Thiền sư Nhật chỉ nói đúng 2 từ khi bị thị phi

Thiền sư Nhật chỉ nói đúng 2 từ khi bị thị phi

Chuyện Thiền tông Nhật Bản có ghi chép lại rằng: Thiền sư Hakuin Ekaku (1686-1768) là một vị thầy đạo hạnh khiêm nhu, lối sống giản dị, thanh tịnh.

Cạnh thiền tự nơi ngài sinh sống có một gia đình làm nghề buôn bán. Một ngày nọ, gia nhân bất ngờ phát giác cô con gái trong nhà có thai mà không biết cha đứa trẻ là ai. Bị người nhà đánh đập dọa nạt, cô gái khai rằng đã tằng tịu với Sư Hakuin và cái thai này là con của ông. Gia đình vô cùng tức giận, lên chùa bắt Sư Hakuin phải chịu trách nhiệm với con gái mình. Nhà sư nghe xong câu chuyện chỉ nói hai từ: “Thế à!”

Cô gái sinh con xong, đứa bé sơ sinh liền được mang tới nhà chùa. Sư Hakuin ẵm đứa trẻ đi khắp nơi xin sữa, xin vật dụng áo quần từ các gia đình trong làng. Ông chăm sóc đứa bé tận tụy như một người mẹ chăm nom đứa con duy nhất. Lúc này, danh dự của nhà sư bị tổn hại nghiêm trọng nhưng trước những câu hỏi cạnh khóe, ngài chỉ trả lời bằng hai chữ: “Thế à!”

Càng lớn đứa trẻ nhìn càng không giống nhà sư, cả làng lúc này mới xì xào rằng hình như ông bị oan. Đến khi không thể giấu nổi sự việc nữa, cô gái khóc lóc quỳ lạy xin Sư Hakuin tha thứ và thú nhận đứa bé là con anh hàng cá ở ngoài chợ. Lúc này Thiền sư Hakuin chỉ đáp: “Thế à!”. Rồi ông trao lại đứa bé cho cô gái, quay lại thiền tự sống.

Bình thường tâm là “đạo”

Giữa dòng đời vạn biến của vinh – nhục, khen – chê, giữ được tâm bình thường như Thiền sư Hakuin chính là đạo lớn. Điều này quả là rất khó khi bạn đang ở trong nhịp sống gấp gáp, vội vã thường ngày.

Khi một ai đó khen bạn hay chê bạn, điều đó không làm phẩm tính của bạn tăng lên hoặc giảm đi. Nếu như Sư Hakuin có lối sống phóng túng, thì việc khen nhà sư là vị thầy đạo hạnh cũng không làm sư bớt phóng túng đi. Hoặc chê nhà sư chỉ là hạng “sư hổ mang” cũng không khiến ông trở nên phóng túng hơn. Điều đó cho thấy, khen hay chê bản chất chỉ như những cơn gió, bị lay bởi nó thì “loạn”, ngược lại để nó tự đến tự đi thì “bình”.

Thiền sư là những người sống trong hiện tại đồng thời không nhầm lẫn về hiện tại. Việc gì đến thì giải quyết nó một cách tốt nhất, đồng thời hiểu được mọi việc nên để “tùy duyên”, không thể cưỡng cầu.

Sống thuận nhân duyên

Đứa bé đến với nhà sư là do duyên, muốn tránh cũng không được. Đứa bé ra đi cũng bởi hết duyên, muốn giữ lại nuôi tiếp cũng chẳng xong. Bởi thế mà nhà sư có thể sống được tùy duyên, tùy hoàn cảnh mà làm điều tốt nhất có thể vì lợi ích cho mọi người.

Chúng ta không hề thấy câu chuyện này có một sự “nghiến răng chịu đựng chờ ngày minh oan” ở phía vị thiền sư, mà chỉ thấy trước mọi sự biến đổi thái độ của ông vẫn thản thiên: “Thế à!“. Bị vu oan cũng “Thế à!“, được minh oan cũng chỉ “Thế à!“, bởi nhà sư đã hiểu nhân duyên diễn biến như vậy, như dòng sông cuồn cuộn chảy không thể chống lại được.

Đức Guendune Rinpoche khi còn sống từng ghi lại một bài ca thiền nói về sự thả lỏng:

“Khi muốn nắm bắt cái không nắm bắt được, bạn sẽ bị đuối sức một cách vô ích

Khi mở bàn tay đang tham lam nắm giữ ấy ra, thì không gian xuất hiện ngay: mở rộng, đón nhận, dễ chịu”.

Thế giới vận hành theo quy luật của nó, bạn có quyền lựa chọn tận hưởng hoặc chịu đựng, nhưng khi lựa chọn hãy làm việc tốt nhất có thể trên cơ sở ích lợi cho mọi người và buông xả trong tâm mình, đó là chìa khóa để “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến“.

Pháp Tâm/Theo soha.vn

(RFA) Thêm một Facebooker bị bắt với cáo buộc ‘xuyên tạc, phỉ báng chính quyền)

 

(RFA) Thêm một Facebooker bị bắt với cáo buộc ‘xuyên tạc, phỉ báng chính quyền)

Facebooker Trần Quốc Khánh, 61 tuổi, quê Ninh Bình, ngụ tại Hà Nội bị Công an tỉnh Ninh Bình bắt tạm giam với cáo buộc đăng, phát livestream thông tin xuyên tạc, phỉ bang chính quyền Việt Nam.

Mạng báo Pháp Luật loan tin ngày 10 tháng 3 dẫn nguồn từ Công an tỉnh Ninh Bình như vừa nêu. Theo đó Cơ quan An Ninh Điều Tra tỉnh Ninh Bình vừa qua quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối với ông Trần Quốc Khánh.

Những biện pháp vừa nêu nhằm điều tra ông Khánh về tội ‘làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam’.

Công an tỉnh Ninh Bình cho rằng ông Trần Quốc Khánh từ cuối năm 2018 đến năm 2020 khi sống tại xóm 5B, xã Lưu Phương, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đã thường xuyên dùng tài khoản Facebook cá nhân đăng, phát livestream các video bị cho có nội dung bịa đặt, phỉ bang chính quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam, chống phá nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Tính từ đầu năm 2021 đến nay, cơ quan chức năng Việt Nam đã bắt năm người với những cáo buộc mang tính chính trị gồm ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền’ , ‘làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam’, và ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ’… Đó là các ông, bà Nguyễn Thị Bích Thủy, Trần Hữu Đức, Phan Bùi Bảo Thy, Lê Anh Dũng và Trần Quốc Khánh.

Đồng Tâm là vụ án nhức nhối, đánh trực tiếp vào người nông dân giữ đất!

 

“Đồng Tâm là vụ án nhức nhối, đánh trực tiếp vào người nông dân giữ đất!”

Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc, người bào chữa cho những người dân trong phiên phúc thẩm hôm 9-3 nhận xét như thế với phóng viên Đài Á Châu Tự Do.

“Vụ án Đồng Tâm là vụ án khó, vụ án buồn, vụ án nhức nhối, vụ án thách thức lương tri, vụ án làm đau lòng nhiều người, vụ án đánh vào người nông dân giữ đất, vụ án oan của dân oan…

Kết quả phiên toà phúc thẩm bác kháng cáo của sáu bị cáo, không chấp nhận các luận cứ bào chữa của 14 luật sư bào chữa, giữ y bản án sơ thẩm, tuyên hai anh em ruột Lê Đình Công, Lê Đình Chức án tử hình, con trai của ông Công là Lê Đình Doanh chung thân, 16 năm tù với cụ Bùi Viết Hiểu, 13 năm tù cho Nguyễn Quốc Tiến về tội “Giết người” và sáu năm tù cho bà Bùi Thị Nối về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Những vi phạm về thủ tục tố tụng một cách rõ ràng và nghiêm trọng cùng những điểm mờ của vụ án vẫn bỏ ngỏ, đáng nói nhất là nghi vấn về nguyên nhân tử vong của ba viên sỹ quan Cảnh sát, cùng hiện trường vụ án vẫn không được làm rõ, Kế hoạch 419A của Công an thành phố Hà Nội vẫn nằm trong vòng bí mật…” – ông Phúc bày tỏ.

Xem toàn bộ bài viết ở đây –> http://bit.ly/2PhucthamDOngtam1

#RFAVietnamese #DongTam #VuanDongTam #Dongtamvillage

May be an image of 6 people, people standing and text that says 'RFA ĐÀIÁ CHÂU DO no " Đồng Tâm là vụ án nhức nhối, thách thức lương tri, đánh vào người nông dân giữ đất!" Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc nhận xét sau phiên phúc thẩm'

Con Hoang

Con Hoang

Tôi cầm túi đồ ăn ném mạnh vào giỏ rác, nói như hét: “Đã nói má đừng có lên nữa, sao không chịu nghe vậy? Tiền nè, má về đi”.

Mẹ tôi run rẩy bước tới cạnh thùng rác: “Thôi, con không ăn thì má đem về… Tại má nhớ con quá thì lên thăm chớ má đâu có cần tiền. Mai mốt con về thì hết con nước rồi, má sợ không có cá ngon như vầy nữa…”

Tôi dịu giọng: “Sao má không chịu nhớ? Lâu rồi con đâu có thích ăn cá linh? Cá gì mà xương không…”. Mẹ tôi mở giỏ lấy ra túm bông điên điển: “Vậy má để lại cái này cho con nghen? Nước rút rồi nên bông cũng ít. Hôm qua má phải đi hái cả buổi mới được nhiêu đây”. Tôi thấy chạnh lòng nên gật đầu: “Má cứ để đó cho con. Thôi, má về đi, con phải đi làm đây”.

Tôi đứng nhìn theo mẹ bước thấp, bước cao khuất dần nơi đầu hẻm. Tôi để mẹ đi một mình vì không muốn người trong hẻm biết tôi có một người mẹ tật nguyền…

“Cô Tư què”,“bà Tư què”… là những tiếng mà tôi nghe người ta gọi từ khi tôi nhận biết sự bất thường của đôi chân mẹ.

Lớn lên một chút, tôi biết mẹ tôi bị tật cả hai chân từ lúc mới lọt lòng. Bà ngoại mất khi mẹ tôi mới 16 tuổi. Sống một mình giữa đồng nước mênh mông, một đêm mưa nọ, mẹ đã bị một gã đàn ông cùng xóm cưỡng hiếp. Kết quả là – tôi có mặt trên cõi đời này với bao nhiêu điều tiếng xấu xa.

Thế nhưng với mẹ thì ngược lại. Bà xem đó là món quà vô giá mà tạo hóa đã ban cho mình. “Má nói thật đi,ai là cha con?”. Không phải chỉ một lần, tôi hỏi mẹ câu đó. Nhưng lần nào cũng vậy, mẹ chỉ lặng im. Có lần tôi làm dữ thì mẹ nói: “Con biết thì cũng đâu có lợi ích gì mà còn làm cho gia đình người ta xào xáo. Thật lòng, má phải mang ơn người ta chớ thân má như vầy,ai mà thèm…”.

Tôi lớn lên như một cái cây non thiếu ánh sáng. Sau lưng tôi, người ta xầm xì: “Đồ con hoang”. Rồi đến những đứa bạn học cùng lớp cũng trêu chọc: “Đồ không cha”.

Mấy tiếng “con hoang” như một vết chém sâu hoắm vào tâm hồn non nớt của tôi. Không biết từ bao giờ, trong tôi chỉ còn lại sự căm ghét người mẹ tật nguyền của mình.

Trong mắt tôi – mẹ là một kẻ tội đồ vì đã sinh ra một đứa con mà không cho nó biết cha nó là ai…

Lên lớp 10, tôi ra thị xã học. Suốt những năm học cấp 3, tôi chỉ về nhà dịp hè và Tết dù từ nhà ra thị xã chỉ mất 30 phút đi xe máy.

Thằng Kiên con bác Ba Bảo ở cạnh nhà có nhiệm vụ “tiếp tế” cho tôi mỗi tuần. Có lần nó bảo: “Ê, sao mày không về thăm má mày? Tao thấy tội nghiệp má mày lắm. Hôm trước hình như bả bị bịnh đó”. Tôi có hơi băn khoăn nhưng rồi lại quên ngay. “Mày về nói với má tao là nhớ mua thuốc uống, lúc này tao bận học lắm nên không về được”. Thằng Kiên bĩu môi: “Mày đúng là con bất hiếu”.

Học hết lớp 12, tôi quyết định lên Sài Gòn. “Lên trên đó dễ kiếm tiền lắm”- chị Thu con bác chủ nhà tôi ở trọ bảo. Chị làm đầu bếp trong một nhà hàng lớn ở Sài Gòn, lương mỗi tháng cả chục triệu. Chị hứa sẽ đỡ đầu nếu tôi muốn lên trên ấy.

