“Anh ngâm nga, để mở rộng cửa lòng,”

Suy tư tuần thứ I mùa Chay, năm C, cũng có giòng chảy, cứ thường bảo:
“Anh ngâm nga để mở rộng cửa lòng”
Mở rộng rồi, cả anh và em, cả dân con Hội thánh lại nghĩ suy về câu hát:
“Đau! Từ đáy trái tim, ta buồn đau…”
Thế tức là, dù có “ngâm nga”, “mở rộng cửa lòng”, rồi lại thấy đau từ đáy lòng, cũng rất buồn.
Sự  thật thì, có đau hoặc có buồn, cũng đâu phải ý/lời của nhà Đạo mình ở
mùa Chay. Chay mùa tâm tịnh vẫn là dịp để tâm cho thật tịnh, dù rất đau
hoặc có mở rộng lòng, với ai đó.
Thế đó, là tâm tình xin được gửi đến người anh, người chị ở thánh hội, rất hôm nay. Một mùa Chay.
Mai Tá

“Anh ngâm nga, để mở rộng cửa lòng,”

“Cho trăng xuân tràn trề, say chới với.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Lk 4: 1-13

Lời anh ngâm, chẳng là thi ca tràn trề, say chới với. Để mở rộng cửa lòng, của ai đây? Điều em học, vẫn là Lời Vàng Chúa nói ở trình thuật, để cửa lòng mở rộng đón Chúa hôm nay.

Lời vàng trình thuật, là Lời Kinh Sách được thánh sử dẫn giải về việc Chúa chịu thử thách những 3 lần. Thử thách Ngài chịu nơi sa mạc 40 đêm ngày, tưởng chừng dài. Nhưng thật ra, số 40 chỉ là biểu tượng rất đặc trưng thôi. Nói đúng hơn, thử thách ấy công khai kéo dài cả  một đời Ngài sinh hoạt, vì con người. Thử thách suốt một đời, vào mọi lúc, mãi đến ngày Ngài đầm mình những mồ hôi và máu trên thập giá ở Calvariô. Thử thách Ngài chịu, mang hình thức mê hoặc về những gì mình sống, hoặc như một khuyến dụ hãy làm những chuyện rất “rối” mà tự bản chất chuyện ấy cũng không tệ.

Thử thách lớn Chúa chịu, là: tỏ cho mọi người biết Ngài là Đấng Mêsia. Điều không chắc, là thử thách đề ra cho Ngài, có như chọn lựa thực tiễn không? Hay, vẫn chỉ là cung cách thánh sử kể với người đọc về những gì nói thay cho Đấng Mêsia thời buổi đó và như thế, sẽ đánh bóng cả một diễn biến hoàn toàn khác việc Chúa đã đảm nhiệm.

Là Đấng Mêsia, có ba thử thách để
thực hiện. Thứ nhất, tham gia cuộc chiến đấu giành quyền lực với đế quốc La Mã;
tức: thử thách chính với chúng dân thời buổi đó, do quyền uy thế lực rày trải
rộng khắp dân gian, loài người. Thử thách, là thách thức Đấng Mêsia thi đua với
La Mã để rồi chính mình sẽ trở thành Hoàng đế, toàn thế giới.

Thử thách tiếp, là giải quyết khó
khăn của người nghèo cùng những người vẫn cứ đói do đế quốc tạo ra. Thử thách
này, còn là sức cám dỗ/khuyến dụ người chịu đựng phải giải quyết kinh tế, tạo
cuộc sống lành mạnh cho mọi người. Và, thử thách cuối, là khuyến dụ bản thân
mỗi người và mọi người hãy cứ “mũ ni che tai” với mọi chuyện; chỉ nên lo việc
thiêng liêng, đọc kinh lần chuỗi để rồi Chúa sẽ giải quyết hết mọi sự từ trên
xuống dưới, trong ra ngoài. Đó là “thử thách” gặp ở Tin Mừng thánh Mátthêu.

Thử thách thứ ba ở Tin Mừng Mátthêu
và nơi đây là thức thách rất rõ về quyền lực. Rất rõ, là vì đế quốc La Mã ngày
đó đã có đủ quyền và lực sẵn trong tay. Rất rõ, là: đế quốc La Mã từng sử dụng
nó cách mạnh bạo khiến người dưới trướng bị khuynh loát đến độ khó sống và
không thể sống. Thử thách,  là hạ gục những người có quyền hành ở La Mã,
bằng chính trò chơi họ đề ra hầu có quyền sử dụng mà dựng xây dựng cuộc sống có
chất lượng cho mọi người, cả thế giới có văn hoá. Nói cách khác, đế quốc La Mã
sử dụng quyền lực theo cung cách quá tệ bạc nên ta phải giành quyền và làm thay
cho tốt hơn.

Người người đều muốn thế. Quyền và
lực, tự bản chất không dẫn đến sử dụng cho tốt vì lợi ích của mọi người. Đức
Giêsu từng từ chối coi Ngài như luật trừ, không tham ô/nhũng lạm như quyền và
lực ở đời thường vẫn làm. Chúa khước từ đường lối Quyền lực từng sử dụng. Ngài
chỉ trích, không chỉ mỗi đế quốc La Mã đã sử dụng quyền hành rất tệ lậu. Ngài
còn chỉ trích đích danh quyền lực của trần gian. Ngài chọn tư cách không có
quyền để ở với người chẳng có quyền gì, nơi thế giới.

Thử thách khác ở Tin Mừng Mátthêu, là thách thức giải quyết chuyện đói kém và người đói nghèo ở xã hội. Không còn nghi ngờ gì, là: người nghèo như thế đã có từ thời Chúa sống. Họ không đủ bánh ăn, vẫn bị bệnh tật hành hạ, lại chết sớm khi còn trẻ. Các vấn đề như thế, do Hêrôđê tạo ra. Ông từng có chương trình rất lớn quyết hoàn thành bằng dựng xây nhanh chóng, qua việc đổ thuế lên đầu thường dân có đời sống yên hàn, rất tử tế. Bởi cứ lo đẽo đá xây dựng đền, nên nào có bánh ăn.

Thử thách, là thách thức tiêu diệt  người chống lại Hêrôđê. Những ngưòi dám nổi lên phá vỡ các đá tảng ông lo chuyện dựng xây, để có được bánh ăn. Là thử thách, bởi ta vẫn cứ nói: thế thì sao? Phải chăng con người chỉ cần đủ bánh ăn là được? Phải chăng ta cũng muốn trở nên giống những người mà mình chống đối, và tệ hơn nữa? Chúa từ chối không coi chính Ngài là Đấng cung cấp chất liệu cho mọi người. Ngài tin rằng để được hạnh phúc cần có nhiều hơn thế nữa. Và, Ngài chọn cung cách khác để trở thành
Đấng Mêsia, theo nghĩa đích thực.

Thành thừ, hãy cứ xem thử thách cuối gồm những gì, ở Tin Mừng thánh Mátthêu, tức thử thách thứ ba trong ba thử thách, ta vừa bàn. Thử thách đây, không là quyền lực lấy được từ nhóm tuyển chọn. Cũng không phải là chuyện đáp ứng nhu cầu cho người bị bỏ rơi. Thế, còn chuyện linh thiêng, linh đạo, phụng vụ thì sao? Thế thì chuyện viện cớ làm điều thiện để rồi bắt buộc và thử thách Chúa phải can thiệp giải quyết các khó khăn của thế giới, thì sao? Và, phải ngay tức khắc. Hoặc, cứ dùng đền thờ, hội
đường, nhà nguyện nhà thờ Hồi giáo hoặc sống đời đạo đức rồi bắt Chúa phải
chỉnh sửa mọi thứ, sao? Những người sống vào thời của Chúa như người ở Qumran
và các vị theo thánh Gioan Tẩy Giả cũng đều sử dụng phương án này.

Với họ, thử thách là dám khống chế
quyền lực linh thiêng của Thiên Chúa và kiểm soát cả lòng xót thương của Ngài
nữa. Thử thách họ gặp, là dám thách thức coi lòng đạo linh thiêng của mình còn
hơn cả Chúa. Đức Giêsu lại bảo: nếu thế thì, Chúa đâu còn là Chúa nữa. Tức: nếu
Ngài làm thế, thì đâu còn là Thiên Chúa đích thực. Nên, Chúa không chọn con
đường thực hiện những chuyện đạo đức thêm vào niềm tin mà Ngài lại chọn đồng
hành với Thiên Chúa đích thực, theo cung cách của Thiên Chúa-là Cha, chứ không
theo ý riêng của Ngài. Chính đó là chọn lựa cũng rất khác.

Không hạ gục đối phương trong trò
chơi quyền lực. Không đáp ứng mọi nhu cầu trong hỗ trợ trò chơi. Không tìm lợi
nơi Thiên Chúa trong trò chơi đạo đức, thánh thiện. Như vậy là gì?

Là, sống trong tình trạng không
quyền bính. Sống hạn chế với những gì là căn bản để sống và sống có tương quan
mật thiết với nhau… chỉ mỗi thế mà thôi. Thế nhưng, phải bao gồm hết mọi người,
để không ai bị bỏ rơi hết, kể cả Thiên Chúa, để Thiên Chúa cũng ở trong
nhóm/hội của mình. Sống như thế, tức có mang theo niềm hy vọng. Có cả tình
thương yêu con người cùng với nhau, những người vẫn có tất cả mọi khó khăn,
nhưng vẫn có thể giải quyết xuyên suốt. Đó mới là đường lối Chúa thực hiện.

Chúa không bị thử thách bởi đường
lối nào khác. Ngài nhìn thấu tất cả, ngang qua cuộc sống của Ngài, nên Ngài vẫn
trở về với các điều căn bản ấy. Những điều ấy là những gì Chúa từng sống và
từng làm. Thật sự thì đó là lý do tại sao người nghèo đã quay lưng chống lại
Ngài. Tại sao đế quốc La Mã lại tìm cách giết hại Ngài. Và, cũng là lý do
Thiên-Chúa-là-Cha đã có thể can thiệp để đáp lại lời cầu nhưng lại chưa từng
nghe Ngài cầu nguyện.

Trình thuật hôm nay lại cũng mang
đến cho Hội thánh một thông điệp. Thông điệp ở đây, là: Hội thánh lâu nay vẫn
cứ ganh đua với việc trần tục hoá nên cứ tìm cách lấy lại quyền hành về chính
trị mình để mất và muốn có lại ảnh hưởng trên dân chúng. Thường thì, Hội thánh
vẫn cứ bon chen với các Hiệp hội trợ giúp. Cứ muốn chúng dân kính tôn mình vì
mình từng ban phát bố thí tiền bạc cho nhiều người. Hội thánh còn tìm đường
thiêng liêng linh đạo rồi bắt Chúa phải đồng hành men theo con đường mình đang
đi. Thật sự, thì Hội thánh đang gặp thử thách giống như Đức Giêsu vào thời trước.

