Thánh Elizabeth Ann Seton Nữ Tu Hoa Kỳ (1774-1821)- Cha Vương 

Weekend ấm áp và bình an nhé! Hôm nay 04/01 Giáo Hội mừng kính Thánh Elizabeth Ann Seton Nữ Tu Hoa Kỳ (1774-1821). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương 

CN: 4/1/2026.   (t7-25)

TIỂU SỬ: 

❦ Thánh Elizabeth Ann Seton có cha mẹ theo đạo Episcopan (Anh giáo).

❦ Lấy chồng lúc 19 tuổi với ông William Seton ở New york, con nhà giầu có. Hai người rất yêu nhau và sinh được 3 gái 2 trai. Góa chồng lúc 30 tuổi. Nhờ sự giúp đỡ của người bạn gia đình bà trở lại đạo Công Giáo 14/3/1805.

❦ Để có tiền nuôi con, bà đã mở trường nội trú Công giáo cho các thiếu nữ tại Baltimore, bang Maryland. 

❦ Bà đáp lời tiếng Chúa gọi trong lòng, hiến mình cho Chúa, nên bà và mấy bà bạn cùng nhau lập tu viện, sau này trở thành Dòng Nữ tử Bác ái (Daughters of Charity). Hai con trai bà nhập lính hải quân, 2 con gái đi tu, một người chết trẻ, một người làm việc cho tù nhân. Ngày nay, hàng ngàn ngàn nữ tu Bác ái đang phục vụ trong các bệnh viện, nhà dưỡng lão, và nhà trường.

❦ Nữ Tu Bác Ái Người Mỹ và người ta tôn tặng cho Êlizabeth tước hiệu “Mẹ Seton”. 

NHÂN ĐỨC:

❦ Hoàn toàn phó mình theo ý Chúa, vui chịu đau khổ, tôn kính Mình Thánh: Thánh Elizabeth Ann Seton không có ơn khác thường như làm phép lạ, nói tiên tri, in dấu thánh…nhưng bà có 2 điều đặc biệt là:  hoàn toàn phó mình làm trọn Ý Chúa, vui chịu đau khổ: mẹ chết, chồng chết, con chết, họ hàng ghét bỏ… Thánh nữ nổi bật về lòng tôn kính Mình Thánh Chúa, yêu mến Đức Mẹ…

❦ Đặc biệt nhất là thánh nữ thích việc viếng thăm những người nghèo khổ, đau yếu.

❦ Trong lá thư cho người bạn là bà Julia Scott, thánh nhân viết rằng ngài muốn đổi cả thế gian để sống ẩn dật ở “trong hang hay sa mạc. Nhưng Thiên Chúa đã ban cho tôi nhiều việc phải làm, và tôi hằng cầu xin và luôn luôn hy vọng được vâng theo ý Chúa hơn là ý riêng tôi.” Kiểu cách nên thánh của ngài là mở lòng cho mọi sự nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành thánh ý Ngài.

CÂU NÓI: 

❦ Thánh Elizabeth Seton thường nói với các nữ tu: “Tôi thiết nghĩ mục đích trước nhất trong công việc hàng ngày của chúng ta là thi hành thánh ý Thiên Chúa; thứ đến, thi hành điều ấy trong phương cách mà Ngài muốn; và thứ ba, thi hành điều ấy vì đó là ý Chúa.”

❦ Đau khổ là những bậc thang dẫn tới Thiên Đàng.

❦ Tâm hồn chuẩn bị đón nhận Bí tích Thánh Thể phải được sáng bóng và trong suốt giống như một chiếc bình pha lê.

NOI GƯƠNG THÁNH NHÂN:

Trong đời sống hàng ngày mời bạn: 

1) Luôn luôn tìm và thực thi thánh ý Thiên Chúa, 

2) làm việc trong thánh ý Chúa muốn, 

3) bạn làm những việc ấy vì đó là ý Chúa. 

From Do Dzung

********************

Xin vang

Thánh Ba-xi-li-ô Cả, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh – Cha Vương

Chúc bình an! Sau những ngày yến tiệc linh đình, chịu khó vận động tay chân một tí để đốt calo nhé. Hôm nay Giáo hội mừng kính Thánh Thánh Ba-xi-li-ô Cả và Thánh Ghê-gô-ri-ô Na-di-en. Mừng bổn mạng đến những ai chọn các ngài làm quan thầy.

Cha Vương

Thứ 6: 02/01/2026.   (T5-25)

Thánh Ba-xi-li-ô Cả, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh

TIỂU SỬ: Thánh Ba-xi-li-ô sinh tại Xê-da-rê miền Ca-pa-đô-xi-a năm 330, trong một gia đình Ki-tô giáo. Vốn là người tinh thông văn học lại nổi tiếng nhân đức, ban đầu thánh nhân chọn cuộc đời đan tu. Đến năm 370, người được cắt đặt làm giám mục cai quản nơi người sinh trưởng. Người tích cực chống lại giáo phái A-ri-ô, viết nhiều tác phẩm. Đặc biệt, người đã soạn thảo những quy luật cho đời sống đan tu, mà cho đến bây giờ, nhiều đan sĩ Đông Phương vẫn còn tuân giữ. Người hết sức chăm lo cho người nghèo. Người qua đời ngày 1 tháng Giêng năm 379.

NHÂN ĐỨC:

❦ Làm việc không biết mệt trong công việc mục vụ, chống chọi lại với nạn buôn thần bán thánh, giúp đỡ nạn nhân của hạn hán và đói kém, cố gắng thay đổi hàng giáo sĩ, nhấn mạnh đến tinh thần kỷ luật. Ngài không sợ lên án những điều xấu xa một khi đã thấy, và sẵn sàng ra vạ tuyệt thông cho những ai dính líu đến nạn mãi dâm ở Cappadocia.

❦ Thánh Ba-xi-li-ô là một người hết lòng chăm sóc cho những người nghèo. Có lần Ngài đã phát biểu: “Thực phẩm mà bạn không dùng là thực phẩm của người đói; quần áo bạn treo trong tủ là quần áo của người trần truồng; giày dép bạn không dùng là giày dép của người chân không; tiền bạc bạn cất giữ là tiền bạc của người nghèo; hành động bác ái mà bạn không thi hành là những bất công mà bạn đã phạm.”

NOI GƯƠNG THÁNH NHÂN:

❦ Hy sinh ít thời gian làm việc bác ái

❦ Bênh vực cho sự thật, bài trừ văn hoá phẩm đồi trụy 

 From: Do Dzung

********************

Sống trong tình Chúa – Gia Ân 

Thánh Juan Diego (St. Juan Diego), 1474-1548, – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Juan Diego (St. Juan Diego), 1474-1548, vị thánh được ít người Việt biết đến. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thư 3: 9/12/2025.  (t3-23)

Lúc đầu người ta gọi ngài là Cuauhtlatohuac (“Con đại bàng cất tiếng”), tên Juan Diego thì mãi mãi đi liền với Ðức Mẹ Guadalupe vì chính ngài là người được Ðức Mẹ hiện ra ở đồi Tepeyac lần đầu tiên vào ngày 9/12/1531. 

Ông là một thổ dân nghèo hèn, 57 tuổi, goá vợ, tên thật là Cuatitlatoatzin và sau khi rửa tội có tên là Juan Diego. Vào buổi sáng thứ Bảy, 9 tháng Mười Hai 1531, ông đến nhà nguyện gần đó để tham dự lễ kính Ðức Mẹ. Khi đang đi trên ngọn đồi gọi là Tepeyac thì ông nghe có tiếng nhạc du dương như tiếng chim hót. Sau đó một đám mây sáng chói xuất hiện, đứng trên đám mây là một trinh nữ người thổ dân mặc y phục như công chúa của bộ lạc Aztec. Trinh nữ nói chuyện với ông bằng tiếng bản xứ và sai ông đến với Ðức Giám Mục của Mexico, là một tu sĩ dòng Phanxicô tên Juan de Zumarraga, và yêu cầu đức giám mục xây cất một nguyện đường nơi Trinh Nữ hiện ra.

Dĩ nhiên vị giám mục không tin, và bảo Juan Diego xin Trinh Nữ cho một dấu chỉ. Trong thời gian này, người chú của ông bị bệnh nặng. Ðiều đó khiến ông cố tránh né không muốn gặp Trinh Nữ. Tuy nhiên, đức trinh nữ tìm ông, đảm bảo với ông là người chú sẽ khỏi bệnh, và bảo ông hái các bông hồng quanh đó để làm bằng chứng với vị giám mục. Lúc ấy là mùa đông thì không thể có bông hoa nào mọc được, nhưng lạ lùng thay, gần chỗ Trinh Nữ hiện ra lại đầy dẫy những hoa hồng tuyệt đẹp. Và ông đã dùng chiếc áo tơi của mình để bọc lấy các bông hồng đem cho vị giám mục.

Trước sự hiện diện của đức giám mục, ông Juan Diego mở áo tơi ra và bông hồng đổ xuống tràn ngập khiến vị giám mục phải quỳ gối trước dấu chỉ lạ lùng ấy. Lạ lùng hơn nữa, trên chiếc áo tơi lại có in hình Ðức Trinh Nữ như ngài đã hiện ra với ông ở đồi Tepeyac. Ðó là ngày 12 tháng 12 năm 1531.

