Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân

Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân

(Phỏng theo lời kể của một người vợ lính BĐQ)

 Phạm Tín An Ninh 

Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư tại Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng giá, nhưng lại rất đẹp vào ngày hè và lãng mạn vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở. Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong “Rừng Na-Uy”, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm tôi đau đớn, khốn khổ gần cả một đời.

Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình, đạp xe theo sau tôi những buổi học tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạn, cũng chẳng có điều gì trắc trở. Ông xã tôi là lính Biệt Động Quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giày saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa trải qua khói lửa Mậu Thân.

Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh.
Mãi đến ba năm sau, tôi mới sinh cho anh đứa con đầu lòng. Một đứa con trai bụ bẫm. Có lẽ vì nặng nợ với núi rừng, anh đề nghị tôi đặt tên cho con là Cao Nguyên. Lê Cao Nguyên. Anh về thăm con khi cháu vừa đầy tháng. Càng lớn Cao Nguyên càng giống cha. Đôi mắt to, sống mũi cao, đặc biệt là trên đầu mỗi vành tai đều có một “lỗ tai nhỏ” như ba nó.

Chỉ đúng một tuần sau khi chia tay vợ con về với đơn vị, anh bị thương nặng trong lúc đơn vị hành quân giải vây căn cứ Pleime. Tôi bồng con lên Pleiku. Hậu cứ lo cho mẹ con tôi nơi ăn chốn ở và có xe đưa đón mỗi ngày để tôi thăm và săn sóc anh mỗi ngày trong quân y viện. Sau khi xuất viện, đôi chân còn đi khập khiễng, nên anh được chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đảm trách một công tác tham mưu ở hậu cứ. Mẹ con tôi ở lại Biển Hồ với Anh kể từ ngày ấy. Mẹ chồng tôi rất nhân từ, thường xuyên lên thăm chúng tôi và thuê cho tôi một người giúp việc. Cuối năm 1973, trong một lần pháo kích vào trại gia binh làm một số đàn bà con nít bị thương, trong đó có cháu Cao Nguyên. Rất may, mảnh đạn gây một vết thương khá lớn ở cánh tay, nhưng không vào xương. Sau hôm ấy, chúng tôi ra thuê một căn nhà bên ngoài doanh trại để ở. Năm sau khi Cao Nguyên vừa tròn hai tuổi, tôi sinh đứa con thứ nhì. Lần này là con gái. Con bé giống mẹ, được chúng tôi đặt tên Thùy Dương để nhớ thành phố biển Nha Trang, nơi hai chúng tôi lớn lên và yêu nhau. 

Mấy năm sống ở Pleiku, cái thành phố “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy, những ngày nắng chỉ thấy toàn bụi đỏ, còn những ngày mưa bùn bám dính gót chân. Pleiku đúng là một thành phố lính. Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chờ chồng trở về sau những cuộc hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày bị thương nằm trong quân y viện. Với họ thì đúng là “may mà có anh đời còn dễ thương”. Trong số ấy đã có biết bao người trở thành góa phụ.

Giữa tháng 3/75, sau đúng một tuần Ban Mê Thuột mất vào tay giặc. Một buổi sáng, từ bản doanh Liên Đoàn về, anh hối hả bảo mẹ con tôi và chị giúp việc thu dọn đồ đạc gấp, bỏ lại mọi thứ, chỉ mang những gì cần thiết, nhất là thức ăn và sữa cho các con, theo anh vào hậu cứ.

Khi vừa đến cổng trại, tôi ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi người đều đã ngồi sẵn trên xe. Chúng tôi rời khỏi doanh trại. Thành phố Pleiku như đang ngơ ngác trước những người từng bao năm sống chết với mình nay vội vàng bỏ đi không một tiếng giã từ. Đang giữa mùa xuân mà cả một bầu trời u ám. Pleiku tiễn chúng tôi bằng một cơn mưa đổ xuống khi đoàn xe vừa ra khỏi thành phố. Đến ngã ba Mỹ Thạnh, đoàn xe dừng lại. Phía trước chúng tôi dày đặc xe và người, vừa dân vừa lính, đủ các binh chủng, đủ các loại xe, kể cả xe gắn máy. Tôi nghe chồng tôi và bạn bè nói là ngoài lực lượng xung kích mở đường, một số đơn vị Biệt Động Quân còn được chỉ định đi sau, ngăn chặn địch quân tập hậu để bảo vệ cho đoàn quân di tản! Đây là trách nhiệm nguy hiểm và nặng nề nhất trong một cuộc hành quân triệt thoái.

Hơn một ngày mò mẫm trên Tỉnh Lộ 7, chúng tôi đến thị xã Hậu Bổn vào lúc trời sắp tối. Vừa dừng lại chưa kịp ăn cơm thì bị pháo kích và súng nổ khắp nơi. Xe và người dẫm lên nhau trong cơn hốt hoảng. Địch đã bao vây. Các đơn vị BĐQ chống trả kiên cường, nhưng địch quá đông, mà bên ta thì vừa quân vừa dân chen chúc nhau hỗn độn. Trong lúc nguy nan này trời lại giáng xuống cho bên ta thêm một điều bất hạnh: Một chiếc phản lực cơ dội bom nhầm vào quân bạn. Đoàn xe vội vã rời Hậu Bổn, di chuyển đến gần Phú Túc thì lại bị địch tấn công từ khắp hướng. Nhiều xe bốc cháy và nhiều người chết hoặc bị thương. Cả đoàn xe không nhúc nhích được. Chúng tôi có lệnh bỏ lại tất cả xe cộ, băng rừng tìm đường về Củng Sơn.

Chồng tôi, vừa chiến đấu vừa dẫn đường chúng tôi cùng một số binh sĩ, vợ con. Tôi dắt theo Cao Nguyên còn chị giúp việc bồng cháu Thùy Dương. Chúng tôi lầm lũi trong rừng. Tiếng súng vẫn còn ầm ĩ, những viên đạn lửa như muốn xé màn đêm. Khi chúng tôi mệt lả cũng là lúc đến bờ một con suối nhỏ. Chồng tôi lo chỗ ngủ cho mẹ con tôi dưới một gốc cây, rồi cùng một số đồng đội chia nhau canh gác. Mệt quá, tôi ngủ vùi một giấc, thức giấc thì trời vừa sang… Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không còn đủ sức để bồng Cao Nguyên, nên chồng tôi phải dùng cái võng nylong gùi cháu sau lưng, bên ngoài được phủ bằng cái áo giáp.

Vừa ra khỏi bìa rừng tôi ngạc nhiên khi thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi cùng hướng chúng tôi, trong đó có nhiều người vừa bị thương, mình đầy máu. Tôi nghĩ họ cũng là những vợ chồng, con cái, cha mẹ dắt dìu nhau đi tìm sự sống. Hình như họ không còn mang theo bất cứ thứ gì. Nhìn nét mặt ai nấy cũng kinh hoàng. Chồng tôi bàn bạc cùng một số bạn bè trong đơn vị, chúng tôi lại tách khỏi đám đông này, tìm một lộ trình khác mà đi, để tránh sự phát hiện của địch.

Vừa rời đoàn người chừng vài phút thì đạn pháo thi nhau rớt xuống. Tiếng la khóc thất thanh cộng với tiếng súng nổ khắp nơi làm cho cả một khu rừng như trải qua một cơn địa chấn. Trong nhóm chúng tôi cũng có một số người đã chết. Đến lúc này thì mạnh ai nấy tìm đường sống. Gia đình tôi cùng gia đình vài người bạn nữa chạy vào khu rừng phía trước, nơi không nghe tiếng súng. Kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến trận, bây giờ chồng tôi chỉ còn dùng để mong cứu được vợ con mình. Địch quân tràn ngập. Một số đơn vị tan rã. Đồng đội kẻ chết người bị thương. Có thể một số đã bị bắt. Tôi không thể tưởng tượng được số mệnh bi thảm của những người lính Biệt Động Quân một thời oanh liệt trên khắp chiến trường, giờ này lại tan tác trong bất ngờ, tức tưởi! Chồng tôi suýt bật khóc, khi nghe cấp chỉ huy truyền lệnh từ ông tướng tư lệnh Quân Đoàn: “Đạp lên mà đi!”. Trong cả đời binh nghiệp, chắc những người lính không còn nhận được cái lệnh nào đau đớn hơn thế nữa.

Sau chừng một tiếng đồng hồ băng rừng, chúng tôi bất ngờ gặp một toán lính hơn 20 người thuộc tiểu đoàn cũ của chồng tôi… Thầy trò chưa kịp nắm tay mừng rỡ thì súng nổ. Địch quân phía trước mặt. Trở lại cương vị chỉ huy, chồng tôi lưng mang con, điều động anh em xông vào trận mạc. Một cuộc đánh tốc chiến, toán địch quân bị tiêu diệt. Chồng tôi quay lại tìm và hướng dẫn đám đàn bà con nít chúng tôi đi tiếp.

Trong núi rừng đêm xuống thật nhanh. Cái bóng tối bây giờ thật rợn người. Tôi hình dung cái bóng của tử thần. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Tôi nghiệp cho những người lính trung thành. Đáng lẽ họ lợi dụng bóng đêm để đi tiếp, vì đó là sở trường của họ, nhưng thấy một số vợ con bạn bè cùng vài anh em bị thương không thể đi nổi, nghe lời chồng tôi, tất cả cùng ở lại qua đêm. Sau khi sắp xếp anh em phòng thủ, chồng tôi trở lại phụ lo chỗ nằm cho mẹ con tôi. Tối hôm ấy, dù mệt, nhưng sao tôi cứ trằn trọc, không ngủ được. Chồng tôi ôm tôi dựa vào một gốc cây. Anh ôm tôi thật chặt vào lòng, thỉnh thoảng hôn nhẹ tôi, trên môi, trên tóc. Trong hoàn cảnh này chẳng ai còn lòng dạ nào để lãng mạn yêu thương, nhưng có lẽ anh tội nghiệp cho một người con gái đã trót chọn chồng là lính chiến. Và cũng không ngờ đó là những nụ hôn cuối cùng anh dành cho tôi. 

Buổi sáng sớm khi vừa xuống chân đồi, chúng tôi chạm súng với địch. Cũng là lần cuối tôi chứng kiến những người lính Biệt Động can trường. Các anh phân tán từng toán nhỏ, xông vào lòng địch mà đánh, tiếng thét “Biệt Động Quân Sát” vang dội cả một vùng. Nghe súng nổ, tôi đoán lực lượng địch đông lắm. Một anh trung sĩ bị thương ở cánh tay trong trận đánh hôm qua, được chỉ định dắt tất cả đám đàn bà con nít chúng tôi ra khỏi vùng giao chiến. Đã vậy anh còn phải dìu theo một người lính bị thương khác. Vợ chồng tôi thất lạc nhau kể từ phút ấy. Tôi còn lạc mất cả cháu Cao Nguyên, được ba nó gùi theo phía sau lưng ngay cả những khi lâm trận. Không biết chiếc áo giáp có đủ để che chắn hình hài bé nhỏ của con tôi. Hình ảnh này trước đây tôi nghĩ chỉ có diễn ra trong mấy cuốn truyện Tàu mà tôi đã đọc.

Tiếp tục di chuyển từng vài giờ đồng hồ nữa, khi tới một con đường mòn, chúng tôi lại nghe súng nổ. Anh trung sĩ dẫn đường chúng tôi nhận ra từng loạt lựu đạn nổ, bảo chúng tôi nằm rạp xuống. Chờ im tiếng súng, đám chúng tôi rời con đường mòn, chạy về bên hướng rừng bên phải, mà theo anh trung sĩ, có thể an toàn hơn. Khi đến bìa rừng, tôi thấy mấy người lính BĐQ nằm chết bên cạnh xác quân thù, máu me lai láng. Sau này tôi được biết những người lính này bị địch bao vây, đã tự sát để cùng chết chung với giặc. 

Đi vào cánh rừng bên phải chỉ vài trăm mét nửa thì chúng tôi bị một đám khá đông VC chặn lại. Anh trung sĩ bị tước hết vũ khí. Tất cả chúng tôi bị lùa vào bên bờ suối nhỏ. Ở đây tôi gặp một số sĩ quan, binh sĩ của ta bị bắt, nhiều người tay bị trói ngược ra sau, ngồi theo hàng dọc quay lưng ra suối, trước họng súng sẵn sàng nhả đạn của kẻ thù. Tôi cố ý tìm xem, nhưng không thấy chồng tôi trong số người bị bắt. Lòng tôi lo âu vô hạn. Từ lúc ấy, tiếng súng tạm im, chỉ còn tiếng quát tháo và tiếng nói rất khó nghe của đám người thắng trận. Tất cả chúng tôi bị lùa về địa điểm tập trung, một ngôi trường nằm trong huyện Củng Sơn (Sơn Hòa).