Chúng ta cũng thế. Ta vẫn muốn trở
thành những người tốt lành giải quyết được tất cả mọi sự và lôi kéo Chúa về phe
để Ngài thực hiện những gì mình muốn Ngài làm. Cũng dễ cho ta để vứt bỏ những
thử thách ấy. Có những lúc, ta biết mình chỉ là những con người bé nhỏ. Biết
rằng mình vẫn phải sống với những khó khăn mình gặp mà không thể bỏ phế bỏ
chúng. Và, ta cũng biết mình không là nhà tư vấn của Chúa. Còn gì tuyệt vời
bằng ta đã nhận ra được chuyện ấy. Bởi, tuyệt vời một điểm là ta đã có Đức
Giêsu và Thiên Chúa đích thực.

Ta vẫn thuộc về quần chúng không tên
tuổi, nhưng được Chúa đoái hoài, thương yêu. Ta được Chúa phú ban cho những gì
để nhờ đó có thể sống hùng, sống mạnh và sống tốt lành. Dù, những thứ ấy không
là cơm, là bánh. Ta được dạy bảo: hãy cứ để Chúa sống đích thực là Thiên Chúa.
Rồi ra, ta sẽ khám phá ra rằng ta vẫn được Chúa thương yêu.

Hãy cứ cảm tạ Chúa vì Đức Giêsu đã
lướt thắng các thử thách Ngài từng gặp. Hãy cứ nguyện cầu cho Hội thánh cũng
được như thế. Và, hãy nguyện chúc cho nhau điều may mắn/tốt đẹp để mình có thể
lướt thắng được chính mình. Nguyện chúc rồi, ta cứ hiên ngang bước vào mùa
Chay, cũng rất thánh.

Trong nguyện cầu như thế, ta lại sẽ ngâm nga câu thờ còn bỏ dở ở trên rằng:

 

“Anh ngâm nga để mở rộng cửa lòng,


Cho trăng xuân tràn trề say chới với.


Cho nắng hường vấn vương muôn ngàn sợi;


Cho em buồn trời đất ứa sương khuya.”


(Hàn Mặc Tử ­ – Trường Tương Tư)

Trời đất ứa sương khuya, nhưng đừng buồn. Bởi, Chúa cũng từng gặp thử thách như thế giống mọi người. Và, Ngài lướt thắng tất cả, để mọi người sẽ thắng lướt như Ngài. Và khi đó, “nắng vườn (sẽ) vấn vương muôn ngàn sợi”, rất chới với, nhưng vẫn “mở rộng cửa lòng”. Cho Chúa. Cho mọi người.

 

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh –

Mai Tá lược dịch

 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ Nhất Mùa Chay Năm C 17-02-2013

 

“Đau! Từ đáy trái tim, ta buồn đau!

“Đau! Suốt bấy lâu, ta vẫn đau

Vẫn mang u sầu, Nhìn nắng hắt hiu.

Ôi nắng yêu, theo nhau khoe mầu.

Bay trên trời cao nắng chiếu!..”

(Christophe: Mal – Lời Việt: Phạm Duy – Cơn Đau Tình Ái)

(Lc 4: 24)

“Bên Trên Trời Cao Nắng Chiếu!”Chao ôi. Lời nhạc sao hay quá là hay.
Vâng,. Hay là thế, nhưng giả như có bạn đạo nào đó lại cứ so với sánh rồi coi
“Trời Cao Nắng Chiếu” là Mặt Trời biểu hiện nơi quốc kỳ của nước Nhật hoặc như
Hội thánh/Nước Trời ở trần gian, vẫn chiếu sáng thì sao?

Sao, nghĩa là sao? Bần đạo đây, thật ra cũng chẳng biết, nhưng vẫn xin
bạn đọc với bạn đạo ở các nơi, ta nghe thử một vài cảm nghiệm về đất nước có cờ
hiệu “Trời Cao Nắng Chiếu” như sau:

“Ở đất nước mặt trời mọc, hình ảnh nghiêng gập người cúi chào thể hiện cả một nền văn hóa Nhật Bản: Cúi nhưng không hạ mình. Sự nhún nhường, chỉ làm tăng thêm sự nể trọng của người đối diện.

Trên các chuyến bay của hãng hàng không Japan Airlines, nụ cười luôn nở trên môi các tiếp viên. Họ sẵn sàng ngồi, chính xác là “quỳ xuống”, giúp khách sửa tư thế
của đôi chân tê mỏi. Họ niềm nở, vui vẻ tiếp nhận yêu cầu của hành khách khó
tính nhất. Không phải phẩm chất máy bay khiến hành khách hài lòng mà chính cách
phục vụ của tiếp viên khiến mọi người nghĩ tốt về người Nhật. Chỉ vài phút khởi
hành trễ, toàn bộ nhân viên phục vụ mặt đất và tiếp viên, phi công dàn thành
hàng ngang, cúi rạp người xin lỗi khách. Họ thật sự đã thành công khi để lại ấn
tượng sâu sắc về một nước Nhật vô cùng hiếu khách và nghệ thuật giao tiếp tuyệt
vời. Trung thực.

Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các tài xế sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”. Sự trung thực của người Nhật in đậm nét ở những “mini shop không người
bán” tại Osaka. Hệ thống tự tính tiền tại siêu thị Nhật, người mua tự phục vụ,
tự “scan”mã vạch, tự trả tiền. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ
vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng
gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh cho người mua cứ theo giá niêm
yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng
tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản. Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở
Hokkaido, Sapporo hay Osaka… cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ/túi xách. Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào.

Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển. Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài. Không cần gửi giỏ xách khi đi siêu thị “No noise”,
tức: không ồn. Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật.
Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị
ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn một hòn
đảo nhân tạo để làm phi trường rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản
chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”. Phi trường
quốc tế Kansai được xây dựng trên hòn đảo nhân tạo, cách xa khu dân cư. Tại các
cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa quảng cáo, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng
loa tay, quảng cáo với từng khách.

Tính nhân bản.Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn “để phần” 5-10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.
Về bình đẳng. Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng. Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi. Bình đẳng là điều đầu tiên các em học được ở trường. Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến
tất cả nhân viên, công chức cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những
ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như
những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung
ý chí, chung tinh thần lao động. Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt
hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên nào. Sẽ không có gì ngạc
nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ
tướng. Ở Nhật, nội trợ là một nghề. Hàng tháng chính phủ tự trích lương của
chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được
hưởng các chế độ y như một người đi làm. Về già vẫn hưởng đầy đủ lương hưu. Độc
đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng
tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề
cao, tôn trọng.

Ở đất nước mặt trời mọc, mọi người hiểu sâu sắc lý do khiến nước Nhật tan hoang sau chiến tranh thế giới thứ 2, bật dậy mạnh mẽ trở thành cường quốc khiến cả thế giới phải nghiêng mình.” (Bài viết trên mạng có tựa đề: “Nhật Bản, những
phẩm chất Trời cho, có lẽ muốn học cũng không được
)

Sở dĩ hôm nay bần đạo dài dòng g iới thiệu với bạn đạo và bạn đọc đôi giòng nói rất hay và rất đẹp về nước Nhật là, có ý bảo: bần đạo đây có dịp đi Nhật vào đầu năm 2013. Nhưng lại không nghĩ như tác giả thông tin ở trên, mà chỉ nghĩ về Nước Nhật và
người Nhật như thời bần đạo còn ở Nhà Trường, tức: nhà tu, mà thôi.

Quả thật, Nhật Bản không khác gì chốn tu trì là bao do bởi cái gì cũng ngăn
nắp. Đúng giờ. Mọi chuyện đâu vào đấy. Bần đạo thấy nước Nhật chỉ khác chốn tu
trì mỗi điểm này, là: cung cách sinh sống ở Nhật, của người Nhật thật sự ít hấp
dẫn, chứ không như nhà tu, ở nước mình. Không tin, bạn cứ thử nghĩ thế này:
nước Nhật dù có giống chốn tu trì/Hội thánh thế nào đi nữa, cũng không thể có ý
tưởng và nhận định về thánh hội của mình, đến độ ta so với câu hát sau đây:

 

“Ta vẫn thương ta, vì nhớ mãi một tên người xa.


Ta thương ta, vì xót xa Em trong áo hoa

đã khiến ta hững hờ, vì nhớ tiếng ca

Em ôm ấp ta đêm dạ hội ngọc ngà

Câu ca làm rung cõi nhớ. Đau!”

(Christophe: Mal – bđd)

 


“Ta vẫn thương ta
, nói thế có thể là vì: ta và Hội thánh cùng với con
dân, vẫn là một. Chứ cứ bảo: “Vì xót xa em trong áo hoa, đã khiến ta hững
hờ, vì nhớ tiếng ca…”
thì chỉ mỗi nghệ sĩ lão thành họ Phạm
nay-đã-ra-người-thiên-cổ, mới dịch lời hát ra như thế, mà thôi. 

Chí ít, là: nghệ sĩ lão gia nhà ta lại cứ mời ca sĩ Elvis Phương hát mãi câu ca cứ như là:

 

“Ta vẫn thương ta, vì nhớ mãi một tên người xa,


Ta thương ta, vì vì xót xa em

trong áo hoa khiến ta hững hờ..”


(Christophe: Mal – bđd)

Nhà Đạo của ta hẳn cũng thế chứ? Cũng thế, là cứ như thể hững hờ. Thờ ơ. Hết
biết. Bởi, nếu để ý một chút, bạn và tôi ta sẽ thấy nhiều bạn đạo hoặc người
đời cứ nói đến Hội-thánh-Nước-Trời, là xục xạo tìm đến câu nói hay luật rất Đạo
ra mà bênh vực hoặc chỉ trích, dễ thôi.

