VƯỜN CÂY DẦU

VƯỜN CÂY DẦU

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Cách đây vài năm, diễn viên Mel Gibson đạo diễn và sản xuất một bộ phim được công chúng đặc biệt hưởng ứng.  Với tựa đề, Cuộc Thương khó của Chúa Kitô, bộ phim khắc họa lại cuộc vượt qua của Chúa Giêsu, từ vườn Cây Dầu cho đến cái chết trên Núi Sọ, tác giả nhấn mạnh đến các đau đớn thể xác của Ngài.  Bộ phim thể hiện sống động từng chi tiết các đau đớn mà một người bị đóng đinh thập giá phải chịu, khi bị đánh, bị tra tấn, và bị sỉ nhục.

      Trong khi hầu hết các phái trong Giáo hội tán thưởng bộ phim, cho rằng cuối cùng thì cũng có người làm một bộ phim khắc họa thật về những đau đớn của Chúa Giêsu, thì nhiều học giả Kinh thánh và nhiều ngòi bút thiêng liêng khác lại lên tiếng chỉ trích.  Tại sao lại thế?  Có gì sai khi chiếu một bộ phim dài với chi tiết sống động, những máu me của việc đóng đinh thập giá, vốn thực sự rất hãi hùng? 

     Có gì sai (hay nhẹ hơn là không hợp) khi đây chính là những gì mà Kinh thánh đã không ghi lại về cái chết của Chúa Giêsu.  Tất cả bốn Tin mừng đều cố gắng không tập trung vào đau đớn thể xác của Chúa Giêsu.  Các mô tả trong Tin Mừng về những đau đớn thể xác của Ngài đều hết sức ngắn gọn: “Họ treo ngài giữa hai phạm nhân.”  Philatô cho “đánh đòn Đức Giêsu rồi giao ngài cho người ta đem đi đóng đinh.”  Tại sao lại rút gọn như thế?  Tại sao không mô tả chi tiết?

     Lý do mà các tác giả tin mừng không tập trung vào những đau đớn thể xác của Chúa Giêsu là họ muốn chúng ta tập trung vào một điều khác, cụ thể là những đau đớn trong cảm xúc và tinh thần của Ngài. Cuộc thương khó của Chúa Giêsu, xét theo chiều sâu thực sự, là một tấn kịch tinh thần, chứ không phải tấn kịch thể lý, là đau khổ của một người đang yêu, chứ không phải đau đớn của một vận động viên.

    Do đó, chúng ta thấy khi Chúa Giêsu tiên liệu cuộc khổ nạn của mình, những gì Ngài lo lắng không phải là đòn roi hay mũi đinh đóng vào tay mình.  Mà Ngài đau đớn và lo lắng cho sự cô độc mình sẽ phải đối diện, cho kết cuộc bị những người đã nói yêu mến Ngài phản bội và bỏ rơi, và cho tình cảnh, theo cách diễn đạt của Gil Bailie là, “bị tất cả loại bỏ.”

    Như thế cuộc thương khó của Chúa Giêsu rõ ràng là một tấn kịch tình yêu.  Nó bắt đầu với mồ hôi máu đổ ra trong vườn Cây Dầu, và kết thúc với việc mai táng Ngài trong vườn.  Chúa Giêsu đang đổ mồ hôi máu trong vườn, chứ không phải trên đấu trường.  Vậy, việc ở trong vườn, có gì đặc biệt?

     Về mặt tượng hình, vườn không phải là nơi trồng rau và dĩ nhiên cũng không phải là nơi trồng hoa.  Vườn là nơi của những người yêu nhau, là nơi cảm nhận hạnh phúc, nơi uống rượu, nơi Adong và Evà đã trần truồng mà chẳng biết, nơi người ta yêu nhau.

    Và các tác giả Phúc Âm đặt khởi đầu và kết thúc cuộc thương khó của Chúa Giêsu trong vườn để nhấn mạnh rằng, Chúa Giêsu, một người đang yêu (chứ không phải Chúa Giêsu Vua, Pháp sư, hay Ngôn sứ), đang trải qua tấn kịch này.  Và chính xác tấn kịch này là gì?  Khi Chúa Giêsu đổ mồ hôi máu trong vườn và van xin Chúa Cha đừng bắt Ngài “uống chén này,”thì lựa chọn thực sự của Ngài không phải là: Ta sẽ để mình phải chết hay sẽ dùng đến sức mạnh thần thiêng để cứu mạng mình?  Nhưng đúng hơn, lựa chọn của Ngài là: “Ta sẽ chết cách nào?  Ta sẽ chết trong giận dữ, cay đắng, và không tha thứ, hay Ta sẽ chết với một tấm lòng nồng ấm thứ tha?”

    Tất nhiên, chúng ta biết Chúa Giêsu đã đi qua tấn kịch này như thế nào, Ngài đã chọn lấy lòng bao dung và tha thứ cho những người hành hình mình, và trong toàn bộ những u ám đó, Ngài vẫn giữ vững những gì Ngài đã giảng dạy trong suốt đời rao giảng, chính là tình yêu, tình thương, và tha thứ sẽ tuyệt đối chiến thắng.

     Hơn nữa, những gì Chúa Giêsu đã làm trong tấn kịch tâm hồn này là những gì chúng ta phải noi theo hơn là đơn thuần ngưỡng mộ, vì tấn kịch này cũng hoàn toàn là tấn kịch tình thương trong đời chúng ta với vô vàn cách thể hiện khác nhau.  Cụ thể là:

 Đến cuối đời, chúng ta sẽ chết thế nào đây?  Lòng chúng ta sẽ giận dữ, bám víu, bất dung, và cay đắng vì sự bất công của cuộc đời?  Hay, lòng chúng ta sẽ khoan dung, biết ơn, cảm thông, nồng ấm, như tấm lòng Chúa Giêsu khi Ngài thưa với Chúa Cha là xin theo ý Cha đừng theo ý Con?

    Hơn nữa, đây không phải là chọn lựa cốt yếu và duy nhất mà chúng ta phải đối diện trong giờ chết, nhưng là chọn lựa chúng ta phải đối diện hằng ngày, nhiều lần mỗi ngày.  Biết bao lần khi va chạm hàng ngày với người khác, với gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, và cả xã hội nói chung, chúng ta đã phải chịu những lạnh lùng, hiểu lầm, bất công, và cả bạo hành chủ ý nữa.  Từ sự lãnh đạm của một thành viên trong gia đình trước lòng tốt của chúng ta, cho đến một lời bình luận ác ý chủ tâm làm tổn thương chúng ta, đến một sự bất công hết sức ở nơi làm việc, đến việc bị thành kiến và xúc phạm, và bàn ăn, nơi làm việc, phòng họp, và cả trên đường, tất cả đều là những nơi chúng ta cảm nghiệm hàng ngày, ít hay nhiều, những gì Chúa Giêsu đã trải qua trong vườn Cây Dầu, cảm giác, bị tất cả loại trừ.  Trong bóng đêm đó chúng ta có đi theo ánh sáng của mình?  Đối diện với những thù ghét đó, chúng ta có theo tiếng gọi của tình yêu hay không?

 Đó đích thực là tấn kịch trong Cuộc Thương khó của Chúa Kitô, và ở đó những đòn roi, đinh nhọn không phải là tâm điểm.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

 

Việt Nam đang sử dụng công nghệ mới để theo dõi, quấy rối công dân

 

 Báo cáo về tình hình thực hiện nhân quyền quốc gia lần thứ 45 của Bộ Ngoại giao Mỹ nêu rõ Chính phủ Việt Nam đang áp dụng một loại các biện pháp hạn chế quyền tự do internet. Các biện pháp đó gồm kiểm duyệt nội dung trực tuyến, ngăn chặn các website trong nước và nước ngoài bị cho không phù hợp; hạn chế và làm gián đoạn quyền truy cập vào internet, bắt giữ và áp đặt các bản án hình sự đối với những người đăng tải những thông tin chỉ trích Chỉnh phủ hoặc bày tỏ quan điểm khác biệt trên internet. Đặc biệt, báo cáo cũng chỉ ra rằng, Chính phủ Việt Nam đang “dày công” kiểm soát thông tin cá nhân và việc sử dụng internet hàng ngày của người dân.
Việt Nam đang sử dụng công nghệ mới để theo dõi, quấy rối công dân
RFA.ORG

Việt Nam đang sử dụng công nghệ mới để theo dõi, quấy rối công dân

Một trong những xu hướng nhân quyền mà Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nêu ra tại buổi công bố Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới của Bộ Ngoại giao Mỹ hôm 30/3  là việc các chính phủ độc tài đang sử dụng những c….

Một trong những xu hướng nhân quyền mà Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nêu ra tại buổi công bố Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới của Bộ Ngoại giao Mỹ hôm 30/3  là việc các chính phủ độc tài đang sử dụng những công nghệ mới để theo dõi, quấy rối công dân và truyền bá những thông tin sai lệch trong nước và nước ngoài. Tình hình này được phản ánh rõ nét trong phần trình bày về Việt Nam của báo cáo.

Theo dõi chặt chẽ người dân sử dụng internet

Báo cáo về tình hình thực hiện nhân quyền quốc gia lần thứ 45 của Bộ Ngoại giao Mỹ nêu rõ, Chính phủ Việt Nam đang áp dụng một loại các biện pháp hạn chế quyền tự do internet. Các biện pháp đó gồm kiểm duyệt nội dung trực tuyến, ngăn chặn các website trong nước và nước ngoài bị cho không phù hợp; hạn chế và làm gián đoạn quyền truy cập vào internet, bắt giữ và áp đặt các bản án hình sự đối với những người đăng tải những thông tin chỉ trích Chỉnh phủ hoặc bày tỏ quan điểm khác biệt trên internet. Đặc biệt, báo cáo cũng chỉ ra rằng, Chính phủ Việt Nam đang “dày công” kiểm soát thông tin cá nhân và việc sử dụng internet hàng ngày của người dân.

“Chính phủ cấm truy cập trực tiếp vào internet thông qua các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và yêu cầu họ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và không gian làm việc cho các nhân viên an ninh để họ có thể giám sát các hoạt động internet. Bộ Công an từ lâu đã yêu cầu các “đại lý internet”, bao gồm cả các quán cà phê internet, đăng ký thông tin cá nhân của khách hàng, lưu trữ hồ sơ các trang web mà khách hàng truy cập và tham gia vào các cuộc điều tra của chính phủ về hoạt động trực tuyến. Các quán cà phê internet tiếp tục cài đặt và sử dụng phần mềm được chính phủ phê duyệt để theo dõi các hoạt động trực tuyến của khách hàng” – báo cáo viết.

Tại một quán cafe internet ở Việt Nam. Ảnh AFP

Báo cáo cũng cho biết Chính phủ Việt Nam đã tiếp tục gây áp lực với Facebook và Google, yêu cầu họ xóa các “tài khoản giả” và các  thông tin “độc hại” trong đó có các tài liệu chống Nhà nước.

“Vào tháng 10/2019, Bộ Thông tin và Truyền thông thông báo Google đã gỡ bỏ gần 8.200 video clip, YouTube chặn 19 kênh YouTube, và Facebook đã chặn gần 2.500 liên kết, 249 tài khoản giả mạo và 249 liên kết nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ.” – báo cáo cho biết và thêm rằng Bộ Quốc phòng Việt Nam đã xây dựng hẳn một đơn vị, có tên gọi là Lực lượng 47, để tìm kiếm những thông tin sai lệch và hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước.

Đối xử phi nhân tính với tù nhân chính trị

Một vi phạm nhân quyền nghiêm trọng khác được báo cáo chỉ ra đó là tình trang đối xử phi nhân tính đối với tù chính trị, trong đó có việc hạn chế khẩu phần ăn, cung cấp thức ăn bẩn hay đơn giản chỉ là cố tình giam giữ tù nhân xa nhà.

“Khẩu phần ăn của tù nhân chính trị dường như hạn chế hơn so với những người khác. Các cựu tù nhân chính trị cho biết họ chỉ nhận được hai bát cơm nhỏ và rau hàng ngày và những thức ăn này thường trộn với các vật lạ như côn trùng hoặc đá. Người thân của nhiều nhà hoạt động bị cầm tù đã hoặc đang bị bệnh, cho biết, điều trị y tế là không đầy đủ và dẫn đến các biến chứng sức khỏe lâu dài”– báo cáo viết.

Báo cáo cũng đưa ra ví dụ về trường hợp người nhà của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Đức Độ đã phải gửi đơn đến Trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cáo buộc rằng, những người bảo vệ nhà tù đã hành hung ông Độ, bắt ông vào biệt giam, cho ông thức ăn trộn lẫn với chất thải của người và yêu cầu trại giam chấm dứt tình trạng đối xử phi nhân tính này.

“Chính quyền nhà tù cũng thường giam giữ tù nhân chính trị ở nơi xa nhà, khiến cho gia đình họ khó thăm viếng và cũng không thường xuyên thông báo cho người thân của họ khi chuyển họ đến một trại mới” – báo cáo cho biết và đưa ví dụ  vợ ông Võ Thượng Trung khi đến thăm chồng tại một nhà tù ở tỉnh Đồng Nai vào ngày 27/2/2020 thì mới biết ông Trung đã được chuyển đến Trại giam Gia Trung, tỉnh Gia Lai, cách đó gần 540 km. Một ví dụ khác là nhà hoạt động Nguyễn Tường Thụy vốn sinh sống và bị bắt tại Hà Nội thì được chuyển đến Thành phố Hồ Chí Minh để giam giữ vào tháng 5/2020.

“Chính quyền Biden-Harris sẽ nhân đôi nỗ lực của chúng tôi để hỗ trợ các nhà báo, những người bảo vệ nhân quyền, các nhà hoạt động chống tham nhũng, các nhà tổ chức công đoàn và những người ủng hộ khác trên khắp thế giới, những người hy sinh mọi thứ để  bảo vệ nhân quyền” – Trích phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Anthony Blinken tại buổi công bố Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới ngày 30/3/2021.

Xét xử không công bằng

Theo báo cáo, tình trạng thiếu công bằng trong xét xử  và sự thiếu độc lập của cơ quan tư pháp, những rào cản đối với luật sư vẫn là những vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam.

“Thẩm quyền của Đảng đặc biệt nổi bật trong các vụ án cấp cao khi chính quyền buộc tội một người với tội tham nhũng, thách thức hoặc gây tổn hại cho Đảng hoặc nhà nước, hoặc cả hai. Các luật sư bào chữa thường xuyên phàn nàn rằng, trong nhiều trường hợp, có vẻ như các thẩm phán đã quyết định tội danh trước khi phiên tòa diễn ra” – báo cáo viết và cũng cho hay việc chính quyền gây áp lực đối với luật sư, không cho họ bào chữa cho các nhà hoạt đông tôn giáo, dân chủ hoặc trừng phạt họ vì các hoạt động này tiếp tục được ghi nhận.

Cơ quan điều tra khám xét văn phòng làm việc của luật sư Trần Vũ Hải. Ảnh nguoiduatin/ RFA biên tập

“Tiếp tục có những báo cáo đáng tin cậy rằng chính quyền gây áp lực buộc các luật sư bào chữa không bào chữa cho các nhà hoạt động tôn giáo hoặc dân chủ và đặt câu hỏi về động cơ của họ để làm như vậy” – báo cáo khẳng định đồng thời cho biết chính quyền cũng hạn chế, sách nhiễu, bắt giữ và loại bỏ các luật sư nhân quyền đại diện cho các nhà hoạt động chính trị mà điển hình là vụ việc kết  tội luật sư Trần Vũ Hải vợ ông vì tội chiếm đoạt thuế vì ông đề nghị được bào chữa cho nhà hoạt động Trương Duy Nhất.

“Ví dụ là vụ Luật sư Trần Vũ Hải. Ngày 21/2, tòa phúc thẩm tại Khánh Hòa giữ nguyên mức án tù đối với luật sư Trần Vũ Hải và vợ bị kết án từ tháng 11/2019 đến 12 đến 15 tháng tù về tội ‘trốn thuế’. Những cáo buộc đó được đưa ra vào tháng 7/2019 để Bộ Công an từ chối yêu cầu bào chữa cho nhà hoạt động bị cầm tù Trương Duy Nhất của ông Hải. Họ cũng cho phép công an khám xét văn phòng của ông Hải và tịch thu các tài liệu nhạy cảm liên quan đến việc bảo vệ các nhà hoạt động nhân quyền, trong đó có ông Trương Duy Nhất”- báo cáo viết.

“Những quốc gia nơi sự bất đồng quan điểm được hoan nghênh, nơi các quan chức tham nhũng và lạm dụng bị trừng phạt, nơi luật lao động được tôn trọng, nơi mọi người thuộc mọi thành phần đều có khả năng tiếp cận và cơ hội bình đẳng – những quốc gia đó có nhiều khả năng hòa bình, thịnh vượng và ổn định. Họ ít có khả năng rơi vào xung đột hơn. Họ có nhiều khả năng có nền kinh tế đang phát triển và trở thành thị trường cho hàng hóa và dịch vụ của chính chúng ta” – Trích phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Anthony Blinken tại buổi công bố Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới ngày 30/3/2021.

Đồng Tâm – hội tụ những bất thường về tố tụng

Vụ việc Đồng Tâm không chỉ được báo cáo đưa ra như một ví dụ về sự đụng độ giữa người dân địa phương và chính quyền về vấn đề thu hồi đất đai không thỏa đáng, dẫn đến bạo lực mà còn nhiều lần được đề cập làm ví dụ về “những bất thường nghiêm trọng” trong quá trình xét xử, tố tụng tại Việt Nam. Bất thường được nhìn thấy ở nhiều góc độ, từ những thủ thuật tra tấn bị cáo đến việc ngăn cản người nhà và luật sư bào chữa thực hiện những quyền hợp pháp của họ.

Phiên toà xử 29 người dân Đồng Tâm ở Hà nội ngày 7/9/2020. Ảnh: congluan.vn

“Một trong những người dân làng Đồng Tâm bị bắt giam và sau đó được thả sau cuộc đụng độ ngày 9/1/2020 cáo buộc rằng các thẩm vấn viên của Bộ Công an đã tra tấn nhiều người trong số 29 bị cáo bằng nhiều cách khác nhau, kể cả điện giật, dí thuốc lá làm cháy da ở nhiều vùng trên cơ thể, trấn nước, và các phương pháp khác không để lại dấu vết vật lý” – báo cáo cho biết.

Cũng theo báo cáo, trong thời gian diễn ra phiên tòa sơ thẩm xét xử 29 người dân Đồng Tâm vào tháng 9/2020, các lực lượng an ninh đã ngăn không cho người dân Đồng Tâm, người nhà của các bị cáo và các nhà hoạt động nổi tiếng rời khỏi nhà của họ. Tại phiên tòa một số quyền của bị cáo và luật sư đã không được bảo đảm. Ví dụ theo luật pháp Việt Nam, bị cáo có quyền trao đổi với luật sư nếu họ đang bị xét xử về tội hình sự có thể dẫn đến bản án 15 năm hoặc lâu hơn nhưng các luật sư bào chữa tại phiên tòa xét xử vụ việc Đồng Tâm cho biết “ban đầu công an đã ngăn cản họ nói chuyện với thân chủ và chỉ cho phép họ làm vậy sau nhiều lần yêu cầu và có đơn chính thức gửi đến tòa án.”

