‘gián điệp’. Chính quyền mới muốn dựng một vụ án điển hình để đe dọa các nhà văn miền Nam nhưng bất thành vì áp lực từ bên ngoài. Theo kịch bản được dàn dựng, họ muốn xử Doãn Quốc Sĩ mức án tử hình hay chung thân, Hoàng Hải Thủy (từ chung thân đến 20 năm), Dương Hùng Cường (18 năm), Lý Thụy Ý (15 năm), Nguyễn Thị Nhạn (12 năm), Hiếu Chân Nguyễn Hoạt (10 năm) và Khuất Duy Trác cùng Trần Ngọc Tự (8 năm).

Tính ra Hoàng Hải Thủy (còn có bút danh Công tử Hà Đông, Con trai bà Cả Đọi…) ngồi tù ngót nghét 10 năm sau đó tìm đường vượt biên sang Mỹ. Tác phẩm của ông gồm đủ thể loại: tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên các báo, truyện phóng tác, bình luận, phiếm luận… Bây giờ tuy đã già nhưng vẫn còn viết rất hăng ở Rừng Phong.

Những nhà văn như Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long thường sinh sống bằng nghề viết báo bên cạnh việc viết văn. Trong lãnh vực báo chí, Sài Gòn vẫn được coi là trung tâm của báo chí với những nhật báo lớn đã xuất hiện từ lâu như tờ Thần Chung (sau đổi thành Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai), Sài Gòn Mới của bà Bút Trà… Khi người Bắc di cư vào Nam có thêm tờ Tự Do, tiếp đến là Ngôn Luận. Đó là những nhật báo lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Hoạt động báo chí ở Saigòn càng ngày càng phát triển, theo Vũ Bằng, đến tháng 12/1963, ở Sài Gòn có tới 44 tờ báo ra hàng ngày.

Một đặc điểm của văn học miền Nam là việc hình thành các nhóm văn học. Nhóm Quan Điểm do Vũ Khắc Khoan thành lập với Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ. Quan Điểm (cũng là tên nhà xuất bản do Mặc Đỗ điều hành) được người đương thời gọi là nhóm ‘trí thức tiểu tư sản’, bởi tác phẩm của họ, trong những ngày đầu chia cắt đất nước sau hiệp định Genève, thường có những nhân vật mang nỗi hoang mang, trăn trở của người trí thức tiểu tư sản trước ngã ba đường: theo bên này, bên kia, hay đứng ngoài thời cuộc?

Theo Trần Thanh Hiệp, nhóm Sáng Tạo là một nhóm sinh viên hoạt động trong Tổng hội sinh viên Hà Nội, trước 1954, gồm bốn người: Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và Trần Thanh Hiệp. Di cư vào Sài Gòn, họ tiếp tục hoạt động văn nghệ với tuần báo Dân Chủ (do Trần Thanh Hiệp và Thanh Tâm Tuyền phụ trách), rồi tờ Người Việt (tiền thân của tờ Sáng Tạo). Sau đó Mai Thảo gia nhập nhóm với truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, rồi đến Lữ Hồ, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Quách Thoại.

Trên tạp chí Sáng Tạo, ngoài những tên tuổi kể trên người ta còn thấy Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, họa sĩ Thái Tuấn. Sáng Tạo số đầu ra tháng 10/1956 và tạm ngưng ở số 27 (tháng 12/58). Sáng Tạo bộ mới chỉ đến số 7 (tháng 3/62).

Nhóm Bách Khoa ra đời tháng 1/1957 và sống đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Bách Khoa là nguyệt san văn học nghệ thuật có tuổi thọ dài nhất với 426 số. Bách Khoa do Huỳnh Văn Lang điều hành trong những năm đầu. Đến 1963, khi Ngô Đình Diệm đổ, Huỳnh Văn Lang bị bắt, bị tù, nên giao hẳn cho Lê Ngộ Châu.

Bách Khoa quy tụ được nhiều tầng lớp nhà văn khác nhau thuộc mọi lứa tuổi. Những cây bút nổi tiếng cộng tác thường xuyên với Bách Khoa là Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, Nguyễn Ngu Ý, Vũ Hạnh, Võ Hồng, Đoàn Thêm, Nguyễn Văn Xuân, Bình Nguyên Lộc…. Theo Võ Phiến, trong thời kỳ cực thịnh, tức là khoảng 1959-1963, mỗi số Bách Khoa bán được 4500 đến 5000 bản.