Về Hội thánh thời đương đại, lại vẫn có những câu ca/nhận định rất ư là
thực tế, như tác giả nọ từng viết những giòng chảy sau đây:

“Vẫn biết là: nói về Hội thánh mà lại so sánh như Bệnh viện chuyên lo cho bệnh nhân sắp sinh thì, cũng là điều ít ai chấp nhận được. Cũng như thế, nếu lại bảo: suy tư thần học theo nghĩa rộng, là loại hồi ký viết nhiều về tiểu sử cá nhân mình thôi, cũng ai nào chịu đựng được như thế. Do đó, khi sánh ví Hội thánh với Bệnh viện lại đã nảy sinh trong tôi một hình ảnh về kinh nghiệm bản thân sau những ngày chứng kiến thân mẫu tôi qua đời. Kinh nghiệm này khiến tôi đồng cảm với những người chống đối lại buổi nói chuyện về bệnh viện, trong đó có thân mẫu của tôi là vua chống đối những chuyện như thế kể cả chuyện ra đi về cõi chết. Bởi, bà cũng đã chiến đấu rất nhiều ngày trước khi Bà đành chấp nhận sự chết. Bà là người chuyên môn chối bỏ mọi sự và thương thảo mọi chuyện; luôn tìm kiếm thêm ý kiến của đệ tam nhân và có khi cả đến đệ tứ hoặc đệ ngũ nhân cũng không chừng. Bà vẫn cho là mình vẫn nghe lời bác sĩ riêng của bà đấy chứ. Nhưng, Bà chỉ nghe những điều bà thực sự muốn thế. Bà uốn éo một cách tài tình và chủ động trong mọi cuộc cãi vã/bàn thảo để đưa bà vào bệnh viện. Có lần bà từng nói: “Sở dĩ Mẹ làm thế là vì nghĩ rằng nếu Mẹ chào thua mọi sự tức có nghĩa rằng Chúa không thể làm được phép lạ, đâu!”

Thực sự, thì Chúa sẽ làm phép lạ,
nhưng không phải là phép lạ mà ta có thể trông ngóng, đợi chờ. Đó là loại hình
hy vọng mang tính ngôn sứ về Hội thánh và chức năng của linh mục mà tôi muốn
diễn tả ngang qua hình ảnh về “Bệnh viện”. Bởi lẽ kinh nghiệm giúp tôi nhớ lại
những ngày mà các công-nhân-viên ở bệnh viện nọ từng quây quần bên mẹ tôi và
gia đình tôi một cách rất chân tình và dễ thương. Với động thái vững chãi nhưng
dịu dàng, họ đã giúp chúng ta chuyển dịch vượt quá hành xử cứ bám vào cuộc sống
mong manh như ta vẫn biết nó chấm dứt cũng rất chóng. Nó giúp ta chấp nhận sự
thể là mình không tài nào thoát khỏi mọi mất mát và tái lập chuyện khép kín và
đóng khung một tiến trình và coi đó như kinh nghiệm sống trọn vẹn hiện tại ta
đang có, để nắm giữ hiện tại ấy cho thật chắc.

Chắc chắn là, Chúa sẽ để cho phép lạ
được xảy ra, nhưng không phải như ta trông đợi. Tôi không hoàn toàn thấy chắc
về những gì mang ý nghĩa cụ thể cho Hội thánh. Tôi cũng chẳng có được “thần học
về bệnh viện” được triển khai một cách hoàn toàn hoặc trọn vẹn. Tôi thấy thoải
mái khi nghĩ về sự thể trở thành ngôn sứ theo nghĩa tinh thần và ý thức hơn là
thực tại. Thế nhưng, tôi nghi ngờ rằng: cũng giống như các công-nhân-viên ở
bệnh viện, anh em linh mục chúng ta đang đứng với người sắp chết, tức với Hội
thánh và chính chúng ta là thành viên- trong hy vọng, đoàn kết và yêu thương để
giúp Hội thánh và giúp nhau mà sống theo cung cách trọn vẹn trong khi mình đang
chết dần mòn. Một ví dụ cụ thể, là như nhân viên nọ ở bệnh viện có nói với
chúng tôi là: mẹ tôi sẽ sống một số ngày rất vui vào những tuần lễ cuối trong
đời bà; và chúng ta phải biết vui hưởng những ngày ấy cách trọn vẹn, chứ! Cũng
thế, là thành viên hội thánh, hàng ngũ linh mục chúng ta có khả năng và phải
vui hưởng “những ngày vui” như thế, chẳng hạn: ngày chịu chức, tuyên thệ hoặc
quyết định chọn gia nhập đoàn ngũ các đấng bậc từng đáp ứng lời mời gọi của
Chúa và làm thế mà chẳng chối từ một kết thúc không tránh khỏi được. Với tâm
tình suy nghĩ về bệnh viện , ta cũng có thể đồng hành với Hội thánh vào những
ngày quá tệ quá xấu, cùng đứng cạnh với Hội thánh trong những ngày sôi nổi,
sáng tạo và trung thành triệt để mà không rơi vào tình trạng tuyệt vọng đến độ
không còn quyền uy sức mạnh gì nữa.”
(x. Lm Bryan N. Massingale, See,
I Am Doing Something New!! Prophetic Ministry for a Church in Transition, 20th
Annual Spring Assembly of Priests Archdiocese of Milwaukee , 16/12/2004)

Thế đó, là những lời lẽ chân tình của đấng bậc mục tử rất đáng để ta nghĩ suy.
Nhưng đây, là lời lẽ của nghệ sĩ lão gia từng dịch nhạc của Christophe, vẫn như
thế. Như thế và như thể, tình ái cuộc đời của thánh hội vẫn có cơn đau, rất như
sau:

“Đau! Bằng sóng biếc cao, nơi biển xanh.


Đau! Với áng mây bay vút mau


Khiến ta u sầu nhìn nắng hắt hiu, Ôi nắng yêu


Theo nhau khoe màu bay trên trời cao nắng chiếu…”


(Christophe: Mal – bđd)

“Theo nhau khoe màu bay trên trời cao..”, phải thế không? Phải chăng Hội
thánh của ta, nay vẫn thế? Vẫn cứ khoe màu, “với áng mây bay vút cao”. “Bằng
sóng biếc cao”, “Nơi biển xanh”
, lanh chanh một cõi. Cõi vô thường nhưng
rất thường mà vẫn cứ tranh cứ giành, dù chỉ một hão huyền, hoặc tiền bạc?

Phải thế không là Hội thánh trần gian vẫn mang nặng quá nhiều “tham, sân
si” của gian trần nhiều mầu mỡ? Phải thế không, Hội thánh/Nước Trời ở trần thế,
nhưng không còn đứng cạnh và đứng với những người trần, vẫn rất tục?

Hỏi là hỏi thế, có những câu hỏi được gửi các đấng bậc, để rồi lại sẽ có
câu đáp trả, vẫn rất hay như sau:

“Giả như Đạo Chúa -do Hội thánh truyền bá khá rộng- được coi là văn hoá rất riêng, hầu sống đời lý tưởng, thì đó cũng không chống đỡ được thế giới phàm tục. Đọc trình
thuật thánh Luca đoạn 4 câu 21-30 sẽ thấy thánh-nhân mô tả Hội thánh Chúa là
thức ăn bổ dưỡng hết mọi người. Thánh-nhân không mấy đặt nặng việc diễn tả Chúa
như Đấng Mêsia chịu nạn cho bằng Ngài là Đấng đã Phục Sinh quang vinh. Ngài đã
chiến thắng khổ đau và nỗi chết của chính Ngài và cả thân mình Ngài là thánh
hội nữa. Chết, theo nghĩa chia cách/tách rời và Phục Sinh với nghĩa rộng gồm
tóm mọi người bao gộp cùng sống trong yêu thương, chung đụng.


Điều mà thánh Luca vẫn làm, là: cho thấy mô hình chính yếu qua đó mọi cái
hay/cái đẹp không thể do Hội thánh và thế giới này mà ra. Đó chỉ là biểu tượng.
Biểu tượng rất đặc trưng dạy ta cách sống không theo cung cách đặc thù nào đó,
nhưng sống thực. Thánh Luca muốn chứng tỏ rằng những gì thuộc về quá khứ do từ
Hội thánh mà ra thôi đâu, nhưng thánh-nhân còn muốn hướng ta trở về với đặc
trưng “dân dã” khá cởi mở và chiêm nghiệm với thế giới có cuộc sống rất dân
gian hoà trộn các kẻ tin với những người còn ngờ vục sự thánh thiện của Hội
thánh, để rồi ta học cách sống có tự do, biết lắng nghe và hiểu thấu dấu chỉ
của thời đại mà tham gia cuộc sống ở bên ngoài. Chính đó là Hội thánh rất Nước
Trời, ở trần gian.”
(trích Lm Kevin O’Shea CSsR Suy niệm Chúa Nhật thứ 4
mùa thường niên năm C 03.02.2013)

Hiểu và thông cảm Hội-thánh-Nước-Trời ở trần gian như thế rồi, chắc hẳn bạn và tôi, ta cứ hiên ngang mà nghe lời hát của nghệ sĩ lão thành từng chiêm niệm về “Cơn đau
tình ái” ở đời mà có thêm câu hát, rất như sau:

 

“Ta vẫn thương ta,vì nhớ mãi một tên, người xa.


Ta thương ta, vì xót xa Em trong áo hoa


Đã khiến ta hững hờ


vì tiếng ca Em ôm ấp ta


Đêm dạ hội ngọc ngà, câu ca làm rung cõi nhớ…”


(Christophe: Mal – bđd)

Hiểu và thông cảm những lời của người đời rất “nghệ sĩ” như thế rồi ta lại sẽ cảm thông với đấng bậc vừa có lời ở trên lại nói thêm:

“Riêng tôi  vẫn nghĩ rằng Hội thánh-đã-đổi –mới nay đang đến. Có thể Hội thánh sẽ đen đủi hơn, nghèo hèn hơn, dễ có cảm xúc, bén nhạy và nữ tính hơn. Cũng có thể, Hội thánh tương lai ít bớt hàng giáo sĩ, nhưng lại mang tính tập thể/tập đoàn hơn.
Hội thánh ấy, có thể ít quan tâm hơn về chuyện bác ái hoặc bố thí, nhưng lại để
ý nhiều về công lý và hoà bình hơn, đa văn hoá đa ngôn ngữ, và cởi mở, bớt tập
trung vào một mối rất trung ương như khi trước. Nhưng Hội thánh ấy sẽ phản ánh
tốt hơn về tính đa dạng trong đời sống của Chúa Ba Ngôi, hơn. Nhưng có điều
chắc rằng: Hội thánh ấy sẽ mới mẻ… chỉ có thể trở thành hiện thực mà xuất hiện với
sự qua đi của Hội thánh hiện tại. Và tôi dám đề nghị mỗi vị thành viên trong
Hội thánh hiện tại phải làm sao để Hội thánh đương đại nhất định qua đi ngõ hầu
mới có thể giúp cho Hội thánh mới mẻ được nảy sinh. Nói theo cách nghịch
thường, thì: công-nhân-viên của bệnh-viện-là-Hội-thánh trong tương lai cũng
đồng thời là cô mụ/cô đỡ của sự sống mới, rất phục sinh.”
(x. Lm Bryan
N. Massingale, bđd)

Hiểu và cảm nghiệm những gì là “cơn đau tình ái” rất Hội thánh ở trần gian, vẫn có
lời bàn của đấng thánh ở trình thuật lời Chúa, vẫn nói rằng:

“Tôi bảo thật các ông:

không một ngôn sứ nào được chấp nhận

tại quê  hương mình.”