Và tình trạng chính quyền lạm dụng sử dụng các video clips để thao túng phiên tòa cũng như cảm nhân của công chúng về nghi phạm và vụ án trong các phiên tòa ở Việt Nam cũng được sử dụng tại phiên tòa xử sơ thẩm 29 người dân Đồng Tâm.

Trong phiên tòa xét xử 29 người dân thôn Đồng Tâm vào tháng 9/2020, công tố đã phát nhiều video clip trong đó các bị cáo tỏ ra thú nhận về những tội danh đã gây ra cho họ. Luật sư tư vấn pháp lý cho các bị cáo đã phản ánh trên mạng xã hội rằng video bóp méo các bị cáo – những người đã bị ép phải thú nhận trên video” – báo cáo cho biết. 

Một ông Texas đòi ám sát dân cử liên bang và treo cổ cảnh sát Quốc Hội

Một ông Texas đòi ám sát dân cử liên bang và treo cổ cảnh sát Quốc Hội

Mar 30, 2021 

WASHINGTON, DC (NV) – Ông Garret Miller, cư dân Texas, sau khi tham gia cuộc bạo loạn tại trụ sở Quốc Hội ngày 6 Tháng Giêng, đưa lời kêu gọi trên mạng đòi ám sát một nữ dân biểu cấp tiến liên bang và treo cổ một cảnh sát người Mỹ gốc Phi Châu, đài CNN dẫn hồ sơ tòa công bố ngày Thứ Hai, 29 Tháng Ba.

Vị dân cử mà nghi can Miller đòi ám sát là nữ Dân Biểu Alexandria Ocasio-Cortez (Dân Chủ-New York), khi tung ra tin nhắn trên Twitter “ám sát AOC.” 

Giá treo cổ và dây thòng lọng được những người ủng hộ ông Donald Trump đem đến trụ sở Quốc Hội ngày làm loạn. (Hình: Andrew Caballero-Reynolds/AFP via Getty Images)

“AOC” là biệt danh của vị nữ dân biểu liên bang đại diện New York nêu trên.

Theo hồ sơ tòa, sau khi trở về cuộc bạo loạn ở Quốc Hội, nghi can bị ám ảnh việc truy tìm viên cảnh sát đã bắn chết bà Ashili Babbitt và muốn tìm “công lý.”

Đương sự nhận diện một cảnh sát viên người Mỹ gốc Phi Châu cho rằng phải chịu trách nhiệm cho cái chết của bà Babbitt và đăng tải hình viên cảnh sát đó trên Facebook.

Cáo trạng cho thấy đương sự đe doạ “sẽ ôm cổ viên cảnh sát bằng dây thừng” và “hắn sẽ đong đưa.”

Đương sự còn gởi ra hình ảnh một sơi dây thừng thắt thòng lọng trên Instagram với chú thích “Tôi đem theo dây thừng trong ngày ‘đó.’”

Cảnh sát tìm thấy hai sợi dây thừng, vài khẩu súng, đạn dươc, áo giáp, và một cây nỏ khi khám xét nhà đương sự tại Dallas, Texas.

Các biện lý đề nghị tiếp tục giam giữ nghi can Miller vì sự nguy hiểm trong các lời đe dọa mà đương sự đưa ra.

Trong ngày bị bắt, nghi can Miller mặc chiếc áo thun in dòng chữ “Tôi có mặt ở Washington, DC, ngày 6 Tháng Giêng” khi bị bắt.

Nữ Dân Biểu Alexandria Ocasio-Cortez, người bị nghi can Garret Miller đe dọa ám sát. (Hình: Tom Williams-Pool/Getty Images)

Cảnh Sát Quốc Hội điều tra và kết luận viên cảnh sát hành động thích hợp hoàn cảnh khi bắn chết bà Babbitt lúc phá cửa leo vào phòng họp khoáng đại Hạ Viện.

Lai lịch của viên cảnh sát nổ súng vào bà Babbitt cho đến nay chưa được tiết lộ.

Không có chỉ dấu nào cho thấy việc nghi can Miller xác định thân thế viên cảnh sát bắn chết người phụ nữ kể trên là chính xác.

Một chánh án liên bang tại Texas ra phán quyết tiếp tục giam giữ nghi can Miller, không được tại ngoại hậu tra, vì đương sự quá nguy hiểm, đe dọa sự an toàn tính mạng các cảnh sát Quốc Hội.

Luật sư biện hộ cho biết nghi can Miller rất hối tiếc những gì đã làm và những thông điệp mà đương sự gửi ra bắt nguồn từ sự tin tưởng vào hành động “thổi phồng thông điệp chính trị sai lạc” của cựu Tổng Thống Donald Trump. (MPL) [qd]

Thời mạt pháp

 

Thiên Đức

Thời mạt pháp

– Mọi xã hội đều được xây dựng trên nền tảng pháp luật, hưng thịnh hay suy vong cũng từ đó mà ra. Một chế độ vững bền hay suy thoái rồi đi đến cáo chung cũng từ nền pháp luật của thể chế đó, bởi một điều dễ hiểu là bất cứ một chính thể nào, chế độ nào cũng từ nhân dân. Từ ngàn xưa cũng thế, không có dân thì lấy đâu ra vua? Vua cũng từ một con dân mà có chứ đâu phải từ trên trời rơi xuống? chớ lạm dụng hai từ “thiên tử” (con trời) mà áp đặt câu “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” hay “Trung thần bất sự nhị quân” cho dù vị vua trước mà mình phụng sự là hôn quân vô đạo và vị vua sau (đổi thời) là một minh chúa hoặc như ngày nay với kiểu thần thánh hóa cá nhân để rồi núp bóng áp đặt cho xã hội, cho người dân với nhiều ý đồ đen tối khác của giới cầm quyền. Cái trung đó là “ngu trung” mà ý thức đó, nét văn hóa đó nó đã chìm sâu vào lòng đất, vào quá vãng tự xưa rồi.

Ta lật từng trang sử loài người từ thời cổ đại cho đến ngày nay cũng thế, tuy rằng mỗi triều đại, thời gian có những gam màu khác nhau. Từ thời xa xưa ngôn ngữ, văn minh còn hạn hẹp phôi thai nhưng nền văn hóa của những thời đại đó vẫn có những dấu ấn khó phai mờ, cho dù dưới hình thức này hay hình thức khác thì quyết định tồn vong của một chính thể, một chế độ đều hoàn toàn ở người dân. Nền pháp luật nơi đó có tồn tại hay không cũng từ lòng dân, cho dù những bộ luật đó có là luật thành văn hay bất thành văn. Nói tóm lại từ cổ chí kim mọi chính thể đều phải có hiến pháp và pháp luật. Mà hiến pháp và pháp luật đó phải xuất phát từ người dân, hợp lòng dân, trái với lòng dân thì cho dù dưới chế độ nào, hình thức cai trị nào rồi cũng tiêu tan và sụp đổ.

Có phải ngày xưa dưới chế độ phong kiến có những triều đại hà khắc bạo tàn, người dân trong tay không một tấc sắt, nhưng cuối cùng chế độ đó cũng phải sụp đổ khi quần chúng nhân dân nổi dậy rồi sao? Đó là sự khẳng định rằng, không một chính thể nào cho dù là bạo cường cách mấy cũng không thể ngồi trên đầu dân một cách lâu dài được. Một nền hiến pháp, pháp luật không hợp lòng dân không bao giờ được áp dụng lâu dài và tồn tại. Mà đã không hợp lòng dân, trái lại ý chí của người dân thì không còn sửa chữa được nữa mà phải cáo chung và khai tử nó. Và lẽ đương nhiên đi theo nó là cả một hệ thống cầm quyền núp sau những trang hiến pháp ngụy trang đó mà thực hiện mưu đồ trong thời gian cai trị.

Nói thẳng vào chế độ và hiến pháp, pháp luật CSVN. Hiến pháp, pháp luật hiện hành ở VN là của riêng tập đoàn đảng CSVN, không phải là của toàn dân VN. Do đó không thể đem một ý thức hệ, một ý chí riêng của một tập đoàn, một nhóm hơn 3 triệu người trong xã hội mà áp đặt lên toàn dân hơn 90 triệu người và mạo nhận là ý chí của toàn dân? Chính quyền này là do Đảng CSVN cướp đoạt và áp đặt chính sách cai trị “ngoại nô” sau khi cướp được chứ không do nhân dân VN trao cho. Nếu đảng CSVN rêu rao rằng chính quyền này là “của dân, do dân và vì dân” thì bằng chứng nào để chứng minh cho được cái “của, do và vì” đó? Từ năm 1945 đến nay cơ quan nào của bộ máy cầm quyền nhà nước CSVN mà đích thực là của dân?

Công an nhân dân ư? Chúng đánh đập, giết chết, cầm tù người dân chân chính và yêu nước như một cô bé SV Phương Uyên ở tuổi 20 trước đây với chỉ một lời “Cháu ghét TQ”, tức thì còng trói giam cầm, kéo đi như phường thảo khấu lục lâm mà không cần minh bạch lý do đồng thời chối bỏ mọi hành động, cùng với nhiều nhà yêu nước khác như Minh Hạnh, Bùi Hằng, Như Quỳnh, Huy Chương, Quốc Hùng, Duy Thức… cùng hàng hàng người dân vô tội khác trong xã hội đã và đang bị công an CS giết chết, cầm tù từng ngày mà không hề chùn tay.

Quân đội nhân dân ư? Quân đội tại sao phải tuyệt đối trung thành với đảng? Trong lúc đó không lo đi bảo vệ biên cương, đất nước, khi non sông hải đảo đang bị quân xâm lược Bắc Kinh lấn chiếm cõi bờ? Không lo bảo vệ nhân dân đang bị ngoại bang giết chóc, hà hiếp đe dọa cuộc mưu sinh, hủy hoại môi trường sống từng giờ từng phút? Mà đi bảo vệ giặc (Formosa), bảo vệ đội quân thứ 5 của Tàu cộng đang tiềm ẩn trên đất nước ta? Trong lúc quân đội chính là con của nhân dân đẻ ra và nuôi khôn lớn bằng mồ hôi, nước mắt, đôi khi pha cả máu nữa?

Tòa án nhân dân ư? Tại sao phải theo ý đảng mà xử tù oan nghiệt cho những người yêu nước, thương dân? Đã gọi là thẩm phán cầm cân nảy mực đại diện cho công lý mà khi xử án nhất là những án có liên quan đến người yêu nước thì tuyên bằng bản án bỏ túi do đảng đã phán trước? trong đó có cha mẹ con cái người thân của các quan tòa cũng là dân tộc VN?…v.v và v.v… Rất nhiều cái mà chúng gọi là của nhân dân nữa.

Một điều tôi cũng muốn xin hỏi đảng CSVN rằng cái gọi là quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân là đại diện cho toàn dân. Thế thì trong 500 vị được gọi là đại diện cho nhân dân ai thực sự là người dân? Trong đó hết 98% là đảng viên CS, 2% còn lại là các sư sãi ăn bã CS hoặc là đảng viên csVN trá hình trong người lận thẻ máu, dân tộc thiểu số giả danh anh hùng “núp lén” bị che mắt bịt tai để làm tay sai, lừa mỵ là đại diện cho các sắc tộc anh em và những con cừu con dê theo đóm ăn tàn và chỉ nói ngọng nghệu, bước đi tập tễnh theo sợi dây thừng mà đảng viên CS nắm và dắt đi. Thế thì những tiếng nói đó đại diện cho ai? thay mặt cho ai mà nói? Bao cuộc bầu cử quốc hội, HĐND các cấp, các đại biểu người dân được quyền lựa chọn, tự do bầu ra những người có đức, có tài để lãnh đạo quốc gia ư? Ai đã ăn nuốt xương máu của nhân dân hơn ngàn tỉ đồng cho mỗi lần lừa gạt nhân dân và quốc tế như vậy? Tôi nói không sai bởi các ông cho rằng dân bầu thì tại sao ngày bầu cử chưa đến mà trước đó hàng nhiều tháng thậm chí cả năm ai, vị nào, con cừu, con dê, thằng điếm, con đĩ nào ở vị trí nào đã có sẵn mà toàn dân VN, truyền thông quốc tế đã biết và loan lên? Y như rằng, sau ngày bầu cử lừa đảo đó tất cả đều không sai! Ai vào chỗ nấy. Từ gã chủ tịch nước đến tên thủ tướng rồi tới thằng, con chủ tịch quốc hội và các tay sai khác đều đúng vị trí như mọi người đã biết trước với kịch bản và sự đạo diễn của đảng. Thế cho nên những cái gì mà đưa ra từ “cái gọi là quốc hội” đều là ý đảng và trái ngược lòng dân. Soạn thảo bản hiến pháp ư? Ban soạn thảo hiến pháp thì 100% là đảng viên CS viết theo ý đảng chứ đừng lừa mỵ đèo thêm cái đuôi là “lòng dân – ý đảng”. Lòng dân ư? XHCN xạo hết chỗ nói. Đây, lòng dân đây:

– Đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân, nhà nước thống nhất quản lý. Một bản án tử hình cho toàn dân từ nông thôn đến thành thị, bởi tất cả mọi công dân đều ăn, ở, sống trên mảnh đất của mình qua bao đời mà quyền quản lý là của đảng? khi đảng muốn cưỡng đoạt mà người dân phản kháng ư? Chống người thi hành công vụ à? Đánh đập, còng trói và tống vào tù. Và anh Đoàn Văn Vươn cùng gia đình đã phải chịu án oan…cả gia đình chị Cấn thị Thêu phải chịu cảnh ngục tù tra tấn vì dám đấu tranh cho quyền lợi của mình và của nhân dân Dương Nội đã và đang bị đảng cướp? Chị Trần ngọc Anh ở Vũng Tàu cũng cùng cảnh ngộ bi thương. Từ Nam chí Bắc không đâu là không có phiên bản Đoàn văn Vươn, Cấn thị Thêu, Trần ngọc Anh…

– Tự do ư? Tự do trong khuôn khổ pháp luật. Đã tự do mà trong khuôn khổ? mà pháp luật là gì? là điều 79, 88, 258… của bộ luật hình sự? Các điều luật mơ hồ đánh lận con đen để phủ đầu người yêu nước, người muốn nói lên chính kiến hợp pháp của mình một cách bỉ ổi và vô liêm sỉ.

– Nhân quyền ư? Thế quyền tự do đi lại là việc cấm xuất cảnh để ra nước ngoài nhận các giải thưởng cao quí, danh dự trên thế giới mà người dân VN có được như gia đình Huỳnh Thục Vy, Nguyễn ngọc như Quỳnh và nhiều người ra nước ngoài vì những lý do chính đáng khác? Đáng lý ra đảng cũng là người VN phải tự hào và vinh dự chứ? Và không những cấm cản mà còn cao giọng phản bác việc thế giới trao giải danh giá tôn vinh cho các Anh Thư như Tạ Phong Tần, Nguyễn Hoàng Vi, Huỳnh Thục Vy, và vừa qua là Nguyễn ngọc như Quỳnh?

– Tự do ngôn luận ư? Chỉ câu nói “Cháu ghét TQ” mà cô bé Phương Uyên đã phải vào tù khi mới 20 tuổi. Hay những người vạnh trần bọn tham nhũng, lên tiếng bảo vệ tổ quốc khi bị Trung cộng xâm lăng, nếu nhẹ thì bị sách nhiễu, nặng thì mục xương trong tù.

Tự do báo chí ư? Cái này thì đảng “hoàn toàn đúng và nhân hậu “ bởi đảng đang lo lắng chăm sóc các nhà báo, nhà dân chủ của chúng ta thật kín kẽ và chu đáo. Trước đây như Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Ls. Cù Huy Hà Vũ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Việt Khang, Đỗ Thị Minh Hạnh, Ls Nguyễn văn Đài, Ls Lê quốc Quân, Ls Lê công Định, Ks Trần Huỳnh duy Thức… và nhiều vị khác nữa kẻ thì còn đang thu mình trong nhà đá, kẻ tuy đã thoát ra khỏi nhà tù nhỏ nhưng vẫn bị câu lưu, theo dõi, truy bức nơi nhà tù lớn gọi là nhà nước CHXHCNVN. Sợ các thế lực thù địch hãm hại nên đảng đã cất dấu các vị này thật kỹ nơi tường cao rào kín, cơm nước hàng ngày, thuốc men đầy đủ và gia đình không cần phải thăm nuôi, hỏi han sức khỏe. Thậm chí còn đưa đi thật xa đến nơi núi rừng hẻo lánh như Phạm Thanh Nghiên, Đỗ thị minh Hạnh, Trần Huỳnh duy Thức … và nhiều vị khác nữa để được an toàn và không khí trong lành hơn, cũng để không bị ô nhiễm môi trường từ các sáng kiến của các GS – TS, Nhà Xí CSVN. Đặc biệt là đảng độc quyền yêu nước. Một thứ quyền thiêng liêng cao cả. Trên đời này nếu ai không có lòng yêu nước là như kẻ không có trái tim và bị xem như là phản quốc, có khi là tội đồ của dân tộc.

Cũng chính vì cái gọi là quốc hội này nên từ đó đã đưa ra những dự luật thật khôi hài và quái đản chưa nói là ngu si dốt nát nữa vì những con rối này tất cả đều giả danh mang những tước hiệu, học vị, học hàm rất là lổn cổn và hào nhoáng nào GS – TS, nhà nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu kinh tế, triết học, nhà lý luận, viện sĩ nọ, viện sĩ kia…

Dự luật tiếp dân, bắt buộc người dân đang lang thang khiếu kiện với cảnh màn trời chiếu đất, một miếng ăn qua ngày để kéo dài thêm sự sống mà đuổi theo tờ đơn kiện chạy lòng vòng khắp các tỉnh thành cho tới thủ đô còn không có mà phải đặt “tiền cọc” rồi mới được kêu oan? Thật là kiểu bày trò rút ruột, xương máu của nhân dân cho tới tận cùng trong chất bã của nhà khoa học tiến sĩ giấy chủ nhiệm cái gọi là UBKHCN và môi trường xưng danh là đại tiểu, đại tiện của nhân dân thật là vô tiền khoáng hậu. Chỉ có những đầu óc bã đậu của các “đỉnh cao trí tệ” quá cao siêu mới có những tối kiến vô cùng quái đản như vậy mà thôi.