Đắt khách nhất là tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng, ra đời ngày 1/1964 và sống đến 1975. Văn do Trần Phong Giao trông nom trong 10 năm đầu, đến 1974 chuyển lại cho Mai Thảo. Văn cũng quy tụ được nhiều nhà văn ở nhiều lứa tuổi thuộc nhiều khuynh hướng, từ Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền đến Thế Uyên, Nguyễn Mạnh Côn, Bình Nguyên Lộc… Văn đặc biệt quan tâm đến việc dịch thuật và giới thiệu văn học nước ngoài. Trần Phong Giao cũng là một dịch giả nổi tiếng, còn có thêm Trần Thiện Đạo, sống ở Paris, dịch và viết về những phong trào văn học đang thịnh hành ở Pháp.

Tạp chí Văn hoá Ngày nay của Nhất Linh ra đời ngày 17/6/1958, được 11 số thì đình bản. Nguyễn Thị Vinh tiếp tục chủ trương tiếp các tờ Tân Phong, Đông Phương, theo chiều hướng Văn hoá Ngày nay.

Tạp chí Đại học, tờ báo của Viện đại học Huế do Linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng, làm chủ nhiệm, ra đời năm 1958 ở Huế, và sống đến năm 1964. Trên Đại học, xuất hiện những bài đầu tiên của Nguyễn Văn Trung, người sau này có ảnh hưởng lớn đến thế hệ sinh viên và trí thức.

Về các nhóm, Viên Linh trong cuốn Chiêu niệm văn chương, cho biết: “Các nhà văn xuất hiện thường xuyên, trên nhật báo, qua các nhà xuất bản, nhất là trên các báo định kỳ, và thành từng nhóm. Lý lịch văn chương và sắc thái địa phương của họ rất tương đồng, tùy theo nhóm tạp chí trên đó họ góp mặt”.

Đa số các nhà văn miền Nam qui tụ trên các tờ tuần báo Đời Mới, Nhân Loại, và nhật báo như Tiếng Chuông, Sàigon Mới (Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Kiên Giang, Lưu Nghi, Thẩm Thệ Hà, Trang Thế Hy…). Các nhà văn gốc miền Trung xuất hiện trên tờ Văn Nghệ Mới, Bách Khoa (Võ Thu Tịnh, Nguyễn Văn Xuân, Võ Phiến, Đỗ Tấn, Vũ Hạnh, Bùi Giáng, Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại (Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường…

Khuynh hướng Phật giáo có các tờ Tư Tưởng, Vạn Hạnh với Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Hữu Hiệu; khuynh hướng Thiên chúa giáo La mã có Hành Trình, Đối Diện với Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Diễm Châu, Thế Nguyên. Mặc dù khi đó đảng Cộng Sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, song các nhà văn theo Cộng Sản như Nguyễn Ngọc Lương, Minh Quân, Vũ Hạnh vẫn tạo được diễn đàn riêng trên Tin Văn hay hiện diện trong tổ chức Văn Bút dưới thời linh mục Thanh Lãng làm chủ tịch.

Những tờ như Văn, Phổ Thông, Văn Học, qui tụ các nhà văn không có lập trường chính trị rõ rệt, họ thuần túy làm văn thơ cổ điển như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Vỹ, Bùi Khánh Đản, hay văn nghệ thời đại, sinh hoạt thành phố như Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng. Những tờ về nghệ thuật hay về phụ nữ quy tụ các nhà văn như Tùng Long, An Khê, Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang…

Về giới cầm bút sau 1963, Nguyễn Văn Trung viết: “Giới cầm bút sau 1963, họ là những người hồi 1954 trên dưới mười tuổi theo gia đình vào Nam hoặc sinh trưởng và lớn lên ở miền Nam hầu hết có tú tài và tốt nghiệp đại học. Số lượng giới trẻ cầm bút này càng ngày càng đông đảo theo đà thành lập các đại học ở các tỉnh Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh và các đại học tư ở Sàigòn như Vạn Hạnh, Minh Đức…”