(Lc 4: 24)

Hiểu và thông cảm cho Quê-hương-Hội-thánh ở trần gian, cũng đều thế. Tức: chẳng
ngôn sứ nào của Hội-thánh-Nuớc-Trời hôm nay lại sẽ được chấp nhận. Chấp nhận,
theo cung cách của đấng bậc được sai đi mà giảng rao về Tình Ái “có cơn đau
mà nghệ sĩ nhà ta diễn nghĩa bằng câu: “Ta thương ta”, “vì xót xa”,
“Em trong áo hoa, khiến ta hững hờ.”

Hiểu và cảm thấy “Cơn đau tình ái” ấy, khi tác giả Christophe lại cứ
viết đôi câu tiếng Pháp rất như thể: “Ta nhớ tên Người Yêu, nhớ lời hát năm
xưa có những câu/những lời từ ngục tù…”
Dĩ nhiên, ca sĩ Christophe chẳng cố
ý bao hàm chữ “ngục từ” ở đây có nghĩa trần gian hay “Hội thánh”, đâu. Có thể,
ông cũng chẳng cảm nghiệm Nước Trời đến độ thế. Bởi, Nước-Trời-Hội thánh đâu tệ
bạc đến như thế. Như thế, tức: đâu là ngục tù có lời ta thán, vãn than, lan man
vẫn rất buồn.

Nghĩ thế rồi, hẳn bạn và tôi, ta lại sẽ ngâm nga lời ca của
Christophe, những hát rằng:

 

“Ta vẫn thương ta, vì nhớ mãi một tên nguời xa


Ta thương ta, vì xót xa Em trong áo hoa


khiến ta hững hờ…”


(Christophe: Mal – bđd)

 

Cũng có thể, hôm nay và mai ngày, lời người nghệ sĩ lại cũng ám chỉ
những Em và những Anh trong Hội-thánh-Nước-Trời vẫn có tâm trạng rất như
thế. 

Tâm trạng mình ra sao, tâm tư mình có thế nào đi nữa, hãy cứ nhớ Lời
vàng, Ngài vẫn bảo: “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận, ở quê mình.” Hãy
cứ hy vọng: điều đó sẽ không xảy đến ở Quê-Hương-Nước-Trời, là Hội thánh.

 

Trần Ngọc Mười Hai

Cứ nghĩ mãi về lời ca có cả lời vàng

ở Nước Trời Hội thánh

rất gian trần.

Những nàng Phong lan hoang lạ

Những nàng Phong lan hoang lạ

Họ lan (Orchidaceae) là một họ thực  vật có hoa, thuộc bộ Măng tây (Asparagales). Lan là một trong những họ lớn nhất của thực vật và có mặt hầu như khắp nơi trên hành tinh này. Có loài sống dưới mặt đất và chỉ nở hoa trên mặt đất, có loài sống ở những vùng núi cao, rừng sâu. Lan có thể sống ở các vùng có khí hậu nhiệt đới đến các vùng tuyết phủ giá băng. Lan chủ yếu sống trên thân cây và thường được gọi là Phong lan. Một số loài sống ở mặt đất (Địa lan) và trên các vách đá (Thạch lan).

Anh Nguyễn v. Thập gởi

TÂN XUÂN CHÚC LÀNH

TÂN XUÂN CHÚC LÀNH

 

“Chúa là sức mạnh, là khiên mộc


chở che tôi, lòng tôi đặt tin tưởng nơi Ngài.”

(Thánh Vịnh 28:7)

 

Tân Xuân nguyện Chúa chúc lành


Thánh ân huyền nhiệm Ngài dành cho ta


Tình Trời bát ngát bao la


Phàm hèn đất bụi tụng ca tháng ngày


Mong sao luôn được vơi đầy


Sống vui bác ái lời Thầy dẫn đưa


Cuộc đời sáng nắng chiều mưa

Vô thường cõi tạm dây dưa thêm phiền


Dâng Cha chí ái nhân hiền


Mừng Năm Quý Tỵ khắp miền Quê Hương


Đoàn chiên yên hưởng náu nương


Tri ân Thượng Đế thơm hương Vĩnh Hằng!

 

* Nguyễn Sông Núi

(Tv Thánh Gioan Neumann, Dallas, TX, Feb. 6, 2013)


——————————————————–

CHÚC LÀNH

 

Cám ơn Bn đã đc thư

Mong luôn hnh phúc tâm tư vơi đy

Sng theo giáo hun ca Thy

Ri ta s được tháng ngày bình an

Tình Ngài bát ngát cha chan

Phàm hèn cm t mênh mang tâm hn!

*Joseph Nguyễn Thanh Sơn, DCCT

(Tv Thánh Gioan Neumann, Dallas, TX, Feb. 6, 2013)

 

Bạn đặc biệt và là duy nhất!

Bạn đặc biệt và là duy nhất!

haimuoido

Một diễn giả nổi tiếng bắt đầu cuộc nói chuyện bằng một tờ 20 đô la trên tay.

Trong khán phòng lúc này có hơn 200 người khách, ông giơ tờ tiền lên và hỏi:

“Ai muốn có tờ 20 đô la này?”

Những cánh tay lần lượt giơ lên.

Người diễn giả nói tiếp:

“Tôi sẽ đưa tờ tiền này cho một trong số các vị, nhưng trước tiên, tôi muốn làm một việc”.

Ông liền vò nát tờ tiền, rồi lại hỏi:

“Ai vẫn muốn nó nào?”, vẫn có những cánh tay đồng ý. Ông hỏi tiếp: “Vậy thì, nếu như tôi làm thế này…”, diễn giả quăng tờ tiền xuống đất rồi dùng chân mình giẫm và nghiền nó.

Sau đó, ông nhặt lên, lúc này tờ tiền đã trở nên nhàu nát và dơ bẩn.

Ông lại hỏi: “Bây giờ, ai vẫn muốn nó?”, vẫn có những cánh tay giơ lên.

Ông nói:

Các bạn thân mến, vừa rồi các bạn đã có được một bài học rất giá trị. Những hành động tôi đã làm với tờ tiền đều không quan trọng, bạn vẫn muốn có nó vì nó không hề giảm giá trị, nó vẫn có trị giá 20 đô la.”

Tất cả những gì tôi muốn các bạn biết là trên cuộc đời này, có không ít lần chúng ta bị chà đạp, bị coi thường, bị cho là những hạt cát nhỏ bé.

Lúc đó, ta cảm thấy mình thật vô dụng, nhưng đừng bận tâm đến những điều đã và sẽ xảy ra với bạn bởi trong bất cứ hoàn cảnh nào, không bao giờ bạn mất đi những giá trị đích thực của con người mình. “Giàu hay nghèo, sang hay hèn, nhàu nát hay phẳng phiu thì bạn vẫn luôn ‘có giá’ với những người thân yêu. Giá trị cuộc sống
không phải ở cái ta đã làm, những gì ta biết, mà là ở việc chúng ta là ai. Và
xin đừng bao giờ quên một điều:

Bạn đặc biệt và là duy nhất!

H.A (Dịch từ Inspirationpeak)

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ Năm Thường niên

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ Năm
Thường niên Năm C 10-02-2013

Trần Ngọc Mười Hai

nguồn:Vietcatholic.net

 

2/7/2013

“Em thường hay ước mơ”

“Mơ người yêu lý tưởng.

Với vẻ hào hoa lắm nét kiêu hùng,

điểm chút phong sương.”

(Y Vân – Tình Yêu Lý Tưởng)

(Mt 23: 11)

Ước mơ của bần đạo, hồi đó, rất lý tưởng. Lý tưởng, không chỉ vì Tình Yêu Thiên
Chúa rất trừu tượng, mà còn là tình yêu hiện rõ nơi mọi người. Chí ít, là người
ít tiền, ít của, ít cả tham vọng nữa. Tham vọng, mà làm gì khi các nhân vật mà
người Hoa bên Trung Quốc vẫn cứ ước và cứ mơ chỉ là Lưu Bang, Tần Thuỷ Hoàng,
Mao Trạch đông, vv… nay đi vào chốn quên lãng, rất chê bai.

Nhớ về “Tình Yêu Lý Tưởng” có ước và mơ, bần đạo lại nhớ về chuyến “tư du”
Trung Quốc đầu niên lịch 2013 có khá nhiều điều buồn/vui lẫn lộn. Điều vui buồn
đáng nhớ hôm ấy, là khi bần đạo được hai hướng dẫn viên du lịch trẻ một tên
Khương và một tên là Alison Wong dám nói lên điều mình nhận xét về nhân vật nổi
tiếng tàn bạo là Tần Thuỷ Hoàng và cả Mao Trạch Đông, khi xưa đốt sách giết
người có học. Anh Khương nói: “Về với lịch sử Trung Quốc, theo tôi bạo chúa họ
Tần là người đầu tiên từng đốt sách, hạ bệ và diệt trừ giới trí thức. Ngàn năm
sau, lại cũng có một đấng hậu duệ khác cũng rơi vào dấu mòn vết cũ, như tội
ác… Người đó là ‘Mao sếnh sáng’, tức Mao Trạch Đông. Ông này là vị đồ tể cuối
cùng của lịch sử của người Hán.”

Là ‘sếnh sáng’, đồng nghĩa với đấng chóp bu lịch sử mà nhất cử nhất động vị ấy
vẫn được người đời biết đến. Được biết đến, là biết về “tình lý tưởng” đeo mang
ý tưởng hơi khác người như một ước mơ cũng rất khác, như lời người nghệ sĩ sau
đây:

“Em thường hay ước mơ.

Mơ người yêu lý tưởng.

Với vẻ hào hoa lắm nét kiêu hùng

điểm chút phong sương.

Đây là chàng chiến binh,

Hay là chàng phi công hay là chàng thủy thủ..”