Sau đó, người ta không đề cập gì nhiều đến Juan Diego. Có lúc ông sống gần một ngôi đền được dựng ở Tepeyac, được mọi người kính trọng như một giáo lý viên thánh thiện, vô vị lợi và đầy lòng nhân ái qua lời nói cũng như gương mẫu. Ông Juan Diogo qua đời vì già yếu bệnh tật ngày 30 tháng 5 năm 1548 tại Guadalupe, Mexico.

Juan Diego được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Chân Phước tại Vatican ngày 09 tháng 4 năm 1990. Trong chuyến công du đến Mễ Tây Cơ ngày 06 tháng 5 năm 1990, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã xác nhận lại một nghi thức có từ lâu đời nhằm vinh danh Juan Diego qua việc phong chân phước cho ông. Ngài được nâng lên bậc hiển thánh ngày 31 tháng 7 năm 2002 trong một buổi lễ được tổ chức long trọng tại Vương cung Thánh đường Ðức Mẹ Guadelupe, Mexico với khoãng 4.3 triệu người tham dự. 

Trong bài giảng Lễ tuyên phong Chân Phước, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: “Cũng như các nhân vật trong phúc âm xưa đại diện chung cho mọi dân tộc, chúng ta cũng có thể nói rằng Juan Diego đại diện cho những người thổ dân đã chấp nhận Tin Mừng của Ðức Giêsu, nhờ sự trợ giúp của Mẹ Maria, là người luôn luôn sát cánh với hành động của Con Mẹ và sự phát triển của Giáo Hội, như khi ngài hiện diện với các Tông Ðồ trong ngày Hiện Xuống” 

(Nguồn: Người Tín Hữu Online)

From: Do Dzung

*************************

KHẤN XIN MẸ MARIA – Thanh Hoài || Lời: Sóng Tình – Nhạc: Thừa Sai

Thánh Am-rô-xi-ô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh- Cha Vương

Xin Chúa che chở và ban nhiều ơn lành xuống cho bạn và gia đình hôm nay. Hãy gạt bỏ quá khứ, chào đón mỗi ngày với niềm vui và hy vọng. Sống hồn nhiên vui vẻ với những nụ cười thật to nhé!

Cha Vương

CN: 07/12/2025.  (t5-23)

Hôm nay 07/12, Giáo hội mừng kính Thánh Am-rô-xi-ô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Thánh Am-rô-xi-ô chào đời ở Trê-vê-rô khoáng năm 340 trong một gia đình người Rô-ma. Thánh nhân theo học ở Rô-ma và bắt đầu sự nghiệp hiển hách ở Xiếc-mi-ô. Năm 374, lúc đang ở Mi-la-nô, thánh nhân bất ngờ được bầu làm giám mục và được tấn phong ngày 7 tháng 12. Người trung thành thi hành bổn phận, nổi bật về lòng bác ái đối với mọi người. Đối với các tín hữu, người vừa là mục tử, vừa là tôn sư. Người đã can đảm bênh vực các quyền của Hội Thánh, người vừa viết lách, vừa hoạt động để bênh vực giáo lý đức tin chân thật, chống lại những người theo phái A-ri-ô. Người qua đời thứ Bảy Tuần Thánh, ngày 4 tháng 4 năm 397. Sau đây là những câu danh ngôn của ngài mời bạn đọc và hình dung ra như ngài đang nói vời bạn điều gì đó…:

❦  Chúng ta tránh né con mắt người đời, nhưng chúng ta lại phạm tội ngay trước mắt Thiên Chúa.

❦  Hỡi những người giàu có, anh em muốn mở rộng tính tham lam của mình đến tận đâu? Anh em định làm những người duy nhất cư ngụ trên trái đất này sao? Vậy tại sao anh em lại xua đuổi những người cùng chia phần thiên nhiên và tự nhận nó là của riêng anh em? Trái đất này được tạo dựng cho mọi người, giàu cũng như nghèo, chung cho tất cả. Tại sao những người giàu có như anh em lại tự nhận nó làm độc quyền của mình?

❦  Nếu bạn có hai cái áo trong tủ, một cái là của bạn còn cái kia là của người nghèo không có áo mặc.

❦  Nhẫn nại chịu đựng là sự trọn lành của đức ái.

❦  Lòng nhân ái thật tốt lành vì làm cho người ta nên hoàn thiện, noi theo Chúa Cha là Đấng hoàn thiện. Không gì làm cho linh hồn người tín hữu nên khả ái cho bằng lòng nhân ái.

❦ Đối với người lành thánh, chết là một mối lợi. Người ngu dại sợ chết như điều dữ dằn kinh hãi nhất, còn người khôn ngoan mong mỏi cái chết như sự nghỉ ngơi sau bao nhiêu lao nhọc và chấm dứt những bệnh tật.

❦  Phúc cho ai dứt bỏ được thói tham lam là cội rễ của các tính mê…. Của cải thừa mứa trên thế gian này có ích gì, chúng không giúp được chúng ta sinh cũng chẳng cản được chúng ta tử? Chúng ta sinh vào thế gian này trần trụi, và chúng ta chết đi mà chẳng mang theo được một xu nào, chúng ta bị chôn táng mà không đem theo được sản nghiệp của mình.

❦  Không ai có thể tự chữa lành cho bản thân bằng cách đả thương người khác.

❦  Chúng ta đã yêu thương họ khi họ còn sống, vậy chúng ta cũng đừng lãng quên họ cho đến ngày chúng ta dẫn đưa họ – bằng lời cầu nguyện của chúng ta – vào đến nhà Chúa.

❦  Đời sống của Đức Maria là bài học cho tất cả mọi người… Bạn hãy đặt trước mắt bạn cuộc đời thánh khiết của Đức Trinh Nữ, Đấng đã phản chiếu, như một tấm gương, vẻ lộng lẫy, sự thánh khiết, và sức mạnh nhân đức.

Câu nào đánh động bạn nhất? Tại sao?

Lạy Thánh Am-rô-xi-ô, cầu cho chúng con. 

From: Do Dzung

************************

Cho Đi Là Lãnh Nhận – Sáng tác: Duy Nhạc Angelo

Thánh Nicôla giám mục, Turkey (- 343) – Cha Vương

Mừng quan thầy đến những ai mang tên Nick nhé!

Cha Vương

Thư 7: 06/12/2025.  (t6-24)

Hôm nay 06/12 Giáo Hội mừng kính Thánh Nicôla giám mục, Turkey (- 343) Vị thánh bênh vực công lý, bênh vực người nghèo, cho quà con nít: Nicholas sinh tại Patara thuộc tỉnh Lycia, thuộc Tiểu Á (Asia Minor), ngày nay gọi là nước Turkey (Thổ nhĩ kỳ). Sau khi cha mẹ chết, cậu đem hết tiền của cho người nghèo. Ông đi tới tỉnh Myra (ngày nay là Demre) khi giáo sĩ và giáo dân đang chọn giám mục mới. Người dân chọn Ông giữ chức vụ  giám mục thành Myra.

   Vào đầu thế kỷ 4 này, đạo Công giáo đang bị bắt bớ dưới thời hoàng đế Dioletia. Giám mục Nicola cùng nhiều tín hữu bị quan tỉnh bắt giam, bị đánh đập, xiềng xích, vì ngài mạnh dạn giảng về chân lý đức tin  và sự tự do của đạo thánh. Tới khi vua Constantinô lên cầm quyền tha bắt đạo, ngài và giáo dân mới được tha về Myra… Ngài rất tốt lành và tử tế. Mọi hoạt động của đời ngài nhằm tôn vinh Chúa Giêsu Kitô, bênh vực cho công lí và người nghèo khó. Trẻ em khắp nơi quí mến Ngài.

   Nhiều câu truyện nói về ngài khiến người ta khó biết chính xác giám mục Nicola đã giúp giáo dân trong địa phận Myra để tỏ lòng kính mến Chúa và phục vụ Chúa nơi tha nhân thế nào.

   -Người ta kể, có 3 người bị kết án tử hình sai lầm, Ngài đã tìm đến quan kết án, cho ông biết rằng, vì nhận tiền hối lộ mà ông kết án sai, nên 3 người đã được tha về.

   -Truyện khác nói: ngài cứu 3 em bé vô tội đã chết, được sống lại.

   -Nhưng có một truyện nổi tiếng về một gia đình ở Myra, ông bố bị mất hết tiền bạc, không có đủ tiền cho 3 người con gái lập gia đình. Vào thời đó, người thiếu nữ phải có một số tiền hồi môn khi lấy chồng. Ông định tống con vào nhà tội lỗi. Giám mục Nicola nghe chuyện cảm thấy buồn cho cha con ông, ngài tìm cách giúp đỡ. Đêm kia, ngài xách túi vàng ném qua cửa sổ đang mở, nơi ông ta nằm, rồi ngài vội đi ngay, để ông ta không biết ai cho vàng. Ít lâu sau, ngài nghe tin cô lớn nhất đi lấy chồng.

Giám mục Nicola lại đến cho ít vàng nữa, lần này cô thứ hai lấy chồng. Thời gian sau, ngài lại đến ném túi vàng nữa qua cửa sổ rồi đi ngay, nhưng ông chủ nhà nghèo kia đã chờ sẵn, đuổi theo, bắt gặp ngài. Ông ta cám ơn rối rít về nghĩa cử cao đẹp của giám mục. Rồi người con thứ ba cũng được lên xe hoa nhờ món vàng đó.