Mẹ tôi đã khóc cả đêm khi biết ý định này. “Con lên trên đó làm sao má đi thăm?”- mẹ tôi sụt sịt. Tôi nạt: “Ai cần má thăm? Má cứ ở nhà, con làm có tiền sẽ gởi về nuôi má”.

Vậy là tôi đi. 4 năm qua, tôi về thăm nhà đúng 1 lần. Mẹ tôi nhờ thằng Kiên dò la tin tức.

Biết chỗ tôi làm, nó gọi điện thoại trách: “Mày đúng là con bất hiếu. Nếu tao không gọi, chắc mày cũng im luôn. Má mày lo tới bịnh luôn đó”. Tôi bực vì cái tiếng “bất hiếu” của nó nên nạt: “Mày còn nói cái giọng đó nữa thì đừng có gọi điện cho tao nghe chưa”. Nói rồi tôi cúp máy.

Có lẽ – nó tức lắm nên dẫn mẹ tôi lên tận Sài Gòn tìm tôi. Dĩ nhiên là nó bị tôi chửi vuốt mặt không kịp. Mẹ tôi cũng bị vạ lây: “Còn má nữa, ai biểu má lên đây?”.

Thật sự thì đâu có ai biểu mà chỉ có tấm lòng, tình yêu của một người mẹ đã thúc giục mẹ tôi lặn lội đi tìm con. “Tại con không về nên má nhớ…”- mẹ tôi rưng rưng. Thấy vậy, tôi cũng không nỡ rầy la: “Thôi được, má muốn lên thì cứ lên; nhưng con nói trước là con không có về dưới nữa đâu”.

Từ đó, cứ vài tháng, mẹ tôi lại lặn lội từ Châu Đốc lên Sài Gòn thăm con. Thỉnh thoảng thằng Kiên rảnh thì lại đi cùng với mẹ.

Có lần nó đùa: “Ê, má bà đã hứa gả bà cho tui rồi đó nghen. Bà ở trên này đừng có lộn xộn”. Tôi không nhớ nó đã đổi cách xưng hô từ khi nào nhưng vừa nghe vậy đã đổ quạu: “Đừng có mơ. Tui không bao giờ trở về cái xứ đó. Mà ông cũng đừng có ăn nói bậy bạ”. Nó cười hì hì: “Giỡn bà thôi chớ cái thứ con cái không ra gì như bà,có cho tui cũng … không thèm lấy”.

Mọi chuyện sẽ không có gì nếu như tôi không tình cờ quen một người. Anh là trưởng phòng của một công ty lớn. Chân dung của tôi trong mắt anh là một đứa trẻ mồ côi, tự lập, tự bươn chải vào đời…“Anh yêu em vì những điều đó. Em là một cô gái đầy nghị lực”- có lần anh bảo tôi như vậy.

Tôi gọi điện cho Kiên: “Ông đừng có dẫn bà già lên nữa nghe chưa. Tôi nói với người ta là tôi mồ côi…”. Vừa nghe vậy, Kiên đã sừng sộ: “Bà ăn nói gì bất nhơn thất đức vậy? Má bà còn sống sờ sờ đó mà”. “Tui nói rồi, ông mà còn dẫn má tui lên là đừng có trách sao tui cạn tình nghen”- tôi nói dứt khoát.

Kiên còn dẫn mẹ tôi lên một lần nữa. Sau đó, hắn mất biệt. Mẹ tôi lại lặn lội đi một mình. Tôi bực bội ra tối hậu thư: “Má đừng có lên đây nữa, con khó ăn khó nói với người ta. Nếu má không nghe lời, con sẽ đổi chỗ ở, không cho biết số điện thoại luôn”.

Lần đó về, mãi 4 tháng sau mẹ tôi mới dám lên.

Đó chính là cái lần tôi đã vứt giỏ đồ ăn mà mẹ lụm cụm mang từ nhà lên cho tôi. Và vì giận mẹ không nghe lời nên tôi đã đổi chỗ ở và không thèm gọi điện thoại về nhà.

***

Cho đến một hôm, tôi bỗng thấy ruột gan mình bồn chồn. Tôi lục tìm số điện thoại của Kiên. Nhưng tôi tìm mãi mà chẳng thấy.

Bẵng đi một thời gian khá lâu, khi sắp xếp lại đồ đạc, tôi tìm được quyển sổ trong đó có ghi số điện thoại của Kiên. Tôi mừng quýnh vội gọi ngay.

Vừa nghe tiếng Kiên, tôi đã líu lo: “Xin lỗi nghen, tui bỏ mất số điện thoại của ông, giờ mới tìm được. Ông sao rồi? Khỏe không? Cưới vợ chưa hay là còn chờ tui?”.

Không nghe Kiên trả lời, tôi lại ghẹo: “Ê, bộ còn giận hả?”. Bên kia, giọng Kiên thật chậm: “Giận làm gì cái thứ không phải con người như bà”. Tôi chột dạ: “Làm gì mà nặng lời như vậy? Ông thấy má tui khỏe không?”.

Không có tiếng trả lời. Tôi sốt ruột: “Nói đi chớ, tốn tiền điện thoại của người ta…”. Kiên thủng thẳng: “Giỏi lắm thì bà cũng chỉ tốn tiền điện thoại một lần này chớ mai mốt có muốn tốn cũng không được…”. Tôi phát bực nên gắt: “Nói gì thì nói lẹ lẹ lên, không thôi tui cúp máy à”.

Lần này tôi không phải chờ lâu vì Kiên nói ngay: “Má bà mất rồi”. Tôi nghĩ là Kiên nói đùa: “Ê, hết chuyện giỡn rồi sao? Má tui đang mạnh sần, ông trù ẻo hả? Đồ xấu xa”. “Còn bà là đồ bất hiếu. Muốn biết thì về. Tui cúp máy đây”.

Giọng Kiên cụt ngủn. Hắn cúp máy thật. Tôi gọi lại, chuông vẫn đổ nhưng hắn nhất quyết không nghe máy.

Bán tín,bán nghi, hôm sau tôi chạy về…

Kiên không hề nói đùa. Mẹ tôi đã mất cách nay hơn 3 tháng. Trước đó, bà đã bệnh không ăn uống cả tuần…

Kiên kể với tôi, hôm đám tang mẹ tôi, trời mưa tầm tã. Những người đưa đám đều khóc khi thấy người đứng ra lo ma chay cho mẹ tôi lại là Kiên. “Tui có nhờ nhắn tin trên truyền hình, cả đăng báo nữa…”- giọng Kiên buồn buồn.

Tôi cúi đầu, không dám nhìn vào ảnh mẹ. Kiên đã nói đúng. Tôi không chỉ là một đứa con bất hiếu mà thậm chí, tôi cũng không đáng làm một con người.

Tôi có mẹ mà như một đứa con hoang…

May be an image of one or more people, people standing and text that says 'eenon w w afamily.vn'

KHÁM TỔNG QUÁT

KHÁM TỔNG QUÁT

Trầm Thiên Thu

 Sách Lê-vi, chương 13, đề cập 22 lần động từ “khám” – trong đó có 1 lần “tái khám.”  Đó là nói tới bệnh phong hủi ở con người.

 Sinh, Lão, Bệnh, Tử là “chuỗi khổ” của kiếp người.  Trong đó, Bệnh là thứ cần được chữa lành.  Điều đó cũng ngầm hiểu rằng sự sống vô cùng quan trọng.  Và dù cho có chữa khỏi bệnh nào đó thì rồi cũng chẳng ai thoát khỏi “cửa tử”, y học có tiến bộ tới đâu thì cũng phải “bó tay”, chịu thua vô điều kiện.

 Mùa Chay không chỉ là lúc thuận tiện để kiểm tra tổng quát về sức khỏe tâm linh, mà còn là Mùa Cứu Thương.  Mùa này không phải cố giành sự sống của thân xác – phần thể lý, mà cố giành sự sống linh hồn – phần tâm linh.  Trước tiên, có lẽ chúng ta cần đến Khoa Tai-Mũi-Họng để kiểm tra.  Trong sách Châm Ngôn 6:12-19, Thiên Chúa cảnh báo về Miệng, Lưỡi, Mắt, Tay, Chân, Tim và Óc (mưu tính).  Các cơ phận đó có vẻ đơn giản mà lại rất phức tạp!

 Khám tổng quát để biết chi tiết.  Biết chi tiết nào trục trặc thì chữa trị ngay bằng biệt dược cầu nguyện, sám hối và đền tội.  Tất nhiên cũng phải “ăn kiêng” để việc điều trị thêm hiệu quả.  Về thể lý, đó là kiêng cữ một số thực phẩm nào đó; về tâm linh, đó là việc ăn chay và hãm mình.  Bỏ cái nhỏ để được cái to, bỏ cái đời thường (hạ cấp) để được cái diễm phúc (cao cấp).

 Bệnh thể lý có thể chữa khỏi hoặc không thể khỏi, nhưng bệnh tâm linh chắc chắn được chữa lành nhờ Thần Y Giêsu.  Đây là một số câu Kinh Thánh cho chúng ta biết về hiệu quả của việc điều trị tại Nhà Thương Thiên Chúa:

 

1. Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi.  Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà, ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc, khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng (Tv 103:3-5).

 

2. Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, những vết thương, băng bó cho lành (Tv 147:3).

 

3. Ta sẽ mang lại cho nó một phương thuốc điều trị, sẽ chữa lành, sẽ tỏ cho chúng thấy một cảnh thái bình và một nền an ninh lâu dài (Gr 33:6).

 

4. Người gây thương tích, cũng chính Người băng bó, đánh bầm dập xong, lại ra tay chữa lành (G 5:18).

 

5. Tất cả những kẻ tiêu diệt ngươi sẽ bị tiêu diệt, mọi kẻ thù ngươi sẽ phải đi đày.  Mọi kẻ bóc lột ngươi sẽ bị bóc lột, và mọi kẻ cướp phá ngươi, Ta sẽ để cho bị cướp phá.  Phải, Ta sẽ phục thuốc cho ngươi, các thương tích của ngươi, Ta sẽ chữa lành vì người ta gọi ngươi là “Thành bị ruồng rẫy”, “Sion đó, kẻ chẳng được ai lo” (Gr 30:16-17).

 

6. Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân (Mt 4:23).

 

7. Đức Giêsu ngó quanh để nhìn người phụ nữ (bị băng huyết mười hai năm) đã làm điều đó (sờ vào áo Ngài).  Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình.  Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người.  Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con.  Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh” (Mc 5:32-34).

 

8. Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính.  Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành (1 Pr 2:24).

 

9. Ai trong anh em đau yếu ư?  Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa.  Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha.  Anh em hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát.  Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực (Gc 5:14-16).

 

10. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ.  Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất (Kh 21:4).

 Khám tổng quát và biết bệnh rồi thì phải điều trị ngay, càng sớm càng tốt.  Kinh Thánh xác định: “Người công chính phải có lòng nhân ái” (Kn 12:19).  Chính Thiên Chúa kê toa cho mỗi chúng ta: “Hãy trở về với Đức Chúa và từ bỏ tội lỗi, hãy cầu khẩn trước nhan Người và giảm bớt dịp tội.  Hãy đoạn tuyệt với gian ác, trở về cùng Đấng Tối Cao, và cực lực gớm ghét mọi điều ghê tởm” (Hc 17:25-26).

 Với người phụ nữ ngoại tình (Ga 8:2-11), loại “bệnh” mà chúng ta thường coi như chứng nan y, dạng ung thư bất trị, thế mà Thần Y Giêsu chữa khỏi ngay chỉ bằng một liều thuốc đơn giản: “Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8:11).

 Thần Dược thật tuyệt vời biết bao!  Thần Dược đó là “thương tình tha thứ.”  Loại biệt dược này vừa rẻ vừa hay.  Rẻ vì không tốn phí tức giận, ghen ghét, thù hận.  Hay là có hiệu quả mau chóng.

 Nhà Thương Thiên Chúa là bệnh viện đa khoa, nhưng vẫn chuyên trị bất cứ chứng bệnh nào – kể cả các chứng nan y.  Hãy an tâm đến khám, hoàn toàn miễn phí cho mọi người – dù nghèo hay giàu.  Chỉ cần một chút “chi phí tùy tâm” là lòng thành tín (chân thành và tin tưởng).  Thế thôi!  Bệnh viện đa khoa nhưng có vô số “phòng khám tư” là Bí tích Hòa Giải, sau đó sẽ được bồi bổ bằng Bí tích Thánh Thể.

 Nhà Thương Thiên Chúa tiếp nhận mọi bệnh nhân, dù nặng hay nhẹ.  Thời gian làm việc suốt ngày suốt đêm (24/7).  Hãy đến mau, đặc biệt trong Mùa Cứu Thương này: Mùa Chay.