Nhận thấy tình hình mạng sống của nhân dân VN mỗi ngày một treo lơ lửng trên cành cây cho nên cộng đồng các dân tộc và các chính phủ tiến bộ trên thế giới đã nhiều lần lên án nhà cầm quyền CSVN. Tưởng rằng bọn mặt người dạ thú mang trái tim của quỉ kia cũng phần nào dè dặt hay rụt tay hãm bước. Nhưng với bản chất man rợ, thú tính chúng không hề động tâm mà còn tiếp tục trắng trợn gia tăng giết người một cách dã man hơn, nó đang diễn ra trên toàn cõi đất nước như ở Vĩnh Yên, Vinh rồi Đắc Nông và gần đây công an Gia Lai dùng súng tiểu liên đuổi theo và bắn người không đội nón bảo hiểm. Thậm chí người ta sợ súng đạn chạy trốn vào một công ty gần đó mà tụi công an côn đồ vẫn bắn vào phá cửa, hành hung và gây ra thương tích cho những người nơi đó. Đúng là bọn “kiêu binh thời @” xem trời đất bằng vung thật là kinh khủng và rừng rú, luật bắn dân chưa ra (tính sẽ đưa ra) mà chúng đã ngang nhiên xả đạn tiểu liên giữa đường phố, giữa công ty đang làm việc như trên, thì đúng là“thời mạt pháp”. Chưa hết, trước đây một học sinh 16 tuổi cũng bị đánh hành hung gây thương tích ngay đường số 9 cư xá Bình Thới phường 8 quận 11 Sài Gòn cũng chỉ vì không đội nón bảo hiểm. Hay ngay thủ đô Hà Nội, nhiều người dân Dương Nội – Hà Đông khi cản trở việc cưỡng đoạt đất đai của tập đoàn, phe nhóm lợi ích cho đảng, thì cũng bị công an phường Dương Nội đánh đập dã man rồi tống lên xe bus để cùng nhau đánh tiếp, đánh dài dài, đánh cho đến thập tử nhất sinh. Thậm chí dùng gàu xe xúc đất xúc chị Cấn thị Thêu để bắt nhốt vào tù khi chị cùng người thân và nhân dân Dương Nội quyết tâm giữ đất của cha ông bao đời để lại nay bị đảng cướp! Những cảnh như thế thì ai là người còn mơ hồ ngây thơ tin vào pháp luật của CSVN?

Chưa dừng lại ở đó. Bộ công an còn âm mưu, manh nha đưa vào luật điều khoản được phép bắn dân khi thi hành công vụ mà bị chống lại. Thật khốn nạn và dã man vô cùng. Lúc nào là lúc thi hành công vụ? Và hành động thế nào là chống thi hành công vụ? Cướp đất cướp tài sản cá tôm, phá nhà hợp pháp của nhân dân là thi hành công vụ sao? Phiên tòa xét xử Đoàn Văn Vươn, Cấn thị Thêu và người thân đã diễn ra tại Hải Phòng, Hà Nội là câu trả lời rõ nhất cho bản chất những kẻ thi hành công vụ và nỗi oan tình của người dân. Nạn nhân biến thành tội phạm giết người, chống người thi hành công vụ chỉ vì bảo vệ tài sản, nhà cửa hợp pháp của mình. Còn kẻ cướp giết nhân dân giữa ban ngày được trang bị đầy đủ vũ khí và mọi lực lương hổ trợ thì được xem là công trạng đáng ghi vào phim sách. Rồi những vụ Văn Giang, Vụ Bản, Dương Nội, đồng bằng sông Cửu Long là những minh chứng. Trong khi đó tên 3 ếch cựu “tưởng thú” ra vẻ an dân và xoa dịu lòng dân bằng cách trực tiếp chủ trì cuộc họp vụ Tiên Lãng, nhưng lại giao nhiệm vụ cho tên cầm đầu cuộc cưỡng chế đất là tên Đỗ Hữu Ca đi điều tra ai làm nên chuyện phá nhà cướp hại nhân dân? Rồi cũng chính hắn giao cho lãnh đạo côn an Hưng Yên điều tra ai đã đàn áp nông dân Hưng Yên trong vụ cưỡng chế đất trong khi cả ngàn côn an, bộ đội, dân quân, côn đồ xh đen và cả chó nghiệp vụ với vũ khí tận răng tham gia đánh đập dân oan. Lực lượng này không phải của csVN, cs Tàu thì là âm binh từ địa ngục hiện lên??? Thật khôi hài.

Cuối cùng tôi xin hỏi đảng CSVN một câu chót là với lực lượng gần 5 triệu đảng viên CS của các ông đó là chưa cộng thêm vợ, chồng con cái, anh em mẹ cha dòng họ bè nhóm đã cùng hùa với các ông cướp bóc hút máu dân lành, con số có thể hơn mười mấy triệu bản mặt mà lại sợ “đa nguyên, đa đảng”? Tôi thiết nghĩ cho dù có vài ba đảng phái chính trị nào khác để ra cạnh tranh sòng phẳng nơi chính trường với các ông đi chăng nữa thì con số đó có lẽ cũng kém hơn các ông xa. Nhưng có một điều duy nhất và chắc chắn hơn hẳn và khác các ông xa là người ta có trí thức và chính nghĩa. Đối diện với trí thức và chính nghĩa thì dốt nát và tà quyền bá đạo sẽ lòi mặt chuột ra. Do đó các ông “sợ” như virus sợ ánh sáng, xì-ke sợ nước hay ma quỷ sợ ban ngày vậy. Các ông dư biết rằng nếu đảng phái đối lập có trí thức và chính nghĩa thì sẽ được lòng dân, có dân đứng sau lưng khoảng gần 80 triệu người VN cả trong và ngoài nước sau khi đã trừ đi gần mười mấy triệu người thân và bè nhóm của các ông ra thì con số nhân dân yêu nước, khát khao tự do nhân quyền dân chủ này sẽ là cơn bão lũ nhấn chìm các ông, sẽ là biển lửa thiêu rụi các ông trong một sớm một chiều nên các ông run sợ là phải.

Mấy năm trước các ông bày trò sửa đổi hiến pháp mà lại đi từng nhà, gặp từng người dân trao bản dự thảo hiến pháp sửa đổi của các ông và tờ mẫu in sẵn áp đặt ký tên đồng ý với bản dự thảo điếm lừa nêu trên và sau đó cho là ý dân! Đến giờ phút này mà các ông còn lừa dân một cách xảo trá, mạt hạng rẻ tiền đến thế sao? Cặp mắt của người dân VN và cả thế giới đâu có đui mù và đâu còn bị các ông che chắn như trước đây được nữa. Do đó nhân dân VN cương quyết khai tử bản hiến pháp hiện hành là hoàn toàn đúng đắn, vì nội dung của nó thể hiện ý chí của đảng CSVN đi ngược lại ý chí và quyền lợi của toàn dân. Hiến pháp lẫn chế độ CSVN không thể nào sửa đổi được mà phải cáo chung, đào thải, thay đổi hoàn toàn mà thôi. Bài viết này tôi chỉ gói gọn trong sự nhận xét của tôi về lĩnh vực hiến pháp và pháp luật của csVN đã đến thời MẠT PHÁP.

GS David Tran

THƯỚC ĐO MỨC ĐỘ ĐỘC TÀI

 
May be an image of one or more people and text

THƯỚC ĐO MỨC ĐỘ ĐỘC TÀI

Đỗ Ngà

Bạn ghét cay ghét đắng thằng cha đó, nhưng phải chọn tên hắn trong phiếu bầu. Bởi nếu không chọn bạn bị liệt vào danh sách đen đợi bị xử lí sau. Khi toàn đảng đều mang tâm lý như vậy, thì ứng viên sẽ có 100% phiếu bầu. Đấy chính là bản chất của cái gọi là bầu cử trong một nhà nước độc tài.

Sự khác biệt là bản chất tự nhiên. Bạn và tôi được sinh ra trên đời này vốn không thể là phiên bản của nhau. Bạn là một mẫu duy nhất trên thế gian và tôi cũng vậy. Trên thế giới này có 7 tỷ người thì có 7 tỷ cá tính và 7 tỷ hình dáng vv… Ngay cả anh em song sinh vẫn có sự khác biệt. Vì vậy nếu được tự do thì không bao giờ có chuyện 100% người có chọn lựa giống nhau. Sự chọn lựa giống nhau càng nhiều, chứng tỏ ý chí những con người ấy bị khuất phục bởi cùng một thế lực.

Đồng phục tư tưởng nghĩa là con người không sử dụng tư tưởng của mình mà bị ép phải dùng tư tưởng của người khác. Đồng phục về chọn lựa cũng vậy, nó không thể hiện sự mong muốn cử tri mà nó thể hiện sự mong muốn của thế lực khác. 100% người bầu cho ông Vương Đình Huệ, điều đó cũng có nghĩa là toàn bộ đại biểu quốc hội biết sợ thế lực đang ủng hộ ông này và họ phải chọn theo ý muốn của thế lực đó.

Được biết, ngày 30/3 khi quốc hội tổ chức miễn nhiệm chức chủ tịch quốc hội của bà Ngân có 449 người bỏ phiếu thì số ý kiến tán thành là 429, không tán thành là 15, và không có ý kiến là 5 người. Nói chung có đến 20 người không muốn lột chức bà Ngân.

Như vậy theo tính logic, khi bầu tân chủ tịch quốc hội cho ông Vương Đình Huệ thì ít nhất phải có 20 người không tán thành chứ? Tại sao tỷ lệ bầu cho ông Huệ lại là 100%? Nghĩa là sau một ngày, 20 người lạc lõng kia đã đổi ý. Tại sao vậy? Chỉ có thể là bị áp lực. Có lẽ 20 người ấy đã cảm thấy cái nguy hiểm đang lởn vởn quanh mình khi họ thử đi ngoài lề mà thế lực ông Huệ đã định sẵn.

Trong bầu cử, tỷ lệ càng gần 100% bao nhiêu thì mức độ độc tài càng nghiêm trọng bấy nhiêu chứ nó không thể hiện sự đồng lòng. Xem ra, thế lực của Vương Đình Huệ hung hiểm lắm. Ngồi ghế chủ tịch Quốc hội, nhưng ông Huệ không hẳn là yếu. Đất nước này nó càng ngày càng trở nên độc tài, mà mức độ độc tài càng cao thì cái ác càng lộng hành, luật pháp càng bị xem thường và thực tế đã chứng minh điều đó qua vụ án Đồng Tâm và vụ án Hồ Duy Hải.

-Đỗ Ngà-

50 năm sau ngày bắt đầu Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc,…

 May be an image of 1 person, standing, tree and outdoors

Học sinh tiểu học, trung học mà dám chửi mắng, đánh đập, nhục mạ cô giáo thì là chuyện nghiêm trọng. Hãy nhớ tới những đứa trẻ đã từng tham gia CMVH ở TQ và hậu quả khủng khiếp mà chúng tạo ra là sẽ hiểu.

Lớn lên bằng sữa sói

50 năm sau ngày bắt đầu Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc, bà Yu Xiangzhen chưa hết cảm thấy tội lỗi về những điều bà đã gây ra. Nay bà là một biên tập viên đã về hưu, người mới chỉ là một cô bé 13 tuổi khi Cách mạng Văn hóa bắt đầu tại Trung Quốc, cho biết mình đã sống cả đời trong sự ám ảnh của cảm giác tội lỗi.

Năm 1966, bà Yu là một trong số nhiều Hồng vệ binh của Chủ tịch Mao Trạch Đông. Bản thân bà và hàng triệu học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông khác đã lên án giáo viên, bạn bè, gia đình mình. Họ cướp phá nhiều ngôi nhà, phá hoại tài sản của người khác. Những cuốn sách giáo khoa ngày nay giải thích Cách mạng Văn hóa – với hàng trăm nghìn người bị sát hại và hàng triệu người khác bị lạm dụng và tổn thương tâm lý – như một phong trào chính trị được chủ tịch Mao khởi xướng và lãnh đạo “một cách sai lầm”. “Nhưng trên thực tế, đó là một thảm kịch khủng khiếp mà tất cả chúng ta đều chịu trách nhiệm”, bà Yu nhấn mạnh.

Và điều khiến bà Yu ân hận nhất là những gì đã làm với cô giáo Zhang Jilan.

“Tôi là một trong những học sinh tích cực nhất khi lớp học tổ chức một buổi đấu tố bà Zhang”, bà Yu nhớ lại. “Tôi bịa ra những cáo buộc vô căn cứ, nói rằng bà ấy là một giáo viên nhẫn tâm, một phụ nữ lạnh lùng, mà tất cả đều sai”.

Những người khác cáo buộc cô giáo là tín đồ Thiên chúa giáo bởi vì tên của bà có chữ “Ji”, có thể liên quan tới đạo Thiên chúa. Những chỉ trích vô căn cứ của bà Yu và những người khác trong lớp sau đó được viết thành những biểu ngữ chữ lớn – một cách phổ biến để phê bình “những kẻ thù của giai cấp” và truyền bá thông điệp tuyên truyền. Những biểu ngữ này phủ kín cả bức tường bên ngoài phòng học.

Không lâu sau đó, giáo viên của bà Yu bị đưa tới chuồng bò – một nơi giam giữ tạm dành cho những người trí thức cùng “các nhân tố tư sản” – và phải chịu đủ hình thức lạm dụng, nhục mạ.

Mãi đến năm 1990 bà Yu mới gặp lại cô giáo của mình. Trong một cuộc họp lớp và đi chơi Vạn lý Trường thành, bà Yu và các bạn khác trong lớp đã chính thức nói lời xin lỗi cô giáo Zhang – người lúc đó đã ngoài 80 tuổi, về những gì họ gây ra cho bà.

Họ hỏi cô giáo mình về chuyện gì đã xảy ra trong chuồng bò. “Cũng không có gì quá tệ”, người giáo viên nói. “Tôi bị bắt phải bò như một con chó trên mặt đất”.

Khi nghe thấy điều này, bà Yu òa khóc. Khi đó bà chưa đầy 14 tuổi nhưng đã khiến cuộc sống của bà Zhang bi thảm. Hai năm sau khi được xin lỗi, bà Zhang qua đời.

Bà Yu tin rằng thế hệ của mình đã lớn lên bằng “sữa sói”: “Chúng tôi sinh ra với sự thù hận, và được dạy dỗ để đấu tố và thù hận mọi người”, cựu biên tập viên nói. “Một vài người bạn Hồng vệ binh của tôi cho rằng họ chỉ là những đứa trẻ ngây thơ bị dẫn dắt lầm lạc. Nhưng chúng tôi đều sai”.

Bà Yu cảm thấy đau lòng khi nhiều người trong thế hệ của bà chọn cách lãng quên quá khứ, và một số thậm chí còn gọi đó là “những ngày xưa tốt đẹp”, khi họ có thể đi khắp đất nước như những người có đặc quyền, những Hồng vệ binh vô tư lự.

Bà Yu thừa nhận bà phải chịu trách nhiệm về nhiều thảm kịch và các vụ hành hạ, và chỉ có thể bày tỏ hối tiếc với những người đã mất đi người thân trong Cách mạng Văn hóa.

“Nhưng tôi không muốn xin tha thứ. 

Theo VN Express, hình bà Yu của CNN Tôi muốn kể sự thật về Cách mạng Văn hóa với tư cách một người đã trải qua những ngày điên rồ và hỗn loạn, để cảnh báo mọi người về sự hủy diệt khủng khiếp, để mọi người có thể tránh lặp lại nó”, bà Yu chia sẻ.

Fb Nguyễn Thị Bích Hậu

Hai mặt của những gia đình Việt ở Mỹ

Hai mặt của những gia đình Việt ở Mỹ

Bởi  AdminTD

 Nhã Duy

30-3-2021

Tôi đọc được vài tâm tình, chia sẻ, của một anh bạn trên Facebook, nhân kỷ niệm ngày 20 năm gia đình anh đến Mỹ. Một gia đình hai con nhỏ, đến Mỹ khi hai vợ chồng đã quá tuổi 30 với tay trắng, hạn chế ngôn ngữ và xa lạ văn hóa, để tạo dựng một đời sống mới trên xứ người.

Cần mẫn vừa học vừa làm toàn thời gian đầy vất vả, anh ra kỹ sư sau năm năm đến Mỹ và chị cũng tốt nghiệp đại học sau anh ba năm. Cuộc sống bắt đầu ổn định để lo cho con cái và rồi cây trái đã trổ bông. Hai con trai bé nhỏ ngày nào đã ra trường, lại là trường danh tiếng UC Berkeley và Harvard, một luật sư và một chuẩn bị hoàn tất cao học.

Một câu chuyện đáng ngưỡng mộ và thành công, nhưng không phải hiếm hoi bởi một khuôn mẫu gia đình như vậy cũng là câu chuyện của nhiều gia đình Việt tại Mỹ. Nhưng điều đáng quý nơi họ là tâm tình cảm tạ và đầy trách nhiệm với nước Mỹ.

Anh viết: “Kỷ niệm 20 năm ngày đặt chân đến Mỹ, chúng tôi biết ơn nước Mỹ và sẽ sống một cách xứng đáng với những gì nước Mỹ đã ban tặng cho chúng tôi. Tôi vẫn hy vọng rằng nước Mỹ sẽ mãi mãi mở rộng vòng tay cho những người di dân đến sau chúng tôi“.

Còn câu chuyện gia đình thứ nhì mà tôi biết và qua những điều họ tự kể. Họ đến Mỹ đã gần 30 năm khi tuổi quá 20 rồi gặp nhau, có hai con còn đi học. Cũng cần mẫn tạo dựng, hai vợ chồng làm chủ được một tiệm nail nhỏ, tôi đoán đời sống của họ cũng khá ổn định với công việc.

Những câu chuyện như vậy khá nhiều và khá phổ biến. Bất kể công việc và hành trình ra sao, sự cố gắng vươn lên và lo cho tương lai con cái để trở thành những công dân trách nhiệm của người Việt tại Mỹ là mẫu số chung đáng trân trọng của nhiều gia đình. Nhưng câu chuyện có điều khác hơn để kể tiếp.

Chạy xe sang, ngoài căn nhà đang ở, còn có căn nhà nhỏ khác cho thuê, nhưng qua lời kể, gia đình chủ tiệm nail này khoe rằng, mỗi năm vẫn được cho tín thuế EITC (Earned Income Tax Credit) năm, sáu ngàn đô la dành cho các gia đình thu nhập thấp. Tôi ước lượng ngay thu nhập khai thuế trên giấy tờ của cả hai vợ chồng chỉ ở mức dưới 30 ngàn mỗi năm mới được vậy.

Đó là lý do gia đình họ được hưởng các phúc lợi xã hội và y tế miễn phí cho đến vài năm qua, khi những điều kiện để xin không còn dễ dãi như trước kia nên đã chuyển sang mua bảo hiểm Obamacare, được tài trợ gần như toàn bộ. Còn con cái thì không biết được Medicaid hay CHIP, một chương trình y tế cho trẻ em giá cũng rất rẻ, cũng như họ đủ tiêu chuẩn nhận chương trình tem phiếu thực phẩm (Food stamp/SNAP).

Câu chuyện gia đình thứ nhì cũng không thiếu trong cộng đồng Việt ở Mỹ, vì theo thống kê dân số Hoa Kỳ, American Community Survey 2019, thì có đến 9.9% gia đình Việt nhận trợ cấp tem phiếu thực phẩm, 3% nhận trợ giúp tiền mặt và 8.4% nhận tiền SSI, loại trợ cấp tiền mặt cho người trên 65 hay được chứng nhận tàn tật. Cũng như có đến 31.8% dân số cộng đồng, tức khoảng 600 ngàn người lớn nhỏ được hưởng miễn phí hay mua bảo hiểm y tế giá rẻ các loại từ chính phủ.