(Y Vân- bđd)

Nhân vật nào dù “lắm nét kiêu hùng” của bạo chúa, rồi ra cũng có ngày tan tành
tâm trí lẫn tâm tư và sẽ chìm lắng trong hôn hoàng, trời mây. Thế nhưng, nói
thế đâu có nghĩa bảo rằng vị nào vị nấy cứ tung hoành bạo tàn như hai đấng
‘chóp bu’ nọ của Trung Quốc/nước Tàu đều quẫn bức giới có học đâu. Nơi nhà Đạo
cũng thế, thủ lãnh nhà Đạo mình chẳng bao giờ tung hoành lập thành tích bất
ưng, nhưng vẫn được nhiều người nhớ và ước mơ, được như thế. Ước mơ, một lý
tưởng hoặc ước vọng tưởng là mơ, lại được đấng bậc chuyên chăm nhà Đạo biến
thành chuyện để kể, rất hôm nay. Truyện, do đấng bậc hôm nay kể lại chính là
đan viện phụ nọ ở Bỉ, cũng có ước và có mơ về một lý tưởng; nhưng “nửa đường
đứt…bóng’ rất như sau:

‘Nhất định. Nhất định rồi!

Tôi không thể trở thành đương kim Giáo Hoàng được nữa rồi! Bởi các đấng bậc của
tôi, nay lại bầu vị khác thay vì tôi. Thế nên, nay tôi xin bộc bạch dự
kiến/chương trình mà lâu nay tôi hoạch định để mọi người còn biết mà cảm thông.

Giả như tôi được bầu làm đấng bậc cao cả đến là thế, hẳn là đương nhiên tôi đã
trở thành vị giám quản giáo phận La Mã rất đương nhiệm, thôi! Và khi ấy, tôi sẽ
yêu cầu Hồng y giáo chủ Ratzinger, lên án các triết thuyết ngộ đạo này khác và
cáo buộc bất cứ lập trường/tư tưởng này khác của người đạo rối. Nhất thứ là
những vị cứ giả tảng/làm ngơ muốn biến vai trò của vị ‘giám quản giáo phận
Roma” thành đấng chủ quản toàn cầu hoặc trở thành vị chánh-trương/chánh-quản
toàn thế giới.

Và lúc đó, có lẽ tôi cũng gỡ bỏ mọi chất kích tác mọi ước vọng khỏi niềm mơ ước
của Cộng Đồng Vatican 2 chỉ muốn thiết lập một tập đoàn giám mục rất đoàn kết.
Và rồi, vào năm đầu triều đại giáo hoàng, tôi sẽ triệu tập một thượng-hội-đồng
giám mục gồm toàn các vị chủ quản giáo hội toàn cầu, quyết đề ra chương trình
hành động khả dĩ khiến mọi giám quản tham dự thượng hội đồng này được coi như
‘phụ mẫu chi dân’, rất trong Đạo.

Để chuẩn bị cho một thượng-hội-đồng giống như thế, có lẽ tôi sẽ phát tán toàn
bộ thư luân-lưu đến hội đồng giám mục các nơi trên thế giới; và nói với các
đấng một câu như: “chư huynh đừng sợ!’ Tôi sẽ khuyến khích các ngài nhận lãnh
trách nhiệm mới, để rồi còn truyền bá cho toàn hội-đồng, hầu các vị mới am
tường về nhu cầu của mọi người, nam cũng như nữ đang sống đạo ở giáo phận; cả
người Công giáo cũng như người ngoại Đạo. Và khi đó, có lẽ tôi sẽ yêu cầu Hồng
Y Ratzinger hoàn tất một số tài liệu mới về nền tảng thần học cho tập-đoàn giám
mục khắp nơi. Có thể, tôi cũng sẽ kêu mời các giám mục đia phương nhận lãnh
trọng trách mục vụ của các ngài, mà chẳng sợ gì đội ngũ ‘đức ông‘ vẫn có thói
quen điều hành cơ quan/sở bộ khác nhau, ở giáo triều.

Sau đó, có lẽ tôi cũng sẽ yêu cầu bãi bỏ các chuyến công du của chính tôi và
các vị giáo chủ kế-tục tôi, ta sẽ không còn xuất dương ra khỏi giáo phận La Mã,
cho đỡ tốn. Và, tôi sẽ thiết lập một thế hệ mới mẻ bao gồm mọi thành phần
giáo-dân có khả-năng truy cập mạng của giáo triều La Mã mình. Bằng vào tiền
tiết kiệm/dành dụm, thay vì xuất dương du ngoạn nước ngoài như thế, sẽ giúp tôi
thiết lập một dự án cho phép tất cả mọi công dân trên địa cầu này được tự do
vào mạng này cách dễ dàng, trước nhất ưu tiên cho người nghèo hoặc ít tiền.

Và, tôi sẽ chuẩn bị dư luận để cuối cùng lại cũng cho phép nữ-giới được tấn
phong làm linh mục đã chọn kỹ từ các vị nữ-lưu khôn ngoan, khéo léo, lành
thánh. Đương nhiên, tài liệu này sẽ khởi lên như một bản văn chính thức của
tông-toà trong đó ghi đôi câu như sau: “Hội thánh La Mã lúc nào cũng tin tưởng
và đặt nặng vào giáo huấn như thế.’

Còn nữa, tôi sẽ mời gọi hết thảy các thánh bộ trong giáo triều hãy cải-hối
chính mình thành cơ-quan chức-năng thực tế, chỉ phục vụ giáo hội và các cơ sở
tôn giáo địa phương thôi. Tôi sẽ cố gắng tin tưởng các hội-dòng chiêm-nghiệm
chuyên sống khắc kỷ và các tu hội này khác vẫn cứ tồn tại sau nhiều thế kỷ gặp
khủng hoảng. Đồng thời, tôi cam kết với họ rằng: các ngài sẽ không bị khuyến dụ
hoặc kêu mời làm thành-viên trong tổ chức Công-Trình Của Chúa (tức Opus Dei);
đồng thời nhắc nhở các ngài rằng: nhiều thế kỷ qua, các ngài vẫn thật sự là
‘chiến hữu’ Đức Kitô. Và, tôi cũng tự mình xem xét các phong trào mới – hoặc để
giải thoát/hiệp thông hoặc làm tân tòng của Chúa- nhưng vẫn tôn trọng quyền tự
trị và sức sống của hội thánh địa phương.

Bên cạnh các cơ sở tôn giáo mang tính cổ truyền, là cơ quan có mục tiêu chính
như tái sáng chế ra thứ nước nóng đang cần. Tôi cũng sẽ yêu cầu giáo triều La
Mã -trước khi tự biến cải chính mình – sẽ đồng thuận để trở thành hình-thái mới
khả dĩ phối-kết giáo hội, hầu đáp ứng những gì được coi như hơi thở của Thần
Khí cho nhiều thập niên mà không cần đến chỗ đứng trong giáo luật. Là, gia-đình
linh-đạo gồm cả nam lẫn nữ, có gia đình hoặc độc thân, giáo dân hay linh mục,
sống năng-động hay chỉ chiêm-nghiệm, nhất nhất đều kết hiệp quanh thị-kiến
linh-đạo cũng rất chung qua hiệp-thông phục-vụ Thiên Chúa, thế giới và Nước
Trời.

Tôi sẽ tiến đến giải-pháp đình chỉ việc phong chân phước và hiển thánh cho đến
khi tất cả tín-hữu tốt-lành hôm nay được biết đến cả danh tánh, sử hạnh và giáo
huấn của các bậc hiển thánh trong quá trình 25 năm qua. Tôi sẽ đề ra một luật
trừ cho vị nào được toàn thể dân Chúa coi là vẫn muốn phong làm thánh nhưng lại
bị thánh-bộ “phong thánh” quên tên như trường Đức Giám mục Oscar Romêrô chẳng
hạn.

Tôi sẽ hít vào buồng phổi lớp tro tàn của phong trào Linh thánh dấy lên ở Châu
Mỹ La-tinh vào năm tháng quẫn bách dưới chế-độ hà-khắc của đám quân-binh
độc-tài kiểu Pi-nô-chê để rồi tặng ban sự sống mới cho các phong trào bị xoá
tên vì sợ bị ảnh hưởng từ chủ-nghĩa xã-hội đích thực. Tôi sẽ tổ chức các buổi
hội-nghị chuyên đề thảo-luận và trình-bày cho thấy nền thần-học giải-phóng cũng
đem đến cho hội thánh hiện-tại các thần-học-gia sâu sắc của Châu Âu thời Công
đồng Vatican 2 nay tuyệt chủng; vì nền thần học này đang ngày càng thoái hoá,
suy sụp.

Tôi sẽ đề nghị các thần-học-gia nhà mình hãy sáng-tạo hơn nữa trong điều
nghiên, hầu dẫn-giải sứ-điệp Tin Mừng thành thứ gì đó cho mọi người cả nam lẫn
nữ đều có thể hiểu được, để rồi họ sẽ có vai trò không chỉ bó mình trong việc
bình giải văn bản của các Tổ phụ, thôi. Tôi sẽ khuyến khích các vị ấy biết
chỉnh-sửa lẫn nhau và biến đổi giáo-triều hầu bảo vệ niềm tin đi vào cơ sở
chuyên chăm nghiên cứu thần học.

Tôi cũng nói thêm một lần nữa, cho giới trẻ biết tương lai của Hội thánh và yêu
cầu họ giới hạn chuyện đi đây đó trong các năm sắp tới, dành tiền tiết kiệm cho
việc dựng-xây nơi-ăn-chốn-ở cho các vị cao niên –có khi cũng là ông bà của họ
tại nước họ đang sống. Tôi vẫn biết Đại Hội Giới Trẻ ở Cologne bị lỗ nặng về
tài chánh và bãi bỏ các Đại hội như thế bằng cách bán cơ sở/cao ốc hiện được dùng
làm văn phòng ở Vatican.

Tôi chỉ muốn bán các cơ sở ở Vatican đi, trừ Vương Cung Thánh Đường Phêrô thôi,
rồi sau đó, mua một căn hộ nho nhỏ để sống tại quận lỵ dân dã ở Rôma, và khi
muốn đi đây đó tới các ty/sở, tôi sử dụng xe chuyên-tu dành cho Giáo Hoàng,
thôi.

Và rồi, tôi quyết tâm sẽ về hưu sớm. Nhưng ở tuổi 75, xem ra tôi vẫn còn trẻ vì
tôi cũng sắp đi vào tuổi đó rồi. Tôi sẽ bớt việc của các hồng y xuống thành
những việc mang tính danh dự thôi, và sẽ tổ chức bầu cử Giáo Hoàng kế tục cho
dân La Mã, vì đó là giáo phận ngài chăm sóc.

Đấy! Quí vị thấy đấy. Họ có cho tôi cơ hội nào đâu dù chỉ một cơ hội duy nhất
để biến chương trình này thành hiện thực.” (xem Lm Armand Veilleux Trappist –
Abbot of Scourmont, Belgium- If I had been elected Pope…)

Là đấng bậc viện-phụ mà chỉ ước và mơ mỗi như thế, cũng không thành. Nghĩ cho
cùng, làm sao thành sự được khi đó chỉ là những mơ cùng ước. Ước mơ/mơ ước
thành sự ở thơ văn/âm nhạc, mà thôi. Bởi thế nên, người nghệ sĩ của ta vẫn hát
câu thơ khá mơ và ước như sau:

‘Tuổi mộng mơ,

tuổi mộng mơ ước mơ tiên.”

