Cán bộ trốn chạy trước khi bị bắt

Cán bộ trốn chạy trước khi bị bắt

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Ân Xá Quốc Tế đòi điều tra nghi vấn công an CSVN tra tấn người biểu tình

Ân Xá Quốc Tế đòi điều tra nghi vấn công an CSVN tra tấn người biểu tình

Ân Xá Quốc Tế đòi điều tra nghi vấn công an CSVN tra tấn người biểu tình
ẢNh: Youtube

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế hôm Thứ Hai 18/06 lên tiếng yêu cầu nhà cầm quyền CSVN lập tức thả những người biểu tình đang bị giam giữ hồi cuối tuần qua, và mở một cuộc điều tra nhanh chóng về nghi vấn một vài người biểu tình đã bị tra tấn.

Theo Ân Xá Quốc Tế, trên cả nước Việt Nam đã có khoảng 150 người bị giam giữ tùy tiện, sau khi họ tham dự các cuộc biểu tình vào ngày 9 và 10 tháng 6 chống lại các dự luật đặc khu và an ninh mạng. Ân Xá Quốc Tế đã nhận được báo cáo của hàng chục người, và họ cho biết đã bị tra tấn trong lúc bị công an giam giữ. Một vài người cho rằng công an đã đánh đập họ bằng gậy gỗ, sau khi họ từ chối cung cấp mật khẩu để mở điện thoại theo yêu cầu của công an.

BBC dẫn lời ông Minar Pimple, giám đốc cao cấp toàn cầu của Ân Xá Quốc Tế, nhận định rằng “…Làn sóng bắt bớ hồi cuối tuần qua không là gì hơn một sự trả thù chống lại người dân, chỉ vì họ đã đơn thuần biểu lộ sự lo lắng của mình trước chính sách của chính phủ…Nhà cầm quyền CSVN không thể trốn đằng sau cái cớ duy trì trật tự công cộng để truy bức và bắt nhốt những người biểu tình ôn hòa”.

Theo tổ chức nhân quyền này, những người bị bắt giam đã bị tước đi quyền được sống tự do, quyền tự do biểu đạt, quyền hội họp ôn hòa và quyền được hưởng trình tự pháp lý. Họ cần phải được trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện.

Huy Lam / SBTN

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Toàn bộ cuốn DVD “Đại Họa Mất Nước”

Toàn bộ cuốn DVD “Đại Họa Mất Nước”

Đăng tải tại PHIM ẢNH DVD | Để lại phản hồi

Ngón nghề của độc tài Cộng sản

Ngón nghề của độc tài Cộng sản

FB Phạm Đoan Trang

Ở đâu và bao giờ cũng vậy, hai kỹ thuật chính để bọn độc tài giữ được ghế là: 1. dối trá, lừa lọc (tuyên truyền); và 2. gieo rắc sự sợ hãi (phòng), đàn áp bằng bạo lực (chống).

Tà quyền CHXHCN Việt Nam đã và đang rất tích cực thi triển hai ngón nghề đó. Một mặt, chúng cho dàn báo đài rống lên vu những người dân tay không tấc sắt là “phản động”, “thế lực thù địch chống phá đất nước”, “khủng bố”. Nguyên tắc của kỹ thuật tuyên truyền vốn dĩ là phải biết ngụy biện và nói dối thật trơ trẽn mà không ngượng mồm, nói đi nói lại, nói thật nhiều mà nội dung và sắc mặt không thay đổi. Nắm bắt được tâm lý nhiều người sẽ thắc mắc, kiểu “đám ấy chắc phải làm gì công an mới bắt chứ”, “nếu công an làm gì sai thì cũng khó ăn khó nói lắm chứ”, v.v., nên chúng càng ra sức vu khống, dựng chuyện, đổi trắng thay đen hơn. Không chút ngượng ngùng.

Lắm kẻ não trạng dư luận viên còn đủ độ khốn nạn để hỏi “bằng chứng đâu” cho việc hàng trăm người dân bị công an hành hung, tra tấn. Quái lạ, thế mà họ lại chẳng bao giờ đặt câu hỏi tương tự về các “huyền thoại đấu tranh cách mạng” ở “địa ngục trần gian” Côn Đảo (?!).

Mặt khác, tà quyền chủ trương gia tăng đàn áp, khủng bố để gieo rắc nỗi sợ hãi trong nhân dân (chúng gọi là tăng cường sử dụng biện pháp mạnh để kiểm soát, ngăn chặn mọi âm mưu chống phá). Tất cả những người bị chúng bắt bớ, hành hung tập thể đều bị công an gắn sẵn cái nhãn “phần tử gây rối”, từ đó thẳng tay bắt bớ, tra tấn, sỉ nhục họ – điên cuồng như một bầy chó dại.

Dù sao, chiến lược đàn áp, khủng bố của tà quyền sẽ thất bại nếu không đạt được mục đích “gieo rắc sự sợ hãi”. Có một thực tế mà những tên ác ôn khát máu không bao giờ hiểu được, đó là: Những người vốn sợ chúng thì đã sợ rồi và sẽ chẳng bao giờ dám làm gì bày tỏ chính kiến của họ; còn những con người đã dám lên tiếng chống lại sự sai trái, bất công, áp bức, thì càng đàn áp càng đẩy họ xa hơn. Không chỉ là xa rời “quỹ đạo của Đảng và nhà nước” như đám tuyên giáo và công an vẫn lải nhải, mà là đi xa hơn trên con đường đấu tranh chống lại thể chế độc tài vô nhân tính.

Trong những người bị ác ôn đánh đập tàn bạo ngày 10 và 17/6 vừa qua mà tôi biết, tôi chưa thấy ai trở nên im lặng, tê liệt. Một trong những bạn trẻ bị đánh đập gây thương tích nặng nề nhất (hiện vẫn phải nằm một chỗ, chưa đi lại được) đã nói, ngay khi đôi môi vẫn còn sưng: “Tất cả chỉ mới bắt đầu thôi. Không có chuyện tôi dừng lại”.

Lũ ác ôn nhà sản, chúng mày đánh thêm một người, là mất thêm một người. Nhớ lấy.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Luật Biểu Tình không phải là thứ để ban phát, bố thí cho dân

Luật Biểu Tình không phải là thứ để ban phát, bố thí cho dân

Nguyễn Tường Thụy
2018-06-22

Những người biểu tình hô khẩu hiệu phản đối luật Đặc khu trong cuộc biểu tình ở Sài Gòn hôm 10/6/2018

Những người biểu tình hô khẩu hiệu phản đối luật Đặc khu trong cuộc biểu tình ở Sài Gòn hôm 10/6/2018

AFP

Biểu tình là một sự ô danh?

Ít ra, từ Mùa hè năm 2011 (hoặc có thể sớm hơn, từ 2007?), nhà cầm quyền đưa ra khái niệm “biểu tình trái phép”, được báo chí, tuyên giáo, dư luận viên và cả lãnh đạo sử dụng nhằm chụp tội người biểu tình. Khi bị phản biện, quyền biểu tình là quyền hiến định thì họ ngụy biện rằng biểu tình nhưng phải theo qui định của pháp luật, khi chưa có luật biểu tình thì không được biểu tình. Vì vậy, họ cho Luật biểu tình là món quà, có thể ban cho dân lúc nào thì dân được hưởng lúc ấy mà không thấy đấy là trách nhiệm của họ phải luật hóa trong thời gian sớm nhất. Bởi quan niệm như thế, Luật biểu tình bị hoãn đi hoãn lại bởi những đầu óc bảo thủ, quan điểm ban phát trong Đảng, trong Quốc hội. Tiên phong trong việc chống Luật biểu tình là Hoàng Hữu Phước, đại biểu quốc hội khóa 8. Ông ta chê dân trí Việt Nam thấp nên chưa thể ra luật biểu tình. Hoàng Hữu Phước căm ghét biểu tình tới mức láo hỗn cho rằng biểu tình là một sự ô danh: “Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho một sự ô danh”.

Người dân có quyền biểu tình mà không phải chờ luật biểu tình.

Trước hết, quyền biểu tình là quyền hiến định ghi ở điều 25 Hiến pháp”

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Khi đã là quyền hiến định thì không có một cơ sở pháp lý nào để nói rằng, người dân không được phép biểu tình, cho dù có luật biểu tình hay không.

Quyền lãnh đạo của đảng CSVN cũng được hiến định tại điều 4 Hiến pháp. Tuy nhiên, điều 4 cũng qui định “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Cho đến nay điều 4 cũng chưa được luật hóa nhưng đảng CSVN vẫn cứ thực hiện quyền lãnh đạo của mình, thọc tay vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, mặc dù thọc đến đâu thì hỏng đến đó.

Đảng CSVN không cần luật hóa điều 4 mà vẫn thể hiện quyền lãnh đạo của mình thì lý do gì mà người dân phải chờ Luật biểu tình mới được thể hiện lòng yêu nước?

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” – Điều 25 Hiến pháp

Trên nguyên tắc và tinh thần bình đẳng trước pháp luật, giả định một cuộc mặc cả giữa một bên là nhân dân, một bên là đảng CSVN như thế này: nếu dân đồng ý tạm dừng biểu tình để chờ luật thì đảng CSVN cũng phải dừng hoạt động để chờ luật. Đảng CSVN có chấp nhận không? Dĩ nhiên là không bao giờ họ chấp nhận, nhưng lại bắt nhân dân phải chấp nhận.

Miệng họ nói biểu tình là trái luật nhưng ghi nhận bằng văn bản đâu phải là điều đơn giản. Vì vậy mới có chuyện ngày 18/8/2011, chính quyền Hà Nội ra một thông báo cấm biểu tình, kỳ quặc và bôi bác chưa từng thấy, được gửi đến tận từng người biểu tình và đọc cả lên đài Phát thanh và truyền hình Hà Nội. Thông báo không có ai ký mà chỉ có cái dấu treo. Nơi nhận không có và số công văn cũng không có nốt. Nghĩa là chẳng ai phải chịu trách nhiệm cả.

Ai cần Luật biểu tình hơn?

Luật biểu tình không phải là thứ để ban phát, bố thí cho dân. Ngược lại, bên cần Luật biểu tình hơn phải là nhà cầm quyền. Họ cần để quản lý hoạt động biểu tình. Về phía người biểu tình dù có luật hay không có luật, họ vẫn có quyền biểu tình. Có khi ra luật biểu tình lại bất lợi hơn cho người dân vì những điều khoản khắt khe, phức tạp như chờ thời gian đăng ký (hay xin phép) cùng với đủ các giới hạn khác, có thể là cấm một số tuyến phố “nhạy cảm”, xét duyệt nội dung các khẩu hiệu, qui định về thời gian, hạn chế số người tham gia… Đó là còn chưa kể các tiểu xảo khác như cho hồng vệ binh khiêu khích rồi vu cho dân gây rối trật tự công cộng để bắt hoặc giải tán biểu tình.

Ai bảo có luật biểu tình rồi thì sẽ không bị đàn áp, không bị đánh? Luật nào cho phép đánh người mà công dân vẫn bị đánh đập đến tàn phế?

Và điều này còn quan trọng hơn: ai bảo có luật biểu tình rồi thì sẽ không bị đàn áp, không bị đánh? Luật nào cho phép đánh người mà công dân vẫn bị đánh đập đến tàn phế? Luật nào cho phép ngăn cản quyền đi lại của công dân để họ đưa công an với một lực lượng đông đảo canh khắp các nhà mỗi khi có biểu tình? Thế nhưng, những việc đó vẫn xảy ra thường xuyên, phổ biến tới mức nhiều người dân cứ tưởng công an họ có quyền làm như vậy?!

Cho nên, Luật biểu tình có hay không, không phải là điều bức thiết đối với người dân, mà quan trọng ở chỗ nhà cầm quyền có tôn trọng pháp luật không? Những gì đã diễn ra trong suốt thời gian đảng CSVN cầm quyền cho thấy câu trả lời là không. Chưa bao giờ, nhà cầm quyền Việt Nam, đặc biệt là ngành công an lại vi phạm pháp luật trắng trợn với một diện rộng như hiện nay.

Nghị định không thể điều chỉnh Hiến pháp.

Đó là một lẽ đương nhiên. Thế mà khi tranh cãi về quyền biểu tình bị đuối lý, thì nghị định 38/2005/NĐ-CP của Chính phủ và sau đó là thông tư 09/2005/TT-BCA của Bộ Công an cấm tập trung từ 5 người trở lên lại được coi là cứu cánh cho nhà cầm quyền. Họ không nói không được biểu tình nữa mà nói cấm tụ tập đông người. Tại các khu vực biểu tình, loa phóng thanh ra rả đem nghị định 38 ra đòi giải tán, đe dọa. Tất nhiên chẳng ai nghe.

Dùng thông tư 38 để điều chỉnh hoạt động biểu tình là vi hiến. Vì không thể giới hạn mọi cuộc biểu tình phải dưới 5 người được.

Anh Trịnh Văn Toàn bị đánh chấn thương sọ não đang được điều trị ở bệnh viện ở Sài Gòn hôm 17/6/2018.
Anh Trịnh Văn Toàn bị đánh chấn thương sọ não đang được điều trị ở bệnh viện ở Sài Gòn hôm 17/6/2018. FB Khánh Trần

Tuy vậy, những người biểu tình vẫn cứ bị bắt, bị đánh đập tàn bạo. Hai đợt biểu tình vào các ngày 9, 10 và 16,17 tháng 6-2018 là những ví dụ gần nhất cho thấy điều đó.

Lẽ ra, một đất nước tôn trọng luật pháp thì cùng một hành vi sẽ bị xử lý như nhau. Nhưng thực tế thì cách cư xử đối với mỗi cuộc biểu tình lại khác nhau. Nếu biểu tình có lợi cho họ thì không bị đàn áp, như những cuộc biểu tình bị họ lợi dụng để làm giá với TQ chẳng hạn. Nếu cuộc biểu tình nào bất lợi ít thì bị đàn áp ít, cuộc nào hại nhiều cho họ thì bị đàn áp dữ dội như biểu tình phản đối Luật Đặc khu, Luật An ninh mạng trong những ngày vừa qua. Điều này cũng chỉ là một ví dụ trong ngàn vạn dẫn chứng nói nói lên đất nước này vô luật.

Mặc dù quyền biểu tình của công dân đã rõ ràng như vậy nhưng giới cầm quyền vẫn cứ nói biểu tình trái phép, tập trung đông người là vi phạm để đàn áp, bắt bớ, đánh đập. Trong cuộc biểu tình đẫm máu ngày 17/6/2018 vừa qua, Công an TP Hồ Chí Minh đã bắt 179 người, và nhiều người bị đánh đập vô cùng dã man.