Trong cảnh khốn cùng này, tôi chỉ còn lại một điều may mắn: Chị giúp việc rất tốt bụng và trung thành. Vừa bồng bế, bảo bọc cho cháu Thùy Dương, vừa lo lắng cho tôi. Chị đi đâu đó xin cho tôi nửa bát cơm, nhưng tôi không nuốt nổi, mặc dù đã trải qua hai ngày đói khát. Nhìn đứa con gái vừa mới lên hai lay lắt bên cạnh và nghĩ tới chồng tôi và đứa con trai giờ này không biết sống chết ra sao, lần đầu tiên tôi bật khóc. 

Cuối cùng thì tôi cũng lần mò về đến Nha Trang, khi thành phố này cũng vừa lọt vào tay giặc. Khi nhận ra tôi, mẹ tôi ôm tôi vào lòng và khóc như mưa. Tôi không đủ can đảm để mang tin buồn đến nhà chồng, nhờ cha tôi sang báo tin tôi và cháu Thùy Dương vừa mới về nhà, chồng tôi và cháu Cao Nguyên còn đang mất tích. Cả nhà chồng kéo sang thăm tôi, bồng cháu Thùy Dương về nhà chăm sóc. Mẹ chồng tôi thẫn thờ cả mấy ngày liền khi nhận được tin này. Nằm nhà hơn một tuần, nhờ mẹ tận tình chăm lo, sức khỏe tôi đã gần bình phục, tôi xin được trở lại Phú Bổn tìm chồng và cháu Cao Nguyên. Cả nhà tôi và cha mẹ chồng đều ái ngại, âu lo. Nhưng qua sự nài nỉ của tôi, cuối cùng cha mẹ chồng cho đứa em trai út của chồng tôi, dùng xe honda chở tôi ngược đường lên Tỉnh Lộ 7. 

Mặc dù đã chứng kiến bao nhiêu máu lửa tang tóc, cũng như đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi thực sự kinh hãi những gì trước mắt, khi nhìn thấy ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy, những bộ xương người còn vương vãi đó đây, bao nhiêu nấm mộ bị lấp vội bên đường. Cả một vùng xông mùi tử khí. Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số. Đến Cheo Reo, hỏi thăm một vài người dân, được biết một số sĩ quan bị bắt làm tù binh, đang còn giam ở Thuần Mẫn. Chúng tôi đến đó, trình giấy phép đi tìm chồng của Ủy Ban Quân Quản mới được cho vào trại. Sau khi tên VC trực ban cho biết không có tên chồng tôi trong danh sách tù binh, tôi xin được gặp bất cứ sĩ quan nào cùng đơn vị với chồng tôi. Rất may, tôi gặp được anh đại đội phó lúc chồng tôi còn ở tiểu đoàn. Anh cho biết là có gặp một số binh sĩ cùng chồng tôi chiến đấu dưới ngọn đồi gần đèo Tu Na. Họ cho biết chồng tôi bị thương, nhưng cố tìm cách đưa cháu Cao Nguyên đến một nơi nào đó. Tôi sáng lên niềm hy vọng. Ngay hôm ấy tôi thuê năm người thượng, theo tôi lần theo con đường dọc bờ sông mà tôi còn nhớ, trở lại khu đồi thấp, rồi bung ra xa đi tìm. Liên tục trong một tuần, chúng tôi chỉ tìm được mấy bộ xương người, một số mộ vô danh, nhưng không thấy dấu vết của chồng tôi. Tôi trở về mang theo niềm tuyệt vọng, không chỉ cho tôi, mà cho cả nhà chồng.

Cha mẹ chồng tôi lập bàn thờ cho chồng tôi và Cao Nguyên, đứa cháu đích tôn của ông bà. Ngày 19 tháng 3 là ngày giỗ của hai cha con. 

Hàng năm, cứ đến ngày này, tôi và Thùy Dương đều trở lại Phú Bổn, tìm đến chân đồi, dưới gốc cây nằm giữa đỉnh đồi, mà đêm cuối cùng chồng tôi ôm tôi vào lòng, thắp hương tưởng niệm anh và cháu Cao Nguyên. Tôi đã dùng dao khắc đậm tên anh và cháu Cao Nguyên vào thân cây. Lần nào, khi nước mắt ràn rụa, trong tiếng gió rừng, tôi mơ hồ như có tiếng khóc từ gốc cây này, rồi văng vẳng bao nhiêu tiếng khóc từ những thân cây khác, từ những khúc gỗ nằm vương vãi do bom đạn hôm nào, tạo thành những âm thanh não nùng, xé ruột.

Tôi đã mang dư âm của tiếng khóc ấy đến tận Bắc Âu, nơi mẹ con tôi định cư sau chuyến vượt biển được một chiếc tàu của vương quốc Na Uy cứu vớt. Tháng 5 năm 1985, cha mẹ chồng tôi góp vàng cùng một người bạn ở vùng biển Lương Sơn đóng ghe vượt biển. Tôi, cháu Thùy Dương, và một đứa em trai của tôi đi cùng với gia đình chồng. Tôi cũng xin được một chỗ cho chị giúp việc lúc trước (chị đã về quê trên vùng quê Diên Khánh, sau ngày cùng tôi thoát chết trở về), nhưng chị chối từ. Tôi âm thầm gom nhặt tài sản của nhà chồng và của tôi mang lên biếu chị trước khi rời khỏi quê nhà. 

Hai mươi năm sau, khi Thùy Dương vừa làm đám cưới, tôi muốn đưa vợ chồng cháu về lại Việt Nam trình diện ông bà ngoại, và đến địa điểm cuối cùng khi chồng tôi và Cao Nguyên còn sống, như là một nghĩa cử để cháu tưởng nhớ đến cha và anh mình. Chúng tôi đến đây vào giữa mùa xuân, một ngày trước ngày giỗ chồng và đứa con trai.
Con đường Tỉnh Lộ 7 ngày xưa bây giờ đã được tráng nhựa và đổi tên thành Quốc Lộ 25. Chúng tôi thuê bao một chiếc xe tám chỗ ngồi. Ngoài tôi và vợ chồng cháu Thùy Dương, còn có vợ chồng cậu em trai út của tôi và vợ chồng chị giúp việc ngày xưa. Chúng tôi đến Cheo Reo, bây giờ có tên mới là A Yun Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Tất cả không còn gì dấu vết của chiến tranh. Người ta đã cố tình trát phấn tô son lên thành phố núi này để có dáng dấp của thời kỳ đổi mới. Màu sắc lòe loẹt, vài ngôi nhà cao tầng quê mùa kệch cỡm, những ngôi nhà sàn “cải biên” thành những biệt thự của các ông quan lớn, nằm chơ vơ giữa một vùng nghèo nàn mang tên “thị xã”. Nhìn dãy núi Hàm Rồng từ xa, ẩn hiện trong những đám mây mù, lòng tôi chùng xuống. Nơi ấy, đã bao lần tôi đến thăm chồng, để được hòa mình vào đơn vị với những người lính trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Cũng ở nơi ấy tôi đã vinh dự chứng kiến chồng tôi cùng nhiều anh em đồng đội được ông tướng Vùng gắn huy chương lên ngực áo khi ban nhạc trổi khúc quân hành. Tất cả bây giờ đã trở thành huyền thoại.

Sau khi thuê phòng trọ, tắm rửa và cơm nước xong, chúng tôi hỏi đường đến tháp Yang Mun và tháp Drang Lai. Vì nghe dân ở đây bảo các vị thần Chàm trong hai ngôi tháp này linh thiêng ghê lắm. Tôi khấn vái và xin xăm. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi lá xăm tôi bốc trúng lại là bốn câu Kiều của ông Nguyễn Du:

Từ phen chiếc lá lìa rừng

Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây

Rõ ràng hoa rụng hương bay

Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi.

Tôi bán tín bán nghi, vì nghe nhiều người nói ở Việt Nam, chuyện cúng bái, mê tín dị đoan, bây giờ là một business. Chẳng lẽ ông thần Chàm này lại thuộc cả truyện Kiều. Nghĩ như vậy, nhưng thấy bốn câu thơ lại đúng vào trường hợp của mình, tôi cũng thấy lòng buồn vô hạn. Trở về phòng trọ, bà chủ nhà cho biết ngày mai có chợ phiên của người dân tộc, vừa đông vui vừa có thể mua nhiều thứ thổ sản, gia cầm với gía rất rẻ. Tôi cũng muốn mua mấy con gà, để cúng chồng tôi. Khi còn sống anh thích ăn gà luộc. Bà còn cho biết thêm dân chúng ở vùng này đa số là người Thượng thuộc các sắc tộc Djarai, Bahnar, Hroi và M’dhur. Có một số sống trong các bản rất xa, cách thị xã này từ 10 tới 20 cây số.

Sau một đêm trằn trọc với những cơn ác mộng, vừa mới chợp mắt tôi đã nghe tiếng người réo gọi nhau. Ngôn ngữ của các sắc tộc, tôi không hiểu họ nói gì. Chợ phiên nhóm rất sớm.

Chúng tôi vội vàng ăn sáng rồi kéo nhau ra khu chợ, nằm không xa trước nhà trọ. Tôi có cảm giác lạ lẫm vì đây là lần đầu tiên tôi đến một buổi chợ phiên của người sắc tộc. Đã vậy vợ chồng cháu Thùy Dương cứ theo hỏi tôi điều này điều nọ. Khi đang cố giải thích về nguồn gốc người Thượng, chúng tôi đến một quầy gà. Những con gà tre nhỏ xíu được nhốt trong mấy cái lồng đan bằng tre. Tôi ngồi xuống lựa hai con gà béo nhất, bảo người chủ bắt hộ hai con gà này ra khỏi lồng. Người chủ là anh đàn ông người Thượng vừa đen vừa ốm, nói tiếng Việt chưa sõi… Khi Anh xăn tay áo lên và thò tay vào lồng gà, tôi bỗng giật mình khi phát hiện vết sẹo trên cánh tay trái. Vết sẹo có hình dáng đầu một con cọp. Tôi nhớ tới Cao Nguyên, đứa con trai ba tuổi, bị thương trong trận pháo kích của VC vào trại gia binh ở Biển Hồ. Vết thương trên cánh tay cháu sau khi chữa lành cũng để lại một vết sẹo có hình ảnh đầu một con cọp. Biểu tượng binh chủng BĐQ mà chồng tôi luôn mang trên vai áo.

Tôi biến sắc, nắm chặt cánh tay anh người Thượng và nhìn vào mặt anh ta. Cũng hai con mắt khá to, cũng cái sống mũi cao, nhưng khuôn mặt cháy nắng, mái tóc mầu nâu sậm như mầu đất đỏ Pleiku. Không có nét đẹp của Cao Nguyên ngày trước. Anh người Thượng ngượng ngùng, cúi mặt xuống, khựng lại. Nhưng tôi chợt nhớ ra trên vành tai của Cao Nguyên có một lỗ tai nhỏ, giống như ba của nó, tôi cúi xuống để nhìn kỹ vào tai anh người thượng. Tôi bàng hoàng khi nhận ra hai cái lỗ tai nhỏ trên hai vành tai. Bất giác, tôi ôm chầm lấy anh và nước mắt trào ra. Nhưng anh bán gà đẩy mạnh tôi ra và nói một tràng tiếng Thượng. Vợ chồng cháu Thùy Dương ngơ ngác nhìn tôi, không biết xảy ra điều gì. Nghĩ tới chị giúp việc ngày trước có thể xác nhận cùng tôi đôi điều kỳ lạ, tôi báo cháu Thùy Dương đi gọi chị từ gian hàng hoa lan phía trước.

Tôi kéo chị ra xa và nói vào tai chị:

– Chị nhìn kỹ anh người Thượng này xem có giống ai không?
Sau một lúc nhìn không chớp mắt, mặt chị biến sắc, rồi không trả lời tôi mà thì thầm một mình:

– Thằng Nguyên? Chả lẽ là thằng cu Nguyên?
Rồi chị nhìn thẳng vào mặt anh ta hỏi:

– Mày có phải là thằng Nguyên, Lê Cao Nguyên không?
Anh người Thượng lắc đầu.

