THÁNH TÔMA AQUINÔ, LINH MỤC TIẾN SĨ HỘI THÁNH

 

Tại vương quốc Naples, người vợ quí phái của lãnh chúa Aquinô được vị tu sĩ Thánh thiện cho biết, là bà sẽ rất đỗi vui mừng vì con trẻ bà mong đợi sẽ sáng chói với sự hiểu biết khôn sánh, Người con ấy là Tôma.  Ngài sẽ là một vị thánh trong hàng ngũ các thánh.  Tôma sinh tại lâu đài Roccasecca, gần Naples khoảng năm 1225.  Được sáu tuổi cha ngài dẫn tới tu viện Montê Cassinô.  Con trẻ được dâng hiến đã hỏi:
  – Thiên Chúa là gì? 

Và các tu sĩ ngạc nhiên vì thấy con trẻ chìm đắm trong các suy ngắm (quá sớm và sáng suốt) ấy. 

Lúc mười tuổi, Ngài được gửi tới đại học Naples.  Các giáo sư đã khám phá ra dưới dáng vẻ nhút nhát của Ngài, một trí khôn thượng thặng và một đời sống siêu nhiên sáng ngời với các đức tính hiền hòa, trong trắng và đức ái của Ngài.  Trong những kỳ nghỉ tại lâu đài cùng cha mẹ, Ngài gắng sức trợ giúp người nghèo.  Điều này làm cho chủ lâu đài phiền trách Ngài.  Tình yêu của Ngài đối với người mẹ thật bao la và đã tạo nên mối dày vò suốt đời. 

Khi chưa tốt nghiệp đại học, Ngài đã quyết định vào dòng Đaminh.  Lúc ấy dòng thành lập chưa được ba năm.  Gia đình Ngài rúng động với ý tưởng một con người quý phái như vậy lại trở thành một tu sĩ dòng ăn xin.  Ngoài ra họ còn mong mỏi rằng: một ngày kia, Ngài sẽ còn làm điều gì đó, để phục hồi vận mệnh của họ bằng việc trở lại làm tu viện trưởng Montê Cassinô.  Nghe được tin, các anh của Ngài đang là sĩ quan trong quân đội, đã giận dữ.  Họ bắt Ngài trên đường đi Rôma và giam Ngài dưới chân tháp của lâu đài.  Gia đình gắng công vô ích khi nài nỉ, đe dọa và quyến rũ Tôma đổi ý.  Các anh Ngài còn dùng tới một cô gái làng chơi để hại người nữa.  Nhưng cương quyết, Tôma đã dùng cây củi cháy để xua đuổi nàng, rồi dùng than củi này vẽ lên tường hình thánh giá.  Quỳ xuống trước hình thánh giá, Tôma với nhiệt tâm mạnh mẽ hơn bao giờ hết, lập lại lời hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa.  Được hai năm, các chị Ngài đã cảm động trước sư cương nghị và những khổ cực của Ngài, đã giúp Ngài trốn qua cửa sổ bằng một cái thúng.  Các tu sĩ Đaminh đợi Ngài dưới chân tháp.

 Tôma khấn dòng ở Naples, rồi đi bộ từ Rôma tới đại học Colonia.  Trong môi trường học thức ưu việt này, Ngài cố dấu kín các bước tiến khác thường của mình như Ngài đã che kín vinh dự gia đình.  Không khi nào Ngài để cho người ta ngờ rằng mình là cháu của hoàng đế Barberoussa và là bà con của vua Frêdêric II cả.  Khiêm tốn là bà hoàng của lòng Ngài.  Ngày kia một bạn học giảng bài cho Ngài.  Tôma phải là bậc thầy của anh, đã tiếp nhận bài học với lòng biết ơn.  Đó là thói câm lặng của Toma.  Vì bình dị nên Ngài bị coi là đần độn.  Người ta gọi chàng trai to con này là con bò câm.  Nhưng thầy Albertô đã coi Ngài như một thiên tài và tuyên bố:
  – Con bò nầy sẽ rống lớn, đến nỗi những tiếng rống của nó sẽ vang dội khắp thế giới. 

Người sinh viên tài ba này đã tỏ ra dễ dạy như một trẻ em.  Tại phòng ăn, vị chủ chăn lầm lẫn, bắt Ngài sửa lại cách phát âm đã chính xác.  Lập tức Tôma sửa lại liền.  Sau bữa ăn các bạn Ngài bày tỏ sự ngạc nhiên, nhưng thánh nhân trả lời:  – Điều quan trọng không phải là cách phát âm của một từ ngữ, nhưng là biết khiêm tốn vâng phục hay không.

 Lúc hai mươi tuổi, Tôma đã được gọi làm giáo sư tại Côlônia, Ngài xuất bản một tác phẩm danh tiếng, rồi đi Paris mở trường dạy triết học ở đường thánh Giacôbê và thụ phong linh mục.  Các nhà trí thức tới hỏi ý Ngài.  Vua Luy IX xin ý kiến Ngài trong những việc hệ trọng và mời Ngài đồng ban dự tiệc.  Nhưng không hoàn cảnh nào đã làm cho Tôma chia trí khỏi những suy tư sâu xa.  Chẳng hạn tại bàn ăn của nhà vua, người ta thấy Ngài bất chợt ra khỏi sự yên lặng của mình, đập mạnh lên bàn và kêu lên:
  – Đây rồi, một luận chứng quyết liệt chống lại những người theo phái Manicheô.

 Bối rối vì quên rằng mình đang ở trước mặt vua, Ngài muốn xin lỗi, nhưng vua thánh đã truyền cho Ngài đọc ngay cho thư ký chép lại những suy tư có giá trị siêu việt đó. 

Kinh nguyện, làm việc và ý chí là những yếu tố tạo nên sức mạnh của Tôma, Ngài nói:
  – Ai không cầu nguyện thì cũng giống như người lính chiến đấu mà không có khí giới.
  – Ngài định nghĩa sự nhàn rỗi như là: Cái búa mà quân thù bửa xuống.

 Ngài trả lời cho bà chị hỏi làm sao để được cứu rỗi:  Phải muốn. 

Dầu bận việc rao giảng, dạy học và đi tới những nơi Đức Thánh Cha sai tới Thánh Tôma vẫn viết nhiều tác phẩm thành công rực rỡ.  Trong một lần hiện ra, Ngài nghe thấy thầy chí thánh nói với mình:

  – Hỡi con, con đã viết cách xứng đáng về ta, con muốn được thưởng gì?

Tôma trả lời:
  – Ôi lạy Chúa, con không muốn gì ngoài Chúa cả. 

Người ta quả quyết rằng: Ngài đã nói chuyện với Đức Trinh Nữ, các thiên thần và các thánh.  Và khi cầu nguyện tâm hồn Ngài như lìa khỏi xác.  Ngài còn được mệnh danh mãi là “Tiến sĩ thiên thần” Ngài có một tâm hồn vui tươi, nhã nhặn với anh em, đến nỗi có người nói:
  – Mỗi lần thấy và nói chuyện với Ngài, tôi thấy như tràn ngập niềm vui thiêng liêng. 

Thánh nhân đã qua mười năm tại Italia.  Một phần trong thời gian nầy ở trong giáo triều, Đức Thánh Cha Urbanô đã trao phó cho Ngài nhiều trọng trách, rõ ràng nhất là lo cải hóa người Do Thái.  Đức Thánh Cha còn muốn gọi Ngài lên chức giám mục nhưng Ngài đã từ chối.  Năm 1269 Ngài trở lại Paris để dạy thần học.  Năm 1272 Ngài được gọi về Naples để lo việc cho nhà mẹ dòng Đaminh.  Đến năm cuối đời Ngài cống hiến để hoàn tất một tác phẩm vĩ đại, bộ “Tổng luận thần học.”  Nhưng cuối năm 1273 đột nhiên Ngài ngừng viết.  Khi dâng thánh lễ, Ngài bỗng có linh nghiệm rằng mình không thể viết thêm được nữa.  Réginald, thư ký của Ngài thúc giục viết thêm, thánh nhân đã trả lời rằng: theo điều đã hiển hiện cho Ngài thì tất cả chẳng ra gì:
  –   “Vì mọi điều tôi đã viết đối với tôi chỉ là rơm rác so với điều đã được mạc khải cho tôi thấy.”