Việc nhận các phúc lợi xã hội không phải là điều để bàn, bởi đây là chương trình nhân đạo của chính phủ, có ngân sách hàng năm để giúp đỡ các gia đình nghèo hay người già không có thu nhập. Nó từng là một sự giúp đỡ to lớn cho hầu hết người Việt định cư tại Hoa Kỳ bước đầu để tạo dựng cuộc sống mới và đi lên rồi đóng góp, đáp trả lại cho xã hội.

Nhưng điều đáng nói ở đây là sự lạm dụng. Có những người ở nhà lớn, đi xe sang, xài hàng xa xỉ, vài năm vẫn “áo gấm về làng” bên Việt Nam và họ vẫn thuộc diện “nghèo”, không những chưa từng đóng thuế mà còn được lấy thêm tiền.

Đừng hỏi tại sao họ làm được? Họ biết và dám làm những điều người khác không biết hay không dám làm. Trong vụ dịch vụ khai gian tiền thất nghiệp liên quan đến hàng ngàn người Việt tại Nam Cali, văn phòng biện lý Quận Cam bảo rằng, những người làm dịch vụ bị bắt đã xin được tiền thất nghiệp cho cả cụ già trên 90 tuổi không còn sức làm việc từ lâu, hay cho tu sĩ trên 70 tuổi đang nhận tiền SSI.

Để có thêm một chi tiết khi kể về hai gia đình này và chắc chắn cho suy đoán của mình, tôi nhắn riêng anh kỹ sư để hỏi về những số tiền cứu trợ chính phủ. Đúng vậy, gia đình anh chỉ có đóng thuế. Thu nhập vợ chồng anh cao hơn mức để nhận được tiền trợ giúp trong các gói cứu trợ từ chính phủ, so với những gia đình có hai con nhỏ đủ điều kiện như gia đình thứ nhì được nhận 14,000 đô trong năm nay ($2,000 mỗi người từ chính phủ và $3,000 tín thuế cho mỗi trẻ em), không kể thêm các tín thuế EITC cùng các phúc lợi, trợ cấp học phí khác như đã kể trên.

Không lấy cái riêng để nói điều chung và chẳng thể vẽ trọn vẹn qua đôi câu chuyện nhưng hai gia đình Việt, hai câu chuyện không hiếm, hay thậm chí khá phổ biến cũng ít nhiều góp thêm một phần về chân dung cộng đồng Việt trên đất nước Mỹ. Có những công dân trách nhiệm và có những người lạm dụng hệ thống. Tôi tin rằng nhìn quanh mình thì ắt không khó bắt gặp những gia đình tương tự, cả ở ngoài đời và theo như các số liệu đã dẫn.

Có thêm điều khác biệt là anh bạn kỹ sư nói trên là một người không-Trump, là một ngòi bút sắc bén để chống lại Trump. Còn gia đình thứ nhì là một gia đình mê Trump, chửi đảng Dân Chủ và những người đã bầu cho tổng thống Joe Biden. Họ “lo” Biden mở tung biên giới để cho di dân lậu tràn vào làm gánh nặng xã hội, họ chỉ trích Biden sẽ tăng thuế người dân. Tựa như trong thế giới những người Việt-Trump vẫn thường đăng đàn bảo rằng, những người ủng hộ Biden, ủng hộ Dân Chủ chỉ là những người “ít học, ăn trợ cấp” (!?).

Cộng đồng người Việt tại Mỹ có những điều tích cực lẫn tiêu cực như vậy, cái nhìn sẽ đầy đủ hơn khi soi từng góc nhỏ khác nhau. Nhưng dẫu thế nào thì cũng sẽ khó lòng trọn vẹn hay hiểu hết được chân dung của nó. Có thể đó là lý do tại sao mà câu thơ “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu” của thi sĩ Du Tử Lê vẫn thường được người ta nhắc đến nhiều chăng?

“Ý NGHĨA CỦA DANH DỰ”

“Ý NGHĨA CỦA DANH DỰ”

(Vũ Thái)

Tháng 11, tòa báo tổ chức cuộc thi “Người thầy danh dự”, nhằm tôn vinh những thầy cô vĩ đại nhất trên cả nước. Chưa bao giờ có cuộc thi lớn như vậy, mọi ngóc ngách của hàng chục nghìn trường lớp đều xôn xao. Người ta ví von, giải thưởng về người thầy mà đình đám cứ như giải Oscar ở xứ Hoa Kỳ.

Đến đầu tháng 1, sau sự làm việc hăng hái của hội đồng xét giải, 3 người thầy đã lọt vào danh sách cuối cùng. Ba vị này, toàn các vị đã trên 50 tuổi. Vị thì đầu bạc, vị bạc một nửa, và vị thì không có tóc mà bạc.

Cô phóng viên rất thích chủ đề này nên định tới phỏng vấn cả 3 người…

Vị giáo sư đầu tiên hẹn cô tại một quán café sang trọng. Ông mặc bộ vest hợp thời, may rất khéo, bộ râu tỉa kỹ, và chiếc kính hàng hiệu tôn lên ánh mắt trầm tĩnh sâu thẳm của ông.

Cô phóng viên bị ấn tượng mạnh bởi một người đàn ông trung niên và lịch lãm như vậy. Sau màn chào hỏi, họ bắt đầu bài phỏng vấn:

– Thưa Giáo sư, danh dự có ý nghĩa gì với ông?

– Cuộc đời tôi, danh dự là quan trọng nhất. Tôi có thể mất mọi thứ, nhưng không bao giờ để mất danh dự cả.

– Giáo sư có bao giờ thất hứa?

– Tôi đã vài lần thất hứa khi còn trẻ, và người ta bắt đầu bàn tán xôn xao. Tôi cảm thấy rất khó chịu việc người khác cứ nói xấu sau lưng mình. Từ đó, tôi quyết không bao giờ thất hứa.

– Với Giáo sư, giờ giấc có quan trọng?

– Tôi không bao giờ đến muộn trong gần 30 năm nay. Và tôi cũng không ngày nào nghỉ làm cả. Công việc với tôi là một niềm vui thú.

– Ông có được nhiều đồng nghiệp, sinh viên yêu quý?

– Tất nhiên, đó là tất cả những gì ý nghĩa với tôi (ông vừa nói, vừa cười đầy tự hào).

Cuộc trò chuyện kéo dài một tiếng. Cô phóng viên rất hài lòng. Lần đầu tiên trong đời cô gặp một người thầy mực thước như vậy. Gần ông, cô cảm giác rất ấm áp, được che chở, được quan tâm, được lắng nghe. Những ai được học ông quả thực là may mắn.

***

Vị giáo sư thứ hai hẹn gặp cô tại trường học. Khi cô đến, ông đang giảng bài cho sinh viên, nên cô được mời tham gia lớp học luôn. Cô phóng viên xin phép rằng liệu giáo sư có thể giảng về danh dự được không. Ông cười hiền và đồng ý.

Giáo sư yêu cầu cả lớp, mỗi người cầm lên một vật có ý nghĩa với mình nhất bây giờ, đứng dậy và giơ nó lên. Cô phóng viên cũng cầm cốc nước trước mặt và giơ lên.

Tiếp theo, giáo sư yêu cầu giữ càng lâu càng tốt. 10 phút trôi qua, mọi người vẫn giữ được. 15 phút, những ai cầm những vật nặng thì đã bắt đầu hạ tay xuống. Cô phóng viên đầu hàng sau 30 phút, cùng hơn một nửa lớp. Sau 60 phút, người cuối cùng cũng phải đầu hàng và buông tay xuống.

Lúc này ông giáo sư mới hỏi cả lớp:

– Ban đầu, khi cầm một vật và nâng nó trước mặt, các em cảm thấy thế nào?

– Thưa thầy, rất thoải mái ạ.

– Sau 5 phút thì sao?

– Dạ, bắt đầu mỏi tay ạ.

– Sau 30 phút?

– Dạ, đau tay đến không chịu được.

– Em nào cầm vật nhẹ thì có đau tay không?

– Dạ, em cầm mỗi tờ tiền polyme giơ lên, nhưng cũng chỉ chịu được 60 phút. Đau lắm.

Ông Giáo sư ôn tồn nói:

“Vật các em nâng lên cũng như danh dự của các em vậy. Không quan trọng là danh dự của các em nặng bao nhiêu gam, chỉ cần giữ lâu thì chắc chắn sẽ rất đau.

Không ai có thể giữ danh dự cả đời được cả. Ngay cả những người hết sức vĩ đại trên đời này cũng vậy. Ngay cả Đức Phật cũng chịu bao nhiêu lời phỉ báng từ những người đạo khác. Ngay cả Chúa Giê su cũng bị treo trên cây Thánh giá. Ngay cả ông Washington, cha đẻ của Huê Kỳ, cũng bị con cháu thời nay lôi ra đâm xỉa xem đã ngủ với bao nhiêu nô lệ da đen.

Vậy nên, đừng cố giữ danh dự làm gì cả. Hãy hành xử đúng với trái tim các em.

Đừng cố tỏ ra là người tốt trước mặt mọi người, hãy cố gắng làm điều tốt nhất cho mình và cho người khác.

Các em hãy xem trái tim mình hát ở đâu, và hãy làm theo điều trái tim mình hát.”

Ông nhấp ngụm trà chay HAPI Vegan do nhóm học trò mới tặng và nói tiếp:

“Hồi trẻ thầy cũng đã từng làm hết sức để giữ danh dự của mình. Rồi đến một ngày thầy cũng nhận ra, càng cố giữ lâu thì lại càng đau, như ta cầm cốc nước vậy.

Thầy cũng đã từng làm mọi chuyện để có được sự kính trọng từ học trò các em và đồng nghiệp. Thầy cố giảng bài thật hay, ăn mặc thật lịch lãm, thầy quan tâm tới các thầy cô giáo khác.

Ban đầu thầy nghĩ là vì học trò, vì đồng nghiệp. Rồi một ngày thầy nhận ra, sâu xa nhất thầy làm tất cả là vì mình, vì cái danh dự của mình. Thầy muốn lau nó mỗi ngày, rồi đặt nó lên cao để mọi người ngước nhìn nó và trầm trồ thán phục. Thầy đã từng sống như thế. Mọi người rất yêu thầy, nhưng thầy thấy thật mệt mỏi vì luôn phải ôm cái cục danh dự của mình.

Đến khi hiểu, thầy buông nó xuống. Chỉ đến khi đó, thầy làm mọi chuyện thật tự do. Thầy mặc những bộ đồ thầy thích, không quan tâm xem ai nói mình thế nào, chỉ chú tâm sao cho học trò được tiến bộ, giúp đồng nghiệp phương pháp giảng bài hay, giúp tất cả mọi người trong công việc và cuộc sống.

Khi không còn quan tâm tới danh dự của mình, chỉ lúc đó, thầy thấy mình thật hạnh phúc.”

Ông vừa nói dứt, cả lớp vỗ tay không dứt. Cô phóng viên rưng rưng cảm động và sung sướng. Ngày hôm nay, cô và những người sinh viên này đã học được một bài học thật đáng quý.

Cô bước ra ngoài, hít một hơi thật dài. Cái lạnh đầu đông thấm vào cổ họng, chạy thẳng xuống dạ dày mát lạnh.

Hai người thầy hai phong cách. Thầy đầu tiên mang cho cô cảm giác ấm áp của một người cha. Người thầy thứ hai mang cho cô sự thức tỉnh thật mát lành, như nước suối nguồn.

Thầy đầu tiên, cô coi như thần tượng. Thầy thứ hai giúp cô thấy có một thứ gì đó nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ nổi lên trong cô.

Mãi nhiều năm sau cô mới biết, người thầy thứ nhất cho cô sự ngưỡng mộ, còn người thứ hai cho cô sự hiểu biết và hiểu biết là thứ thuộc về cô, nó nảy mầm và nó sẽ lớn.

Cô đã có một ngày đầu tuần thật đẹp. Cô sống trọn vẹn ngày hôm đó mà rất hứng khởi nghĩ đến ngày gặp người thầy thứ ba.

**

Sau cuộc trò chuyện hết sức thú vị với hai người thầy với phong cách tuy trái ngược nhưng cùng rất thu hút, cô phóng viên trẻ đẹp tài năng đi tới gặp người thầy thứ ba. Lạ thay, người này chỉ có địa chỉ, chứ không có số điện thoại, mà lại chẳng ghi trường lớp nào. Cô bắt đầu tò mò…

Người thầy này sống ở Huế, gần con sông Hương êm đềm mơ mộng nên thơ. Cũng tại nơi đây, Trịnh Công Sơn đã say ngắm cô nữ sinh thướt tha tà áo trắng hàng ngày đi học dưới hàng cây long não mà làm nên tuyệt phẩm “Diễm xưa”.

Khi đến nơi, cô lần hỏi người dân xung quanh thì mới biết cái ông mà được mọi người yêu quý bình chọn này hóa ra là… một ông lái đò, nay đã tầm 70. Ông chèo đò giữa đôi bờ sông, đưa hàng trăm người qua sông mỗi ngày. Ông chèo đò sao mà lại được bình chọn là “Người thầy danh dự” nhỉ?

Thế rồi cô đến bờ sông và không khó để tìm ra bến đò. Cả một khúc sông dài chỉ có một ông lái đò. Cô trầm trồ: “Chỉ là ông lái đò thôi mà, có cần đẹp trai như vậy không chứ?”.

Cô lại gần và nói chuyện. Hóa ra, ông lái đò này chẳng biết gì về cái giải danh dự này cả. Ông hết sức điềm nhiên, không vui mà cũng không không vui khi biết tin mình được nhận giải thưởng cao quý này. Vẻ điềm nhiên này có lẽ đã tạo nên nét đẹp ở ông.

Ở người này, không hiểu sao, cô thấy sự an toàn, sự ấm áp, thân thuộc. Và rồi cô quên béng nhiệm vụ đến phỏng vấn mà thao thao kể cho ông về chính mình, về nghề báo mà cô mới tham gia, về những người cô may mắn được phỏng vấn trong những ngày chập chững vào nghề.

Ông lái đò nhìn cô phóng viên bằng ánh mắt trìu mến như nhìn đứa cháu yêu quý lâu ngày không gặp. Đợi cô dứt lời, ông nói: “Tôi cũng có chuyện này muốn kể cho cô. Tôi chắc là cô sẽ thích”…

– Cách đây mấy chục năm, tôi tốt nghiệp trường Sư phạm và về Huế làm giáo viên dạy Văn. Hồi trẻ, tôi đẹp trai lắm, lại còn tài hoa và hào sảng nên mấy cô nữ sinh mê tôi lắm. Mấy cậu nam sinh thì coi tôi như thần tượng.

Trong đó, tôi đặc biệt quý một cậu học trò. Cậu này nhà nghèo, học siêu giỏi, đĩnh đạc oai phong, đầy nghị lực. Cậu ấy học tôi 3 năm cấp 3 và lấy tôi là hình mẫu để cậu ấy cả đời vươn tới. Bây giờ, cậu ấy đã là một ông giáo sư danh tiếng, và cũng chính là người thầy đầu tiên mà cô tới phỏng vấn đấy.

Khi cậu ấy ra trường được vài năm, thì tôi gặp chuyện. Hồi đó, do đẹp trai quá mà tôi bị ông hiệu trưởng Chu Du ganh ghét, tìm cách hãm hại và đuổi tôi khỏi ngành.

Thế là tôi phải đi tìm việc và bén duyên với nghề lái đò này. Nhiều năm đầu, tôi cực kỳ oán hận ông hiệu trưởng, và dồn nén cái sự bực tức của mình lên vợ con.

Tôi chán đời nên đâm rượu chè, rồi đánh vợ đánh con. Từ một người thầy trẻ tương lai tươi sáng vậy mà đùng một phát trở thành anh lái đò thấp kém, tôi không cam tâm. Cuộc sống tôi thật đen tối trong suốt nhiều năm như vậy.

Thế rồi, mọi chuyện thay đổi trong một chuyến đò chiều cách đây 20 năm.

Hôm đó, tôi chở vài người qua sông, gồm một sư thầy nổi tiếng khắp vùng, hai đệ tử theo hầu, hai mẹ con một thiếu phụ, một cậu thanh niên ước chừng 30 đang bước đầu vào nghiệp kinh doanh, một ông thầy giáo trẻ và một ông say rượu.

Đò đến giữa sông, đứa bé mải nghịch nước mà ngã xuống, la lên inh ỏi. Bà mẹ không biết bơi nên cầu cứu mọi người trên đò cứu đứa bé. Ông say rượu kia đang lơ thơ thì tỉnh đầu tiên và quay sang hỏi vị sư danh tiếng (lúc đó đang nhắm mắt tọa thiền): “Ông có biết bơi không?”

Vị sư đáp: “Tôi có biết bơi, thưa thí chủ”.

Thế là ông say rượu đột nhiên đạp vào mông sư thầy té xuống sông rồi nói “Vậy thì cứu đứa bé đang sắp chết đuối kia đi”.

Sư thầy như chợt bừng tỉnh, vội bơi ra kéo đứa bé đưa lên đò. Hai đệ tử theo hầu thầy tức tối xông lên định đánh ông say rượu. Sư thầy quát đệ tử “Dừng lại”.

Rồi ông tới gần, cúi lạy ông say rượu một lạy: “Xin cám ơn ông, nhờ ông mà tôi đã thức tỉnh”.

Rồi ông quay sang giảng giải cho hai đệ tử đi cùng:

“Các con à, ta xưa nay quá chú trọng vào hình thức, phải đi đứng khoan thai, phải ở chùa đẹp, phòng ốc gọn gàng, bàn thờ thanh tịnh.

Do quá chú trọng mấy thứ bề ngoài như vậy nên ta quên mất đi vào sửa cái bên trong. Rồi người khác cũng chỉ nhìn thấy vẻ ngoài cao cao tại thượng của ta mà lầm ta đã đắc đạo.

Họ càng tôn thờ ta thì cái cục danh dự mà họ phong cho ta càng lớn. Ta dồn quá nhiều năng lượng trông coi cái cục danh dự ấy, luôn luôn sợ nó mất sáng mất đẹp mà quên đi mất việc chính của mình là phải tu tâm.”

Rồi ông đột ngột ném chiếc áo cà sa hàng hiệu, đính đầy đá quý của mình xuống sông. Trước sự ngạc nhiên của hai đệ tử, ông giải thích:

“Chiếc áo không làm nên thầy tu. Nhưng vì chiếc áo này mà đã ngăn ta xuống cứu đứa bé. Ta chỉ bo bo giữ thể diện, giữ cái tiếng thầy nổi tiếng của mình mà thôi, rồi ta quên mất trước mắt ta có một người đang chết đuối. Trong khi đó, vị thí chủ kia dù say rượu nhưng thấy người hoạn nạn là lập tức tỉnh ngay. Vị ấy cố tình đá vào mông ta nhằm đánh thức ta.

Hôm nay, ta đã học được một điều thiêng liêng. Bất kỳ ai trên đời nếu giúp ta nhận ra cái sai thì đều là thầy ta. Mà sai thì sửa. Con đường ta đi từ giờ sẽ là không sợ sai, nhận sai và sửa sai”.

Ba thầy trò cùng nhìn mặt sông tĩnh lặng, mặt tràn đầy hạnh phúc.