(Phạm Duy- Tuổi mười ba)

Tuổi mộng mơ, chưa chắc là tuổi của những mơ và ước. Ước và mơ, thật ra cũng
chẳng cần đợi tuổi tác hoặc năm tháng/ngày giờ, mới đạt được. Mơ và ước, hầu
như ai cũng có cơ hội và có quyền hạn để thực hiện. Tuy nhiên, cứ sự thường thì
người đời chỉ mơ và ước khi mình còn trẻ, tức thời gian còn dài để có thể đợi
mong nó thành hiện thực. Trường hợp đấng bậc trên, kể cũng lạ và hiếm có. Thế
nên, đức thày mình vẫn cứ mơ và cứ ước lại không nghĩ rằng những ước mơ của
ngài sẽ được thực hiện, cũng chóng thôi.

Tuy nhiên, người đời tuy biết thế nhưng vẫn ước và mơ. Mơ ước, nhưng không là
mơ mộng. Và, chắc chắn không là mộng ảo, mộng tưởng hoặc mộng mỵ. Mộng gì thì
mộng, tưởng gì thì tưởng hẳn cũng không là mộng ước của vua cha như truyện kể,
ở bên dưới.

Truyện rằng,

Vị vua tài đức nọ giàu đức hạnh, nhưng không có hoàng tử nối ngôi. Vua ta bèn
nghĩ tới việc chiêu mộ những người trẻ tài đức để có thể kế vị ông sau khi ông
qua đời.

Một ngày kia, vua cho mời tất cả các trẻ em từ 5 đến 12 tuổi vào hoàng cung. Vị
vua giải thích cho các em ý định của ông là muốn tìm người tài đức để thay ông
cai quản đất nước. Ông trao cho mỗi em một hạt giống và dặn các em rằng sau ba
năm, các em hãy mang mỗi cây mà mình sẽ trồng đến trình diện tại cung điện. Sau
khi nhận hạt giống, mỗi em đều nhiệt tình trồng hạt giống của mình và ngày đêm
chăm sóc chúng với hy vọng là cây của mình sẽ lớn nhanh và có thể sinh hoa kết
quả. Một số em nghĩ rằng, mình phải gây sự chú ý của nhà vua bằng cách làm cho
cây của mình thật lớn và có hoa quả.

Ðúng ngày đã hẹn, cả nước nhộn nhịp tiến vào cung điện để xem thử cây nào là
cây đẹp nhất, có nhiều trái nhất, và để xem ai sẽ là vị vua tương lai cho đất
nước. Quả đúng như dự tính, mỗi em đều mang đến cây mà mình đã trồng với nhiều
màu hoa hương sắc. Người ta cũng thấy có những cây đã kết trái thật xum xuê.
Nhà vua đi đến từng địa điểm để hỏi thăm các em, cách thức các em trồng cây. Sự
hồi hộp và im lặng của đám đông càng tăng lên khi nhà vua tiến đến những cây
tươi trái tốt; nơi mà nhiều người nghĩ rằng một trong số các em này sẽ được
chọn là hoàng tử.

Thế nhưng, nhà vua vẫn tiếp tục đi qua và bỗng dưng ông dừng lại trước một cậu
bé. Trên tay cậu bé là một chậu đất không cây. Thấy nhà vua đứng lại bên mình,
cậu biểu lộ sự thất bại bằng dòng nước mắt chảy dài trên má. Nhà vua hỏi,
“Tại sao con khóc?” Cậu bé thưa, “Con đã gieo hạt giống vào chậu
đất này, con đã bón phân cho nó, con đã tưới nước cho nó hằng ngày, con đã che
nắng cho nó và con đã làm nhiều cách để chăm sóc hạt giống của con, nhưng cuối
cùng không có cây nào.” Càng nói, cậu bé càng khóc lớn tiếng.

Nhà vua ôm cậu vào lòng và ra lệnh cho quân lính mời cậu lên chỗ cao danh dự.
Giờ đây, trước sự sửng sốt của bao nhiêu người, và kể cả cậu bé, nhà vua bắt
đầu lên tiếng. “Hôm nay, bệ hạ đã tìm được người mà bệ hạ mong đợi từ lâu.
Cậu bé đây đã chân thật khi nhận sự thất bại của mình. Và thực đúng là như vậy.
Vì tất cả hạt giống ta trao cho các con cách đây ba năm, chúng đã bị luộc chín
cả rồi.”

Nhà vua quay qua cậu bé và nói. “Con đã biết trung thành và trung tín
trong việc nhỏ; con đã không bị ngai vàng và danh lợi mê hoặc; con đã cần mẫn
chu toàn công việc của con với hết khả năng của mình. Ðó là điều ta mong
muốn.” Nhà vua nói tiếp, “Trên tay con là chiếc chậu đất không cây,
nhưng chính trong trái tim con, con đã gieo hạt giống sự thật vào lòng mọi
người hôm nay.”

Thật ra thì, vua cha mơ ước như thế, có thể là chuyện thực tế ở đời, cũng rất
thật. Khổ một điều, là: sự việc ở đời thường vẫn không như vua cha mơ ước. Thế
nên, thi ca/âm nhạc lại vẫn thấy có những câu ca rất mộng và rất mơ, như sau:

“Em ước mơ em là,

em được là tiên nữ

Ban phép tiên cho hoa

biết nói cả tiếng người

Ban phép tiên cho người

chắp cánh bay giữa trời.

Thật đẹp thay! Thật đẹp thay! Giấc mơ tiên!

Thật đẹp thay! Thật đẹp thay! Giấc mơ tiên!”

(Phạm Duy – Tuổi Mười Ba)

Ước và mơ của nghệ sĩ và của đan-viện-phụ nọ ở Scourmont, nước Bỉ vẫn là chuyện
thực tế, nhưng hơi mơ. Mơ và ước, cả những mệnh lệnh của Chúa sẽ thành hiện
thực, như Kinh sách nói:

“Các ngươi cũng chớ gọi mình

là lãnh đạo.

Vì lãnh đạo của các ngươi

chỉ có một: Đức Kitô.

Kẻ lớn hơn trong các ngươi

sẽ là tôi tớ của các ngươi.”

(Mt 23: 11)

Phải chăng mơ và ước đó, là của mọi người trong Đạo. Như Đạo Chúa vẫn dạy?

Mơ gì thì mơ. Ước gì thì ước, hãy cứ ước và mơ những chuyện nho nhỏ, nhè nhẹ
như truyện kể để suy nghĩ, rất như sau:

“Nhà nghèo, chạy vay mãi mới được xuất hợp tác lao động, Thanh coi đó như cách
duy nhất để giúp đỡ gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan. Xứ người chẳng phải là
thiên đường. Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng.

Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong mơ. Ngày
về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống trong mơ.

Đêm. Chỉ có Mẹ. Hết nắn tay, nắn chân Thanh rồi Mẹ lại sụt sùi. Thanh nghẹn
ngào khi nghe Mẹ nói:

-Dối Mẹ làm gì! Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở con!” (x.
Kangtakhoa, Lòng Mẹ)

Trong mọi mơ ước, nhiều người vẫn cứ sống trong mơ mà chẳng giấu được ai hết,
chí ít là mẹ hiền. Vì, mẹ hiền hiểu biết lòng dạ của con cái, cũng rất nhiều.
Hệt như thế, nếu dân con nhà Đạo chạy đến hỏi han Mẹ hiền Hội thánh xem nay Mẹ
có mơ hay ước gì không? Phải chăng, Mẹ đang có nỗi mơ và ước về con cái và cho
các con của mình được hạnh phúc, hơn khi trước?

Hỏi, tức đã trả lời rồi, dù không rõ.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng ít khi hỏi người, hỏi mình

về những ước mơ

rất như thế.

Suy niệm Lời Ngài đọc trong tuần thứ Năm mùa thường niên năm C 10.02.2013

“Gót nhỏ lên thuyền một kiếp xưa,”

“Em về trăng mọc bến chân như.”

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Lk 5: 1-11

Gót nhỏ lên thuyền, gót của em. Người em dân dã, vẫn cứ về. Em về trăng mọc,
bến chân anh. Người anh mộc mạc, xưa theo Chúa.

Trình thuật thánh Luca, nay ghi về chuyến lên thuyền để đánh bắt rất nhiều cá.
Cá ở đây, gồm truyện kể về quà tặng Chúa ban, không chỉ cho mỗi dân con được
chọn, mà cả con dân ngoài Đạo, cũng vẫn được. Trước nhất, là về Galilê, và sự
thể đánh bắt, vào thời đó.

Biển hồ Galilê, là hồ nhân tạo duy nhất ở Israel. Hồ này dài đến 55 cây số,
chạy vòng quanh bến bãi, ở nơi đây. Hồ này sâu từ 25m đến 45m, nhưng mực nước
lại thấp hơn mặt nước biển đến 200m. Hồ nhân tạo, nhưng đây là chốn lý tưởng để
đánh bắt đủ mọi loại cá. Với dân chài, thì Biển hồ Galilê là nơi tốt nhất để
bắt cá. Với khảo cổ, lại có khám phá tuyệt vời từng phát hiện một thuyền đánh
cá dài rộng cỡ 8m x 2.20m x 1.35m bộ, với niên đại có từ năm 40 trước Công
nguyên. Thuyền này được gọi là “Con Thuyền Của Chúa”, vì là đặc trưng tiêu biểu
thời Chúa sống.

Dân chài đây, có nhóm chuyên đánh bắt các loại cá có chất lượng để cung cấp
khắp nơi, cả người Ai Cập cũng là khách hàng thường xuyên mua về đem hun khói
thành đặc sẳn rất tuyệt vời. Các khai quật cho thấy thuyền đánh cá ở đây được
trang bị khá tốt để có thể đánh bắt suốt cả đêm. Sản phẩm đánh được lại đã tạo
nguồn lợi tức cho một số công ty chuyên ngành trong thời gian dài, chuyên
nghiệp.

Dân chài ở đây, có người còn có nghề tay trái không chỉ đánh cá đóng thuyền
thôi, nhưng còn kinh doanh và tránh thuế. Dân chài người Bét-sai-đa sống ở
Ca-pha-na-um quen tránh né đám thu thuế; nên, nghề cá là nghề ít bận tâm về
luật thuế nhất. Nói chung, dân chài ở đây biết nhiều thứ, chứ không chỉ sơ sơ
mỗi cá tôm.