– Tao là thằng Ksor Tlang.
Tôi mua hết những lồng gà hôm ấy và và đưa cho anh một nắm tiền. Sau khi đếm xong anh trả lại cho tôi hơn một nửa, rồi buột miệng:

– Mày bắt cái con gà nhiều tiền quá!
Tôi mất hết bình tĩnh, bảo vợ chồng chị giúp việc đứng giữ anh ta, rồi chạy vào phòng trọ tìm bà chủ nhà. Tôi kể rất vắn tắt những gì đã xảy ra. Có lẽ bà ta là người có tai mắt ở đây, nhưng là một người tốt bụng, nhấc điện thoại gọi công an. Chưa đầy ba phút hai gã công an chạy tới bằng xe gắn máy, một Kinh một Thượng, cúi đầu chào bà chủ. Chưa kịp nói gì, bà chủ kéo tay hai gã công an ra chợ. Vừa đi bà vừa giải thích. Đến nơi, gã công an nói một tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng thấy anh bán gà gân cổ cãi lại. Cuối cùng hai người công an kéo anh đi, mặc dù anh cố tình chống lại. Chúng tôi đi theo phía sau trở về phòng trọ. 

Qua trung gian của bà chủ nhà trọ, tôi nhờ gã công an giúp tôi, dịch lại các điều trao đổi giữa tôi và anh bán gà, và cố gắng bằng mọi cách tìm ra tông tích của anh ta. Tôi nhét vào tay bà chủ nhà trọ hai tờ giấy bạc 100 đô la.
– Em có cha mẹ không? Tên ông bà là gì?

– Tôi có cha mẹ. Cha tôi tên Ksor H’lum, mẹ tôi tên H’Nu
– Có anh em không?

– Không.
– Anh có nhớ ngày sinh không?

– Không.(Gã công an nhìn sang tôi, bảo là sẽ đi tìm khai sinh sau)
– Anh có nhớ lúc còn nhỏ, khi ba, bốn tuổi anh ở đâu không?

– Không! Thì chắc tôi ở với cha mẹ tôi mà.
– Cái sẹo trên cánh tay trái, anh biết vì sao mà có cái sẹo này không? (Gã công an bảo anh xăn tay áo lên và chỉ vào vết sẹo)
– Không! Chắc là bị cành cây đâm trúng.
Tôi thở ra thất vọng. Nhưng vừa chợt nghĩ ra điều gì, tôi lại hỏi:
– Cha mẹ anh đang ở đâu?

– Buôn Ban Ma Dek. (Gã công an nhìn tôi, bảo buôn Ban Ma Dek cách đây hơn 10 cây số)
– Anh ở chung với cha mẹ anh? – Không, ở bên cạnh, với vợ và hai đứa con.
– Đã có vợ con rồi à! Tôi buột miệng.

Tôi đề nghị hai gã công an cùng đi với chúng tôi và anh bán gà về buôn Ban Ma Dek. Sau khi hỏi nhỏ bà chủ nhà trọ, hai gã công an gật đầu. Nhưng bảo chúng tôi phải thuê xe ôm, vì về buôn Ban Ma Dek chỉ có đường rừng, xe ô tô không chạy được. Bà chủ nhà trọ gọi giùm chúng tôi bảy cái xe ôm.
Cha mẹ của anh bán gà đã khá già, trước đây chỉ sống lẻ loi trong núi nên không nói được tiếng Việt. Chúng tôi lại trao đổi qua sự thông dịch của gã công an người Thượng. Vợ và hai con của Ksor Tlang thấy có nhiều người cũng chạy sang nhìn.
Lúc đầu, ông bà cứ nhất quyết Ksor Tlang là con đẻ của ông bà. Nhưng thấy tôi khóc lóc, năn nỉ và nhờ gã công an gạn hỏi, cuối cùng ông cha mới kể lại sự thực.
– Năm ấy, lâu rồi, sau mấy ngày chiến trận ác liệt, mà vợ chồng tôi phải nằm suốt sau tảng đá to trước nhà để tránh đạn. Bỗng một buổi chiều có người lính mặc áo rằn ri, bị thương nặng lắm, nhưng cố lết vào dưới căn nhà sàn của tôi rồi gục chết, trên lưng có mang một đứa bé. Nó là thằng Ksor Tlang bây giờ.

– Rồi xác của người lính đó ở đâu? Tôi hỏi.
Ông chỉ tay ra rừng cây phía trước:
– Tôi đã chôn ông ta dưới gốc cây ấy, rồi rào lại, sợ thú rừng bới lên ăn thịt.
Chúng tôi theo sau hai người công an dìu ông già đi về phía khu rừng.
Tôi khóc ngất khi nhìn thấy ngôi mộ lè tè nằm dưới tàng cây, được rào lại bằng những que gỗ nhỏ. Vợ chồng cháu Thùy Dương cũng qùy xuống ôm vai tôi mà khóc. Tôi ngước lên dáo dác tìm Ksor Tlang, thằng Cao Nguyên, đứa con trai duy nhất của vợ chồng tôi. Nó đang đứng bất động, hai tay đang nắm chặt hai đứa con đang trần truồng, đen đúa. Tôi chạy lại ôm hai đứa nhỏ vào lòng, nhưng cả hai đứa trố mắt nhìn tôi dửng dưng, xa lạ.

Tôi khóc lóc, năn nỉ lắm, ông già mới cùng vợ chồng và hai đứa con thằng Ksor Tlang về nhà trọ với tôi. Nhờ bà chủ thuê một cậu học trò thông dịch. Suốt một đêm, tôi, cháu Thùy Dương và vợ chồng chị vú giúp việc ngày xưa, giải thích, khóc hết nước mắt, xin vợ chồng Ksor Tlang và hai đứa con theo chúng tôi về Nha Trang ở với ông bà ngoại, rồi tôi sẽ tìm cách đưa sang Na Uy. Cả hai ông bà già, nếu muốn, chúng tôi sẽ mua nhà cửa ở Nha Trang và chu cấp cho ông bà sống gần Ksor Tlang. Nhưng cả Ksor Tlang và ông gìa một mực chối từ, bảo là họ không thể nào bỏ bản mà đi. Núi rừng mãi mãi là nhà của họ. Họ không thể nào sống xa rừng cũng như loài cá không thể nào sống mà không có nước.

Dự trù lên đây ba ngày. Vậy mà chúng tôi đã ở lại đây hơn hai tuần rồi. Ban đầu tôi tính xin phép cha mẹ nuôi của Ksor Tlang cho tôi cải táng phần mộ của chồng tôi, mang về an táng ở nghĩa trang gia tộc ở Nha Trang, nhưng rồi tôi đã đổi ý. Bởi anh phải nằm ở đây, bên cạnh đứa con trai và hai đứa cháu nội của anh, mặc dù bây giờ tất cả đã trở thành người Thượng và chắc không biết gì về anh. Và chắc có lẽ anh cũng muốn nằm lại với bao đồng đội, một thời cùng anh vào sinh ra tử, mà linh hồn chắc đang còn phảng phất quanh đây. Tôi mướn thợ xây lại ngôi mộ. Trên tấm bia không có hình chân dung của anh, mà có tấm ảnh anh chụp chung với tôi và hai cháu Cao Nguyên và Thùy Dương trong ngày sinh nhật bốn tuổi của Cao Nguyên, chỉ hơn một tháng trước ngày anh mất. Tấm ảnh này lúc nào tôi cũng mang theo.

Tôi cũng không thể bắt Cao Nguyên và vợ con phải rời khỏi núi rừng, nơi đã cưu mang nó. Có lẽ cái tên Cao Nguyên mà ngày xưa chồng tôi đề nghị đặt cho nó đã vận vào cuộc đời của nó. Điều làm tôi đau đớn hơn là tôi chẳng làm được điều gì cho đứa con trai ruột thịt máu mủ của mình, ngoài việc nhờ bà chủ nhà trọ thuê người dựng cho vợ chồng nó và ông bà cha mẹ nuôi một ngôi nhà sàn chắc chắn và rộng rãi hơn, sắm cho vợ chồng nó và hai đứa con một số quần áo mới. Nhưng phải năn nỉ khóc lóc mãi nó mới chịu nhận, cùng số tiền 200 đô la. Bằng đúng số tiền mà tôi trả công cho hai gã công an! 

Ngày cuối cùng, chúng tôi ở lại với với vợ chồng Cao Nguyên trên ngôi nhà sàn mới. Buổi chiều tôi bảo Cao Nguyên và vợ con nó, thay quần áo mới, cùng với tôi và vợ chồng Thùy Dương ra thắp hương trước mộ ba nó. Nó quỳ bên cạnh tôi, cúi đầu nói điều gì lầm thầm trong miệng và khi ngước lên, đôi mắt đỏ hoe. Suốt đêm hôm ấy, tôi ngồi khóc một mình. Tôi nghĩ tình mẫu tử thật thiêng liêng, nhưng có lẽ ông trời đã phạt tôi. Tôi sinh ra Cao Nguyên, nhưng không bảo vệ được con mình, để mất nó trong núi rừng này từ ngày nó mới lên bốn tuổi. 

Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theo Tỉnh Lộ 7 ngày xưa, mang theo trong lòng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng cả bầu trời nhuộm màu ảm đạm. Nhìn núi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá không còn nữa, mà tất cả đều mang hình dáng của những bộ xương người nối tiếp nhau, trùng điệp. Tai tôi nghe trăm ngàn tiếng khóc quyện vào trong gió. Không biết đó là tiếng khóc của người hay tiếng khóc của cây?

Phạm Tín An Ninh

From: Tuyen Ho- Nguyen

Chuyện Cô Nhíp ngày xưa “chống Mỹ cứu nước “và Cô Nhíp bây giờ thành “công dân Mỹ”

Chuyện  Nhíp ngày xưa “chống Mỹ cứu nước “và  Nhíp bây giờ thành “công dân Mỹ” !! (Nguoidongbang)

“…Chuyện gì đã xảy ra vậy? Sử sách sẽ ghi chép thế nào đây? Cả tôi lẫn nó đều không ai nhắc về “Cô Nhíp” với chiếc xe tăng từ Củ Chi tiến về Sài Gòn cách đây 40 năm, về cái chuyện nó rời bỏ VN và quên đi quá khứ “hào hùng” của nó…”

Cô Nhíp quốc tịch Mỹ lên bìa tạp chí Văn hóa Nghệ An

24/04/2015

Một hình ảnh công dân Việt nam nay là quốc tịch Mỹ : Đó là Cô Nhíp người hùng một khoảnh khắc dẫn xe tăng tiến vào dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975… và ngay sau đó cô cũng đã vứt bỏ đi quá khứ đến với một vương quốc “giãy chết” Nước Mỹ xứ sở của muôn vàn thăng trầm sự kiện 30/4/1975

Nay được tạp chí Văn Hóa Nghệ An lấy hình ảnh “Cô Nhíp” đặt trang trọng trên ảnh bìa số kỷ niệm 30/4 tròn 40 năm ngày giải phóng đất nước

Không biết sự cân nhắc này có làm phiền đến anh Phan Thắng không ?

co_nhip01

Phan Thắng

Cô Nhíp: Có ai còn nhớ?

co_nhip02

Hình ảnh Cô Nhíp 40 năm trước

co_nhip03

co_nhip04
và Cô  Nhíp (công dân Mỹ)  hiện nay định cư tại Nam Cali US

Ngày 29/4/1975, xe tăng của Phe Cách Mạng đã vào đến cửa ngõ Sài Gòn theo hướng Tây Bắc. Trên xe có một cô gái trẻ, xinh đẹp, đầu đội mũ tai bèo, dẫn đường.

Sau này, đạo diên họ khác. Một khoảng đời với cái tên Nhíp trước đây, cô đã tự chôn vùi.

Mùa hè cách đây vài năm, ở thành phố Garden Grove, Nam California, tôi gặp lại Nhíp. Vẫn xinh đẹp như xưa nhưng khi được hỏi về ngày 29/4/1975, Nhíp trả lời: “Tôi đã quên rồi. Quên lâu lắm rồi”.

Một buổi sáng thượng tuần tháng 10 năm ngoái, “Cô Nhíp” đến nhà thăm tôi khi vừa tử Cali về lại VN.
Tôi và nó là đôi bạn thân trước khi nó rời bỏ Sài Gòn để đến nước Mỹ xa xôi và trở thành cư dân ở đó.

Bốn mươi năm “Cô Nhíp” năm xưa đã mất dấu thật rồi. Chỉ còn đây, một người Mỹ gốc Việt.