 Đức Thánh Cha Grêgôriô cho mời thầy dòng danh tiếng đến dự công đồng Lyon.  Dầu bệnh hoạn, thánh Tôma đã tuân phục và đi bộ với hai anh em để tới dự công đồng.  Đi đường lên cơn sốt.  Sức khỏe đã chận Người lại tu viện Fossa Nova.  Cảm thấy sắp chết, Ngài tuyên xưng đức tin và khi rước lễ, Ngài nói:
  –  Tôi tin vững rằng: Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật trong bí tích này, con thờ lạy Chúa, ôi Thiên Chúa, đấng cứu chuộc con”. 

Ngài qua đời năm 1274, khi mới 49 tuổi.  Ngài qua đời đơn sơ và dịu hiền của một trẻ em không ngừng chiêm ngưỡng Thiên Chúa. 

Năm 1328, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXII tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.  Năm 1567, Ðức Piô V lại phong ngài làm tiến sĩ Hội Thánh với biệt hiệu “Tiến Sĩ Thiên Thần.”  Ðến năm 1880, Ðức Lêô XIII đặt ngài làm quan thầy các trường Công Giáo. 

Nguồn: https://www.tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim


 

Thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để mang chữ “NHÂN” vào những mảnh đời đang đau khổ. Hôm nay 27/1 Giáo Hội mừng kính thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 27/01/2026. (t2-25)

Thánh nhân sinh ngày 21 tháng 3 năm 1474  tại Desenzano, xứ Lombardie, Ý Đại Lợi. An-giê-la  mồ côi cha mẹ và ở với các anh và cậu. Vào lúc 56 tuổi, An-giê-la Mê-ri-si (Angela Merici) từ chối lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng. Ngài biết Ðức Clementê VII muốn ban cho ngài một vinh dự lớn lao và một cơ hội vĩ đại để phục vụ khi đức giáo hoàng yêu cầu ngài nhận trách nhiệm lãnh đạo một dòng nữ tu chuyên về điều dưỡng. Nhưng An-giê-la  biết công việc điều dưỡng không phải là điều Thiên Chúa muốn mời gọi ngài thi hành.

    Ngài mới từ Ðất Thánh trở về. Khi trên đường đến đó ngài bị bệnh nặng và bị mù. Tuy nhiên, ngài nhất quyết tiếp tục cuộc hành hương và thăm viếng các thánh địa với tất cả lòng sùng kính hơn là muốn chiêm ngưỡng bằng cặp mắt. Trên đường về ngài được chữa lành và được sáng mắt. Ðiều ấy chắc chắn đã nhắc nhở ngài rằng không thể nhắm mắt trước nhu cầu của những người chung quanh, và đừng đóng cửa lòng trước lời mời của Thiên Chúa.

    Ở khắp nơi trong thành phố, đâu đâu ngài cũng thấy các em gái nghèo nàn, không có học vấn và cũng không có tương lai. Trong thế kỷ mười lăm và mười sáu của Thánh Angela, vấn đề giáo dục phụ nữ là dành cho người giầu và cho các nữ tu. An-giê-la là người có học thức. Cha mẹ ngài chết sớm khi ngài mới mười tuổi và sau đó ngài phải sống với người chú. Ngài thực sự bối rối khi thấy chị của ngài từ trần mà không được lãnh nhận các bí tích. Trong một thị kiến ngài được đảm bảo là chị của ngài được an toàn trong bàn tay Thiên Chúa — và cũng qua thị kiến ấy ngài tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa.

    Khi chú ngài từ trần, trở về nhà ngài nhận thấy các em gái trong vùng không có một chút học vấn. Nhưng ai sẽ dạy các em? Thời ấy thật khác biệt. Phụ nữ không được phép làm nghề giáo và các cô chưa chồng thì không được tự ý đi ra ngoài — dù để phục vụ người khác. Nữ tu là các phụ nữ có kiến thức nhưng họ không được phép bước chân ra khỏi tu viện. Thời đó không có dòng nữ tu chuyên về giáo dục như ngày nay.

    Ðể giúp đỡ các em, An-giê-la nghĩ ra một phương cách mới. Ngài quy tụ một nhóm các cô thuộc dòng Ba Phanxicô, đi ra đường phố và tụ tập các em gái lại để dạy học cho các em. Các cô không có tiền cũng như không có quyền thế, họ chỉ có tấm lòng tận tụy cho việc giáo dục và cho Ðức Kitô. Sống trong chính nhà của mình, họ gặp gỡ để cầu nguyện và dạy học. Họ thành công đến nỗi An-giê-la được yêu cầu đưa sáng kiến ấy để thực hiện ở các thành phố khác, và đã làm nhiều người kinh ngạc, kể cả đức giáo hoàng.

    Mặc dù ngài từ chối đức giáo hoàng, nhưng có lẽ thỉnh cầu của đức giáo hoàng đã gợi ý cho ngài thấy rằng cần phải chính thức hóa tổ chức của ngài. Mặc dù chưa bao giờ là một nữ tu, Hội Thánh Ursula của An-giê-la  là nhóm nữ tu đầu tiên hoạt động ngoài khuôn khổ nhà dòng và là dòng nữ đầu tiên chuyên lo giáo dục.

     Thánh An-giê-la Mê-ri-si từ trần ngày 27 tháng 1 năm 1540 tại Brescia, khi ngài khoảng bảy mươi tuổi. Mộ phần trở nên một nơi hành hương. Thánh tích còn tại thánh đường Thánh Afra, Brescia Ý Đại Lợi. Ngay sau khi qua đời, nữ tu Angela đã được dân chúng thành phố ca tụng như một đấng thánh. Họ đến kính viếng thi hài của chị thánh đông đảo đến độ phải hoãn lễ an táng đến 30 ngày sau.

    Thánh nữ được tôn phong Chân Phước năm 1768 do Đức Giáo Hoàng Clement XIII và đến ngày 27 tháng 5 năm 1807 Đức Giáo Hoàng Pius VII đã ghi tên thánh nữ vào sổ bộ các thánh của Giáo Hội.

 (Nguồn: Dòng Tên) Mời bạn suy niệm 3 câu nói của ngài hôm nay nhé:

1/ Chúng ta phải làm phúc bố thí. Đức bác ái chinh phục và lôi kéo các linh hồn đến với nhân đức.

2/ Hãy nhớ rằng ma quỷ không ngủ đâu nhưng luôn tìm đủ mọi cách để huỷ hoại chúng ta.

3/ Hãy làm ngay bây giờ những gì mà bạn ao ước làm khi giờ lâm tử của bạn đến.

Câu nào đánh động bạn nhất? Theo mình thì câu 3

Lạy Thiên Chúa nhân từ, Chúa đã cho thánh An-giê-la trinh nữ nên gương bác ái và khôn ngoan; vì lời thánh nữ cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con cũng noi theo Người mà trung thành tuân giữ lời Chúa dậy, và tuyên xưng đức tin trong cuộc sống hằng ngày.

(Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh nữ An-giê-la Mê-ri-si). 

From: Do Dzung

*************************

Nguyện cầu – Nguyễn Hồng Ân (Sáng tác Lm. Thành Tâm)

Thánh Timôtêo và thánh Titô, tông đồ – Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay Giáo Hội mừng kính 2 vị thánh Timôtêo và thánh Titô, tông đồ, mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thu 2: 26/01/2026. (t4-22)

Mời bạn nghe bài nhạc tân cổ, hay quá! Tình Chúa tình người nối nhịp con tim…, Gai càng nhọn lời ca càng thánh thót…

Qua Tân Ước, những gì chúng ta biết được về cuộc đời Thánh Timôtê thì giống như của một giám mục bận rộn ngày nay. Ngài được vinh dự tháp tùng Thánh Phaolô, và cả hai đều được ưu tiên rao giảng phúc âm và chịu đau khổ.