Quyền biểu tình chỉ bị tước đoạt khi nó bị xóa ra khỏi Hiến pháp đồng thời luật pháp có điều khoản cấm biểu tình. Nếu chỉ xóa ra khỏi hiến pháp mà không có điều luật cấm thì dân vẫn có quyền biểu tình vì người dân có quyền làm những gì pháp luật không cấm.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Phần IV: Công sản VN bán nước – Mở ải ‘Nam Quan’ cho giặc tràn vào

Thiên Đức

Kính thưa quý vị. Hôm nay tôi xin post tiếp phần IV của công trình nghiên cứu với đề tài: Vạch trần âm mưu thôn tính nước ta của Tàu cộng Bắc Phương. Bài này có phần dịch ra tiếng Anh

GS David Tran

Phần IV: Công sản VN bán nước – Mở ải ‘Nam Quan’ cho giặc tràn vào

Để bắt đầu viết phần cuối của bài tôi xin mượn một nhân vật trong lịch sử TQ mà tôi đã nhắc ở phần trên để làm lời dẫn:

Ngô Tam Quế (1612-1678) là một đại tướng nhà Minh (Trung Hoa) trấn thủ “Sơn Hải Quan” (Hà Bắc, TQ ngày nay) án ngữ biên cương phía đông bắc Trung Hoa. Một cửa ải tối quan trọng ngăn chặn quân Mãn Thanh luôn đe dọa Trung Nguyên. Năm 1644 nhận thấy nội tình chính trị nhà Minh đã đến lúc suy tàn, nguy cơ sụp đổ rất lớn, Ngô Tam Quế đem lòng phản trắc, mưu cầu danh lợi… đã thông đồng với quân Mãn Thanh mở toang cửa ải Sơn Hải Quan cho quân Mãn tràn vào, cáo chung triều đại nhà Minh, chiếm toàn bộ Trung Hoa và lập nên triều đại nhà Thanh.

Để thưởng đại công trên, triều đình Mãn Thanh phong Ngô Tam Quế làm Bình Tây Vương trấn thủ Vân Nam, uy lực cả một góc trời, cao sang vọng lọng.

Dưới mắt người Hán thì Ngô Tam Quế là một trong những “Đại Hán Gian” cũng như Tần Cối dưới thời nhà Tống. Để làm gương cho người đời sau, tại Sơn Hải Quan người ta dựng lên một hình nộm và ghi tên Ngô Tam Quế, mọi người (dân Hán) qua lại đều nhổ nước bọt lên mặt hình nhân và chửi rủa thậm tệ. Sơn Hải Quan mãi còn đó và Hán gian Ngô Tam Quế không bao giờ phai trong tiềm thức dân tộc Hán.

Đọc lịch sử Tàu và nhìn lại thời cuộc của đất nước VN trong thời gian gần thế kỷ qua ta lại ngẫm nghĩ và thấy có những điểm tương đồng. Thế nhưng với thời hiện đại mọi lĩnh vực trong xã hội đều biến thiên một cách không tưởng, do đó trong hành động xâm lăng hay phản dân bội nước, mưu cầu danh lợi nó cũng tiến lên ở bậc tinh vi hơn.

Âm mưu thôn tính VN và bá quyền cả vùng Đông Nam Á là giấc mộng ngàn năm trong thẳm sâu tiềm thức của mỗi triều đại bắc phương.

Năm 1963 của thế kỷ trước, chính Mao Trạch Đông trong một buổi tiếp Lê Duẩn ở Bắc Kinh với sự có mặt của Đặng Tiểu Bình và Trường Chinh. Mao Trạch Đông đã khẳng định rằng ông ta là chủ tịch của hơn 500 triệu nông dân TQ đang thiếu chỗ ở và đất canh tác, cho nên ông phải đưa người TQ đến ở những nơi này (Đông Nam Á).

Mao Trạch Đông còn khẳng định trong cuộc họp của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1965: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore… Một vùng như Đông Nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy… Sau khi giành được Đông Nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây…”. (Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, NXB Sự Thật, 1979).

Vào thời phong kiến, một nước lớn xâm lăng một nước nhỏ thì cứ ngang nhiên xua quân vào chiếm cứ, lập làng mạc và xây dựng chính quyền rồi đặt ách cai trị. Ngày nay với làn sóng ý thức hệ dân chủ hướng đến toàn cầu, do đó hành động xâm lăng được biến tướng sang một hình thái khác tinh vi và bài bản cao siêu hơn.

Để thôn tính và Hán hoá cả vùng bao la này (ĐNÁ), tập đoàn đảng CSTQ trong hậu bán thế kỷ 20 đóng vai trò kẻ cả, là quân tử (nguỵ quân tử) giúp cho CS VN nhiều tiền của, vũ khí, lương thực, quân trang, quân dụng để tiến chiếm Miền Nam VN với chiêu bài là ‘giúp cho VN hoà bình thống nhất đất nước’. Nhưng thật ra, chúng lợi dụng xương máu thanh niên, nhân dân VN lót đường xây mộng bá quyền về phương Nam. Chứ trong lúc này có hàng triệu nhân dân TQ phải chịu chết đói vì thiếu lương thực và cảnh nghèo nàn lạc hậu luôn bao trùm xã hội TQ dưới chế độ độc tài của CS Bắc Kinh.

Không từ bỏ giấc mộng vàng, CSTQ tiến hành nhiều âm mưu thâm độc, trong phần này tôi không nhắc lại những âm mưu khống chế về kinh tế, thương mại, tràn ngập hàng hoá độc hại, ma tuý, sách báo, phim ảnh đen tối… nhằm Hán hoá dân tộc VN mà tôi đã trình bày trong phần II ở trên

Với địa chính trị đặc thù, VN đóng vai trò cực kỳ quan trọng trên bước đường bành trướng về phương Nam của Bắc Kinh.

VN là cửa ngõ quan trọng để làm bàn đạp cho quân Bắc phương tiến về phía trước, là tiền đồn trọng yếu của ĐNÁ, giống như con đập vững chắc ngăn chặn mọi nguồn nước từ phương bắc đổ về nam. Từ Bắc Kinh phóng tầm nhìn về ĐNÁ được đi qua hai ngả đường biển và đường bộ. Cho nên trong những lần giặc Bắc phương xâm lược nước ta trong các thời Đinh, Lê, Lý, Trần, hậu Lê… chúng đều chia quân làm hai ngả đường biển và đường bộ để tiến vào.

Về đường biển thì VN với vai trò là yết hầu của biển Đông cũng là một Ải Nam Quan trên biển. Muốn khống chế Đông Hải trước tiên phải thôn tính vùng lãnh hải, hải đảo và thềm lục địa VN từ đó vòi bạch tuộc sẽ vươn dài ra khắp một vùng rộng lớn, kiểm soát một hải trình quốc tế quan trọng nối liền Ấn Độ Dương ra bắc Thái Bình Dương. Do đó trong thời gian qua TQ đã hung hăng, làm mưa làm gió khống chế Biển Đông, đặc biệt áp đặt mọi thứ và xâm lăng trắng trợn các vùng biển, hải đảo VN với cương vị là kẻ ngồi trên đầu đảng CSVN, buộc đảng và nhà nước CSVN câm miệng cúi đầu thần phục.

Một mặt nữa là TQ bao vây VN về ngoại giao sử dụng quyền lực mềm ( soft power), lấy thế mạnh là nước lớn với tiềm lực kinh tế dồi dào, là nhà đầu tư và ân nhân của các nước nhỏ, nghèo trong khu vực mà không có tranh chấp trên Biển Đông với TQ từ đó lôi kéo họ về cùng phía để cô lập, gây áp lực với các nước có tranh chấp biển đảo như VN, Philippines… cụ thể như Campuchia, Lào, Miến Điện, Thái Lan… Rõ nét nhất là việc Campuchia quay lưng với CSVN một cách trắng trợn và phũ phàng qua hội nghị thượng đỉnh Asean trước đây đã cho thấy rõ.

Về đường bộ trên đất liền, đường biên giới VN-TQ kéo dài gần 1450 km, từ trước đã có hai cửa khẩu chính là Hữu Nghị (Lạng Sơn) và Đồng Đăng (Lạng Sơn) đây là cửa khẩu đường sắt. Từ hai cửa khẩu này mọi hàng hoá, dịch vụ, các phương tiện giao thông vận tải công khai qua lại tràn ngập thị trường đất nước VN. Đó là chưa kể một phần rất lớn được thâm nhập vào VN không qua cửa khẩu mà bằng đường bộ tự phát hay vượt suối băng rừng… dọc dài biên giới.

Xét thấy chưa đủ để đáp ứng cho cơn lũ Bắc phương ồ ạt tràn về phương Nam thì cả hai chính quyền VN-TQ đã lập thêm một cửa khẩu nữa là cửa khẩu Kim Thành (Lào Cai VN – Hà Khẩu, Vân Nam TQ). Cửa khẩu này khi mới thành lập mở cửa từ 7h sáng đến 19h tối và lễ khai trương chính thức đã diễn ra ngày 8/11/2012 nhân ngày hội thương mại biên giới Việt-Trung lần thứ 12 tổ chức tại Hà Khẩu TQ từ đó mở cửa 24/24 giờ mỗi ngày cho đến nay. Như vậy cửa ngõ để vào thôn tính VN và cả vùng ĐNÁ thênh thang rộng mở.

Cửa khẩu quốc tế đường bộ số II (Kim Thành)

Chưa dừng lại ở ba cửa khẩu với giao thông đường bộ, đường sắt thênh thang và thuận tiện này. TQ còn đang tiến hành mở một con đường sắt xuyên Á thật qui mô. Một mũi tên xuyên suốt, xâu chuỗi các nước mà mở đầu là VN đến Lào, Thái Lan và cuối cùng là Singapore. Lộ trình này bắt đầu từ Côn Minh thủ phủ tỉnh Vân Nam qua Ngọc Khê, Mông Tự, Hà Khẩu sang Lào Cai (VN) rồi xuyên qua Lào, Thái Lan, Singapore. Con đường sắt xuyên Á này trên phần đất TQ đã hoàn thành, phần còn lại đang tích cực thi công.

Như vậy với lộ trình này thì VN cũng vẫn là khởi điểm khi ra khỏi biên cương TQ. Cũng là một Ải Nam Quan để tiến vào vùng ĐNÁ. Mặt khác, đường mòn HCM được mở rộng với qui mô từ 2 đến 8 lằn đường xuyên suốt dãy Trường Sơn cũng không nằm ngoài mục đích chuyển quân và tiếp tế cho cả vùng Tây Nguyên một khi chiến sự nổ ra…nó song song với QL1 là 2 mũi tiến công thực hiện “Giấc mơ Trung Hoa” của Trung Nam Hải.

Hành trình nam tiến của TQ không ngừng mở rộng. Về hạ tầng cơ sở, đường sá đã và đang hoàn chỉnh, các phương tiện giao thông đã ồ ạt lại qua hàng ngày như hành hương về thánh địa. Để hợp thức hoá thủ tục di chuyển vận tải về người và hàng hoá hay vũ khí quân dụng sau này về phương Nam một cách dễ dàng hai nước CS đã ký kết hiệp định vận tải đường bộ. Thông qua hiệp định này thì các phương tiện vận tải có thể đi sâu vào nội địa của nhau trên một cung đường dài 1.300 km từ Thẩm Quyến đến Hà Nội. Ở đây chủ yếu là vào sâu nội địa VN chứ về phía lãnh thổ TQ thì chỉ có các tay sai nô thần VN đi triều cống hay nhận chiếu chỉ mà thôi. Như vậy từ đó cho đến nay mọi phương tiện vận tải và người của TQ tự do xâm nhập vào VN bất cứ nơi đâu. Vào đến Hà Nội – Ba Đình, là “trái tim” của chế độ rồi thì còn đi đến đâu chi nữa? Mà có muốn tiến xa về đến Sài Gòn thì cũng là điều hết sức dễ dàng. Cả Bắc, Trung, Nam núi rừng, biển đảo, nội đồng phố thị đâu đâu là không có người TQ? Thậm chí mọc rễ ăn sâu vào xã hội sinh con đẻ cái hàng 10 năm trời rồi mà công an, cảnh sát khu vực, an ninh không hề hay biết hay âm thầm làm ngơ, tiếp tay! Trong lúc đây là đội ngũ còn đảng còn mình có những cặp mắt cú vọ nhìn xuyên suốt màn đêm, rọi sâu vào nồi cơm xoong cá của nhân dân. Ai ăn no mặc đủ hay đói rách te tua… chúng đều rõ hơn ai hết.

Để chuẩn bị chu toàn cho cuộc hành phương Nam một cách hoàn hảo nếu có binh biến xảy ra, TQ cũng đã thiết lập một lữ đoàn tên lửa Quảng Đông. Lữ đoàn tên lửa đạn đạo 827 đặt tại TP Thiều Quang – Quảng Đông. Lực lượng này sử dụng tên lửa chống hạm Đông Phong 21D và Đông Phong 16 loại hoả tiễn đạn đạo mới có tầm bắn trên 1.200km.

Như vậy để biến Đông Hải thành ao nhà và bán đảo Đông Dương cùng cả vùng ĐNÁ thành sân chơi riêng, TQ đã làm tất cả những gì cần và có thể. Từ các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, giao thông đường biển, đường bộ, đường sắt và những tác dụng sâu xa về mặt xã hội, đời sống, văn hoá… TQ đã lập trình không thiếu một kẻ hở nào.

Đất nước VN từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan đều nằm gọn trong lòng tay đại Hán. Ải Nam Quan chỉ là dấu tích ngàn xưa của tổ tiên Hồng Lạc chứ bây giờ cho dù Sài Gòn Hà Nội hay bất cứ nơi đâu trên mảnh đất thân thương này cũng thấp thoáng bóng hình Tàu cộng.

Nhưng với ý chí quật cường, hàng vạn Anh Thư, Anh Hùng của dân tộc Việt không bao giờ chịu khuất phục trước quân thù. Chúng ta sẽ cùng nhau đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, tiêu diệt bọn tay sai bán nước, tham nhũng hung tàn bạo ngược với nhân dân.

Ngày xưa nước Tàu chỉ có một Hán gian như Ngô Tam Quế mở cửa ải Sơn Hải Quan cho giặc tràn vào thôn tính Trung Nguyên mà người đời dựng hình nộm đề tên để phỉ nhổ, nguyền rủa muôn đời.

Ngày nay VN thì có quá nhiều yêu tinh lộng hành bán biển đảo, đất đai rừng núi, đồng bằng phố nội, giao ải cho giặc tự do vào ra lúc nào cũng được để nuốt gọn giang san… thì ta biết đưa tên quỉ quái, yêu tinh nào lên hình nộm dựng ngay cửa Ải Nam Quan để con cháu đời đời nguyền rủa?

Tôi xét thấy các loại yêu tinh trong “Liêu trai chí dị” thì loài “Hồ Tinh” là ghê gớm hơn cả. Hắn đủ trò, đủ chước, tàn ác, thâm độc mà lại tham lam vô độ… cưỡng bức xong đem con bỏ chợ, giết người diệt khẩu gây bao cảnh dã man, nghiệt ngã… Thôi thì ta cứ để mỗi một tên “Hồ Tinh” đứng đầu của mọi yêu tinh lên hình nhân vậy!

Giữa Ải Nam Quan sau này sẽ có một hình nhân bù nhìn nhục danh “Hồ Tinh” là “Đại Việt gian bán nước” để cho toàn dân và con cháu muôn đời phỉ nhổ.

Trên đây là một số điểm nằm trong hệ thống âm mưu xâm lược nước ta của tập đoàn cộng sản Bắc Kinh mà CS VN cúi đầu làm tay sai bán nước. Giúp cho giặc Tàu dễ bề thôn tính non sông Việt Nam. Tôi hy vọng rằng với công trình nghiên cứu trên cũng phần nào giúp cho nhân dân VN thấy rõ hơn bộ mặt thâm độc nham hiểm, gian dối trá hình dưới 16 chữ vàng mà đảng csVN cam tâm làm bồi thần nô lệ nối giáo cho giặc giết hại nhân dân và hiến dâng đất nước cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Phương.