Chuyện gì đã xảy ra vậy? Sử sách sẽ ghi chép thế nào đây? Cả tôi lẫn nó đều không ai nhắc về “Cô Nhíp” với chiếc xe tăng từ Củ Chi tiến về Sài Gòn cách đây 40 năm, về cái chuyện nó rời bỏ VN và quên đi quá khứ “hào hùng” của nó.

Có nỗi xót xa không thể nói thành lời.

Nguoidongbang’s blog

Nguồn: https://kontumquetoi.com/2015/04/26/chuyen-co-nhip

Bổ sung:

Cô Cao Thị Nhíp quê Tiền Giang, lên Sài Gòn hoạt động cách mạng, tham gia biệt động thành dưới vỏ bọc là người làm công cho gia đình một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Vốn thông thuộc đường sá, cô Nhíp dễ dàng dẫn đường cho xe tăng vào đánh sân bay Tân Sơn Nhất, Năm 1976 Hãng phim Giải Phóng đã dựng phim “Cô Nhíp” do Nguyễn Trí Việt viết kịch bản và Khương Mễ làm đạo diễn, bộ phim được chiếu rộng rãi và giành nhiều giải thưởng điện ảnh lớn.

Năm 1983 cô Nhíp làm ở Công ty Thương nghiệp tổng hợp Quận 5 rồi sang Mỹ, mang quốc tịch Mỹ với tên họ khác, ở thành phố Garden Grove, Nam California.”
(fb Lịch sử Việt Nam qua ảnh)

Về nhân vật “Jean Valjean gọi bằng cụ”

Về nhân vật “Jean Valjean gọi bằng cụ”

7-3-2021

Về nhân vật “Jean Valjean gọi bằng cụ” – Tức ông Tôn Thất Tần trong truyện ký nổi tiếng “Đêm giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên

(Vừa qua, nhà văn Vũ Thư Hiên có đăng trên Facebook của mình bài: “Kể chuyện này lại da diết nhớ Giăng Van-giăng gọi bằng cụ” Tôn Thất Tần nay đã không còn. Tặng Giáng Tiên và Trần Mạnh Hảo: “ĐÔI TẤT NGOẠI”)

Ngay sau bài viết rất hay này của anh Vũ Thư Hiên, Trần Mạnh Hảo đã nhận được rất nhiều điện thoại và tin nhắn gửi tới để hỏi về nhân vật có bí danh là “Jean Vanjean gọi bằng cụ” được nhà văn Vũ Thư Hiên dành hai chương khá dài để viết về người tù lâu nhất Việt Nam có tên là Tôn Thất Tần, nhạc phụ của Trần Mạnh Hảo.

Trong bài viết trên, anh Hiên có kể sơ về việc vợ anh là chị Đặng Kim Ân một lần đến trại tù thăm nuôi anh, đã mang đến cho anh một đôi giày vải để anh chống rét mùa đông. Nhìn bạn tù thân thiết của mình là Tôn Thất Tần, mấy chục năm không hề có gia đình thăm nuôi, áo quần rách nát, không hề có giày dép đi trong mùa đông chỉ cuốn xà cạp ( giẻ rách cuốn vào chân cho ấm), anh Hiên đã biếu cụ Tần đôi giày vải quý hơn vàng.

Cũng theo anh Vũ Thư Hiên kể trong “Đêm giữa ban ngày”, cụ Tôn Thất Tần không dám nhận món quà quý hóa ấy, nhưng anh Hiên cố nài nỉ, cụ mới dám nhận. Cụ bảo: Bà Ân vợ ông phải tiết kiệm mãi, lại rất nghèo, một tay nuôi mấy đứa con, mua được cho ông đôi giày vải này là quý lắm sao tôi dám nhận… Nhưng cuối cùng thì món quà cũng được cụ Tần nhận.

Nhưng cụ Tần chưa dám đi ngay đôi giày vải, đi đâu trong trại tù, hay khi lao động khổ sai, cụ Tần đều đeo đôi giày vải lên vai hay quàng lên cổ vì sợ bị mất cắp. Cụ Tần bảo: Tôi sẽ còn bị tù cho đến chết, lúc già quá, rét quá tôi mới dám xỏ chân vào đôi giày cứu mạng này. Vậy mà sau mấy tháng giữ rịt đôi giày, ngủ cụ cũng ôm giày chặt như ôm con, đi ăn thì cụ đeo giày lên vai, đi lao động thì cụ đeo giày vào cổ. Vậy mà có lần đi tắm suối, cụ để đôi giày cứu mạng tuổi già trên bờ, tên ăn cắp nào nhanh hơn sóc đã lấy mất đôi giày số phận kia. Mất đôi giày, mất món quà tặng tình nghĩa của người bạn tù vong niên Vũ Thư Hiên, cụ như mất hồn mất vía.

Cụ Tôn Thất Tần bị Việt Minh Cộng sản bắt tù từ cuối năm 1945, mãi đến năm 1978 cụ mới được thả ra mà cụ không biết mình mắc tội gì. Họ đã đầy ải cụ từ nhà tù này sang nhà tù khác mà không tuyên án, suốt 33 năm trong tù không hề có ai thăm nuôi (gia đình cụ ở trong Nam đã nhận được tin báo tử cụ từ năm 1947); may nhờ những bạn tù như anh Vũ Thư Hiên, anh Nguyễn Chí Thiện, anh Bùi Ngọc Tấn, anh Tuân Nguyễn…và hàng chục cựu tù nhân trí thức khác thương tình giúp đỡ, chia ngọt xẻ bùi…

Cụ Tôn Thất Tần (1918-2013) là con quan tri huyện Tôn Thất Hoàn, thuộc hệ 3 hoàng phái. Cụ tri huyện Tôn Thất Hoàn, cha cụ Tần năm 1931 đang là tri huyện Nghi Lộc Nghệ An thì nổ ra việc đảng cộng sản Đông Dương phát động nông dân Nghệ Tĩnh nổi dậy, gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931). Năm 1931 hàng nghìn nông dân được cộng sản xách động bao vây huyện đường Nghi Lộc, quan tri huyện Tôn Thất Hoàn mới 33 tuổi chỉ mang theo một người lính lệ ra gặp nông dân để khuyên họ giải tán, quan huyện sẽ thực hiện những điều dân yêu cầu, sợ tầu bay Tây đến ném bom thì khốn. Nhưng với giáo mác liềm búa cầm tay, những nông hội đỏ đã bắt quan tri huyện Tôn Thất Hoàn và anh lính lệ, chặt đầu hai người ngay trước cửa huyện đường…

Cụ Tôn Thất Tần mồ côi cha từ năm 1931, sống với mẹ kế nhưng vẫn được nuôi ăn học đàng hoàng. May mà cụ Tần được bà nội là bà Bùi Thị Biện vợ cũ của nhà cách mạng Trần Xuân Soạn, lấy quan hàm thượng thư Tôn Thất Uyển sinh ra cụ tri huyện Tôn Thất Hoàn, thương và chu cấp cho cháu nội học hành.

Cụ Tôn Thất Tần học cùng lớp trường Quốc Học Huế với ba ông: Huy Cận, Xuân Diệu và Tố Hữu. Sau đó, cụ Tần dạy thể dục thể thao tại trường Quốc học Huế. Là bạn học, nên ông Tố Hữu rủ Tôn Thất Tần theo cộng sản, nhưng cụ Tần không ưng. Cụ cũng không gia nhập đảng Quốc Dân đảng. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền tại Huế, cụ Tần theo Việt Minh vì Việt Minh chống Pháp.

Cụ Tần kể lại, một buổi chiều cụ được xếp lớn Việt Minh giao nhiệm vụ cùng với ba du kích giải thượng thư Phạm Quỳnh, thượng thư Ngô Đình Khôi và con của cụ Ngô Đình Khôi là Ngô Đình Huân ra ngoài rừng xử bắn. Cụ Tần không tuân lệnh bảo: Muốn bắn thì phải mở tòa án công khai, bắn giấm dúi thế này khác gì thủ tiêu người ta…

Hoàng Đạo, trùm công an mật vụ của cộng sản Thừa Thiên Huế lúc đó (Hoàng Đạo từng là bạn của Tôn Thất Tần) theo lệnh Tố Hữu đã bắt Tôn Thất Tần và ngót trăm đảng viên Quốc Dân đảng ở Huế. Những người bị bắt cuối năm 1945 đầu năm 1946 cùng Tôn Thất Tần đều đã bị xử bắn trong rừng, chỉ còn sống sót một mình cụ Tần mà thôi.

Trong chiến dịch thà bắt nhầm còn hơn bỏ sót, cụ Tần bảo với con cái, hàng vạn hàng triệu người đã bị cộng sản bắt oan, bị giết oan, thù hận người ta cũng vô ích, ba tha thứ hết. Thời cái ác lên ngôi, mình còn sống sót sau 33 năm tù đầy về được gặp con cháu là phước đức rồi…

Chính vì vậy, cụ Tôn Thất Tần từ chối lời yêu cầu của người bạn tù thân thiết là nhà văn Vũ Thư Hiên, muốn viết một cuốn sách dày dặn kể lại cuộc đời tù tội của cụ…

Hôm giữa Sài Gòn, nhớ cảnh tôi (TMH) dẫn anh Vũ Thư Hiên về nhà gặp cụ Tần. Hai bạn tù ôm chầm lấy nhau đến 10 phút, không nói gì, nước mắt hai bạn tù chảy ướt vai áo nhau…

Sài Gòn 7-3-2021

Một số hình ảnh từ nhà văn Trần Mạnh Hảo:

Cụ Tôn Thất Tần
Cụ Tôn Thất Tần
Cụ Tần và con gái
Cụ Tần và con rể Trần Mạnh Hảo

____

Ghi chú của nhà văn Vũ Thư Hiên: “Viết thêm về người tù lâu năm Tôn Thất Tần: Ông Tôn Thất Tần kể: ‘Thấy Hồ Chí Minh ký hiệp định Mồng Sáu Tháng Ba (6/3/1946) cho Pháp vào Việt Nam, tôi viết phản kháng định in thành truyền đơn, nhưng không nhà in nào dám nhận, mới đưa cho bạn mình là Hoàng Đạo khi ấy là chủ sự công an Huế. Hoàng Đạo bỏ tôi vào tù’. Hoàng Đạo kể với tôi: ‘Anh Tần là bạn thân của tôi. Tôi buộc phải bắt giam để bảo vệ bạn, tôi sợ để anh ấy ở ngoài thì anh sẽ bị lũ quá khích sẽ thủ tiêu. Sau đó tôi nhận được lệnh hoả tốc ra Thanh Hoá làm trưởng ty Công an, vì vội tôi không kịp bàn giao trường hợp anh Tần cho người kế nhiệm, mới ra nông nỗi’. Tôi ghi lại lời hai người, không thêm bớt“.

Thói ngụy biện của người Việt

Thói ngụy biện của người Việt

Có một thói quen rất nguy hiểm mà người Việt thường xuyên sử dụng trong giao tiếp, đó là ngụy biện. Thói quen này đã lây nhiễm một cách vô hình từ giao tiếp thường nhật, từ tâm lý thắng thua khi tranh cãi, đến tranh luận trên diễn đàn và nhất là trong cộng đồng cư dân mạng…

Ngụy biện hay Fallacy là khái niệm để chỉ những cách lập luận tưởng chừng là đúng, nhưng thực chất lại là sai lầm và phi logic trong tranh luận. Ngụy biện có thể biến một vấn đề từ sai thành đúng, và từ đúng trở thành sai. Ngụy biện có thể dẫn đến những cái nhìn sai lệch và tư duy sai lầm mà chính bản thân người nói cũng không nhận ra được.

Những ai đã có kiến thức về ngụy biện đều hiểu một điều đáng buồn rằng: Người Việt rất hay ngụy biện và tư duy ngụy biện! Chúng ta đều biết hai chữ “ngụy biện”, nhưng liệu chúng ta có thật sự hiểu về nó? Bạn có tin rằng tại Việt Nam, ngụy biện có thể cướp đi mạng sống của con người?

Dưới đây xin được tổng hợp lại 9 câu “ngụy biện” điển hình của người Việt đã được nêu ra tại các nguồn tài liệu trên:

  1. “Nhìn lại mình đi rồi hẵng nói người khác”

Mình làm sai thì là sai rồi, sao lại không nhận sai, không nói thẳng vào vấn đề “mình sai” mà lại quay qua tìm điểm yếu của người khác? Việc này cũng giống như là khi nhận được góp ý: “Viết sai chính tả rồi kìa”, thì thay vì sửa sai, bạn lại bốp chát: “Thế mày chưa viết sai bao giờ à?”