Thế nên, cử toạ đầu tiên tìm đến Chúa để nghe Ngài giảng giải, lại là dân chài
Biển hồ Galilê. Chúa hoạt động công khai, Ngài cũng di chuyển loanh quanh các
vùng: Bét-sai-đa, Ca-pha-na-um, Ghê-nê-sa-rét, Mag-đa-la, hoặc Ghê-ra-sa cùng
các vùng chài lưới và thôn làng ở Biển hồ. Chúa giảng rao vùng cận duyên gồm
các làng chài trong đó có cả Tyrô và Siđôn nữa. Hôm ấy, bên vệ đường cạnh hồ
Galilê, Chúa gặp ông Phêrô (cùng nhạc mẫu) và các bạn chài là: An-rê, Giacôbê
và Gioan (có bà Zêbêđê) và cả anh Lêvi thu thuế, nhất nhất đều đến từ
Ca-Pha-Na-Um, ở quanh đó.

Chúa vẫn thường có thói quen di chuyển trên hồ bằng thuyền bè. Chính ở nơi này,
Ngài chỉ cho các thánh biết đánh bắt thật nhiều cá, như phép lạ. Và cũng ở
triền hồ, Ngài còn phân phát cho cả ngàn người được no nê, ăn thoả chí. Tin
Mừng thánh Luca (đoạn 24) cũng cho thấy Chúa đã trở lại hồ này ngay sau ngày
Ngài Phục sinh quang vinh.

Vấn đề hỏi là: làm sao thánh Luca lại biết rõ điều ấy. Bởi, ai cũng đều biết
thánh Luca đâu thuộc thành phần dân chài và cũng chẳng là tay thu thuế. Thế
nên, nguồn văn của trình thuật hôm nay, có lẽ đã được rút từ Tin Mừng thánh
Matthêu đoạn 4 câu 18. Đoạn này, thánh Matthêu ám chỉ một Xuất hành mới cốt để
tái lập Vương quyền của Đavít.

Thánh Luca không chỉ nhấn mạnh sự kiện Chúa gọi mời dân chài làm tông đồ, nhưng
nhấn mạnh lên câu Chúa nói với Phêrô, rằng: “Từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới
người.” Có thể là, thánh Luca không có ý đó, nhưng thánh Mátthêu lại trích dẫn
lời ngôn sứ Giêrêmia đoạn 16 câu 16 và Êdêkiel đoạn 47 câu 9, trong đó Chúa
nói: “Này Ta sai ngư phủ đến, một số đông và họ sẽ vung lưới bắt chúng.” Tất cả
điều đó, chỉ muốn nói rằng: Chúa đến như thể cuộc đánh bắt rất nhiều cá chứ
không phải chỉ mỗi thứ cá, là người Do thái mà thôi.

Ở đây, thánh Luca lại nói lên lập trường của riêng thánh-nhân về ơn cứu độ Chúa
rộng ban, không chỉ gửi đến với dân được chọn là Do thái mà thôi, nhưng còn mở
ra với hết mọi người, mọi sắc tộc, giòng giống. Và cũng thế, các tông đồ của
Chúa được gửi đến với mọi người có giòng giống sắc tộc, rất khác nhau. Ngài sẽ
không phân biệt một ai để rồi đem tất về với Vương quốc của Ngài, cũng là vùng
đất có biển có hồ, mầu mỡ rất nhiều cá.

Truyện kể ở trình thuật thánh Luca hôm nay cũng rất đẹp, trong đó tác giả cho
thấy kết quả của công việc hợp tác giữa hai chiếc thuyền đánh cá mỏng manh đến
suýt chìm vì nặng chĩu những cá. Một trong thuyền đó, có Simôn Phêrô đã thành
công đánh bắt được rất nhiều cá. Một lần nữa, ở đây thánh Luca cũng không nhiều
kinh nghiệm về sông nước với đánh bắt. Nhưng tác giả đã để Chúa yêu cầu thánh
Phêrô chèo đò vào bờ, rồi theo Ngài.

Nhiều năm qua, có học giả người Do thái là Abraham Joshua Heschel đã nói về vai
trò của ngôn sứ ở Israel. Theo ông, ngôn sứ là người hiểu được những “xúc cảm”
của Thiên Chúa. Qua cụm từ “xúc cảm”, ông muốn nói: Thiên Chúa không xa với với
con người chúng ta, theo nghĩa khoảng cách thần linh, thánh thiêng; nhưng Ngài
là Đấng rất cần gần gũi với những khổ đau/sầu buồn, như con người. Ngài cũng có
cảm xúc như con người. Giữa Ngài và con người, luôn có sự tuỳ thuộc hỗ tương,
tức là: Chúa cần ra khỏi tính thánh thiêng để đến với chúng ta. Và chúng ta
cũng thế, cần ra khỏi hoàn cảnh của mình để ra đi mà đến với Chúa. Để sống với
những cảm xúc của chính Chúa.

Ý tưởng của diễn giả Heschel đem đến cho ta một mô hình mẫu mực để hiểu được tư
tưởng của thánh Luca viết ở đây. Thánh Luca tuy không là ngôn sứ, giống như
thế. Chúa của thánh sử cũng không là Thiên Chúa của tác giả Heschel. Nhưng theo
thánh Luca, thì Chúa cũng có cảm xúc muốn san sẻ sự vui mừng với chúng ta. Ngài
đã đi vào cuộc sống phàm trần theo cung cách cũng trần tục để niềm vui của Ngài
lấp đầy hết mọi người. Trong mọi người. Và niềm vui của ta cũng có kết quả
tương tự, đối cới Chúa.

Thật ra thì, cụm từ “xúc cảm” ở đây cũng không đúng nghĩa cho lắm khi ta diễn
tả điều mà thánh Luca muốn nói. Nhưng điều mà thánh sử Luca muốn nói chính là
niềm vui chung vẫn có giữa Đức Giêsu và các thánh tông đồ, rất thuyền chài. Đó
là niềm vui rất lớn không biên giới nhưng đã hoàn toàn rộng mở. Niềm vui ấy,
nay phát tán đi vào với thế giới gồm đầy khổ đau, âu sầu. Vui, là rung động với
những cảm xúc hân hoan của con người để đi vào tận tâm can con người vẫn thường
gặp nhiều klhổ đau/sầu buồn vào mọi lúc. Niềm vui ấy, như thể đàn cá tung tăng
nhẩy xổ vào lưới bắt của các vị tông đồ/thuyền chài. Đàn cá xem ra thích nhảy
vào lưới như thế. Và các tông đồ/thuyền chài cũng mỉm cười vui thích khi thấy
đàn cá cứ làm thế.

Và thánh Luca vẫn ghi lại những truyện kể ở trình thuật có Đức Giêsu mỗi lần
đến với ai, là người đó cũng sẽ vui mừng, nhảy chồm lên vì sung sướng. Và lòng
thương xót của Chúa lớn lao gồm đủ những cảm-xúc và niềm vui to lớn còn là kết
quả của sự việc nhảy ra khỏi làn da, thớ thịt mà Chúa từng làm và từng sống với
ta như thế. Đức Giêsu cũng đã làm như Chúa đã làm như thế với mọi người. Như thế,
thì Ngài đích thật là Người Con của Thiên Chúa.

Điều này dấy lên một vấn đề hỏi rằng: làm sao chủ đề “ơn cứu độ” lại có thể trở
nên chuyện chính yếu đối với tác giả Luca, là thế? Đôi khi, đó còn là trọng tâm
Tin Mừng của thánh-nhân nữa. Chuyện này kể cũng thực, nhưng không phải là tiên
quyết. Ít ra, tác giả cũng không đến nỗi ưu tư nhiều như thế. Ơn cứu độ, là cụm
từ ta dùng để chỉ về trạng huống ta trải nghiệm Niềm vui chung có Chúa đã từng
đảo ngược mọi chuyện tiêu cực thành cơ hội để ta suy tư về ân huệ trọng yếu
này.

Những điều kể trên, đôi khi làm người đọc lại nghĩ về truyện ông Noê ở Cựu Ước.
Truyện kể vẫn cứ kể về điều là những sinh vật được cứu sống, chỉ mỗi vài cặp
thú vật trên thuyền mà thôi. Cứ tin là như thế. Như thế, tức như thể không phải
tất cả mọi thú vật đều có mặt ở đó, hết. Thế thì, các thú khác và người khác
thì sao? Có được cứu rỗi không? Về cá heo và chúng bạn vẫn tung tăng bơi lội và
cười đùa vui vẻ ngoài con thuyền cách vô tội vạ thì sao? Chúng không được cứu
sao?

Nếu thế, cũng không phải là ý của tác giả, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Bởi Thiên
Chúa là Đấng thực sự rất Vui và rất đại độ. Có lúc Ngài cũng tung tăng vui vẻ,
ngoài con thuyền đấy chứ? Dù thuyền đó là thuyền đánh cá của Phêrô hay thuyền
cứu độ của Noê, cũng đều thế. Cả tác giả Luca cũng thế. Cũng đâu bao giờ có
được ý tưởng buồn cười về cuộc sống được cứu rỗi và về Thiên Chúa đến như thế.

Thế nên, đọc trình thuật thánh Luca, người đọc hẳn đôi lúc cũng nghĩ như nhà
thơ bên dưới:

“Gót nhỏ lên thuyền một kiếp xưa,

Em về trăng mọc bến chân như.

Người Em hơi thở say mùi huệ,

Mây trắng vương buồn mắt thái sơ.”

(Đinh Hùng – Trái Tim Hồng Ngọc)

Trái tim của Chúa, cũng “Hồng Ngọc”, tức: cũng mầu hồng và bằng ngọc, luôn
tưởng nhớ hết dân gian mọi người, dù là dân chài thợ mộc, Ngài vẫn mời theo
Ngài giảng rao ơn cứu độ thân thương, rất hồng ngọc. Để dân gian mọi người sẽ
trở thành ngọc hồng, ngọc bích vẫn cứ thương.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh –

Mai Tá lược dịch

Biến đá cuội thành tác phẩm độc đáo

Biến đá cuội thành tác phẩm độc đáo

(Dân trí) – Đá cuội ở sông suối không phải là thứ xa lạ đối với hầu hết mọi người. Tuy nhiên, khi xem những viên đá cuội đã được nữ họa sĩ Ernestina Gallina “thổi hồn”, chắc chắn người xem không khỏi thán phục.