GS David Tran
Bảng tiếng Anh

Ladies and gentlemen. Today, I would like to post part IV of the study on the subject: Expose the conspiracy of our country to the North.
Prof. David Tran

Part IV: Vietnamese products sold – Opening ‘Nam Quan’ for the invaders

To start writing the last part of the article I would like to borrow a character from Chinese history that I mentioned above to make the following statement:

Ngo Tam Que (1612-1678) was a Chinese general who controlled the “Son Hai Quan” (modern Hebei, China) frontier language in northeastern China. An important door to stop Manchu always threaten Trung Nguyen. In 1644, it was found that the internal politics of the Ming dynasty had come to a time of decline and the danger of collapsing was so great, Ngo Tam Que had fallen in love with the enemy. Customs for the Manchu Division, the General Ming Dynasty, occupied all of China and established the Qing dynasty.

In order to reward the great work, the court of Man Thanh Phong Ngo Tam Que made Binh Tay Vuong, Van Nam, the power of a corner of the sky, high expectations.

In the eyes of the Han, Ngo Tam Que was one of the “Great Han Dynasty” as well as Qin Maid during the Song Dynasty. To set the example for the next life, in Son Hai Quan people set up a dummy and named Ngo Tam Que, people (Han people) spit back to spit on the face and curses badly. Son Quan Quan still exists and Han Guan Tam Que never fade in the subconscious Han.

Read the history of the ship and look back on the times of Vietnam in the past century we have to think and find similarities. But with modern times all the fields in the society are unbelievably varied, so in the act of invasion or renegade people, the pursuit of fame it also advances on a more sophisticated level.

The overthrow of Vietnam and the hegemonism of Southeast Asia was a thousand years in the deep subconscious of each of the dynasties of the North.

In 1963, it was Mao Zedong in a Le Duan meeting in Beijing with Deng Xiaoping and Truong Chinh. Mao Zedong asserted that he was the president of more than 500 million Chinese farmers who lacked shelter and farming land, so he had to bring Chinese people to these places (Southeast Asia).

Mao Zedong asserted at a meeting of the Central Committee of the Communist Party of China (CPC) in August 1965: “We have to win Southeast Asia, including South Vietnam, Thailand. Thailand, Myanmar, Malaysia and Singapore … A region like Southeast Asia is rich, there are many minerals … worth the expense necessary to take over … After gaining Southeast Asia, we have To strengthen our strength in this area, we will have the strength to confront the Soviet-Eastern Europe block, the East wind will blow the West wind. (The truth about the relationship between Vietnam and China in the past 30 years, Truth Publishing House, 1979).

In the feudal era, a large country invaded a small country, then blatantly drove troops into occupied, established villages and built the government and put the yoke ruled. Today, with a wave of global democratic ideals, the aggression is transformed into a more sophisticated and sophisticated form.

To conquer and neutralize this immense region (SEA), the CSTQ group in the second half of the 20th century played the role of the eldest, the prince of the military, food, military equipment, military equipment to take over South Vietnam with the guise of “helping Vietnam peacefully unify the country.” But in fact, they use the bloody youths, the people of Vietnam paved the way to build the hegemonic South. At this time, millions of Chinese are starving for lack of food and poor backwardness that overwhelms Chinese society under the dictatorial regime of Beijing.

Not to give up the dream, the CCP carried out many malicious conspiracies, in this section I do not recall the economic and commercial control overflows, flooded with toxic goods, drugs, books, movies dark … to the Han nationalization that I presented in Part II above

With geopolitical characteristics, VN plays a very important role in the way of expansion south of Beijing.

Vietnam is the important gateway for the North Vietnamese advance, which is a key Southeast Asian outpost, like a strong dam that prevents water from flowing from the north. From Beijing, the vision of SEA is crossed by sea and road. So in the times of invading North Vietnam in the dynasty, Le, Ly, Tran, Le … they divide the army into two ways and sea road to enter.

On the sea side, Vietnam as a moat of the East Sea is also a Nan Quan on the sea. In order to control the East China Sea, the islands, continental shelf and continental shelf must first be annexed, whereby the octopus will extend across a large area, controlling an important international sea route connecting the Indian Ocean. to the north Pacific. Therefore, during the past time, China has aggressively stormed the South China Sea, imposing everything and blatantly attacking the sea areas and islands as a perpetrator on the Vietnamese Communist Party. The party and the communist state of Vietnam silently bowed their heads.

On the one hand, China embraces diplomatic ties with soft power. It has the advantage of being a large country with abundant economic power, as investors and benefactors of small and poor countries in the region. The South China Sea, which has no conflict in the South China Sea, has drawn them to the same island to isolate pressure on the disputed islands of the Philippines and the Philippines, such as Cambodia, Laos and Burma. , Thailand … The most obvious is the Cambodian turn away from the Communist bluff and blatantly over the past ASEAN summit has clearly shown.

On land roads, the borderline VN-China lasts nearly 1450 km, from the former has two main border gate is Huu Nghi (Lang Son) and Dong Dang (Lang Son) this is the railway gate. From these two border gates, all goods, services and means of transportation openly penetrate the Vietnamese market. That is not to mention a huge part is penetrated into Vietnam not through the gate but by spontaneous road or cross the forest streams … along the border.

Considering not enough to meet the North’s massive floods swept south, both authorities have set up an additional border gate is Kim Thanh (Lao Cai VN – Hekou, Yunnan China) . This border gate was opened from 7am to 19pm and the official opening took place on November 8, 2012 on the 12th Vietnam-China border trade fair held in Hekou from China. It is open 24 hours a day so far. Thus, the gateway to enter Vietnam’s annexation and the wide area of ​​Southeast Asia.

International road No. II (Kim Thanh)

Not stop at three border crossings with good road and rail traffic. China is also opening a truly trans-Asian railroad. An arrow across, the countries that open Vietnam to Laos, Thailand and finally Singapore. This route starts from Kunming, capital of Yunnan Province, through Ngoc Khe, Mong Tu, Ha Khau to Lao Cai (VN) and through Laos, Thailand and Singapore. This trans-Asian railway is completed in China, the rest is actively constructed.

So with this roadmap, Vietnam is still the starting point when it comes out of the Chinese border. It is also a Nan Quan to enter Southeast Asia. On the other hand, the Ho Chi Minh Trail was expanded with two to eight lanes across the Truong Son range, not only for the purpose of moving troops and supplies to the Central Highlands once the war broke out … it was parallel to QL1 is the two shots to launch the “Chinese Dream” of Zhongnanhai.

China’s forward journey is constantly expanding. Infrastructure, roads have been completed, the means of transportation has been massively through daily pilgrimage to the site. In order to legalize the process of transporting people and goods or military equipment into the South, the two countries have signed a road transport agreement. By means of this agreement, the means of transport can be penetrated into each other’s hinterland on a 1,300 km long route from Shenzhen to Hanoi. This is mainly in inland Vietnam, but in the territory of China, only the servants of the gods of Vietnam to pay tribute or receive only. So far, all means of transport and people of China have been free to enter Vietnam anywhere. Arrive in Hanoi – Ba Dinh, Is the “heart” of the regime then go to any more? It is very easy to go to Saigon. North, Central, South mountain forests, sea islands, inner city where is no Chinese people? Even roots rooted in society give birth to the baby for 10 years and then the police, regional police, security do not know or silently ignore, help hand! While this is the team and the party also have eyes shot through the night, deep into the rice cooker of the people. Those who eat well enough or hungry torn t … they are all clearer than anyone. While this is the team and the party also have eyes shot through the night, deep into the rice cooker of the people. Those who eat well enough or hungry torn t … they are all clearer than anyone. While this is the team and the party also have eyes shot through the night, deep into the rice cooker of the people. Those who eat well enough or hungry torn t … they are all clearer than anyone.

In order to perfect the South’s rhythm, if a mutiny occurs, China has set up a Guangdong rocket brigade. 827 ballistic missile brigade located in Thieu Quang – Guangdong. This force uses 21st and East Phong defenses of Dong Phong anti-aircraft missiles with 16 types of ballistic missiles with a range of over 1,200 km.

Thus, in order to make East China Sea a home and a peninsula of Indochina and Southeast Asia into a private playground, China has done all it can and should do. From political, economic, military, diplomatic, maritime, road and railroads, and profound social, life and cultural implications, China has programmed no less. an open one.

The country from Ca Mau to Nam Quan is located in the hands of Han Han. Nam Quan is the ancient mark of the ancestors of Hong Lac, but now whether Sai Gon Hanoi or anywhere in this land is also diminished by the shadow of the Chinese.

But with the willpower, tens of thousands of English letters, Heroes of the Vietnamese people never bowed to the enemy. We will stand together to beat off foreign invaders, destroy the henchmen to sell water, corruption brutal with the people.

In the past, China had only one Han, such as Ngo Tam Que, who opened the gate of Hai Son Quan for the invaders to overrun Trung Nguyen, whose life was shaped by the name of the people to spit, curse forever.

Today, there are too many goblins selling islands, forests, mountainous land, the streets of the city, the freedom of the enemy to enter the place is always to swallow giang san … then we know the name evil monsters, goblins on the dummy set up at the door of the Nam Quan to the children forever cursed curse?

I consider the types of goblins in the “Liao boys”, the species “Ho Tinh” is more formidable. He enough games, enough, cruel, malicious, but greedy insatiable … forced to take the children to the market, kill people kill the barbaric scene, brutal … A name “Ho Tinh” the leader of all goblins on the human figure!

In the midst of the Nam Quan Gate, there will be a humorous puppet “Ho Tinh” for the entire people and descendants to spit.

The above are some points in the system of conspiracy to invade our country’s Communist conglomerate that VN communists bow as salesmen in the water. Helping the Chinese invaders to assassinate Vietnamese rivers. I hope that with the research on the part helps the people of Vietnam to see more clearly the face of malicious sin, fraud under the shadow of 16 yellow words that the Communist Party committed suicide slave gods for the enemy. killing people and dedicating the country to the enemy in the North.

Prof. David Tran

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Vì sao các Đặc Khu Kinh Tế TQ nguy hiểm hơn nhượng địa thời thực dân

Image may contain: one or more people and text

Duy Nhat

Vì sao các Đặc Khu Kinh Tế TQ nguy hiểm hơn nhượng địa thời thực dân

Luật Sư Đào Tăng Dực

Từ hải ngoại, khi hướng về tình hình chính trị Việt Nam, chúng ta vô cùng bực bội vì phải thường xuyên chứng kiến cảnh đạo đức giả và khinh thường nhân dân của các lãnh đạo CSVN.

Đã độc tài đảng trị không đối lập mà cứ giả vờ như dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên, cẩn thận cân nhắc từng lá phiếu cử tri còn hơn các nước Tây Phương, mặt dày mày dạn giả vờ tiếp xúc cử tri lấy ý kiến từng người.

Bán nước trắng trợn mà phát ngôn điêu ngoa lừa lọc, tưởng rằng toàn dân là phường đui mù câm điếc vô ý thức.

Một trong những ví dụ điển hình nhất là trường hợp truyền thông Việt Nam đã dẫn lời TBT Nguyễn Phú Trọng tại buổi tiếp xúc cử tri quận Thanh Xuân và Hà Đông, Hà Nội hôm 17/6 như sau:

“Lợi dụng quy định cho thuê đất 99 năm trong Luật Đặc khu để nói Trung Quốc vào 99 năm là mất nước, kích động đi biểu tình để bày tỏ lòng yêu nước, dẫn đến làm việc chống đối, phá hoại. Bản chất sâu xa là xuyên tạc sự thật, kích động lòng yêu nước chân chính của người dân để âm mưu việc khác, có bàn tay phần tử phá hoại, không loại trừ yếu tố nước ngoài.”

TBT Nguyễn Phú Trọng lại nói thêm:

“Tất cả đều vì nước, vì dân thôi chứ không có mục đích nào khác, không ai dại dột, ngây thơ giao đất cho nước ngoài để người ta vào đây.”

Đó toàn là ngoa ngôn xảo ngữ trong kho ngữ vựng bình thường của Ông Trọng.

Tuy nhiên, nguy hiểm hơn là hành động của đảng CSVN chứng tỏ họ đang âm mưu với nước ngoài là TQ và bàn giao đất cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

Thật vậy, trong khi TQ chiếm đóng Hoàng Sa bằng vũ lực, xâm chiếm một phần Trường Sa, tàn sát không thương tiếc 64 chiến sĩ Việt Nam bảo vệ Trường Sa, ép buộc Việt Nam nhượng các mỏ dầu hỏa trong lãnh hải của mình cho TQ, tập trận bằng hỏa lực thật ngoài khơi Biển Đông thị uy với quốc tế và thách thức chủ quyền Việt Nam, thì Bộ Chính Trị đảng CSVN ra lệnh cho Quốc Hội bù nhìn thông qua Luật An Ninh Mạng để trao không gian ảo cho Trung Quốc kiểm soát, và tuy lùi lại ngày biểu quyết dự Luật Đặc Khu Kinh tế, nhưng vẫn chuẩn bị thông qua tháng 10 này, hầu trao 3 đảo chiến lược là Vân Đồng (Quảng Ninh) miền Bắc, Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) miền Trung và Phú Quốc (Kiên Giang) miền Nam cho TQ thuê lên đến 99 năm.

Nếu đây không phải là hành động ngang nhiên bán nước cho TQ của Bộ Chính Trị, trực tiếp vi phạm điều 108 Bộ Luật Hình Sự về tội phản bội tổ quốc, thì phải gọi là gì nữa?

Trong thế giới đương đại, trên phương diện quốc phòng, chưa xuất hiện một cá nhân hay tập thể lãnh đạo nào lạ lùng và hoang tưởng bằng TBT Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính Trị của đảng CSVN.

Đối với họ, sự kiện TQ chiếm đóng Hoàng Sa và Trường Sa, gài đặt giàn hỏa tiễn uy hiếp lục địa Việt Nam, truy sát ngư dân Việt Nam trên lãnh hải truyền thống dân Việt còn chưa đủ.

Hoàng Sa và Trường Sa theo họ còn quá xa VN. Họ muốn dâng cho đàn anh Tập Cận Bình yêu dấu những hòn đảo gần Việt Nam hơn và lớn hơn như đảo Vân Đồn (diện tích huyện 551Km2), Bắc Vân Phong (huyện Vạn Ninh 550Km2), và Phú Quốc (589 Km2) ngay sát bờ biển để gần gũi hơn.

Một đặc khu cho ngoại quốc thuê, có nguy hiểm cho quốc gia chủ đất hay không tùy thuộc vào các điều kiện sau đây:

1. Tương quan sức mạnh quân sự giữa quốc gia chủ đất và thuê đất

2. Tương quan sức mạnh kinh tế giữa quốc gia chủ đất và thuê đất

3. Khoảng cách địa lý giữa 2 quốc gia

4. Sức mạnh của chính kiều dân trong khu tự trị

Trong trường hợp Việt Nam cho TQ thuê đất tại Phú Quốc, Bắc Vân Phong và Vân Đồn thì 3 yếu tố đầu tiên rõ ràng bất lợi cho Việt Nam vì tương quan sức mạnh quân sự và kinh tế giữa TQ và VN quá thiên về TQ. Thêm vào đó 2 nước hầu như tiếp cận lãnh thổ lẫn lãnh hải.

Một trong những biện minh thuyết phục nhất trong bang giao quốc tế hầu một quốc gia mạnh có thể xâm chiếm một quốc gia yếu hơn, là để bảo vệ quyền lợi kinh tế chính đáng của mình.