Những nhà văn trẻ đã trưởng thành về tuổi đời và nhận thức sau 1963, trong hoàn cảnh nhiều xáo trộn chính trị-xã hội, chiến tranh mở rộng với sự can thiệp ồ ạt của quân đội nước ngoài. Thời cuộc và chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến họ vì bị động viên hay quân dịch… Do đó, họ có lối nhìn thời cuộc đất nước và nghệ thuật văn học khác hẳn với lối nhìn của những đàn anh viết từ trước 1963… Thơ văn giới trẻ viết sau 1963 thường theo một xu hướng chung, phản ánh vũ trụ Kafka, như tên đặt cho một số đặc biệt về thơ văn của Hành Trình, hoặc phản ánh thân phận những nhân vật Việt Nam tương tự những nhân vật trong tiểu thuyết Giờ thứ hai mươi lăm của Gheorghiu.

Nhờ hệ thống báo chí phát triển, quần chúng độc giả bao gồm nhiều thành phần trong khi các nhà văn nổi tiếng như Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc, Túy Hồng, Nhã Ca, Duyên Anh, Chu Tử, Thanh Nam… đều sống bằng ngòi bút một cách dư giả. Họ là những người viết chuyên nghiệp, thậm chí nhiều nhà văn có nhà xuất bản riêng.

Nguyễn Hiến Lê trong 30 năm biên khảo và dịch thuật đã viết được 100 quyển sách trước 1975, và 20 cuốn thời gian sau đó. Nguyễn Văn Trung, ngoài lượng sách về triết học, văn học, in trước 1975, trong những công trình sau 1975, có bộ Lục Châu Học, nghiên cứu về văn học miền Lục tỉnh Nam Kỳ. Những nhà văn như Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo… cũng đều có những số lượng tiểu thuyết trên dưới 30 cuốn. Về sáng tác, số lượng tỷ lệ nghịch với chất lượng và đó là cái giá mà nhà văn phải trả.

Về đối tượng độc giả, có thể nói, lớp trẻ ‘bụi đời’ thích đọc Duyên Anh, lớp sống vũ bão thích Chu Tử. Phụ nữ thích Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca vì họ phản ảnh đời sống người phụ nữ tân tiến. Lớp trí thức thích cách đặt vấn đề của Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng. Lớp trẻ lãng mạn giao thời thích đọc Mai Thảo. Tuy nhiên, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu là những tác giả đòi hỏi người đọc một trình độ trí thức cao. Quần chúng bình dân thích Lê Xuyên, Tùng Long… Học sinh trường Tây đọc văn chương ngoại quốc qua tiếng Pháp, tiếng Anh. Học sinh trường Việt đọc các tác phẩm ngoại quốc qua bản dịch hoặc phóng tác.

Bộ sách Văn Học Việt Nam Nơi Miền Đất Mới của Nguyễn Q. Thắng xuất bản sau năm 1975 có đề cập tới 53 ‘văn gia’ của VNCH, mỗi người được tác giả gắn cho một nhãn hiệu. Chẳng hạn, Nguyễn Văn Trung là ‘nhà văn nhập cuộc’, Cao Xuân Hạo ‘nhà lập thuyết ngữ học’, Nguyễn Ngọc Lan ‘nhà văn Công giáo, nhà báo dấn thân’, Thanh Việt Thanh (?) ‘nhà văn cần cù’, Thế Uyên ‘nhà văn nhập cuộc’, Viên Linh ‘hoàng đế’, ‘nhà độc tài’ văn học’ (!?), Hồ Trường An ‘dược sĩ (?), nhà văn’…

Những nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thụy Vũ được khoác cho cái nhãn ‘nhà văn nữ giầu tình dục’, Túy Hồng ‘nữ văn sĩ giầu tính nhục cảm’, Nguyễn Thị Hoàng ‘nhà văn trẻ của tình lụy’, Thu Vân (?) ‘nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề’…

Một điều không ai có thể phủ nhận là miền Nam trước khi có chiến dịch đốt sách năm 1975 rất phong phú về sách báo, từ sáng tác đến dịch thuật, từ chính luận đến phiếm luận. Điều chắc chắn là trong số các tác phẩm đó ‘có vàng’ nhưng cũng ‘có thau’. Người đọc đủ sáng suốt để lọc ra những gì với họ là tinh túy để giữ lại, hoặc dấu nếu cần.

Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ rất ngạc nhiên khi thấy những người đạp xe xích lô đến buổi trưa, tìm chỗ mát nghỉ ngơi. Họ ngồi gác chân đọc nhật trình. Người bình dân miền Nam có truyền thống đọc sách báo mà ở ngoài Bắc không có. Ngay từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 miền Nam đã là vùng đất của tiểu thuyết và báo chí trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học.

Miền Nam vào những thập niên 60-70 lại có hiện tượng giao thoa giữa hai nền văn hóa Pháp và Mỹ với sự du nhập ồ ạt của các loại sách Livre de poche của Pháp và các loại sách soft cover của Mỹ. Giá sách nói chung tương đối rẻ vì mục đích chính là phổ biến văn hóa, thương mại chỉ là phụ.

Người đọc có thể tìm loại sách IC (Information & Culture) dưới hình thức sách bỏ túi (Livre de Poche) của Pháp bày bán tại các nhà sách Sài Gòn trước 1975 một cách dễ dàng. Nếu có chút vốn liếng về tiếng Pháp, người ta có thể tìm đọc những tác phẩm cổ điển của Platon, Homère hoặc các tác phẩm đương đại của Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Saint Exupéry, Francoise Sagan…

Quân đội Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền Nam, nhưng văn hoá Mỹ có vai trò áp đảo hay không? Theo giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, “Thời chiến tranh lạnh, với thế lưỡng cực trên thế giới, miền Nam nằm trong vùng ảnh hưởng Mỹ, và như vậy là có thêm tác nhân mới. Tuy nhiên, văn hoá Mỹ, theo gót đoàn quân viễn chinh, cũng chưa thể gọi là có ảnh hưởng gì sâu đậm. Ở lối sống, ở những giai tầng thấp thì có thể gọi là có ảnh hưởng một cách xô bồ, nhưng ở thượng tầng thì chưa”.

Hoa Kỳ thành lập cơ quan thông tin-văn hóa JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office) và tạp chí Thế giới Tự do được phát hành miễn phí cho mục đích tuyên truyền. Đây là báo ảnh, được in ấn bằng phương tiện tối tân nên rất hấp dẫn người đọc.

Cũng có một nguồn cung cấp sách tiếng Anh hoàn toàn miễn phí nhưng rất ít người biết để đem về kệ sách riêng của mình. Đó là sách của Asia Foundation (Cơ quan Viện trợ Văn hóa Á Châu) một tổ chức phi mậu dịch, tặng không cho người đọc là quân nhân, công chức với số lượng hạn chế mỗi lần 5 quyển cách nhau 3 tháng.

Tôi là ‘khách hàng’ thường xuyên của Asia Foundation. Sách của Asia Foundation là loại sách viện trợ thuộc đủ mọi lĩnh vực, trên sách có đóng dấu bằng 2 thứ tiếng “Not for sale” và “Xin đừng bán”. Nếu gặp may, bạn có thể gặp những sách thuộc loại ‘quý, hiếm’.

Tôi còn giữ được một bộ 2 cuốn World Masterpieces (dày khoảng 3000 trang in lại những kiệt tác văn chương của thế giới qua các thời kỳ như Iliad của Homer, Don Quixote của Miguel de Cervantes, Hamlet của William Shakespeare, Thoughts (Les Pensées) của Blaise Pascal, Faust của Von Goethe, The Death of Iván Ilyich của Leo Tolstoy, Theseus (Thésée) của Andre Gide, Remembrance of Things Past của Marcel Proust, No Exit của Jean-Paul Sartre…

Một số sách xuất bản ở miền Nam trước 1975 nay đã được in lại, và càng ngày càng có một nhu cầu muốn tìm hiểu và phục hồi lại nền văn học đã mai một này. Hơn nữa, tên tuổi và tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng ở miền Nam đã xuất hiện khá nhiều trên Internet. Sau 1975, Từ điển văn học bộ mới cũng được phép in một số mục từ về Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng…

Chỉ tiếc một điều là một số sách báo xưa đã biến mất sau đại họa 1975 và chỉ còn lưu giữ rất hạn chế tại các thư viện tại hải ngoại dưới hình thức microfilm. Rồi người ta cũng quên đi ‘bữa tiệc BBQ’ nhưng vấn đề là những thế hệ sau này sẽ mất hẳn sợi dây liên lạc bằng sách báo với quá khứ.