  1. “Có làm được gì cho đất nước đâu mà to mồm”

Người ta có làm được gì hay không thì là điều mình chưa biết, hơn nữa bạn đã “lạc đề” rồi. Vấn đề người ta nêu ra thì bạn không trả lời, không đưa ra luận điểm logic, mà lại đi đường vòng, chuyển qua công kích người khác.

  1. “Nó ăn trộm chó thì cứ đánh cho nó chết”

Lập luận này đã khiến cho những kẻ trộm chó vốn không đáng phải chết bị giết chết bởi chính những người dân tưởng chừng “lương thiện”. “Ăn trộm chó” là sai, nhưng “giết người” cũng là sai, hai sai thì không phải là một đúng, mà là sai lại càng sai.

  1. “Làm được như người ta đi rồi hãy nói”

Lại một hình thức “lạc đề”. Luận điểm mà người ta đưa ra thì bạn không xoay quanh mà bàn luận, lại cứ phải công kích cá nhân người khác thì mới vừa lòng sao?

  1. “Nếu không hài lòng thì cút xéo ra nước ngoài mà sinh sống”

Lời nói này không chỉ đánh lạc hướng vấn đề, mà còn rất bất lịch sự, chuyên dùng để làm người đối diện tức giận, chứ chẳng có một chút logic nào trong đó cả.

  1. “Chỉ có những người chân lấm tay bùn từ nhỏ mới là người cần cù chăm chỉ xây dựng đất nước”

Câu khẩu hiệu này đã từng xuất hiện ở Việt Nam trong quá khứ. Người ta có câu “vơ đũa cả nắm”, ấy chính là để chỉ việc lập luận cảm tính, khái quát cảm tính, mà không hề đưa ra logic hợp lý nào cả. Cũng như vậy, khi phân chia giai cấp và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, thì người ta đã mắc sai lầm ngụy biện, ví như chủ đất không nhất định là xấu, chủ doanh nghiệp cũng không nhất định là xấu, và người làm công ăn lương hay nông dân chắc gì đã là một người tốt cần cù chăm chỉ?

  1. “Nước nào mà chẳng có tham nhũng”

Vì nước nào cũng có tham nhũng nên Việt Nam được phép có tham nhũng hay sao? Vì mọi người đều vượt đèn đỏ nên tất nhiên tôi cũng phải vượt đèn đỏ? Vì xã hội thiếu gì nghiện hút nên trong nhà có người hút chích cũng là bình thường?

  1. “Nếu anh là họ mà anh làm được thì hẵng nói”

Đặt mình vào vị trí người khác là một tiêu chuẩn người xưa dùng để tu sửa bản thân, hướng vào bản thân tìm lỗi, là một nét văn hóa rất độc đáo của phương Đông. Tuy nhiên câu nói đó chỉ sử dụng khi một người tự răn mình, chứ không phải là một câu nói dùng trong tranh luận. Việc sử dụng nó trong tranh luận không chỉ là sự bịt miệng những phê bình của người khác, không giải thích các luận điểm của người khác, mà còn chứng tỏ rằng chúng ta đang phá hoại và lãng quên văn hóa truyền thống của chính mình.

  1. “Tại sao anh dám nói chúng tôi sai? Anh là một tên phản bội dân tộc”

Kiểu lập luận chụp mũ này mặc nhiên coi mình là đúng, họ là sai, và những người đồng quan điểm với họ cũng là sai. Nó không hề đưa ra một thứ logic nào, nhưng lại cắt ngang một cái giới tuyến, và tùy tiện định tội cho người khác.

Tất nhiên đây mới chỉ là những câu ngụy biện cơ bản nhất, thường thấy nhất. “Văn hóa ngụy biện” đã ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, muôn hình vạn trạng, và luôn ẩn giấu trong tư duy của người Việt. Vậy nguyên nhân của thói quen này là từ đâu?

Trong phần nhiều các lỗi ngụy biện thường gặp của người Việt, có một tâm lý cơ bản hiện rõ ra khi tham gia thảo luận, đó chính là tâm lý tranh đấu, hiếu thắng, và không hề tôn trọng người đối diện. Ngoài đó ra, chúng ta cũng hay bị ảnh hưởng của tâm lý đám đông, lợi dụng tâm lý đám đông để che đi trách nhiệm của bản thân mình.

Muốn tránh cách tư duy ngụy biện, chúng ta không những phải sửa lối tư duy vòng vo, thiếu suy nghĩ, mà còn phải sửa chính từ tâm thái của mình khi trao đổi và luận bàn về mọi việc. Điều cơ bản nhất khi tham gia tranh luận là có trách nhiệm trong lời nói của chính mình và biết tôn trọng người đối diện.

  1. Nguyễn Văn Tuấn

(Chia sẻ từ fb Chu Vĩnh Hải)

May be an image of text that says 'Đã làm gì cho đất nước chưa mà to mồm! Anh hùng bàn phím! Hát hay bằng người ta chưa mà nói!'

THẤY GÌ Ở CHÍNH PHỦ MỚI?

 
May be an image of 3 people, suit and text that says 'Mời giặc vào nhà Sợ giặc Ác với dân'

THẤY GÌ Ở CHÍNH PHỦ MỚI?

Đỗ Ngà

Sắp tới chính phủ mới do ông Phạm Minh Chính là thủ tướng. Được biết ông này khi còn làm bí thư tỉnh Quảng Ninh, ông ta là người thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng đặc khu Vân Đồn, trong đó ông ta ủng hộ việc xây dựng đặc khu và cho thuê đất đến 99 năm.

Tiếp theo là nhân vật phó thủ tướng thường trực Phạm Bình Minh. Con người này đã bị chỉ trích là nhu nhược trước Trung Cộng. Được biết ngày 28/9/2019, tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc lần thứ 74, ông bộ trưởng Phạm Bình Minh có bài phát biểu về tình hình biển Đông nhưng lại không dám nhắc tên Trung Cộng. Và nhiều chính sách khác cho thấy, Phạm Bình Minh nhu nhược bảo vệ sự an toàn cho đảng chứ không vì quyền lợi quốc gia mà có hành động thẳng thắn với Bắc Kinh.

Tiếp theo một nhân vật nữa mới vừa được chọn làm phó thủ tướng. Đó là ông Nguyễn Hòa Bình. Ông này đã thể hiện trước toàn dân biết về bản chất qua việc xét xử vụ án Hồ Duy Hải. Đó là ông ta bất chấp tất cả cố tình chà đạp lên luật pháp, chà đạp nên nền tư pháp, loại bỏ công lý.

Lãnh đạo chính phủ có 6 người thì hết 3 người là ủy viên bộ chính trị. Đó chính là 3 người kể trên. Xem kỹ 3 người này thì rõ ràng họ là một người chủ trương mời Tàu vào nhà làm chủ, một người sợ Tàu và một người xem luật pháp như miếng dẻ rách muốn đạp lúc nào đạp, muốn xé lúc nào xé.

Nhìn chính phủ mới chỉ thấy họ càng ngày càng “hèn với giặc” và càng ngày càng “ác với dân” hơn. Đất nước lại càng ngày càng tăm tối thôi.

-Đỗ Ngà-

Phúc thẩm vụ Đồng Tâm: 14 luật sư yêu cầu làm rõ những tình tiết mâu thuẫn trong vụ án

Phúc thẩm vụ Đồng Tâm: 14 luật sư yêu cầu làm rõ những tình tiết mâu thuẫn trong vụ án

Cao Nguyên
2021-03-07

Hình minh hoạ. Phiên sơ thẩm xử 29 người dân Đông Tâm ở Hà Nội hôm 14/9/2020

 AFP

Một tuần lễ trước phiên Toà Phúc thẩm vụ án Đồng Tâm, 14 luật sư bào chữa cho sáu người có kháng án đã gởi Đơn kiến nghị dài 31 trang đến các cơ quan hữu trách yêu cầu làm rõ nhiều điểm sai sót, vi phạm thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới kết quả bản án.

Vụ án đặc biệt nghiêm trọng

Theo nhận định của các luật sư, vụ án “giết người” và “chống người thi hành công vụ” xảy ra ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội vào rạng sáng 9/1/2020 là một vụ án đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ thể hiện ở số lượng người chết trong vụ án này, mà sức ảnh hưởng ghê gớm của nó tác động lên đại bộ phận dân chúng Việt Nam.

Vụ án này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hình ảnh của đất nước, thể chế chính trị Việt Nam đối với bạn bè Quốc tế và sự bang giao với các nước lớn trên thế giới.

Do đó, các luật sư đã nêu ra, phân tích 8 nội dung chính và yêu cầu, kiến nghị HĐXX phúc thẩm đặc biệt lưu tâm làm rõ ở phiên phúc thẩm.

Vụ Đồng Tâm liên quan đến tranh chấp đất đai giữa người dân và chính quyền xảy ra khi chính quyền Hà Nội huy động hàng ngàn công an tấn công vào Đồng Tâm, giết chết một người dân là cụ Lê Đình Kình. 3 công an tham gia vụ tấn công cũng thiệt mạng.

Theo luật sư Hà Huy Sơn, người bào chữa cho hai trong số sáu bị cáo kháng án cho biết cần thiết nhất là phải cho tổ chức thực nghiệm lại hiện trường để xác định nguyên nhân cái chết của ba cán bộ công an. Từ đó mới biết các bị cáo có phạm tội giết người hay không:

Tôi quan tâm nhất việc trả lại hồ sơ để tổ chức thực nghiệm việc ba công an bị chết như thế nào.

Theo như hồ sơ và kết luận điều tra thì vô lý là ba người công an rơi xuống hố mà lại chết cháy hoá than với lượng xăng và mô tả như vậy là bất hợp lý. Tôi cho rằng mấu chốt là ở chỗ này và cần phải được làm rõ.”

Luật sư Đặng Đình Mạnh cho biết tất cả các điểm được liệt kê trong đơn đều cần được làm sáng tỏ để đảm bảo có được bản án công bằng:

Chúng tôi đưa những điều đó đều rất cần thiết. Chúng tôi mong muốn được giải quyết hết cả 8 điểm, không loại trừ một điểm nào cả.”

Nhận định của luật sư về kết quả phiên phúc thẩm

Theo thông báo, phiên toà phúc thẩm sẽ diễn ra từ ngày 8/3/2021. Do còn quá nhiều tình tiết của vụ án còn mơ hồ, mâu thuẫn nên luật sư Mạnh cho rằng kết quả tốt nhất là Toà phúc thẩm huỷ kết quả bản án sơ thẩm, điều tra lại từ đầu:

Điều lý tưởng nhất mà chúng tôi mong muốn là toà phúc thẩm sẽ huỷ bản án sơ thẩm và trả hồ sơ điều tra lại từ đầu, trong đó bổ sung các nội dung mà các luật sư nêu ra.

Tôi cũng không quá hy vọng vào điều đó, nhưng trong phạm vi chúng tôi có thể yêu cầu và tin rằng nó đúng và có cơ sở pháp luật thì chúng tôi phải đẩy sự việc cho đến cùng.”

Ông Hà Huy Sơn nói hai bị cáo do mình bào chữa nên được giảm án. Đặc biệt là ông Bùi Viết Hiểu không phạm tội giết người vì ông này không có mặt tại nơi ba công an tử vong:

Tôi bảo vệ cho ông Bùi Viết Hiểu và Bùi Thị Nối. Tôi hy vọng bị cáo Nối sẽ được trả tự do, hưởng án treo.

Còn đối với bị cáo Hiểu sẽ không bị kết tội giết người. Vì bị cáo không biết sự việc ba công an chết như thế nào. Lúc đấy bị cáo đang ở cùng nhà ông Kình nên không biết diễn biến ở nhà bên cạnh, nơi ba công an bị chết. Nên tôi cho rằng bị cáo Hiểu không liên quan đến tội giết người.”

Tám nội dung chính được yêu cầu điều tra làm rõ

  1. Về diện tích đất quốc phòng: Các luật sư nhận định “Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, rất hiếm khi các bị cáo có cơ hội được trình bày những nội dung liên quan tới nguồn gốc đất Đồng Sênh, nơi xảy ra tranh chấp đất đai, có phải là nguồn gốc đất Quốc phòng hay không.