 Thánh Timôtê có cha là người Hy Lạp và mẹ là người Do Thái tên là Eunice. Là kết quả của một hôn nhân “hỗn hợp”, nên ngài bị người Do Thái coi là bất hợp pháp. Chính bà ngoại thánh nhân, bà Lois, là người đầu tiên trở lại Kitô Giáo. Sau đó, Timôtê được Thánh Phaolô rửa tội khoảng năm 47, và sau đó cùng tiếp tay với ngài trong công cuộc tông đồ. Chính ngài và Thánh Phalô cùng sáng lập Giáo Hội Côrintô. Trong 15 năm làm việc với Thánh Phaolô, Timôtê trở nên người bạn trung tín nhất của Phaolô. Ngài được Thánh Phaolô gửi đi truyền giáo — thường phải đương đầu với những xáo trộn trong các giáo đoàn mà Thánh Phaolô thành lập.

    Khi Timôtê đang ở với Phaolô thì bị bắt tại Rôma. Trong một thời gian, chính Timôtê cũng bị tù (Do Thái 13:23). Và Thánh Phaolô đã bổ nhiệm Timôtê làm đại diện cho ngài ở Êphêsô. Timôtê quá trẻ so với trách nhiệm nặng nề phải đảm trách. (“Ðừng để ai coi thường anh vì sự trẻ trung” Thánh Phaolô viết trong thư I gửi Timôtê 4:12a). Một vài đoạn khác cho chúng ta biết dường như Timôtê hay bẽn lẽn. Và một trong những câu của Thánh Phaolô thường được trích dẫn là câu viết cho Timôtê: “Ðừng chỉ uống nước lã, nhưng hãy dùng thêm chút rượu, vì anh đau dạ dày và ốm yếu luôn” (1 Tim 5:23).

 Thánh Titô có nét đặc biệt là người bạn thân và là môn đệ của Thánh Phaolô cũng như tiếp tay trong công cuộc truyền giáo. Ngài là người Hy Lạp, hiển nhiên xuất thân từ Antiôkia. Mặc dù ngài là dân ngoại, Thánh Phaolô đã không để ngài phải chịu cắt bì ở Giêrusalem. Titô được coi như người hòa giải, người quản đốc, người bạn rất tốt. Trong lá thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô, Thánh Phaolô cho chúng ta thấy tình bạn sâu đậm giữa ngài với Titô, và tình đồng đội giữa hai người khi rao giảng Tin Mừng: “Khi tôi đến Troas, tinh thần tôi không được khuây khỏa vì không được gặp Titô, người anh em của tôi. Do đó tôi từ giã họ và tiếp tục đến Macedonia. Ngay cả khi đến Macedonia, thể xác chúng tôi cũng chưa được yên, mà phải chịu đau khổ đủ mọi cách — xung đột bên ngoài, lo sợ bên trong. Nhưng Thiên Chúa, Ðấng an ủi những kẻ yếu hèn, đã an ủi chúng tôi bằng cách sai Ti-tô đến” (2 Côrintô 2:12a, 13; 7:5-6).

    Trong thư  gửi Titô, lúc ấy Titô được coi như quản đốc của cộng đồng Kitô Giáo trên đảo Crete, có trách nhiệm tổ chức, chấn chỉnh những lạm dụng và bổ nhiệm các giám mục phụ tá.

    Qua đời sống của Thánh Titô, chúng ta có được chút hiểu biết về đời sống Giáo Hội thời tiên khởi: hăng say trong việc tông đồ, kết hợp mật thiết với Ðức Kitô, triển nở tình bạn. Tuy nhiên, luôn luôn có những vấn đề của bản tính con người và những chi tiết không hấp dẫn chút nào trong đời sống hàng ngày: cần phải sống bác ái và kiên nhẫn trong “sự cãi cọ với người khác, lo sợ trong tâm hồn”. Qua tất cả những điều ấy, tình yêu của Ðức Kitô đã gìn giữ họ.

 (Nguồn: Người Tín Hữu)

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=SeLGW71zCWg

Tình Con Yêu Chúa (Tân Cổ)

THÁNH ANTÔN VIỆN PHỤ-Nt. Maria Phạm Hường, OP

Nt. Maria Phạm Hường, OP

 Antôn sinh năm 241 tại Cosma, nước Ai Cập trong một gia đình giàu có và đạo đức.  Ngay từ nhỏ Antôn đã được cha mẹ kiên tâm rèn luyện và giáo dục về tri thức, cũng như đời sống đạo.  Lúc Antôn 18 tuổi thì cha mẹ lần lượt qua đời để lại cho Antôn và em gái một gia tài lớn.  Hai anh em luôn sống yêu thương, đùm bọc nâng đỡ nhau.

Năm 270, vào một buổi sáng Antôn tới nhà thờ tham dự Thánh lễ và nghe lời Chúa Giêsu nói với người thanh niên giàu có: “Nếu con muốn trở nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, phân phát cho kẻ nghèo khó.” (Mt 19, 21).  Antôn nhận ra đây là lời Chúa đang nói với chính mình, nên đã về bán hết của cải đem phân phát cho người nghèo khó.  Sau khi gửi em gái vào cộng đoàn các trinh nữ, ngài đã vào sa mạc sống kết hợp mật thiết Chúa trong cầu nguyện, hãm mình và sống rất khắc khổ khi chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn.

 Trong 20 năm sống cô tịch giữa sa mạc hoang vu, thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho ngài.  Dù thế, ma quỷ luôn rình rập, cám dỗ và thậm chí hành hạ ngài để lôi kéo thánh nhân nghiêng về những ham mê xác thịt, tiền của, danh vọng và nhất là từ bỏ lối sống ẩn tu, trở về với thế gian.  Nhưng ngài đã chống trả các cơn cám dỗ ấy bằng việc ăn chay, cầu nguyện và hãm mình nhiều hơn nữa.  Nhờ ơn Chúa, ngài không bao giờ chịu khuất phục nhưng luôn chiến thắng những cơn cám dỗ khốc liệt ấy. 

Đời sống thánh thiện, và hương thơm nhân đức của thánh nhân đã lan tỏa khắp nơi và thu hút nhiều người tìm đến xin làm môn đệ; ngài kiên quyết từ chối nhưng sau đó, nhận ra ý Chúa, thánh nhân thành lập nhiều cộng đoàn.  Sa mạc cằn cỗi giờ đây mọc lên những mái chòi, ngày đêm vang lên những lời kinh ngợi khen Chúa, nhiều người đã nên thánh nhờ sự chỉ bảo, dạy dỗ của ngài.  Từ đây phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ, cha Antôn huấn đức và viết luật, trở nên vị tổ phụ của nếp sống ẩn tu.

 Tuy thế, thánh nhân đã hai lần từ giã sa mạc để đáp ứng nhu cầu của Giáo hội:

 Lần thứ nhất, vào năm 311, do cuộc bắt đạo của hoàng đế Maximinô Đaia, tại Alexandria sắp có cuộc xử tử một số tín hữu trung kiên nên cha Antôn quyết định rời sa mạc đi gặp các tù nhân để khuyên nhủ họ trung thành làm chứng cho Chúa, can đảm chết vì đạo.  Cuộc bách hại chấm dứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc, tiến sâu vào chân núi Kolzim và dựng một căn lều nhỏ vừa đủ để nằm và sống ở đó.

 Lần thứ hai, vào năm 355, cha Antôn trở lại Alexandria theo lời mời của Giám mục Athanasiô, để giảng thuyết chống lại lạc giáo Ariô.  Ngài đi khắp các thành thị, làng mạc kêu gọi mọi người trung thành với giáo huấn của Hội Thánh.  Dân chúng tuôn đến, lắng nghe những bài giảng và chứng kiến các phép lạ thánh nhân thực hiện.  Nhiều người tội lỗi ăn năn sám hối trở về, các lương dân bảo nhau: “Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa,” còn những nhà trí thức thì rất ngạc nhiên khi thấy cha Antôn, dù sống tách biệt với thế giới con người, không tiếp xúc với với sách vở, với các nền văn hóa mà sao ngài lại thấu suốt mọi vấn đề.  Thực ra, họ đã không biết được rằng thánh nhân đã học biết về Chúa qua cảnh vật thiên nhiên.  Sau khi giúp Đức Giám Mục giải quyết xong vấn đề về lạc giáo, thánh nhân trở lại sa mạc tiếp tục lối sống ẩn dật, khắc khổ như trước.