Một khi TQ đã đầu tư nhiều tỷ Đô La vào các đặc khu kinh tế nêu trên thì trong trường hợp xung đột giữa 2 quốc gia, họ có thể danh chánh ngôn thuận chiếm đóng làm thuộc địa.

Yếu tố thứ 4- sức mạnh của chính kiều dân trong khu tự trị- tuy không hiện hữu trong hiện tại, nhưng nếu chờ nhiều thập niên trong tương lai, với sự thần phục TQ hầu như tuyệt đối của CSVN, và nếu kiều dân TQ lên đến hằng triệu người, thì không những sẽ trở thành những quận huyện của TQ ngay trong lòng dân tộc VN, mà có thể hoàn toàn tự trị hoặc độc lập như đảo quốc Singapore nữa.

Nên nhớ Singapore (720 Km2) diện tích không lớn hơn bao nhiêu so với các khu kinh tế tự trị CSVN đề nghị. Nếu không đề phòng, số kiều dân TQ lên đến hằng triệu người, thì TQ có thể chiếm đóng bằng vũ lực như Nga Sô chiếm Crimea của Ukraine vậy.

Năm 1974, Hoàng Sa có hải quân VNCH bảo vệ mà TQ vẫn dùng hải quân áp đảo, chiếm đóng bằng vũ lực. Trường Sa có sự bảo vệ của hải quân CSVN, mà TQ vẫn ngang nhiên chiếm đoạt. Không những như thế, mặc dầu Bộ Chính Trị đảng CSVN, qua Lê Đức Anh, đã ra lệnh các quân nhân CSVN buông súng đầu hàng trên đảo Gạc Ma, nhưng hải quân TQ vẫn tàn sát không thương tiếc 64 chiến sĩ tay không này.

Thử hỏi một khi TQ đã có giao kèo chính thức, hợp pháp, thuê đất tại các đặc khu 40, 70 hay 99 năm và đầu tư nhiều tỷ đô la vào các đảo này, thì sẽ đễ dàng buông bỏ hay không?

TBT Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính Trị VN hoặc vì quá yêu đô la hay quá yêu TQ nên trí óc mù mờ và không nhìn thấy viễn cảnh này và đã phạm tội phản quốc.

Trường hợp Phú Quốc là nguy cập nhất. Một khi có xung đột xảy ra giữa 2 quốc gia, thì hạm đội TQ sẽ án ngữ tại eo biển Kiên Giang, trong khi đó Baidu, Weibo và những công ty internet TQ sẽ khống chế, làm tê liệt giao lưu trên không gian mạng. Lúc đó Phú Quốc với sự nội ứng của các kiều dân TQ, sẽ trở thành một quân huyện của TQ hay một tiểu TQ độc lập như Singapore.

Chính vì thế, chúng ta có thể kết luận không sai lầm rằng bất cứ đặc khu nào nhượng cho TQ đều nguy hiểm hơn những nhượng địa cho các cường quốc thực dân của thế kỷ 19 xa xưa.

Đã đến lúc, cuộc đấu tranh của toàn dân Việt, trong và ngoài nước phải dương cao 2 khẩu hiệu:

Một là “Cương quyết không chấp nhận TQ xâm nhập không gian mạng VN dù chỉ là một giây”.

Hai là “Cương quyết không chấp nhận TQ thuê đặc khu kinh tế VN dù chỉ là một giây”.

Một trong những lý do TBT Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN cả gan công khai bán nước như thế là vì, trong cơn say quyền lợi và quyền lực, họ đã quên một sự thật quan trọng. Đó là qua nhiều thiên niên kỷ chống giặc phương Bắc bảo vệ nền độc lập, yếu tính chống Trung Quốc đã nằm trong DNA của từng con dân nước Việt.

TBT Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí thân cận của ông hình như là ngoại lệ. Họ yêu trà Trung Quốc hơn trà Việt Nam và quê hương chân chánh của họ nằm bên kia Ải Nam Quan, về hướng Bắc.

Trong tâm thức sâu thẳm của họ, họ đã ý thức rằng:

Sau khi tiến trình dân chủ hóa hoàn tất tại Việt Nam và họ không còn đất dung thân, thì Trung Quốc sẽ là nơi họ an hưởng tuổi già. Họ phải ra sức tài bồi cho tổ quốc Trung Hoa thật sự của họ, bằng từng phần của thân thể mẹ Việt Nam.

23.06.2018

Luật Sư Đào Tăng Dực

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

CHỮ TÍN CỦA NGƯỜI CS.

No automatic alt text available.
Ngô Trường AnFollow

CHỮ TÍN CỦA NGƯỜI CS.

Qua chuyện ông Nguyễn Thiện Nhân nói rằng: tôi nói giọng Bắc nhưng là người miền Nam, tôi sẽ không gạt bà con đâu.
Với tôi, những người CS dù nam hay bắc thì cũng chẳng bao giờ tôi tin. Ví như ông Nguyễn Đức Chung người Bắc, giọng Bắc. Nhưng qua vụ Đồng Tâm ông nuốt lời hứa như thế nào? Rồi ông Nguyễn Tấn Dũng người Nam, giọng Nam. Nhưng trước quốc hội ông thề không chống được tham nhũng thì ông sẽ từ chức ngay. Nhưng ông có từ đâu? Bởi vậy, chữ Tín đối với những người cs rất xa xỉ, bất kể người Nam hay người Bắc, người trước hay người sau. Thời nào cũng thế! Tôi kể chuyện này để mọi người hiểu thêm nè:
* Chiều 30 tết năm Mậu Thân, anh rễ tôi mang balo, súng đạn về nhà tôi ăn tết. Mẹ thấy anh về ngạc nhiên hỏi:
– Con trốn đơn vị về à?
– Dạ không đâu mẹ! Tết này 2 bên cam kết đình chiến 72 giờ để binh sĩ 2 bên nghỉ ngơi đón xuân. Con được đơn vị cho nghỉ 12 giờ, sáng mai con lên lại cho anh em khác về.
Giao thừa, mẹ tôi bày biện mâm cúng gia tiên, chưa kịp thắp nhang thì nghe súng nổ vang trời, hỏa châu sáng rực. Cả nhà tôi vừa kịp chui xuống hầm ngoài bờ tre, thì nhà tôi lãnh nguyên 1 quả đại bác. Tan tành!
* Đầu năm 1973 anh họ tôi được đơn vị cho về phép cưới vợ. Anh bàn với chị sau khi hòa bình anh sẽ mở một cửa hiệu sửa xe, lúc đó chị phụ anh buôn bán phụ tùng cho khỏi vất vả. Chị hỏi:
– Biết đến bao giờ mới được hòa bình hả anh?
– Sắp rồi em! 2 bên đã ký hiệp định ở Paris. Theo hiệp định này thì quân cs Bắc Việt phải rút hết khỏi miền nam em à.
Khoảng hơn một tháng sau đó, chiếc xe GMC đưa anh về. Hàng xóm cạy nắp quan tài để gia đình nhìn mặt lần cuối, vợ anh ngất lịm.
* Sau 30.4.75 cán bộ lâm thời đến nhà Dì tôi bảo:
– Bà chuẩn bị 10 ngày ăn để ông ấy đi học tập cải tạo.
– Dạ, học tập bao lâu mà chỉ đem lương thực có 10 ngày vậy chú?
– Giác ngộ tốt thì 5-7 bữa được về, còn ngoan cố thì học đúng 10 ngày.
Thế rồi, 10 ngày trôi qua rồi đến 10 tháng rồi tiếp 10 năm…. Dì tôi không còn đủ sức để chờ nữa….
Đây là kinh nghiệm của tôi được rút ra từ năm lên 10 tuổi. Và từ đó cho đến nay tôi vẫn không thể nào tin được người cộng sản.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Giờ này một cái chuồng bò cũng không còn nữa để cho em ở tạm.

VanHieu Nguyen shared a post.

208,468 Views

Trần Đình VũFollow

Nhìn cảnh tang hoang của bà con nghèo vùng biển Vũng Tàu, chỉ một buổi sáng bất cẩn lo đi chợ kiếm cái ăn, cái mặc cho con cái. các con thì mải đi học sau khi trở về nhà. Thì ở nhà cấp ủy đảng bộ Vũng Tàu đã cho san bằng những căn nhà nhỏ thân thương của mình, nhìn cảnh tượng đổ nát nó giống như một cơn bão bất ngờ đổ bộ vào một vùng biển bình yên.

Một bài viết cảm động của Facebook Trương Nam Thi làm cho người đọc rơi nước mắt, khi nghe câu chuyện của bà con ngơi đây nhất là câu nói hồn nhiên của một con trẻ có nguyện ước cuối cùng là được ở trong “Chuồng bò” nếu đảng ủy sang bằng nhà của mình. Thế nhưng, giờ này một cái chuồng bò cũng không còn nữa để cho em ở tạm.

“Nếu người ta dỡ nhà con thì con sẽ ngủ trong chuồng bò” Đó là một câu nói của đứa trẻ 3 tuổi, ngây thơ mà cứa lòng người lớn chỉ cách đây một tuần khi tôi trò chuyện với con. Gia đình con cùng hơn 30 hộ dân làng chài nằm trong diện giải tỏa trắng gần bãi tắm Đồi Nhái Phường 11 TP Vũng Tàu.

Chỉ trong vòng một tiếng, cái làng chài nhỏ bé, xập xệ đã từng nuôi sống hàng trăm con người trở thành đống đổ nát khi bọn trẻ trở về nhà từ buổi tổng kết năm học, chúng chẳng còn cái giường để ngồi, cái mái tôn để che nắng, che mưa như từ lúc sinh ra. Và tôi, cũng chẳng còn chỗ để mua trứng gà hữu cơ từ bà con ở đây vào mỗi ngày cuối tuần. Cái làng chài này rồi sẽ tan tác mỗi người một phương.

Ôi cuộc đời! Nhiều khi tôi cũng chẳng hiểu sao mình lại cứ phải chứng kiến quá nhiều cảnh khổ đau trên nhân thế. Số phận những con người này sẽ phiêu bạt về đâu và bọn trẻ sẽ tồn tại thế nào, ngay đêm nay thôi sẽ phải làm quen với cảnh màn trời chiếu đất. Liệu đêm nay mưa có đổ sập xuống những tấm bạt đang bay phần phật vừa căng tạm và làm ướt chỗ nằm của các con?

Làm giàu (phát triển kinh tế địa phương)! tại sao phải đạp đổ chén cơm của người nghèo?

Liệu chúng ta có còn thờ ở được nữa không? hôm này là bạn, ngày mai sẽ là tôi, con cái, thế hệ của chúng ta sau này sẽ ra sa

Thanh Niên Công Giáo

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Đừng sợ những gì cộng sản làm, mà hãy làm những gì cộng sản sợ

Trần Bang and 2 others shared a post.
Image may contain: 1 person, standing, shoes and outdoor

Võ Hồng LyFollow

23.06.2018

Đừng sợ những gì cộng sản làm, mà hãy làm những gì cộng sản sợ ! Cộng sản đã mất cả chính nghĩa lẫn chính danh nên họ rất sợ mọi sự tập hợp của quần chúng nhân dân dù ôn hòa. Họ càng điên cuồng, càng đàn áp người dân mạnh tay thì điều đó càng chứng tỏ họ đang suy yếu và đang sợ hãi trước khí thế tăng cao của lòng dân.

Biểu tình ôn hòa là một trong những hình thức đối thoại cần thiết và chính đáng giữa nhân dân và nhà nước đã được hiến định. Sở dĩ Quốc hội còn đùn đẩy chưa dám ra luật biểu tình sau cả gần chục năm trời hứa hẹn vì họ sợ sẽ làm chế độ của họ lung lay khi nhân dân sẽ dựa vào đó để luật hóa những đòi hỏi chính đáng không có lợi cho sự cai trị của đảng cầm quyền. Tuy nhiên, nếu họ đàng hoàng thì việc gì họ phải sợ ?!

Khi chưa ra được luật Biểu Tình trong khi nhu cầu xuống đường biểu tình của dân là hiện hữu có nghĩa là nhà nước đã không hoàn thành trách nhiệm với nhân dân. Nhà nước CSVN đã không những nợ nhân dân luật bảo vệ quyền lợi biểu đạt chính kiến của dân mà họ còn nợ nhân dân cả máu nữa. Vâng, đó là máu của những người đã bị an ninh của đảng CSVN đàn áp, bắt bớ và bị đánh đập tàn nhẫn trong những ngày vừa rồi chỉ vì họ muốn cất lên tiếng nói của chính nghĩa, của quyền con người trong tinh thần dân tộc thôi thúc.

Đáp lại tình cảm thiêng liêng đó mà đằng sau nó là những sự hy sinh thầm lặng của biết bao người dân thì bà Ngân và ông Trọng chỉ biết ngồi phòng máy lạnh, xem vài clip và nghe cấp dưới báo cáo về để phán rằng “lòng yêu nước đã bị lợi dụng !”. Đã bao giờ ông bà xuống đường vào những thời điểm nóng bỏng ấy để trực tiếp quan sát, để lắng nghe lòng dân và đối thoại với dân thay vì chỉ ngồi một chỗ và xua quân ra làm lá chắn cho mình và đàn áp nhân dân ?

Để chế độ độc tài đảng trị tồn tại quá lâu như thế này cũng là lỗi của những người dân đã quá nhẹ dạ và đã đặt niềm tin vào những sự tuyên truyền dối trá, mị dân, đánh tráo khái niệm của CSVN. Do đó, ta cần phải nói ngược lại là chính lòng yêu nước của người dân đã bị các ông bà, những người lãnh đạo CSVN và tay sai cho Tàu lợi dụng mới đúng !

Và bây giờ thì ánh sáng của chính nghĩa đã quay trở về như một quy luật bất biến phải đến trong mọi quá trình phát triển. Người dân đã thức tỉnh ! Một khi niềm tin đã mất thì người dân sẽ không chấp nhận để tiếp tục bị lừa thêm lần nữa. Cần phải xác định rõ ràng rằng quyền biểu tình của nhân dân là hoàn toàn hợp hiến, chính những kẻ ra lệnh và tiến hành đàn áp biểu tình mới là vi hiến !

Cuộc sống luôn vận động. Tinh thần yêu nước và cách thể hiện cũng sẽ vì thế mà biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Yêu nước giờ đây không còn là chỉ ngồi một chỗ gật đầu nghe đảng dạy, nghe quan phán như trước nữa mà là phải biết chọn lọc thông tin, có trách nhiệm kiểm soát hành động và chủ động phản biện lại nhà nước khi thấy sai trái bởi vì :

=> Một xã hội sẽ không thể có tiến bộ nếu thiếu tự do và phản biện;

=> Một đất nước không thể phát triển nếu không có độc lập mà chỉ dùng sự dối trá và bạo lực để cai trị ;

=> Một dân tộc sẽ không thể trường tồn nếu thiếu đi tình yêu thương và sự bao dung.

Hãy xem lại cho đến lúc này, dưới sự cai trị của đảng CSVN từ hơn nửa thế kỷ qua thì chúng ta đang có gì và vị thế quốc gia của Việt Nam đang ở đâu trong tiến trình văn minh phát triển của nhân loại ? Chúng ta chẳng là gì và sẽ chẳng còn gì nếu không thay đổi !