Biến đá cuội thành tác phẩm độc đáo

Họa sĩ Ernestina Gallina đến từ Cenestino, nước Ý từ khi còn là một đứa trẻ đã biết
cách biến những vật tầm thường thành những vật độc đáo lạ mắt. Lúc nhỏ, bà
Gallina rất đam mê lĩnh vực hội họa, thiết kế. Tuy nhiên, do gia đình Gallina
không ủng hộ sự lựa chọn này của bà cho nên bà không có cơ hội để phát triển kỹ
năng của mình cũng như đăng ký tham gia học tập tại bất kỳ trường nghệ thuật
chính thống. Bà chỉ thể hiện tài năng nghệ thuật của mình như là một thú vui
giải trí.

 

Biến đá cuội thành tác phẩm độc đáo

Năm 1987, bà cùng với gia đình chuyển đến thành phố Nairobi, ở Kenya để sinh sống. Tại đây sự nghiệp hội họa của bà được thăng hoa. Gallina kể lại, vào một hôm tại
thư viện, vô tình bà đã vấp phải một cuốn sách được trưng bày trên những bức
tranh đá. Từ hôm đó bà bắt đầu suy nghĩ về cách biến những viên đá cuội bình
thường ở sông suối thành những tác phẩm nghệ thuật. Đây chính là điểm mấu chốt
giúp bà kết hợp và phát huy được niềm đam mê nghệ thuật cùng với tình yêu thiên
nhiên đất trời. Kể từ đó, bà đến với nghệ thuật vẽ tranh trên đá như một điều
tất yếu và không bao giờ ngừng lại được.

Sau 3 năm làm quen với công việc vẽ tranh trên đá, bà Ernestina Gallina đã có thể dạy lại những bí quyết vẽ tranh trên đá cho nhiều học viên, đến năm 2003 bà đã thành lập câu lạc bộ vẽ trên đá đầu tiên tại Ý.

Chiêm ngưỡng một số tác phẩm của bà Ernestina Gallina:An TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn Tử

Thằng Khùng – Phùng Quán

Thằng Khùng -Phùng Quán
(Cha chính Nguyễn văn Vinh – Giáo-phận  Hà nội ]
Thằng Khùng (viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân)
“… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình
không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính
trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ
cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng
anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều,
do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào
hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể
ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ,
như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng,
tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh
ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười.
Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo
lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ
ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt
chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình
với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.
Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều
thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta
viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.
Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn
tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi
“thằng khùng” (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với
bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh
ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người
chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người
mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.
Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai
nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người
chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của
người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp
sơ sài.
Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho
người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm
gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên
trán người tù chết, và bật khóc.
Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác
người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người
tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
– Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
– Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc
tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm
hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây
là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu
thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng
úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta
run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc…
Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả.
Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, “đầu
chày, đít thớt, mặt bù loong” cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau
đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ
ngợi rất nhiều
về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối
từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…
Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho
dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như
than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải
một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác
ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình
phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng
bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước,
hỏi mà đầu không quay lại:
– Anh Tuân này – không rõ anh ta biết tên mình lúc nào – sống ở đây
anh thèm cái gì nhất?
– Thèm được đọc sách – mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ
anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết
viết cũng nên.
– Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? – anh ta hỏi.
– Voltaire! – một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với
anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang
ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn
như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu
mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất
chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn
trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng
phạt”.
Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
– Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một
người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên
tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt
nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta:
– Tôi thích nhất là Candide.
– Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
– Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm
chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình
trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép
lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta
đang đọc thiên truyện Candide
nguyên bản được chép lên mặt sông…
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ
lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống:
“Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!”.
– Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! – anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
– Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả
lời:
– Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa .
Rồi anh ta tiếp:
– Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn – ngu ngơ, đần
độn như thường ngày.
Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau
mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn
được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn…
– những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi:
– Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
– Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong
gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai
hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt,
chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười.
Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè
luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
– Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ
rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn
như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên
than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN .
Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa
ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi:
– Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo,
tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.
Mình nói:
– Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu
một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…
Phùng Quán
________
Ghi Chú:
(*) THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan
NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội.  Bài viết của Phùng
Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.
Xin mời đọc thêm (bài kèm theo dưới đây) tiểu sử của Cha Vinh để chúng ta biết
thêm nhiều chi tiết về cuộc đời Ngài; và cũng để hiểu thêm gương phụng sự Chúa
của Ngài…. Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH, Cha chính Hà Nội, (1912 – 1971).
Tấm gương can trường.
Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH*
Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc
Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh
về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý
yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis
giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng
viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.
Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại
Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở
Limoges .
Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập.
Ngài học Văn Khoa – Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc
viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài
đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: “Bonjour
Madame!”
Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng
là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.
Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển
Đức tại Đan Viện Sainte Marie.
Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội
Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize –
Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài
xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.
Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ
Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai
tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế
của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam
xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh
cương quyết không chịu.
Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe
dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ
Tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha
Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh
văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy
Văn Triết ở trường Chu Văn An.
Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh
đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn
cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm
Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.
Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh,
đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân
Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám
Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau,
và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở
thành đạo đức nhiệt
thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều
người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.
Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh
lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng
không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.
Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê
cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu
Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng
thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng:
“Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?” Ít lâu sau trường
Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.
Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội
tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới
viết.
Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một
nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người
Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội.
Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên
đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh
trình bày bản hợp tấu “ Ở Dưới Vực Sâu ” nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam
do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.
Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác “Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít.” Sáng tác nhiều
nhạc phẩm lớn: “Mở Đường Phúc Thật,” “Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi,” “Ôi GiaVi,”
“Lạy Mừng Thánh Tử Đạo.” Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh
23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh
Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài
ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài “Bước Tới Đèo Ngang” của Bà
Huyện Thanh Quan.
Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan.
Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn. Ngài tổ chức và chỉ
huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh
Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội.
Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt
Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long
trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết
đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số
tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công.
Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người
của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng
dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha
xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ
sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo
chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ
cha xứ, hai bên to tiếng.
Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết
quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi
chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai
cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn:
“Tự do thế này à!”
Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành.
Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét
xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu
trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo.
Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập
hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ,
gây chia rẽ trong nhân dân” (!).
Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi
nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi
dành riêng cho các tù nhân tử tội.
Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác,
nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế
ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy
tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi:
“Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?”
Ngài đáp:
“Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải
làm bổn phận mình!”
Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một
bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong
từng chút một… Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý
Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá
nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn
chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là “Bố.”
Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ
trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này
xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có
tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.
Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ
muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế
Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội
ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông
Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.
Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua
một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim,
biệt giam và án tử.
Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính
quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã
chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”
Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài
đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như
khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền,
luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo
Hội.
Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh
mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.
TGP Hà Nội – 2013
BBT (Theo HĐGMVN)
From: Đỗ Tân Hưng

 

Nguyễn Kim Bằng gởi

 

 

TỪ NAY ANH SẼ LÀ KẺ LƯỚI NGƯỜI

TỪ NAY ANH SẼ LÀ KẺ LƯỚI NGƯỜI

http://www.google.com.vn/url?sa=i&rct=j&q=luca+4,30&source=images&cd=&cad=rja&docid=dH7VzgVml2UysM&tbnid=7ZdbQwBxxZ5yOM:&ved=0CAUQjRw&url=http://menchuayeunguoi.com/index.php?option=com_content&view=article&id=5495:cn-4-tn-c-c-giesu-tht-bi-ti-nadaret&catid=135:suy-nim-suy-t-chia-s&Itemid=365&ei=_nQTUfSiPOiaiAey1YFo&bvm=bv.42080656,d.aGc&psig=AFQjCNEgznsugNf60S_oHCJ5uI1raj84Fg&ust=1360315988424091

Chẳng ai ngờ cuộc đời Simon có thể chuyển hướng. Ông đã có nghề nghiệp ổn định và đã lập gia đình. Thế giới của ông là hồ Ghênêxarét, là những con cá quẫy đuôi trong lưới, là gia đình cần phải chăm nom săn sóc.

Ông yêu vợ con, ông yêu biển cả. Chúa đã đặt ông vui sống trong thế giới ấy, nên chỉ có Ngài mới có thể kéo ông ra, và bất ngờ đưa ông vào một thế giới mới, một đại dương bao la hơn nhiều, một gia đình rộng lớn hơn vạn bội. Chỉ Chúa mới có thể làm trái tim ông say mê một Ai khác, yêu một Ai đó hơn những người ông đã từng yêu.

Đức Giêsu đã đến với Simon thật tự nhiên. Ngài chọn thuyền của ông làm nơi giảng dạy. Sau đó Ngài mời ông thả lưới bắt cá, Simon có nhiều lý do để khước từ. Ông có thể dùng kinh nghiệm của mình để nhận thấy tốt hơn nên chờ dịp khác, hay nại lý do mệt mỏi, sau một đêm ra khơi. Nhưng Simon đã vâng lời, chỉ vì tin Lời Thầy Giêsu, Lời đầy quyền uy, Lời trừ được quỷ (Lc 4,30). Lời mạnh mẽ đã chữa cho mẹ ông khỏi
bệnh (4,39).

Mẻ cá lạ lùng, mẻ cá chỉ có trong mơ. Mẻ cá làm Simon run rẩy nhận ra mình tội lỗi, và nhận ra Đấng ở gần bên. Mẻ cá bất ngờ mở đường cho một lời mời gọi mới: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ thành kẻ bắt người.”

Simon lại có nhiều lý do hơn để từ chối. Chuyện gia đình bề bộn, tương lai bấp bênh. Kẻ quen bắt cá đâu có khả năng bắt người. Kẻ tội lỗi đâu xứng với sứ mạng. Nhưng một lần nữa, Simon dám tin vào Lời Chúa, để cho Chúa tự do lôi kéo mình.

Ông đã bỏ lại bao điều ông yêu mến. Khi bỏ lại hai thuyền đầy cá, ông tin rằng những mẻ cá mới đang đợi ông. Và Simon cứ lớn dần lên sau mỗi bước của lòng tin.

Tin đòi vượt trên lối suy luận thông thường, vượt trên kinh nghiệm, vượt trên mệt mỏi của xác thân.

Tin đòi tôi ra khơi buông lưới thêm một lần nữa.

Tin đòi tôi bỏ lại tất cả để theo Chúa. Bỏ tất cả là đặt tất cả dưới Chúa và sử dụng tất cả trong Ngài.

Chúa vẫn gọi tôi ra khỏi lối mòn quen thuộc, khỏi những điều tưởng như không thể thay đổi. Tôi có sẵn sàng lên đường theo Ngài không?

***

Lạy Chúa, chúng con  không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.

Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.

Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.

Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.

Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.

Trích từ “Manna”

nguồn: ngocnga Và Anh chị Thụ & Mai gởi