Kết thúc bài viết này, tác giả xin mượn ý thơ của Vũ Đình Liên than thở cho thân phận ông đồ trước cảnh tàn lụi của nền nho học:

Năm nay đào lại nở

Không thấy sách báo xưa

Ngọn lửa nào năm cũ

Lạc về đâu bây giờ?

Hoa Kỳ chính thức gia nhập trở lại UNESCO

RFI

Bất chấp sự phản đối của Trung Quốc và Nga, Hoa Kỳ đã chính thức gia nhập trở lại UNESCO, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc, vào thứ Sáu 30/06/2023, sau hơn 4 năm vắng bóng tại định chế quốc tế này.

Đăng ngày: 01/07/2023

Tổng giám đốc UNESCO Audrey Azoulay thông báo Hoa Kỳ xin được quay trở lại tổ chức. Paris, Pháp, ngày 12/06/2023. AFP – ALAIN JOCARD

Thùy Dương

AFP cho biết trong số 193 nước thành viên UNESCO, 15 nước bỏ phiếu trắng và 10 nước phản đối, nhưng 132 nước đã bỏ phiếu ủng hộ việc trở lại của Mỹ. Phát biểu với AFP, Denise Bauer, đại sứ Mỹ tại Pháp, nước đặt trụ sở UNESCO, khẳng định : « Chúng tôi thực sự hài lòng về sự hỗ trợ này. (…) Việc tham gia tổ chức đa phương này quan trọng đến mức chúng tôi rất vinh dự được gia nhập trở lại » UNESCO.

Về phía tổng giám đốc UNESCO, bà Audrey Azoulay nhấn mạnh : « Đây là một ngày quan trọng, một thời điểm lịch sử ».

Bên cạnh Trung Quốc và Nga, một số nước như Iran, Syria, Bắc Triều Tiên … cũng phản đối sự gia nhập trở lại của Mỹ. Riêng phái đoàn Nga đã nhiều lần phát biểu về thủ tục và về bản dự thảo nhằm làm chậm các cuộc tranh luận về sư trở lại của Washington. Một nhà ngoại giao Nga tuyên bố Mỹ đã làm « méo mó, biến dạng không gian này », rằng « những người bảo vệ nền dân chủ và pháp quyền đang bắt đầu dẫn chúng ta đến việc vi phạm các quy tắc này », đồng thời đòi hỏi Mỹ phải thanh toán đầy đủ các khoản nợ UNESCO trước khi tái gia nhập tổ chức này, trong khi Washington đề xuất trả nợ dần dần.

Iran thì xem « cách Mỹ đòi trở lại là không thể chấp nhận được » vì giống như việc « vi phạm tinh thần Hiến chương » của tổ chức UNESCO.

Xin nhắc lại, dưới thời tổng thống Mỹ Donald Trump, vào năm 2017, Washington đã rút khỏi UNESCO với lý do tổ chức này thiên vị, chống Israel. Quyết định của Mỹ chính thức có hiệu lực từ tháng 12/2018. Israel khi đó cũng tuyên bố rút khỏi UNESCO.

Du học sinh: “Đi đi, đừng về”

Du học sinh: “Đi đi, đừng về”

Tác Giả:  Đàn Chim Việt

“Góc nhìn Việt Nam: ‘Đi Mỹ được rồi, về làm gì?

Tôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc 4 năm Đại học, tôi muốn về Việt Nam. Nhưng ai cũng ngăn cản: ‘Đi đi, đừng về!’