Đã đến lúc phải biết từ chối chế độ hiện hành để đòi lại tất cả những gì họ đã tước đoạt của chúng ta. Nên nhớ những gì ta có thể để lại cho con cháu của chúng ta trong tương lai phụ thuộc hoàn toàn vào những gì mà chúng ta làm ngày hôm nay !

Trần Bang shared a post.

Cầm quyền đã coi dân là kẻ thù, và đã coi kẻ thù của Quốc gia là đồng chí!… VN trên bờ vực làm nô lệ giặc Tầu Cộng!
Phải làm gì đây?
….
Người VN hãy cùng lo lắng và hành động như bạn Võ Hồng Ly, đất nước VN nhất định sẽ đổi mới, giang sơn VN sẽ trường tồn; Hoàng, Trường Sa sẽ về đất mẹ,… người VN sẽ lại biết yêu thương người VN, …, và Tao Đàn sẽ không bị đổi tên thành Tao Đập như 17/6/2018

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

CÙNG SUY NGẪM

Image may contain: 2 people, text
Antonio Son Tran

CÙNG SUY NGẪM

Câu nói của Ức Trai Nguyễn Trãi như đang rất đúng với thời cuộc bây giờ!
Dù đã 600 năm.

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

HỌA MẤT NƯỚC

MỘT BÍ MẬT RẤT CÔNG KHAI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ÍT NGƯỜI ĐỂ Ý .

Lê Vi

HỌA MẤT NƯỚC

Mỹ và Tàu chúng ta nên làm bạn với ai? Không cần phải suy nghĩ, tất cả đều chọn Mỹ. Kể cả những người CS đã hưởng biết bao vinh hoa phú quý từ những đồng tiền bẩn do quyền lực lớn mà có.

Khi bị bệnh thì Đinh Thế huynh sang Nhật, Nguyễn Bá Thanh sang Mỹ, Võ Văn Kiệt sang Singapore, Phùng Quang Thanh sang Pháp chữa bệnh. Tất cả quan chức Việt Nam khi bệnh chẳng thằng quan chức nào sang Tàu, nơi mà chúng nó hô hào anh em 4 tốt 16 chữ vàng của nó để chữa. Đấy là một sự thừa nhận bằng hành động, rằng Mỹ và thế giới tự do mới có thể đảm bảo sinh mạng của bọn họ trước cơn hiểm nghèo.

Khi có tiền, bọn họ đầu tư giáo dục cho con bằng nền giáo dục Mỹ, mua nhà và đầu tư thẻ xanh cho con để trong các con, có đứa đảm bảo sự vững bền cho gia tộc. Nhà Nguyễn Tấn Dũng, 3 đứa con đều cho sang Mỹ, Thụy Sỹ và Anh Quốc du học. Trong đó có 2 đứa trở về để tiếp tục nắm quyền và tư lợi trên sự khốn cùng nhân dân, còn con gái thì thành công dân Mỹ để tạo thế tựa vững chãi cho gia đình. Ngày nay tất cả quan chức cho con du học, đầu tư visa định cư đều chọn Mỹ và thế giới tự do. Chỉ có tâm thần mới chọn Tàu làm nơi chốn để đầu tư cho con cái. Đấy là sự thừa nhận bằng hành động, rằng chỉ có Mỹ và thế giới tự do là nơi an toàn để trú ngụ, và là nơi đáng sống.

Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy CS luôn hô hào cuộc chiến huynh đệ tương tàn 1954-1975 là “chống Mỹ cứu nước”. Kết quả, dân Việt chết từ 3 – 4 triệu sinh mạng, Mỹ chết 50 ngàn. Sự hao tổn cả núi sinh mạng ấy là Việt – Việt chia phe thù địch chém giết là chủ yếu. Té ra sự hô hào “chống Mỹ” thì điều cốt lõi là họ kéo quân vào Nam giết đồng bào là chính chứ giết được bao nhiêu thằng Mỹ? Thế còn cứu nước là cứu như thế nào? Điều rõ ràng không thể chối cãi là Mỹ không lấy một tấc đất nào của Việt Nam, nhưng ngược lại, biển và đảo lại nằm trong tay Tàu. Vậy “chống Mỹ cứu nước” hay họ chống Mỹ giết đồng bào để giao đất nước vào tay Tàu? Điều đó không cần phải trả lời, nhìn hành động của CS cho đến hôm nay thì ắt biết.

Như vậy chống Mỹ cứu nước là trò bịp, chống Mỹ giết đồng bào để giao nước cho Tàu là thật. Những dự án trong đầu tư công, 80% Tàu trúng thầu. Người Tàu vào mua đất chiếm lĩnh dày đặt tại Nha Trang và Đà Nẵng. Thuế nhập khẩu nông sản Tàu 0% để giết chết nông sản Việt. Cửa khẩu biên giới phía Bắc mở toang cho Tàu lái từng đoàn xe vào Việt Nam không cần visa, nhưng dân Việt sang Tàu phải xin visa. Ngoài biển, Tàu đã giết gần như sạch sẽ ngư dân Việt, biển Đông vắng hẳn người Việt và nó hoàn toàn thuộc về Tàu. Và nhiều lần đưa ngôi sao thứ 6 lên cờ Trung Cộng để chào đón quan thầy.

Ở Tàu đã từng có nhân vật Câu Tiễn nếm mật nằm gai, kể cả nếm phân kẻ thù. Mục đích thực hiện âm mưu lớn dưới vỏ bọc kín đáo làm kẻ thù bất ngờ nhất. Đến khi Câu Tiễn đủ lông đủ cánh, thì nuốt chửng kẻ thù mà trước đây hắn cung phụng, kẻ thù nhân đạo với hắn, còn hắn thì không. Lã Bất Vi từ một kẻ buôn bán thuần tuý có thể tính toán được nước cờ buôn vua. Ông ta đã đưa giọt máu mình lên làm vua nước Tần, đó là Tần Thuỷ Hoàng. Nói thế để chúng ta thấy rằng, trong hình thức xích lại quá gần giữa Trung Cộng và Việt Cộng, Tàu luôn ẩn trong đó một âm mưu lớn. Khi âm mưu lớn phát tát, dân tộc này hết đường cứu.

36 kế của Binh Pháp Tôn Tử cũng của Tàu mà ra. Nó là những xảo kế ra hướng sơ bộ cho những thủ đoạn, còn vận dụng chi tiết thì tuỳ hoàn cảnh. Cách thì có 36, nhưng chỉ có 1 điểm chung, đó là cách đánh lừa sự chú ý đối phương vào hướng khác rồi ra tay nơi đối phương ít ngờ nhất. Hướng sự chú ý là ý đồ nổi, âm mưu là giấu kỹ để đợi thời cơ ra tay.

Tình hữu nghị 4 tốt 16 chữ vàng là bề nổi, âm mưu thôn tính đất nước là âm mưu ẩn giấu, đợi tình hữu nghị đưa nước Việt đến sát với tầm triệt hạ, Trung Cộng ra tay một đường quyết định, đất nước mất. Dân Việt đối đầu với hoạ diệt chủng, còn quan chức CS thì sống phè phỡn ở Hawaii, Florida vv.. mặc cho nước mất cũng kệ tía chúng nó. Vì khi trục lợi trên những mối hoạ mất nước, chúng nó đã không thiết tha gì tổ quốc cả. Dù cho ngày đêm chúng hô hào trên TV báo đài về cái khẩu hiệu “nhà nước của dân, do dân và vì dân”. Đơn giản thùng rỗng thì tất kêu to mà thôi.

Fb Nguyễn Hưng Việt

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

ĐỪNG GIAO TRỨNG CHO ÁC

Đỗ Ngà

“Giao trứng cho ác” là câu thành ngữ ai cũng hiểu. Trứng là một thứ mầm non, nó là tiền thân của con non, nó mong manh dễ vỡ. Ác thì khỏi nói chúng ta cũng rõ.

Nói đến xã hội Việt Nam thì thế hệ tương lai chính là trứng. Trứng của dân tộc Việt Nam. CS tất nhiên là ác, họ đã từng giết đồng bào vô tội trong CCRĐ, họ đã từng thí 3 triệu sinh mạng đồng bào để có sự độc chiếm quyền lực và cái kết mang lại là đói nghèo vvv…kền kền thì ăn xác thối, CS thì gian ác điều đó không thể khác.

Khi sinh một em bé, cha mẹ không có giấy tờ tùy thân thì em bé vô thừa nhận bởi vì chính quyền CS quy định như vậy. Trong khi người ngoại quốc sinh con trên đất Mỹ thì đứa bé là công dân Mỹ bất chấp nguồn gốc cha mẹ. Đấy là cái ác CS nó ẩn giấu trong những thói quen hoặc những điều luật của chính quyền.

Nuôi con lớn và cho chúng đi học, trí não tinh khôi của con bạn được chính quyền vẽ bậy trong đó, với sự nhồi sọ rằng “á có bác Hồ đời em được ấm no”. Trong khi đó, nếu không “bồi dưỡng” cho bảo mẫu, rất có thể con bạn bị hành hung. Đấy là cái ác của giáo dục từ mầm non.

Rồi đến phổ thông từ lớp 1 đến 12 họ nhồi con bạn 2 buổi mỗi ngày, ép con bạn học thêm mỗi ngày để có… điểm. 12 năm học cướp đi tuổi thơ, thời gian cho cuộc sống trải nghiệm không có nên trẻ sống lệch lạc. Dốt xã hội, dốt chính trị, dốt nghệ thuật, vứt mất năng khiếu thể thao. Và quan trọng nhất, thế nào là sống để làm người đúng nghĩa chúng đều không biết. 12 năm, họ nhồi con bạn thành một phế phẩm chưa đứng vững với cuộc sống. Ra đời phải học khôn lỏi để tồn tại chứ không biết làm người đúng nghĩa.

Rồi vào đại học, lại bị nhồi tiếp. Học đến bằng cao học vị to lớn mà cái dốt vẫn nằm nguyên trong đầu. Học đại học xong, ra đời vứt gần hết, còn lại một ít kiến thức chuyên môn cốt lõi và học cách quỳ để leo. Kiến thức làm người cũng không có để rồi thành những trí thức máng lợn, nghệ sĩ óc heo vvv..sống vô cảm với nỗi đau chung của đất nước, và tệ hơn là ủng hộ sự gian tà của chính quyền.

Khi nuôi chó, chủ nhân từ sẽ xem nó là bạn. Nhưng với CS nó nuôi chó để giữ nhà rồi sau đó cũng đem thịt làm mồi nhậu cho dù con chó có trung thành. CS dùng những trí thức nịnh bợ, những nghệ sĩ nô lệ để bảo vệ những hành động tà ác của nó với công chúng rồi thảy cho bọn này miếng ăn qua ngày. Trong khi đó, với một đất nước CS chỉ phá và gây nợ. Với dân số gần trăm triệu mà GDP chỉ hơn 200 tỷ USD và núi nợ 437 tỷ USD thì con cháu thoát đi đâu? Cho dù đám bưng bô ngửi cứt chính quyền để dựa hơi, thì thế hệ con cháu đám này vẫn gánh nợ như ai chứ có thoát được đâu? Có bưng bô, cũng chẳng có tương lai gì cho con cháu.

Thực ra trong tầng tầng lớp lớp người phản kháng để mang lại dân chủ cho đất nước, thì chỉ có lớp người tiên phong là chịu trận chứ người hưởng ứng thì chẳng thể nào bắt xuể. Thế nhưng bao con người lớn lên, trưởng thành thân xác vẫn chưa trưởng thành trong suy nghĩ rằng, like và share lại có thể bị ở tù!? Sự chín chắn không hề có vì kết quả giáo dục nhồi đen não trạng con người từ mầm non đến đại học đã cho ra đời những con người trong xã hội có suy nghĩ non nớt như thế.

Như một quân cờ domino, con cờ trước ngã thì con cờ sau ngã, và cái đích là tất cả điều ngã. CS đã tạo ra các thế hệ Việt Nam như thế, thông qua giáo dục và sự khuyên nhủ của phụ huynh ích kỉ. Thế hệ các bạn chịu an phận để có miếng ăn xem như bạn là thế hệ bị đổ ngã trong công cuộc phát triển đất nước. Đến con bạn cũng bị bạn và chính quyền xô ngã vì những chén cơm cho riêng bao tử của hôm nay mà quên lo cho thế hệ tương lai. Thế hệ cháu của bạn cũng thế, và đến cuối cùng đất nước này chẳng thể đứng được nữa và phải chịu nô lệ muôn kiếp.

CS chưa bao giờ là nhân bản, chưa bao giờ vì dân, chưa bao giờ vì nước mà chỉ vì nó. Con người bao thế hệ bị nướng vào lò lửa chiến tranh, bị quẳng vào trò chơi thanh trừng giai cấp. Để rồi nhân dân chịu mất mát người thân, đất nước đổi thịnh vượng lấy đói rách khinh khi, nhân dân đổi tự do lấy xiềng xích. Đất nước chia rẽ, lòng người li tán. Và đến hôm nay, ĐCS chỉ vì sự tồn tại ích kỷ của mình đã quyết đưa Việt Nam vào guồng Trung Cộng. Ác!

Hãy nhìn nhận sự gian ác, ích kỷ và phi dân tộc của CS mà sống có trách nhiệm. Hãy lên tiếng để dẹp bỏ guồng máy Trung Cộng mang tên Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh Muôn Năm đang nghiền nát đất nước này. Hãy thương con cháu của chính các bạn mà lên tiếng cho một ngày mai để chúng được làm người tự do tự chủ chứ không phải làm kiếp tôi đòi cho bọn bán nước và làm nô lệ của Trung Cộng. Đừng giao trứng cho ác, đừng để con cháu của bạn bị ác CSVN và ác Tàu sử dụng.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Hải Cẩu & Mây Điện Toán

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Hải Cẩu & Mây Điện Toán

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Tôi cho rằng, dù có tăng cường bắt bớ hay đặt thêm 100 cái luật về internet thì VN cũng không thể quay ngược lại trên xa lộ thông tin của nhân loại.

Nguyễn Đình Bổn

Gần mười năm trước, hôm 25 tháng 10 năm 2010, bà Trần Minh Hiền – Giám Đốc WWF – rầu rĩ báo tin con tê giác Java cuối cùng của VN đã chết. Bỉnh bút của BBC, Baraniuk Chris, cho biết thêm chi tiết: “Cảnh sát Việt Nam tham gia điều tra, cung cấp các phân tích về đường đi của viên đạn. Họ nói viên đạn đến từ một khẩu súng bán tự động, như AK47.”

Con thú đáng thương này có thể vẫn còn sống sót đến hôm nay, nếu sát thủ biết rằng trong sừng tê giác không có gì khác ngoài keratin – chất liệu để tạo thành móng, lông, tóc của nhiều loại động vật. Nó hoàn toàn không có tác dụng gì trong việc trị liệu chứng yếu kém sinh lý và cương cứng (ED: erectyle dysfunction) dương vật cả.

Châm ngôn của người Việt là có bệnh thì vái tứ phương nên sau khi tê giác đã bị xoá sổ, nhiều vị bèn “cầu cứu” đến một loài thú khác: hải cẩu.

Bức ảnh đại tướng Ngô Xuân Lịch và thượng tướng Võ Trọng Việt dùng trụ sở quốc hội để trao đổi thuốc kích dục hiện đang thu hút nhiều sự chú ý trên các mạng xã hội.