Cậu thanh niên trên đò chứng kiến từ đầu câu chuyện cũng bừng tỉnh. Cậu đã 30 tuổi, đã bước vào nghề kinh doanh một thời gian nhưng sao cứ lao đao mãi. Đến hôm nay cậu mới ngộ ra hóa ra để thành công thì cần không sợ sai. Chỉ đơn giản vậy thôi. Không sợ sai thì mới thấy cái sai của mình và sửa sai. Nhận ra càng nhanh thì sửa càng nhanh. Niềm vui thú đến quá đột ngột khiến tóc trên đầu cậu ngay lập tức bạc một nửa. Nhiều năm sau này, giới doanh thương gọi cậu là Dương Quá, một doanh nhân thành đạt cả tâm cả trí.

Thầy giáo trẻ cũng vừa quá 30. Nghe xong câu chuyện, ngay lập tức tóc cậu rụng hết. Con người cũ chỉ chăm chăm lau chùi danh dự hàng ngày, đặt nơi cao nhất cho mọi người chiêm ngưỡng đã biến mất. Từ đó, cậu sống tự do với trái tim mình, đi theo nơi nào trái tim mình hát. Cậu ấy bây giờ chính là người thầy thứ 2 mà cô đã phỏng vấn đấy.

Còn tôi, tôi thấy thật sự hạnh phúc, vì chỉ vài phút ngắn ngủi mà bao nhiêu chuyện đã xảy ra.

Người thầy tu học được cách tu tâm, chứ không tu tướng như trước đây.

Người doanh nhân trẻ học được bài học về thành công ở đời là không sợ sai.

Người thầy giáo trẻ học được cách đặt danh dự xuống và sống tự do theo trái tim mình.

Hóa ra, nghề chèo đò cũng có thể làm được nhiều điều có ích vậy.

Và tôi cũng hiểu, tôi có thể mang trái tim một ông giáo với cái vỏ là một người chèo đò.

Kể từ đó, mỗi chuyến đò, tôi kể lại câu chuyện này. Tôi tiếp tục học nhiều thứ, chia sẻ, giúp đỡ những người đi đò. Tôi dạy dỗ cả những em học sinh hàng ngày vẫn đi qua chiếc đò nhỏ này. Mỗi ngày hàng trăm người. Tôi mang trái tim của một thầy giáo tới hàng trăm người mỗi ngày, được giúp đỡ họ về mọi thứ vướng mắc trong cuộc sống của họ. Có lẽ chính họ là người bình chọn tôi trong cái giải này mà chính tôi cũng không hề quan tâm.

Vì tôi hiểu mình cho đi, nhưng mình không hề mong nhận lại bất cứ cái gì, không mong đợi lòng biết ơn, không mong ai phải tôn trọng mình, không vì giải thưởng hay cúp nào cả. Tôi đơn thuần chỉ giúp tất cả mọi người tôi có thể giúp. Tôi yêu nghề chèo đò. Tôi tự do và hạnh phúc, và gia đình tôi cũng hạnh phúc hơn rất nhiều kể từ ngày đó.

Đó là toàn bộ câu chuyện.

Cô phóng viên trẻ lắng nghe hồi lâu. Cô thấy mọi chuyện thật huyền diệu. Mọi chuyện cô thấy thích thú trong những ngày gần đây hóa ra đều xuất phát từ một chuyến đò. Và rồi cô chợt khóc. Mẹ cô vẫn hay kể lại chuyện hồi nhỏ cô nghịch nước trên đò và bị rơi xuống sông, rồi may mắn được một sư thầy cứu giúp. Đã hai mươi năm rồi. Và sứ mệnh của cô là viết lại câu chuyện tuyệt vời này cho nhiều người được biết.

Cô gạt nước mắt và quay sang hỏi ông lái đò: Ông có biết vị sư thầy và ông say rượu nọ nay ở đâu không?

Ông lái đó cười hiền từ: Tôi biết.

…..

Cô phóng viên, sau duyên tao ngộ kỳ lạ với ông lái đò, đã xin địa chỉ của sư thầy, người đã cứu mạng cô hai mươi năm về trước. Ông đang là trụ trì một ngôi chùa nhỏ ở ven hồ Tây.

Sau khi trở về Hà Nội, cô lập tức tới gặp sư thầy. Ông nay đã lớn tuổi, tóc râu bạc trắng, ung dung tự tại, điềm nhiên như mặt hồ tĩnh lặng.

Vừa trông thấy sư thầy, một sự rung động mãnh mẽ nổi lên trong lòng cô gái. Cô kể lại toàn bộ quá trình cô tìm được thầy để cảm ơn, từ cuộc bình chọn “Người thầy danh dự”, tới những cuộc phỏng vấn kỳ lạ.

Nghe xong, ông nhấp ngum trà, rồi nói với cô:

– Con gái à, tòa soạn báo các con nhọc công đi tìm người thầy danh dự, vậy con có thể cho ta biết danh dự của con đâu không, có thể lấy ra cho ta xem không?

– Dạ, ý thầy là gì ạ? – cô phóng viên trẻ ngỡ ngàng.

– Theo con, thế nào là danh dự?

– Dạ, danh dự là tất cả những gì người khác nghĩ về mình.

– Vậy thì nếu người khác nghĩ về con chính là danh dự của con thì danh dự của con nằm trong tay ai, trong tay con hay trong tay người khác?

Cô gái sững người, lặng một lúc rồi trả lời: “Thưa thầy, danh dự của con nằm trong tay người khác ạ.”

Sư thầy lại nhấp ngụm trà, bình thản nói: Danh dự của con nằm trong tay người khác, vậy con có tất cả bao nhiêu cục danh dự? Mỗi người nghĩ về con giống nhau hay khác nhau? Hoàn toàn khác nhau. Ai cũng có suy nghĩ của họ.

Nếu vậy thì mỗi người lại nắm giữ một cục danh dự của con. Vậy thì có hai vấn đề:

. Thứ nhất, danh dự của con nằm trong tay người khác nên nếu con quá coi trọng thứ gọi là danh dự đó, coi hạnh phúc của con nằm ở danh dự, thì khác nào hạnh phúc là thứ quý giá nhất với con mà con lại trao trong tay kẻ khác.

. Thứ hai, có hàng nghìn cục danh dự như vậy, con có thể nào lau chùi cho nó sạch sẽ được không. Trong khi nếu muốn, bất kỳ ai cũng có thể làm bẩn cục danh dự của con, vì nó nằm trong tay họ.

Con gái à, như vậy, cái danh dự mà các con tôn vinh liệu có thực sự cần thiết không? Mỗi người sẽ nghĩ về con với một phiên bản khác nhau. Dù con có là thiên thần, có tốt đẹp đến đâu chăng nữa, thì vẫn có một nửa thế giới coi con là ác quỷ, vì đơn giản, với một tâm xấu ác thì họ thường sẽ nghĩ ai cũng xấu ác. Họ không thể nào hiểu nổi phẩm tính mà họ không có.

. Cái ông thầy đầu tiên trong câu chuyện của con, rồi ngày nào đó ông ta sẽ phải khổ, vì cố giữ cái không thể nào giữ nổi. Ông ta chỉ sống theo cái mà xã hội muốn ông ta là, chứ không phải cái ông thực sự là. Ông ta nằm trong nhà tù của xã hội phong cho ông ta.

. Ông thứ hai, biết buông xuống có thể sống một đời nhẹ nhàng.

. Ông thứ ba, không còn nghĩ tới nó, biết giữ trái tim đẹp – không quan tâm cái vỏ, làm từng việc nhỏ theo trái tim mình hát, sẽ có một đời tự do tự tại.”

Cô phóng viên trẻ thực sự cảm động. Những lời của sư thầy đã đi sâu vào trái tim cô. Cô không kiếm tìm, nhưng cô nhận được.

Có lẽ do dòng nhân quả cứ thế trôi, nghĩ tốt sống tốt sẽ có ngày nhận được những điều tốt, gặp được những người tốt. Cô biết ơn cuộc đời đã cho mình gặp được những con người kỳ lạ, được nghe những câu chuyện sâu sắc này. Cô cảm thấy vui hơn. Cô yêu đời hơn, yêu cỏ cây, hoa lá một cách nhẹ nhàng.

Hồ Tây thật tĩnh lặng. Mặt nước thật đẹp. Lòng người cũng nhẹ nhàng hơn…

– Vũ Thái –

Bức thư của người đàn ông tên Cố Điển Điển đăng trên trang cá nhân khi vừa chia tay vợ được 24 giờ

Mạng xã hội ngày hôm nay đang ‘dậy sóng’ bởi bức thư của người đàn ông tên Cố Điển Điển đăng trên trang cá nhân khi vừa chia tay vợ được 24 giờ:

“Hôm qua, tôi đã ly hôn vợ. Khoảnh khắc bước chân vào Cục dân chính, tôi tràn đầy niềm vui bởi từ giờ sẽ không bao giờ phải nghe người phụ nữ này cằn nhằn nữa. Tôi có thể thản nhiên hút thuốc hoặc đi nhậu với bạn bè, về nhà không còn nhìn thấy khuôn mặt cau có và già nua của cô ấy.

Mặc dù bố mẹ tôi không đồng ý việc ly hôn và nói rằng thật đáng thương cho hai đứa trẻ, nhưng tôi đã chịu đựng nhiều năm rồi và không thể tiếp tục được nữa. Đối với các con quả thật tôi có lỗi, nhưng đều đặn đóng tiền sinh hoạt hàng tháng, chúng sẽ vẫn yêu tôi và mang họ của tôi.

Sau khi ly hôn, tôi hẹn vài người bạn đi uống bia. Họ đều ghen tị khi biết tôi bây giờ rất rảnh rỗi. Một trong những người bạn nhận được cuộc gọi từ vợ khi anh ta vừa ăn được nửa bữa cơm, hỏi khi nào về nhà. Một người khác nhận được điện thoại từ đứa con, nói rằng đợi bố về để cùng giải bài tập.

Lúc chưa ly hôn, vợ cũ chắc chắn sẽ gọi điện cho tôi, hỏi vài câu ngớ ngẩn với giọng điệu tức giận. Mỗi lần như vậy tôi chỉ đáp vài câu chiếu lệ rồi dập máy. Nhưng bây giờ thì khác, tôi đã tự do, sẽ chẳng ai gọi điện làm phiền và cũng chẳng ai nhắn tin giục về.

Thật sự, có vài giây trong buổi tối đó, tôi có cảm giác người từng ở bên cạnh mình không còn nữa. Nhưng ngay sau đó, cảm xúc này bị tôi lãng quên, và dự định sẽ uống rượu với bạn bè cả đêm. Nhậu đến 1h sáng tôi bắt taxi về , trời đã tối và trong nhà không có ánh đèn, tôi vô thức gọi tên “vợ” và chợt nhận ra mình đã ly hôn. Tôi nằm trên giường, khát khô cổ và muốn uống một cốc nước nhưng chẳng ai rót nước cho. Tôi định đi tắm, nhưng không tìm thấy bộ đồ ngủ của mình.

Hôm sau tôi ngủ một giấc đến 10h sáng, mở mắt ra thấy căn phòng im ắng khủng khiếp, không ai gọi tôi dậy ăn sáng. Tôi đứng dậy và đi vào bếp, nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Trong tủ lạnh có thịt bò và vịt, tất cả các món yêu thích , nhưng không ai chế biến giúp tôi bây giờ. Cuối cùng tôi chọn một gói mì ăn liền. Không còn ai ngăn cản chuyện ăn đồ nhanh không tốt cho sức khỏe nữa. Trong nhà im ắng, không một tiếng động nào.

Sau khi ăn no, tôi nằm trên ghế sofa, vô tình nhặt được bài kiểm tra của con gái thứ hai rơi ở gầm ghế. Tôi mở ra xem mới biết con mình đã học tới lớp 5, phía dưới bài kiểm tra có chữ ký của vợ cũ.

Lần đầu tiên tôi phát hiện ra vợ mình làm tất cả những việc trong gia đình này.

Mới 24 giờ kể từ khi ly hôn, tôi cảm tưởng đã trải qua một tuần. Đây rõ ràng là nhà của mình, tuy sống ở đây nhưng luôn cảm thấy mọi thứ đều xa lạ.

Tôi không thể tìm thấy bộ quần áo muốn mặc, không nhớ cái bấm móng tay ở đâu. Khăn giấy vệ sinh không còn nữa, cũng chẳng biết tìm ở đâu để thay thế. Căn bếp cũng trở nên xa lạ, đã không còn mùi thơm nữa. Sàn phòng ngủ bẩn nhưng tôi chẳng muốn động tay chân.

Đột nhiên tôi cảm thấy mình đã trở thành “đồ bỏ đi”, chẳng biết làm gì ngoại trừ việc đi làm. Tôi thực sự hối hận, chỉ 24 giờ sau ly hôn, tôi bắt đầu nhớ những ngày tháng bên vợ.

Trước đây, tôi luôn nghĩ làm phụ nữ thật dễ dàng, đàn ông kiếm tiền nuôi gia đình mới khó nhưng giờ tôi mới phát hiện vợ mình không sống dễ dàng chút nào. Cô ấy phải làm việc không kém gì đàn ông với những công việc không tên.

Tôi thấy vợ mình già nhanh chóng, đôi khi chế nhạo cô ấy là “vợ béo” nhưng không biết lý do vì sao lại vậy. Đó là vì cô ấy ăn uống đạm bạc và không bao giờ mua các sản phẩm chăm sóc da đắt tiền, chăm chút cho bản thân.

Tôi từng không thích vợ mình cằn nhằn, nhưng giờ mới hiểu đó là cách làm của nhiều phụ nữ quan tâm tới chồng. Cô ấy dặn tôi không được hút thuốc, không nghe điện thoại khi lái xe và không uống quá nhiều rượu vào ban đêm. Cái nào trong số này không phải vì lợi ích của tôi?

Trên đời này thứ không mua được chính là thuốc hối hận. Có những người chỉ biết quý giá thứ gì đó khi đã mất đi. Thật nực cười, tôi phát hiện ra mình thuộc loại người này.

Tôi nhớ khi mới kết hôn, vợ cũ chỉ là một cô gái mỏng manh và dịu dàng. Sau này, khi sinh con, nghe cô ấy hét lên đau đớn trong phòng sinh, lúc đó tôi tự nhủ mình phải dành cả cuộc đời để bảo vệ và nâng niu vợ. Nhưng bao năm rồi tôi không cho cô ấy được sống một ngày thoải mái, có khi công việc không suôn sẻ, về đến nhà là tôi phải xả hơi vào vợ, dẫn đến cãi vã triền miên.

Tôi thấy trên mạng có câu: Đàn ông bất tài thích quát mắng vợ.

Tôi từng ghét và phản đối câu nói này, bây giờ nghĩ lại, có lẽ tôi quá bất tài, không thể cho cô ấy và hai đứa con điều kiện sống tốt . Đôi khi cô ấy vu vơ nói kiếp sau sẽ không muốn trở thành phụ nữ, giờ thì tôi mới hiểu.

Chỉ một ngày sau ly hôn, tôi phát hiện ra trong gia đình có quá nhiều việc đều do cô ấy làm. Không phải ngày một ngày hai mà là hơn mười năm rồi, tôi cũng tự hỏi bản thân ngoài việc kiếm tiền cho gia đình, mình còn làm được gì nữa không?

Tôi không nấu ăn, không giặt quần áo, thậm chí không buồn vò đôi tất bẩn cũng như chưa bao giờ đi đổ rác. Tôi cũng không kèm bài tập về nhà cùng con và chưa khi nào đưa con đến trường. Ngay cả khi bố mẹ tôi bị ốm, vợ cũng là người phải chăm sóc.

Cô ấy ăn uống đạm bạc và không bao giờ chịu mua những thứ đắt tiền, nhưng lại rất hào phóng với tôi, vì sợ chồng mất mặt bên ngoài. Cô bận rộn nhất khi gần đến Tết, không chỉ dọn dẹp nhà cửa mà còn chuẩn bị những bữa cơm thịnh soạn.

Và bây giờ, tôi đã ly hôn với cô ấy.

Tôi từng nghĩ ly hôn nhất định sẽ tìm được người khác tốt hơn, trẻ trung hơn. Nhưng soi gương thấy cái bụng bia nhô cao và mái tóc thưa dần, có lẽ chẳng còn ai yêu tôi như cô ấy từng yêu.

Cuộc đời của một người phụ nữ, kể từ khi kết hôn, giống như dành những năm tháng đẹp nhất của mình cho một người đàn ông. Điều một người đàn ông cần là bảo vệ, cưng chiều và coi vợ như một công chúa nhỏ.

Giờ tôi đã hiểu chân lý này, nhưng mọi thứ đã quá muộn.

Nếu ông trời cho tôi một cơ hội, tôi sẽ không bao giờ cãi nhau với cô ấy nữa, và cũng không nói câu “ly hôn” một cách bốc đồng”

From: TU-PHUNG

Nỗi Ân Hận Muộn Màng-TRUYỆN NGẮN – TƯỜNG GIANG

Van Pham

TRUYỆN NGẮN – TƯỜNG GIANG

Nỗi Ân Hận Muộn Màng

Anh Hai là con trai duy nhất mà 30 tuổi vẫn độc thân nên ba má tôi sốt ruột lắm. Hồi đó, tới tuổi băm mà “chưa có gì” thì thế nào cũng xảy ra nhiều suy diễn kiểu như “chắc thằng đó kỹ tính quá”. Đàn ông con trai mà bị mang tiếng kỹ tính thì coi như… hết cứu.

Chị em tôi lần lượt “bấm còi” vượt mặt, anh Hai vẫn giậm chân tại chỗ, mặc kệ má tôi bồng bế cháu ngoại, nói gần nói xa, rồi hỏi thẳng: “Tới chừng nào con mới chịu cho má bế cháu nội?”. Anh Hai cười hì hì trốn sự thúc giục của má bằng cách xách cưa và búa lên chùa.

Ba má tôi là Phật tử, từ khi còn nhỏ, anh chị em tôi đã được ba má dắt tới chùa lễ Phật và tập làm công quả như quét sân, kết hoa vải, dọn dẹp trong những ngày lễ lớn… Nhà chùa đang chuẩn bị mở lớp học cho các em nhỏ lang thang. Bàn ghế thu gom từ các nơi cần được sửa chữa và anh Hai đảm nhận phần việc này.

Trong số các giáo viên tình nguyện đến dạy các em, có một cô dạy toán là người theo đạo Công giáo. Chuyện bắt đầu từ đây. Anh Hai tôi thường xuyên lên chùa nhưng không chỉ để làm công quả mà còn để đưa đón cô dạy toán.

Ba má tôi cắn răng thở dài, ông bà mong biết mấy được thấy con trai có đôi có cặp, nhưng khi có rồi thì vui không nổi. Con trai đầu có bổn phận cúng kính mà lấy vợ khác đạo thì làm sao?

Anh Hai biết tình yêu của mình gây khó cho ba má, nên chẳng dám nói năng gì, cũng không dám đưa chị về chào gia đình. Tôi hỏi nhỏ: “Anh đã tới chào ba má chị chưa?”. Anh Hai lắc đầu. Tôi hiểu là nhà bên đó cũng chẳng đồng tình.

Hai gia đình biết rõ con mình thương ai, nhưng làm như không biết. Thời đó, chuyện yêu đương mà chưa có tiếng nói của người lớn thì coi như chuyện ngoài đường. Giả vờ như không biết, nhưng ba má tôi âm thầm theo dõi, thấy anh đưa chị đi lễ nhà thờ. Và nhà bên ấy cũng thầm theo dõi, thấy chị theo anh lên chùa lễ Phật ngày rằm. Hai bên cùng thấy, cùng biết và cùng nín lặng chờ đợi.

Chờ đợi gì cũng không rõ, có lẽ, không bên nào muốn là phía đầu tiên thốt lời khiến con mình đau khổ.

Mối tình của anh Hai kéo dài đến năm thứ ba thì má tôi không kiên nhẫn được nữa. Con mình là con trai, lỡ có bề gì thì mang tiếng ác với con gái người ta. Má ra tối hậu thư “hoặc tình, hoặc hiếu”. Anh Hai cúi đầu chọn bên hiếu.

Lựa chọn của anh Hai khiến má mềm lòng, nhưng thật ra, do âm thầm theo dõi, má đã sinh lòng mến thương người con gái hiền ngoan, vừa đẹp vừa nhân hậu, biết đến với trẻ em khốn khó. Được con dâu như vậy thì cũng đáng để má chịu lùi một bước. Má thuyết phục ba cho phép anh Hai ngỏ lời với nhà bên đó, với điều kiện đạo ai nấy giữ.

Ba má chị lắc đầu, với lời phân tích ngọn ngành rành mạch là phải từ chối người con trai nghề nghiệp đàng hoàng, tính tình tử tế, hiền lành thì cũng tiếc lắm, nhưng mai này sinh con ra thì làm sao? Đứa nào theo cha lên chùa, đứa nào theo mẹ đi nhà thờ? Ừ thì cho phép chúng tự chọn đức tin, nhưng khi mới sinh ra chưa biết gì thì cha mẹ là người dìu dắt, lúc đó làm lễ rửa tội thì sao? Đã nhận lễ rồi thì dĩ nhiên là con của Chúa, ông bà nội có chịu không?

Câu trả lời của ba má tôi là không, cháu nội nhất định phải theo đạo nhà mình.

Vậy là anh chị chia tay. Để khỏi gặp gỡ, khỏi xao lòng, chị không đến chùa dạy lớp học tình thương nữa, người thay thế chị là anh Hai. Trước đó, anh chỉ làm những việc công quả cần sức vóc đàn ông, tới lúc ấy, anh nhận luôn việc dạy học. Bọn trẻ thắc mắc:

– “Sao cô không dạy tụi em nữa hả thầy?”,

anh Hai trả lời:

– “Tại các em làm cô buồn”.

Bọn nhóc chẳng hiểu câu trả lời này, thường ngày đứa nào cũng có nhiều lần nói chuyện trong lớp, không làm bài tập về nhà, rồi cãi nhau chí chóe… Cô giáo buồn là đúng rồi.

Anh Hai gầy sọm đi. Cả nhà tôi thở dài, bệnh buồn tình chỉ có thầy thuốc thời gian chữa lành mà thôi. Chữa lành thật không, tôi tự hỏi khi thấy anh Hai vẫn đi về một mình, vẫn cười cười nói nói nhưng ánh mắt chẳng còn sáng lên lấp lánh.

Rồ một ngày, tai nạn xe cộ bất ngờ cướp đi mạng sống của anh Hai. Đám tang anh, chị lặng lẽ đến vào buổi tối, khi khách viếng đã ra về hết. Chị lặng lẽ chảy nước mắt trước di ảnh của anh. Nén nhang chị thắp cũng như người, lặng lẽ tỏa làn khói mỏng mà làm cay mắt tất cả. Ba tôi lau nước mắt quay mặt đi, còn má tôi ôm lấy chị mà nức nở. Quá muộn màng!

Sư thầy nói tục lệ đốt quần áo cho người chết đem theo là mê tín dị đoan, lãng phí, thay vì vậy, hãy đem làm từ thiện để làm phước. Tôi rủ chị xếp áo quần của anh để đem đi cho. Những ngón tay chị run run vuốt từng nếp vải như đây mới đúng là lần cuối cùng chị được chạm vào anh. Tôi chọn cái áo màu xám tro anh hay mặc, muốn nói chị hãy đem về giữ cho riêng mình, nhưng cái đầu tỉnh táo của tôi lại nghĩ, nỗi nhớ đã đủ làm khổ chị rồi, tốt nhất là để chị quên anh đi.

Tục lệ quê tôi là người vừa nằm xuống sẽ cảm thấy lạnh lẽo nên hàng ngày sẽ đốt củi sưởi ấm ngôi mộ. Sáng sớm, tôi chở má xuống nghĩa trang, ngang qua cổng, ông bảo vệ hỏi thay lời chào:

– “Con dâu của dì là cô giáo hả?”.

Má tôi chảy nước mắt nhìn chị và bọn nhỏ lớp tình thương xúm xít mỗi đứa một khúc củi xếp lên nhau. Rồi những bàn tay nhỏ bé khum khum nối nhau che gió cho chị mồi lửa.

Tôi và má đứng lại ở xa xa nhìn tới, để cho chị được tự do chăm sóc anh. Má tôi vừa khóc vừa nói:

– “Biết vậy thì hồi đó má đã gật đầu. Chúa và Phật đều dạy người ta thiện tâm mà”.

Không ai biết trước được điều gì, nếu biết trước thì chẳng ai nỡ làm đau người khác. Tôi thường nói vậy để an ủi ba má và cũng là tự nói với mình. Tới tận ngày giỗ lần thứ năm của anh Hai, sáng sớm mang hoa xuống mộ, tôi vẫn gặp chị bên cạnh đống lửa; lứa học trò ngày đó đã phiêu bạt khắp nơi, chị ngồi một mình…

CHỮ “TÍN”

 

CHỮ “TÍN”

Mũ Đỏ Trương Văn Út, danh hiệu truyền tin Út Bạch Lan.

LTSCựu Đại Úy Trương Văn Út, cựu SVSQ Khoá 22/TVBQGVN. Ông là ĐĐT Đại đội 5, Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù/ Lực Lượng Đặc Biệt.

Sau ÐÐ5 Biệt Cách Nhẩy Dù cải tuyển thành Đại Đội 2 Trinh Sát Nhảy Dù/SĐND, được các cựu SVSQ/Khoá 22/TVB Quốc Gia VN gọi là “Lão Ngoan Đồng”. Ông vượt thoát khỏi trại tù CS (Long Giao). Mấy năm trời sống lanh quanh thành phố Saigon, trước khi vượt biên (1982) đến trại tị nạn Mã Lai. Ông hiện định cư tại Houston, Texas.

***

Tôi chỉ có một bà chị dâu duy nhất. Chị kết hôn với người anh thứ ba của chúng tôi nên tôi gọi là Chị Ba. Tên của chị là Trần Sâu Lầy. Nghe qua cái tên thì biết ngay Chị là người Việt gốc Hoa. Chị sinh quán ở xã Cây Dừa, Quận Cai Lậy, Mỹ Tho, xuất thân Sư Phạm Sài Gòn, làm cô giáo ngay tại nơi sinh trưởng của mình.

Anh của tôi là Trương văn Nhì (Khoá 15 Võ Bị Đà Lạt (VBĐL) phục vụ tại Trung Đoàn 12/ SĐ 7 Bộ Binh…

Theo lời kể, gia đình ông sở ông sơ của chị, thuộc dòng dõi Minh Hương bên Tàu, chạy tỵ nạn nhà Thanh sang lập nghiệp ở Cà Mau cùng thời với Mạc Thiên Tứ, Mạc Cữu….Cho đến đời Ông Cố, ông Nội vẫn còn ôm giấc mộng “Phản Thanh Phục Minh”…và đến đời thân phụ thì di chuyển về Cây Dừa, tỉnh Cai Lậy và chị được sinh ra nơi đây…

-Năm 1975… Anh của tôi đi tù caỉ tạo CS. Chị bị cho nghĩ việc vì vợ sĩ quan “Ngụy”… Chị chuyển sang nghề may vá, tần tảo nuôi ba đứa con còn nhỏ dại.

Khi tôi trốn ra khỏi trại tù CS ở Long Giao (1976), thỉnh thỏang lén lút ghé thăm Chị. Chị lúc ấy gầy rọp thân thể, lưng còm xuống, già lão trông giống như người đàn bà năm sáu mươi tuổi, mặc dù lúc ấy chị mới khoảng 26, 27 tuổi.

Ấy, vậy mà cứ sáu tháng một lần Chị phải gánh hai bao bố thức ăn khô, thuốc men, từ Sài Gòn ra đến trại Vỉnh Phú (miền Bắc) thăm nuôi Anh tôi trong tù.

-Năm 1987… Mười hai năm sau, anh được thả ra. Chị đã chuẩn bị sẵn cho Anh để vượt biên bằng đường biển, qua sự trung gian của gia đình người Hoa mà chị thân thích. Không may, Anh lại bị bắt và bị giam ở Mõ Cày (Bến Tre) chịu đựng ba năm khổ sai…

Sau đó, được tạm tha, trở về gia đình, sống trong bàn tay buôn tần bán tảo của Chị. Vợ chồng đạm bạc bên nhau, cho đến ngày cả gia đình được sang Mỹ với diện HO-5…

Ngày nay, gia đình anh chị tôi, đã ổn định. Con cái đã thành thân và thành nhân với một đàn cháu nội ngọai đề huề…Có lần tôi hỏi Chị

-Bí quyết nào giúp cho Chị vượt qua tất cả gian nan để có ngày nay?

Chị cười và nói:

-Có gì đâu! Chị có 9 đồng, chị cố kiếm thêm 1 đồng để đủ 10 đồng, rồi Chị dấu đi để phòng khi hữu sự. Còn tụi Em có 9 đồng, đi vay thêm một đồng để chén thù chén tạc với bạn bè. Tiền vất qua cửa sổ, chẳng bao giờ chạy ngược trở vào....

Đó là triết lý sống của người chị dâu gốc Hoa của tôi..

Năm 1979… Ngược giòng thời gian

Tôi ghé thăm Chị, khi anh tôi còn đang ở trại tù ngoài Yên Bái. Tôi sống lang thang không nhà không cửa, ngoài vòng pháp luật, vì đã trốn ra khỏi tù. Nhờ chị giới thiệu tôi với một gia đình người Hoa trong Chợ Lớn và tôi có việc làm chui “…

Mỗi sáng lúc 5 giờ, đạp xe đạp đến chỗ hẹn, nhận 3 cây vải sa-ten đen, chở lên Cầu Tre ( Phú Lâm) giao cho người nhận là một xưởng nhuộm lậu. Sa-ten là một lọai lụa, dùng để may quần cho đàn bà.

Buổi chiều lúc 3 giờ, trở lại nhận 3 cây sa-ten trắng đem về giao lại cho Chủ. Cứ mỗi chuyến ” giao hàng ” như vậy, Chủ trả cho 25 đồng tiền mới (tiền cụ Hồ – mỗi 500 đồng của VNCH đổi ra 1 đồng tiền Hồ).Thôi, cũng độ nhật qua ngày…

Ông Chủ trạc 60 tuổi, Tôi gọi là chú Quảnh , người Em của ông, là chú Xồi…Tôi không biết gia đình này có bao nhiêu người, nhưng hai anh em họ sống chung với nhau trong căn phố ba tầng ở đường Triệu Đà, Chợ Lớn. Căn phố cũ kỹ, đơn sơ, không một chút gì sang trọng như những căn phố gần đó.

Một hôm sau khi giao hàng, như thường lệ Chú Xồi trả công cho tôi 25 đồng. Tôi cám ơn, vội vã đạp xe đạp, giông tuốt rồi ghé quán càphê . Tôi móc tiền đếm lại thì tới 50 đồng, chứ không phải 25 đồng…

Trong hoàn cảnh khốn cùng này được đồng nào hay đồng nấy. Hớp vài ngụm cà phê, Tôi chợt giật mình vì chợt nhớ lại lời chị dâu tôi dặn:

– Em phải nhớ làm ăn với người Tàu, một cắc là một cắc , một đồng là một đồng, ăn gian nói dối thì không bao giờ làm ăn với Họ được…Họ làm ăn với nhau chỉ đơn giản với một chữ TÍN “…

Tôi bừng tỉnh, cong lưng đạp xe nước rút trở lại gặp Chú Xồi và trả lại 25 đồng mà Chú đã đưa dư…Chú cười và nhận lại tiền dư.

Tôi không biết chị dâu của tôi có nói gì với Họ về tôi hay không, nhưng một hôm, khi Tôi giao hàng, Chú Quảnh bảo Tôi:

Nị dào chong dữa mặt , zồi za ăn cơm dới Ngộ há ..

Trong bữa cơm gồm cả hai gia đình…Họ xí xô xí xào. Tôi không hiểu họ nói với nhau điều gì. Khi từ giã ra về, Chú Quảnh đưa tôi ra cửa và Chú hỏi nhỏ:

-Nị có phải là sĩ quan “ngụy” chốn học tập không hả ???.. Đừng sợ… Ngộ biết hết dồi lớ…từ từ mình sẽ tính…

Tôi bàng hoàng rời nhà chú Quảnh với nỗi cực kỳ lo sợ. Ngày mai có nên trở lại nơi này không ??? Không !!! chắc chắn là không…

Tôi chuyển hướng, thay vì đi thẳng đến bến xe An Đông tìm chỗ ngủ đêm như thông lệ, Tôi đạp xe qua bến Phạm Thế Hiển gặp chị tôi

Chị Ba! Chị có nói gì mà Họ biết Em là sĩ quan ngụy trốn trại cải tạo?

Với nụ cười hiền hậu Chị trả lời:

-Không có sao đâu, họ đang giúp Em đó…

Hai tuần sau, tôi có cái giấy Khai sinh giả mang tên Trần Chỉnh, sanh năm 1942…người Việt gốc Hoa …

Tôi (chỉ một mình tôi) cùng gia đình Họ , hơn 60 người gồm đàn ông, đàn bà và trẻ con, rời bến ở kinh Miệt Thứ, Rạch Giá ra khơi trên chiếc ghe đánh cá, ba block đầu bạc, đi tìm tự do.

***

Tàu ra khơi, nhưng không may, xế trưa ngày hôm saubị gảy bánh lái cách đảo Phú Quốc chừng 10 cây số về hướng Đông. Tàu bỏ neo để thay bánh lái phụ. Một chiếc tàu đánh cá quốc doanh Phú Quốc xáp lại gần. Tất cả chúng tôi vội vàng chui xuống dưới khoang ghe, phía trên chỉ năm ba người giả bộ như đang đi đánh cá.

Tàu đánh cá VC không xáp lại gần, mà chỉ chạy chậm lại. Ngang ghe chúng tôi vài chục mét, chúng vẩy vẩy tay chào rồi tiếp tục hành trình về hướng Phú Quốc.

Tôi và Chú Quảnh bò lên phiá sau lái hỏi anh Lợi, người tài công có mười năm kinh nghiệm đánh cá. Anh nói với chút lo âu:

Mình phải đi ngay, càng nhanh càng tốt, tôi đoán thế nào bọn chó đẻ đó cũng gọi Công an Biên Phòng…

15 phút sau ghe nhổ neo, vội vã lái về hướng Nam … Nhưng quá trễ. Hai chiếc PCF duyên tốc đỉnh phất phới ngọn cờ máu phiá sau chúng tôi với hằng tràng đại liên chỉ thiên đe dọa. Thế là chúng tôi bị bắt. Ghe được kéo về đồn Công An Biên Phòng ở Cây Gáo, sau đó bị tống vào trại giam của Ty CA Hình Sự Cà Mau, nằm phía bên kia cầu sắt. Bên này là chợ Cà Mau .

Thời gian này là lúc phong trào vượt biên bán chính thức đang nở rộ công khai. Người Hoa từ thành phố xuống Cà Mau được ưu đãi như khách du lịch có passport (thông hành) chờ xuất ngọai. Ghe của gia đình Chú Quảnh là ghe vượt biên lậu, nhưng nhờ thời điểm này, mà cả gia đình trên ghe của Chú Quảnh được đối xử không đến nổi tệ. Bọn CA chỉ lo vơ vét vàng… 5 cây, 10 cây… tùy số lượng để giải quyết vấn đề.

Tôi không biết gia đình Chú Quảnh hay Chú Xồi làm việc với bọn chúng bằng cách nào, vì mỗi lần Chú Quảnh được gọi lên văn phòng của chúng, khi trở về phòng giam, anh em họ chỉ nói chuyện với nhau bằng tiếng Tàu.

Hai ngày sau đàn bà con nít được CA đưa ra bến xe đò cho xe chở về SàiGòn… Đàn ông bị giữ lại chờ xét xử sau ..

Trong thời gian chờ đợi, Chú Quảnh dặn Tôi:

-Nị nhớ khai đúng tên tuổi trong khai sinh mà Ngộ đã đưa cho Nị … Nị là Em dợ của Ngộ, là Em duột của dợ Ngộ…Nhớ nói giọng lơ lớ…đừng nói nhiều hớ ….”

Sau một tuần thẩm vấn từng cá nhân một 18 anh em “người Hoa chúng tôi” được ra ngòai lao động: vác lúa mang vào nhà máy xay, sau đó khiêng gạo xuống mấy ghe bầu đậu sẵn dưới sông bên cạnh Cầu Sắt.

Bao nhiêu nỗi lo âu sợ hãi ban đầu dần dần vơi đi, Tôi bỏ hẳn ý định trốn thoát, vì rằng trong trạng huống này Tôi nghĩ sớm hay muộn, không bao lâu, chúng nó cũng thả chúng tôi ra.

Thêm vào đó tình cảm với anh em Chú Quảnh càng ngày càng khắn khít qua những liên hệ của những người tù cùng chung một trại giam “ngọt cùng chia, bùi cùng xẻ”. Họ đối với Tôi như chính anh em của họ.

Sau hơn ba tháng lao động chúng tôi được cấp giấy “tạm tha trở về nguyên quán “…Điều này đối với tôi, tôi nghĩ như đang nằm mơ, vì mang tội vượt biên thì ít nhất ba năm lao động ở các trại tù cải tạo của miền Tây. Tôi tò mò hỏi Chú Xồi, Chú chỉ trả lời, bằng gịong người Tàu nói tiếng Việt.

-Mấy Bả dề trước, mấy Bả lo cho tụi mình…

Về đến xa cảng miền Tây, chúng tôi chia tay, Chú Quảnh lại dặn dò:

-Nị nghỉ ngơi vài ngày rồi trở lại gặp chúng tôi ..

Chú nhét vào túi quần tôi 50 đồng. Tôi quay lưng, niềm suy nghĩ bay cao..

Trở về nguyên quán? Nguyên quán của tôi ở đâu? Mấy năm nay, nhà của tôi là đầu đường xó chợ, là ga xe lửa, bến xe đò! Nhớ vợ con lắm thì nhắn chị Ánh (vợ Hùng Móm), chị Hồng Tố Yến (vợ TTC), chị Thu (vợ NTN) rồi kiếm cách lén lút gặp vợ con vài ba tiếng đồng hồ, khi những người thân yêu này giả vờ đi chơi lang thang trong Sở Thú…

Một tuần sau, tôi mon men trở ra Chợ Lớn tìm Chú Quảnh. Đứa con gái Chú Xồi chỉ ra quán cà phê góc đường Triệu Đà – Hùng Vương. Nơi đây tôi gặp lại họ.

Chú Quảnh vừa thấy tôi, Chú mừng lắm. Chú chạy ra, nắm tay tôi kéo đi một khoảng khá xa và nói:

-Nị đi ngay đi … đừng vào trong đó… Ngày mai lúc 6 giờ chiều gặp ngộ ở nhà hàng Soái Kinh Lâm… Nị biết chớ?

Tôi im lặng gật đầu, trở lại lấy xe đạp, cứ đạp miết. Vô ngã hẻm này, ra ngã hẻm khác, len lỏi vào giòng xe đạp trên các lộ chính, rồi bất ngờ quẹo vào một con hẻm nào đó, mục đích “cắt đuôi” nếu bị theo dõi.

Tôi tin tưởng nơi gia đình chú Quảnh. Tôi chỉ còn một nơi bám víu chỉ với chút hy vọng mong manh là chỉ có gia đình Chú mới có thể giúp tôi thoát khỏi nơi này để đến bến bờ Tự Do.

Nhưng nay, qua sự gặp gỡ vừa rồi, Tôi hiểu gia đình của Chú cũng đang bị theo dõi gắt gao.

* * *

Sau bốn năm “giải phóng”, nhà hàng Soái Kinh Lâm vẫn sang trọng huy hoàng rực rỡ như ngày nào. Tôi bước vào, lòng mang bao nhiêu nỗi ngậm ngùi, nhớ lại những tháng ngày của một thời oanh liệt. Tôi ngồi vào chiếc ghế bên cạnh Chú Xồi, đảo mắt qua một vòng. Tôi yên tâm vì không có người lạ. Hầu hết là những người cùng Tôi vác lúa khổ cực ở Cà Mau khi bị giam về tội vượt biên…

Chú Xồi hỏi Tôi:

-Nị còn nhớ Chú Xường ngồi bên kia bàn hay không?

-Dạ nhớ.

Ai ngồi kế bên?

-Dạ, chú Chảnh…

-Nị ráng nhớ cho kỹ, một chút nữa qua đó ngồi nói chuyện với tụi nó và tụi nó nói cái gì thì nị cứ làm theo cái đó. Mấy thằng chó chết VC đang đánh tư sản mại bản. Tụi nó đóng cửa ba cái hãng nhuộm vải ở Cầu Tre, tịch biên tất cả vải vóc chúng tôi đang có, và có thể sẽ tịch biên nhà cửa và đưa chúng tôi lên vùng kinh tế mới, không biết ở đâu…Cho nên chúng tôi không còn giúp cho Nị được gì nữa … Đây là Hộp trà Sâm, anh Chảnh biếu cho nị, có vậy thôi… Nhớ giữ hộp trà này bên mình.. Bây giờ qua nói chuyện với Xường và Chảnh.

Chú Quảnh từ một bàn khác liếc nhìn tôi mỉm cười. Buổi tiệc hôm nay là ngày sinh nhật thứ 16 con gái Út của Chú Quảnh. Tôi nắm lấy bàn tay chú Xồi siết thật chặt và thật lâu, trước khi chỉ biết nói hai chữ cám ơn rồì bước sang bàn chú Xường…

Xường và Chảnh chỉ lớn hơn tôi năm hoặc bảy tuổi, nhưng tôi vẫn gọi bằng Chú. Thời gian ở tù Cà Mau, trong cái láng dơ bẩn, ba chúng tôi cùng nằm một chiếc chiếu rách tả tơi … Khi ngã lưng xuống chiếu Tôi thường hay kể chuyện Thủy Hử cho Họ nghe trước khi thiếp ngủ mỏi mệt sau một ngày vác lúa, vác gạo nhừ người.

Một cái ghế đã sắp sẵn cho tôi giữa Xường và Chảnh…Xường đi ngay vào đề:

Anh có biết nhà hàng Thanh Thế ở chợ Bến Thành không? ...

-Dạ biết

Nhớ kỹ lời tôi dặn đây. Hôm nay là ngày Thứ Bảy. Sáng ngày Thứ Hai tới, anh gặp Tôi và Chảnh ở Thanh ThếCứ đến đó vào lúc khỏang 10 giờ nhởn nha uống cà phê, nhớ ăn mặc xuề xòa, râu tóc để nguyên đừng cạo đừng hớt… Đêm nay nhớ mở Hộp trà Sâm, mà anh Quảnh biếu cho Anh nhâm nhi cho đỡ buồn.

Tôi đứng dậy, nhìn một lượt chung quanh nhẹ cuối đầu như một sự từ giã không lời, lặng lẽ ra về với bao nỗi bâng khuâng trong lòng. Vui buồn lẫn lộn… cùng với nhiêu thắc mắc. Họ là Ai? Tài phiệt Chợ Lớn cỡ như Mã Tuyên hay Mã Sái chăng, hay thành viên của Triều Châu Phúc Kiến, hay thuộc xã hội Đen của Tàu Cộng, Đài Loan, Hồng Kông? Mặc kệ! Nghĩ chi cho mệt óc miễn sao mình còn thong dong đạp xe đạp tự do ngày nào hay ngày đó, dưới đường phố mưa sa mà không cần nhìn đến cờ đỏ sao vàng…

Đêm đó tôi mở Hộp trà Sâm…10 lượng Vàng Kim Thành thứ thiệt nằm trong đó, tôi chợt nhớ lời Chú Xường dặn “Thứ hai gặp Tôi ở nhà hàng Thanh Thế…”

Tôi ngủ một giấc ngủ chập chờn trên một căn gác cho thuê đầy chuột và dán ở bến xe An Đông.

***

Lúc còn tại ngũ, khi đơn vị dưỡng quân ở hậu cứ Tôi thường cùng bạn bè la cà….sáng thì đi uống cà phê có pha chút bơ Bretain ở nhà hàng Thanh Thế cách phía Tây chợ Bến Thành độ trăm thước, buổi trưa đi ăn Chateau Brillant ở tiệm Thanh Bạch, rồi Brodard. Ban đêm, đi vũ trường Văn Cảnh, hoặc Thanh Thanh ở xa lộ. Trong nhóm thường có Mỹ Hôi, Hùng Móm, Hùng Mập, Dũng Tây Lai, Cao-P-Minh, Xuân Đờn Cò, Ninh mắt Trừu… một hoặc hai thằng chia nhau một chầu. Chỉ một ngày rong chơi cũng vơi đi gần nửa tháng lương, để khi trở về nhà ngồi vào bàn ăn với vợ con, chỉ có một đĩa rau muống luộc và hộp thịt ba-lác!

Theo lời dặn của chú Xường, Tôi đến nhà hành Thanh Thế khỏang 10 giờ. Giờ này, chỉ lác đác năm ba khách đến uống cà phê…Tôi tìm cái bàn trong góc có thể nhìn xuyên qua cửa kính để quan sát cả trong lẫn ngoài. Nhâm nhi ly cà phê với mùi vị bơ Bretain, hút hết điếu Samit thứ hai thì Xường và Chảnh cũng vừa đến. Họ vẫn tíu ta tíu tít xí xô xí xào như mọi khi. Tôi đứng dậy chào, Xường vội vàng ấn vai tôi…

-Ngồi xuống! Ngồi xuống…

Câu chuyện thật ra rất dài, Tôi tóm gọn những gì đã xảy ra trong phạm vi bài viết này…

Chú Xường mở lời:

-Đêm qua Anh uống trà Sâm có ngon không?

Tôi gật đầu.

-Anh có mang hộp trà theo không

-Dạ có …

-Anh đưa cho Tôi …

Tôi chỉ lẳng lặng làm theo và chỉ im lặng ngồi nghe.

Tôi lần mở cái túi vải ăn mày móc 10 cây được gói cẩn thận đêm qua trong cái quần xì-líp dơ bẩn vàng úa, giao cho chú Chảnh. Chú Xường đưa cho Tôi một túi giấy trong đó có bốn cái bánh tiêu còn nóng hổi…

-Thời giá hiện nay, một cây là 2,850 đồng (tiền già Hồ)… Chúng tôi lấy lại 10 cây này, trả lại Anh bốn cái bánh tiêu Anh có puồn không?…

Nghe Chú Xường phát âm cái tiếng “puồng” không. Tôi không “Puồng” chút nào, nhưng cố nén nỗi kinh ngạc để không hiện lên ánh mắt của mình

-Dạ không…

Chú cười và nói tiếp:

-Ở dưới bốn cái bánh tiêu, là cái đai vải (nguời Bắc gọi là cái ruột tượng) có 30.000 ngàn tiền mặt trong đó. Anh nhớ …lúc nào cũng cột thật chặt vào bên hông của Anh, chờ chút nữa sẽ có một người nữa đến gặp Anh. Anh ấy là anh em chú bác với tụi tui. Anh Xế Phò sẽ cho Anh biết anh sẽ phải làm gì… Còn phần tôi (Chú Xường) Anh phải nhớ kỹ những điều dặn dò của tôi sau đây: anh Quảnh bảo chúng tôi gặp Anh để cho anh biết những gì anh Quảnh đã sắp đặt cho Anh. Anh có biết tại sao không?

-Dạ không!

Vì Anh đã trả lại 25 đồng cho anh Xồi, anh Xồi thử Anh đó, và đó cũng là lý do Anh Quảnh quyết định mang Anh theo trong chuyến vượt biên kỳ vừa rồi.

Anh Quảnh chỉ lo… nếu Anh bị lộ tông tích thì chỉ có chết… Anh có biết Thương xá Tam Đa cũ hay không?

-Dạ biết.

-Bây giờ là cửa Hàng IMEX, bán những mặt hàng ngoại quốc mà chúng nó tịch thu của người Tàu chúng tôi ở Chợ Lớn…Thôi, uống cà phê đi…

Vừa lúc Chú Xế Phò bước vào. Chú Xế Phò, người dong dỏng cao, dáng dấp không có vẽ Tàu chút nào. Chú nói tiếng Quan Thoại, tiếng Pháp, tiếng Việt rất sành sõi rõ ràng.

Khi Chú Xường và Chảnh ra về, Xế Phò bắt đầu chất vấn:

-Anh tên Trần Chỉnh hả?

-Dạ vâng …

Chú mỉm cười… cái mỉm cười gọi là cái mỉm cười biết hết chi tiết.

-Anh có nói và đọc viết tiếng Anh được không?

-Dạ chút chút…

-Được tốt lắm…Tôi đang là Trưởng phòng Quản Trị Công Ty Imex thương xá Tam Đa cũ, theo lời yêu cầu của anh Quảnh, Thứ Hai tuần sau Anh bắt đầu làm việc dưới quyền của Tôi làm chức Thủ kho. Chỉ có nhiệm mở và khóa cửa kho khi có lệnh xuất nhập hàng của Tôi. Anh phải ghi lại mặt hàng nào được xuất trong ngày. Khỏang 10 giờ, giả bộ ra bên ngoài uống cà phê và giao danh sách đó cho Chú Chảnh. Ban đêm Anh ngủ lại cơ quan cùng với ba nhân viên khác, họ là những công nhân viên từ ngoài Bắc vào. Cứ như vậy đi, dần dần quen và biết hết mọi việc Anh sẽ có nhiều việc quan trọng hơn…

Trước khi chia tay, Chú Phò đưa cho Tôi một Giấy Chứng Nhận: “Trần Chỉnh” nhân viên Cửa Hàng Imex, phía dưới đóng dấu ký tên Trưởng Phòng Thương Nghiệp Quận Nhất TP HCM , cùng một giấy nhỏ có ghi “Lý Kim Anh “Trưởng phòng Công An Chợ Bến Thành”.

***

Tôi đạp xe đạp loanh quanh với một tâm trạng lộn xộn xà ngầu… Hung hay Kiết?…Ngạc nhiên, lo âu lẫn lộn… nhưng không có nỗi lo sợ như khi Chú Quảnh hỏi “Có phải Anh là sĩ quan ngụy trốn học tập hay không”.

Tôi như người đang chới với giữa dòng sông, vớ được gì cứ vớ, không cần biết cái đó lành hay dữ. Đã leo lên lưng cọp, đã phóng lao thì phải theo lao… không còn sự chọn lựa nào khác.

Giám đốc Imex là một tên “Cán Ngố”. Cả ban Quản Trị của hắn ngơ ngơ ngáo ngáo, cộng trừ nhân chia sổ sách cứ lộn tùng phèo, lại thêm lòng tham lam ăn được cái gì là ăn cái đó. Tôi làm việc với họ chỉ có nhiệm vụ khóa và mở khóa kho chứa hàng hóa theo lệnh Chú Phò, sau đó ra ngoài gặp Chú Chảnh. Lúc này Tôi chỉ có một niềm vui sướng vô ngần là có một việc làm và một chỗ ở an toàn, không lo sợ bị phát hiện và bị bắt bất cứ lúc nào. Cũng trong lúc này Tôi đã áp dụng “Nghệ thuật Lãnh Đạo Chỉ Huy” của trường Võ Bị để chinh phục những nhân viên từ ngoài Bắc vào, một cách dễ dàng. Chú Phò hài lòng và mừng lắm.

Một hôm Chú rũ tôi đi ăn tối. Trên chiếc Volwagen màu vàng củ kỹ Chú chở tôi một vòng chợ Bến Thành và trực chỉ bến Bạch Đằng. Một buổi cơm tối vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị trong đời tôi.

Trong nhà hàng nỗi Mỹ Cảnh… ba người đã ngồi sẵn. Tên Giám Đốc Imex Nguyễn Tạo, với cái mặt chành bạnh nhưng không che dấu được vẽ ngu si đần độn tham lam trên gương mặt của hắn. Tên Trung Úy Lý Kim Anh Trưởng Phòng Công An Chợ Bến Thành, Đặng Tư, Trưởng Phòng Tài Chánh Imex.

Trên bàn, chai Remy Martell vơi hơn phân nữa. Tôi khúm núm bước theo sau Chú Phò, chấp tay cuối đầu chào họ. Ngồi vào bàn Tôi cố giữ thái độ bình tỉnh, chỉ lắng nghe họ bàn luận việc của họ cùng với những suy nghĩ mông lung. Quả thật chú Quảnh và gia đình của Chú đã giúp Tôi quá nhiều, ơn sâu nghĩa nặng này bao nhiêu kiếp người tôi có thể báo đáp được.

Sau buổi cơm gọi là thân mật đó, tôi có thêm vài việc phải làm theo chỉ thị của Chú Phò.

Một buổi sáng khi Tôi giao danh sách hàng xuất kho cho chú Chảnh, hôm nay lại có mặt Chú Xường, Chú Xường bảo Tôi giao lại số tiền mặt tôi đang giữ. Chú Xường giao lại cho tôi một danh sách giá cả mua vô, bán ra trong ngày ở thị trường Chợ Lớn. Tôi chỉ biết làm theo, Có thắc mắc thì cũng chẳng ích lợi gì, vì tin rằng họ đang giúp mình qua cơn hoạn nạn.

Thời gian năm 1979, 1980, 1981… Thân nhân nước ngoài gửi tiền về giúp gia đình không gửi được trực tiếp như bây giờ mà dưới hình thức là “Phiếu Imex”.

Hàng Imex là hàng thứ thiệt, được tịch thu sau chiến dịch đánh Tư Sản Mại Bản … Nào là thuốc tây, radio, cassette, căm, sên, phụ tùng xe đạp…

Cả trăm mặt hàng khác, đều là hàng ngoại. Giới tiêu thụ hầu hết là con buôn từ Hà Nội, giá nào họ cũng mua, họ mua theo cái NGU của họ. Còn những người buôn bán phiếu Imex cò con thì đều qua tay mã thầu dậu là Chú Xường… Làm giá thì Chú Quảnh trong Chợ Lớn Khi Chú Quảnh cho biết giá cả sáng trưa chiều tối, thì Chú Phò cho lệnh xuất kho, bên cạnh có Tôi và Chú Chảnh đang chờ bên ngoài. Có gì trục trặc thì có Giám Đốc và tên Trung Úy Công An Lý Kim Anh.

Dù rằng tình hình an ninh có vẻ khả quan, nhưng nỗi lo âu vẫn canh cánh trong tôi. Không biết bị phát hiện giờ nào và nếu bị chúng bắt thì sẽ ra sao. Cứ vài hôm chú Xường gặp tôi nhét vào túi Tôi một hai ngàn (tương đương 1 cây vàng). Chú nói đó là tiền lời từ 30.000 đồng “hùn vốn” của Tôi. Tôi nhờ Niên Trưởng Huỳnh Bá Long Khóa 21 Võ Bị Đà Lạt, gửi về giúp vợ con và Cha Mẹ Chị Em Tôi…Thôi cứ thế rồi thời gian cũng qua, dù chưa được trở lại đời sống bình thường như mọi người dân khác và không gần gũi được vợ con.

***

Một ngày đẹp trời tháng Ba năm 1982… Tôi đang ngồi uống cà phê dọc vĩa hè trước cửa hàng Imex, một chiếc Honda hai người trờ tới. Một người xuống xe, vội vả nắm lấy tay và bảo Tôi:

-Niên Trưởng theo Tôi qua Chợ Cũ làm vài chai Henneckein.

Tôi có một cảm giác lạnh băng chạy từ đốt xương sống cuối cùng lên đến đỉnh đầu, nhưng định thần thì ra Nguyễn văn Định, (Khoá 24 Đà Lạt – TĐ 11 Nhảy Dù), đang chờ ngoài xe là Trần văn Hợp (Khoá 23 Võ Bị Đà Lạt)…

Chiếc Honda chở 3 người qua Chợ Cũ, làm đĩa cơm sườn, vài chai bia Con Cọp. Hợp móc trong túi xách một tờ giấy, điền tên Trần Chỉnh, rồi chở tôi ra bến Thủ Thiêm “TỐNG” xuống một chiếc ghe chở gạch cát của Công Ty Dầu Khí Vũng Tàu…

Đêm đó Tôi lại ra khơi. Lần này là lần thứ bảy, không kịp một lời từ giã nào với Chú Phò, Chú Xường, Chú Chảnh, Chú Xồi, Chú Quảnh và vợ con gia đình.

Một tháng sau, đang chờ đợi để rời khỏi Đảo Pulau Bidong, Mã Lai, sang trại chuyển tiếp Galang II ở Nam Dương, Tôi nhận được thư của vợ tôi:

Anh yêu thương, Chị Ba (chị Dâu của Tôi) có đến thăm Em. Cùng đi với Chị có một người đàn ông, người này đã trao cho Em 10 lượng vàng và nói đây là tiền của anh Út gửi cho”.

Đó là Chú Xồi.

Quá Khứ và Hiện Tại

Trong ba tháng tội vượt biên, chúng tôi khom lưng đi vác lúa gạo ở Cà Mau , tình cảm của Tôi với gia đình chú Quảnh càng ngày càng gắn bó, qua những bữa cơm sau một ngày vất vả lao động xã hội chủ nghĩa, những bữa cơm “lòng heo, phá lấu heo quay, vịt quay”… Có nhiều lúc Tôi bỗng chợt cười khan… Họ hỏi tôi sao lại cười, tôi nói:

Ở tù kiểu này sướng hơn trở về nhà

Chú Quảnh tiết lộ rằng, gia đình đã “chung” 150 cây cho thằng Trưởng Ty CA Hình Sự rồi, nay mai mình sẽ được về.

Thời gian này tôi gần gũi với Chú Xưòng – Chảnh nhiều hơn. Xường và Chảnh nhỏ con ốm yếu lại cùng một tóan lao động với Tôi… Có lần vác bao gạo bước qua tấm ván gỗ, bắt từ bờ sông xuống ghe bầu, Xường trợt chân té nhào xuống sông, tôi liệng bao gạo xuống mũi ghe, nhảy ùm xuống sông vớt chú ấy lên, ông chủ ghe bầu thông cảm không làm khó dễ mà chỉ nói 

Không sao… không sao… xem như Tôi biếu bao gạo đó cho các Anh… Tội nghiệp!Tù Tội!.Tội Tù…

Từ đó Tôi, Xường, Chảnh như hình với bóng. Tôi thường kể họ nghe chuyện Đông Châu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí, Thủy Hử. Họ khóai nghe nhất là bộ truyện Kim Dung kèm theo lời bàn phân tích của Lão Ngoan Đồng (biệt danh của tôi) về những nhân vật Ma Giáo và Chính Giáo. Cũng nhờ vậy mà ba tháng tù trôi qua như một giấc ngủ đêm với thịt quay phá lấu…

Viết theo lời kể của Xường và Chảnh:

Ông Cố Nội chúng tôi, lập nghiệp ở Chợ Lớn (vào khỏang năm 1860) với một cái gánh mua bán ve chai lông vịt, thường ngày thì mua được lông vịt nhiều hơn lông gà, vì người Tàu ăn vịt quay nhiều hơn. Khi Ông Nội chúng tôi ra đời thì cái gánh ve chai lông vịt đã trở thành cái ” vựa ” ve chai lông vịt, sau đó trở thành cái “xưởng” chuyên làm chổi lông gà, quạt tay và áo che mưa bằng lông vịt, còn ve chai thì cân ký bán sĩ cho một lò rèn làm chai lọ thủy tinh và cuối cùng là xưởng dệt tơ vải

Trong khi đó, người Em thứ Ba của Ông Cố chúng tôi – ông Cố Ba – làm nghề mổ heo, Bà Cố Ba giữ lại lòng heo nấu phá lấu theo kiểu Dương Châu, rồi cho hai người con trai đội mâm đan bằng mây đi bán dạo… Sau đó trở thành quán hủ tiếu duy nhất có bán thịt heo quay, thịt vịt quay, lòng heo phá lấu… Đó là tiền thân của “Công Ty Nhà Hàng Bát Đạt ” sau này.

Khi đến đời Ông Nội chúng tôi (vào khoảng vài thập niên cuối thế kỷ 19…1880-1900) thành phố Sài Gòn được hình thành với những dinh thự, công sở, khách sạn nguy nga đồ sộ của mấy ông Tây Bà Đầm, trong khi khu Chợ Lớn vẫn còn bùn lầy nước đọng, đường xá được chính quyền Tây mở rộng ra đến vùng ngoại ô … Thủ Đức, Gò Vấp, Nhà Bè, Phú Lâm… Huyết mạch giao thông buôn bán chính là ghe thuyền từ các tỉnh miền Tây lên Sài Gòn và ngược lại… do đó mới có Kinh Chợ Gạo (Mỹ Tho)

Cơ sở của Ông Nội chúng tôi phát triển rất nhanh, Bà Nội trông coi cửa hàng buôn bán tơ lụa, có thể nói gia đình chúng tôi lúc đó như là nhà thầu duy nhất cung cấp gấm, sa-ten, vải lụa… cho các con buôn thực Dân Pháp… trong khi gia đình Ông Cố Ba đang phát triển các tiệm ăn rập khuôn theo kiểu Tàu. Quán ăn và quán trọ Bát Đạt. Gia đình giàu có nhất trong vùng là giòng họ Mã, hậu duệ sau này là Mã Sái, Mã Tuyên.

Đến đời thân phụ mẫu chúng tôi thì gia đình cũng đã khá giả. Sáu anh chị em chúng tôi khi lên ba bốn tuổi đã được dạy xử dụng bàn tính (bàn toán) của người Tàu một cách rành rọt. Chúng tôi học trường Tinh Võ, ở nhà nói tiếng Quan Thoại, khi giao tiếp với con buôn thì bằng tiếng Việt hoặc tiếng Tây… Khi anh Quảnh lấy vợ người Triều Châu, thì cha Tôi giao hết chuyện quản trị làm ăn cho Anh, và Ba Tôi trở thành “Ông Trùm” của “Bang Hẹ “… Anh Xồi được giao trách nhiệm sổ sách kế tóan, còn Tôi (Xường), Chảnh và cô em út A Cảo làm chủ 3 hãng nhuộm vải ở Cầu Tre, Phú Lâm.

Lời Kết

Qua những câu chuyện kể trên, Tôi không biết có phải vì trả lại 25 đồng mà Chú Xồi đã cố tình đưa dư, mà cơ duyên định số đưa đẩy Tôi gặp gia đình họ, làm ăn sinh sống với họ khoảng bốn năm trong hoàn cảnh lo sợ hồi hộp từng ngày cho đến một ngày đột ngột rời bỏ quê hương không định trước.

“HỌ”… Trong ngôn ngữ lịch sự của người VN chúng ta thì Họ là người Hoa Kiều Chợ Lớn, bình dân thì thường gọi mấy Ông cắt chú , được phiên âm trệch ra từ danh từ “Khách Trú”… từ đó mới có danh từ Chú… Chú Ba Tàu… Chú Chệt…

Dù gọi là gì chăng nữa, Họ vẫn là Họ. Họ vẫn giữ phong tục tập quán từ hằng nghìn năm qua cho đến ngày nay… dù đã trải qua Tứ Đại Triều Đình (Tống, Nguyên, Minh, Thanh)… cho đến Bát Quốc Liên Quân… rồi Ma Cao, Hồng Kông, Đài Loan và lục địa dưới bàn tay sắt của Cộng Sản… Họ lấy gia đình làm đơn vị căn bản, để từ đó vươn lên, trở thành “Bang”… nhỏ lớn tùy thời tùy thế. Cha Mẹ, Anh Em, Vợ Chồng, Con Cái đùm bọc che chở cho nhau, để từ một gánh ve chai lông vịt hay một cái mâm đan bằng Mây, bán dạo lòng heo phá lấu một ngày trở thành những Đại Gia trong sinh hoạt các “Bang” của Họ… Chẳng qua chỉ có một chữ “TÍN”.

Họ khởi nghiệp từ Buôn Bán. Nhỏ lớn, sang hèn, nghèo giàu gì Họ cũng có thể làm, cần cù nhẫn nại, chắt chiu dành dụm, không khoe khoang, không xa hoa phung phí… cho đến một ngày “Puôn Pán Dạo… Puôn Pán Lẽ…” trở thành những Công Ty Xí Nghiệp kếch xù trong những lãnh vực rất đơn giản.

Gần như suốt thế kỷ 20, người Hoa Kiều Chợ Lớn Sài Gòn Gia Định không có một dịch vụ nào liên quan đến công nghiệp nặng chỉ chú trọng về việc trao đổi buôn bán hàng tiêu dùng gia đình. Họ tích lũy tài sản theo truyền thống cha truyền con nối, cho đến khi sự tích lũy tiệm tiến này trở thành một gia sản khả dĩ có thể trở thành một hội viên trong hệ thống thương mại vĩ đại của các ” Bang ” …

Dĩ nhiên trong sự buôn bán làm gì không có sự cạnh tranh dành giựt lẫn nhau, rất hiếm nhưng không phải là không có. Nếu có xảy ra thường thì Họ giải quyết nội bộ. Họ không thích tranh tụng kiện cáo, có những trường hợp liên quan đến pháp luật chính quyền thì Bang của Họ thương lượng để mọi việc trôi qua. Sau đó Họ giải quyết nội bộ bằng những biện pháp chế tài, cô lập vì Bất Tín“, nặng nề lắm mới có vụ thanh toán. Gia đình hay cá nhân nào phạm vào chữ Tín thì chỉ có nước đi ăn mày.

Trung Hoa lục địa (Trung Cộng, Đài Loan, Hồng Kông , Ma Cao….) Họ đều có chính quyền riêng của Họ. Người dân sinh ra, lớn lên học hành thành đạt, từng bước từng bước Họ tham gia chính quyền từ hạ đến thượng tầng cơ sở. Nhưng đối với người Hoa Kiều ở hải ngoại (theo sự hiểu biết của Tôi) như VN, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Úc… Họ không muốn tham gia vào chính quyền dù Họ có mãi lực đồng tiền, có thể mua tiên cũng được. Thí dụ như ở Indonesia, người Hoa Kiều chỉ có khoảng 3% dân số mà nắm giữ 70% tài sản của đất nước này. Nhưng có điều tài tình chúng ta cần phải khâm phục… dùng mãi lực đồng tiền. Họ móc nối với chính quyền nơi Họ cư ngụ một cách kín đáo trơn tru… bên cạnh là những “Cái Bang”, giống như xã hội đen, mafia còn khủng khiếp hơn God Father của Italy rất nhiều.

Nhiều người cho rằng “Ba Tàu” hay bắt chước làm đồ giả, điều đó hẳn nhiên, giải thích chuyện này Tôi chỉ mượn câu “Cứu Cánh Biện Minh Cho Phương Tiện “…

Còn Người Việt – Nam mình?

Trải qua trăm năm dưới sự đô hộ thực dân Tây, 30 năm hiện diện của Mỹ (1954-1974) , nay dưới sự cai trị tàn độc của CS , còn gần 4 triệu người Việt đang sống rải rác năm châu hải ngoại, chúng ta hãy xét nghiệm và làm một bài toán…

Câu Hỏi : “Đã có bao nhiêu người vì Danh, vì Vị, Vì Lợi đã dùng những bước chân “Bất Nhân, Bất Lễ, Bất Nghiã, Bất Trí, Bất Tín” để leo lên lên những bật thang danh vọng hảo huyền ảo tưởng, khiến cho cả nước (quốc nội) lâm vào tình trạng nghèo đói trong danh sách những Quốc Gia nghèo đói nhất thế giới, khiến cho Cộng Đồng Người Việt Nam nói chung và các Hội Đòan Tập Thể nói riêng ở hải ngoại lâm vào tình trạng ngày càng nghi kỵ, chia rẽ, phân hóa như ngày nay không bao giờ hàn gắn được, và cũng chẳng bao giờ có một vĩ nhân nào có thể xuất thế tế độ chúng sanh… ít ra cũng vài thế hệ sắp tới…

Họ là Ai?

Họ là những người tên Đỗ họ Thừa.

Họ đổ thừa cho Chế Độ Miền Nam VN sinh ra tham quan ô lại.

Họ đỗ thừa cho Chế Độ CS vơ vét mồ hôi nước mắt của dân lành cho tư lợi cá nhân

Họ đỗ thừa cho xã hội Tây Phương làm cho Tam Cương Ngũ Thường đảo lộn.

Nhưng Họ không bao giờ dám Đỗ Thừa cho chính Họ …”Ta là kẻ đã VONG BẢN, VONG QUỐC, VONG THÂN”.

May quá, Lão Ngoan Đồng học được những bài học từ gia đình chú Quảnh nên không bị vướng vào Ba cái VONG trên, mà Lão Ngoan Đồng chỉ mang cái bệnh …VONG MẠNG!

 

Trương Út (Út Bạch Lan) 

 

Hoa Cứt Lợn – Tưởng Năng Tiến

Hoa Cứt Lợn – Tưởng Năng Tiến

Tôi ít học và lười đọc nên mãi đến năm 2011 mới được nhà văn Vũ Thư Hiên giới thiệu cho tập Tùy Tưởng Lục của Ba Kim. Qua tác phẩm này, tôi lại biết thêm một người cầm bút (danh tiếng) khác của đất nước Trung Hoa – Lão Xá.

Ông cũng là một nạn nhân bi thảm trong cuộc Cách Mạng Văn Hoá. Cứ theo như  lời của Ba Kim thì Lão Xá đã “ngậm hờn mà chết.” Ông trầm mình vào ngày 24 tháng 4 năm 1966, với lời trối trăn (“Tôi yêu nước ta lắm chứ, thế nhưng ai yêu tôi?”) khiến ai cũng cảm thấy ngậm ngùi.

Nỗi đắng cay của Lão Xá cũng khiến tôi nhớ đến đôi lời cay đắng (khác) nghe được ngay sau khi Chiến Tranh Việt Nam vừa chấm dứt:

Gần nhà tôi có cụ Lập, hơn bảy chục tuổi, thổi clarinette dàn nhạc cung đình của Bảo Đại, cùng dàn nhạc theo cách mạng, đánh Pháp rồi tập kết ra Bắc… Sống một mình. Nghèo, đói…

Bây giờ, tôi mau mắn mừng cụ sắp được đoàn tụ gia đình. Nhưng cụ nắm tay tôi:

– Cảm ơn ông, đoàn với ai, tụ với ai? Vợ con chưa biết hiện ở đâu, đi theo nhà khác mất rồi có khi. Họ hàng thì chết trong Tết Mậu Thân… Tôi về đó vẫn lại trơ làm thằng tập kết đợt hai trơ trọi một mình… Ra đi để thống nhất đất nước, bây giờ ai thống nhất với thân già tôi? (Trần Đĩnh. Đèn Cù II. Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Cụ Lập, tất nhiên, không phải là người duy nhất sống “nghèo đói” và “trơ trọi một mình” như thế. Tôi còn biết thêm nhiều ông cụ nữa, cũng rơi vào hoàn cảnh bẽ bàng (và lỡ làng) tương tự:

“Điển hình nhất là ông Đốc Huệ và ông Đốc Thỉnh của tỉnh Bến Tre. Một học giả uyên thâm có bằng cử nhân Văn chương Pháp thời Pháp thuộc có được mấy người. Nếu ở lại với Pháp thì ông đã vinh thân phì da vào hạng nhất Nam kỳ, nhưng ông đã đem cả gia đình đi kháng chiến. Ra Bắc về Nam hai lần. Khi hiệp ước Hòa Bình 54 được ký kết ông Thỉnh bị bỏ quên…

Riêng ông Mười Huệ chủ tịch tỉnh Bến Tre chín năm liền, ra Bắc được phong cho chức Thư ký của Hội Việt Pháp Hữu Nghị ở đường Lý Thường Kiệt và được cho ở trong một cái garage tồi tàn dột nát đầy sách nát của Tây vứt lại trước khi chúng chuồn. Ông Mười có bệnh cánh tay phải, không được săn sóc, không có cả bếp để nấu cơm phải đi ăn vất vưởng ở hợp tác xã bữa có, bữa không hoặc bằng những ổ bánh mì nguội nài nỉ mua bằng những hào bạc hiếm hoi còn sót lại của tháng lương chết đói.

Ngồi viết những dòng này tôi còn trông thấy ông trên những nẻo đường kháng chiến của Ba Tri, Giồng Trôm, Tán Kế mà tôi kính yêu như một thần tượng. Ôi kháng chiến mà chi. Anh dũng mà chi. Thành Đồng Đất Thép để làm gì? Tất cả đều đút vào mồm con sói mặt đỏ Bắc kỳ tên là Hồ Chí Minh thôi. Một tên sát nhân, một thằng bịp lớn nhất lịch sử Việt Nam.” (Xuân Vũ & Dương Đình Lôi. 2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi. QII. California: Xuân Thu, 1998).

Tôi hoàn toàn chia sẻ cái tâm cảm uất hận của nhà văn Xuân Vũ. Tuy thế, tôi e rằng ông không được hoàn toàn khách quan khi mang hết đám dân miền Nam tập kết bỏ chung vào … một rọ để cho “một thằng bịp lớn nhất lịch sử Việt Nam” lạm dụng. Thực tế thì cũng có kẻ này, kẻ nọ, chớ Bác và Đảng đâu có bạc đãi tất cả mọi người.

Gần đây, trên trang Vietnamnet (đọc được vào hôm 13/05/2020) Ths Vũ Thị Kim Yến có những ghi nhận như sau :

Đến năm 1975, hơn 15.000 học sinh miền Nam được đào tạo qua bậc đại học và sau đại học ở các trường đại học trong và ngoài nước. Phần lớn các “hạt giống đỏ” mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân miền Bắc gieo trồng ngày nào đã nẩy mầm thành những cây vạm vỡ, vững chắc.

Trong số này, có 6 ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TƯ Đảng; 18 nguyên ủy viên TƯ Đảng, 3 Bí thư Tỉnh ủy; 18 Thứ trưởng và Chủ tịch tỉnh…

Điển hình như nguyên Phó Chủ tịch QH Trương Quang Được, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm UB Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng Văn hoá Nguyễn Khoa Điềm, nguyên Trưởng Ban Nội chính TƯ Nguyễn Bá Thanh…

Nhiều học sinh miền Nam trở thành lãnh đạo cấp cao trong lực lượng công an, quân đội như Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thượng tướng Trương Quang Khánh, Trung tướng Bùi Quang Bền…

Đặc biệt, hiện tại, nhiều học sinh miền Nam vẫn đang đảm nhận những trọng trách rất quan trọng của đất nước như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân, Chánh án TAND tối cao Nguyễn Hòa Bình…

Không ai chối cãi được rằng có những hạt giống đỏ miền Nam mà Bác và Đảng gieo trồng nay đã đơm bông. Chỉ có điều đáng tiếc lại là loại hoa hôi. Tuy đều “đảm nhận những trọng trách rất quan trọng của đất nước nhưng những nhân vật thượng dẫn đều không thực hiện được một thành quả nào ráo, ngoài những lời lẽ mị dân hoặc những câu tuyên bố ngây ngô hay sáo rỗng:

Nguyễn Thiện Nhân: “Đến năm 2010, giáo viên sống được bằng lương.”

Nguyễn Xuân Phúc: “Hợp tác xã là con đường để đưa nhân dân đến gần hơn với lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội.”

Nguyễn Bá Thanh: “Sắp tới tôi sẽ rà một số cái, cho hốt liền, khỏi nói nhiều.”

Nguyễn Hòa Bình: “Nếu không có đủ căn cứ chứng minh là tội nặng thì phải quyết có tội nhưng tội nhẹ.”

Nguyễn Khoa Điềm: “Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ.”

Gọi họ là những tinh hoa của miền Nam trong đám người tập kết thì (nghe chừng) không ổn. Về hạn từ này, dịch giả Phạm Nguyên Trường đã rất cẩn thận khi dụng bút: “Nghĩa của từ ELITE: the richest, most powerful, best-educated, or best-trained group in a society cho nên nếu luôn luôn dịch là TINH HOA thì e rằng không đúng.” Vẫn theo lời ông thì có lắm kẻ chỉ đáng gọi là thuộc giới ăn trên ngồi trốc.

Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là  những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!

Tưởng Năng Tiến

03/2021