  Giám mục Nicola đã qua đời vào ngày 6 tháng 12 năm 343. Xác ngài được chôn trong nhà thờ lớn xây trên mộ Ngài tại Myra. Rất nhiều khách hành hương đã tới viếng mộ để cầu khấn vị thánh của tình bác ái. Nhiều bàn thờ, thánh đường trên thế giới mang tên thánh Nicola.   Chỉ riêng nước Anh đã có chừng 400 nhà thờ mang tên Nicola. Thánh Nicola là bổn mạng các thủy thủ và tù nhân.

   Từ thế kỷ thứ 5, giáo hội phương Đông đã tôn kính vị thánh làm nhiều phép lạ này. Năm 987, vua Vladimir đã cổ động lòng sùng kính thánh Nicola cho dân Nga (Russia). Cùng với thánh Anrê, Ngài cũng là bổn mạng nước Nga. 

Năm 1087, thủy thủ người Ý đã đem xương thánh ngài về thành Bari. Hàng năm tổ chức mừng Ngài. Thành Bari từ đó trở nên nổi tiếng, và là nơi hành hương cho cả  u châu. Năm 1100, các Xơ người Pháp phát bánh quà cho trẻ em nghèo vào lễ kính thánh Nicola (6-12), dần dần lan ra nhiều nơi trong  u châu. Thế kỷ 13, trẻ em Công giáo  u châu thích đóng vai “giám mục Nicola” và xin quà phát cho trẻ nghèo. Ngay cả thời nay, vào chiều áp lễ kính ngài, tại nước Hoà lan, Đức, Thuỵ sĩ, trẻ em đặt chiếc giầy ở một chỗ để lãnh quà, mong thánh Nicola bí mật đem quà đến cho.

    Tại nước Mỹ và Anh, thánh Nicola được biết dưới danh hiệu Santa Claus. Người Công giáo Việt nam do ảnh hưởng tiếng Pháp, gọi là ông già Noel. (Nguồn: Dân Chúa)

Noi gương Thánh Nicholas đầy lòng bác ái từ nhân, mời Bạn hôm nay hãy làm một việc đúng theo tinh thần của Ngài nhé. 

From: Do Dzung

************************

TÂM TÌNH YÊU MẾN – Tuyệt Phẩm Thánh Ca Để Đời – Dành Cho Đời Sống Dâng Hiến

THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ – Lm. Phao lô Phạm Quốc Túy

 Lm. Phao lô Phạm Quốc Túy

 Phanxicô ra đời tại lâu đài Xaviê thuộc vương quốc Navarre ngày 7 tháng 4 năm 1506.  Cha ngài là cố vấn của nhà vua miền Navarre và là thẩm phán.  Anh em ngài theo binh nghiệp.  Riêng Phanxicô ham thích học hành.  Năm 19 tuổi, ngài theo học tại Đại học Paris, trường lớn nhất thế giới.  Khi còn ở học viện thánh Barbe, ngài được phúc trọ cùng phòng với Phêrô Favre, người sau này sẽ nhập dòng Tên và được phong chân phước.  Bốn năm sau, ngài lại có được người bạn học giả là Inhaxiô thành Loyoa.

Người học trò mẫn cán đã trở thành giáo sư.  Ngài dạy triết học.  Thành công làm cho ngài thành con người tham vọng.  Inhaxiô nói với ngài về một hội dòng mà thánh nhân muốn thành lập.  Nhưng Phanxicô mơ tới danh vọng, ngài chế nhạo cũng như khinh bỉ nếu sống nghèo tự nguyện của bạn mình.  Inhaxiô vui vẻ đón nhận những lời châm biếm, nhưng lặp lại rằng :

 “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì.”

 Cuối cùng, Phanxicô đã bị ảnh hưởng.  Inhaxiô còn đưa ra những lời cao đẹp hơn:

 “Một tâm hồn cao cả như anh, không hề chỉ gò bó với cái vinh dự thế trần được.  Vinh quang trên trời mới đúng với cao vọng của anh.  Thật vô lý, khi ưa chuộng một thứ mây khói chóng tàn hơn là những của cải tồn tại đời đời.”

 Phanxicô bắt đầu thấy được cái hư không của những sự cao trọng của thế nhân và hướng vọng tới của cải vĩnh cửu.  Chiến thắng rồi, ngài chống lại tính kiêu căng bằng mọi loại sám hối.  Ngài quyết định theo sát Phúc âm, vâng theo cách cư xử của người bạn thánh thiện và xin được khiêm tốn hãm mình.  Ngài chỉ còn chú tâm cứu rỗi các linh hồn.

 Ngày lễ Mông triệu năm 1533, trong một nhà nguyện tại Monmartre, trên mộ bia thánh Dénis, Phanxicô, Inhaxiô và 5 bạn khác đã hiến mình cho Chúa.  Họ khấn từ bỏ mọi của cải, hành hương thánh địa, làm việc để cải hóa lương dân và hoàn toàn đặt mình dưới sự điều động của Đức Thánh Cha để phục vụ Hội Thánh.  Phanxicô còn học thần học hai năm nữa, rồi cùng sáu bạn đi Italia.

  Đi đường, họ chỉ mang theo cuốn Kinh Thánh và sách nguyện trong bị, cổ đeo tràng hạt.  Tuyết lạnh hay khắc khổ cũng không làm họ sợ hãi.  Trái lại, Phanxicô lại còn cảm thấy quá êm ái nhẹ nhàng, nên một ngày kia đã cột giây thừng vào chân, khiến dây đó ăn vào thịt và ngay việc được khỏi bệnh đó cũng đã là một phép lạ.

 Đoàn quân bé nhỏ đó tới Venatia chống lại quân Thổ.  Thế là họ phải bỏ cuôc hành hương đi thánh địa. Đức Thánh Cha đã chúc lành cho nhóm bạn cũng như dự định của họ.  Phanxicô và Inhaxiô thụ phong linh mục ngày 16 tháng 6 năm 1537.  Phanxicô đã chuẩn bị thánh lễ mở tay bằng cuộc sám hối kéo dài 40 ngày trong một túp lều tranh bỏ hoang và sống bằng của ăn xin.

 Trong khi chờ đợi bắt đầu thực hiện công việc vĩ đại của mình, ngài rao giảng và săn sóc cho người nghèo trong các nhà thương.  Ngài còn phải chiến thắng chính mình nữa, chẳng hạn khi băng bó các vết thương lở loét.  Ngài luôn đi ăn xin thực phẩm.

 Khi Phanxicô được 35 tuổi, vua nước Bồ Bào Nha xin Đức Thánh cha gửi các thừa sai sang Ấn độ. Phanxicô rất vui mừng khi được chỉ định.

 Ngài bộc lộ cho một người bạn:

“Anh có nhớ rằng, khi ở nhà thương tại Rôma, một đêm kia, anh đã nghe tôi la:

 “Còn nữa, lạy Chúa, còn nữa” không?  Tôi đã thấy rằng: phải chịu khổ nạn cho vinh danh Chúa Giêsu Kitô.  Trước mặt tôi là những hoang đảo, những miền đất báo cho tôi biết trước cơn đói, cơn khát và cả đến cái chết dưới hàng ngàn hình thức.  Tôi ao ước được chịu khổ hình hơn nữa.”

 Chỉ còn 24 giờ để chuẩn bị lên đường.  Nhưng thế đã quá đủ để xếp đặt hành trang.  Với vài bộ đồ cũ.  Một thánh giá, một cuốn sách nguyện và một cuốn sách thiêng liêng.  Ngài đáp tàu.  Cuộc hành trình cực khổ vì say sóng.  Đau bệnh, ngài vẫn săn sóc các bệnh nhân.  Những thủy thủ hư hỏng dường như là đoàn chiên đầu tiên ngài phải đưa về cho Chúa.  Ngài rao giảng cho họ bằng chính việc chia sẻ cuộc sống với họ.

 Sau bảy tháng hành trình, người ta dừng lại bến Mozambique.  Khí trời ngột ngạt.  Một cơn bệnh dịch đang hoành hành nơi đây.  Phanxicô lại săn sóc các bệnh nhân và muốn sống đời cực khổ nhất.  Ngài lặp lại:

 “Tôi khấn sống nghèo khó, tôi muốn sống và chết giữa người nghèo.”

 Sau một năm hành trình, Phanxicô cặp bến Goa, thủ đô miền Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha vào tháng 5 năm 1542.  Ngài phát khóc vì vui mừng.  Nhưng việc cấp thiết, nhất là phải làm cho những người chinh phục Bồ Đào Nha giữ đạo đã.  Những tật xấu và tính hung hăng của họ làm ô danh Kitô giáo.  Còn dân Ấn thì thờ ngẫu tượng.  Vị tông đồ làm thầy thuốc, thẩm phán, giáo viên.  Ngài học tiếng một cách khó khăn, thời gian của ngài dành cho các nhà thương, nhà tù, người nghèo và việc dạy giáo lý.  Rảo qua đường phố, ngài rung chuông tập họp trẻ em và dân nô lệ lại, với sự nhẫn nại vô bờ, ngài ghi khắc tình yêu Chúa vào lòng họ.  Các trẻ em tham dự lại trở thành các nhà truyền giáo cho cha mẹ và thầy dạy của chúng.  Chúng mang thánh giá của “ông cha” cho các bệnh nhân.  Chúng trở nên hung hăng với các ngẫu tượng.  Bây giờ, các cánh đồng lúa vang lên được bài thánh ca.  Dần dần, đời sống Kitô giáo đã vững vàng trong lòng các gia đình.

 hanxicô nghe nói tới một bộ lạc thờ lạy ngẫu thần ở mũi Comorin, sống bằng nghề mò ngọc trai.  Muốn loan báo Tin Mừng cho họ, thánh nhân học ngôn ngữ mới, vượt mọi khó khăn để phổ biến đức ái và chân lý.  Rồi ngài lại qua các làng khác.  Cứ như thế ngài đi khắp Ấn độ.  Trong 15 tháng trời, ngài đã rửa tội cho một số đông đảo người Kitô hữu, khiến “xuôi tay vì mệt mỏi.”  Người nói : “Mọi ngày tôi đều thấy tái diễn những phép lạ thời Giáo hội sơ khai.”

 Ngài ngủ ít, đêm thức khuya để cầu nguyện.  Sống khắc khổ để đền tội cho các tội nhân.  Ngài chăm chú đào tạo các tâm hồn thanh thiếu niên địa phương để sai đi làm tông đồ truyền giáo cho các người đồng hương của họ.

 Ở tỉnh Travancore, trong vòng một tháng, thánh nhân đã rửa tội cho 10.000 người.  Người Brames muốn hạ sát ngài, nhưng ngài đã giữ được mạng sống một cách lạ lùng dưới cơn mưa tên.  Ở vương quốc Travance, khi nhóm người man-di muốn tràn ngập, Phanxicô cầm thánh giá trong tay với một số ít tín hữu đã làm cho họ phải tháo lui.  Ngài mang Tin Mừng tới Ceylanca, Malacca.  Các đảo Molluques vang danh vì sự hung tợn của họ, nhất là đảo của dân More ở phía Bắc…

 Ngài nhắm tới đảo này, ngài muốn bị dân cư giết chết như một vị thừa sai 13 năm trứơc đây sao?

 Người ta ngăn không cho tàu bè chở ngài đi.  Phanxicô đáp lại:

 “Thì tôi bơi tới vậy.”

  • Nhưng ngài sẽ bị đầu độc thì sao?

Ngài nói: “Niềm tin tưởng ở Thiên Chúa là thuốc kháng độc.  Rồi ngài thêm : “Ôi, nếu như hy vọng tìm được gỗ quí hay vàng bạc, các Kitô hữu đổ xô tới ngay.  Nhưng lại chỉ có các linh hồn cần được cứu rỗi.  Tôi sẽ chịu khổ gấp ngàn lần để cứu lấy một linh hồn thôi.”

 Phanxicô đã viết thư xin vua Bồ Đào Nha và thánh Inhaxiô gởi các linh mục tới săn sóc cho các cộng đoàn Kitô hữu ngài để lại.  Sự khó khăn và chậm chạp về thư tín làm cho đời ngài thêm nhiều phiền phức.  Ngài phải mất gần 4 năm để gửi thư từ Moluques về Rôma.  Dầu giữa các khó khăn mệt nhọc, thánh nhân không để mất tính hiền hậu và khiêm tốn.

 Năm 1549, một người Nhật được ngài rửa tội ở Malacca đã thu hút ngài tới hòn đảo vô danh, chưa có người Kitô hữu nào.  Lời cầu nguyện và đời sống hãm mình củng cố lòng can đảm của ngài.  Không để mình bị chán nản do ngôn ngữ khó học hay bởi nội chiến.  Ngài đã có thể tạo lập được một cộng đoàn Kitô hữu nhỏ như ngài mơ ước.  Các phép lạ củng cố lời giảng dạy của ngài, nhưng dân chúng bị đánh động nhiều hơn bởi đức tin và lòng can đảm của người ngoại quốc này đã từ xa đến để loan báo cho họ chân lý duy nhất.

 Được hai năm, nhà truyền giáo lại ra đi, để lại tại miền đất xa này những cộng đồng Kitô hữu đứng khá vững trong nhiều thế kỷ, dù không có linh mục cai quản.

 Phanxicô trở lại Ấn độ.  Ngài đã rảo qua gần 100.000 cây số trong 10 năm.  Bấy giờ, việc chinh phục Trung hoa ám ảnh tâm hồn ngài.  Ngài đáp tàu, nhưng không bao giờ tới được quốc gia rộng lớn này.  Vào cuối tháng 11 năm 1552, trên đảo Hoàng Châu, ngài bị lên cơn sốt rét.  Giữa cơn đau, ngài đã lập lại:

 Lạy Chúa Giêsu, con vua Đavid, xin thương xót con, xin thương đến các tội con.

 Ngài dứt tiếng và không nhận ra được các bạn hữu nữa.  Khi hồi tỉnh, Ngài lại kêu cầu Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu và nài xin Đức Mẹ:  “Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, xin hãy nhớ đến con.”

 Một người Trung Hoa thấy ngài hấp hối thì đặt vào tay ngài một cây nến.  Phanxicô qua đời ngày 03 tháng 12 năm 1552.  Ít tuần sau, người ta tìm thấy xác ngài vẫn nguyên vẹn và chở về Goa.  Dân chúng tại đây nhiệt tình tôn kính ngài, vì đã coi ngài như một vị thánh.

 Năm 1619, Đức Phaolô V đã phong chân phước cho ngài vào ngày 12 tháng 3 năm 1622, Đức Grêgôriô XV đã phong thánh cho ngài cùng với thánh Inhaxiô.  Nay Ngài được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

Lm. Phao lô Phạm Quốc Túy

Trích: Theo vết Chân Người

From Langthangchieutim


 

TẠI SAO THÁNH CECILIA TRỞ THÀNH BỔN MẠNG CỦA CÁC NHẠC SĨ? – Geneviève Pasquier

Được mừng lễ vào ngày 22 tháng 11, Thánh Cecilia, vị thánh bổn mạng của các nhạc sĩ, đã được tôn kính ở Rôma từ cuối thế kỷ thứ V.  Việc tôn kính ngài dường như đã lan rộng ở vùng Albigeois từ đầu thời Trung cổ.  Vị thánh được các Kitô hữu cầu khấn và là thánh bổn mạng của Nhà thờ chánh tòa Albi này là ai?

 Câu chuyện về cuộc đời của Cecilia được mượn từ cuốn Các Cuộc Thương Khó tập hợp cuộc đời của các vị tử đạo trong các thế kỷ đầu tiên.  Người ta lấy cảm hứng từ đó cho các vị thánh mà người ta mong muốn tôn vinh.  Jacques de Voragine, giám mục của Genoa, Dòng Đa Minh, đã mượn cho cuốn Légende dorée của mình (khoảng 1261-1266) từ truyện thánh Cecilia (khoảng 500).

 Thánh Cecilia hẳn đã sống vào khoảng đầu từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 3, và đã chết vì đạo vào khoảng năm 223.  Thuộc gia đình quý tộc lừng danh Caecilii, được lớn lên trong đức tin Kitô giáo, thánh nữ, ngay từ khi còn rất trẻ, đã quyết định dâng hiến đời mình cho Chúa và tuyên khấn đồng trinh.  Bị buộc phải kết hôn với Valêriô, thánh nữ thuyết phục anh tôn trọng sự trong trắng của mình và hoán cải anh sang Kitô giáo.

 Tiburce, em trai của Valêriô, cũng trở lại và hai anh em từ chối hiến tế các vị thần.  Họ làm việc để chôn cất các vị tử đạo, bị hành quyết vì đức tin Kitô giáo của họ.  Hai anh em bị tố cáo và chặt đầu.  Khi họ qua đời, Thánh Cecilia tiếp tục loan báo Tin Mừng và cải đạo cho những người ngoại giáo, cho đến ngày thánh nữ bị bắt, bị kết án tử hình rồi bị chặt đầu.  Sau ba nhát rìu, Thánh Cecilia vẫn sống, nhưng vì luật cấm đánh quá ba nhát trong một cuộc hành quyết nên người ta đã để cho ngài hấp hối trong ba ngày.

 Nhà thờ đầu tiên dưới sự bảo trợ của thánh nữ

 Theo truyền thuyết, thánh nữ phân phát tất cả tài sản của mình cho người nghèo và giới thiệu với Đức Giám mục Urbain tất cả những tín hữu mà thánh nữ đã cải đạo, và đồng thời nói rằng: “Con đã cầu xin Chúa cho ba ngày trì hoãn này để khuyên Đức Cha lần cuối và để xin Đức Cha cung hiến một nhà thờ trên địa điểm ngôi nhà mà con qua đời.

 Hài cốt của thánh nữ, được tìm thấy vào năm 821 trong hầm mộ Thánh Callixtô, đã được chuyển đến Trastevere, một quận của Rôma, nơi mà theo mong muốn của ngài, một nhà thờ đã được xây dựng để đón nhận lăng mộ của ngài.  Nhà thờ này vẫn còn tồn tại, đó là nhà thờ Sainte-Cécile-du-Trastevere.  Trong cuộc khai quật phục hồi năm 1599, thi thể được tìm thấy nguyên vẹn.  Sự kiện này đã góp phần tạo nên danh tiếng cho ngài.

 Tại sao ngài là thánh bổn mạng của các nhạc sĩ?