Điều lý tưởng nhất mà chúng tôi mong muốn là toà phúc thẩm sẽ huỷ bản án sơ thẩm và trả hồ sơ điều tra lại từ đầu, trong đó bổ sung các nội dung mà các luật sư nêu ra. – LS Đặng Đình Mạnh

Do đó cần thiết phải triệu tập một số người có liên quan tới các Kết quả thanh tra của Thanh tra thành phố Hà Nội, Thanh tra Chính phủ, đại diện Bộ Quốc phòng và những người làm chứng khác nguyên là cựu lãnh đạo Đồng Tâm qua các thời kỳ, để làm rõ nội dung liên quan đến nguồn gốc đất đai.”

  1. Về việc chính quyền có tổ chức đối thoại với người dân Đồng Tâm hay không:

Chưa hề có bất kỳ một cuộc đối thoại nào đúng nghĩa đã được tổ chức để người dân bức xúc được dịp bày tỏ thái độ quan điểm và chứng minh những luận điểm được đưa ra của mình là đúng, khiến cho những mâu thuẫn dồn nén kéo dài.

Các luật sư kiến nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm triệu tập những người có liên quan bao gồm ông Nguyễn Đức Chung (nguyên Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội), là người có mặt ở hầu hết ở các sự kiện xảy ra tại Đồng Tâm từ tháng 4/2017 cho đến nay, ông Nguyễn Văn Thanh (Tổng Thanh tra Chính phủ), đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, Lưu Bình Nhưỡng, Đỗ Văn Đương…

  1. Về kế hoạch huy động lực lượng công an để bảo vệ an ninh trật tự trong việc xây dựng tường trạng Miếu Môn

Các luật sư yêu cầu phải công khai bản “Kế hoạch bảo vệ an ninh trật tự ở thôn Hoành” số 419A ngày 2/1/2020 để làm sáng tỏ rằng việc huy động lực lượng Công an thành phố Hà Nội hỗ trợ an ninh trật tự trong việc xây dựng tường rào sân bay Miếu Môn có phải là “bình phong” cho một kế hoạch tấn công, vây bắt người dân trong “Tổ đồng thuận” đã được chuẩn bị kỹ lưỡng hay không.

Kế hoạch 419A có từ khi nào? Được cấp nào phê duyệt? Mục đích chỉ là để bảo vệ trật tự đơn thuần hay là bố ráp bắt giữ ông Kình và những người chống đối? Tại sao lại phải bảo vệ thôn Hoành? Tường rào sân bay Miếu Môn ở một nơi xa tại sao không tập trung ở đó? Hơn nữa để tiến vào khu vực cần xây dựng của sân bay Miếu Môn thì có rất nhiều cung đường khác nhau, không nhất thiết phải đi qua thôn Hoành. Lực lượng công an đã đột nhập và tấn công vào nhà ông Kình vào lúc nửa đêm mà không được sự cho phép và đồng ý là xâm phạm các quy định đã được hiến pháp và pháp luật bảo vệ.

Việc làm rõ kế hoạch này cũng đồng thời chứng minh được vai trò của công an thành phố Hà Nội trong vụ án này, để xác minh rõ rằng cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Hà Nội có thể là “vừa đá bóng vừa thổi còi” khi vừa thực hiện trực tiếp tham gia vào vụ án với vai trò là người có liên quan lại vừa là người đi điều tra xử lý tội phạm trong vụ án này.

  1. Về hoàn cảnh và nguyên nhân dẫn đến cái chết của 3 chiến sĩ công an

Với tình huống này, các luật sư kiến nghị cần phải thực nghiệm lại hiện trường tổng thể, đặc biệt lưu tâm đến nguyên nhân dẫn tới cái chết của ba chiến sĩ rơi xuống hố.

Lời khai của các bị cáo và những người khác cùng tham gia tổ công tác này có mâu thuẫn với nhau. Có một số lời khai có lợi cho các bị cáo nhưng không được đối chứng, khiến cho sự thật về nguyên nhân dẫn tới cái chết của ba chiến sỹ công an vẫn còn là một ẩn số.

Do đó, cần phải triệu tập các chiến sỹ chứng kiến sự việc các đồng đội bị rơi xuống hố để đối chất với các bị cáo tại tòa.

  1. Về vết thương trên người ông Bùi Viết hiểu, Lê Đình Chức, Lê Đình Uy và Bùi Thị Nối

Các bị cáo trên đều mang trong mình những vết thương rất nặng do đạn bắn hoặc bị đánh đập. Thậm chí, theo lời khai của ông Bùi Viết Hiểu thì ông bị bắn hai phát vào ngực và vào chân. Việc ông Hiểu thoát chết là ngoài dự tính. Bà Bùi Thị Nối khai tại phiên toà sơ thẩm rằng bà bị bắn chảy nhiều máu và bị lôi ra ngoài đánh đập tàn nhẫn.

Tuy nhiên, trong cáo trạng cũng như hồ sơ vụ án đã loại bỏ nội dung liên quan đến thương tích của các bị cáo này.

Do vậy, các luật sư kiến nghị “Cần điều tra độc lập, khách quan để làm rõ việc có hay không hành vi dùng vũ khí bắn một cách bừa bãi vào người dân, dù những người này không có vũ khí chống trả, không có khả năng gây nguy hiểm tới lực lượng thi hành công vụ.

Hội đồng xét xử xử cấp phúc thẩm cần triệu tập những người trực tiếp tham gia vào cuộc truy quét sáng ngày 9/1/2020 để làm rõ cá nhân nào đã gây ra các vết thương cho các bị cáo. Đồng thời tạo điều kiện cho các bị cáo bị cáo chứng minh lời khai của mình để làm rõ sự thật. 

  1. Về hành vi và cái chết của ông Kình

Trong phần này, các luật sư chỉ ra nhiều điểm mâu thuẫn, bất hợp lý trong Kết luận điều tra và Cáo trạng về cái chết của cụ Lê Đình Kình vào rạng sáng ngày 9/1 so với thực tế. 

Theo Cáo trạng, ông Kình bị bắn hai phát từ phía sau lưng các chừng 2 đến 2,5m. Nhưng kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy vỏ đạn được bắn từ phía trực diện, từ trước ra sau. Điều này cũng trùng hợp với lời khai của ông Bùi Viết Hiểu tại phiên tòa rằng “ông Kình bị bắn ngay trước mặt ông Hiểu, người bắn đứng trước mặt ông Kình khoảng một mét, nòng súng to như cổ tay nhắm thẳng vào ngực ông Kình, bắn trực diện chứ không phải bắn từ phía sau. Ông Kình ngã xuống chết trước mặt tôi. Sau đó đó là chó nghiệp vụ vào kéo xác  ông Kình lôi đi.”

Hình trái: lưng cụ Kình với nhiều vết bầm tím sau khi bị bắn chết. Hình phải: cảnh sát cơ động được điều đến Đồng Tâm hôm 9/1/2020. AFP

Như vậy cần xác định rõ việc ông Kình có thực sự thực hiện hành vi chống trả lực lượng chức năng hay không và việc bắn chết ông Kình đã đúng quy định của pháp luật hay chưa.

Bản Kiến nghị yêu cầu HĐXX cho triệu tập những người có liên quan đến cái chết của ông Lê Đình Kình tới phiên tòa để làm rõ việc liệu quyết định bắn chết ông là có đúng hay không, có được chỉ đạo trong kế hoạch 419A hay chỉ là phát sinh tại thời điểm đó.

Bên cạnh đó, đề nghị tòa xem xét chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án giết người theo đơn tố cáo và đề nghị khởi tố của bà Dư Thị Thành là vợ của ông Lê Đình Kình. 

  1. Về nguồn gốc về các clip phóng sự ghi lại lời nhận tội của bị cáo

Theo ý kiến các luật sư, trong phần tranh tụng, toà cho trình chiếu những phóng sự do phóng viên làm theo hướng cáo buộc, kết tội cụ Kình mà không cần thông qua xét xử, được dùng làm chứng cứ cáo buộc các bị cáo tại tòa là không không đầy đủ điều kiện cơ bản của chứng cứ.

Việc trình chiếu những clip, hình ảnh, âm thanh được dàn dựng có liên quan tới lời khai của các bị cáo ngay trước khi bắt đầu phiên xét hỏi là một cách để phủ đầu các bị cáo, nhằm làm tê liệt sự phản kháng của họ.

Nếu vẫn giữ những tài liệu này, HĐXX cần triệu tập những người đã thực hiện việc quay, dàn dựng nội dung clip ra để các bị cáo và luật sư của họ hỏi, phân tích, đối chất, làm rõ những nội dung liên quan.

  1. Về một số vi phạm liên quan đến thủ tục tố tụng/xâm phạm hoạt động tư pháp. 

Các luật sư chỉ ra rằng trong suốt quá trình điều tra, khởi tố và xét xử vụ án Đồng Tâm, có nhiều dấu hiệu cho thấy các bị cáo bị đánh đập, ép cung, mớm cung…

Bà Bùi Thị Nối và ông Lê Đình Công đều nói trước toà rằng trong quá trình bị tạm giam, họ bị đánh “10 ngày như một” để ép cung.

Tại phần lời nói cuối cùng trước khi kết thúc phần tranh luận chuyển sang phần nghị án, rất nhiều bị cáo có phần nói cuối cùng giống y đúc như nhau. Thậm chí giống nhau đến từng câu chữ, theo một mô típ chung: “nhận ra lỗi lầm…, ăn năn hối cải…, cảm ơn các thầy trong trại giam số 2 đã giáo dục để nhận ra sai lầm…, xin lỗi gia đình bị hại, xin giảm nhẹ án…”

Do vậy, cần thiết phải triệu tập các điều tra viên tham gia điều tra vụ án để làm rõ các vấn đề được nêu trong kết luận điều tra, cáo trạng và bản án sơ thẩm vì nó có dấu hiệu rõ ràng là không phản ánh khách quan trung thực so với thực tế đã diễn ra.

Các luật sư cũng bị hạn chế quyền hành nghề vì tới tận ngày có lịch xét xử vụ án thì luật sư mới được sao chụp hồ sơ vụ án; Luật sư khi gặp thân chủ tại trại tạm giam thì luôn có mặt giám sát viên, cán bộ trại giam kèm cặp. Việc thăm hỏi, trao đổi luôn bị theo dõi nhắc nhở; Có dấu hiệu bị cáo bị ép từ chối luật sư do gia đình nhờ để nhờ luật sư chỉ định; Trong phiên tòa, HĐXX hạn chế quyền được tiếp cận thân chủ của luật sư vì cho rằng điều đó là không cần thiết.

Ngoài ra, luật sư cũng đề nghị các cơ quan xem xét, tạo điều kiện cho những người thân của các bị cáo được vào phòng xét xử để dự khán. Đề nghị cho các cơ quan thông tấn, báo chí trong và ngoài nước được vào phòng xử án tác nghiệp, đưa tin công khai về vụ án để mở rộng đường dư luận, tránh sự đồn đoán về một bản án “bỏ túi” như một số trang thông tin không chính thống đã lan truyền.

Các luật sư bào chữa xác nhận rằng cho đến ngày 7/3, chưa có một cơ quan nào phản hồi về Đơn kiến nghị này.

Phúc thẩm vụ Đồng Tâm: 14 luật sư yêu cầu làm rõ những tình tiết mâu thuẫn trong vụ án

RFA.ORG
Phúc thẩm vụ Đồng Tâm: 14 luật sư yêu cầu làm rõ những tình tiết mâu thuẫn trong vụ án
Một tuần lễ trước phiên Toà Phúc thẩm vụ án Đồng Tâm, 14 luật sư bào chữa cho sáu người có kháng án đã gởi Đơn kiến nghị dài 31 trang đến các cơ quan hữu trách yêu cầu làm rõ nhiều điểm sai sót, vi phạm thủ tục tố tụng làm …..

HÃY CHO ĐI, BẠN SẼ NHẬN LẠI NHIỀU HƠN…

GÓC SUY GẪM…

Văn hóa, phong tục, tập qúan ông bà để lại nó đã thấm vào bao thế hệ, mà chúng ta hay gọi là Hồn Việt. Giờ đây đã bị chế độ vô thần, vô luân chà đạp tàn phá đến mọi hang cùng ngõ hẻm quêhương!!!

“Cuộc sống lẽ ra phải cần mọi người gắn bó với nhau.”

***

HÃY CHO ĐI, BẠN SẼ NHẬN LẠI NHIỀU HƠN…

Mười năm sau ngày ba tôi mất, cuối cùng thì mẹ cũng chấp thuận đến ở với chúng tôi sau rất nhiều lần thuyết phục. Lúc đó tôi đã 40 còn mẹ tôi thì 70 tuổi.