 Thánh nhân qua đời ngày 17/01/356, hưởng thọ 105 tuổi.  Vào năm 561, xác ngài được cải táng trong nhà thờ kính thánh Gioan tiền hô tại Alexandria.  Giáo Hội đã tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.

 Thánh Antôn đã sống trọn một đời vâng phục thánh ý Chúa, yêu thương người nghèo khổ, sẵn sàng từ bỏ sự giàu sang, phú quý để sống cuộc đời ẩn tu, âm thầm, kết hợp mật thiết với Chúa.  Xin giúp chúng con biết noi gương thánh nhân luôn sống thánh thiện, can đảm thực thi ý Chúa, đón nhận hoàn cảnh sống hiện tại, dù là những trái ý, những đau khổ, khó khăn và quảng đại giúp đỡ những người nghèo khó xung quanh mình.  Amen! 

Nt. Maria Phạm Hường, OP tóm lược

From: Langthangchieutim


 

Thánh Elizabeth Ann Seton Nữ Tu Hoa Kỳ (1774-1821)- Cha Vương 

Weekend ấm áp và bình an nhé! Hôm nay 04/01 Giáo Hội mừng kính Thánh Elizabeth Ann Seton Nữ Tu Hoa Kỳ (1774-1821). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương 

CN: 4/1/2026.   (t7-25)

TIỂU SỬ: 

❦ Thánh Elizabeth Ann Seton có cha mẹ theo đạo Episcopan (Anh giáo).

❦ Lấy chồng lúc 19 tuổi với ông William Seton ở New york, con nhà giầu có. Hai người rất yêu nhau và sinh được 3 gái 2 trai. Góa chồng lúc 30 tuổi. Nhờ sự giúp đỡ của người bạn gia đình bà trở lại đạo Công Giáo 14/3/1805.

❦ Để có tiền nuôi con, bà đã mở trường nội trú Công giáo cho các thiếu nữ tại Baltimore, bang Maryland. 

❦ Bà đáp lời tiếng Chúa gọi trong lòng, hiến mình cho Chúa, nên bà và mấy bà bạn cùng nhau lập tu viện, sau này trở thành Dòng Nữ tử Bác ái (Daughters of Charity). Hai con trai bà nhập lính hải quân, 2 con gái đi tu, một người chết trẻ, một người làm việc cho tù nhân. Ngày nay, hàng ngàn ngàn nữ tu Bác ái đang phục vụ trong các bệnh viện, nhà dưỡng lão, và nhà trường.

❦ Nữ Tu Bác Ái Người Mỹ và người ta tôn tặng cho Êlizabeth tước hiệu “Mẹ Seton”. 

NHÂN ĐỨC:

❦ Hoàn toàn phó mình theo ý Chúa, vui chịu đau khổ, tôn kính Mình Thánh: Thánh Elizabeth Ann Seton không có ơn khác thường như làm phép lạ, nói tiên tri, in dấu thánh…nhưng bà có 2 điều đặc biệt là:  hoàn toàn phó mình làm trọn Ý Chúa, vui chịu đau khổ: mẹ chết, chồng chết, con chết, họ hàng ghét bỏ… Thánh nữ nổi bật về lòng tôn kính Mình Thánh Chúa, yêu mến Đức Mẹ…

❦ Đặc biệt nhất là thánh nữ thích việc viếng thăm những người nghèo khổ, đau yếu.

❦ Trong lá thư cho người bạn là bà Julia Scott, thánh nhân viết rằng ngài muốn đổi cả thế gian để sống ẩn dật ở “trong hang hay sa mạc. Nhưng Thiên Chúa đã ban cho tôi nhiều việc phải làm, và tôi hằng cầu xin và luôn luôn hy vọng được vâng theo ý Chúa hơn là ý riêng tôi.” Kiểu cách nên thánh của ngài là mở lòng cho mọi sự nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành thánh ý Ngài.

CÂU NÓI: 

❦ Thánh Elizabeth Seton thường nói với các nữ tu: “Tôi thiết nghĩ mục đích trước nhất trong công việc hàng ngày của chúng ta là thi hành thánh ý Thiên Chúa; thứ đến, thi hành điều ấy trong phương cách mà Ngài muốn; và thứ ba, thi hành điều ấy vì đó là ý Chúa.”

❦ Đau khổ là những bậc thang dẫn tới Thiên Đàng.

❦ Tâm hồn chuẩn bị đón nhận Bí tích Thánh Thể phải được sáng bóng và trong suốt giống như một chiếc bình pha lê.

NOI GƯƠNG THÁNH NHÂN:

Trong đời sống hàng ngày mời bạn: 

1) Luôn luôn tìm và thực thi thánh ý Thiên Chúa, 

2) làm việc trong thánh ý Chúa muốn, 

3) bạn làm những việc ấy vì đó là ý Chúa. 

From Do Dzung

********************

Xin vang

Thánh Ba-xi-li-ô Cả, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh – Cha Vương

Chúc bình an! Sau những ngày yến tiệc linh đình, chịu khó vận động tay chân một tí để đốt calo nhé. Hôm nay Giáo hội mừng kính Thánh Thánh Ba-xi-li-ô Cả và Thánh Ghê-gô-ri-ô Na-di-en. Mừng bổn mạng đến những ai chọn các ngài làm quan thầy.

Cha Vương

Thứ 6: 02/01/2026.   (T5-25)

Thánh Ba-xi-li-ô Cả, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh

TIỂU SỬ: Thánh Ba-xi-li-ô sinh tại Xê-da-rê miền Ca-pa-đô-xi-a năm 330, trong một gia đình Ki-tô giáo. Vốn là người tinh thông văn học lại nổi tiếng nhân đức, ban đầu thánh nhân chọn cuộc đời đan tu. Đến năm 370, người được cắt đặt làm giám mục cai quản nơi người sinh trưởng. Người tích cực chống lại giáo phái A-ri-ô, viết nhiều tác phẩm. Đặc biệt, người đã soạn thảo những quy luật cho đời sống đan tu, mà cho đến bây giờ, nhiều đan sĩ Đông Phương vẫn còn tuân giữ. Người hết sức chăm lo cho người nghèo. Người qua đời ngày 1 tháng Giêng năm 379.

NHÂN ĐỨC:

❦ Làm việc không biết mệt trong công việc mục vụ, chống chọi lại với nạn buôn thần bán thánh, giúp đỡ nạn nhân của hạn hán và đói kém, cố gắng thay đổi hàng giáo sĩ, nhấn mạnh đến tinh thần kỷ luật. Ngài không sợ lên án những điều xấu xa một khi đã thấy, và sẵn sàng ra vạ tuyệt thông cho những ai dính líu đến nạn mãi dâm ở Cappadocia.

❦ Thánh Ba-xi-li-ô là một người hết lòng chăm sóc cho những người nghèo. Có lần Ngài đã phát biểu: “Thực phẩm mà bạn không dùng là thực phẩm của người đói; quần áo bạn treo trong tủ là quần áo của người trần truồng; giày dép bạn không dùng là giày dép của người chân không; tiền bạc bạn cất giữ là tiền bạc của người nghèo; hành động bác ái mà bạn không thi hành là những bất công mà bạn đã phạm.”

NOI GƯƠNG THÁNH NHÂN:

❦ Hy sinh ít thời gian làm việc bác ái

❦ Bênh vực cho sự thật, bài trừ văn hoá phẩm đồi trụy 

 From: Do Dzung

********************

Sống trong tình Chúa – Gia Ân 

Thánh Juan Diego (St. Juan Diego), 1474-1548, – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Juan Diego (St. Juan Diego), 1474-1548, vị thánh được ít người Việt biết đến. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thư 3: 9/12/2025.  (t3-23)

Lúc đầu người ta gọi ngài là Cuauhtlatohuac (“Con đại bàng cất tiếng”), tên Juan Diego thì mãi mãi đi liền với Ðức Mẹ Guadalupe vì chính ngài là người được Ðức Mẹ hiện ra ở đồi Tepeyac lần đầu tiên vào ngày 9/12/1531. 