 Nguồn gốc của việc ngài là thánh bổn mạng của các nhạc sĩ xuất phát từ một điệp khúc được sáng tác vào thời Trung Cổ cho phụng vụ mừng lễ ngài mà, do giải thích sai, đã khiến người ta nghĩ rằng rằng ngài là một nhạc sĩ.  Việc phổ cập sự bảo trợ của các vị thánh, những biến đổi sâu sắc về lý thuyết, sáng tác và thực hành âm nhạc sẽ làm phần còn lại, đến mức từ hậu bán thế kỷ 16, Thánh Cecilia đã trở thành vị thánh bảo trợ không thể tranh cãi của âm nhạc và các nhạc sĩ.  Nhiều ban nhạc kèn đồng ở Pháp cho đến ngày nay vẫn được đặt dưới sự bảo trợ của thánh nữ.

 Việc sùng kính Thánh Cecilia ở Albi

Việc sùng kính Thánh Cecilia hẳn đã được đưa vào Albi bởi những người Wisigoths từ Rôma đến Gaule narbonnaise vào năm 413, phụng vụ của họ dành một vị trí đáng chú ý cho việc sùng kính Thánh Cecilia.

 Sự hiện diện của thánh tích của Thánh Cecilia ở Albi được chứng thực lần đầu tiên vào khoảng năm 1130 – hài cốt và vải lanh liên quan đến thân xác của ngài.  Năm 1468, thánh tích mới được Đức Giáo hoàng Phaolô II trao tặng cho Đức Hồng y Jean Jouffroy, Giám mục giáo phận Albi lúc bấy giờ.  Những thánh tích này – xương quay của cánh tay trái và hàm dưới của thánh nữ, một mảnh vải tạo thành một phần trang phục của ngài, một mảnh vải liệm được Thánh Giáo hoàng Urbain I quấn quanh thi thể của ngài – được bảo quản trong một hòm thánh tích được thực hiện vào năm 1887.  Hòm thánh tích này vẫn còn được rước trong thánh lễ Thánh Cecilia, vào ngày Chúa nhật gần nhất với ngày 22 tháng 11.

 Geneviève Pasquier

Chuyển ngữ: Tý Linh

Theo: La Croix

From: Langthangchieutim


 

VỊ THÁNH

VỊ THÁNH

Palidoro, Ý. Tháng 9 năm 1943. Đức Quốc xã đã chiếm đóng ngôi làng sau khi Ý đầu hàng, và nỗi kinh hoàng bao trùm khắp đường phố.

Khi một vụ nổ giết chết hai lính Đức tại một kho đạn dược, quân SS đòi trả thù. Chúng bắt giữ 22 thường dân vô tội – nông dân, cha mẹ, những người đàn ông bình thường không liên quan gì đến vụ nổ. Quân Đức không quan tâm đến tội lỗi. Chúng muốn trả thù.

Phải có người chết.

Salvo d’Acquisto, một lữ đoàn phó (vice-brigadier) 23 tuổi trong lực lượng Carabinieri của Ý, đã chứng kiến ​​cảnh tượng diễn ra. Anh nhìn thấy nỗi kinh hoàng trong mắt những người đàn ông đó. Anh biết họ có gia đình đang chờ đợi ở nhà – vợ con, cha mẹ, những người sẽ không bao giờ hiểu tại sao người thân của họ không trở về.

Và anh đã đưa ra một lựa chọn vang vọng suốt lịch sử.

Salvo bước ra và thú nhận đã gây ra vụ nổ. Đó hoàn toàn là một lời nói dối – anh không hề ở gần kho đạn khi sự việc xảy ra. Nhưng anh nhìn thẳng vào mắt viên chỉ huy Đức và khăng khăng rằng chỉ mình anh phải chịu trách nhiệm. Anh yêu cầu họ thả những người vô tội và hành quyết ông.

Người Đức chấp nhận lời thú tội của ông.

22 thường dân được trả tự do. Salvo d’Acquisto bị dẫn đến nơi hành quyết.

Các nhân chứng sau đó làm chứng rằng anh vẫn bình tĩnh cho đến phút cuối cùng. Không van xin. Không nước mắt. Chỉ có sự nghiêm trang lặng lẽ khi đối mặt với đội hành quyết vào ngày 23 tháng 9 năm 1943, biết rằng cái chết của mình đồng nghĩa với việc 22 gia đình sẽ được trọn vẹn.

Súng trường nổ. Salvo ngã xuống. Và 22 người đàn ông đáng lẽ phải chết ngày hôm đó đã trở về nhà để ôm gia đình họ – được cứu bởi một chàng trai trẻ đã chọn hy sinh tất cả vì người lạ.

Nước Ý không bao giờ quên anh. Sự hy sinh của anh đã trở thành huyền thoại – một ngọn hải đăng trong bóng tối của chiến tranh.

Năm 1983, Giáo hoàng John Paul II đã phong chân phước cho Salvo d’Acquisto là một vị tử đạo, công nhận rằng hành động cuối cùng của anh không chỉ là chủ nghĩa anh hùng mà còn là biểu hiện của tình yêu hoàn hảo, vị tha.

Ngày nay, các tượng đài tưởng niệm anh trên khắp nước Ý tôn vinh ký ức về anh. Trường học dạy về câu chuyện của anh. Ngày 23 tháng 9 được kỷ niệm như ngày mà một chàng trai 23 tuổi đã chứng minh rằng ngay cả khi cái ác vây quanh, lòng dũng cảm cá nhân vẫn có thể cứu sống mạng người.

Salvo d’Acquisto đã không phải chết vào ngày hôm đó. 22 người đàn ông đó không phải là trách nhiệm của anh. Anh có thể im lặng, sống sót qua chiến tranh, xây dựng một cuộc đời.

Thay vào đó, anh đã chọn một điều gì đó lớn lao hơn. Anh đã chọn đảm bảo rằng 22 sinh mạng khác sẽ được tiếp tục—rằng trẻ em sẽ không lớn lên mà không có cha, rằng vợ sẽ không trở thành góa phụ, rằng cha mẹ sẽ không chôn cất con trai của họ.

Những lời cuối cùng của anh, theo lời kể của các nhân chứng, rất đơn giản: “Thà một người chết còn hơn nhiều người vô tội.”

Đó không chỉ là chủ nghĩa anh hùng. Đó là hình thức tình yêu cao cả nhất mà nhân loại có thể thể hiện—sự sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để người khác được sống.

Sự hy sinh của Salvo d’Acquisto nhắc nhở chúng ta rằng ngay cả trong những chương đen tối nhất của lịch sử, khi sự tàn ác và thù hận dường như không thể ngăn chặn, thì một người duy nhất đưa ra một lựa chọn dũng cảm có thể tạo ra ánh sáng không bao giờ lụi tàn.

Hai mươi hai gia đình đã trở về nhà đêm đó vì một chàng trai trẻ quyết định rằng mạng sống của họ quan trọng hơn mạng sống của chính mình.

From: taberd & NguyenNThu


 

Thánh Elizabeth ở Hung Gia Lợi (1207-1231)- Cha Vương

Ngày Thứ 2 thật tốt lành nhé! Hôm nay 17/11/2025 Giáo Hội mừng kính Thánh Thánh Elizabeth ở Hung Gia Lợi (1207-1231). Bổn mạng của thợ làm bánh, tổ chức từ thiện Công Giáo, và hội dòng ba Phan-xi-cô. Mừng quan thầy, chúc mừng!

Cha Vương

Tuy cuộc đời của Thánh Elizabeth thật ngắn ngủi, nhưng lòng thương yêu ngài dành cho người nghèo và người đau khổ thật lớn lao, đến nỗi ngài được Giáo Hội đặt làm quan thầy của các tổ chức bác ái Công Giáo, và của Dòng Ba Phanxicô. Là con gái của vua Hung Gia Lợi, thay vì chọn một đời sống xa hoa nhàn hạ, Thánh Elizabeth đã đi theo con đường khổ hạnh và hãm mình. Quyết định đó, đã để lại trong tâm khảm của bao người dân Âu Châu niềm cảm mến sâu xa.

      Khi lên 14 tuổi, ngài kết hôn với ông Louis ở Thuringia (một quận chúa của Ðức), là người mà ngài rất yêu mến, và có được ba mặt con. Dưới sự linh hướng của các tu sĩ Phanxicô, ngài sống đời cầu nguyện, hy sinh và phục vụ người nghèo cũng như người đau yếu. Không những thế, ngài còn muốn trở nên một người nghèo thực sự qua cách ăn mặc thật đơn sơ. Mỗi ngày, ngài phân phát thực phẩm cho hàng trăm người nghèo trong vùng, mà lúc nào cũng đầy nghẹt trước cửa nhà.

      Sau sáu năm thành hôn, ngài thật đau khổ khi nghe tin chồng tử trận trong cuộc Thập Tự Chinh. Buồn hơn nữa, gia đình nhà chồng lại coi ngài là người hoang phí tiền bạc của hoàng gia, nên đã đối xử với ngài thật thậm tệ, và sau cùng họ đã tống ngài ra khỏi hoàng cung. Nhưng sau cuộc thập tự chinh, những người thân thuộc bên chồng trở về đã phục hồi quyền lợi cho ngài, vì con trai của ngài là người thừa kế chính thức.

      Vào năm 1229, ngài gia nhập dòng Ba Phanxicô, và dùng quãng đời còn lại để chăm sóc người nghèo trong một bệnh viện, mà ngài đã thiết lập để vinh danh Thánh Phanxicô. Sức khỏe của ngài ngày càng sa sút, và sau cùng ngài đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày sinh nhật thứ 24, năm 1231. Vì sự nổi tiếng về nhân đức của ngài, nên chỉ bốn năm sau ngài đã được phong Thánh.

 LỜI BÀN: Thánh Elizabeth hiểu rất rõ bài học của Ðức Kitô, khi Người rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc Ly: người Kitô phải là người phục vụ những nhu cầu cần thiết của tha nhân, dù người phục vụ có địa vị cao trọng. Là một người trong hoàng tộc, Thánh Elizabeth đã có thể sai khiến người dân, nhưng ngài đã phục vụ họ với một tâm hồn thật đại lượng, đến nỗi trong cuộc đời ngắn ngủi ấy ngài đã được sự quý mến của rất nhiều người. Thánh Elizabeth còn là gương mẫu cho chúng ta về sự tuân phục vị linh hướng. Thăng tiến đời sống tâm linh là một tiến trình thật khó khăn. Chúng ta rất dễ tương nhượng, nếu không có ai khích lệ hay chia sẻ những kinh nghiệm để giúp chúng ta tránh được các cạm bẫy.

 LỜI TRÍCH: “Trong thời đại ngày nay, chúng ta có trách nhiệm đặc biệt là trở nên người thân cận đối với mọi người, và tích cực giúp đỡ họ khi chúng ta gặp trên đường đời, dù đó là người già cả bị hắt hủi, người lao công ngoại quốc bị khinh miệt, người tị nạn, trẻ sơ sinh của một mối tình vụng trộm mà bất đắc dĩ em phải chịu đau khổ, hay một người đói ăn; những người ấy đã làm lương tâm chúng ta phải bối rối khi nhớ lời Ðức Kitô: ‘Khi anh em giúp đỡ một người bé mọn này là giúp đỡ chính Thầy’ (Mt. 15:40)” (Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay, 27).

 (Nguồn: Người Tín Hữu)

Noi gương thánh nhân mời bạn hãy là một việc thiện hôm nay nhé.

Xin Thánh Elizabeth cầu bầu cho chúng con.

From: Do Dzung

************************

Xin Cho Con Được Thấy – Nguyễn Hồng Ân

TỬ ĐẠO, MỘT CHỌN LỰA CỦA LÒNG TIN –  Lm. Đaminh Xuân Trường, GP.Bắc Ninh 

Lm. Đaminh Xuân Trường, GP. Bắc Ninh 

Hôm nay, chúng ta hân hoan cùng với toàn thể Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử Đạo tại Việt Nam.  Đây là một ngày vui mừng chung của tất cả chúng ta, những Kitô hữu mang trong mình dòng máu con Rồng, cháu Tiên.  Cách đây gần 400 năm, hay đúng hơn từ lễ Phục sinh năm 1615, khi cha Bugiơmi, dòng Tên, người Ý dâng thánh lễ đầu tiên tại Hội An, Đà Nẵng bây giờ, đạo Công giáo đã được chính thức khai nguyên và lập cơ sở ở Việt Nam.  Hạt giống Tin mừng đã được gieo vãi trên mảnh đất hình chữ “S” thân yêu này.  Cha ông chúng ta những con người có tâm hồn hiền hậu, chất phác đã đón nhận và sẵn sàng dùng chính mạng sống mình để làm chứng cho Tin mừng đó.

Thật vậy, “Tử Đạo” theo nguyên ngữ là “Martyr” có nghĩa là “làm chứng.”  Vậy thì việc cha ông chúng ta, từng lớp lớp người sẵn sàng bỏ tất cả vinh hoa, phú quý, vợ con để chết đi làm chứng điều gì?  Chắc chắn việc các ngài sẵn sàng chết không phải vì các ngài không muốn sống, nhưng là để làm chứng rằng, sự sống nơi trần thế này không phải là tuyệt đối, và mọi vinh dự ở đời này không phải là vĩnh cửu.  Với cái chết của mình, cha ông chúng ta đã cho thấy rằng: chết chưa phải là hết, nhưng là cửa ngõ để đi vào một đời sống vĩnh cửu đúng như tâm thức từ bao đời nay trong lòng người dân Việt: “sống gởi, thác về.”  Và chính dòng máu nóng của các ngài đổ ra trên mảnh đất này, đã làm phát sinh một Giáo Hội Việt Nam hôm nay, như lời Đức Kitô: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” 

  1. Chọn lựa của dân Do thái: 

Tuy nhiên, để có thể sẵn sàng đổ máu để làm chứng cho Tin mừng, cha ông chúng ta đã phải làm một cuộc chọn lựa thật quyết liệt trong tâm hồn.  Bởi vì, trong thực tế, hạnh phúc đời sau thì bây giờ chúng ta không thấy, còn tiền của, danh vọng cùng với những vinh hoa phú quý của nó, thì lại nằm ngay trước mắt.  Chính dân Do Thái khi bước vào được Đất Hứa, sau cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc, cũng đã phải làm một cuộc chọn lựa cơ bản này.  Ông Môisê đã nói với họ: “Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là bị chết, bị tai họa.”  Khi dân Do thái chọn lựa “yêu mến Đức Chúa,… và gắn bó với Người,” thì không phải vì trước mắt họ nhận được một cuộc sống sung sướng, dễ dãi.  Họ chọn lựa Thiên Chúa chỉ vì họ tin tưởng vào tình yêu của Giavê Thiên Chúa, Đấng đã từng giải thoát họ thoát ách nô lệ Ai Cập, kết ước với họ, để họ được làm dân của Ngài.  Đồng thời, còn ban cho họ Đất Hứa làm gia nghiệp.

 2.Chọn lựa của cha ông chúng ta: 

“Trung thành với Thiên Chúa” cũng chính là chọn lựa, mà cha ông chúng ta ngay từ những ngày đầu đón nhận Tin mừng đã quyết định.  Một cuộc chọn lựa nhìn bên ngoài có vẻ đơn giản: đó là bước qua thập giá hay không bước qua.  Bước qua thì có ngay tiền bạc, vinh hoa phú quý, còn như không bước qua thì có thể lập tức lãnh lấy cái chết.  Đứng trước thập giá, đã có người bước qua, nhưng cũng đã có nhiều người không bước qua, không quá khoá (không nhảy qua thập tự).  Đã có người được khiêng qua thánh giá, nhưng đã co chân lên như thánh Antôn Nguyễn Đích.  Đã có người bước qua thánh giá, nhưng sau lại hối hận: đó là trường hợp của ba vị thánh Augustin Phan Viết Huy, Nicôla Bùi Đức Thể, và Đaminh Đinh Đạt.  Vua quan đã bày ra trước mặt các ông mười nén vàng, một tượng Chịu Nạn và một thanh gươm rồi nói: “Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bị bỏ trôi ngoài biển.” 

Đúng đây là một chọn lựa nghiêm chỉnh, chọn lựa này đụng đến tương lai và sinh mạng của chính mình.  Chọn lựa này bày tỏ thái độ của bản thân tôi đối với Đức Giêsu.  Tôi chọn Ngài hay tôi chọn tôi.  Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được.”  Còn Thánh Têphanô Ven, một linh mục trẻ, chỉ mới 31 tuổi, thuộc Hội Thừa Sai Paris đã bày tỏ chọn lựa của mình một cách thật dứt khoát, khi trả lời cho viên quan bảo ngài bước qua Thánh giá: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được?  Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”  Một chọn lựa có thể nói là đầy bấp bênh theo cái nhìn tự nhiên của con người.  Chính vì bấp bênh như thế mà những chọn lựa này trở nên có giá trị, vì nó đúng là một chọn lựa của lòng tin. 

Vâng, mỗi người chúng ta chỉ nhờ có lòng tin chứ không phải nhờ bất cứ điều gì khác, mới có thể giúp mỗi người chúng ta lãnh nhận ơn cứu độ.  Ý thức điều đó, thánh Phaolô mời gọi tín hữu thành Côlôsê và cũng là lời nhắc nhở từng người chúng ta: “Anh em chỉ cần giữ vững đức tin, cần được xây dựng vững chắc kiên quyết, và đừng vì nao núng mà lìa bỏ niềm hy vọng anh em đã nhận được khi nghe loan báo Tin Mừng.”  Đức tin này mỗi người chúng ta đã được lãnh nhận khi chịu phép Rửa, nhưng như thế thì chưa đủ.  Đức tin đó còn phải được minh chứng bằng chính cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng ta.  Nhiều vị tử đạo đã được mời giả vờ bước qua thánh giá, để quan có cớ mà tha, còn đức tin bên trong thì quan không đụng đến.  Đây là một cám dỗ khá tinh vi và hấp dẫn, có vẻ như được cả hai, đời này và đời sau.  Nhưng liệu tôi có thể bên ngoài chà đạp một Đấng mà bên trong tôi tôn thờ không?  Đứng trước thánh giá là đứng trước một chọn lựa dứt khoát, không có giải pháp dung hoà hay lập lờ.  Không ai có thể làm tôi hai chủ (x. Mt 6, 24), điều này vẫn đúng cho những chọn lựa mỗi ngày của các Kitô hữu chúng ta qua mọi thời đại. 

3.Chọn lựa của chúng ta hôm nay: 

Mừng lễ các thánh Tử Đạo tại Việt Nam hôm nay, lời Chúa một lần nữa mời gọi mỗi người chúng ta xét lại chọn lựa của mình.  Chọn lựa này không phải chỉ một lần là xong, nhưng cần đựơc lập lại mỗi ngày.  Tôi đang chọn Chúa hay tôi chọn tôi?  Và nếu tôi chọn Chúa, tôi đã làm gì để chứng minh cho lựa chọn của mình?  Chọn lựa của chúng ta hôm nay, có thể không đòi chúng ta phải đổ máu để làm chứng cho Chúa, nhưng tôi thiết nghĩ, cũng không kém phần gian khó.  Đứng trước những bất công, tôi có dám bênh vực, hay tôi sợ phiền hà rồi im lặng?  Trước một trận bóng đá, một bộ phim hay, một giấc ngủ ngon, một lời rủ đi chơi của bạn bè và tiếng mời gọi của Chúa nơi ngôi Thánh đường này, tôi chọn điều gì?

 Chớ gì, nhờ lời cầu bầu của các thánh Tử Đạo tại Việt Nam và nhất là sức mạnh của Thánh Thể, quý ông bà anh chị em và tôi đủ sức thực hiện những chọn lựa của mình.  Nhờ đó, vào ngày sau hết, tất cả chúng ta sẽ cùng được đoàn tụ với cha ông chúng ta như lời hứa của Đức Giêsu: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó.”  Amen! 

Lm. Đaminh Xuân Trường, GP.Bắc Ninh

From: Langthangchieutim


 

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM ĐÃ KIÊN CƯỜNG SỐNG VÀ LÀM CHỨNG ĐỨC TIN

Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam được gọi là Lễ Thánh An-rê Dũng Lạc và các Bạn Tử Đạo. Việc kính Thánh An-rê Dũng Lạc và các Bạn Tử Đạo bao gồm việc kính tất cả 117 Vị Tử Đạo đã được Giáo Hội phong lên bậc Hiển Thánh. 117 vị Thánh này có 96 Thánh Việt Nam (37 linh mục, 14 thầy giảng, một chủng sinh và 44 giáo dân), 11 Thánh người Tây Ban Nha (6 giám mục và 5 linh mục), 10 Thánh người Pháp (2 giám mục và 8 linh mục). Chúng ta có thể kể thêm Chân Phước An-rê Phú Yên (Vị tử đạo đầu tiên) vào hàng ngũ các Thánh Tử Đạo Việt Nam nên con số sẽ là 118 Vị.

Thánh An-rê Dũng Lạc tử đạo ngày 21 tháng 12 năm 1839. Hai vị Thánh Tử Đạo đầu tiên là Linh mục Tế và Linh mục Đậu tử đạo ngày 22 tháng 1 năm 1745, và vị Thánh Tử Đạo sau cùng là giáo dân Phê-rô Đa tử đạo ngày 17 tháng 6 năm 1862. Như vậy khi nói các Bạn Tử Đạo với Thánh An-rê Dũng Lạc ta phải hiểu là các Thánh Tử Đạo kể từ năm 1745 tới năm 1862 (trong khoảng thời gian 117 năm).

 Tất cả các Vị Thánh này, chỉ vì kiên trung giữ vững đức Tin, quyết tâm không bỏ Chúa, không bỏ Giáo Hội, nên đã trải qua nhiều đau khổ, cơ cực, như bị tra tấn, bị đòn vọt đánh nát thịt da, bị kìm nung đỏ cặp vào chân tay, bị đói khát, bị mình trần phơi nắng nhiều ngày, bị gông cùm xiềng xích trong tù ngục nhiều tháng trời v.v.. và sau cùng hoặc bị chém đầu (án trảm), hoặc bị thiêu đốt (án thiêu sinh), hoặc bị xiết cổ đến chết (án giảo), hoặc bị cắt các chi thể rồi mới chém đầu (án lăng trì), hoặc bị cắt xẻ da thịt ra hằng trăm miếng (án bá đao). Cũng có vị, vì bị tra tấn quá dã man, bị đói khát, ngày đêm nhốt trong cũi chật hẹp, lại phải đeo xiềng xích, cùm chân tay, nên đã trút hơi thở cuối cùng, trước khi bị đem ra pháp trường. 

Một vài tấm gương anh dũng của các Thánh Tử Đạo Việt Nam:

– Thánh Linh mục Du bị trói vào một cây cọc. Có 3 lý hình, một cầm kìm, một cầm dao, còn một người lo đếm cho đủ 100 lát cắt. Trước đó, lính đã nhét đá vào miệng ngài và cột chặt, để không có thể kêu la hay bỏ chạy được. Sau một hồi trống, lý hình cắt lớp da trên trán Cha Du lệt xuống che mắt, rồi cắt từng mảng hai bên ngực, sau lưng, tay chân. Quá đau đớn Cha Du giãy giụa quàn quại, ngướv mắt lên trời cao, rồi gục đầu xuống nhắm mắt lìa trần. Tiếp theo quân lính cắt đầu của vị tử đạo, bổ thân mình làm 4 và ném xuống biển. Còn thủ cấp Cha được đem đi bêu tại nhiều nơi, rồi đưa trả về kinh đô, bị bỏ vào cối giã nát và cho rắc xuống biển.

– Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc. Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát. Vừa nghe lện, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu. Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.

Hai Cha Điểm và Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ. Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.

Sáng ngày 5-6-1862, trước sự chứng kiến của rất đông người, hai giáo dân: Thánh Toại và Thánh Huyên bước vào cũi tre để bị thiêu sống. Những người hiện diện đều xúc động khi nghe rõ các ông cất tiếng nguyện cầu thật lớn, trong khi ngọn lửa hồng phừng phực bốc cao, thiêu đốt hai ông.

– Sau ba tháng tù tại Bình Định ông Anrê Nguyễn Kim Thông nhận được án phát lưu vào Vĩnh Long. Đường từ Bình Định vào Nam xa xôi, ông Thông cùng với bốn chứng nhân khác. Vì tuổi già sức yếu, lại phải mang gông siềng, ông bước đi một cách rất khó khăn, mệt nhọc. Mỗi ngày chỉ đi được bảy tám dặm, dưới ánh nắng gay gắt. Tối đến, đoàn tù nhân được tạm giam trong các đòn quan, hay nhà tù địa phương. Được vài ba ngày, lính thấy ông Thông đuối sức quá, sợ không thể đi tới nơi, thì thương tình tháo gông xiềng cho ông. Đến Chợ Quán, thấy tình trạng sức khỏe của ông quá tàn tạ, Cha Được đã đến ban phép xức dầu cho ông. Sau đó ông lại phải mang gông xiềng tiếp. Khi ông đặt chân lên đất lưu đày, ông chỉ kịp đọc kinh an năn tội, vài kinh kính mừng, rồi tắt thở. Hôm đó là ngày 15 tháng 5 năm 1855.

– Bà Thánh Inê Đê (Lê Thị Thành), sau khi đã bị tra tấn và chịu đòn, coi trong người không có chỗ nào không bị thương tích, áo quần đầy máu me, bà đã trút hơi thở cuối cùng trong ngục. Lời sau cùng của bà là: “Giêsu Maria Giuse, con phó thác hồn con và thân xác con trong tay Chúa, xin ban cho con trọn niềm tin ở Chúa.” Hôm đó là ngày 12-7-1841, sau 3 tháng bị giam cầm về đức Tin.

– Riêng những vị xử trảm, cũng có những gương sáng lạng về việc các ngài coi thường sự đau đớn lúc bị chém đầu. Coi như các ngài ước ao được chém nhiều lần để biểu lộ lòng yêu mến Chúa. Trước khi bị chém Thánh Giám mục An nói với viên quan chỉ huy: “Tôi gửi quan 30 quan tiền để xin một ân huệ: Đừng chém tôi một nhát nhưng 3 nhát. Nhát thứ nhất tôi tạ ơn Thiên Chúa đã tạo dựng nên tôi, và dẫn tôi đến Việt Nam giảng đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ sinh thành ra tôi. Nhát thứ ba như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bền chí chết vì đức Tin, theo gương vị chủ chăn. Và như thế họ đáng hưởng hạnh phúc cùng các Thánh trên trời.”

– Năm ông Đaminh Nhi, ông Đa-minh Mạo, ông Đa-minh Nguyên, ông An-rê Tường, ông Vinh sơn Tưởng, bị xử chém đầu, thì trừ ông Đaminh Nhi, bốn vị ông Đaminh Mạo cùng các ông Đaminh Nguyên, Anrê Tường, Vinhsơn Tưởng, đều yêu cầu lý hình, thay vì chém một nhát, thì xin được chém 3 nhát để tỏ lòng tôn kính Chúa Ba Ngôi.

– Riêng Thánh Hồ Đình Hy bị chém đầu, nhưng trước khi đem đi xử, giữa kinh thành Huế, trong ba ngày 15,18 và 21 tháng 5 năm 1857, thân mình ngài đầy thương tích, quần áo tả tơi, dính đầy máu, đi đứng lảo đảo như muốn té nhào, bị điệu qua các đường phố, những khu chợ và quanh thành nội. Lính mở đường đi trước rao tên tử tội, mỗi khi tới ngã ba đường, phố, chợ và công trường, người tử tội bị đánh 30 trượng, lính vác loa rêu rao: “Thằng theo tà đạo, đức ngỗ nghịch, bất hiếu với cha mẹ, cưỡng lại luật pháp triều đình. Vì thế bị kết án tử hình. Bọn Gia Tô tin rằng chết vì đạo sẽ lên Thiên đàng. Điều đó có đúng hay sai, không cần biết. Gia Tô của nó ở đâu? tại sao thấy nó khổ mà không đến cứu?”

– Sau một năm tù giam, Anrê Trọng vẫn cương quyết tuyên xưng đức Tin, các quan quyết định ngày xử là thứ bảy ngày 28-11-1835. Sáng hôm đó, anh gặp lại người anh họ. Người anh họ hỏi Thánh nhân có muốn ăn gì không? An-rê Trọng trả lời: “Em muốn giữ chay để dọn mình tử đạo”, rồi nói tiếp: “Xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là anh em, mẹ em cũng sẽ yêu thương anh. Xin nhắn lời với mẹ em: Đừng lo gì cho em, cầu chúc bà mãi mãi thánh thiện và sẽ hài lòng vì con trai mình luôn trung thành với Chúa, cho đến chết.”

Nhưng người anh họ chưa kịp về nhắn tin, bà mẹ An-rê Trọng đã đến đón con và theo con đến tận đầu chợ An Hòa, nơi An-rê sẽ phải xử. Gặp con, bà chỉ nói một câu: “Bấy lâu nay xa nhà, thời gian ở tù con có nợ nần gì ai không? Nếu có thì cho mẹ biết, mẹ sẽ trả thay con.”

Khi được con cho biết không vướng mắc gì với ai, bà tiếp tục đi sát bên con, bình tĩnh nói với con những lời đầy khích lệ. Đến nơi xử, khi quân lính tháo gông xiềng, Thánh Trọng đón lấy, đưa cho anh lính cạnh bên và căn dặn: “Xin nhờ anh đưa giùm cái này cho mẹ tôi, để bà làm kỷ niệm.”

Mẹ anh đứng gần bên nghe rõ, nhưng bà cho rằng chỉ nhận lấy kỷ vật đó mà thôi là chưa đủ, bà còn muốn đón nhận chính thủ cấp của con mình nữa. Bà can đảm, bước ra xin viên quan chỉ huy trao cho bà thủ cấp của con bà. Bọc trong vạt áo rồi ghìm chặt vào lòng, bà vừa hôn vừa lập đi lập lại: “Ôi con yêu quí của mẹ, con nhớ cầu nguyện cho mẹ.” Rồi bà đem về an táng trong nhà.

 II.TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚNG TA LÀ CON CHÁU CÁC THÁNH TỬ ÐẠO VIỆT NAM

2.1 Trách nhiệm sống sứ mạng chứng nhân của mọi Kitô hữu đã được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhắc nhở trong Thư Mục Vụ 2006 về chủ đề “Sống Đạo Hôm Nay”:

Trước khi về Trời, Chúa Giêsu đã củng cố niềm tin của các Tông Đồ, mở trí cho các Ngài hiểu Thánh Kinh và trao cho các Ngài sứ mạng ra đi rao giảng cho muôn dân, kêu gọi thống hối để được ơn tha tội. Người khẳng định: “Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (Lc 24,48).

“Từ đó, sống chứng nhân là cách thế biểu thị sống động nhất về sức mạnh yêu thương cứu độ của Thiên Chúa, cũng như Chúa Giêsu đã đến trần gian không để tìm vinh quang cho chính mình, nhưng là để làm vinh danh Thiên Chúa và cứu độ con người, Kitô hữu bước theo Chúa Giêsu để được Tin Mừng của Người biến đổi, và qua đó họ trở nên những người đem Tin Mừng cho thế giới này.

“Nếu trong đời sống Kitô hữu, Chúa Giêsu thực sự là điểm quy chiếu và là chuẩn mực giúp nhận định giá trị các hành vi, thì sự hiện diện tích cực qua việc sống đạo của Kitô hữu trong xã hội sẽ trở thành lời chứng về những giá trị căn bản của Tin Mừng và trở nên dấu chỉ của niềm hạnh phúc Nước Trời.” (Thư Mục vụ 2006 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 4). 

2.2 Trong cụ thể nếu muốn sống sứ mạng chứng nhân ngày hôm nay thì người giáo dân Việt Nam không thể thờ ơ trước những thực tại bất bình thường và đáng xấu hổ của xã hội hiện nay:

(a) Trước hết là tình trạng nghèo đói của đại đa số đồng bào: Xã hội Việt Nam còn đầy rẫy những người nghèo: nghèo về vật chất khiến phải sống dưới mức tối thiểu không thể xem là đủ sống; nghèo về xã hội, như bị kỳ thị (tôn giáo, sắc tộc, phe đảng) hay bị cô lập (già yếu); nghèo về thể chất và tâm linh, như bệnh tật và tàn tật; nghèo về chính trị, như bị ức hiếp, bóc lột, cưỡng bức; nghèo về văn hóa, như ít học, ít hiểu biết và không được coi trọng; nghèo về đạo đức, như tội phạm. Những người nghèo kể trên đều bị ngăn cản không được dự phần vào đời sống chung của xã hội một cách xứng hợp, và vì thế nhu cầu cấp thiết là phải giúp đỡ họ thể hiện vai trò “chủ thể” của họ phù hợp với phẩm giá con người.

(b) Kế đến là tình trạng bất công tràn lan trong xã hội: Có nhiều kẻ không làm mà hưởng rất nhiều trong khi có nhiều người khác cực khổ suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, suốt năm, thậm chí suốt đời mà vẫn không đủ sống. Có những người giầu có bạc triệu (tính bằng đôla Mỹ) nhờ có chức có quyền nên có cơ hội kinh doanh đầu tư hoặc tham nhũng, vơ vét dù bất tài và thất đức. Trong Thư Mục Vụ 2006, các Giám Mục Việt Nam đã thúc đẩy mọi tín hữu góp phần xây dựng một xã hội công bằng: “Lòng mến Chúa yêu người thôi thúc chúng ta góp phần xây dựng một xã hội trong đó con người có điều kiện để sống xứng với phẩm giá của mình. Bởi vì con người là hình ảnh của Thiên Chúa, nên mọi người có quyền được tôn trọng và phát huy những khả năng Chúa ban để phục vụ xã hội một cách hiệu quả nhất. Đồng thời, bởi vì con người là anh em của nhau, được tác tạo do quyền năng của Thiên Chúa và là đối tượng của ơn cứu chuộc trong Chúa Giêsu Kitô, nên mỗi người cần được đối xử với lòng kính trọng và yêu thương chân thành như là mục đích của sự phát triển toàn diện, để họ không bao giờ bị biến thành phương tiện cho sự phát triển kinh tế, cho sự thăng tiến xã hội của bất kỳ tổ chức hay thế lực nào.

“Để xây dựng một xã hội công bằng, ngoài việc giáo dục để biết tôn trọng những quyền căn bản của con người, cũng cần có một đường lối thích hợp bảo đảm thực hiện được quyền này. Công việc này đòi hỏi sự đóng góp từ nhiều phía. Là Kitô hữu, được mời gọi để trở thành ánh sáng cho thế gian, muối cho đời, men trong bột, chúng ta hãy tập trung xây dựng một cộng đoàn trong đó mọi thành phần đều được yêu thương và được đối xử công bằng.”

“Sự công bằng cần phải đi đôi với lòng tôn trọng sự thật, vì tôn trọng sự thật là điều kiện để xây dựng một cộng đoàn yêu thương. Chúng tôi tin chắc rằng gương sáng phát xuất từ cộng đoàn của những người con cái Chúa sẽ có ảnh hưởng tích cực trong xã hội chúng ta” (Thư Mục vụ 2006 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 7). 

(c) Sau cùng là tình trạng thiếu tự do, dân chủ vẫn còn được duy trì mặc dù trào lưu tiến bộ của loài người là tôn trọng phẩm giá và các quyền con người. Do đó, không ai hay nhóm người nào, vì bất cứ lý do gì, được quyền chối bỏ hoặc hạn chế các giá trị thiêng liêng cao cả ấy. Trong lãnh vực này, người Công Giáo có trách nhiệm đề cao, truyền bá và bảo vệ các giá trị của tự do, dân chủ và phân quyền trong đời sống xã hội vì phẩm giá và các quyền con người là bất khả xâm phạm và không thể chuyển nhượng như Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã  nhấn mạnh trong Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á: Con người, chứ không phải của cải hay kỹ thuật là tác nhân chủ yếu & mục tiêu của sự phát triển. Thế nên, sự phát triển mà Giáo Hội cổ võ vượt xa những vấn đề kinh tế và kỹ thuật. Sự phát triển ấy bắt đầu và kết thúc với sự toàn vẹn của con người, đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được Thiên Chúa ban cho một phẩm giá cũng như các quyền con người bất khả nhượng. Các bản Tuyên Ngôn Quốc Tế khác nhau về các quyền con người cũng như nhiều sáng kiến được khởi hứng từ các Tuyên Ngôn ấy là một dấu hiệu cho thấy, trên cấp độ toàn cầu, càng ngày người ta càng quan tâm tới phẩm giá con người. Không may, trong thực tế, các bản Tuyên Ngôn này thường xuyên bị vi phạm. Đã năm mươi năm sau ngày long trọng công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, mà nhiều dân tộc vẫn còn là nạn nhân của những hình thức bóc lột và thao túng làm hạ phẩm giá, biến họ thành nô lệ thực sự cho những người quyền thế hơn, cho một ý thức hệ, cho quyền lực kinh tế, cho những hệ thống chính trị đàn áp, cho chủ nghĩa khoa học kỹ thuật thống trị hay sự xâm nhập của các phương tiện thông tin đại chúng.” (Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, 33).

 Sàigòn ngày 14/11/2025

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.              

From: NguyenNThu