Gia đình tôi có 4 anh chị em, ba con gái và một con trai; tôi là con út.

Vào ngày bà chuyển đến, bà khăng khăng đòi mang theo hai túi bột mới xay. Hóa ra bà đã giấu 20 triệu trong các túi bột đó; bà đã tiết kiệm số tiền đó để mua một cái xe cho con trai tôi. Sao bà có thể tiết kiệm được số tiền lớn như vậy mà tôi hoàn toàn không biết gì.

Sau khi chuyển đến, bà lo toan tất cả mọi việc nhà, bao gồm cả việc nấu ăn. Tôi không cần ra ngoài mua đồ ăn nữa; với sự giúp sức của bà, chúng tôi đã có không khí gia đình thoải mái và ấm cúng.

Hai tuần sau ngày bà đến, bà muốn chồng tôi mời bạn cùng lớp, đồng nghiệp và bạn bè tới nhà dự một bữa tiệc gia đình. Vào thời điểm đó, mọi người thường tụ tập ở nhà hàng thay vì ở nhà do cuộc sống quá bận rộn. Chồng tôi đã chiều lòng bà, dù bà đã phải dành suốt hai ngày trời để chuẩn bị đồ ăn nhẹ, bánh ngọt, và các đồ ăn khác cho buổi tiệc.

Mọi người đều thích các món ăn bà nấu, nhiều người trong số họ đã không được thưởng thức đồ ăn ngon như vậy từ rất lâu rồi. Mẹ lại mời tất cả mọi người một bữa khác. Bữa tiệc thật tuyệt vời; chúng tôi đã nói chuyện rất nhiều, và chỉ uống một chút. Chúng tôi có cơ hội để nói về nhiều chủ đề mà thường không được nói đến ở nơi công cộng hoặc ở nhà hàng.

Nhà chúng tôi đã trở thành một điểm hẹn thường xuyên cho mọi người sau đó. Mẹ tôi thật sự thích thú, bà nói: “Cuộc sống lẽ ra phải như thế này; mọi người cần gắn bó với nhau.”

Một hôm tôi ra mở cửa sau tiếng gõ. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy trước cửa là người hàng xóm nhà đối diện với một một đĩa anh đào tươi rói trên tay. Chúng tôi đã có một cuộc cãi vã vài năm trước và không nói chuyện với nhau từ đó.

Cô nói: “Tôi mua một vài thứ cho mẹ cô và hy vọng bà thích chúng.” Tôi cảm thấy hơi lạ, và cô ấy đỏ mặt và nói tiếp: “Lũ trẻ nhà tôi thích những thứ mà mẹ cô làm.”

Tôi đã nhận ra rằng những việc nhỏ của mẹ tôi đã giúp chúng tôi xây dựng mối quan hệ thân thiện với hàng xóm. Sau đó chúng tôi đã làm bạn trở lại và bọn trẻ nhà cô ấy từ đó qua lại nhà chúng tôi thường xuyên hơn và coi mẹ tôi như bà ngoại của chúng vậy.

Mẹ tôi không chỉ quan tâm tới người hàng xóm đối diện bên kia đường, bà cũng quan tâm đến những người khác trong khu. Bà làm bạn với bố mẹ của những người bạn của chồng tôi, và trông nom những đứa cháu nhỏ của họ.

Khi mẹ tôi biết con trai đồng nghiệp của chồng tôi có bệnh u lympho, bà đã đề nghị chúng tôi giúp họ một khoản tiền. Dù họ không mấy thân thiết với chồng tôi, nhưng mẹ tôi rất cương quyết về việc này. Bà nói: “Khi người khác đang gặp lúc khó khăn, chúng ta cần phải làm tất cả những gì có thể để giúp đỡ. Chúng ta phải biết cho trước khi có thể nhận được.”

Sau khi bà chuyển đến được sáu tháng, chồng tôi được thăng cấp thông qua khuyến nghị từ các đồng nghiệp – bằng phiếu bầu phổ thông. Chồng tôi nói: “Mẹ đã bỏ những lá phiếu đó cho anh.” Sau đó chúng tôi đã nhận ra rằng chúng tôi đã thực sự có các mối quan hệ ấm áp hơn nhiều với những người quanh. Mẹ tôi, một người phụ nữ không biết chữ từ một ngôi làng ở nông thôn, lặng lẽ thu phục trái tim của mọi người mà chúng tôi có nằm mơ cũng chẳng thể có, bởi vì bà luôn sẵn lòng cho đi.

Tôi nhớ bà từng nói: Con phải đối xử tốt với mọi người trước khi muốn họ đối xử tốt với mình. Một lý lẽ đơn giản, nhưng nó thật khó để thực hành.

Mẹ tôi bị say xe, vì vậy bà không thể đi bằng xe hơi. Một ngày cuối tuần, tôi quyết định làm cho dành cho bà một niềm vui là đưa bà đến sở thú, vì bà chưa bao giờ thấy một con voi.

Bà muốn đi bộ, nhưng tôi nghĩ rằng quá xa để đi bộ ở tuổi của bà. Cuối cùng bà chấp thuận để tôi chở bà bằng xe đạp. Tôi đạp xe qua một ngã tư và chúng tôi đã bị chặn lại bởi một cảnh sát trẻ.

Anh ta sắp ghi cho tôi một phiếu phạt vì vi phạm luật giao thông.

Thấy vậy mẹ tôi đã không muốn tiếp tục đi bằng xe đạp nữa. Tôi xin lỗi viên cảnh sát và giải thích rằng mẹ tôi không thể đi xe hơi.

Viên cảnh sát chợt nhận ra rằng pháp luật chỉ cấm trẻ em khi đi xe đạp như thế này, mà không áp dụng đối với người già. Anh ta liền chào chúng tôi, ra hiệu tất cả những chiếc xe phải dừng lại để xe của tôi qua đường. Oa, tôi đã rất xúc động – Tôi chưa bao giờ nhận được sự tôn trọng nhiều như thế này trong đời. Một chút quan tâm chăm sóc cho mẹ làm tôi có được rất nhiều niềm vui!

Sống chung với chúng tôi được ba năm, mẹ tôi được chẩn đoán bị ung thư phổi. Một người bạn bác sĩ của chúng tôi cho rằng ở tuổi của mẹ tôi thì không nên phẫu thuật, và nên để căn bệnh diễn tiến tự nhiên. Chồng tôi và tôi đã thảo luận về điều này và đồng ý rằng đó là lựa chọn tốt nhất cho bà. Chúng tôi đưa bà về nhà, và nói với bà sự thật. Bà bình thản chấp nhận, và nói: “Đó là điều đúng đắn phải làm.”

Tôi đã về quê ở với mẹ tôi những tháng ngày cuối cùng của bà. Tôi đưa mẹ ra ngoài trời để hít thở không khí trong lành mỗi khi mặt trời lên. Bà luôn mỉm cười mỗi khi bà tỉnh táo. Tôi để bà dùng thuốc chỉ đủ để kiểm soát cơn đau.

Một ngày, bà nói với tôi rằng cha tôi đang mong chờ bà. Tôi nắm chặt lấy bàn tay gầy gò của bà và nói thật khó để chấp nhận cho bà rời xa tôi. Nhưng mẹ tôi mỉm cười và nói: “Hãy để cho mẹ đi”!

Khi bà rút bàn tay khỏi tay tôi, trái tim tôi tan vỡ!

Vào ngày tang lễ của mẹ tôi, đã có một đám rước lớn – bao gồm tất cả mọi người trong làng, bạn bè của chúng tôi và hàng xóm trong khu tôi ở.

Đám rước chầm chậm ra khỏi làng, và nhiều người qua đường thắc mắc đây phải chăng là một đám tang của một quan chức cao cấp hay cha mẹ của một quan chức nào đó.

Không, mẹ tôi chưa từng được đến trường cũng chẳng hề có chức tước. Bà chỉ là một người nông dân giản dị với một tấm lòng rộng mở…

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI

 MẠNH KIM

 Không còn nhớ ai là người đầu tiên dịch “Gone with the wind” thành “Cuốn theo chiều gió” nhưng vị nào dịch câu này hẳn nhiên là bậc thượng thừa về ngôn ngữ nói chung và rất giỏi tiếng Việt nói riêng. Ông Huỳnh Phan Anh cũng khắc tên mình vào bảng mạ vàng khi dịch “For whom the bell tolls” thành “Chuông gọi hồn ai”. Cụ Bùi Giáng cũng thuộc vào nhóm người “giáng thế” khi dịch “Terre des Hommes” (Vùng đất của người) thành “Cõi người ta”.

 Cụ Phạm Duy là một bậc tài hoa xuất chúng nữa với các tác phẩm chuyển ngữ lời Việt. Ca khúc “The house of the rising sun” đã được cụ chuyển thành “Chiều vàng dưới mái nhà tranh”. So sánh từng câu từng từ trong các ca khúc chuyển ngữ của thiên tài Phạm Duy, không thể nói gì hơn ngoài sự kính phục tột bậc. Trong Love Story, ca khúc rất phổ biến Sài Gòn thập niên 1970 mà cụ Phạm chuyển ngữ, có những từ được diễn đạt mà chỉ những bậc thượng thừa tiếng Việt mới thể hiện nổi, chẳng hạn “this empty world” thành “cuộc đời vắng ngắt”; hoặc “wild imaginings” thành “mộng huyền mênh mang”…

 Có một điểm chung giữa những bậc kỳ tài Phạm Duy, Bùi Giáng hoặc vô số văn sĩ, nhạc sĩ cùng thời với họ, là: “Tôi yêu tiếng nước tôi!”. Chỉ những người thật sự yêu quý tiếng nói của dân tộc mình mới biết cách làm đẹp ngôn ngữ. Họ nhảy múa với ngôn ngữ. Họ thăng hoa với ngôn ngữ. Họ bay bổng với ngôn ngữ. Sự cuồng nhiệt trong tình yêu ngôn ngữ của họ đã tạo ra một nền văn hóa trong đó tiếng Việt vượt qua cả khái niệm ngôn ngữ như là ký hiệu giao tiếp thuần túy mà vươn lên đến chóp đỉnh của một thứ trừu tượng hơn: linh hồn dân tộc. “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Tình yêu của họ với tiếng Việt đã làm đẹp tiếng mẹ đẻ, làm sang trọng tiếng mẹ đẻ, và cuối cùng làm nên một nền văn hóa đẹp đẽ.

 Chỉ những giai đoạn tiếng Việt bay bổng thì nền văn hóa mới thăng hoa, hay là ngược lại, thật khó có thể nói chính xác. Nhưng, có thể đoan chắc rằng một nền văn hóa xuống cấp luôn đi đôi với việc ngôn ngữ và cách dùng ngôn ngữ xuống cấp. Nó bị dùng sai là một chuyện. Nó bị xem thường mới là điều đáng nói. Khi tiếng Việt không còn được tôn trọng, văn hóa và xã hội sẽ không còn được tôn trọng. Con người cũng không còn được tôn trọng. “Tiếng Việt còn, nước ta còn”. Nhưng tiếng Việt bầy hầy, như đang thấy trên báo chí hàng ngày, trong các ca khúc được hàng triệu người nghe, thì “nước ta” còn gì?

 Đừng trông chờ ở những khẩu hiệu “giữ gìn tiếng Việt” hay “làm trong sáng tiếng Việt” hô hào chiếu lệ trong nền giáo dục hiện tại. Tiếng Việt đang bị hỏng không chỉ bởi các MC tung hứng bừa bãi với những câu chữ làm màu “cho sang”, như “điểm trang” thay vì phải nói cho đúng là “trang điểm”; không chỉ bởi các phát ngôn viên truyền hình học nhau cách nói rập khuôn, hay các nhà báo viết bài không bao giờ xem lại lỗi chính tả; không chỉ bởi những cách dùng sai như “cặp đôi” hay “fan hâm mộ”; không chỉ bởi các từ ghép Hán-Việt vô nguyên tắc như “phượt thủ”… Nguồn gốc khiến tiếng Việt hư chính là từ giáo dục. Không ngôn ngữ nào có thể bay bổng trong một mô hình giáo dục giáo điều. Chẳng ai có thể sửa lại tiếng Việt với đà tuột dốc của nền giáo dục hiện nay. Muốn “làm trong sáng tiếng Việt”, hệ thống giáo dục phải tự làm trong sáng mình. Điều này sẽ chẳng bao giờ có, không bao giờ thành hiện thực, khi mà giáo dục đang nằm dưới bàn chân của những “chủ trương” và “đường lối”. Đừng mong chờ những thay đổi trong giáo dục. Sẽ chẳng có thay đổi tích cực gì cả. Tiếng Việt sẽ tiếp tục bị hành hạ và văn hóa sẽ tiếp tục bị tra tấn.