Báo VietNamNet sau đó đã phải cắt bỏ phần ảnh liên quan đến hộp thuốc, nhưng bức ảnh gốc vẫn có thể xem được với độ phân giải cao tại đường link:
https://vnn-imgs-f.vgcloud.vn/2018/06/06/22/hang-loat-tuong-cong-an-tu-tong-cuc-se-xuong-cuc-1.jpg

Khi phóng to, người ta dễ dàng đọc được nhãn hiệu ghi trên hộp là OTTOPIN – một loại thuốc có tác dụng cường dương và trị yếu sinh lý cho nam giới, nguồn gốc xuất xứ từ Nhật Bản.

 

 

 

 

 

Ảnh: DLB

Theo thông tin của trang ionovietnam: “Tuýp bôi OTTOPIN S có chứa một lượng lớn thành phần công dụng Methyltestosteron 20mg (trong 1g). Ngoài ra, còn có dầu hải cẩu lông mao tinh chế (có tác dụng giãn mạch máu được chứng minh) giúp đem lại hiệu quả mong muốn.”

“Hiệu quả” như thế thật là quí hoá nhưng cách xử dụng thì lôi thôi và phiền phức quá:

  • Ngày dùng khoảng 3-5 lần
  • Sáng từ lúc thức đến tối trước khi đi ngủ, bôi khoảng 5 lần, khoảng cách giữa các lần bôi đều nhau.
  • Một lần dùng khoảng 0,1-0,2g (không dùng quá liều lượng)
  • Bôi vào dương vật, hay phần đùi trong (nên bôi vào phần đùi trong vì da ở đây mỏng giúp tăng hiệu quả hấp thu thuốc, không nên bôi vào đầu dương vật)
  • Bôi xoa mạnh, mát xa theo hình chữ V (Cực kỳ quan trọng để tăng tỷ lệ thẩm thấu, hấp thu)
  • Hàng ngày phải bôi liên tục, không được bỏ sót.

Bộ Trưởng Quốc Phòng, Chủ Nhiệm UB Quốc Phòng An Ninh, và hàng tướng lãnh lãnh đạo của QĐNDVN mà ngày nào cũng phải “bôi liên tục từ sáng tới tối” loại dầu hải cẩu tinh chế này thì khó ai còn có thì giờ và tâm trí nghĩ đến chuyện … quốc phòng. Thảo nào mà ngư dân được phát cờ ra khơi bám biển còn quân đội cứ nhất định bám bờ, và để “bảo toàn đại cục” thì quốc hội buộc “phải bàn cho ra” luật lệ để đất nước trở thành nhượng địa.

Bức ảnh Chủ Nhiệm UB Quốc Phòng An Ninh đứng chào hàng (Ottopin – S, giữa trụ sở quốc hội) đang lan truyền rộng rãi trên mọi phương tiện truyền thông cũng giúp cho thiên hạ hiểu tại sao vị Thượng Tướng lại mạnh mẽ cổ vũ cho luật an ninh mạng. Phải chi đạo luật này được phê chuẩn sớm hơn thì ông ấy đã được một phen lâm vào cảnh khó coi, và (cũng) khó ăn khó nói với bà nhà.

Chỉ có điều phiền là cách Võ Thượng Việt trình bầy quan điểm của mình thì cực kỳ khó hiểu. Ông ấy cúi mặt vào giấy, đọc lắp bắp đọc một hơi (“Hiện nay Gu Gờ và Pha Cê Bóc đang lưu trữ dữ liệu thông tin người dùng VN tại trung tâm dữ liệu đặt tại Hồng Kông và Singapore … Nếu luật này có hiệu lực, doanh nghiệp này phải dịch chuyển đám mây ảo về Việt Nam là hoàn toàn khả thi”) khiến mọi người đều … bá thở!

Bác Hiệu Minh phải vội vã lên tiếng thuyết minh: “Hiểu nôm na, ý tướng Việt muốn bảo, mây (mưa) đâu thì mây (mưa), dữ liệu người dùng tại VN phải nằm trong tầm ngắm/tay của CA VN, kiểu như ban TG quản hơn 800 tờ báo “cho nói được nói, bắt im phải im.”

Ảnh: xuandienhannom

Thiện ý và cách “phụ đề tiếng Việt” của Hiệu Minh, tiếc thay, không được dư luận đồng tình. Thiên hạ vẫn cứ nhao nhao lên phản đối:

  • Luân Lê: Không thể tưởng tượng.
  • Nguyễn Minh Thuyết: Chết mất thôi.
  • Nguyễn Hồng: Tôi lạy ông luôn, ông tướng Phê tê bốc!
  • Dương Đại Triều Lâm:Tướng Võ Trọng Việt ơi, tướng ăn gì em xin cúng.
  • Nguyễn Phương: Đại biểu quốc hụi đại diện cho dân đây hả trời? Cầm giấy đọc cũng không ra hồn nửa mà đại diện cho dân?
  • Thach Vu: Không hiểu tại sao ông lại ngồi ghế chủ nhiệm QP-AN trong khi kiến thức chuyên môn của ông là ngành thuốc cho nam giới.
  • Trân Văn: Tuy chỉ có 16 giây nhưng chừng đó chắc đủ để nhiều người Việt, trong đó có không ít chuyên gia kinh tế, chuyên gia khoa học kỹ thuật, các tổ chức của doanh giới, của những người cùng một nghề nghiệp – đặc biệt là những người đang hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông,… cảm thấy thương thân!
  • Pham Doan Trang: Bấm nút thông qua một đạo luật ảnh hưởng tới hàng chục triệu người dùng Internet, ít nhất 40 triệu người dùng Facebook ở Việt Nam, là những kẻ không bao giờ dám vào mạng, nghĩ về mạng như một thế giới “hết sức phức tạp và nguy hiểm” …
  • Song Chi: Nếu trình độ của các quan chức cứ theo kiểu Gú gờ chấm Tiên Lãng, Phây tơ bốc….mà lại còn âm mưu làm cho hơn 90 triệu người dân Việt cũng dốt nát theo, thì 5, 10 năm nữa thôi đời sống xã hội của Bắc Hàn cũng đã là không mơ thấy nổi, không với tới nổi đối với dân VN.
  • Truong Huy San: Tướng Võ Trọng Việt, Chủ nhiệm UB Quốc phòng An ninh – cơ quan thẩm tra Luật An Ninh Mạng – mà hiểu vấn đề như thế này thì làm sao những ý kiến của dân còn có thể tác động tới quý vị.
  • Minh Đức Lê: Hôm nay trên Facebook thấy bà con nhào vào đánh hội đồng cái thằng cha trung tướng chủ nhiệm cái gì đó trong quốc hội, vì thằng chả không đọc nổi một từ tiếng Anh mà con nít 5 tuổi nó củng biết. Thật ra tướng hay tá, bộ trưởng này hay thứ trưởng kia của chế độ tại Việt Nam đều là những anh nông dân mít đặc được đảng cho mang hia đội mũ để đóng trò. Nhưng nên nhớ rằng sự ngu dốt của họ luôn tỷ lệ thuận với lòng trung thành với đảng. Thử hỏi không có những người như họ chế độ này có tồn tại được quá 3 ngày hay không.
  • Thanh Hieu Bui: Ngư dân bị tàu lạ đâm mất xác hàng ngày trên biển, họp quốc hội giờ giải lao chủ nhiệm Uỷ Ban Quốc Phòng An Ninh và bộ trưởng quốc phòng bàn nhau cách sử dụng thuốc làm căng cứng dương vật.
  • Cao Hùng Lynh: Nhiều khi mấy ông cán bộ quốc hội bấm nút thông qua luật animal đơn giản chỉ vì mấy ảnh ngố mạng, nên đâm ra thù ghét internet thôi, chớ hổng có gì sâu xa hết. giờ mà đưa baidu vô biểu quyết, chắc mấy ảnh cũng say No.

Tôi hoàn toàn chia sẻ với quan điểm giản dị của dịch giả Cao Hùng Lynh. Vấn đề, thực ra, không có chi nghiêm trọng và đáng để làm rầm rĩ cả. Giới Đại Biểu Quốc Hội ở Việt Nam “nhất trí” bấm nút thông qua Dự Luật An Ninh mạng chỉ vì những trang mạng đã khiến cho mọi người nhìn thấy hình ảnh khó coi của họ (đang ngồi ngủ gật, hay đứng tiếp thị thuốc cường dương) giữa nghị trường thôi.

Bởi vậy, tôi không ngạc nhiên khi nghe Đoan Trang tuyên bố là cô em “sẽ rất vui nếu có thể trở thành một trong những người đầu tiên vào tù vì cái gọi là ‘luật An ninh mạng’ của nhà nước CHXHCN Việt Nam.” Thì toàn chuyện … vui không mà lị!

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Đối diện độc tài bằng tự tin

Đối diện độc tài bằng tự tin

Gene Sharp – Tiểu Thạch Nguyễn Văn Thái, Ph.D. chuyển ngữ

Làm thế nào để chúng ta đương đầu với các nền độc tài? Câu trả lời bộc phát của những người tin vào tự do là các bạn phải đánh và đập tan chúng. Nếu quốc gia của bạn là nạn nhân của một chế độ độc tài, từ trong nước hay là ngoài nước, các bạn đánh lại. Nếu quốc gia của bạn bị một Nhà Nước độc tài tấn công, các bạn chống cự lại. Nếu người dân của một nhà chuyên chế nổi loạn, các bạn sẽ giúp đỡ họ. Nếu quốc gia của bạn có cơ bị một nền độc tài tấn công thì bạn phải chuẩn bị trước để đánh tan cơ nguy đó, hy vọng rằng khi trở nên đủ mạnh, bạn có thể ngăn cản được cuộc tấn công. Đây là những câu trả lời thông thường của hầu hết những người tin vào tự do và chống lại chuyên chế trên khắp thế giới. Trong lúc những câu trả lời tổng quát này có thể trên nguyên tắc vẫn có giá trị, nhưng những thay đổi trong kỹ thuật quân sự và tổ chức chính trị ngày nay đã cho thấy điều cần thiết là phải áp dụng điều gì trước kia đúng, nhưng theo những phương cách hết sức khác với những gì thường xảy ra trong những thời gian trước kia…

* * *

Sự nghiêm trọng của vấn đề của những nền độc tài, của những nguy hiểm mà chúng đem lại, và của nhu cầu cần có những phương tiện hữu hiệu để đối đầu với những nền độc tài này, đều đã gia tăng từ Đệ Nhất Thế Chiến. Những nền độc tài bình thường – dù tàn bạo suốt mấy ngàn năm – đã bị những chế độ của Hitler và Stalin bỏ xa. Với những phát triển này, độc tài toàn trị đã trở thành một đối thủ ghê gớm hơn rất nhiều. Những nhà cai trị toàn trị này đã cố nuốt chửng và kiềm chế toàn diện đời sống của mỗi một người dân và tất cả mọi mặt của xã hội. Mức độ kiểm soát cá nhân, vận tải, truyền thông, vũ khí và toàn bộ các hệ thống xã hội, kinh tế và chính trị, đã vượt rất xa những nền độc tài truyền thống. Quyền lực trở nên tập trung. Adolf Hitler và Joseph Stalin nay đã là người thiên cổ; hệ thống Quốc Xã chỉ còn là một chứng tích cho các sử gia và hệ thống Sô-viết thì đang chuyển biến. Tuy nhiên, vấn nạn mà những nền độc tài đặt ra cho những ai tin tưởng vào nhân phẩm và tự do vẫn tiếp tục lớn mạnh.

Việc các chính phủ và nhóm chính trị nhắm mục đích cướp Chính Quyền sẵn sàng đối xử tàn ác với đối lập và những người vô tội không hề thuyên giảm. Thực ra điều này có thể đã gia tăng. Người ta đã rất thường xuyên cho rằng nạn diệt chủng đã được chôn vùi một cách an toàn dưới những đống gạch vụn của Berlin. Nhiều chủ thuyết và ý thức hệ khác nhau, và sự sợ hãi những người khác, đã cung cấp cho các nhóm chính trị và các chế độ một lý giải và một sự “biện minh” cho những chính sách và hành động mà không có sự lý giải hay biện minh đó thì sẽ được xem như là chính sự bạo tàn trần truồng. Những tiến bộ mới đây về kỹ thuật truyền thông, vận tãi, về tàng trữ và thu hồi dữ kiện, về tổ chức chính trị, về theo dõi bằng điện tử, kiểm soát tiềm thức của quần chúng, và khả năng giết người, đã gia tăng khả năng của các chính quyền hiện đại trong việc thiết lập và duy trì những nền độc tài hữu hiệu.

Những Nguy Hiểm Của Những Nền Độc Tài Mới

Những nền dân chủ hiến định phóng khoáng hiện nay đều không toàn hảo, nhưng rõ ràng là được yêu chuộng hơn là những chế độ độc tài đang bành trướng càng ngày càng nhiều. Dầu vậy những vấn đề nghiêm trọng trong những nền dân chủ như thế đã gây nghi ngờ về sự trường tồn của chúng. Những khiếm khuyết nội tại, những kiểm soát hết sức tập trung, và quyền quyết định “bởi một nhóm nhỏ lãnh đạo thường gây nghi ngờ về sinh lực và tính hữu hiệu của những tiến trình dân chủ. Điều này đúng ngay cả tại những quốc gia thường kiêu hãnh về những truyền thống và thể chế dân chủ của mình. Nhiều người cảm thấy bất lực và không có khả năng kiểm soát đời sống của chính mình và ảnh hưởng đến những quyết định chính trị lớn lao. Người ta vẫn tiếp tục thực hiện những cuộc tấn công trực tiếp dưới nhiều dạng thức khác nhau vào các cơ cấu dân chủ. Liên bang Hoa Kỳ cũng không ngoại lệ; vụ “Watergate” là một nỗ lực khuynh đảo những tiến trình bầu cử tự do hiến định của Hoa Kỳ. Tại nhiều quốc gia những cuộc đảo chánh nội bộ do các nhóm chính trị và quân đội, những hoạt động của cảnh sát và nhân viên nước ngoài, khủng bố chính trị, và những cuộc chiến tranh du kích bởi thiểu số tiếp tục tấn công các hệ thống dân chủ, với ý đồ thay thế các hệ thống này bằng những nền độc tài. Các nhóm sử dụng những phương tiện này theo nhiều chủ thuyết khác nhau và trương lên đủ mọi lá cờ chính trị. Sự phát triển tại nhiều quốc gia và hệ thống những tổ chức tình báo mạnh, những cơ chế điệp viên nước ngoài, và những bộ phận cảnh sát trung ương của chính quyền tạo nên tiềm năng cho những cơ quan này, hay là một vài khu vực của những cơ quan đó, thách thức và tấn công chính quyền hợp pháp, thay vì phục vụ ý muốn của chính quyền. Các lực lượng quân đội đã liên tục làm điều này tại hàng chục quốc gia khi họ tung ra những cuộc đảo chánh.

Những điều kiện xã hội nằm bên dưới các cấu trúc của xã hội cũng đã thay đổi. Các hệ thống xã hội, kinh tế, và chính trị đủ loại đã thay đổi rất nhiều kể từ sự xuất hiện của dân chủ hiến định tại tất cả những quốc gia mà dân chủ có một lịch sử lâu dài. Những tổ chức “quần chúng tự nguyện” của xã hội, và ngay cả những chính quyền địa phương và toàn quốc hay tỉnh thị đều càng ngày càng lệ thuộc vào hành chánh tập trung. Những công ty liên quốc gia hùng mạnh đang nắm sự kiểm soát những nền kinh tế quốc gia bên ngoài những quốc gia đó, và đang sử dụng sự kiểm soát này để thao túng các chính quyền nhằm phục vụ quyền lợi tài chánh của họ. Tất cả những tình trạng này đều đối nghịch lại với tự do.