Ông là một thổ dân nghèo hèn, 57 tuổi, goá vợ, tên thật là Cuatitlatoatzin và sau khi rửa tội có tên là Juan Diego. Vào buổi sáng thứ Bảy, 9 tháng Mười Hai 1531, ông đến nhà nguyện gần đó để tham dự lễ kính Ðức Mẹ. Khi đang đi trên ngọn đồi gọi là Tepeyac thì ông nghe có tiếng nhạc du dương như tiếng chim hót. Sau đó một đám mây sáng chói xuất hiện, đứng trên đám mây là một trinh nữ người thổ dân mặc y phục như công chúa của bộ lạc Aztec. Trinh nữ nói chuyện với ông bằng tiếng bản xứ và sai ông đến với Ðức Giám Mục của Mexico, là một tu sĩ dòng Phanxicô tên Juan de Zumarraga, và yêu cầu đức giám mục xây cất một nguyện đường nơi Trinh Nữ hiện ra.

Dĩ nhiên vị giám mục không tin, và bảo Juan Diego xin Trinh Nữ cho một dấu chỉ. Trong thời gian này, người chú của ông bị bệnh nặng. Ðiều đó khiến ông cố tránh né không muốn gặp Trinh Nữ. Tuy nhiên, đức trinh nữ tìm ông, đảm bảo với ông là người chú sẽ khỏi bệnh, và bảo ông hái các bông hồng quanh đó để làm bằng chứng với vị giám mục. Lúc ấy là mùa đông thì không thể có bông hoa nào mọc được, nhưng lạ lùng thay, gần chỗ Trinh Nữ hiện ra lại đầy dẫy những hoa hồng tuyệt đẹp. Và ông đã dùng chiếc áo tơi của mình để bọc lấy các bông hồng đem cho vị giám mục.

Trước sự hiện diện của đức giám mục, ông Juan Diego mở áo tơi ra và bông hồng đổ xuống tràn ngập khiến vị giám mục phải quỳ gối trước dấu chỉ lạ lùng ấy. Lạ lùng hơn nữa, trên chiếc áo tơi lại có in hình Ðức Trinh Nữ như ngài đã hiện ra với ông ở đồi Tepeyac. Ðó là ngày 12 tháng 12 năm 1531.

Sau đó, người ta không đề cập gì nhiều đến Juan Diego. Có lúc ông sống gần một ngôi đền được dựng ở Tepeyac, được mọi người kính trọng như một giáo lý viên thánh thiện, vô vị lợi và đầy lòng nhân ái qua lời nói cũng như gương mẫu. Ông Juan Diogo qua đời vì già yếu bệnh tật ngày 30 tháng 5 năm 1548 tại Guadalupe, Mexico.

Juan Diego được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Chân Phước tại Vatican ngày 09 tháng 4 năm 1990. Trong chuyến công du đến Mễ Tây Cơ ngày 06 tháng 5 năm 1990, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã xác nhận lại một nghi thức có từ lâu đời nhằm vinh danh Juan Diego qua việc phong chân phước cho ông. Ngài được nâng lên bậc hiển thánh ngày 31 tháng 7 năm 2002 trong một buổi lễ được tổ chức long trọng tại Vương cung Thánh đường Ðức Mẹ Guadelupe, Mexico với khoãng 4.3 triệu người tham dự. 

Trong bài giảng Lễ tuyên phong Chân Phước, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: “Cũng như các nhân vật trong phúc âm xưa đại diện chung cho mọi dân tộc, chúng ta cũng có thể nói rằng Juan Diego đại diện cho những người thổ dân đã chấp nhận Tin Mừng của Ðức Giêsu, nhờ sự trợ giúp của Mẹ Maria, là người luôn luôn sát cánh với hành động của Con Mẹ và sự phát triển của Giáo Hội, như khi ngài hiện diện với các Tông Ðồ trong ngày Hiện Xuống” 

(Nguồn: Người Tín Hữu Online)

From: Do Dzung

*************************

KHẤN XIN MẸ MARIA – Thanh Hoài || Lời: Sóng Tình – Nhạc: Thừa Sai

Thánh Am-rô-xi-ô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh- Cha Vương

Xin Chúa che chở và ban nhiều ơn lành xuống cho bạn và gia đình hôm nay. Hãy gạt bỏ quá khứ, chào đón mỗi ngày với niềm vui và hy vọng. Sống hồn nhiên vui vẻ với những nụ cười thật to nhé!

Cha Vương

CN: 07/12/2025.  (t5-23)

Hôm nay 07/12, Giáo hội mừng kính Thánh Am-rô-xi-ô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Thánh Am-rô-xi-ô chào đời ở Trê-vê-rô khoáng năm 340 trong một gia đình người Rô-ma. Thánh nhân theo học ở Rô-ma và bắt đầu sự nghiệp hiển hách ở Xiếc-mi-ô. Năm 374, lúc đang ở Mi-la-nô, thánh nhân bất ngờ được bầu làm giám mục và được tấn phong ngày 7 tháng 12. Người trung thành thi hành bổn phận, nổi bật về lòng bác ái đối với mọi người. Đối với các tín hữu, người vừa là mục tử, vừa là tôn sư. Người đã can đảm bênh vực các quyền của Hội Thánh, người vừa viết lách, vừa hoạt động để bênh vực giáo lý đức tin chân thật, chống lại những người theo phái A-ri-ô. Người qua đời thứ Bảy Tuần Thánh, ngày 4 tháng 4 năm 397. Sau đây là những câu danh ngôn của ngài mời bạn đọc và hình dung ra như ngài đang nói vời bạn điều gì đó…:

❦  Chúng ta tránh né con mắt người đời, nhưng chúng ta lại phạm tội ngay trước mắt Thiên Chúa.

❦  Hỡi những người giàu có, anh em muốn mở rộng tính tham lam của mình đến tận đâu? Anh em định làm những người duy nhất cư ngụ trên trái đất này sao? Vậy tại sao anh em lại xua đuổi những người cùng chia phần thiên nhiên và tự nhận nó là của riêng anh em? Trái đất này được tạo dựng cho mọi người, giàu cũng như nghèo, chung cho tất cả. Tại sao những người giàu có như anh em lại tự nhận nó làm độc quyền của mình?

❦  Nếu bạn có hai cái áo trong tủ, một cái là của bạn còn cái kia là của người nghèo không có áo mặc.

❦  Nhẫn nại chịu đựng là sự trọn lành của đức ái.

❦  Lòng nhân ái thật tốt lành vì làm cho người ta nên hoàn thiện, noi theo Chúa Cha là Đấng hoàn thiện. Không gì làm cho linh hồn người tín hữu nên khả ái cho bằng lòng nhân ái.

❦ Đối với người lành thánh, chết là một mối lợi. Người ngu dại sợ chết như điều dữ dằn kinh hãi nhất, còn người khôn ngoan mong mỏi cái chết như sự nghỉ ngơi sau bao nhiêu lao nhọc và chấm dứt những bệnh tật.

❦  Phúc cho ai dứt bỏ được thói tham lam là cội rễ của các tính mê…. Của cải thừa mứa trên thế gian này có ích gì, chúng không giúp được chúng ta sinh cũng chẳng cản được chúng ta tử? Chúng ta sinh vào thế gian này trần trụi, và chúng ta chết đi mà chẳng mang theo được một xu nào, chúng ta bị chôn táng mà không đem theo được sản nghiệp của mình.

❦  Không ai có thể tự chữa lành cho bản thân bằng cách đả thương người khác.

❦  Chúng ta đã yêu thương họ khi họ còn sống, vậy chúng ta cũng đừng lãng quên họ cho đến ngày chúng ta dẫn đưa họ – bằng lời cầu nguyện của chúng ta – vào đến nhà Chúa.

❦  Đời sống của Đức Maria là bài học cho tất cả mọi người… Bạn hãy đặt trước mắt bạn cuộc đời thánh khiết của Đức Trinh Nữ, Đấng đã phản chiếu, như một tấm gương, vẻ lộng lẫy, sự thánh khiết, và sức mạnh nhân đức.

Câu nào đánh động bạn nhất? Tại sao?

Lạy Thánh Am-rô-xi-ô, cầu cho chúng con. 

From: Do Dzung

************************

Cho Đi Là Lãnh Nhận – Sáng tác: Duy Nhạc Angelo

Thánh Nicôla giám mục, Turkey (- 343) – Cha Vương

Mừng quan thầy đến những ai mang tên Nick nhé!

Cha Vương

Thư 7: 06/12/2025.  (t6-24)

Hôm nay 06/12 Giáo Hội mừng kính Thánh Nicôla giám mục, Turkey (- 343) Vị thánh bênh vực công lý, bênh vực người nghèo, cho quà con nít: Nicholas sinh tại Patara thuộc tỉnh Lycia, thuộc Tiểu Á (Asia Minor), ngày nay gọi là nước Turkey (Thổ nhĩ kỳ). Sau khi cha mẹ chết, cậu đem hết tiền của cho người nghèo. Ông đi tới tỉnh Myra (ngày nay là Demre) khi giáo sĩ và giáo dân đang chọn giám mục mới. Người dân chọn Ông giữ chức vụ  giám mục thành Myra.

   Vào đầu thế kỷ 4 này, đạo Công giáo đang bị bắt bớ dưới thời hoàng đế Dioletia. Giám mục Nicola cùng nhiều tín hữu bị quan tỉnh bắt giam, bị đánh đập, xiềng xích, vì ngài mạnh dạn giảng về chân lý đức tin  và sự tự do của đạo thánh. Tới khi vua Constantinô lên cầm quyền tha bắt đạo, ngài và giáo dân mới được tha về Myra… Ngài rất tốt lành và tử tế. Mọi hoạt động của đời ngài nhằm tôn vinh Chúa Giêsu Kitô, bênh vực cho công lí và người nghèo khó. Trẻ em khắp nơi quí mến Ngài.

   Nhiều câu truyện nói về ngài khiến người ta khó biết chính xác giám mục Nicola đã giúp giáo dân trong địa phận Myra để tỏ lòng kính mến Chúa và phục vụ Chúa nơi tha nhân thế nào.

   -Người ta kể, có 3 người bị kết án tử hình sai lầm, Ngài đã tìm đến quan kết án, cho ông biết rằng, vì nhận tiền hối lộ mà ông kết án sai, nên 3 người đã được tha về.

   -Truyện khác nói: ngài cứu 3 em bé vô tội đã chết, được sống lại.

   -Nhưng có một truyện nổi tiếng về một gia đình ở Myra, ông bố bị mất hết tiền bạc, không có đủ tiền cho 3 người con gái lập gia đình. Vào thời đó, người thiếu nữ phải có một số tiền hồi môn khi lấy chồng. Ông định tống con vào nhà tội lỗi. Giám mục Nicola nghe chuyện cảm thấy buồn cho cha con ông, ngài tìm cách giúp đỡ. Đêm kia, ngài xách túi vàng ném qua cửa sổ đang mở, nơi ông ta nằm, rồi ngài vội đi ngay, để ông ta không biết ai cho vàng. Ít lâu sau, ngài nghe tin cô lớn nhất đi lấy chồng.

Giám mục Nicola lại đến cho ít vàng nữa, lần này cô thứ hai lấy chồng. Thời gian sau, ngài lại đến ném túi vàng nữa qua cửa sổ rồi đi ngay, nhưng ông chủ nhà nghèo kia đã chờ sẵn, đuổi theo, bắt gặp ngài. Ông ta cám ơn rối rít về nghĩa cử cao đẹp của giám mục. Rồi người con thứ ba cũng được lên xe hoa nhờ món vàng đó.

  Giám mục Nicola đã qua đời vào ngày 6 tháng 12 năm 343. Xác ngài được chôn trong nhà thờ lớn xây trên mộ Ngài tại Myra. Rất nhiều khách hành hương đã tới viếng mộ để cầu khấn vị thánh của tình bác ái. Nhiều bàn thờ, thánh đường trên thế giới mang tên thánh Nicola.   Chỉ riêng nước Anh đã có chừng 400 nhà thờ mang tên Nicola. Thánh Nicola là bổn mạng các thủy thủ và tù nhân.

   Từ thế kỷ thứ 5, giáo hội phương Đông đã tôn kính vị thánh làm nhiều phép lạ này. Năm 987, vua Vladimir đã cổ động lòng sùng kính thánh Nicola cho dân Nga (Russia). Cùng với thánh Anrê, Ngài cũng là bổn mạng nước Nga. 

Năm 1087, thủy thủ người Ý đã đem xương thánh ngài về thành Bari. Hàng năm tổ chức mừng Ngài. Thành Bari từ đó trở nên nổi tiếng, và là nơi hành hương cho cả  u châu. Năm 1100, các Xơ người Pháp phát bánh quà cho trẻ em nghèo vào lễ kính thánh Nicola (6-12), dần dần lan ra nhiều nơi trong  u châu. Thế kỷ 13, trẻ em Công giáo  u châu thích đóng vai “giám mục Nicola” và xin quà phát cho trẻ nghèo. Ngay cả thời nay, vào chiều áp lễ kính ngài, tại nước Hoà lan, Đức, Thuỵ sĩ, trẻ em đặt chiếc giầy ở một chỗ để lãnh quà, mong thánh Nicola bí mật đem quà đến cho.

    Tại nước Mỹ và Anh, thánh Nicola được biết dưới danh hiệu Santa Claus. Người Công giáo Việt nam do ảnh hưởng tiếng Pháp, gọi là ông già Noel. (Nguồn: Dân Chúa)

Noi gương Thánh Nicholas đầy lòng bác ái từ nhân, mời Bạn hôm nay hãy làm một việc đúng theo tinh thần của Ngài nhé. 

From: Do Dzung

************************

TÂM TÌNH YÊU MẾN – Tuyệt Phẩm Thánh Ca Để Đời – Dành Cho Đời Sống Dâng Hiến

THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ – Lm. Phao lô Phạm Quốc Túy

 Lm. Phao lô Phạm Quốc Túy

 Phanxicô ra đời tại lâu đài Xaviê thuộc vương quốc Navarre ngày 7 tháng 4 năm 1506.  Cha ngài là cố vấn của nhà vua miền Navarre và là thẩm phán.  Anh em ngài theo binh nghiệp.  Riêng Phanxicô ham thích học hành.  Năm 19 tuổi, ngài theo học tại Đại học Paris, trường lớn nhất thế giới.  Khi còn ở học viện thánh Barbe, ngài được phúc trọ cùng phòng với Phêrô Favre, người sau này sẽ nhập dòng Tên và được phong chân phước.  Bốn năm sau, ngài lại có được người bạn học giả là Inhaxiô thành Loyoa.

Người học trò mẫn cán đã trở thành giáo sư.  Ngài dạy triết học.  Thành công làm cho ngài thành con người tham vọng.  Inhaxiô nói với ngài về một hội dòng mà thánh nhân muốn thành lập.  Nhưng Phanxicô mơ tới danh vọng, ngài chế nhạo cũng như khinh bỉ nếu sống nghèo tự nguyện của bạn mình.  Inhaxiô vui vẻ đón nhận những lời châm biếm, nhưng lặp lại rằng :

 “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì.”

 Cuối cùng, Phanxicô đã bị ảnh hưởng.  Inhaxiô còn đưa ra những lời cao đẹp hơn:

 “Một tâm hồn cao cả như anh, không hề chỉ gò bó với cái vinh dự thế trần được.  Vinh quang trên trời mới đúng với cao vọng của anh.  Thật vô lý, khi ưa chuộng một thứ mây khói chóng tàn hơn là những của cải tồn tại đời đời.”

 Phanxicô bắt đầu thấy được cái hư không của những sự cao trọng của thế nhân và hướng vọng tới của cải vĩnh cửu.  Chiến thắng rồi, ngài chống lại tính kiêu căng bằng mọi loại sám hối.  Ngài quyết định theo sát Phúc âm, vâng theo cách cư xử của người bạn thánh thiện và xin được khiêm tốn hãm mình.  Ngài chỉ còn chú tâm cứu rỗi các linh hồn.

 Ngày lễ Mông triệu năm 1533, trong một nhà nguyện tại Monmartre, trên mộ bia thánh Dénis, Phanxicô, Inhaxiô và 5 bạn khác đã hiến mình cho Chúa.  Họ khấn từ bỏ mọi của cải, hành hương thánh địa, làm việc để cải hóa lương dân và hoàn toàn đặt mình dưới sự điều động của Đức Thánh Cha để phục vụ Hội Thánh.  Phanxicô còn học thần học hai năm nữa, rồi cùng sáu bạn đi Italia.

  Đi đường, họ chỉ mang theo cuốn Kinh Thánh và sách nguyện trong bị, cổ đeo tràng hạt.  Tuyết lạnh hay khắc khổ cũng không làm họ sợ hãi.  Trái lại, Phanxicô lại còn cảm thấy quá êm ái nhẹ nhàng, nên một ngày kia đã cột giây thừng vào chân, khiến dây đó ăn vào thịt và ngay việc được khỏi bệnh đó cũng đã là một phép lạ.

 Đoàn quân bé nhỏ đó tới Venatia chống lại quân Thổ.  Thế là họ phải bỏ cuôc hành hương đi thánh địa. Đức Thánh Cha đã chúc lành cho nhóm bạn cũng như dự định của họ.  Phanxicô và Inhaxiô thụ phong linh mục ngày 16 tháng 6 năm 1537.  Phanxicô đã chuẩn bị thánh lễ mở tay bằng cuộc sám hối kéo dài 40 ngày trong một túp lều tranh bỏ hoang và sống bằng của ăn xin.

 Trong khi chờ đợi bắt đầu thực hiện công việc vĩ đại của mình, ngài rao giảng và săn sóc cho người nghèo trong các nhà thương.  Ngài còn phải chiến thắng chính mình nữa, chẳng hạn khi băng bó các vết thương lở loét.  Ngài luôn đi ăn xin thực phẩm.

 Khi Phanxicô được 35 tuổi, vua nước Bồ Bào Nha xin Đức Thánh cha gửi các thừa sai sang Ấn độ. Phanxicô rất vui mừng khi được chỉ định.

 Ngài bộc lộ cho một người bạn:

“Anh có nhớ rằng, khi ở nhà thương tại Rôma, một đêm kia, anh đã nghe tôi la:

 “Còn nữa, lạy Chúa, còn nữa” không?  Tôi đã thấy rằng: phải chịu khổ nạn cho vinh danh Chúa Giêsu Kitô.  Trước mặt tôi là những hoang đảo, những miền đất báo cho tôi biết trước cơn đói, cơn khát và cả đến cái chết dưới hàng ngàn hình thức.  Tôi ao ước được chịu khổ hình hơn nữa.”

 Chỉ còn 24 giờ để chuẩn bị lên đường.  Nhưng thế đã quá đủ để xếp đặt hành trang.  Với vài bộ đồ cũ.  Một thánh giá, một cuốn sách nguyện và một cuốn sách thiêng liêng.  Ngài đáp tàu.  Cuộc hành trình cực khổ vì say sóng.  Đau bệnh, ngài vẫn săn sóc các bệnh nhân.  Những thủy thủ hư hỏng dường như là đoàn chiên đầu tiên ngài phải đưa về cho Chúa.  Ngài rao giảng cho họ bằng chính việc chia sẻ cuộc sống với họ.

 Sau bảy tháng hành trình, người ta dừng lại bến Mozambique.  Khí trời ngột ngạt.  Một cơn bệnh dịch đang hoành hành nơi đây.  Phanxicô lại săn sóc các bệnh nhân và muốn sống đời cực khổ nhất.  Ngài lặp lại:

 “Tôi khấn sống nghèo khó, tôi muốn sống và chết giữa người nghèo.”

 Sau một năm hành trình, Phanxicô cặp bến Goa, thủ đô miền Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha vào tháng 5 năm 1542.  Ngài phát khóc vì vui mừng.  Nhưng việc cấp thiết, nhất là phải làm cho những người chinh phục Bồ Đào Nha giữ đạo đã.  Những tật xấu và tính hung hăng của họ làm ô danh Kitô giáo.  Còn dân Ấn thì thờ ngẫu tượng.  Vị tông đồ làm thầy thuốc, thẩm phán, giáo viên.  Ngài học tiếng một cách khó khăn, thời gian của ngài dành cho các nhà thương, nhà tù, người nghèo và việc dạy giáo lý.  Rảo qua đường phố, ngài rung chuông tập họp trẻ em và dân nô lệ lại, với sự nhẫn nại vô bờ, ngài ghi khắc tình yêu Chúa vào lòng họ.  Các trẻ em tham dự lại trở thành các nhà truyền giáo cho cha mẹ và thầy dạy của chúng.  Chúng mang thánh giá của “ông cha” cho các bệnh nhân.  Chúng trở nên hung hăng với các ngẫu tượng.  Bây giờ, các cánh đồng lúa vang lên được bài thánh ca.  Dần dần, đời sống Kitô giáo đã vững vàng trong lòng các gia đình.

 hanxicô nghe nói tới một bộ lạc thờ lạy ngẫu thần ở mũi Comorin, sống bằng nghề mò ngọc trai.  Muốn loan báo Tin Mừng cho họ, thánh nhân học ngôn ngữ mới, vượt mọi khó khăn để phổ biến đức ái và chân lý.  Rồi ngài lại qua các làng khác.  Cứ như thế ngài đi khắp Ấn độ.  Trong 15 tháng trời, ngài đã rửa tội cho một số đông đảo người Kitô hữu, khiến “xuôi tay vì mệt mỏi.”  Người nói : “Mọi ngày tôi đều thấy tái diễn những phép lạ thời Giáo hội sơ khai.”

 Ngài ngủ ít, đêm thức khuya để cầu nguyện.  Sống khắc khổ để đền tội cho các tội nhân.  Ngài chăm chú đào tạo các tâm hồn thanh thiếu niên địa phương để sai đi làm tông đồ truyền giáo cho các người đồng hương của họ.

 Ở tỉnh Travancore, trong vòng một tháng, thánh nhân đã rửa tội cho 10.000 người.  Người Brames muốn hạ sát ngài, nhưng ngài đã giữ được mạng sống một cách lạ lùng dưới cơn mưa tên.  Ở vương quốc Travance, khi nhóm người man-di muốn tràn ngập, Phanxicô cầm thánh giá trong tay với một số ít tín hữu đã làm cho họ phải tháo lui.  Ngài mang Tin Mừng tới Ceylanca, Malacca.  Các đảo Molluques vang danh vì sự hung tợn của họ, nhất là đảo của dân More ở phía Bắc…

 Ngài nhắm tới đảo này, ngài muốn bị dân cư giết chết như một vị thừa sai 13 năm trứơc đây sao?

 Người ta ngăn không cho tàu bè chở ngài đi.  Phanxicô đáp lại:

 “Thì tôi bơi tới vậy.”

  • Nhưng ngài sẽ bị đầu độc thì sao?

Ngài nói: “Niềm tin tưởng ở Thiên Chúa là thuốc kháng độc.  Rồi ngài thêm : “Ôi, nếu như hy vọng tìm được gỗ quí hay vàng bạc, các Kitô hữu đổ xô tới ngay.  Nhưng lại chỉ có các linh hồn cần được cứu rỗi.  Tôi sẽ chịu khổ gấp ngàn lần để cứu lấy một linh hồn thôi.”

 Phanxicô đã viết thư xin vua Bồ Đào Nha và thánh Inhaxiô gởi các linh mục tới săn sóc cho các cộng đoàn Kitô hữu ngài để lại.  Sự khó khăn và chậm chạp về thư tín làm cho đời ngài thêm nhiều phiền phức.  Ngài phải mất gần 4 năm để gửi thư từ Moluques về Rôma.  Dầu giữa các khó khăn mệt nhọc, thánh nhân không để mất tính hiền hậu và khiêm tốn.

 Năm 1549, một người Nhật được ngài rửa tội ở Malacca đã thu hút ngài tới hòn đảo vô danh, chưa có người Kitô hữu nào.  Lời cầu nguyện và đời sống hãm mình củng cố lòng can đảm của ngài.  Không để mình bị chán nản do ngôn ngữ khó học hay bởi nội chiến.  Ngài đã có thể tạo lập được một cộng đoàn Kitô hữu nhỏ như ngài mơ ước.  Các phép lạ củng cố lời giảng dạy của ngài, nhưng dân chúng bị đánh động nhiều hơn bởi đức tin và lòng can đảm của người ngoại quốc này đã từ xa đến để loan báo cho họ chân lý duy nhất.

 Được hai năm, nhà truyền giáo lại ra đi, để lại tại miền đất xa này những cộng đồng Kitô hữu đứng khá vững trong nhiều thế kỷ, dù không có linh mục cai quản.

 Phanxicô trở lại Ấn độ.  Ngài đã rảo qua gần 100.000 cây số trong 10 năm.  Bấy giờ, việc chinh phục Trung hoa ám ảnh tâm hồn ngài.  Ngài đáp tàu, nhưng không bao giờ tới được quốc gia rộng lớn này.  Vào cuối tháng 11 năm 1552, trên đảo Hoàng Châu, ngài bị lên cơn sốt rét.  Giữa cơn đau, ngài đã lập lại:

 Lạy Chúa Giêsu, con vua Đavid, xin thương xót con, xin thương đến các tội con.

 Ngài dứt tiếng và không nhận ra được các bạn hữu nữa.  Khi hồi tỉnh, Ngài lại kêu cầu Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu và nài xin Đức Mẹ:  “Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, xin hãy nhớ đến con.”

 Một người Trung Hoa thấy ngài hấp hối thì đặt vào tay ngài một cây nến.  Phanxicô qua đời ngày 03 tháng 12 năm 1552.  Ít tuần sau, người ta tìm thấy xác ngài vẫn nguyên vẹn và chở về Goa.  Dân chúng tại đây nhiệt tình tôn kính ngài, vì đã coi ngài như một vị thánh.

 Năm 1619, Đức Phaolô V đã phong chân phước cho ngài vào ngày 12 tháng 3 năm 1622, Đức Grêgôriô XV đã phong thánh cho ngài cùng với thánh Inhaxiô.  Nay Ngài được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

Lm. Phao lô Phạm Quốc Túy

Trích: Theo vết Chân Người

From Langthangchieutim


 

TẠI SAO THÁNH CECILIA TRỞ THÀNH BỔN MẠNG CỦA CÁC NHẠC SĨ? – Geneviève Pasquier

Được mừng lễ vào ngày 22 tháng 11, Thánh Cecilia, vị thánh bổn mạng của các nhạc sĩ, đã được tôn kính ở Rôma từ cuối thế kỷ thứ V.  Việc tôn kính ngài dường như đã lan rộng ở vùng Albigeois từ đầu thời Trung cổ.  Vị thánh được các Kitô hữu cầu khấn và là thánh bổn mạng của Nhà thờ chánh tòa Albi này là ai?

 Câu chuyện về cuộc đời của Cecilia được mượn từ cuốn Các Cuộc Thương Khó tập hợp cuộc đời của các vị tử đạo trong các thế kỷ đầu tiên.  Người ta lấy cảm hứng từ đó cho các vị thánh mà người ta mong muốn tôn vinh.  Jacques de Voragine, giám mục của Genoa, Dòng Đa Minh, đã mượn cho cuốn Légende dorée của mình (khoảng 1261-1266) từ truyện thánh Cecilia (khoảng 500).

 Thánh Cecilia hẳn đã sống vào khoảng đầu từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 3, và đã chết vì đạo vào khoảng năm 223.  Thuộc gia đình quý tộc lừng danh Caecilii, được lớn lên trong đức tin Kitô giáo, thánh nữ, ngay từ khi còn rất trẻ, đã quyết định dâng hiến đời mình cho Chúa và tuyên khấn đồng trinh.  Bị buộc phải kết hôn với Valêriô, thánh nữ thuyết phục anh tôn trọng sự trong trắng của mình và hoán cải anh sang Kitô giáo.

 Tiburce, em trai của Valêriô, cũng trở lại và hai anh em từ chối hiến tế các vị thần.  Họ làm việc để chôn cất các vị tử đạo, bị hành quyết vì đức tin Kitô giáo của họ.  Hai anh em bị tố cáo và chặt đầu.  Khi họ qua đời, Thánh Cecilia tiếp tục loan báo Tin Mừng và cải đạo cho những người ngoại giáo, cho đến ngày thánh nữ bị bắt, bị kết án tử hình rồi bị chặt đầu.  Sau ba nhát rìu, Thánh Cecilia vẫn sống, nhưng vì luật cấm đánh quá ba nhát trong một cuộc hành quyết nên người ta đã để cho ngài hấp hối trong ba ngày.

 Nhà thờ đầu tiên dưới sự bảo trợ của thánh nữ

 Theo truyền thuyết, thánh nữ phân phát tất cả tài sản của mình cho người nghèo và giới thiệu với Đức Giám mục Urbain tất cả những tín hữu mà thánh nữ đã cải đạo, và đồng thời nói rằng: “Con đã cầu xin Chúa cho ba ngày trì hoãn này để khuyên Đức Cha lần cuối và để xin Đức Cha cung hiến một nhà thờ trên địa điểm ngôi nhà mà con qua đời.

 Hài cốt của thánh nữ, được tìm thấy vào năm 821 trong hầm mộ Thánh Callixtô, đã được chuyển đến Trastevere, một quận của Rôma, nơi mà theo mong muốn của ngài, một nhà thờ đã được xây dựng để đón nhận lăng mộ của ngài.  Nhà thờ này vẫn còn tồn tại, đó là nhà thờ Sainte-Cécile-du-Trastevere.  Trong cuộc khai quật phục hồi năm 1599, thi thể được tìm thấy nguyên vẹn.  Sự kiện này đã góp phần tạo nên danh tiếng cho ngài.

 Tại sao ngài là thánh bổn mạng của các nhạc sĩ?

 Nguồn gốc của việc ngài là thánh bổn mạng của các nhạc sĩ xuất phát từ một điệp khúc được sáng tác vào thời Trung Cổ cho phụng vụ mừng lễ ngài mà, do giải thích sai, đã khiến người ta nghĩ rằng rằng ngài là một nhạc sĩ.  Việc phổ cập sự bảo trợ của các vị thánh, những biến đổi sâu sắc về lý thuyết, sáng tác và thực hành âm nhạc sẽ làm phần còn lại, đến mức từ hậu bán thế kỷ 16, Thánh Cecilia đã trở thành vị thánh bảo trợ không thể tranh cãi của âm nhạc và các nhạc sĩ.  Nhiều ban nhạc kèn đồng ở Pháp cho đến ngày nay vẫn được đặt dưới sự bảo trợ của thánh nữ.

 Việc sùng kính Thánh Cecilia ở Albi

Việc sùng kính Thánh Cecilia hẳn đã được đưa vào Albi bởi những người Wisigoths từ Rôma đến Gaule narbonnaise vào năm 413, phụng vụ của họ dành một vị trí đáng chú ý cho việc sùng kính Thánh Cecilia.

 Sự hiện diện của thánh tích của Thánh Cecilia ở Albi được chứng thực lần đầu tiên vào khoảng năm 1130 – hài cốt và vải lanh liên quan đến thân xác của ngài.  Năm 1468, thánh tích mới được Đức Giáo hoàng Phaolô II trao tặng cho Đức Hồng y Jean Jouffroy, Giám mục giáo phận Albi lúc bấy giờ.  Những thánh tích này – xương quay của cánh tay trái và hàm dưới của thánh nữ, một mảnh vải tạo thành một phần trang phục của ngài, một mảnh vải liệm được Thánh Giáo hoàng Urbain I quấn quanh thi thể của ngài – được bảo quản trong một hòm thánh tích được thực hiện vào năm 1887.  Hòm thánh tích này vẫn còn được rước trong thánh lễ Thánh Cecilia, vào ngày Chúa nhật gần nhất với ngày 22 tháng 11.

 Geneviève Pasquier

Chuyển ngữ: Tý Linh

Theo: La Croix

From: Langthangchieutim