***

Bố mẹ tôi làm trong ngành y. Hai người bắt đầu nói về chuyện du học và định cư tại Mỹ khi tôi mới học 11. Mẹ thường hay kể công việc hằng ngày tại bệnh viện, để tôi hiểu lời hối thúc ‘đừng về Việt Nam’ bắt nguồn từ 20 năm sống trong bức xúc của mẹ: ‘Bệnh viện của mẹ có một bác giám đốc lên chức từ những năm 80. Kể từ đó, bác đã cho không biết bao nhiêu họ hàng từ Bắc, Trung vào làm hộ lý, điều dưỡng, kỹ thuật viên,… Với ‘quyền lực mềm’ của giám đốc, bác chỉ nói một tiếng, có anh trưởng khoa nào không dám nhận người? Toàn con ông cháu cha. Còn những sinh viên chính quy, nắm tấm bằng Đại học, phải trầy trật khổ sở để được bước chân vào cổng viện. Không chỉ ở đây, mà bất cứ nơi đâu tại Việt Nam này cũng có ‘quyền lực mềm’ giống thế hoặc hơn thế. Nhiễu nhương lắm. Hách dịch lắm. Về làm gì hả con?’

***

Khi không thuyết phục được tôi, ba mẹ viện đến dì. Dì bảo: ‘Dì hiểu là con muốn về Việt Nam để cống hiến. Nhưng, ở nơi này, tài năng của con không có cơ hội phát triển. Tìm cách định cư đi. Khi đã có kinh tế, con muốn làm gì cho quê hương mà chẳng được!’ Không chỉ bố mẹ, dì, mà các bác đang sống ở Mỹ đều đồng ý với quan điểm ấy.

Lăng kính Mỹ: ‘Lý do nào để quay về quê hương?’

Trong vòng tròn bạn bè của tôi, chỉ ra ai không muốn về Việt Nam thì rất dễ. Còn tìm người quyết tâm trở lại thì thật khó khăn. Nhiều bạn lưỡng lự, không ai dám chắc chắn hai chữ: ‘Sẽ về!’

Tôi có một cô bạn thân đang học ngành Công nghệ thực phẩm. Cô bảo: ‘Ngành mình học, về nước không xài được. Còn đường ở Canada thì rộng mở. Mình không muốn trở về để chật vật kiếm một chỗ làm sau 4 năm vất vả!’ Một người bạn khác chia sẻ: ‘Từ lúc quyết tâm theo đuổi sự nghiệp sản xuất âm nhạc, mình đã biết. Tại Việt Nam, mình sẽ không làm được.’ Một chị theo học kinh tế thì bảo: ‘Đơn giản chị không muốn!’ Chị đang đi thực tập rất nhiều nơi, kiếm tìm một chỗ tài trợ visa cho mình. Anh bạn học kỹ sư hóa, vừa apply thạc sĩ thành công nói với tôi: “Anh thích nghiên cứu khoa học, Việt Nam sao có đất cho anh? Về ư? Anh không thể.” Những thằng Mỹ thì hỏi thẳng vào mặt tôi: ‘Tụi mày từ Việt Nam đến đây học, thụ hưởng văn hóa của tụi tao, thụ hưởng cả những đồng tiền bố mẹ tao còng lưng đóng thuế. Học xong mày phủi tay quay về nước, thế thì có công bằng với tụi tao hay không?’

Giữa dòng ý kiến ‘Đi đi, đừng về!’ dữ dằn như thác lũ đẩy tôi lùi lại, tôi nhìn về quê hương, cố gắng tìm một lý do cho mình quay lại. Nhưng tìm hoài mà không thấy. Chưa bao giờ sách giáo khoa nói về những cái cúi đầu của chúng tôi trên đất Mỹ, vì nỗi tự ti quê hương thua kém hơn, mà chỉ bảo: ‘Nước ta rừng vàng biển bạc.’ Chưa bao giờ chúng tôi được dạy về ‘trách nhiệm công dân’. Chúng tôi chỉ học ganh đua điểm số, chứ không học cách cùng nắm tay nhau mà đi xây dựng đất nước. Chưa bao giờ bố mẹ nói tôi phải có trách nhiệm với Việt Nam, mà chỉ nói: ‘Đừng về để dẫm vào đường cụt. Trên mảnh đất này, người tài không có cơ hội. Vì tương lai của con, hãy đi đi’.

Việt Nam ơi, người có cho tôi một lý do để trở về?.

(Tâm sự của một du học sinh Mỹ trong dịp hè về thăm Việt Nam).

 Nguồn Facebook