Trong tương lai, những nhà chuyên chế sẽ có khả năng sử dụng những phương tiện kiểm soát tinh tế hơn, nhưng không ít quỷ quái hơn, bằng những phương pháp như là điều kiện hoá, khiển động tâm lí, và dược liệu do khoa học hiện đại cung cấp để giữ cho người dân khuất phục và “sung sướng.” Thế Giới Anh Dũng Mới [Brave New World] của Aldous Huxley có thể không xa lắm; những nền độc tài sử dụng các phương tiện tâm lý như thế có thể vượt bỏ xa chủ nghĩa toàn trị. Còn có những dấu hiệu khác nữa về các nguy hiểm tương lai. Sự suy sụp đang bành trướng và ngay cả sự đắc lực phá huỷ những xã hội truyền thống và các nền văn hoá bản địa tại những phần đất trên thế giới phát xuất từ chủ nghĩa thực dân của châu Âu đang tạo nên tình trạng sa đọa, rối loạn tâm thần, đạo đức, và bản ngã; và phân hoá xã hội. Tình trạng này, nhất là khi được kết hợp với những bất bình chính đáng, sẽ nuôi dưỡng đủ loại phong trào quần chúng, xã hội, tôn giáo, và chính trị. Những phong trào này là điềm báo trước cho một vị cứu tinh chính trị mới hay là cho một chủ thuyết cứu rỗi trực tiếp dẫn đưa đến nô lệ chính trị.

Nếu người ta không sớm tìm được những phương tiện hữu hiệu để đánh đổ các nền độc tài, và thay đổi những điều kiện làm cho độc tài có thể xảy ra, thì công việc ngăn chặn và chống lại độc tài càng nhanh chóng trở nên khó khăn hơn. Tương lai vì vậy sẽ là một tương lai mà trong đó từ “tự do” sẽ không còn ý nghĩa, hay chỉ là một cái gì còn sót lại của một giấc mơ đã bị bỏ quên.

Nhiều nền văn hoá và quốc gia có truyền thống yêu tự do và chống mọi chuyên chế, dù rằng thực hành không hẳn luôn luôn bắt kịp kịp lý tưởng. Chống độc tài chính trị là nguyên tắc căn bản của Mỹ trước khi Hiến Pháp được chấp thuận rất nhiều. Việc tạo nên những cơ cấu chính trị mới trên lục địa này, những cuộc đấu tranh của thuộc địa chống lại chuyên chế mà người ta cảm nhận được, và việc thảo ra các khuôn mẫu căn bản cho những chính quyền mới đều được thúc đẩy bởi niềm tin vào tự do con người, dù có thể đã có những động lực khác nữa. Các tổ phụ thuộc địa đã tin vào một phạm trù luân lý và chính trị nhằm chống lại những nền độc tài đương đại và ngăn chặn sự thiết lập những nền chuyên chế mới (dĩ nhiên là đồng thời họ thường mù mắt trước chính những áp đặt các điều kiện chuyên chế đối với những người Mỹ bản địa đã bị họ cướp đất đai, và đối với những người Phi châu mà họ đã bắt làm nô lệ, cũng như trước sự áp bức những người đàn bà của chính họ.)

Kể từ thời gian những người định cư Âu châu giành được độc lập, các chính sách của chính quyền Hoa Kỳ và những liên minh với nước ngoài chưa bao giờ theo đúng sự cam kết về tự do này và chống lại chuyên chế cả. Tuy nhiên, niềm tin này vẫn là căn bản đối với nhiều người Mỹ. Những thoả hiệp được thực hiện trong những chính sách thực tiễn thường được nhận thức là cần thiết trước đe doạ độc tài lớn lao hơn. Người ta nói rằng Đệ Nhất Thế Chiến là “để làm cho thế giới được an toàn hơn cho dân chủ.” Đệ Nhị Thế Chiến, nhiều người tin tưởng, là để đánh bại ba chế độ độc tài bành trướng, để giải phóng các dân tộc bị chinh phục, và, nhất là, để đánh bại hệ thống Quốc Xã — một trong những hình thái độc tài quá khích nhất mà người ta biết được. Chiến Tranh Lạnh đã chính thức nhắm đến chặn đứng sự bành trướng của các hình thái độc tài Cộng sản. Ngay cả những hoạt động của Hoa kỳ có tính can dự nhiều hơn cả vẫn được những người bênh vực biện minh là cần phải có để chống lại những đe doạ độc tài còn nghiêm trọng hơn. Mặc dù đôi khi các nhà phê bình, với biện giải hợp lý, đã nêu lên những động lực khác, nhưng chúng ta vẫn phải đối diện với những nguy hiểm thực sự đối với tự do, do đủ loại độc tài mang lại.

Những Thiếu Sót Của Các Giải Đáp Truyền Thống

Không có một giải đáp dễ dàng cho vấn đề độc tài. Không có những phương cách an toàn, không cần nỗ lực, mà dựa theo đó những người sống dưới những nền độc tài có thể tự giải phóng, hay theo đó những người khác có thể tự bảo vệ mình khỏi những nguy hiểm tương lai. Chúng ta cũng không có một phương thức đơn giản theo đó chúng ta có thể ngăn chặn được sự phát triển của những nền chuyên chế mới. Thụ động khi đối diện với những đe doạ như thế rõ ràng là sẽ không bảo đảm an toàn được. Đúng ra thường thường thì ngược lại. Dù sao thì thụ động không phải là một phản ứng hữu hiệu, cũng không dân chủ đối với thách thức này. Tất cả mọi đường lối hành động nhằm hỗ trợ giải phóng và bênh vực tự do đều hiểm nghèo, và có cơ gây nên đau khổ, và cần thời gian để vận hành. Và cũng không có hành động nào lại có thể bảo đảm thành công trong mọi trường hợp được.

Vậy thì làm thế nào để chúng ta đương đầu với các nền độc tài? Câu trả lời bộc phát của những người tin vào tự do là các bạn phải đánh và đập tan chúng. Nếu quốc gia của bạn là nạn nhân của một chế độ độc tài, từ trong nước hay là ngoài nước, các bạn đánh lại. Nếu quốc gia của bạn bị một Nhà Nước độc tài tấn công, các bạn chống cự lại. Nếu người dân của một nhà chuyên chế nổi loạn, các bạn sẽ giúp đỡ họ. Nếu quốc gia của bạn có cơ bị một nền độc tài tấn công thì bạn phải chuẩn bị trước để đánh tan cơ nguy đó, hy vọng rằng khi trở nên đủ mạnh, bạn có thể ngăn cản được cuộc tấn công. Đây là những câu trả lời thông thường của hầu hết những người tin vào tự do và chống lại chuyên chế trên khắp thế giới. Trong lúc những câu trả lời tổng quát này có thể trên nguyên tắc vẫn có giá trị, nhưng những thay đổi trong kỹ thuật quân sự và tổ chức chính trị ngày nay đã cho thấy điều cần thiết là phải áp dụng điều gì trước kia đúng, nhưng theo những phương cách hết sức khác với những gì thường xảy ra trong những thời gian trước kia.

Để giúp chúng ta có khả năng đối đầu với những nền độc tài, chúng ta đã tạo ra những hệ thống quân sự khổng lồ có những khả năng huỷ diệt cho đến nay còn ngoài sức tưởng tượng. Chúng ta đã tự tổ chức để điều động — cũng cùng với những sinh hoạt phản dân chủ – chống lại các lực lượng độc tài, như chính những lực lượng này đã từng làm. Chúng ta đã hỗ trợ một nhóm độc tài này để chống lại một nhóm độc tài khác. Và chúng ta đã than vãn về những xói mòn của các nền tự do và các tiến trình dân chủ tại những quốc gia khác và tại chính quốc gia mình.

Dù với những biện pháp này, chúng ta thấy có ít dấu hiệu cho thấy là những khuynh hướng phản dân chủ này đang được làm thuyên giảm đi, nói gì đến kiềm chế hay xoay ngược trở lại. Thực ra thì những chính sách của chúng ta ngay cả có thể giúp cho sự củng cố của những nền độc tài cũ cũng như giúp cho sự xuất hiện những nền độc tài mới.

Vấn đề không phải là làm thế nào để đạt được “chung sống hoà bình” với những nền độc tài cực đoan. Vấn đề là làm thế nào để tái khẳng quyết sự kiểm soát của người dân đối với những nền độc tài này, ngay cả đối với các hệ thống toàn trị: làm thế nào để đánh bại và phân huỷ chúng.

Mỉa mai thay, đúng ngay vào lúc mà lịch sử có nhu cầu lớn nhất là cần những phương tiện hữu hiệu chống chuyên chế, thì những phương tiện tối hậu truyền thống trong những xung đột quốc tế — chiến tranh – đã, vì kỹ thuật hiện đại, trở thành một sự lựa chọn hết sức nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu người ta không tìm được những phương cách thay thế hữu hiệu thay vì chiến tranh trong những xung đột như thế, thì người ta sẽ cứ tiếp tục đe doạ và sử dụng chiến tranh bất chấp nguy hiểm. Cũng tương tự như thế, còn có những nguy hiểm nội tại rất nghiêm trọng trong các nỗ lực nỗi dậy chống lại những nền độc tài trong nước. Những nguy hiểm này liên quan đến sự tập trung và tính huỷ diệt của vũ khí quân sự, đến sự phí tổn cực kỳ của những nội chiến nói chung — và đặc biệt là của chiến tranh du kích nói riêng — trong những tổn thất và huỷ hoại xã hội, và các hậu quả về cơ cấu của sự bạo động như thế. Những phương tiện trong quá khứ thường thiếu sót ngay cả khi chúng đánh đổ được một nền độc tài nào đó, bởi vì chúng đã để cho những nền độc tài khác nối tiếp, làm cho sự tăng trưởng của những nền độc tài này được dễ dàng, hay là đóng góp vào việc phát triển của những nền độc tài mới. Những thiếu sót của các phương tiện hiện tại trong việc đương đầu với các nền độc tài nghiêm trọng đến nỗi chúng ta có bổn phận phải xét định làm cách nào để đưa ra những phương tiện thay thế. Chúng ta đòi hỏi những chính sách mới, những đường lối hành động và những quan niệm về giải phóng và phòng thủ hầu mong đối diện với những nguy hiểm của các nền độc tài hiện đại và đương đầu với chúng. Quan niệm người ta phải lựa chọn giữa chiến tranh huỷ diệt đại chúng và thụ động khuất phục chuyên chế là sai lầm.

Sự hiểu biết của chúng ta trong quá khứ về bản chất của vấn đề những nền độc tài hiện đại, các phong trào toàn trị, nạn diệt chủng, và tiếm quyền chính trị, còn thiếu sót. Tương tự như thế, sự hiểu biết của chúng ta về những phương tiện đấu tranh có thể có để chống lại những điều này, và ngăn cản sự phát triển của chúng đã không toàn vẹn. Với một sự hiểu biết không đầy đủ làm nền tảng cho những chính sách của chúng ta, thì không lạ gì các chính sách đó tỏ ra là không hữu hiệu.

Những giải pháp khác, dĩ nhiên, cần phải được đánh giá một cách công bằng. Ví dụ, khi cân nhắc những chính sách thay thế thì điều quan trọng là phải so sánh những kết quả xấu nhất có thể có của mỗi giải pháp, cũng như những kết quả tốt nhất, chứ không phải (như thường xảy ra) chỉ so sánh kết quả tốt nhất của một chính sách với kết quả xấu nhất của một chính sách khác. Hơn nữa, không những chúng ta chỉ phải xét định xác suất thuận lợi hay bất thuận lợi cho một số kết quả nào đó của các chính sách hiện hành mà thôi; chúng ta còn cần phải lưu ý đến bản chất của những kết quả đó nữa, bao gồm những biện pháp sửa sai và bổ túc để phản công lại những kết quả đó. Những thiếu sót trong các chính sách hiện hành và những chính sách mới được đề nghị cần phải được xét định toàn bộ, cũng như những xác quyết về những sức mạnh và hiệu quả của mỗi chính sách. Bằng cách sử dụng các phương tiện so sánh, chúng ta có thể đánh giá một cách công bằng.

Ít Hơn Là Toàn Năng

Khả năng của chúng ta khám phá và phát triển những phương cách – trước tiên là để ngăn chặn các nền độc tài, và đập tan chúng một khi chúng hiện hữu – có thể được gia tăng nếu chúng ta có thể xác định được vị trí của những đặc tính của các hệ thống đã từng gây nên những khó khăn cho các nhà độc tài, cản trở những nỗ lực bảo toàn các hệ thống của họ, hay là cản trở họ thực thi ý muốn của mình. Thật là kỳ lạ, trong lúc người ta chú ý rất nhiều đến những phương tiện đàn áp của cảnh sát và các khả năng quân sự của các nền độc tài, nhưng lại hầu như không hề chú ý đến các nhược điểm của họ. Thực vậy, chúng ta luôn luôn cho là chính quyền có hiệu năng, hữu hiệu, hùng mạnh, và bền vững, hơn là thực tế. Tất cả mọi nền độc tài, ngay cả những nền độc tài toàn trị, đều vẫn chứa đựng những nhược điểm cố hữu mà, với thời gian, dù không có những nỗ lực có chủ ý làm trầm trọng thêm, cũng sẽ có khuynh hướng làm cho hệ thống ít hữu hiệu và ít độc tài hơn. Trong một vài trường hợp, những nhược điểm này có thể làm cho nền độc tài tan rã.

Các nền độc tài, ngay cả những nền độc tài toàn trị, cũng không hoàn toàn vững như bàn thạch đâu, và chắc chắn là không toàn năng và vĩnh cửu được. Thực ra chẳng có gì hoàn toàn mới mẻ khi nói rằng các nền độc tài không luôn luôn đạt được những mục tiêu của mình. David Riesman và Karl W. Deutsch đều có nêu lên sự kiện này trong những năm 1950.

Năm 1952 David Riesman viết là chúng ta thường hay đánh giá quá cao khả năng của những nhà toàn trị trong việc “tái cấu trúc nhân cách con người.”

Trong lúc trước những áp lực người ta có thể đóng một số vai trò nào đó và tuân thủ theo bề ngoài, nhưng họ cũng có thể vô cảm hay ngay cả bất cần đối với những quyến rũ và nhồi sọ ý thức hệ. Họ có thể chối bỏ cái “đạo đức” của nhà độc tài mà lẽ ra tất cả mọi người đều chấp nhận. Người ta có thể rút lui khỏi chính trị – một tiến trình “tư nhân hoá.” Thay vì bị quyết định bởi các chủ thuyết và chương trình của hệ thống, hành vi của người dân có thể được thúc đẩy bởi sự tham lam. Thối nát và ngay cả tội ác có thể lan tràn. Người ta có thể cố ý hành động hăng say quá đáng để hỗ trợ các sắc chỉ của hệ thống với mục đích phá rối hệ thống, như là bằng cách kết án mọi người trong Đảng đi chệch hướng. Những xung khắc về quyền lực có thể phát xuất từ trong lòng chế độ hay trong Đảng.

Những phản ứng như thế, Riesman viết, “chỉ là một sự đối kháng dai dẳng không anh hùng đối với những nỗ lực toàn trị” muốn biến đổi con người thành một hình ảnh mới.