 Dường như không ai có thể cứu tiếng Việt nhưng tiếng Việt có thể được cứu nếu mỗi người trong chúng ta cùng quay lại với con đường “tôi yêu tiếng nước tôi”. Tìm kiếm và đọc lại những quyển sách của một thời làm nên sự kỳ vĩ một nền văn hóa, như một cách thức tự giải độc khỏi những luồng khí đen đang bủa quanh, có thể được xem là một cách thức. Nhiều giá trị hiện bị mất đi đang nằm trong những quyển sách đó. Văn hóa sẽ đi lạc vĩnh viễn nếu chẳng có ai tìm. Con đường đi tìm văn hóa đã mất có thể sẽ giúp tìm lại ánh hào quang của tiếng Việt, và cuối cùng, dẫn đến việc nhìn lại sự cần thiết phải tôn trọng tiếng Việt.

 Không người dân nào có thể thay đổi được hệ thống giáo dục hiện tại. Họ không có quyền hạn để làm điều đó. Tuy nhiên không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa để dung nạp một nền văn hóa khác với “hệ văn hóa” nhồi sọ và tuyên truyền. Cũng không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa đọc gì bên ngoài phạm vi những bài văn mẫu hay nên đọc gì trên những trang mạng xã hội. Đó là sự chọn lựa cần thiết, và cấp bách, để “tôi yêu tiếng nước tôi” có thể còn tồn tại và còn có cơ may truyền lại cho hậu sinh.

 MẠNH KIM

Dấu Chân | Gia Ân

httpv://www.youtube.com/watch?v=HFz5wNcRAtQ

Dấu Chân | Gia Ân

DẤU CHÂN -Thơ: Footprints in the Sand

-Nhạc: Thông Vi Vu (Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống)

-Ca sĩ: Gia Ân

VOA – Vì sao quyền lực mềm của Mỹ suy giảm

  ĐỐI DIỆN VỚI SỰ THẬT: KỂ TỪ 2017 VỚI CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUMP – AMERICA FIRST – CŨNG LÀ CỘT MỐC QUYỀN LỰC MỀM CỦA MỸ TUỘT DỐC KHÔNG PHANH!

VOA – Vì sao quyền lực mềm của Mỹ suy giảm

Những người ủng hộ Tổng thống Trump tấn công Điện Capitol trong vụ bạo loạn tại trụ sở Quốc hội Mỹ ở Washington DC hôm 6/1. Chiến dịch bầu cử đầy sóng gió được cho là một trong những nguyên nhân khiến Mỹ đã mất đi vị trí siêu cường có quyền lực mềm số 1 thế giới.

Mỹ đã mất vị trí là siêu cường có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới trong năm qua và cũng là nước tụt hạng nhanh nhất trên bảng Chỉ số Quyền lực mềm Toàn cầu mới được công bố

Chỉ số Quyền lực mềm Toàn cầu 2021 cho thấy tầm ảnh hưởng của Mỹ sụt giảm nhanh nhất trên toàn thế giới sau một năm được coi là “hỗn loạn trên diện rộng”, từ khủng hoảng dịch bệnh cho tới chính trị.

Giữa một chiến dịch bầu cử đầy sóng gió và sự ứng phó thiếu nhất quán đối với COVID-19, Mỹ đã mất vị trí dẫn đầu về quyền lực mềm trên toàn cầu, rơi xuống vị trí thứ 6 và nhường vị trí số 1 cho Đức. Với điểm số tổng thể là 55,9 trên 100, giảm 11,2 điểm so với năm ngoái, Mỹ có sự sụt giảm nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên bảng xếp hạng trong nghiên cứu được coi là bao quát nhất thế giới về giá trị thương hiệu quốc gia.

Sự lãnh đạo của Trump

Với việc cựu Tổng thống Donald Trump do dự thừa nhận quy mô và mức độ nghiêm trọng của đại dịch và bị chỉ trích ở trong lẫn ngoài nước, Mỹ xếp cuối bảng chỉ số COVID-19 trong số tất cả 105 quốc gia được đánh giá trong nghiên cứu này.

Theo nhận định của David Haigh, chủ tịch và CEO của Brand Finance – công ty tư vấn định giá thương hiệu hàng đầu thế giới, sự hoành hành của virus corona trên khắp nước Mỹ cộng với việc Tổng thống Trump “chỉ trích các nhà chuyên môn y tế và đưa ra các biện pháp điều trị liều lĩnh tại nhà rất có thể là thủ phạm khiến vị thế hình mẫu lâu nay của Mỹ trên toàn thế giới suy giảm, tại thời điểm mà sự lãnh đạo toàn cầu hợp lý được cho là cần thiết nhất”.

Sự sụp đổ quyền lực mềm của Mỹ bắt đầu từ năm 2017, ngay sau khi ông Trump trở thành tổng thống.

GS Joseph Nye, Đại học Harvard

Được công bố tại hội nghị Thượng đỉnh Quyền lực mềm Toàn cầu 2021 trực tuyến từ London, Anh, do Brand Finance tổ chức hôm 25/2 với sự tham dự của cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, Chỉ số Quyền lực mềm Toàn cầu 2021 là nghiên cứu toàn diện nhất với 75.000 người từ trên 100 quốc gia tham gia khảo sát.

Giáo sư của Đại học Harvard, Joseph Nye, người đầu tiên đưa ra khái niệm ‘quyền lực mềm’ vào cuối thập kỷ 1980 và có mặt tại thượng đỉnh hôm 25/2, nhận định rằng sự sụp đổ quyền lực mềm của Mỹ bắt đầu từ năm 2017, ngay sau khi ông Trump trở thành tổng thống.

“Quan điểm hạn hẹp của ông Trump đối với các đồng minh quốc tế, việc rút khỏi các thoả thuận toàn cầu như Hiệp định Khí hậu Paris và thiếu sự hỗ trợ cho WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) đã gây tổn hại đến quyền lực mềm của Mỹ trước khi COVID-19 bùng phát”, GS Nye nói.

Theo một khảo sát của Viện Nghiên cứu Pew, có trụ sở ở thủ đô Washington của Mỹ, đưa ra vào năm ngoái, chỉ có 29% những người tham gia trả lời từ 33 quốc gia trên thế giới tin vào ông Trump – thấp ngang với mức mức tin tưởng của quốc tế mà Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhận được. Thăm dò của Gallup tiến hành ở 134 quốc gia vào năm 2019 cũng cho thấy chỉ có khoảng 30% những người được hỏi có quan điểm tích cực về Mỹ dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Trump.

Được định nghĩa là khả năng ảnh hưởng tới sự lựa chọn và hành vi của các quốc gia khác trên thế giới, quyền lực mềm mà một nước nào đó có được là bằng sự thu hút hoặc thuyết phục chứ không phải vì ép buộc.

Các giá trị cởi mở của xã hội dân chủ Mỹ là những nguồn đóng góp lớn nhất cho quyền lực mềm của Mỹ, theo GS Nye. Ông còn cho rằng quyền lực mềm của Mỹ “bắt rễ sâu xa hơn cả nền chính trị và các chính sách” và không chỉ đến từ sức mạnh quân sự và kinh tế. Theo nhà khoa học chính trị của Đại học Harvard, những bộ phim Hollywood trong đó tôn vinh những phụ nữ độc lập hay những người yếu thế dám đứng lên tranh đấu đã cuốn hút những khán giả từ bên ngoài nước Mỹ. Hơn nữa các công ty, các trường học, các tổ chức, nhà thờ và những phong trào biểu tình tại Mỹ cũng đã đóng góp vào quyền lực mềm của Hoa Kỳ, theo GS Nye.

“Ông Trump là tổng thống đầu tiên không đặt nặng vào các giá trị”, GS Nye nhận định. “Khi Mỹ coi trọng các giá trị sẽ khiến quốc gia này trở nên hấp dẫn hơn đối với xã hội và do đó quyền lực mềm (mà Mỹ có được) đã trở nên vô song”.

‘Nước Mỹ trở lại’

Câu hỏi được đặt ra là liệu nước Mỹ có thể phục hồi được quyền lực mềm của mình hay không và theo GS Nye, câu trả lời là “có thể”.

“Trước đây chúng ta đã làm được điều đó”, giáo sư của Đại học Harvard nói và cho biết rằng vào những năm 1960, các thành phố của Hoa Kỳ chìm trong những ‘ngọn lửa’ của biểu tình sắc tộc trong khi nhiều cuộc biểu tình trên thế giới cũng nổ ra để phản đối cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam. Nhưng theo ông, một loạt các cải cách và những chính sách nhân quyền được Quốc hội Mỹ thông qua trong những thập niên tiếp theo “đã chứng minh sự phục hồi” của quyền lực Mỹ.

Mỹ sẽ phải nỗ lực hơn rất nhiều để khôi phục danh tiếng của mình trong bốn năm tới.

David Miliband, Chủ tịch và CEO của IRC

Nhiều người cho rằng nước Mỹ đã mất đi hình ảnh vốn có của một nền dân chủ thượng tôn pháp luật trong cuộc bầu cử mà vị tổng thống đương nhiệm khi đó, ông Trump, cáo buộc mà không có bằng chứng về sự gian lận trong kiểm phiếu, điều mà chúng ta thường thấy ở các cuộc bầu cử của các nước dưới chế độ độc tài và không có dân chủ. Tuy nhiên, theo GS Nye, quyền lực mềm của Mỹ lại được củng cố bởi thực tế rằng nền dân chủ Mỹ đã tiến hành một cuộc bầu cử trung thực nhất ở 50 tiểu bang với một lượng cử tri tham gia bỏ phiếu kỷ lục giữa cơn đại dịch tồi tệ nhất trong một thế kỷ.

“Nếu Mỹ tiếp tục đạt được tiến bộ về vaccine và có thể kiểm soát được đại dịch, cùng với sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ, thì triển vọng của chúng ta sẽ tốt”, GS Nye nói. “Vì vậy, nếu dự báo về Chỉ số Quyền lực mềm Toàn cầu sẽ như thế nào trong năm tới, tôi tin rằng Mỹ sẽ quay trở lại xu hướng tăng lên”.

Tuy nhiên người đứng đầu uỷ ban hỗ trợ nhân đạo toàn cầu IRC có trụ sở ở New York, David Miliband, cảnh báo về những thách thức phía trước và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự chính trực và đoàn kết nội bộ đối với quyền lực mềm.

“Ngày nay có nhiều trung tâm quyền lực hơn bao giờ hết và sự cạnh tranh tăng cao về quyền lực mềm này đồng nghĩa với việc tái tạo các thành quả trong quá khứ sẽ khó khăn hơn nhiều”, Chủ tịch và CEO của IRC nhận định tại thượng đỉnh hôm 25/2.

Theo ông Miliband, nếu một quốc gia bị chia rẽ thì việc thu hút các nước khác sẽ trở nên khó khăn hơn, và kết quả là quyền lực mềm sẽ bị ảnh hưởng.

“Về điều này, tôi nghĩ Mỹ sẽ phải nỗ lực hơn rất nhiều để khôi phục danh tiếng của mình trong bốn năm tới,” ông Miliband nói.

Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2020 giữa Tổng thống đương nhiệm Trump và cựu Phó Tổng thống Biden, khi còn tranh cử, được coi là gây chia rẽ nhất trong lịch sử nước Mỹ. Trước những cáo buộc vô căn cứ của ông Trump về “cuộc bầu cử đã bị đánh cắp” mà ông nói mình mới là “người chiến thắng”, những người ủng hộ vị tổng thống, người thường đưa ra những phát biểu gây chia rẽ, đã tiến hành nhiều cuộc biểu tình phản đối kết quả bầu cử, với đỉnh điểm là cuộc tấn công vào Điện Capitol, trụ sở Quốc hội Mỹ nơi Thượng viện tiến hành phê chuẩn kết quả chiến thắng của ông Biden.

Nhưng sau tất cả những sóng gió đó, “nền dân chủ đã chiến thắng”, như lời Tổng thống Biden nói trong bài phát biểu tại lễ nhậm chức ở thủ đô Washington hôm 20/1. “Nước Mỹ đã trở lại”, ông tuyên bố.