Đêm Mùa Chay, 10-3-2019

Trầm Thiên Thu

Đêm Mùa Chay, 10-3-2019

Nỗi đau sẽ không dứt nếu không biết tại sao đau

Nỗi đau sẽ không dứt nếu không biết tại sao đau

Bởi  AdminTD

Trần Trung Đạo

9-3-3021

Ảnh tư liệu

Em học sinh Việt Nam nằm gối đầu lên cặp sách, im lìm như đang ngủ trưa trong một bức hình đăng trên một tờ báo Mỹ. Các nhân viên y tế cứu thương chỉ vì quá thương xót mà tưởng như em còn biết đau nên đặt đầu em cao trên chiếc cặp vậy thôi. Không, em không ngủ trưa, em chết rồi. Em là một trong 32 học sinh (báo Hòa Bình đăng con số là 23), trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường, bị Việt Cộng pháo kích chết lúc 2:55 trưa ngày 9 tháng 3, 1974.

Em bị giết chỉ hơn một năm trước ngày chấm dứt chiến tranh để từ đó dân tộc Việt Nam chịu đựng 46 năm trong độc tài đảng trị đến hôm nay.

Ai giết 32 em học sinh trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường?

Các em chết vì đạn pháo kích của Việt Cộng. Vâng. Nhưng đa số tuổi trẻ VN sinh ra và lớn lên sau 1975 không biết sự thật đó.

Các em chỉ được nhồi sọ về cái chết của “10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc.”

Ngã ba Đồng Lộc thuộc xã Đồng Lộc, Hà Tĩnh, nằm trên con đường chiến lược nối vào dãy Trường Sơn nên trong thời chiến thường bị Mỹ ném bom. Ngã ba Đồng Lộc gắn liền với chuyện 10 nữ thanh niên xung phong bị bom của Không lực Hoa Kỳ ném trúng ngay miệng hầm. Tiểu đội gồm 10 cô gái trẻ. Tất cả đều cùng quê hương Hà Tĩnh và đều chết tức khắc. Người nhỏ nhất là Vũ Thị Hà chỉ mới 17 tuổi.

Ai giết 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc?

Nếu hỏi 100 em học sinh Việt Nam, thì đúng 100 em sẽ trả lời do bom của “Đế quốc Mỹ.”

Nhưng nếu không có “đế quốc Mỹ” rồi 10 cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc và hàng triệu thanh niên miền Bắc vô tội có chết hay không?

Nếu hỏi 100 em học sinh Việt Nam, thì đúng 100 em sẽ trả lời “Không.”

Thật ra, không có Mỹ các cô gái thanh niên xung phong đó cũng có thể chết. Nếu không chết tại Ngã Ba Đồng Lộc rồi cũng một ngã ba khác, một con đường khác, một thôn làng Việt Nam khác.

Số phận Việt Nam vốn đã nằm trong sinh tử lệnh của Mao và các lãnh đạo CS Trung Hoa không chỉ trước Điện Biên Phủ, sau hiệp định Geneve, hiệp định Paris, biến cố Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay từ đầu thập niên 1920 khi đảng CSVN còn đang thai nghén trong nhận thức của Hồ Chí Minh.

Đường lối chiến tranh của Mao trong bài phát biểu tại Diên An: “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là chiếm lấy quyền lực xuyên qua đấu tranh võ trang và giải quyết xung đột bằng chiến tranh. Đây là nguyên tắc cách mạng của chủ nghĩa Mác Lê-nin, và phải được thực hiện một cách toàn diện tại Trung Quốc và toàn thế thế giới.”

Đường lối đó chi phối toàn bộ chính sách của đảng CSVN. Quan hệ giữa hai đảng CS Việt Nam và Trung Quốc có khi nắng khi mưa, khi ấm khi lạnh nhưng đường lối đó chưa hề thay đổi.

Đáp ứng lời yêu cầu của Hồ Chí Minh trong chuyến thăm viếng Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ từ ngày 22 tháng 6 đến 22 tháng 7 năm 1955, các đảng CS đó đã bắt đầu gởi súng đạn ồ ạt đến miền Bắc Việt Nam. Tổng số viện trợ quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác giúp cho Hà Nội là 2 triệu 362 ngàn 581 tấn, trong đó bao gồm một danh sách dài của các loại vũ khí, từ 3 triệu 600 ngàn khẩu súng cá nhân cho đến 458 máy bay chiến đấu và hàng vạn đại pháo, hỏa tiễn nhiều loại.

Tài liệu đó không phải được trích dẫn từ các “thế lực thù địch” hay “thành phần phản động” nào mà là tài liệu của Viện Lịch sử Quân sự Hà Nội.

Trong tác phẩm Trung Quốc lâm chiến: Một bộ bách khoa (China at War: An Encyclopedia) tác giả Xiaobing Li liệt kê các đóng góp cụ thể của 320 ngàn quân Trung Cộng trong chiến tranh Việt Nam:

“Mặc dù đang mạnh dần, Trung Quốc vẫn lo ngại sự hiện diện ngày càng mở rộng của Mỹ tại Đông Nam Á. Trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn năm 1964 đến năm 1973, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã can thiệp một lần nữa. Tháng Bảy năm 1965, Trung Quốc bắt đầu đưa quân vào Bắc Việt, bao gồm các đơn vị hỏa tiễn địa-không (SAM), phòng không, làm đường rầy xe lửa, công binh, vét mìn, hậu cần. Quân đội Trung Quốc điều khiển các giàn hỏa tiễn phòng không, chỉ huy các đơn vị SAM, xây dựng và sửa chữa đường xá, cầu cống, đường xe lửa, nhà máy. Sự tham gia của Trung Quốc giúp cho Việt Nam có điều kiện gởi thêm nhiều đơn vị Bắc Việt vào Nam đánh Mỹ. Giữa năm 1965 và năm 1968, Trung Quốc gởi sang Bắc Việt 23 sư đoàn, gồm 95 trung đoàn, tổng số lên đến 320 ngàn quân. Vào cao điểm năm 1967, có 170 ngàn quân Trung Quốc hiện diện.”

Từ năm 1955 và nhất là từ 1959, khi giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở đường Trường Sơn “giải phóng miền Nam bằng phương tiện võ lực,” số lượng cố vấn Mỹ tại miền Nam cũng chỉ là những nhóm nhỏ và tập trung vào việc bảo vệ và xây dựng căn nhà dân chủ vừa được dựng lên.

Hơn bao giờ hết, các nền dân chủ non trẻ tại Á Châu cần sự giúp đỡ của thế giới tự do. Cũng vào thời điểm đó, các nước Cộng Hòa ở châu Á như Mã Lai, Nam Hàn, Singapore, Đài Loan đang vượt qua quá khứ thực dân hay chiến tranh Quốc Cộng để vươn lên cùng nhân loại. Trên cánh đồng miền Tây nước Việt, trên bến cảng Singapore, trong nhà máy ở thủ đô Seoul, những con người với niềm hy vọng mới đang hăng hái dựng lại căn nhà mới.

Niềm hy vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam vừa lóe lên đã vụt tắt vì đảng CSVN quyết định chiếm Việt Nam Cộng Hòa dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” như Hồ Chí Minh đã tuyên bố.

Người bình thường chỉ biết nhìn một biến cố từ hậu quả nhưng người có ý thức phải hiểu tận nguyên nhân, bởi vì mọi việc xảy ra trên đời, mọi sự vật có mặt trên đời đều có nguyên nhân.

Cả 32 em học sinh trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường và 10 người chị Việt Nam của các em chết ở Ngã Ba Đồng Lộc chỉ chết vì một nguyên nhân: Tham vọng CS hóa toàn cõi Việt Nam của lãnh đạo CSVN và CS Quốc Tế.

Ảnh tư liệu

Dù có Mỹ hay không có Mỹ, dù bằng phương tiện hòa bình hay khủng bố thì chủ nghĩa cộng sản độc tài chuyên chính vẫn phải được thiết lập trên toàn cõi Việt Nam. Mục tiêu đó đã được đóng khung tô màu từ trong đề cương thành lập đảng CSVN 1930.

Do đó, không ai khác mà chính các lãnh đạo CSVN và CS Quốc Tế đích thực là thủ phạm đã giết 2.5 triệu dân Việt Nam trên hai miền Nam Bắc trong đó có 10 cô gái thanh niên xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc và 32 em học sinh tiểu học Cai Lậy, Định Tường.

Giờ phút này, tôi tin rằng, trong căn phòng nhỏ ở Virginia, trong căn gác hẹp ở Paris, Santa Ana, Sydney, Berlin… bên những ngọn đèn heo hút ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, hàng ngàn người Việt Nam quan tâm đến tiền đồ dân tộc vẫn còn canh cánh bên lòng một câu hỏi chưa tìm được cách trả lời trọn vẹn “Tại sao sau 46 năm CSVN vẫn còn tồn tại?” Bởi vì dân tộc ta yếu hèn, phân hóa? Bởi vì đảng CSVN còn quá mạnh? Bởi vì cả hai lý do trên?

Thật ra, dân tộc ta không yếu hèn và đảng CS cũng không quá mạnh, nhưng chính vì các thành phần có khả năng thúc đẩy sự chuyển hóa xã hội không có một nhận thức và tầm nhìn đúng về bản chất của cuộc chiến Việt Nam.

Sau 46 năm, một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam vì bị tẩy não nên chưa nhận ra hay chỉ vì bàn tay dính máu đồng bào nên không đủ can đảm thừa nhận nguồn gốc sâu xa của cuộc chiến.

Không hiểu đúng tại sao chủ nghĩa CS đến Việt Nam sẽ không có một cách thích hợp để đẩy chủ nghĩa CS ra khỏi Việt Nam. Và tương tự, không hiểu đúng quá khứ sẽ không có hành động đúng vì tương lai đất nước.

Nỗi đau của dân tộc Việt Nam sẽ không dứt nếu không biết tại sao đau.

Việt Nam: Xử phúc thẩm vụ Đồng Tâm, tòa y án tử hình 2 bị cáo (RFI)

 

Việt Nam: Xử phúc thẩm vụ Đồng Tâm, tòa y án tử hình 2 bị cáo

Hôm nay, tại Hà Nội, trong phiên xử phúc thẩm 6 bị cáo trong vụ án « giết người » xảy ra ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, ngày 09/01/2020, hội đồng thẩm phán đã ra phán quyết y án án tử hình đối với hai bị cáo, và y án tù với những người khác.

Phiên tòa phúc thẩm vụ Đồng Tâm, mở hôm qua 08/03/2021, dự kiến sẽ diễn ra trong ba ngày, nhưng đã chấm dứt ngay chiều hôm nay, 09/03, sớm hơn dự kiến một ngày. Hội đồng thẩm phán ra phán quyết vào lúc 18 giờ, giờ Việt Nam.

Vụ án Đồng Tâm được công luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Tháng 9/2020, Liên Hiệp Châu Âu đã phản đối Việt Nam về hai bản án tử hình trong phiên xử sơ thẩm, và lưu ý những điều kiện và thủ tục tố tụng của phiên tòa « làm dấy lên quan ngại sâu sắc về tính minh bạch và công bằng của phiên tòa ».

Sau đây là nhận định của luật sư Ngô Anh Tuấn, một người tham gia bào chữa cho các bị cáo trong phiên tòa hôm nay, ngay sau khi phán quyết được đưa ra : …

Người Đi, Linh Hồn Ở Lại -Tuấn Khanh

Người Đi, Linh Hồn Ở Lại –

Tuấn Khanh

Chúng tôi chọn những ngày cuối năm để leo lên ngọn đồi lịch sử Charlie, bởi vào lúc này thời tiết không quá khắc nghiệt để lần mò được đến nơi. Mang theo trong chuyến đi, những thứ quan trọng nhất là rượu, hoa và nhang: quà cho những người mà thế hệ chúng tôi chưa từng biết mặt.

Máu xương người Việt…

Khác với việc thắp nhang ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nay nằm trong địa phận tỉnh Bình Dương, đường đi nghĩa trang không khó nhưng lại phải chịu sự dòm ngó và hạch hỏi của nhóm gác cổng do công an địa phương cắt đặt, còn đường đi đến đồi Charlie chỉ có núi rừng, vài tấm bảng chỉ đường phủ đầy bụi đỏ. Thi thoảng trên đường có bắt gặp vài người dân tộc Jarai hay Sedang.

Thầy An Trú, đến từ Huế, đang thắp nhang và cầu nguyện cho những linh hồn trên ngọn đồi Charlie

Charlie là một chóp đồi cao nằm giữa ba huyện Sa Thầy, Đắk Tô và Ngọc Hồi, thuộc tỉnh Kon Tum. Đường đi đến đó cheo leo và trắc trở. Chúng tôi đoán là trước năm 1975, hầu hết cuộc chuyển quân đều dựa trên không vận mới có thể nhanh và an toàn. Người Việt trong vùng gọi là Sạc-Li, dựa theo âm tiếng Anh, mà trong chiến tranh Việt Nam, cứ điểm cao 900m so với mặt nước biển được quân đội đặt tên, tạo thành tuyến phòng thủ và quan sát khu vực ngã ba Đông Dương. Nơi đây còn là vùng bảo vệ cho sân bay quân sự Phượng Hoàng và bản doanh bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn 22 Bộ binh ở Tân Cảng của miền Nam.

Việc đặt tiểu đoàn 11 nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ ở đồi Charlie là một sự khó chịu vô cùng đối với quân Bắc Việt, vì mọi cuộc chuyển quân ở ngã ba Đông Dương hay từ Bắc vào, qua ngã này, đều có thể bị phát hiện. Cho nên, trong cuộc tổng tiến công năm 1972 của quân đội Bắc Việt, cùng với một phần của Mặt trận Giải phóng miền Nam, đồi Charlie là mục tiêu cần phải bị xóa sổ. Cái gai cần phải nhổ cho đường tiến quân thuận tiện từ Tây Nguyên xuống đồng bằng miền Nam.

Nhóm đi viếng chụp hình lưu niệm trước ngã ba đường – một bên là đồi Charlie cứ điểm 1015 và một bên là cứ điểm Delta 1049

Mùa hè 1972, người ta gọi đó là mùa hè đỏ lửa. Đỏ lửa là bởi sự nóng bức của thiên nhiên, cộng thêm súng đạn bay khắp nơi trong một cuộc tương tàn nhân danh giải phóng của chủ nghĩa cộng sản. Không có số liệu chính xác nào nói về thương vong của cả hai bên ở đồi Charlie, nhưng dựa trên phần sử liệu được công bố thì phía Việt Nam Cộng Hòa có tiểu đoàn 11 Song kiếm Trấn ải (tạm tính khoảng hơn 600 người) đối đầu với quân của sư đoàn 320 Bắc Việt (tạm tính khoảng gần hơn 7,000 người), chưa kể phía lực lượng Mặt trận Giải Phóng Miền Nam không được công bố, thì con số ít nhất thiệt mạng sau khi máy bay B-52 bỏ bom rải thảm tái chiếm, những thanh niên Việt Nam của cả hai bên thiệt mạng, ít ra cũng phải là 4,000 đến 5,000 người trong trận đó.

Điều đó, có nghĩa rằng chuyến đi mất gần ba tiếng di chuyển lên đến đỉnh đồi của chúng tôi, nơi đâu cũng có máu xương người Việt. Từng viên đá, từng khúc quanh, từng ngọn cây… chắc đều giữ lại phần bí mật nhất chưa bao giờ được kể lại về số phận không chỉ của từng con người, mà của một dân tộc phải chịu điêu linh vì cuộc chiến tranh màu lý tưởng cộng sản.

Ngọn đồi Charlie xanh mướt và lặng lẽ giữa thông xanh, trời mây và gió se sắt lạnh. Đầu ngõ vào cầu treo dẫn đến chân đồi, chính quyền địa phương đến hôm nay cũng chưa dám ghi rõ ràng về cuộc chiến này, mà chỉ đơn giản là “Di tích lịch sử của điểm cao 1015 Charlie và 1049 Delta” – khác với giọng điệu thường đắc thắng và kiêu ngạo sau 1975, khi mà những di tích thường có thêm các tấm bia ngợi ca sự anh dũng của quân đội Bắc Việt. Nhưng ở Charlie, mất mát quá lớn có thể là điều nhà cầm quyền ngại ngùng không muốn nhắc tới. Hàng năm không chỉ có những chuyến xe từ Bắc vào Charlie để viếng người thân sinh Bắc tử Nam, mà chính người miền Nam đứng trên ngọn đồi ấy cũng ngậm ngùi: Ai, điều gì… đã xô đẩy khiến cho máu xương Việt Nam chia lìa và chôn vùi thảm khốc đến vậy?

Đường dẫn vào chân đồi Charlie với tấm bảng do nhà cầm quyền dựng nên nhưng mô tả sơ sài

“Đi thăm ông Trung tá Bảo à?”

Chúng tôi đi xe máy, sáu người chở nhau và tận dụng mọi sức lực tay chân để có thể đến đỉnh đồi, trước khi trời sụp tối. Có đoạn phải vừa nổ máy xe, vừa đẩy, có đoạn vứt bớt đồ lại vì quá mệt, mang vác không nổi. Đoạn đường vừa tạm hết lầy sau mùa mưa, lại khô, trơn và nhiều ổ gà và đá vụn. Mọi người trong đoàn có lúc mệt đến mức hoa mắt, tay chân bủn rủn, thở không được vì không khí ngày càng loãng. Anh B., người khỏe nhất trong nhóm, có lúc đứng lại chắp tay và cầu nguyện “Đã đến được đây, mấy anh phải giúp tụi em đến nơi thắp hương mời rượu cho mấy anh”.

Đã 45 năm rồi. Những ngôi mộ, nếu có, thì giờ cũng đã um tùm cỏ lau. Thịt xương cũng đã là rêu bụi. Chiến địa đã trở thành rừng xanh bao phủ trên núi, ôm kín mọi nỗi lòng. Đó là chưa nói nhiều thế hệ đã đi qua, không biết, hoặc bị tuyên truyền bóp méo tin tức về những người lính Việt Nam Cộng Hòa ở đây. Vậy mà mấy lần, gặp một người Jarai hay Sedang, thấy chúng tôi hồng hộc thở trên đường, họ cười thân thiện và hỏi “đi thăm ông Trung tá Bảo à?”.

Lạ lùng. Sao họ lại biết Trung tá Bảo nhỉ? Thậm chí bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có tên Người ở lại Charlie cũng không nhắc gì về tên của người chỉ huy tiểu đoàn Song kiếm Trấn ải này. Dù sau khi tử trận ở Charlie, Trung tá Nguyễn Đình Bảo (1936-1972) được truy phong đại tá, nhưng dân trong vùng vẫn nhớ về một vị Trung tá, giữa hàng ngàn người đã gửi lại hình hài ở nơi này.

Người ở lại Charlie

Trận chiến Charlie diễn ra trong một tuần, dữ dội. Quân đội Bắc Việt được điều động tiến vào Nam, số trang bị và nhân lực được kể là gấp sáu lần quân Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ. Một người lính miền Nam phải chống cự với 6-7 người lính miền Bắc. Pháo kích và tiến công biển người diễn ra cấp tập trong ba ngày đầu. Đạn pháo kích đã khiến Trung tá Nguyễn Đình Bảo tử trận vào ngày thứ hai (12-4-1972), các chỉ huy nối nhau thay quyền kiểm soát cũng tử trận liên tục.

Không chỉ tấn công mà mục tiêu của sư đoàn 320 còn là tiêu diệt cho được tiểu đoàn Song Kiếm Trấn Ải (theo nhà văn Phan Nhật Nam thì sau trận đồi Charlie, tiểu đoàn này mất 400 quân nhân) nên quân Bắc Việt bao vây và chặn đường mọi ngã. Thậm chí súng phòng không Bắc Việt còn được chuẩn bị để ngăn không cho trực thăng tiếp viện. Sau khi không còn đạn dược và lương thực, những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa còn lại đã rút lui, nhường đường cho tốp máy bay B-52 bỏ bom hủy diệt toàn bộ phần Sư đoàn 320 đang tràn lên ở đây. Charlie phút chốc thành bình địa, kể cả những bộ đội từ Bắc vào, cho đến những thân xác còn nằm lại của những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa.

Mọi nỗ lực tấn công hao tổn về con người và súng đạn của phía quân chính quy Bắc Việt hoàn toàn thất bại. Có lẽ vì vậy mà trong wikipedia Việt ngữ nói về Sư đoàn 320, chiến sử Charlie đã không được ghi lại cũng như cũng cố ý không nhắc tới, trong các mục viết ca ngợi danh tiếng của Sư đoàn này.

Nói về trận đánh đó, vùng đất đó, nhà văn Phan Nhật Nam có viết trong bài Người ở lại Charlie: “Bi kịch không riêng đối với những người lính Tiểu Đoàn 11 Dù, qua lần đi khuất của Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo – Nhưng cũng là bi kịch của mỗi thân phận Người Miền Nam hiện thực qua hy sinh xả kỷ của Người Lính, sự chịu đựng âm thầm của Người Vợ-Đứa Con Người Lính. Nỗi Đau kia hằng mới vì Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung, cùng với những dấu tích kỳ diệu miên viễn của Tình Yêu trong đời sống trần thế giới hạn của nhân sinh”. (trích)

Cuối năm 1972, quân đội Việt Nam Cộng Hòa có tổ chức dựng bia tưởng niệm trên đỉnh đồi để tưởng các quân nhân đã hy sinh trong cuộc chiến, và ghi nhớ nơi tử trận của Đại tá Nguyễn Đình Bảo. Nhưng rồi sau 1975, chính quyền địa phương theo lệnh từ Hà Nội đã cho đập phá tất cả. San bằng mọi thứ. Nhưng đáng ngạc nhiên, là chính nhà cầm quyền Bắc Việt cũng không hề dựng bất kỳ bia tưởng niệm nào cho hàng ngàn người lính của họ đã thiệt mạng ở nơi này.

Mãi cho đến giữa thập niên 1990, những đoàn thân nhân từ miền Bắc vào để viếng, nơi con em của họ đã để lại tuổi xuân trên ngọn đồi Charlie mới góp tiền cùng nhau dựng một bàn thờ, hương khói. Còn về những người miền Nam, không biết ai đó đã ùn một đống đất, tựa như một gò nhỏ, hay có thể là một nấm mộ tượng trưng cho những ai lên thắp hương cho Đại tá Nguyễn Đình Bảo và những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Và dù rất khiêm tốn, không có bia hay chữ ghi chú nào, nhưng mọi người đều biết nếu thắp nhang cho những người miền Nam, thì đến đó.

Từ đỉnh đồi Charlie nhìn bao quát xuống phía dưới. Tháng Tư năm 1972, hàng ngàn quân Bắc Việt giấu mình để từ đó tấn công lên đỉnh đồi

Giải oan cho cuộc biển dâu này

Khi cả nhóm loay hoay trên ngọn đồi, lúc chiều xuống đậm rồi, vẫn không biết là nơi nào để hướng đến, thì chính một người trẻ tuổi địa phương bất ngờ có mặt xuất hiện trên đó chỉ giúp, “nơi của ông Bảo”, hay nơi để viếng những người cùng ông ngã xuống, cũng vậy.

Hương bay theo gió, những cánh hoa vàng phất phơ trên cỏ. Tôi chợt nhớ đến phần cuối trong Đồi gió hú của Emily Bronte, rằng “dưới những cành hoa phất ấy, những người nằm dưới nấm mộ ấy có thật sư yên nghỉ không?”. Không có ai trả lời tôi suy nghĩ đó, chỉ có tiếng gió rít qua từng hồi như tiếng thở than.

Con đường xuống núi nguy hiểm và khó khăn hơn cả lúc đi lên, vì chung quanh là bóng tối, đường lầy với cát khô và đầy khúc quanh dốc xuống thẳng đứng. Nhưng bên cạnh chuyện việc lo lắng đi ra, ai cũng mang theo một cảm giác kỳ lạ. Trận chiến Charlie lại sống động như mới hôm qua, những người Việt Nam nổ súng vào nhau như vẫn còn nghe tiếng đạn bay. Rừng núi âm u như vẫn chực chờ những cái chết vô định. Chúng tôi cảm nhận được hết mọi thứ và ngồi lại, kể với nhau khi ra đến bên ngoài.

Ký ức thường rồi dần sẽ phai mờ, sự khốc liệt của chiến tranh, máu và nước mắt rồi cũng khô cạn. Nhưng anh hùng tử, khí hùng bất tử, cái chết vì chính nghĩa bảo vệ miền đất tự do của những thanh niên miền Nam Việt Nam quyết bảo vệ vùng đất của mình vẫn được nhớ đến, vẫn phảng phất trong hương gió núi vùng Dakto, trong lời hát, bất ngờ hiện ra vào chiều sẩm tối ở đồi Charlie, khiến chúng tôi gai người – sự linh thiêng của núi sông là đây, của cha anh là đây, của nghịch cảnh tương tàn vì tham vọng cơ đồ là đây.

V., một người trong nhóm thắp hương trên đỉnh đồi vào lúc chiều tà, từng người trong nhóm đi viếng đều có lời cầu nguyện riêng của mình trong phút giây thiêng liêng đó

Đi trong đoàn có hai sư thầy trẻ, vừa là bạn tín ngưỡng, vừa là người đồng chí hướng. Nhang được đốt lên, hoa được đặt xuống mặt đất bằng. Chai rượu trắng được rót xuống cùng những lời cầu nguyện khác nhau. Anh V., đứng thẳng dáng gầy, tay chắp nhang ngang mày im lặng. Sự tôn nghiêm của anh làm hơi rượu như nồng hơn, sẻ chia như những vần thơ của Tô Thùy Yên:

Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay

Chén rượu hồng đây xin rót xuống

Giải oan cho cuộc biển dâu này

Giờ thì không có ai là kẻ thù, cần diệt trừ và không có nơi chốn nào, cần phải bị giải phóng. Chỉ có những con người nằm lại với nhau, xương thịt nằm lại trên cùng một mảnh đất, cùng ngửa mặt lên bầu trời đêm của ngọn đồi Charlie để thấy thương đau là tên gọi chung của tất cả. Tất cả thịt xương Việt Nam đã đến, đã hư không, chỉ còn linh hồn ở lại.

Chắc chắn rồi chúng tôi sẽ trở lại, rót rượu cho mọi người, không phân biệt là ai. Vì như có một lời hứa âm vang trong tim với những con người đã đến, thân xác ra đi nhưng linh hồn mãi mãi ở lại Charlie. Những người anh em Việt Nam đã chết trên đất nước, đem lại những điều quý giá. Có những người dạy cho thế hệ sau biết chính nghĩa quốc gia là gì, và có những người lại dạy cho chúng tôi biết cuộc tương tàn ấy đau đớn thế nào trong tham vọng chủ nghĩa.

Tháng 12-2020

Tuấn Khanh.

TRUYỆN NGẮN – Tiểu Tử…XÍU…

 

TRUYỆN NGẮN – Tiểu Tử…

XÍU….

Nàng là người Việt gốc Hoa. Tên nàng là Trịnh Tiểu Mi, một cái tên rất… “tài tử Hồng Kông”. Mà thật sự, nàng cũng có nét tài tử Hồng Kông, bởi vì nàng đẹp. Ở nhà gọi nàng là “A Xíu”, một cái tên có âm thanh thật dễ thương. Và cũng hạp với con người của nàng: nhỏ nhỏ thon thon, cân đối gọn gàng như con búp-bế.

Gia đình nàng có nhà ở Chợ Cũ Sàigòn.Tầng dưới là cửa hàng bán cà phê đã rang rồi, cà phê hột và cà phê xay đủ loại. Hai tầng trên để ở và sân thượng là nơi rang cà phê.

Nàng là con gái duy nhứt của gia đình, lại là đứa con út nên được cưng như trứng mỏng. Hai người anh đã có gia đình, đã “ra riêng”, cũng bán cà phê nhưng ở tuốt trong Chợ Lớn.

Ngày ngày, nàng phụ “mà má” đứng bán cà phê. Khách hàng tới mua nườm nượp, nhất là giới trai trẻ. Cà phê được pha trộn và rang theo lối thủ công gia truyền, ngon có tiếng. Bán đắt đã đành nhưng cửa hàng đông khách, có lẽ phần lớn tại vì nàng duyên dáng dễ thương ! Bằng cớ là thiên hạ nói “Cà phê A Xíu” chớ không ai nói “Cà phê Hối Ký” là bản hiệu của cửa hàng !

…Chàng là người Việt “chánh cống”, quê ở Cần Thơ. Chàng thuộc gia đình nông dân, ba đời làm ruộng. Chàng tên là Bảy vì là thứ bảy. Dáng vóc chàng cao ráo, “đô” con, nhưng tánh tình thì trầm lặng ít nói, còn có vẻ… lù đù nữa ! Vì vậy nên hồi đi lính quốc gia, bạn đồng đội “gắn” cho hỗn danh “thằng Bảy Lù”.

Hồi thời trước, nhờ bà con quen lớn sao đó mà chàng được về làm việc văn phòng ở tổng tham mưu. Chàng mướn một căn gác nhỏ ở khu cổng xe lửa số 6 để ở, rồi ngày ngày đi làm bằng xe đạp. Chàng không đủ sức mua Honda nên lúc nào cũng thấy đi xe đạp, cho dầu phải đạp xa cách mấy…

Chàng và nàng gặp nhau lần đầu trong bữa tiệc cưới của một người bạn chung. Chú rễ này cố tình sắp cho họ ngồi cạnh nhau, cùng bàn. Bởi vì khi giới thiệu, anh ta nói : “Đây là Tiểu Mi, người đẹp Chợ Cũ. Chưa có kép nào được lọt mắt xanh của nàng hết. Mày liệu thử thời vận coi ra sao.

Còn đây là thằng Bảy, bạn cùng đơn vị. Nó hơi cù lần nhưng dễ thương như một tờ giấy trắng. Anh sắp nó ngồi cạnh Tiểu Mi để nó… hầu Tiểu Mi đó nghen !” Nàng nhìn chàng, mỉm cười mà hai vành tai đỏ ửng. Chàng gật đầu, nói lí nhí : “Hân hạnh…”. Vậy rồi họ quen nhau…

Về đơn vị chàng giới thiệu “cà phê A Xíu”. Mấy xếp lớn xếp nhỏ uống thử, khen ngon. Sau đó, cứ vài hôm là chàng đạp xe xuống Chợ Cũ mua cà phê giùm mấy xếp. Nhờ vậy, họ thân nhau. “Pà-pá , mà-má” của Xíu cũng mến “thằng Bảy”, nên thường nói : “Tội nghiệp thằng nhỏ ! Đạp xe lên xuống mua cà phê hoài mà không nghe than một tiếng”.

Rồi họ được phép đi chơi với nhau. Đi xe đạp, mỗi đứa một chiếc, chạy song song. Những lúc đi như vậy, chỉ có mình nàng nói, còn chàng thì mỉm cười lắng tai nghe, lâu lâu góp vào vài câu, nhưng góp đúng lúc. Nàng thích chàng ở chỗ tế nhị đó. Còn chàng thì thích nghe nàng nói, nói bất cứ chuyện gì. Bởi vì giọng nói của nàng đã dễ thương mà cách nàng nói càng dễ thương gấp bội.

Vậy rồi họ yêu nhau lúc nào không biết ! Họ chưa từng nói “yêu nhau” nhưng họ biết họ yêu nhau. Bởi vì họ nói tình yêu bằng đôi mắt và họ nghe lời yêu bằng tất cả con tim…

Một hôm -chàng nhớ hoài cái hôm đó, đến bây giờ vẫn còn nhớ rõ, và có lẽ mãi mãi về sau … ờ… mãi mãi về sau … chắc chẳng bao giờ quên- hai đứa hẹn nhau đi chơi, Xíu nói : “Em để xe đạp ở nhà. Đi chơi mà đạp xe song song cứ phải nhìn qua ngó lại, sợ té sợ đụng, có khi quên bẵng đi mình đang nói cái gì … thành ra mất đi cái thú đi chung với nhau”.

Rồi nàng nghiêng nghiêng đầu nhìn chàng, cười cười : “Em muốn anh chở em đi, được không ?”. Chàng sung sướng, gật đầu. Nàng ngồi lên pọt-ba-ga, hai chân buôn thõng một bên, một tay nắm lấy phía sau yên xe. Dáng nàng ngồi thong dong thoải mái. Chàng đạp xe, nghe nhẹ phiêu phiêu. Một lúc, chàng hỏi

– “Xíu ngồi có được không ?”.

Nàng trả lời:

– “Được chớ anh”. Rồi tiếp: “Anh thấy không? Mình đi chung một xe như vầy, nói chuyện với nhau có phải thích hơn không ?

Dĩ nhiên, anh ngồi phía trước, em phía sau, mình không nhìn nhau được trong khi nói chuyện. Nhưng mình đâu cần nhìn nhau mà mình vẫn thấy nhau phải không anh ?”.Chàng nghe mát cả lòng.

Chàng gật đầu rồi nhấn mạnh lên bàn đạp cho xe đi nhanh nhanh như để nói lên niềm phấn khởi ! Rồi đột nhiên chàng nói, lời lẽ không biết từ đâu tuôn ra :

– “Xíu à ! Chở Xíu đi như vầy, có phải đạp suốt ngày, suốt tháng, suốt năm… anh cũng đạp nổi.”

Nàng cười sung sướng, đưa tay véo hông chàng một cái. Sao nàng thèm cắn người yêu thật đau cho hả “cái gì đó” đang căng đầy lồng ngực…

Từ đó, có đi chung thì luôn luôn chàng đèo nàng sau xe…Dễ thương quá là tình yêu của Bảy và Xíu !

Vậy rồi có ngày 30 tháng tư 1975… Phải có ngày đó, để đổ nát được cách mạng đề cao. Phải có ngày đó, để hoang tàn được cách mạng xem là thành tích. Miền Nam giống như nùi giẻ rách, nhờ đã được giải phóng hoàn toàn !

Hai người anh của Xíu đã đưa vợ con di-tản. Pà-pá, mà-má và Xíu ở lại buôn bán lai rai, chờ coi có “làm ăn gì được không”. Cửa hàng bây giờ thâu gọn lại chỉ còn có hai thùng kiếng nhỏ đặt phía trước. Bảng hiệu đã được gỡ xuống cất trên sân thượng. Mấy dụng cụ rang cà phê được chất ngổn ngang trong một góc, giống như đồ phế thải. Làm như vậy để thấy cái vẻ nghèo nàn, làm ăn khó khăn…

Bảy học tập ba hôm rồi về làm thợ phụ cho bác Năm thợ hồ ở cùng xóm. Chàng có “xẹt” qua Chợ Cũ thăm người yêu mấy lần. Bây giờ họ không còn thì giờ để đi chơi với nhau bởi vì ai cũng bận rộn bởi các buổi hội họp, học tập, khai báo, đi mết tinh v.v… là những thứ sanh hoạt rất cần thiết để đưa nhân dân lên làm chủ (Nhà Nước nói như vậy). Thành ra mỗi lần họ gặp nhau, họ coi thời gian quý như vàng ! Có lẽ vì vậy mà bây giờ họ nhìn nhau nhiều hơn là họ nói chuyện với nhau…

Thời gian sau, chánh quyền “đánh tư sản mại bản”.Gia đình Xíu không tránh khỏi “đại nạn” này. Những người “cách mạng” xong vào nhà ngang nhiên và hùng hổ như một bọn cướp. Họ “bươi” từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ sau ra trước… giống như gà bươi đống rác. Gặp gì kiểm kê nấy. Vậy rồi… hốt hết ! Mà-má và Xíu chỉ biết ôm nhau mà khóc, còn Pà-pá thì ngồi trên ghế xích-đu, xích tới xích lui hút thuốc, nín thinh.

Sau “trận” đó, nhiều người nhảy lầu tự tử. Nghe thấy như vậy, Pà-pá nói: “Làm như vậy đâu có giải quyết cái gì ? Tụi nó còn cười, nói mình ngu ! Từ từ rồi tính nữa.” Trong khi chờ đợi pà-pá “tính nữa”, mẹ con Xíu ngồi xổm trên vỉa hè bán giò-cháo-quẩy bánh tiêu…

Bây giờ, Bảy vẫn đạp xe xuống thăm Xíu. Lần nào cũng được nàng cho một cái bánh. Chàng ngồi xổm một bên, ăn. Không đói, nhưng vẩn ăn. Và ăn thấy ngon !

Cách mạng không…”quản lý” được thời gian nên thời gian vẫn đi qua, ngạo nghễ. Thiên hạ lần lượt đi chui-cũng gọi là “vượt biên” -Phần đông đi bằng đường biển. Có người đi thoát, có người bị bắt. Những người đi thoát, có khi mất tích, có khi bị cướp. Dầu vậy, đi chui cũng đã trở thành gần như là một phong trào !

Thấy mỗi người vượt biên phải đóng nhiều cây vàng cho người tổ chức, cán bộ cách mạng “nhào ra làm ăn”. Họ cũng tổ chức đi chui, nhưng là một loại đi chui không sợ bị bắt vì có chánh quyền … hộ tống. Vì vậy, thiên hạ gọi là “đi chui bán chánh thức” ! Người Tàu được ưu tiên đi bằng cách này. Cho nên họ đi ồ ạt…

Một hôm, được thơ hẹn của Xíu, Bảy xin nghỉ việc buổi chiều, đạp xe xuống “Con Rùa” đường Duy Tân, đợi. Một cô gái chở Xíu tới bằng Honda, gật đầu chào Bảy, đợi Xíu bước xuống rồi quay xe đi vội vã. Xíu mặc áo dài trắng, tóc được cột túm lại sau ót. Nhìn đôi mắt mọng đỏ của người yêu, Bảy linh cảm có một cái gì không ổn. Bảy hỏi: “Có chuyện gì vậy, Xíu ?”. Nàng không trả lời, nhưng nói giọng trống rỗng: “Anh chở em đi. Đi đâu cũng được”.

Đợi nàng vén vạt áo ngồi vững vàng lên pọt-pa-ga, chàng mới đạp xe đi. Đi chầm chậm, đi thẳng. Lần này, Xíu không nắm phía sau yên xe. Xíu vòng một tay ôm lấy nửa người của Bảy. Lần đầu tiên được bàn tay thon nhỏ của người yêu đặt lên bụng mình, Bảy thật xúc động. Chàng đạp xe mà tưởng chừng như trên đường phố chỉ còn lại có hai đứa…

Một lúc sau, Xíu mới nói: “Pàpá cho phép em đi chơi với anh từ giờ tới năm giờ chiều”. Rồi nàng nghẹn ngào: “Đi với nhau lần cuối”. Bỗng nàng chồm tới, vòng cả hai tay ôm chặt lấy người yêu, úp mặt lên lưng chàng, khóc ngất. Chàng nghe rớt ra từng tiếng rời rã trên lưng:

– “Tối … nay … em … đi …”.

Mồ hôi bỗng vã ra như tắm, nhưng Bảy vẫn còn tỉnh táo để đặt một bàn tay lên bàn tay người yêu bóp nhẹ. Cử chỉ đó làm Xíu không kềm được nữa. Nàng vừa khóc lớn vừa giúi giúi mặt lên lưng người yêu, mạnh thật mạnh- Làm như nàng muốn chui hẳn vào người của chàng để hai đứa chỉ còn là một, để nước mắt và mồ hôi của hai đứa hòa quyện với nhau cùng chung niềm thống khổ, để đừng thấy đừng nghe đừng biết gì gì nữa, chết lịm đi cho cuộc tình khép lại, vĩnh viễn khép lại… Tội nghiệp ! Rồi ngày mai, rồi mãi mãi, cuộc đời này còn ý nghĩa gì nữa đâu ?

Hai người vẫn đèo nhau đi… Đầu óc trống rỗng. Chẳng còn nói được với nhau chuyện gì hết. Và chắc cũng chẳng còn biết phát âm là gì nữa ! Niềm đau quá lớn đã làm cho họ như người câm. Hai người câm…

Xíu vẫn ôm lấy người yêu, áp một bên má lên cái lưng chắc nịch của người yêu, quên mất rằng đây là lần đầu tiên Xíu chạm vào người của Bảy ! Lâu nay, mặc dầu yêu nhau tha thiết, họ chỉ dám nắm tay nhau thôi, và nắm tay nhau chỉ có mấy lần. Xíu nhắm mắt, tưởng chừng như thời gian đang ngừng lại. Nàng bỗng nghe rõ hơi thở, nghe rỏ nhịp tim của Bảy, những thứ mà lâu nay nàng chưa từng nghe. Mũi nàng bỗng hửi được mùi mồ hôi, hửi được mùi da thịt của Bảy, những thứ mà lâu nay nàng chưa từng dám nghĩ tới. Nàng bỗng nghe hơi ấm từ người của Bảy chuyền sang người nàng âm thầm nhưng rõ rệt, thứ cảm giác dìu dịu lân lân mà lâu nay nàng chưa từng được biết. Nàng bỗng nhận thức rằng người yêu nàng là đây, còn hiển hiện trong vòng tay. Rồi sẽ không bao giờ được như vầy nữa. Bởi vì đây là lần đầu và cũng là lần cuối, lần cuối… Thương xót quá ! Nàng siết chặt người yêu với tất cả sức mình mà nước mắt trào ra không dứt…

…Rồi Bảy cũng phải đưa Xíu về. Chàng vừa thắng xe, chống chân xuống đất, nàng đã đứng xuống chạy ù vào nhà. Tà áo dài trắng của nàng lất phất vài cái như vẫy chào lần cuối trước khi khuất sau cánh cửa. Bảy chống tay lên ghi-đông, đầu gục xuống giữa hai vai. Chàng có cảm giác như mình đã kiệt sức…

…Xíu đi rồi, ngày nào Bảy cũng đạp xe đi long bong. Không biết đi đâu, cứ đạp chầm chậm, đạp hoài. Khát, thì tấp vô uống cái gì đó. Đói, thì tấp vô ăn đại cái gì đó. Ăn gì uống gì, không cần để ý tới nữa.

Vậy mà Bảy cũng đạp tới cái công viên nhỏ mà hai đứa thường hẹn nhau. Chàng dựng xe cạnh chiếc băng xi măng mà hai đứa thường ngồi, rồi bước lại ngồi giống như ngày xưa chàng vẫn ngồi để đợi nàng tới. Nhưng bây giờ thì chàng ngồi một mình, ngồi thật lâu. Và không biết tại sao lại phải ngồi như vậy !

Rồi lại đạp xe đi loanh quanh. Không cần biết đi đâu… Vậy mà Bảy cũng đi đến “Con Rùa” đường Duy Tân, chỗ hai đứa thường đến ăn kem, uống nước dừa. Chàng dựng xe rồi lại ngồi lên bệ gạch, chỗ quen ngồi để đợi nàng đến. Chỗ đó nhìn thẳng xuống sau lưng nhà thờ Đức Bà, nàng luôn luôn đi từ hướng đó đi lên, hướng mà bây giờ chàng nhìn đâm đâm, nhìn mãi…

Vậy mà Bảy cũng đi đến con đường Đinh Tiên Hoàng, khúc rộng thênh thang dẫn dài xuống bờ sông. Hai đứa thường đi bộ ở đó vì đường vắng và mát. Đường đó bây giờ vẫn vắng và mát, Bảy dẫn xe đi bộ chầm chậm như ngày xưa…

Rồi Bảy còn đến nhiều nơi nữa : sở thú, vườn Tao Đàn, con đò Thủ Thiêm, chùa Vĩnh Nghiêm, quán thạch chè Hiển Khánh… Những nơi những chốn mà hai đứa, ngày xưa, đã từng đến một lần, hai lần, nhiều lần. Không biết cái gì đã đưa đẩy chàng đi như vậy ?

Bảy không biết rằng mình đang đi lượm những mảnh vụn của cuộc tình. Nếu không có cái “ngày cách mạng thành công”, thì cuộc tình đó đã không bị đập tan thành mảnh vụn… Để thấy cái gọi là “cách mạng thành công” đã thật sự thành công trong nhiệm vụ phá tan đập nát tất cả những gì của miền Nam, kể cả những gì nhỏ bé nhứt tầm thường nhứt như tình yêu của chàng trai và cô gái đó !

Chuyện không nói Xíu có đi được đến bờ đến bến nào không. Điều mà người ta biết là có vài chiếc tàu “đi chui bán chánh thức” bị chìm vì gặp sóng to gió lớn. Việt cộng đã cho đi bằng loại tàu gần như phế thải, không còn đủ tiêu chuẩn vượt đại dương.

Nhưng chuyện nói rằng Bảy vẫn đạp xe đi loanh quanh, hết ngày này qua tháng khác. Và bây giờ Bảy hay đứng ở bờ sông Sàigòn, nhìn xa xâm rất lâu để chỉ gọi thầm có hai tiếng : “Xíu ơi…”.

May be an anime-style image of text

Khi Tổng Thống Trump Cố Tình Giảm Nhẹ Tác Hại của Dịch COVID-19…

Van Pham

Chính phủ không có quyền dấu, cũng không có quyền lèo lái tin tức, dân chúng có trình độ bằng với tổng thống, nhiều người có học hơn tổng thống thì tổng thống vin vào điều gì mà quyết định thay cho họ?

***

Khi Tổng Thống Trump Cố Tình Giảm Nhẹ Tác Hại của Dịch COVID-19…

Nguyễn Đạt Thịnh

Hôm Thứ Sáu, 6 Tháng Ba, 2020, Tổng Thống Trump đến thăm Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Dịch (Centers for Disease Control and Prevention), thường được gọi tắt là CDC.

Phóng viên truyền thông mô tả thái độ của ông Trump là tìm cách giảm thiểu mức độ nguy hại kinh tế của dịch COVID-19 bằng cách không chủ trương hủy bỏ các dịch vụ cần làm, cũng không hủy bỏ thú vui đi du lịch, miễn là không đến các khu vực bị nhiễm bệnh.

Ông Trump bận tâm đến một góc khác của dịch COVID-19, đó là Virus Corona không chỉ giết người, mà nó còn đang tạo ra tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng đến mức đáng ngại. Giá dầu thô xuống đến mức $40 một thùng.

Việc tổng thống kêu gọi người dân Mỹ đừng hốt hoảng trước cơn dịch COVID-19 đang giết hàng ngàn người cũng là một hiện tượng lạ; tối thiểu ông cũng đã chứng kiến cảnh người Mỹ không hốt hoảng trước việc khủng bố đánh sập Trung Tâm Thương Mại New York, giết hơn 3 ngàn người; hoặc việc không quân Nhật đột kích Trân Châu Cảng, đánh chìm hoặc gây nguy hại trầm trọng cho 19 chiến hạm, tàn sát 2,335 thủy thủ, và gây thương tích cho 1,143 thủy thủ khác. Sau cuộc đột kích đó hải lực của Mỹ trên Thái Bình Dương như tê liệt hẳn.

Tuy nhiên, phản ứng của người Mỹ không phải là thái độ hốt hoảng, họ tái thiết một Trung Tâm Thương Mại khác, lớn hơn, đẹp hơn, trong lúc quân đội Mỹ đánh tan tổ chức khủng bố, hạ sát thủ lãnh Bin Laden, tấn công quân lực Nhật, bắt Nhật Hoàng ra tận chiến hạm Mỹ để ký hàng ước.

Người Mỹ không chết nhát, họ đã từng đối phó với những nguy hiểm to lớn hơn, nhưng họ không đi du lịch vào thời điểm này; họ sẽ giải quyết được chuyện học vấn cho con cái họ, mà không cần bắt đám trẻ gặp nhau hàng ngày, chịu đựng cái nguy cơ lây lan đã được chứng minh là rất cao.

Hãng điện tử Microsoft, và nhiều công ty khác, đang cho toàn bộ thầy, thợ, nhân viên của họ hưởng quy chế làm việc tại gia để giúp tránh bớt nguy cơ lây lan.

Một nhân vật khác, đi ngược ý của tổng thống, và tuyên bố quan điểm của mình là nữ Bác Sĩ Nancy Messonnier, giám đốc Trung Tâm Quốc Gia về Chủng Ngừa và Bệnh Hô Hấp, cơ quan này nằm trong CDC Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh.

Trưa 25 Tháng Hai, 2020, vào lúc ông Trump đang ngồi trong chiếc Air Force One từ New Delhi bay trở về Hoa Kỳ, thì bà Messonnier nói với các phóng viên truyền thông là cuộc sống của người Mỹ đang thay đổi một cách quan trọng.

Nguyên văn lời bà, “Tôi bảo các con tôi là phải chuẩn bị để đón nhận nhiều thay đổi quan trọng, trường học có thể sẽ phải đóng cửa, nhiều cuộc họp quan trọng sẽ bị hủy bỏ, nhiều công ty có thể sẽ cho nhân viên làm việc tại nhà.”

Bà tiên đoán những điều quan trọng đó từ hai tuần trước, nên quần chúng coi bà như một viên chức thức thời và đặt nặng việc thông báo đầy đủ, kịp thời và tuyệt đối không giấu giếm.

Bác Sĩ Messonnier quan niệm, “Tôi có bổn phận thông báo cho quần chúng biết, những điều tôi đã thông báo cho gia đình tôi biết. Vấn đề không phải là tiên đoán xem dịch COVID-19 có lây lan tới Hoa Kỳ hay không, mà vấn đề là tiên liệu xem dịch COVID-19 tác hại tới mức nào.”

Chuyện bà Bác Sĩ Messonnier họp báo và cảnh cáo người Mỹ về nguy cơ COVID-19 xảy ra cùng ngày khi ông Trump từ Ấn trở về nước. Ông không hài lòng về những điều bà nói, mà hậu quả khiến ông bị khiển trách là thiếu tinh thần trách nhiệm.

Thị trường chứng khoán xuống giá, các đài truyền hình, các tờ báo lớn phổ biến, phân tích quan niệm của Bác Sĩ Messonnier. Vừa đáp xuống phi trường quân sự Joint Base Andrews, ông Trump đã gọi ông Alex M. Azar II, Bộ trưởng Y Tế, Xã Hội.

Ông Trump quát tháo trong máy điện thoại, hỏi hỏi ông Azar II là tình hình nguy ngập đến đâu mà bà Messonnier đã nói đến chuyện đóng cửa trường học. Azar II còn lúng túng với tổng thống thì nữ bác sĩ thứ nhì, bà Anne Schuchat, phụ tá bộ trưởng Y Tế, đã lên tiếng.

Bà Schuchat nói, “Trung tâm tàn phá của dịch COVID-19 đang chuyển ra ngoài lãnh thổ Trung Quốc, số người đang nhuốm bệnh bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc nhiều hơn bệnh nhân người Hoa trong nước họ. Do đó vấn đề COVID-19 trở thành quan trọng hơn.”

Tình trạng bất đồng quan điểm giữa tổng thống và những viên chức y tế không phải là chuyện mới xảy ra; trong thời gian tổng thống công du bên Ấn Độ, giới y tế đã thảo luận và thỏa thuận với nhau, là ngày ông ta trở về họ sẽ đặt vấn đề là cần nói thật với quần chúng về tình trạng nguy kịch mà con vi khuẩn COVID-19 có thể gây ra cho người Mỹ.

Bác Sĩ Messonnier là một trong những người chủ trương không che giấu; bà thường bênh vực quan điểm của mình bằng câu “không có giá trị nào, quyền lợi nào quan trọng hơn sinh mạng của bệnh nhân.” Việc bà công bố 12 ngày trước là việc “trường học có thể sẽ phải đóng cửa” là việc hiện đang xảy ra; thì còn trách cứ gì bà nữa.

Một tình trạng thông tin ngay thẳng, không giấu giếm, và rành mạch, rõ rệt là bổn phận của chính phủ đối với quần chúng. Tháng trước truyền thông Mỹ đã chỉ trích Bắc Kinh thiếu bổn phận thông tin đầy đủ đối với dân Trung Quốc.

Chính phủ không có quyền dấu, cũng không có quyền lèo lái tin tức, dân chúng có trình độ bằng với tổng thống, nhiều người có học hơn tổng thống thì tổng thống vin vào điều gì mà quyết định thay cho họ?

HÌNH:

– Tổng Thống Trump hôm 6 Tháng Ba ký thông qua ngân sách $8 tỷ để nước Mỹ đối phó với dịch COVID-19. (Hình: MANDEL NGAN/AFP/Getty Images)

May be an image of 1 person

Những người đàn bà Việt Nam không chấp nhận im tiếng

Van Pham  is with Grace Bui 

Những người đàn bà Việt Nam không chấp nhận im tiếng

(Grace Bùi viết cho ngày Phụ Nữ Thế Giới, March 8, 2021)

Lê Tuấn dịch….

Ngay trước nửa đêm ngày 6 tháng 10, 2020, cảnh sát ập đến

chỗ ở trọ của cô Phạm Thị ĐoanTrang, một nhà văn, nhà báo, và tranh đấu nhân quyền nổi tiếng tại Việt Nam. Chính quyền bắt giữ cô dựa theo điều 88 của bộ luật Hình Sự 1999 về tội “tạo ra, tàng trữ, tung ra, hay loan truyền những tin tức, tài liệu tuyên truyền và những bài viết chống lại Nước Cộng Hòa Xã hội Việt Nam.” Cô có thể bị phạt tù tới 20 năm.

Điều đáng chú ý là Phạm Đoan Trang bị bắt chỉ một vài giờ sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam chấm dứt cuộc đối thoại hàng năm lần thứ 24 về Nhân Quyền. Trang hiện đang bị biệt giam chờ ngày ra tòa. Từ hôm đó, không ai trông thấy Trang hay nghe thấy tin tức gì về Trang, kể cả luật sư của cô.

Đáng tiếc là trường hợp của Trang không phải là trường hợp duy nhất. Mặc dù đã tạo được những thành công trên bình diện quốc tế về những đóng góp cho nhân quyền, tự do báo chí, phong trào ủng hộ dân chủ, Trang và các phụ nữ tranh đấu trong nước thường bị sách nhiễu, bắt giam và xử án tù dài hạn.

Vào ngày 24 tháng 6, 2020 cảnh sát tông cửa vào nhà bắt bà Cấn Thị Thêu dù không có lệnh truy nã. Thêu đã từng là nạn nhân của việc lấn chiếm đất và là nhà tranh đấu về chủ quyền đất đai. Bà đã bị sách nhiễu nhiều lần trước khi bị bắt, lần này là lần thứ ba. Hiện nay bà đang bị giam biệt lập. Hai người con trai của bà, Trịnh Bá Tư và Trịnh Bá Phương cũng đã bị bắt. Chỉ có chồng bà, ông Trịnh Bá Khiêm, không bị cầm tù.

Cùng sáng sớm hôm đó, Nguyễn Thi Tâm, một người đã đệ đơn thỉnh cầu về đất đai và tranh đấu nhân quyền, cũng bị cơ quan an ninh bắt cóc lúc đi chợ ở gần nhà. Cả 4 người này đều bị kết tội dưới điều luật số 117.

Theo hồ sơ của Dự Án 88, cho đến ngày 2 tháng 3, 2021, đã có 83 phụ nữ tranh đấu ở trong tình trạng nguy nan, kể cả 28 người đang bị giam giữ về tội phát biểu về các vấn đề nhân quyền và dân chủ. Đã có 9 phụ nữ bị bắt trong năm 2020, 4 trong năm 2019. Số người bị bắt tăng gấp đôi trong năm 2020, và hầu hết những phụ nữ này bị kết tội đã phát biểu ý kiến của của mình trên mạng xã hội.

Việt Nam trấn áp những sự chống đối một cách rộng lớn, thường xuyên cấm đoán các tù nhân chính trị liên lạc với gia đình hay luật sư, không được xử trên tòa một cách công bằng và không được săn sóc sức khỏe đầy đủ khi bị giam.

Việc quy vào những phụ nữ tranh đấu này như chủ đích còn nêu lên những lo ngại về cách đối xử với các phụ nữ, gia đình và con cái của họ, nhất là những đứa trẻ. Việc bắt bớ và sách nhiễu những phụ nữ có con nhỏ còn có những ảnh hưởng lớn đến vấn đề tâm thầm của cả mẹ lẫn con, như lời nhà nhân quyền Trần Thi Nga đã phát biểu trong cuộc phỏng vấn với Dự Án 88 sau khi được tha.

Dựa theo khoản 1(b) của điều luật 67 của bộ luật Hình Sự 2015, “Một phạm nhân đang có thai hay có con nhỏ dưới 36 tháng có thể được hoãn thi hành bản án cho tới khi đứa bé đủ 36 tháng.” Tuy nhiên chính quyền Việt Nam không tuân theo luật lệ của chính họ một cách thường xuyên.

Đoàn Thị Hồng bị bắt vào ngày 2-9-2018, dù không bị khép tội hay có lệnh truy nã và gia đình cô không biết cô ở đâu trong một thời gian rất lâu. Hồng chỉ có hai mẹ con, đứa bé mới 30 tháng vào lúc cô bị bắt và giam biệt lập một năm. Trong thời gian đó, gia đình cô, kể cả đứa bé gái, đều không được phép vào thăm.

Huỳnh Thị Tố Nga, một chuyên viên phòng thí nghiệm, cũng là một bà mẹ không chồng với 2 đứa con, trong đó có một bé dưới 30 tháng tuổi lúc cô bị mật vụ bắt cóc. Cô bị bắt đi ngày 29-1-2019 tại ngay nhà thương chỗ cô làm việc. Gia đình không có tin tức gì về cô trong vòng mấy tuần lễ. Sau khi Nga bị bắt, gia đình cô quyết định không lên tiếng nữa và cũng không ủng hộ cô vì sự hăm dọa của nhà cầm quyền.

Đinh Thị Thu Thủy, một phụ nữ độc thân, có con, là người bị bắt sau cùng. Thủy bị bắt vào ngày 18-4-2020, dưới khoản 117 vì tội “tạo ra, tàng trữ, tung ra hay loan truyền những tin tức, tài liệu và những bài viết chống lại Nước Cộng Hòa Xã hội Việt Nam.”

Theo lời kết tội, Thủy bị cho là đã tạo ra một số chương mục trên Facebook để loan ra nhiều bài viết đánh sai lạc đường lối của chính quyền và nhục mạ các giới chức lãnh đạo. Cô cũng còn bị kết án là chỉ trích các biện pháp của đảng Cộng Sản trong việc đối phó với dịch Covid-19.

Thủy là nhà tranh đấu cho nhân quyền và môi trường. Cô cũng độc thân với đứa con 9 tuổi. Thủy bị biệt giam trước khi ra tòa và không được gặp đứa con trai cho tới tháng 12 năm 2020. Cô bị xử án 7 năm tù vào tháng 20-1-2021 và bị đau nặng trong lúc bị giam hãm.

Chính quyền Việt Nam thường dùng các trẻ em làm áp lực để các bà mẹ ký bản thú tội. Nhà cầm quyền kết án các người đàn bà này đã không làm tròn bổn phận của người mẹ. Những phụ nữ này thường được chuyển sang các trại giam xa khu vực họ cư trú, có khi đến cả ngàn cây số. Giam giữ họ ở xa như vậy, việc các con nhỏ đi thăm viếng cực kỳ khó khăn. Gia đình chỉ được thăm mỗi tháng một lần dưới 30 phút. Nhiều khi gia đình lặn lội từ xa đến nơi thì mới biết là không được phép vào thăm.

Tình trạng nhân quyền ở Việt Nam đã trở nên tệ hại hơn trong 5 năm qua. Nhà cầm quyền thường áp dụng những luật lệ rất khắt khe để đe dọa quyền tự do phát biểu ý kiến và kết án tù những người chống đối lâu hơn.

Nhà cầm quyền tiếp tục lạm dụng quyền hành đối với những quyền lợi căn bản của nhân dân. Họ tự ý bắt bớ và giam giữ, phạt tù rất lâu, cấm cản quyền được phát biểu ý kiến, hệ thống Internet, những cuộc hội họp ôn hòa, và quyền tự do đi lại, chẳng hạn như bằng cách ra lệnh cấm di chuyển.

Sự hành hạ và đối xử tệ hại với những tù nhân chính trị cũng là một chuyện đáng lo ngại, nhất là đối với những phụ nữ bị cầm tù trong các điều kiện đó. Những cựu tù nhân đã cho biết về các kinh nghiệm trong tù của họ, chẳng hạn như phải giành giật nhau vì một miếng băng vệ sinh hay các cai tù đứng nhìn họ lúc họ thay quần áo.

Dự Án 88 đã phỏng vấn Phạm Đoan Trang trước khi cô bị bắt. Cô nói tới những phấn đấu và thử thách của phụ nữ bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam. Cô Trang phát biểu: “Nói chung, đàn bà Việt Nam không được tôn trọng. Không phải chỉ trong công cuộc phấn đấu cho nền dân chủ mà thôi, những phụ nữ tranh đấu chịu thiệt thòi vì họ bị tấn công không kém gì phái nam. Họ bị đánh đập, hành hạ.”

“Việc của họ làm không thua gì những gì phái nam làm nhưng họ thường chỉ nhận được sự thương hại. Tôi không cho đó là tôn trọng…”

“Trong một chế độ độc tài, không ai có tự do, nhất là phụ nữ. Sự thiếu tự do của họ gấp nhiều lần so với phái nam. Bởi vì phụ nữ không chỉ là nạn nhân của chế độ về các vấn đề chính trị mà thôi, họ còn là nạn nhân của sự bất bình đẳng giới tính và sự tự chế”.

Ngày Phụ Nữ Quốc Tế được cử hành vào ngày 8 tháng Ba mỗi năm. Dự Án 88 dành trọn tháng Ba để vinh danh các phụ nữ tranh đấu Việt Nam và đặc biệt là 28 người đang bị tù đầy.

Xin cùng chúng tôi cất lên tiếng nói của những phụ nữ Việt Nam tranh đấu trong dịp Ngày Phụ Nữ Quốc Tế. Chúng tôi khuyến khích các chính quyền nước ngoài và những hội đoàn làm áp lực với chính quyền Việt Nam, bắt buộc họ đối xử tử tế hơn với các nữ tù nhân, chẳng hạn như bảo đảm giờ giấc thăm viếng và tôn trọng chính luật lệ của họ về sự bắt bớ những người đàn bà có con nhỏ, và trao trả tự do cho tất cả các nữ tù nhân vô điều kiện.

(Cô Grace Bùi là thành viên vận động sách lược của “Dự Án 88”, một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động nhằm thúc đẩy quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam.)

– Nhà hoạt động Phạm Đoan Trang (Fb)

Miến Điện: Làm thế nào phong trào ‘‘Bất Tuân Dân Sự’’ có thể thành công ? (RFI)

Đăng ngày: 07/03/2021 – 19:57

Phong trào Bất Tuân Dân Sự chống chế độ độc tài Miến Điện: Cuộc chiến của trứng chọi đá có cơ hội thành công ? Biếm họa của RFI. © rfi Hausa/Dr Meddy

Trọng Thành

Đảo chính quân sự đầu tháng 2/2021 chặn đứng tiến trình quá độ sang xã hội dân chủ tại Miến Điện. Đông đảo dân chúng Miến Điện không chấp nhận. Từ hơn một tháng nay, trong lúc biểu tình chống đảo chính tiếp diễn gần như hàng ngày, tập đoàn quân sự gia tăng đàn áp. Liệu phong trào « Bất Tuân Dân Sự » chống lại sức mạnh áp đảo của súng đạn có cơ may thành công ? 

Trang mạng Anh ngữ Frontier Myanmar (1), ngày 04/03/2021, có bài viết đáng chú ý mang tựa đề : « Phong trào Bất Tuân Dân Sự có thể thành công như thế nào ? ». Sau đây là phần lược thuật của RFI.

Thành công ban đầu

Bài viết của nhà báo Aye Min Thant (2) và nhà hoạt động Yan Aung trên Frontier Myanmar ghi nhận trước hết, bản thân sự hình thành của phong trào Bất Tuân Dân Sự (Civil Disobedience Movement, gọi tắt là CDM) trong tháng tranh đấu vừa qua đã là một thành công. Xuất phát từ phong trào đình công của giới y tế, phong trào CDM lan rộng ra khắp xã hội. Phong trào lôi cuốn hàng triệu người tham gia, với các cuộc biểu tình trên đường phố, khuyến khích tẩy chay các doanh nghiệp của quân đội hay có vốn của quân đội, và đặc biệt là kêu gọi nhân dân từ chối tuân thủ các mệnh lệnh của quân đội.

Một tháng sau cuộc đảo chính, tác động của phong trào CDM đến xã hội Miến Điện là rất rõ. Các cuộc đình công của công chức khiến trao đổi thương mại quốc tế của Miến Điện đình trệ, các bệnh viện của nhà nước không còn khả năng tiếp nhận bệnh nhân, ngân hàng không còn khả năng hoạt động, khiến đất nước lâm vào tình trạng thiếu tiền mặt. Bất chấp các tác động này, chính quyền quân sự không hề có dấu hiệu nhân nhượng.

Cuộc chiến lâu dài

Bài viết đưa ra 5 thách thức chính đối với phong trào Bất Tuân Dân Sự Miến Điện. Thách thức về mục tiêu tranh đấu, về lực lượng lãnh đạo, về khả năng duy trì phong trào trong thời gian dài, về việc bảo vệ các nguồn lực của phong trào và về việc xác định đúng mối quan hệ giữa phong trào trong nước với sự hỗ trợ từ quốc tế.

Bài phân tích của Frontier Myanmar nhấn mạnh, những người tranh đấu chống chế độ độc tài quân sự cần hiểu rằng đây không phải là cuộc chiến sớm gặt hái kết quả, mà là một cuộc chiến kéo dài thậm chí nhiều năm, và để thắng lợi, CDM cần tự khẳng định như là « một phong trào tranh đấu chủ động, chứ không phải là nạn nhân đang tranh đấu ngoan cường, trong khi chờ đợi can thiệp quốc tế ». Chính vì vậy, việc huy động các nguồn lực bên trong – đoàn kết rộng rãi mọi thành phần không phân biệt xuất thân xã hội, tôn giáo, sắc tộc, giới tính – là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Để « phong trào Cách mạng Mùa Xuân thành công, một cuộc tranh luận thẳng thắn về chiến lược là điều cơ bản ». Các tác giả tin tưởng « hiện tại, hơn bao giờ hết, chính trong không khí hỗn loạn do đảo chính tạo ra, nhân dân Miến Điện có cơ hội thiết lập một nền dân chủ thực sự ».

***

Thách thức đầu tiên : Làm rõ mục tiêu tranh đấu

Mặc dù đã có sự nhất trí chung là lên án cuộc đảo chính quân sự, nhưng cho đến nay, phong trào CDM chưa có được đồng thuận về việc phong trào hy vọng đạt được cụ thể điều gì, một khi buộc quân đội ngồi vào bàn đàm phán. Trong lúc nhiều người kêu gọi chính quyền quân sự tôn trọng kết quả bỏ phiếu, thì nhiều nhà hoạt động xuất thân từ các sắc tộc và các tôn giáo thiểu số không tranh đấu để ủng hộ sự trở lại của chính phủ dân sự, mà muốn xây dựng một Nhà nước Liên bang dân chủ ở Miến Điện, dựa trên Hiến pháp mới hoặc Hiến pháp sửa đổi.

Nếu không xác định được mục tiêu hướng đến công lý, tập hợp được những lực lượng thuộc các nhóm thiểu số thì trong tương lai có nguy cơ, hoặc lợi ích của các nhóm thiểu số bị hy sinh, hoặc phong trào bị rơi vào các cuộc đấu tranh nội bộ, rồi phá sản.

Thách thức thứ 2 : Làm rõ lực lượng lãnh đạo 

Hiện tại, tất cả mọi người tham gia phong trào Bất Tuân Dân Sự dường như hành động theo sáng kiến riêng, không có ý thức rõ ràng về vai trò của mỗi cá nhân, mỗi nhóm. Về lâu dài, lối tranh đấu như vậy là « cực kỳ nguy hiểm », khi đối thủ là quân đội, một thế lực « được tổ chức rất tốt và có nhiều nguồn lực ». 

Hiện tại có ba nhóm có khả năng trở thành lãnh đạo phong trào, bao gồm Ủy Ban Đại Diện cho Hạ Viện Miến Điện (Committee Representing the Pyidaungsu Hluttaw – CRPH), Ủy Ban Tổng Đình Công (General Strike Committee) và Ủy Ban Tổng Đình Công Quốc Gia (General Strike Committee of Nationalities) (3).

Bài viết của Frontier Myanmar nhấn mạnh là, ưu điểm của một phong trào không có tổ chức lãnh đạo là sẽ không bị ảnh hưởng nhiều do việc chính quyền bắt giữ hay ám sát các thành viên chủ chốt. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn tiếp theo, khi phong trào được coi là đã đạt được một vị thế nhất định, thì sẽ cần phải có các cuộc thảo luận nhiều bên, phong trào cần phải có tổ chức đại diện, và cơ chế chọn ra những người đại diện, để hoạch định hướng đi cho dân tộc.

Thách thức thứ 3: Bảo tồn nguồn lực

Đối mặt tới Tatmadaw – với dự trữ hàng tỉ đô la và cả một kho vũ khí khổng lồ -, CDM cần chuẩn bị kháng cự có tổ chức trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, mới hy vọng chiến thắng. Điều chỉnh cách thức hoạt động của phong trào trong những tuần tới « cho phù hợp », là điều rất quan trọng. Mục tiêu chủ yếu là làm sao để « gây tổn hại tối đa cho khả năng hoạt động của chính quyền quân sự, trong lúc vẫn bảo đảm được đông đảo dân chúng vẫn tiếp cận được với các nhu yếu phẩm và dịch vụ cơ bản nhất ». Bởi, « nếu người dân bắt đầu mất đi không chỉ thu nhập, mà còn cả điện, nước, hay dịch vụ thu gom rác thải, thì lúc đó nhiều người sẽ mơ đến sự ổn định dưới thời độc tài quân sự ».

Một cuộc tổng đình công làm kiệt quệ cả một nền kinh tế, nếu không được tiến hành một cách phù hợp, có thể phản tác dụng, khiến phong trào tranh đấu Bất Tuân Dân Sự ít có người theo hơn, hủy diệt chính các nguồn lực tài chính cần thiết để duy trì phong trào.

Thách thức thứ 4 : Bảo đảm các mạng lưới phân phối nguồn lực

Bảo tồn được nguồn lực, nhưng cùng lúc phải bảo đảm phân phối được nguồn lực. Hiện tại, đang hình thành một phong trào trợ giúp những người tranh đấu (công nhân bãi công, người biểu tình, che chở các nhà hoạt động, các nhà báo lẩn trốn), với hạt nhân là các quỹ do một số nhân vật nổi tiếng thiết lập. Theo các tác giả của bài viết, về lâu dài, điều quan trọng nhất là phải bảo đảm được niềm tin, tạo lập được các kết nối an toàn giữa người cần hỗ trợ tài chính và những người cung cấp tài chính. Bởi, kinh nghiệm cho thấy tập đoàn quân sự đã có nhiều kinh nghiệm trong việc đưa người xâm nhập vào phong trào, gây mất lòng tin. Cuộc tranh đấu bất tuân dân sự là « cuộc chiến giằng co » giữa quân đội và người dân, cuộc cạnh tranh « sức mạnh, khả năng chịu đựng và khả năng thống nhất hành động ».

Thách thức thứ 5 : Đầu tư nội lực, đặt đúng mức niềm tin vào quốc tế

Bài viết trực diện chỉ trích việc rất nhiều người trong phong trào đặt quá nhiều niềm tin vào cộng đồng quốc tế, với khẳng định : « Tương lai của Miến Điện không thể và không nên nằm trong tay cộng đồng quốc tế ». Đây là một thực tế nổi bật.

Tin tưởng phương Tây có thể và sẽ cứu Miến Điện là điều phổ biến. Nhiều người tham gia tranh đấu tin tưởng các nước phương Tây có thể tiến hành các can thiệp quân sự chống lại chế độ độc tài quân sự. Hiện tại, không hề có dự án can thiệp nào như vậy. Riêng việc đưa ra các trừng phạt đối với một số lãnh đạo quân đội Miến Điện, các nước phương Tây cũng phải mất nhiều ngày bàn bạc. Cấm vận vũ khí thì có thể có, nhưng sẽ không có việc lãnh đạo đảo chính bị khởi tố, điều tra. Các can thiệp quyết liệt để hỗ trợ người dân Miến Điện sẽ không đến.

Theo các tác giả, nỗ lực của phong trào trong nước là quyết định. Phong trào Bất Tuân Dân Sự cần khẳng định là « lực lượng dẫn dắt » cuộc tranh đấu chống chế độ độc tài quân sự, chứ không phải là « nạn nhân đang tranh đấu ngoan cường trong khi chờ bên ngoài cứu viện ».

Tuy nhiên, bài viết cũng lưu ý rõ là phong trào Bất Tuân Dân Sự cũng cần tranh thủ các hỗ trợ quốc tế. Ví dụ như gây áp lực với các chính phủ nước ngoài, với Liên Hiệp Quốc, không công nhận chính quyền quân sự, thúc đẩy các đàm phán đa phương hướng đến việc trả lại quyền lực cho người dân Miến Điện. Phong trào Bất Tuân Dân Sự cần thúc giục chính phủ các nước ngăn chặn các công ty nước mình hợp tác với tập đoàn quân sự, gây áp lực với các công ty đang hoạt động tại Miến Điện tôn trọng quyền của công nhân tham gia các biểu tình phản kháng.

Ghi chú

(1) – Tạp chí song ngữ Frontier Myanmar, bằng tiếng Anh và tiếng Miến Điện, được lập ra năm 2015, là một trong những báo đầu tiên của Miến Điện ra đời sau khi tổng thống Thein Sein hủy bỏ chế độ đàn áp báo chí. Sáng lập Frontier Myanmar là nhà báo Sonny Swe, từng bị tù 10 năm (2004 – 2013) vì các hoạt động báo chí.

(2) – Nhà báo Aye Min Thant, sống tại Miến Điện, từng đoạt thưởng báo chí Pulitzer trong chuyên mục Tin tức Quốc tế, năm 2019, cùng với một số phóng viên Reuters.

(3) – CRPH là nhóm nghị sĩ được bầu lên sau cuộc bầu cử 2020, hầu hết thuộc đảng Liên Đoàn Quốc Gia vì Dân Chủ, do bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo. Ủy Ban Đại Diện cho Hạ Viện Miến Điện nhận được sự ủng hộ rộng rãi và ngày càng nhiều từ các thị trấn, phường xã. Tại các địa phương ủng hộ CRPH, một bộ máy chính quyền song song được lập ra. Ngày 26/02/2021, đại diện thường trực của chính quyền Miến Điện tại Liên Hiệp Quốc, ông U Kyaw Moe Tun, tuyên bố trung thành với nhân dân, và kêu gọi Liên Hiệp Quốc công nhận CRPH là « chính phủ hợp pháp » của Miến Điện. Hai tổ chức Ủy Ban Tổng Đình Công và Ủy Ban Tổng Đình Công Quốc Gia không được sự ủng hộ rộng rãi như CRPH, nhưng gần đây Ủy Ban Tổng Đình Công Quốc Gia đã thu hút sự chú ý quốc tế, với thư gửi đến đại sứ Trung Quốc tại Miến Điện, và Hội Đồng Bảo An, nêu rõ mục tiêu của tổ chức này là thành lập Nhà nước Dân chủ Liên bang tại Miến Điện, trong đó các sắc tộc thiểu số được tham gia vào chính phủ một cách bình đẳng. Thành phần của Ủy Ban Tổng Đình Công Quốc Gia so với Ủy Ban Đại Diện cho Hạ Viện Miến Điện trẻ hơn, và đa dạng về sắc tộc hơn.

Miến Điện: Làm thế nào phong trào ‘‘Bất Tuân Dân Sự’’ có thể thành công ?

RFI.FR | BY RFI TIẾNG VIỆT

Miến Điện: Làm thế nào phong trào ‘‘Bất Tuân Dân Sự’’ có thể thành công ?