Ông ta viết là ngay cả sự kinh sợ cũng không thể “phá vỡ được mọi ràng buộc về tổ chức giữa những nạn nhân của nó.”

Những giới hạn như thế về hiệu lực của những sự kiểm soát ảnh hưởng tai hại đến các hệ thống đó. Tuy nhiên sự thiếu thực tế của chính chúng ta trong sự hiểu biết về những giới hạn này cũng ảnh hưởng đến chúng ta, vì nó đã dẫn đưa chúng ta đến “hèn nhát một cách quá đáng hay hung hăng một cách quá mức….”

Thay vì như vậy, chúng ta có bổn phận “tìm ra những phương cách để lật đổ những chế độ này mà không cần phải có chiến tranh….”

Trong quá khứ chúng ta thường cho rằng các nền độc tài, nhất là trong những hình thái cực đoan, khác với những hệ thống các chính quyền khác hơn là thực tế. Ngược với ý nghĩ thông thường, một nhà cai trị toàn trị, cũng giống như tất cả những nhà cai trị khác, đều phải lệ thuộc vào người dân. Tất cả mọi nhà cai trị đều phải lệ thuộc vào sự hợp tác, sự khuất phục, và tuân phục của người dân để có những vị thế và quyền lực của họ. Quyền lực của họ được rút ra từ những nguồn gốc trong xã hội, như là các tài nguyên kinh tế, khả năng quân sự, kiến thức, kỹ năng, quản trị, và quyền hành. Tất cả những điều này lại liên hệ chặt chẽ với, hay là trực tiếp lệ thuộc vào, mức độ hợp tác, khuất phục, tuân phục, và hỗ trợ mà nhà cai trị tương lai có thể tranh thủ được từ người dân của mình — cả từ bộ phận nhân viên toàn thời gian nói chung và các trợ tá lẫn cả từ dân chúng như là một tổng thể. Sự khuất phục này có thể được tác động bởi việc sử dụng sự khiếp sợ, nhưng ở bên dưới, thì dù sao vẫn có sự lệ thuộc của nhà cai trị vào người dân. Nếu sự giúp đỡ và khuất phục của một hay cả hai nhóm người này bị rút lui, thì quyền lực của nhà cai trị sẽ bị làm suy yếu đi một cách nghiêm trọng. Nếu sự rút lui này có thể duy trì được bất kể mọi thứ trừng phạt, thì ngày tàn của của chế độ đang thấy trước mắt. Nguyên tắc này áp dụng ngay cho cả những nhà cai trị toàn trị. Sự lệ thuộc này có thể mang một ý nghĩa trọng đại đối với giải pháp sau này cho vấn đề của chúng ta.

Hầu hết người ta cho rằng quan điểm này là xằng bậy. Họ tin rằng đe doạ nhiều đủ, gieo kinh hãi, trừng phạt, tàn ác, giết chóc, và khủng bố, nhà độc tài có thể áp đặt ý muốn của mình lên bất cứ đám dân nào mà không cần cho họ có sự chọn lựa hay cơ hội để thay đổi hoàn cảnh. Quan điểm về tuân phục và hợp tác bị áp đặt được tác động bởi những biện pháp đàn áp rất thiếu sót. Nó ngụ ý đây là tương quan một chiều. Trong lúc trên bề mặt thì có vẻ là như vậy, nhưng thực tế thì căn bản hoàn toàn khác. Trong những hoàn cảnh đặc biệt, chế độ thực sự không thể áp đặt được ý muốn của mình. Điều này có thể xảy ra vì có quá nhiều người đồng loạt thách thức chế độ, vì những nhà quản trị của chế độ từ chối giúp đỡ, hay là các nhân viên đàn áp không tuân lệnh áp dụng trừng phạt. Trong một vài trường hợp, tất cả những điều này đều xảy ra cùng một lúc.

Năm 1953 Karl W. Deutsch đã áp dụng quan điểm lệ thuộc hỗ tương giữa áp đặt và tuân phục cho những hệ thống toàn trị. Đoạn văn này hết sức quan trọng:

Việc áp đặt những quyết định (bởi chính quyền toàn trị) lệ thuộc phần lớn vào những tập quán tuân thủ của dân chúng. Tuân thủ và áp đặt lệ thuộc hỗ tương; chúng thúc đẩy nhau, và những tỷ lệ thúc đẩy này tạo thành một chuỗi liên tục. Ở cuối một đầu chuỗi, chúng ta có thể tưởng tượng một hoàn cảnh mà trong đó mọi người theo thói quen đều vâng phục tất cả những chỉ thị và quyết định của chính quyền toàn trị, mà không cần sự áp đặt; ở cuối đầu kia, chúng ta có thể tưởng tượng một hoàn cảnh mà trong đó không có ai tự nguyện tuân phục bất cứ quyết định nào của hệ thống toàn trị, và mọi người đều bị ép buộc phải vâng phục trước họng súng, hoặc trong những điều kiện thực sự luôn luôn bị đe doạ hay là luôn luôn bị giám sát.

Trong trường hợp thứ nhất, ép buộc thi hành sẽ hết sức ít tốn kém và đúng ra, không cần thiết; trong trường hợp thứ hai, thì lại quá sức tốn kém và thực ra thì không có chính quyền nào có thể tồn tại được, trên căn bản như thế…Đâu đó giữa hai thái cực hoàn toàn tuân phục và áp đặt mọi nơi là lãnh vực của chính quyền hữu hiệu. Ở đây đa số cá nhân trong đa số trường hợp tuân phục các quyết định của chính quyền theo thói quen mà không cần phải được giám sát trực tiếp.

Những xét định này áp dụng cho toàn trị vì chúng áp dụng cho tất cả mọi loại chính quyền, nhưng khi áp dụng cho toàn trị thì chúng nói lên một nghịch lý. Quyền lực của toàn trị chỉ mạnh khi không cần phải được sử dụng quá thường xuyên. Nếu quyền lực toàn trị cần phải được dùng luôn luôn để chống lại toàn dân, thì quyền lực đó chắc sẽ không còn mạnh được lâu. Bời vì những chế độ toàn trị cần nhiều quyền lực để đương đầu với người dân hơn là những là những loại chính quyền khác, những chế độ như thế có một nhu cầu lớn hơn về những tập quán tuân phục phổ quát và đáng tin cậy của người dân; lớn hơn là nhu cầu đòi hỏi để có thể trông cậy vào sự hỗ trợ năng động của ít nhất là những thành phần quan trọng trong dân chúng trong trường hợp cần đến.

Có những vấn đề nghiêm trọng trong việc biến nhận định tổng quát này thành những hành động đối kháng cụ thể có chủ ý để xói mòn hay phá vỡ hệ thống toàn trị. Ví dụ duy trì được sự rút lui hỗ trợ dù bị đàn áp gắt gao bởi cảnh sát và quân đội vẫn còn trung thành không phải là dễ. Vì những chính sách hiện tại về việc đương đầu với các nền độc tài tự chúng có những vấn đề, những khó khăn về những giải pháp có thể có không là lý do để ngưng khai phá tiềm năng của những giải pháp đó để đương đầu với các nền độc tài hiện đại.

Những Nhược Điểm Của Các Nền Độc Tài Cực Đoan

Trên cơ sở của điều mà chúng ta biết về những hệ thống Quốc Xã và Cộng Sản, và của một số những nền độc tài nhẹ hơn, thì chúng ta có thể nêu lên những nhược điểm cụ thể của những nền độc tài này. Đây là những nhân tố mà với thời gian, ngay cả khi không có những nỗ lực có chủ ý làm gia trọng thêm những nhược điểm đó, sẽ tạo ra những thay đổi mà theo những mức độ khác nhau sẽ làm biến đổi những khả năng và đặc tính của nền độc tài. Ví dụ, những nhược điểm này sẽ đưa đến những kết quả như sau:

  • hạn chế tự do hành động của chế độ;
  • thúc đẩy chế độ quan tâm đến các nhu cầu và ước vọng của dân chúng;
  • giảm thiểu tàn bạo và đàn áp;
  • đóng góp vào việc chế độ trở nên bớt giáo điều trong hành động;
  • giảm thiểu mức độ chính quyền kiểm soát xã hội hữu hiệu;
  • phá vỡ huyền thoại chính quyền biết tất cả mọi sự;
  • nói một cách nhẹ nhàng nhất, làm cho hệ thống trở nên “được phóng khoáng hơn” hay ngay cả được dân chủ hoá; và
  • nói một cách cực đoan, thì làm cho hệ thống tan vỡ.

Sau đây là một vài nhược điểm của các nền độc tài cực đoan, bao gồm cả những hệ thống toàn trị:

  1. Sự hợp tác của một số đông người và nhiều nhóm khác nhau – cần có để điều hành một hệ thống — có thể bị hạn chế hoặc rút lui.
  2. Tự do hành động của chế độ có thể bị giới hạn bởi những chính sách trong quá khứ mà các điều kiện và hậu quả vẫn còn tiếp diễn.
  3. Hệ thống có thể đã trở thành thông lệ trong lối điều hành, do đó điều độ hơn và ít có khả năng chuyển biến hoàn toàn các sinh hoạt để phục vụ những đòi hỏi giáo điều và đột ngột thay đổi chính sách.
  4. Việc phân phối nhân viên và tài nguyên cho những công tác hiện hành sẽ giới hạn sự cung ứng nhân viên và tài nguyên cho những công tác mới.
  5. Chỉ huy trung ương có thể nhận từ cấp dưới thông tin không chính xác và không đầy đủ dựa vào đó để làm những quyết định, bởi vì những cấp dưới có thể sợ không làm hài lòng cấp trên.
  6. Ý thức hệ có thể hao mòn, và các huyền thoại và biểu tượng của hệ thống trở nên bất ổn.
  7. Bám chặt vào ý thức hệ có thể dẫn đưa đến những quyết định có hại cho hệ thống bởi vì người ta không chú ý đủ đến những điều kiện và nhu cầu thực sự.
  8. Hệ thống có thể không có hiệu năng gây nên bởi sự suy thoái về khả năng và hiệu lực của hành chánh, hay bởi kiểm soát quá mức và quá nhiều giấy tờ; hậu quả là các chánh sách và điều hành bình thường của hệ thống có thể trở nên vô hiệu.
  9. Đủ loại xung khắc nội bộ của hệ thống có thể tác động tai hại và ngay cả phá rối sự điều hành của hệ thống.
  10. Giới trí thức và sinh viên có thể trở nên bồn chồn trước những điều kiện, những hạn chế, tính giáo điều, và sự đàn áp.
  11. Quần chúng với thời gian có thể trở nên vô cảm và nghi ngờ.
  12. Những khác biệt vùng, giai cấp, văn hoá, hay quốc gia có thể trở nên trầm trọng.
  13. Đẳng cấp trong quyền lực sẽ luôn luôn bất ổn ở một mức độ nào đó, và có lúc hết sức bất ổn.
  14. Có những bộ phận cảnh sát chính trị hay những lực lượng quân sự có thể có đủ sức mạnh tạo áp lực để đạt những mục đích của chính họ, hay ngay cả để hành động chống lại các nhà cai trị đã ổn định.
  15. Trong trường hợp một nền độc tài mới, thì nền độc tài này đòi hỏi phải có thời gian mới được ổn định một cách vững chắc, điều tạo ra một khoảng thời gian rất dễ bị nguy hiểm.
  16. Sự tập trung quá độ quyền làm quyết định và quyền chỉ huy có nghĩa là sẽ có quá nhiều điều chỉ do một số quá ít người quyết định nên khó tránh được lỗi lầm.
  17. Nếu chế độ, để tránh một vài trong số những vấn đề này, quyết định phân tán quyền làm quyết định và quản trị, thì điều này sẽ đưa đến sự xói mòn những kiểm soát trung ương hơn nữa, và thường đưa đến việc tạo dựng nên những trung tâm quyền lực mới trải rộng khắp nơi; những trung tâm này tìm cách bành trướng sức mạnh của mình thiệt hại cho trung ương.

Những nhược điểm này của các nền độc tài cực đoan dĩ nhiên không có nghĩa là sự phân huỷ sẽ xảy ra nhanh chóng, hay ngay cả chưa chắc sẽ xảy ra, dù cho có những nhân tố khác đang vận hành trong hoàn cảnh. Những hệ thống độc tài thường ý thức được ít nhất một vài nhược điểm của mình và sử dụng những biện pháp để sửa chữa những nhược điểm đó. Thêm nữa, trong những hoàn cảnh thích hợp, ngay cả những chế độ hết sức vô hiệu năng và bất tài vẫn thường có thể xoay xở để sống còn trong một thời gian rất lâu dài và như Riesman đã nói, người ta có thể “nhầm lẫn giữa những thúc đẩy xằng bậy hay ngay cả những tình cờ của ‘hệ thống’ với thiên tài đầy âm mưu.”

Tuy nhiên, chúng ta hẳn phải học hỏi được nhiều hơn là những gì chúng ta hiện biết được về các nền độc tài và về các hình thái đối lập và đối kháng thay thế chống lại những nền độc tài này. Với kiến thức này, những người sống dưới các nền độc tài có thể làm trầm trọng thêm một cách có chủ ý các nhược điểm cố hữu như thế để thay đổi hoàn toàn hay là phân huỷ hệ thống. Trong những nỗ lực như thế, sự lệ thuộc hỗ tương giữa ép buộc thi hành và các tập quán tuân phục đặc biệt quan trọng. Những hình thái đấu tranh bất bạo động được dựa trên khả năng của quần chúng giữ lại sự tuân phục và hợp tác của họ. Việc giữ lại này làm cho những nguồn quyền lực cần có của nền độc tài có thể bị hạn chế hay bị cắt đi…

Gene Sharp

Chuyển ngữ:

Tiểu Thạch Nguyễn Văn Thái, Ph.D.

http://danlambaovn.blogspot.com

Ghi chú:

a . Về khả năng của những cơ quan này chuyển đổi qua những mục đích khác, Xem Chương Mười Một, “Phạm Trù Xã Hội.”

  1. Xem Chương Mười, “Tìm Một Giải Pháp Cho Vấn Đề Chiến Tranh.”

Xem Chương Mười Hai, “Tăng Cường Khả Năng Quần Chúng,” Tiểu Chương: Chế Tài Và Xã Hội.

David Riesman, “Một Vài Nhận Xét Về Những Giới Hạn Của Quyền Lực Toàn Trị,” trong David Riesman, Sung Túc Để Làm Gì? Và Những Luận Đề Khác (Garden City, N.Y.: Double Day, 1964), tt.81 và 89. 2. Như trên, tt.81,82. 3. Như trên, t.92. 4. Như trên, t.81. 5. Như trên, t.92. 6. Như trên. 7. Để có một sự trình bày đấy đủ hơn về lí thuyết quyền lực, xem Gene Sharp, Chính Trị của Hành Động Bất Bạo Động (Boston: Porter Sargent Publisher, 1973), Chương Một, “Bản Chất và Kiềm Soát Quyền Lực Chính Trị.” 8. Karl W. Deutsch, “Những Rạn Nứt Của Tảng Độc Thạch, “trong Carl J. Friedrich, biên tập viên, Toàn Trị (Cambridge, Mass,: Harvard University Press, 1954), tt.313-314. 9. Như trên, tt.314-315. 10. Riesman, “Một Vài Nhận Xét Về Những Giới Hạn Của Quyền Lực Toàn Trị.” T.81.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi