CHÍNH NGÀI ĐÃ DẪN CON ĐI

CHÍNH NGÀI ĐÃ DẪN CON ĐI

Tác giả: Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.

Một cô bé bảy tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền.

Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.

Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau, đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.

Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”

Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”

- Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.

-. Em trai cháu bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà ba cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?

- Ở đây không bán phép màu, cháu à. – Người bán thuốc nở nụ cười tỏ vẻ cảm thông với cô bé.

- Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?

Trong cửa hàng còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”

- Cháu cũng không biết nữa – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. “Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được giải phẫu, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.”

- Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”

Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu”.

Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”

Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau, đứa bé đã có thể về nhà, khỏe mạnh.

Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của người bác sĩ.

Kính thưa quí ông bà anh chị em. Nếu mỗI ngườI ngồI ngẫm nghĩ lạI cuộc đờI của mình, mỗI ngườI sẽ cảm thấy rõ ràng: chúng ta còn sống và được như ngày hôm nay, thật sự phảI nói là một Phép Mầu. Và đây cũng chính là điều tôi muốn chia sẻ vớI quí ông bà anh chị em trong thánh lễ hôm nay.

Nhiều ngườI nghĩ rằng chúng tôi những linh mục là những con người tài ba đức độ nên mới được Thiên Chúa tuyển chọn. Tôi không nghĩ thế. Tôi không nghĩ vì mình tài ba đức độ mà được Thiên Chúa tuyển chọn. Không, không phảI thế. Tình yêu Thiên Chúa trên tôi và chọn tôi không phảI vì tôi trổi vượt hơn những người khác. Tình yêu Thiên Chúa trên tôi không căn cứ vào công trình của tôi. Đó là một tình yêu hoàn toàn nhưng không, một tình yêu hoàn toàn vô điều kiện, vì nếu tình yêu ấy căn cứ vào tài đức của tôi, khi tài đức tôi không còn nữa thì tình yêu ấy cũng sẽ biến mất. Nhưng khi tình yêu ấy căn cứ trên cái nhưng không, tình yêu ấy không thể bị tiêu diệt và tôi sẽ không bao giờ mất nó vì nó không đến do một công trình nào của tôi mà là một món quà nhưng không của Thiên Chúa.

NgồI ngẫm nghĩ lại, tôi thấy việc Chúa làm thật là mầu nhiệm. Lớp chúng tôi khi mớI vào tiểu chủng viện là 65. Nhưng cuối cùng chịu chức chỉ còn 4. Một ở Úc, 2 đang ở Việt Nam, và tôi đang ở đây. Nhiều anh trong lớp tôi rất là thông minh tài giỏI, lanh lẹ. Nhưng thường những chú bé thong minh lanh lẹ thì cũng hay tinh nghịch nên đã bị nhà trường cho về. Chính vì thế, thiểu số còn lạI không hẳn là những ngườI thông minh lanh lẹ hơn những ngườI kia, mà có thể nói là khù khờ hơn.

Một điều rõ ràng hơn nữa là sau biến cố 30/4/75. Tất cả các chủng viện đều đóng cữa. Để tồn tạI chúng tôi phảI sống thành những nhóm nhỏ, từ những sinh viên trắng trẻo đẹp trai của đạI chủng viện ngày nào, bỗng chốc trở thành những anh chàng nhà quê lem luốt, đen điểu, xấu xí, ngày ngày chỉ biết lam lụ để sản xuất. Nhóm chúng tôi đi làm muốI, mỗI ngày phảI ra đồng làm việc từ 7:30 sáng đến 6 giờ tối. Sau 10 năm trờI lam lụ vất vả, tôi cảm thấy hoàn toàn kiệt sức từ tinh thần lẫn thể chất. Chính vì thế tôi đã quyết dịnh ra đi.

Và tôi đã khám phá ra điều nầy: khi Thiên Chúa đóng cữa trước thì Ngài mở lối sau. Trước kia tôi không bao giờ dám nghĩ đến chuyện vượt biên vì sợ cảnh ngục tù và chết chóc. Nhưng rồI bị đưa đẩy vào bước đường cùng, tôi không còn chút sợ hãi nữa, sẵn sàng chấp nhận: một là chết hai là vinh quang, không chấp nhận cảnh nô lệ, nên tôi đã ra đi. Hai lần đầu thất bạI nhưng may mắn không bị bắt. Lần thứ ba thì thành công nhưng rồI lạI gặp giông to bão tố. May mắn là được tàu hảI quân Mỹ vớt, nếu không chúng tôi cũng đã trở thành những miếng mồI ngon cho cá biển. Vì thế càng ngẫm nghĩ tôi càng cảm thấy như có một phép màu nào đó đã che chở phù hộ để mình vẫn còn sống đến ngày hôm nay.

Xa hơn tí nữa, mọI ngườI đều nghĩ rằng đất lành chim đậu và đất Mỹ sẽ là chỗ dừng chân lý tưởng. Nhưng rồI trong cuộc sống, có nhiều điều lạ lùng xảy ra dường như có một bàn tay vô hình nào đó muốn an bài, muốn dẫn dắt để đưa tôi đi vào con đường mà Ngài muốn tôi đi. Trong lúccòn đang phân vân ngẫm nghĩ thì tôi đọc phảI một câu chuyện rất cảm động nầy:

Năm 1962, chiếc phi cơ của hãng Panam Mỹ chở mấy trăm ngườI, trong đó có một số giám mục Mỹ từ NewYork đến Rôma để họp công đồng chung Vaticanô II. Trong chuyến bay có 2 cô tiếp viên hàng không, một trong hai cô có nét đẹp tuyệt vời. Trên chuyến bay, có một cụ già đã lưu ý đặc biệt đến sắc đẹp của cô. Cụ vừa nhìn ngắm vừa ngẫm nghĩ môt cái gì đó khác thường. Thế rồI khi phi cơ hạ cánh, mọI ngườI chuẩn bị xuống phi cơ thì cụ già đó vẫn cứ ngồI yên. MọI ngườI lần lượt bước ra khỏI phi cơ, cụ là ngườI cuốI cùng rờI chỗ. Và trước khi giã từ, ngườI ta thấy cụ đưa miệng ghé vào tai cô tiếp viên xinh đẹp kia nói nhỏ một câu gì không ai biết được. Chúng ta có biết cụ già ấy là ai không? Đó là đức giám mục Fulton Sheen, tổng giám mục NewYork., một nhà hùng biện nổI tiếng nước Mỹ. Bốn tháng sau, khi khóa một công đồng chung vaticano kết thúc, các giám mục được về nước nghỉ. Một hôm, nghe tiếng chuông reo, ngài ra mở cữa, cô tiếp viên nói: Thưa đức cha, đức cha có còn nhớ con không? Tôi còn nhớ lắm. Cô là tiếp viên trên chiếc hàng không đưa chúng tôi đến Roma. Đức cha có còn nhớ đã nói gì vớI con không? Tôi đã nói: có khi nào cô đã cảm tạ ơn Chúa vì Ngài đã ban cho cô sắc đẹp tuyệt vờI ấy không? Thưa đức cha, chính vì câu hỏI đó mà hôm nay con đến hầu chuyện đức cha. Đức cha thử nghĩ con phảI làm gì để tạ ơn Chúa? Ngài ngẫm nghĩ trong chốc lát, sau đó đưa cô đến bản đồ thế giớI, vừa chỉ vừa nói: đây là Việt Nam, đây là Sài Gòn, và đây là DiLinh. Cha vừa mớI được một tin từ Việt nam: đó là đức cha Jean Casssaigne, một ngườI Pháp đang làm tổng giám mục Sàigòn, đã xin từ chức để đi phục vụ một trạI phong cùi ở miền núi DiLinh. Vậy con có muốn hy sinh một thờI gian, đem tiếng nói dịu dàng, nụ cườI hồn nhiên, duyên sắc mặn mà của con để an ủI họ không? Nghe đến đó, mặt cô tiếp viên tái dần đi. Cô đứng lặng yên trong mấy phút. Đột nhiên cô cúi đầu tạm biệt không nói một lời. Câu chuyện tưởng chừng như kết thúc, rồI bỗng nhiên một ngày kia tiếng chuông điện vang, ngài ra mở cữa, vớI nụ cườI tươi, cô tiếp viên thưa vớI ngài: Thưa đức cha, bây giờ thì con đã sẵn sàng để đi VN. Xin đức cha giúp con để liên lạc. Và ngài rất hài lòng giúp đỡ. Rồi năm 1963, đài phát thanh cũng như báo chí ở Sài Gòn loan tin: Một nữ tiếp viên rất xinh đẹp của hãng hàng không Panam tình nguyện đến DiLinh, Lâm Đồng để sống vớI những ngườI phong cùi trong 6 tháng. Nhưng rồI sau 6 tháng, cô đã tình nguyện ở lạI phục vụ những bệnh nhân nầy suốt đờI của cô. Cô xin gia nhập dòng nữ Phan xicô. Sau những năm vào nhà tập, cô đã trở thành bà sơ Phanxico vớI danh xưng sr. Louise Bannet. Ngày sơ nầy khấn lần đầu, rất nhiều ngườI đã đến tham dự lễ khấn để chúc mừng, chia vui, và khích lệ sơ. Sau đó sơ đã phục vụ rất tận tình trong niềm vui của một cuộc đờI tận hiến. Nhưng rồI biến cố tháng tư năm 1975 xảy ra, sơ bị cộng sản trục xuất. Sơ rất đau buồn rờI khỏI VN và những bệnh nhân ở đó. Sơ trở về Mỹ một thờI gian và sau đó đi Phi Châu phục vụ trạI cùi ở Tahiti cho đến khi chết. Năm 1982 sơ chết vì bệnh ung thư giữa sự thương tiếc của mọI bệnh nhân. Sơ Louise Bannet đã hy sinh tất cả cuộc đờI để mang lạI niềm vui và sự an ủI lớn lao cho những con ngườI bệnh tật đầy đau khổ.

Quả thật, đây là một trong những tấm gương sáng chói của các nhà truyền giáo đã thu hút đờI tôi và đã làm tôi suy nghĩ: Họ là ai? Sao họ anh hùng thế? Không, họ không là những anh hùng. Họ cũng không là những nhà xuất chúng. Không là những nhà thông thái. Họ chỉ là những con ngườI âm thầm vô danh đã dám hy sinh cả một cuộc đờI cho công việc truyền giáo. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI rủI ro, tai họa. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI gian lao thử thách. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI thương đau bệnh tật. Dẫu âm thầm vô danh nhưng họ là những chiến sĩ rất hào hùng, hào hùng trong hy sinh, hào hùng trong chiến đấu, hào hùng trong cuộc sống. PhảI nói: Họ khác vớI những con ngườI tầm thường như chúng ta. Họ có cái gì cao thượng. Họ có cái gì cao quí. Họ có cái gì cao đẹp khiến mình phảI ngưỡng phục, phảI học hỏI cho dẫu biết rằng suốt đờI mình không thể nào làm được những điều như họ, nhưng mình vẫn muốn bắt chước, muốn đi theo con đường họ đang đi. Chính vì thế tôi đã nốI gót theo họ.

Và sau 25 năm trên bước đường truyền giáo tôi cảm thấy rõ điều nầy: đờI truyền giáo quả thật có đầy những gian lao vất vả nhưng cũng có nhiều yên ủI lớn lao, có những mồ hôi rướm máu, nhưng cũng có những hoa trái khích lệ. Và càng ngẫm nghĩ tôi càng cảm thấy thâm tín điều nầy: Không phảI con đã chọn Cha, nhưng chính Cha đã chọn con và đã dẫn con đi qua những con đường mà Ngài muốn con phải đi.

Thật vậy, 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện vượt biên. 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện xuất ngoại. 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện đi du học, và càng không bao giờ nghĩ đến chuyện đi truyền giáo ở một đất nuớc xa xôi nào đó. Nhưng rồI chương trình của Thiên Chúa thì khác hẳn vớI chương trình của con ngườI. Chính Ngài đã an bài mọI sự và đã hướng dẫn tôi đi vào con đường mà Ngài muốn tôi phảI đi.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy dâng lờI cầu nguyện cách riêng cho những nhà truyền giáo, xin Chúa luôn nâng đỡ họ và đồng hành vớI họ trên mọI bước đường họ đang đi. Đặc biệt hôm nay trong thánh lễ nầy, xin anh chị em hãy cùng tôi dâng lên Thiên Chúa những lờI cảm tạ chân thành vì muôn hồng ân Ngài đã ban xuống cho tôi trong suốt 25 năm qua trênbước đường truyền giáo. Và cũng xin tiếp tục cầu nguyện và nâng đỡ tôi trên quãng đường đờI còn lạI để tôi luôn giữ được sự bình an và lòng hăng say phục vụ cho cánh đồng truyền giáo mà Chúa muốn tôi ra đi để phục vụ cho nước Ngài.

Cali. ngày 6/7/2014.

Tác giả: Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, TÔN GIÁO | Leave a comment

BẠN NÓI… CHÚA NÓI…

BẠN NÓI… CHÚA NÓI…

Bạn nói: “Điều đó không thể được”

Chúa nói: Mọi sự đều có thể. (Luca 18, 27)

Bạn nói: “Tôi mệt quá rồi”

Chúa nói: Ta sẽ cho con nghỉ ngơi. (Mátthêu 11, 28-30)

Bạn nói: “Chẳng ai thực lòng yêu tôi”
Chúa nói: Ta yêu con. (Gioan 3, 1 6 & Gioan 3, 34 )

Bạn nói: “Tôi không thể tiếp tục”

Chúa nói: Ơn Ta đủ cho con. (II Côrintô 12, 9 & Tv 91,15)

Bạn nói: “Tôi không thể hình dung ra điều gì”

Chúa nói: Ta sẽ dẫn dắt con từng bước. (Châm ngôn 3, 5- 6)

Bạn nói: “Tôi không thể làm được điều đó”
Chúa nói: Con có thể làm được mọi chuyện. (Philípphê 4, 13)

Bạn nói: “Tôi không thể”

Chúa nói: Ta có thể. (II Côrintô 9, 8)

Bạn nói: “Không bõ công”

Chúa nói: Thực đáng công. (Rôma 8, 28 )

Bạn nói: “Tôi không thể tha thứ cho tôi”

Chúa nói: Ta tha cho con. (I Gioan 1, 9 & Rôma 8, 1)

Bạn nói: “Tôi không thể lo liệu được”

Chúa nói: Ta sẽ cung cấp cho con mọi nhu cầu. (Philípphê 4, 19)

Bạn nói: “Tôi sợ”

Chúa nói: Ta không cho con tinh thần sợ hãi. (II Timôthê 1, 7)

Bạn nói: “Tôi luôn lo lắng và nản lòng”

Chúa nói: Hãy ký thác mọi lo âu cho Ta. (I Phêrô 5, 7)

Bạn nói: “Tôi không đủ thông thái”

Chúa nói: Ta cho con khôn ngoan. (I Côrintô 1, 30)

Bạn nói: “Tôi cảm thấy đơn độc”

Chúa nói: Ta không bao giờ bỏ con hoặc quên con. (Do thái 13, 5)

(Dịch từ một món qùa “souvenir” được tặng trong chuyến

đến Phi Luật Tân chào đón Đức Giáo Hoàng Phanxicô 14-19/01/2015)
Jos. Nguyễn Hùng Cường

——————-

YOU SAY… GOD SAYS…

You say: “It’s impossible”
God says: All things are possible (Luke 18:27)

You say: “I’m too tired”
God says: I will give you rest (Mat.11:28-30)

You say: “Nobody really loves me”
God says: I love you (John 3:16 & John 3:34)

You say: “I can’t go on”
God says: My grace is sufficient (II Corinthians 12:9 & Psalm 91:15)

You say: “I can’t figure things out”
God says: I will direct your steps (Proverbs 3:5-6)

You say: “I can’t do it”
God says: You can do all things (Philippians 4:13)

You say: “I’m not able”
God says: I am able (II Corinthians 9:8)

You say: “It’s not worth it”
God says: It will be worth it (Roman 8:2)

You say: “I can’t forgive myself”
God says: I Forgive you (I John 1:9 & Romans 8:1)

You say: “I can’t manage”
God says: I will supply all your needs (Philippians 4:19)

You say: “I’m afraid”
God says: I have not given you a spirit of fear (II Timothy 1:7)

You say: “I’m always worried and frustrated”
God says: Cast all your cares on ME (I Peter 5:7)

You say: “I’m not smart enough”
God says: I give you wisdom(I Corinthians 1:30)

You say: “I feel all alone”
God says: I will never leave you or forsake you (Hebrews 13:5)

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Posted in Lời Hay Ý Đẹp | Leave a comment

‘ 30/4 – Ngày phán xét của Việt Nam’

‘ 30/4 – Ngày phán xét của Việt Nam

Hải Long Gửi tới BBC từ Hà Nội

Cha tôi sinh ra trên đất Thái. Năm ông 5 tuổi, nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông nội tôi bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn và đem các con trở về cố quốc.

Năm 16 tuổi, như hàng triệu thanh niên miền Bắc khác, ông bỏ học, khai thêm tuổi và xin vào quân ngũ.

Ông đã may mắn khỏe mạnh và lành lặn bước qua những cuộc chiến tàn khốc nhất, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc. May mắn hơn rất, rất nhiều những đồng đội của ông.

Thời của cha tôi, miền Bắc XHCN là một xã hội khép kín. Hệ thống tuyên truyền đồ sộ của Đảng Cộng sản đã rất thành công trong việc tuyên truyền, lồng ghép giữa chủ nghĩa cộng sản, lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Câu nói của TS.Goebbels: “Sự thật là cái không phải sự thật được nhắc đi nhắc lại nhiều lần” được áp dụng triệt để trong xã hội đó.

Mỗi tân binh, như cha tôi, được xem đi xem lại những bộ phim chiến tranh tuyên truyền về tội ác của Mỹ – Ngụy. Từng mảnh xác người chết bởi bom đạn của B52. Những ngôi nhà tan nát. Những em thơ ánh mắt ngơ ngác. Những thiếu phụ đầu chít khăn tang, khuôn mặt hốc hác. Những người mẹ già với đôi mắt sâu thăm thẳm.

Cuốn tiểu thuyết viết về những người du kích miền Nam đầy anh dũng, những gia đình miền Nam một lòng hướng về phía “Đảng” và “Bác Hồ” và những người lính Việt Nam Cộng hòa hiện lên như hiện thân của ác quỷ, ăn thịt, moi gan, uống máu, hãm hiếp dân thường… Một người miền Nam tập kết ra Bắc và viết như thế, trong một xã hội khép kín và thiếu thông tin như thế, ai mà không tin?

Những “nhà văn”, “nhà thơ” con cưng của chế độ như Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Anh Đức cũng đã góp phần quan trọng trong việc đưa những người trai trẻ ấy ra chiến trường, và cả triệu người đã không bao giờ quay lại.

Anh Đức nổi tiếng ở miền Bắc với tiểu thuyết “Hòn Đất”.

Cuốn tiểu thuyết viết về những người du kích miền Nam đầy anh dũng, những gia đình miền Nam một lòng hướng về phía “Đảng” và “Bác Hồ” và những người lính Việt Nam Cộng hòa hiện lên như hiện thân của ác quỷ, ăn thịt, moi gan, uống máu, hãm hiếp dân thường… Một người miền Nam tập kết ra Bắc và viết như thế, trong một xã hội khép kín và thiếu thông tin như thế, ai mà không tin?

Và thế là hàng triệu thanh niên miền Bắc đã lên đường ra chiến trường. Họ đã sống, đã chiến đấu và đã chết với niềm tin sắt son rằng mình đang “giải phóng” miền Nam khỏi những kẻ ngoại bang xâm lược, như những cuộc chiến chống xâm lược suốt ngàn năm qua của dân tộc Việt.

Sau cái ngày 30/04 đó, lần đầu tiên cha tôi tiếp xúc trực tiếp với những người lính phía bên kia (những người mà sau này ông thường kể với tôi, họ cũng là người lính và họ cũng chiến đấu dũng cảm như chúng ta ở phía bên này).

Cha tôi được giao nhiệm vụ trong một trại học tập cải tạo của các viên chức và sỹ quan Việt Nam Cộng hòa.

Không như những gì mà ông được tuyên truyền, những người phía bên kia mà ông tiếp xúc đều là những người nhã nhặn, lịch sự và có trình độ văn hóa cao. Đó là lần đầu tiên, ông nhận thấy có điều gì đó không đúng.

Ngược lại, cha tôi bắt đầu nhìn thấy mặt trái của những người cộng sản. Ông đã nhìn thấy những sỹ quan Bắc Việt tìm cách moi tiền từ những tù binh phía bên kia và gia đình của họ.

Ông cũng đã chứng kiến những vụ đánh đập ngược đãi với những người lính gan dạ và dũng cảm, những người có cùng dân tộc, cùng màu da, cùng ngôn ngữ nhưng không cùng lý tưởng.

Và ông thường kể với tôi điều ông ân hận nhất, một người đồng đội của ông cố tình thả cho tù nhân chạy rồi đuổi theo bắn chết. Đôi mắt của người chết vẫn ám ảnh cha tôi đến bây giờ. Người đồng đội đó của ông sau này cũng bị đột tử, và cha tôi thường nói với tôi, đó là “nhân quả”.

Một sự kiện nữa cũng đã làm thay đổi những suy nghĩ của cha tôi. Đó là phía Bắc, người anh em cộng sản trở mặt. Những người bạn và cả những người đồng chí của ông bị trục xuất về Trung Quốc, đôi khi chỉ vì trót mang cái họ giống với họ của người Hoa.

Tình anh em, tình đồng chí sao mà mong manh thế? Khi cần thì anh em tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, khi không cần nữa thì lập tức thành “Kẻ thù truyền kiếp của dân tộc” và sẵn sàng trút súng đạn điên cuồng vào nhau?

Sau cuộc chiến khốc liệt ở biên giới, cha tôi lặng lẽ giải ngũ, đốt hết huy chương và bằng khen, sống một cuộc sống dân sự bình thường, mặc cho những đồng đội của ông, sau khi học thêm vài ba lớp chính trị, trở thành cấp tướng, cấp tá… Ông không bao giờ muốn nhắc lại về những ký ức chiến tranh khốc liệt nữa.

Nếu ai đó hỏi cha tôi 30/04 là ngày gì? Cha tôi sẽ trả lời, đó là ngày mà ông nhận ra mình đã bị lừa dối. Ông và các đồng đội của ông là “Thế hệ bị lừa dối”.

Còn nếu ai đó hỏi ông muốn gọi 30/04 là ngày gì? Thì tôi xin phép được trả lời thay cho cha tôi, hãy gọi 30/04 là ngày phán xét.

Ngày phán xét những kẻ đã đẩy dân tộc vào cuộc chiến huyết nhục tương tàn.

Ngày phán xét những lãnh đạo miền Bắc thời điểm đó, những kẻ đã trực tiếp đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc lên giàn hỏa thiêu, vì một thứ lý thuyết không tưởng, mơ hồ và thiếu thực tế.

Ngày phán xét cho những kẻ tự khoác lên mình chiếc áo nhà văn, nhà thơ, cổ động người ta lao vào chỗ chết, lao vào những cuộc chém giết với lòng căm thù không giới hạn.

Còn thống nhất ư? Hòa giải ư? Làm sao có thể thống nhất và hòa giải khi những kẻ thủ ác còn chưa bị trừng phạt? Lịch sử rồi sẽ phải ghi chép lại một cách công bằng và khách quan. Tội ác rồi sẽ bị trừng phạt, chỉ là sớm hay muộn!

Cuối cùng, tôi muốn thay mặt cha tôi gửi lời xin lỗi chân thành đến những người lính ở phía bên kia.

Mong các bạn hiểu rằng, cha tôi và các đồng đội của ông và các bạn cũng đều chỉ là nạn nhân của cuộc chiến phi nhân này. Nói cho cùng thì tất cả chúng ta đều là những kẻ thua cuộc.

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Leave a comment

Blogger Điếu Cày gặp gỡ Tổng thống Obama

Blogger Điếu Cày gặp gỡ Tổng thống Obama

01.05.2015

000_Was8923373-622.jpg

Cựu tù nhân chính trị, blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải (bìa trái) vào lúc 10:55 sáng ngày 1 tháng 5 theo giờ miền đông Hoa Kỳ, có cuộc hội luận với tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama (giữa) cùng với các nhà báo nước ngoài khác từng bị bắt bớ.

AFP

Cựu tù nhân chính trị, blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, vào 10:55 sáng hôm qua 1 tháng 5 theo giờ miền đông Hoa Kỳ, có cuộc hội luận với tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cùng với các nhà báo nước ngoài khác từng bị bắt bớ.

Cuộc hội luận diễn ra giữa tổng thống Barack Obama cùng những nhà báo bị tù tội như vừa nêu nhằm đánh dấu Ngày Tự do Báo chí Thế giới năm nay.

Vào năm 2012, cũng nhân dịp Ngày Tự do Báo chí Thế giới, tổng thống Barack Obama công khai nhắc đến blogger Điếu Cày. Dịp đó người đứng đầu chính phủ Hoa Kỳ nói rõ ‘ Vào khi chúng ta lên án những vụ bắt giữ gần đây đối với các nhà báo như Mazen Darwish, một tiếng nói hàng đầu ủng hộ tự do báo chí ở Syria, cũng như kêu gọi trả tự do ngay cho những nhà báo bị bắt giam như thế, chúng ta không được phép quên những người khác như blogger Điếu Cày, người bị bắt vào năm 2008 trong đợt cấm cách rộng khắp đối với hoạt động báo chí công dân tại Việt Nam.

Xin được nhắc lại, sau khi bị bắt blogger bị kết án vì tội trốn thuế, nhưng khi mãn án vì tội danh này, ông tiếp tục bị giam giữ và bị kết án với tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’ theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam.

Ông được Hoa Kỳ can thiệp và bị đưa từ nhà tù thẳng sang Hoa Kỳ vào tháng 10 năm ngoái.

Posted in Tin Cộng Đồng, Tin Việt Nam | Leave a comment

30/04/75, nếu Hà nội thua cuộc

30/04/75, nếu Hà nội thua cuộc

Huỳnh Ngọc Chênh

Nguyễn Văn Trần

30-04-2015

Vài lời về ngày 30/04

Năm nay, 30/04 tới với người Việt nam hải ngoại sôi nổi hơn hẳn các năm trước. Đài TV, phát thanh, báo chí giấy và mạng đồng loạt nhắc tới dưới nhiều gốc cạnh khác nhau. Với lý do 40 năm? Nhưng con số 40 năm được ghi đậm nét.

Phải chăng những người nặng nợ với 30/04 nay đã thấy già yếu, không dám nghĩ tới năm mất nước thứ 50? Các thế hệ sau có nghĩ tới 30/04 cũng không được trọn vẹn như họ. Hay lại nghĩ khác hơn hoặc không nghĩ tới.

Nhắc tới 30/04, người nói tháng 4 đen, kẻ chọn quốc hận. Với họ, dứt khoát không ai có quyền quên hay bôi bác ý nghĩa của ngày 30/04, tuy cách nay đã 40 năm. Vì nó thiêng liêng. Nó là cả nước Việt nam của những người mất nước. Nó là linh hồn của hằng triệu người hi sanh trên chiến trường, mất mát trên đường tìm tự do, … Người Do thái có shoah hay holocauste thì người việt nam mất nước có ngày 30/04 . Ngày nay, sau hơn nửa thế kỷ, người Do thái vẫn nhắc nhở nhau shoah để giữ gìn ký ức tập thể và tìm thủ phạm để truy tố.

Cá nhơn mất ký ức, lịch sử mất nước sẽ phai nhạt.

Quốc hận là tiếng được nhiều người chọn để cho ngày 30/04 có nội dung lịch sử của nó. Theo Hán việt từ điển của Đào Duy Anh, « hận » có nghĩa là oán giận. Như « hận nhập cốt tủy » là oán giận thấu đến xương, đến tủy.

Còn Đại Từ Điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý Chủ biên, Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa Việt Nam ở Hà nội xuất bản năm1999, định nghĩa hận là lòng câm giận sâu sắc với kẻ hại mình. Như hận thù, câm hận.

Nghĩa thứ hai, hận là buồn dây dứt vì không làm được như mong muốn. Hận vì thua mất, …
Qua định nghĩa trên đây, Quốc hận là người dân cả nước oán giận, câm giận sâu sắc những kẻ hại mình làm nước mất, nhà tan …Sau 40 năm, quốc hận nếu có dịu đi thì trở thành nổi buồn ray rứt của những người Việt nam mất nước mà vẫn không thực hiện được điều như lòng mong muốn …

Nhìn nước Việt nam ngày nay, người nặng lòng thương nước có thấy oán hận không?

Việt nam qua những con số

Ngoài những thảm nạn xã hội do chế độ gây ra, nội tình việt nam bất ổn vì độc tài làm lòng dân câm hận, đối ngoại, chẳng những lệ thuộc Tàu mà còn mất lãnh thổ và lãnh hải cho Tàu. Thực tế Việt nam ngày nay được thế giới nhìn qua những con số thống kê:

“Về dân số, Việt nam đứng thứ 13 của quốc gia đông dân, thứ 61 về diện tích đất đai, thứ 33 quốc gia có bở biển dài, 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng, thứ 5/20 quốc gia sản xuất lúa gạo.

Việt Nam không nhỏ với đơn vị kích thước, dân số, đất đai, biển đảo, rừng cây v..v… nhưng lại yếu kém về phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội, và văn hóa… do quản lý quá tồi.

Về giáo dục, theo chỉ số Human Development, Việt nam đứng thứ 121/187, về trí tuệ, thứ 108/130, về ô nhiểm, thứ 102/193, về thu nhập tính theo đầu người, thứ 123/180, về tham nhũng, theo Transparency International, thứ 116/177, về tự do ngôn luận, thứ 174/180, về phẩm chất đời sống của người dân, được 22.58 điểm, thứ 72/76, về y tế, thứ 160/190.

Việt nam có đầy đủ tiềm năng nhưng tại sao tụt hậu ngày càng xa sau các nước khác ? Chỉ có cái đảng cộng sản ở Hà nội có thể trả lời vì cái đảng này cai trị toàn diện và triệt để xứ Vìệt nam từ 40 năm nay, sau khi cướp được trọn vẹn chánh quyền . Nhưng trả lời được chỉ khi nào đảng cộng sản dám tháo gở bộ máy độc tài kìm kẹp xã hội và nhứt là thoát khỏi vòng vô minh về tiền bạc.
Nhà cầm quyền ở Việt nam vẫn đổ lỗi cho tình trạng đất nước tụt hậu là do chiến tranh tàn phá nhưng không nói ai làm chiến tranh và làm chiến tranh cho ai ?

Cùng chịu hậu quả chiến tranh, trong lịch sử phục hồi và phát triển đất nước, có hai nước Đức và Nhựt là hai trường hợp điển hình cần học hỏi.

A / Trường hợp nước Đức

1Dưới chế độ Quân quản

Thế chiến kết thúc, các cường quốc Huê kỳ, Anh và Pháp chiếm phía Tây Đức quyết định đưa cho Tây Đức một bản hiến pháp để tổ chức chánh quyền và xã hội tái thiết đất nước. Tháng 7/1948, Ban Quân quản chuyển cho các vị Tổng trưởng-Chủ tịch Tiểu bang (Ministre-Président s des Lander) những tài liệu nêu lên những yếu tố then chốt để soạn thảo bản hiến pháp, gọi là những tài liệu Francfort.

Người Đức tiếp nhận không mặc cảm. Họ xem xét và đúc kết lại thành bản hiến pháp của Tây Đức, chấp thuận và ban hành ngày 8 tháng 5/1949, dưới tên gọi “ Luật Căn bản ” vì họ muốn dành “ Hiến pháp ” cho nước Đức thống nhứt . Đến khi nước Đức thống nhứt ngày 3 tháng 10/1990, “ Luật Căn bản ” vẫn tiếp tục áp dụng và trở thành Hiến pháp, với vài tu chính.

Bản văn thể hiện ý muốn sâu xa của nhơn dân Đức rút ra bài học thất bại của Cộng hòa Weimar và chống lại chế độ quốc xã, quyết tâm bảo vệ những quyền tự do căn bản. Về điểm này, sự bảo đảm các quyền tự do căn bản không phải ghi ở phần tiền văn như hiến pháp của Cộng hòa Pháp hay ở phụ lục (Bill of Rights) như hiến pháp Huê kỳ, mà ghi nguyên vẹn ngay trong thân bản hiến pháp.

Hơn nữa, mọi sửa đổi luật căn bản qui định những nguyên tắc về phẩm giá con người, về quyền phản kháng bảo vệ chủ quyền quốc gia, về tổn thương đến tự do dân chủ, đều bị ngăn cấm. Nhờ đó mà tinh thần dân tộc Đức mạnh, toàn dân đoàn kết phát huy nội lực phát triển đất nước.

2- Hậu quả chiến tranh

Ngày 8 tháng 5/1945, thế chiến kết thúc, nước Đức bị tàn phá sạch. Người ta nói nước Đức trở về thời điểm Zéro (0) hay “nước Đức của Năm 0”, để mô tả tình trạng cực kỳ thảm hại hoặc ý muốn nêu lên khái niệm Đức phải bắt đầu lại làm một cuộc hành trình mới xây dựng xứ sở từ đầu.

Dân Đức hằng chục triệu người sống trong khốn cùng, không có chổ ở, không có thực phẩm, phải đi về nhà quê tìm lương thực. Quân nhơn rả ngũ, tù nhơn ra về, Đông Đức trục xuất nhiều người Đức qua Tây Đức, tất cả làm cho cái ăn, cái mặc, chổ ở càng thêm khốn đốn . Sau chiến tranh, có 12 triệu người cần nhà ở.

Đồng Minh cung cấp thực phẩn tính 1800 calories /người/ngày. Nhà thờ cho thêm nhưng vẫn không đủ.

Ở Hội nghị Postdam, Đồng Minh quyết định tháo gở 1800 cơ xưởng chiến tranh của Đức, thu hồi vật liệu như phần đền bù chiến tranh . Mỹ và Anh giới hạn việc tháo gở, muốn giử lại để củng cố nền kinh tế Đức.

Năm 1947, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Ông George C. Marshall, đề nghị « European Recovery Program”, quen gọi là “Plan Marshall”. Chương trình này nhằm giúp tái thiết Âu châu, đồng thời cũng nhằm ngăn chận sự bành trướng của cộng sản. Có 16 nước tham gia nhưng vài nước

Đông Âu từ chối vì bị Liên-xô ngăn cản. Mỹ chi phí tất cả 12 tỷ đô-la, dành cho Tây Đức 1, 5 tỷ.
Đông Đức tái thiết chậm hơn Tây Đức. Để đền bù chiến tranh, Đức phải trả cho Liên-xô 20 tỷ đô-la, đó là lý do làm cho tình hình tái thiết cho tới năm 1948 chưa được cải thiện.

Tiếp theo, Liên-xô tái thiết Đông Đức theo mô hình kinh tế liên-xô. Chấm dứt chế độ tự do và kinh tế thị trường. Nhà nước tịch thâu những cơ xưởng lớn bìến thành xí nghiệp nhà nước hoặc công ty quốc doanh, chỉ chừa lại xí nghiệp nhỏ thủ công và nhà hàng ăn còn tư nhơn. Đến năm 1950, nhà nước đưa những cơ sở nông nghiệp nhỏ vào hợp tác xã. Chánh sách tập thể hóa và kế hoặch hóa sản xuất của Staline từ đây tiêu diệt những sản xuất nhỏ tư nhơn.

Sự tái thiết Đông Đức vì đó không hiệu quả làm dân chúng bất mản. Năm 1953, được tin Staline chết, 60 000 thợ thuyền xuống đường đòi hủy bỏ chế độ sản xuất tập thể, bầu cử tự do, … bị xe tăng liên-xô đàn áp đẩm máu.

Staline đề nghị 2 nước Đức thiết lập quân đội quốc gia để quân đồng minh sẽ rút về trong vòng một năm nhưng Thủ tướng Đức Adenauer và Đồng Minh từ chối vì thấy đó chỉ là thủ đoạn nhằm cộng sản hóa trọn vẹn nước Đức.

3 – Thu hồi độc lập

Nhận thấy Tây Đức bảo đảm được tính dân chủ cho chế độ, Mỹ, Anh và Pháp đồng ý khôi phục chủ quyền cho Thủ tướng Adenauer, ngưng tháo gở cơ sở kỷ nghệ, giúp tân trang để phục hồi kinh tế mau chóng.

Thủ tướng Adenauer mở rộng quan hệ ngoại giao với Âu châu, Tây Đức trở thành hội viên của nhiều tổ chức quốc tế, chấm dứt qui chế bị chiếm đóng năm 1955. Ông đưa ra ý kiến thống nhứt chánh trị Âu châu được các chánh khách lớn như Churchill, Schuman, Alcide De Gasperi hưởng ứng và các dân tộc âu châu nên hợp tác nhau chặt chẻ hơn. Hội đồng Âu châu ra đời với 10 nước tham dự, Adenauer đặc trách bảo vệ nhơn quyền và dân chủ, cả văn hóa và xã hội. Tổng trưởng Ngoại giao Pháp, Ông Schuman, đề nghị đặt sự sản xuất than và thép của Pháp và Đức dưới một thẩm quyền chung, đồng thời thành lập một tổ chức cho nhiều quốc gia âu châu tham gia. Cộng đồng Âu châu ngày nay ra đời từ đây.

Xã hội Tây Đức do kinh nghìệm đau thương qua chế độ quốc xã và chiến tranh đổ nát từ từ chuyển mình vững chắc theo dân chủ tự do dưới sự lãnh đạo khéo léo của Thủ tướng Adenauer.
Kinh tế Tây Đức phát triển như một phép lạ cho tới năm 1973 gặp cuộc khủng hoảng dầu hỏa. Tình hình gay gắt thêm do cạnh tranh giữa Âu châu và Á châu khi kinh tế các nước bắt đầu đi vào hướng toàn cầu hóa.

Đồng thời, về mặt xã hội, dân chúng mở ra những cuộc thảo luận về tương lai của Nhà nước Phúc lợi (Etat-Providence). Văn hóa xã hội thay đổi, tinh thần con người phóng khoáng, bắt đầu thị trường tiêu thụ mở rộng, …

4 – Tái thiết

Năm 1957, Liên-xô phóng vệ tinh spoutnik làm cho Tây phương lo sợ lúc nào đó có thể bị Liên-xô tấn công nhưng Tây Đức lo sợ hơn về mặt kỷ thuật sẽ bị phía Đông Âu qua mặt. Năm 1964, Tây Đức mở rộng giáo dục đến các cắp vừa lo đào tạo những thế hệ tương lai nhằm canh tân kỷ thuật và kỷ nghệ Tây Đức.

Sự đóng góp rất quan trọng của nền giáo dục Đức cho chương trình hậu chiến nhờ nó mang đậm chất “ Nhân bản – Trải nghiệm – Thực tế ”, lấy “ người học làm trung tâm” nhằm cân bằng và phát triển được ba yếu tố cần thiết để trẻ bước vào xã hội sau này là : Tính cách cá nhân (tính cách, thái độ, các mối quan hệ, nhân cách), tính chuyên nghiệp (tri thức, khả năng tư duy) và tính thực tiễn (cách thức vận dụng, khả năng sáng tạo).

Nhờ những đổi mới này mà Tây Đức phát triển mạnh, nhanh về kinh tế và xã hội. Cùng lúc, việc mở rộng giáo dục cũng giúp đông đảo tuổi trẻ vào đại học. Khi ra trường, chúng nó tủa ra khắp nơi làm việc để giúp xã hội phát triển đồng bộ. Tiếp theo, số thanh niên học xong trung học và giáo chức gia tăng nhờ chánh phủ từ 1963 tới 1975 đầu tư vào giáo dục 46, 5 tỷ đức mã, ưu tiên xây dựng nhiểu Đại Học mới ở nhiều nơi.

Phải nói trong những năm 60, xã hội tây đức chuyển biến vô cùng tích cực, lấy những giá trị qui chiếu mới tập trung về cá nhơn, như sự thành công của cá nhơn và sự tiêu thụ. Những thay đổi này, trước tiên, nhờ ở tình hình kinh tế phát triển tối ưu, và cũng nhờ ở xã hội tây-đức ngã theo hướng mỹ hóa mà vẫn giữ được sự đồng bộ trên cả nước. Phẩm chất đời sống cải thiện đề cao giá trị cá nhơn. Năm 1968, những thay đổi này dồn dặp hơn do thế hệ sinh viên mới tiến lên. Xã hội Tây-Đức chuyển mình đổi mới sâu xa nhưng vẫn còn vài mặt giử truyền thống và bảo thủ.
Nước Đức chuyển mình thay đổi do sự xuất hiện một xã hội tiêu thụ. Có hiện tượng mới này vì kinh tế phát triển, đưa xã hội từ tình trạng thiếu thốn mọi thứ tới có đầy đủ mọi thứ, từ nghèo khổ qua mọi người có ăn, có để. Lúc đó, kinh tề tăng trưởng từ 5 tói 7%, lương bổng tăng, điều kiện làm việc được cải thiện rất nhiều, 40 giờ / tuần, nghỉ có lương từ 3 tuần lên 5 tuần / năm.
Người dân Đức vừa có tiền, vừa có thì giờ để tiêu xài.

5 – Thống nhứt trong hòa bình

Từ năm 1969, Thủ tướng Tây-Đức Willy Brandt thực hiện một chánh sách nhằm tiến tới làm cho 2 nước Đức gần lại nhau hơn . Năm 1972, một hiệp ước căn bản được hai bên Đông-Tây ký kết cho phép trao đổi đại diện ngoại giao và năm sau gia nhập Liên Hiệp Quốc (Đông Đức có 16,5 triêu dân, 10 triêu mỹ kim xuất cảng ; Tây-Đức có 56, 5 triệu dân và 75 trìệu mỹ kim xuất cảng). Hai nước Đức vẫn riêng biệt cho tới khi bức tường Bá-linh sụp đổ năm 1989, chắm dứt chiến tranh lạnh, kết thúc số phận cộng sản liên-xô và đông âu. Vào mùa thu năm 1990, ngày 3 tháng 10, hai nước đức thống nhứt, Đông Đức về với Tây Đức để ngày nay có một nước Đức dân chủ, tự do và cường quốc âu châu.

Tưởng cần nhắc lại vài điểm quan trọng để thấy nước đức quả thật là một tấm gương tái thiết và phát triển thành công. Chế độ giáo dục và đào tạo của Đức dạy trẻ con học hỏi hiểu biết thật sự, làm việc đạt kết quả hoàn hảo. Công nhơn đoàn kết bảo vệ quyền lợi công nhơn nhưng vẫn không quên quyền lợi chủ nhơn. Không có tinh thần xung đột giai cấp, theo khái niệm mác-xít, công nhơn bị chủ nhơn bốc lột nên phải giết chủ nhơn như ở Pháp. Một trường hợp đáng ghi nhớ . Cách nay ít lâu, hảng xe Volkwagen bị lỗ, chủ nhơn hợp với nghiệp đoàn công nhơn thông báo sẽ phải giảm bớt công nhơn để giải quyết tình trạng tài chánh xí nghiệp. Nghiệp đoàn quyết định công nhơn chấp thuận giảm lương 15% để tránh một số công nhơn bị nghỉ việc. Từ đó, Volkwagen ổn định sản xuất và giử được thị trường.

Vế chánh quyền hiện tại, Bà Thủ tướng Merkel, gốc Đông Đức củ, tiết gìảm chi phí tối đa cho ngân sách quốc gia, làm việc tân tâm, tận lực cho nước Đức nhưng lại sống vô cùng đơn giản . Chánh phủ của bà chỉ có 8 Tổng Bộ trưởng và tất cả 300 nhơn viên các loại, các cấp, quản lý nước Đức gần 90 trìêu dân . Công xa của Thủ tướng phủ chỉ có 37 chiếc. Cũng như những cộng sự viên, bà ở căn nhà (appartement) của bà, trả điện, nước và các chi phí khác bằng tiền lương 15 830e/ tháng của bà. Khi di chuyển xa, tất cả đi xe lửa hay máy bay của hàng không Đức.
Đất nước giàu mạnh và ổn định chỉ khi nào người dân biết thương nước, chánh quyền có khả năng, lương thiện, đầy tâm huyết.

B / Trường hợp Nhựt bổn

1 – Thời gian chiếm đóng và khởi điểm tái thiết

Trong Đệ II Thế chiến, chỉ có nước Nhựt bị 2 trái bom nguyên tử và thất trận. Tổng thống Harry Tryman của Mỹ đã quyết định dùng bom nguyên tử sau khi nghe Thủ tướng Nhựt, Ông Kantaro Suzuki, tuyên bố ở buổi họp báo là « không biết tối hậu thư ở Potdam là gì cả » (đòi Nhựt đầu hàng vô điều kiện vì Đồng Minh sửa soạn chiến thắng).

Ngày 14 tháng 8/1945, Hoàng Đế Showa (Hirihito), sau khi xem xét sự tổn thất do hai trái bom gây ra và Liên-xô đang chiếm Manchukuo, tuyên bố đầu hàng.

Tướng Douglas Mac Arthur của Mỹ lảnh nhiệm vụ chiếm đóng nước Nhựt bại trận thể thảm, có những thành phố đổ nát tới 40%. Ông yêu cầu đừng đưa ông Vua và Hoàng gia ra trước Tòa án Quốc tế Nhơn quyền Tokyo. Nhà vua chấp nhận những điều khoản của bản tuyên bố Potdam với điều kiện ông vẫn giử những đặc quyền của nhà vua.

Mỹ chiếm nước Nhựt từ 1945 tới 1952. Thời gian này, Mỹ cải tổ sâu xa nước Nhựt về mặt chánh trị, thanh lọc (200 000 người bị thanh lọc) và dân chủ hóa, về mặt văn hóa-xã hội, cải tổ hệ thống Thần đạo Quốc giáo dạy ngưòi dân tuyệt đối tuân phục nhà vua mà trở về như một tín ngưởng bình thường, xóa bỏ hệ thống quí tộc và về kinh tế, phá bỏ những phe cánh tài phiệt để nhằm phá vở chế độ dân tộc cực đoan và quân phiệt Showa, lấy chế độ dân chủ làm nền tảng.

Quân quản Mỹ đưa cho Nhựt một bản hiến pháp theo mô hình dân chủ tây phương, xét lại vai trò nhà vua không còn nắm giử quyền chỉ huy tối cáo lực lượng quân sự cũng như mọi quyền chánh trị, mà chỉ là tiêu biểu cho sự thống nhứt quốc gia, vỉnh viển từ bỏ chiến tranh, giải thể quân đội hoàng gia, …

Quyền lực quốc gia từ nay do luỡng viện Quốc hội nắm giử. Phụ nữ có quyền bầu cử. Thiết lập quyền tự do báo chí, xóa bỏ công an chánh trị, xóa bỏ giai cấp quí tộc, ngoại trừ hoàng gia nhưng chỉ tính con cháu trai của nhà vua mà thôi.

Mỹ xóa bỏ phe phái tài phiệt nhưng cải tổ trở thành những tập đoàn kỷ nghệ mới và lớn để phát triển kinh tế Nhựt.

Trong thời gian bị chiếm đóng, Nhựt bắt đầu một sự thay đổi văn hóa quan trọng do lính mỹ đem lại như âm nhạc, ẩm thực, y phục, thời trang phụ nữ, …

2 – Khôi phục nền độc lập

Ngày 8 tháng 9 / 1951, Nhựt ký kết tại San Francisco Hiệp ước chấm dứt chiến tranh Thái Bình dương và tổ chức nền hòa bình giữa Nhựt và đa số các nước Đồng Minh, trừ Liên-xô, Tàu, Ấn độ, … . Hiệp ước đồng thời chấm dứt tình trạng nước Nhựt bị chiếm đóng, ngoại trừ Okinawa còn Mỹ cai quản để ngăn ngừa hiểm họa cộng sản bành trướng. Một Hiệp ước thứ hai qui định Nhựt, về an ninh, phụ thuộc vào Mỹ và Mỹ có quyền đơn phương quyết định về quân số Mỹ trên đất Nhựt.

Sau chiến tranh Triều tiên, Nhựt nắm giữ vai trò chiến lược trong chiến tranh lạnh. Năm 1960, nhờ tài ngoại giao khéo léo, Nhựt ký kết một Hiệp ước mới với Mỹ qui định lại tương quan quân bình về qưân sự giữa hai nước. Mỹ cần tham khảo Chánh phủ Nhựt để quân đội Mỹ đồn trú trên đất nhựt hoặc đưa võ khí nguyên tử vào lảnh thổ nhựt. Mỹ và Nhựt duy trì những đặc quyền giữa hai nước.

Tiếp theo, Nhựt tiến tới quan hệ song phương với những nước Á châu-Thái Bình dương như Đài-loan, Liên-xô, …

Sau cùng, ngày 18 tháng 12 / 1956, Nhựt gia nhập Liên Hiệp Quốc.

3 – Vươn mình lên cao

Vào đầu thập niên 50, cán cân thương mải của Nhựt bị thâm thụt: 407 triêu đô-la năm 1953 và qua năm sau, 794 đô-la. Nhờ chiến tranh Triều tiên làm thay đổi kinh tế nước Nhựt. Quân đội Mỹ đặt hàng các xí nghiệp nhựt giúp Nhựt thu nhiều ngoại tệ, lên tới 1, 32 tỹ đô-la vào cuối năm 1959 và Nhựt chỉ còn mất 140 trìêu đô-la cho cán cân ngoại thương . Ngoài ra, Nhựt còn học được ở Mỹ cách sản xuất lớn và kiểm soát phẩm chất hàng hóa. Người công nhơn nhựt được đánh giá và đề cao qua khả năng sản xuất và tinh thần tôn ti trật tự, trong một xã hội kết hợp chặc chẽ.

Sự thay đổi văn hóa còn thể hiện rỏ qua đám cưới của Thái tử Akihito với con gái của một nhà kỷ nghệ gốc thứ dân. Phe bảo thủ phản đối nhưng dân chúng ủng hộ vì cho đây là một biểu tượng đổi mới và dân chủ hóa thật sự nước Nhựt. Trên khoản đường dài 8, 8 km, có nửa triệu người đứng chào mừng hôn lễ.

Năm 1965, Nhựt ký Hiệp ước với Nam hàn, nước bị Nhựt chiếm đóng, để bình thường hóa bang giao giữa hai nước.

Và lúc này, kinh tề Nhựt cũng bắt đầu phát triển mạnh, sản lượng quốc gia tăng 11, 5 % năm. Năm 1968, sản lượng nội địa của Nhựt đạt được 150 tỷ đô-la, vượt qua Đức.

Đồng yen bám chặc đồng đô-la từ năm 1949, 1 đô-la bằng 360 yens, nhưng tới năm 1971, tiền mỹ thả nổi vì bỏ bản vị vàng, đồng yen bắt đầu cao giá.

Khi chiến tranh việt nam kết thúc, Nhựt tăng cường quan hệ ngoại giao và thương mại với các nuớc Đông-Nam Á.

Kinh tế nhựt tăng trưởng, một phần, cũng nhờ dân số tăng do người Nhựt ở hải ngoại thời Nhựt chiếm đóng hồi hương và mặt khác, mức sanh đẻ từ sau 1945 cũng gia tăng.

Suốt trong ba thập niên 1960, 1970, 1980, kinh tề nhựt phát triển ngoạn mục. Từ năm 1968, Nhựt trở thành cường quốc thứ nhì thế giới. Từ những năm 1980, sự tăng trưởng và đổi mới phưong pháp làm việc của Nhựt ảnh hưởng rất mạnh đến các nước Đông-Nam Á làm cho các nước này cũng lần lượt phát triển.

Kết luận

Điều đáng ghi nhận khi xem lại trường hợp 2 nước Đức và Nhựt bắt đầu tái thiết xứ sở là cả hai đều biết mình thua trận. Những anh hùng dân tộc làm chiến tranh bành trướng bị đưa ra xét xử trước Tòa án Nhơn quyền quốc tế Nurenberg và Tokyo. Là một nổi nhục lớn! Nhưng họ vẫn có niềm tự hào dân tộc, yêu nước thật sự, sáng suốt chọn bạn, lấy việc tài thiết đất nước từ hoang tàn đổ nát làm mục tiêu tối thượng.

Hai ông Adenauer và Yoshida, là người có thực tài và đạo đức, chấp nhận hợp tác thật lòng với Huê kỳ, kẻ đã đánh bại mình, không chút mặc cảm. Cả hai ông đã khéo léo, chỉ vài năm sau, cởi bỏ « chế độ bị chiếm đóng » để trở thành nước độc lập, thành viên của Liên Hiệp Quốc và cường quốc ở Âu châu và Á châu.

Hai người đã học được tư tưởng của người xưa « Nhập nô, xuất chủ » !

Về phía Huê kỳ, Huê kỳ đã dự bị chiến thắng nên đã chuẩn bị chương trình hậu chiến cho hai nước bại trận. Ngoài việc giúp tái thiết và phát triển đất nước, Huê kỳ đặt trọng tâm trong quan hệ ứng xử, xóa bỏ mặc cảm kẻ thua cuộc, xóa bỏ trách nhiệm ở hai nước đã gây ra chiến tranh đau thương cho cả thế giới.

Riêng Nhựt chủ tâm dạy trẻ con nhựt bài học quí giá về đức khiêm tốn « Nước Nhựt nghèo, không có tài nguyên, thiên tai dồn dập, dân Nhựt không anh hùng vì thua trận. Tương lai nước Nhựt là ở lớp trẻ ».

Phải chi, ngày 30/04, Hà nội bại trận và học được ở người Nhựt và cả người Đức bài học kẻ thua cuộc thì Việt nam ngày nay chắc chắn không đội sổ về các mặt ổn định và phát triển đất nước hậu chiến!

Việt nam phải chịu bất hạnh vì hoàn cảnh lịch sử đất nước đã lỡ tạo ra cộng sản tuy đây là điều chẳng có ai mong muốn.

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Leave a comment

NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG TRONG MỘT TẤM ẢNH và HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC

NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG TRONG MỘT TẤM ẢNH và HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC

Trần Quí Cao

Xin mời độc giả cùng xem lại tấm ảnh nổi tiếng năm châu bốn biển: tấm ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập, tấm ảnh đã trở thành niềm hãnh diện của đảng Cộng Sản Việt Nam, thành biểu trưng cho chiến thắng chung cuộc của quân miền Bắc tiến vào hang ổ cuối cùng của chế độ miền Nam. Đối với một số khá đông người miền Nam, tấm ảnh là biểu trưng của sự chấm dứt cuộc chiến, một cuộc chiến mà họ không hề muốn kéo dài bởi vì người nào ngã xuống cũng chung dòng máu đỏ da vàng, cùng là con chung của một mẹ Việt Nam.

Buổi sáng ngày 30/4/1975 đó, một anh thanh niên của chế độ miền Nam, trong khi tìm người thân giữa Sài Gòn náo loạn, bị kẹt lại trên đường Công Lý, gần góc đường Hồng Thập Tự, tình cờ thấy những chiếc xe tăng của miền Bắc tiến về dinh Độc Lập.

Lúc đó, trên thực tế, chế độ miền Nam đã đầu hàng. Tổng thống miền Nam đã ra lệnh quân đội miền Nam không chống cự. Sài Gòn trơ trọi giữa 5 cánh quân tiến công đã áp sát. Cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn chờ những người anh em miền Bắc vào để bàn giao chính quyền. Chiếc xe tăng hùng dũng của đội quân chiến thắng đang thẳng tiến. Bỗng nó dừng lại. Anh thanh niên ngạc nhiên, chăm chú quan sát.

Từ trên xe tăng, một chiến sĩ nhảy xuống. Hai cánh cổng được từ từ khép lại. Chiếc xe tăng lùi ra xa, rồi lao tới húc đổ chiếc cổng sắt.

Vốn được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa tôn trọng con người, tôn trọng tính trung thực, cảnh tượng trước mắt khiến người thanh niên thoáng linh cảm một bất an mơ hồ. Linh cảm ấy tan biến đi trong những ngày náo động tiếp theo của miền Nam chiến bại được quân quản tương đối yên ổn, và do đó đất nước đang hi vọng bừng khởi sau hòa bình và thống nhất…

Than ôi, rồi thời cuộc cũng cho thấy các bất an mà anh thanh niên kia linh cảm dần dần xuất hiện. Nhiều sự việc xa lạ với văn hóa miền Nam và cả với văn hóa dân tộc liên tiếp xảy ra, và nhanh chóng sau đó chế độ mới đã dùng thủ thuật lật lọng lùa các viên chức hành chánh và các sĩ quan quân đội của chế độ cũ vào trại học tập cải tạo, các trại mà cho dù có trang điểm bằng ngôn từ hoa mỹ tới đâu đi nữa, thì cũng là các trại tù nơi những người học tập bị đày ải nghiệt ngã cả về thể xác lẫn tinh thần nhiều năm sau. Sự việc này góp phần khoét rất sâu hận thù trong lòng dân tộc lẽ ra phải được hóa giải từ lâu rồi.

Từ đó, vào dịp lễ 30/4 mỗi năm, hình ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập lại trở về trong anh thanh niên cùng với những thước phim đã in sâu trong hồi ức về cảnh tượng buổi sáng tháng tư năm xưa. Tấm ảnh là biểu trưng của chiến thắng, và cũng là biểu trưng của tính chất bộ máy cầm quyền của đảng CSVN.

Nếu bộ máy đó trân quí hòa bình, thì khi đối phương đã buông súng, họ phải vui mừng, hòa nhã, bao dung, trân trọng đối phương để nuôi dưỡng tinh thần hòa giải, dập tắt hận thù tạo nền hòa bình muôn thủa…

Nếu bộ máy đó thực lòng yêu thương đồng bào miền Nam, thì họ đã vui mừng chạy đến cầm tay những người anh em miền Nam, mừng ngày sum họp…

Nếu bộ máy đó biết quí giá trị của lòng tôn trọng con người, biết quí nếp sống văn minh, lịch sự, thì họ đã xuống xe, báo cho chủ nhà ra đón vào một cách hòa bình và nhã nhặn…

Thì như vậy, tấm hình mừng ngày chiến thắng có thể là tấm hình của viên tướng tiền phương, hay của người chỉ huy toán quân đang tiến vào chào đón vị tổng thống tại chỗ. Một nụ cười rạng rỡ, một cái bắt tay an ủi thật chân thành trong niềm xúc động anh em từ nay tàn cuộc can qua, sum họp một nhà…

Quí độc giả thử tưởng tượng, một tấm hình như vậy, mỗi năm xuất hiện trên các nẻo đường Tổ Quốc chào đón toàn thể dân chúng cùng nhau mừng ngày Thống Nhất, thì thật là một biểu trưng đẹp biết bao cho tâm tình hòa giải hòa hợp!

Rấc đáng tiếc, ngày 30/4/1975 đã không có một cử chỉ đẹp như thế để bây giờ dân tộc có những tấm ảnh xúc động tâm tư như thế. Chỉ có tấm ảnh chiếc xe tăng húc đổ cổng nhà người anh em chiến bại. Tấm ảnh mang lồ lộ trên bề mặt và trong chiều sâu của nó các giá trị sống và tác phong sống khác hẳn.

Phải chăng tác phong đó cho biết bộ máy này đã quen đạp đổ, tàn phá, san bằng…? Đã quen khuất phục người khác bằng cách vung dao búa, lên cò súng, bắt người ta quì xuống thay vì chào hỏi, thảo luận, mời người ta ngồi chung bàn? Đã quen xem anh em miền Nam là kẻ thù cần triệt hạ, là những kẻ phản động xấu xa cần được cải tạo để trở lại kiếp sống con người?

Thực ra, từ khi Mỹ chơi ván cờ lớn, bắt tay với Trung Cộng, miền Nam ở vào thế bất lợi. Tuy nhiên, nếu quân dân miền Nam cũng cực đoan hận thù như đảng CSVN, nếu họ biết trước sau ngày giải phóng sẽ có những chính sách Học Tập Cải Tạo, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Kinh Tế mới, Phân Biệt Đối Xử trong tuyển sinh… thì họ đã dốc sức tử chiến và chưa chắc miền Bắc vào được Sài Gòn! Có vào được thì đường vào cũng phải lát bằng xương máu, và đội quân thắng trận cũng chỉ chiếm được miền Nam với các thành phố hoang tàn, đổ nát!

Theo nhiều tài liệu, quân đội miền Nam lúc đó thiếu vũ khí, đạn dược, thiếu chiến lược cả sự chỉ huy quân sự hữu hiệu. Đội quân đó, sau trận chiến Ban Mê Thuộc, đang ở thế hạ phong.

Tuy nhiên, việc một đội quân lớn, đông người và tinh nhuệ, chấp nhận buông vũ khí sớm như vậy sớm như vậy không phải có điểm xuất phát của tình đồng bào hay sao?

Việc các thành phố lớn và tân tiến được bảo quản nguyên vẹn để bàn giao cho đội quân thắng trận không phải có điểm xuất phát của tình đồng bào hay sao?

Việc dân chúng rất nhanh chóng tỏ thái độ thân mật với đội quân thắng trận tiến vào thành không phải có điểm xuất phát của tình đồng bào hay sao?

Những anh bộ đội lớ ngớ bước vào thành phố hoa lệ có thể cảm nhận tình đồng bào. Rất tiếc là những người lãnh đạo cuộc chiến, khác với chiến binh của họ, không cảm được và không nhận ra tình đồng bào đang vui mừng vì cuộc chiến nồi da xáo thịt đã chấm dứt.

Họ chỉ thấy đám dân miền Nam thua trận này đang xu nịnh họ.

Họ chỉ thấy trong đám dân miền Nam thua trận này đầy rẫy các thế lực thù địch nguy hiểm cho ý đồ thống trị của họ. Gián điệp nhé, quân đội cũ tạm nép mình chờ ngày phục hận nhé, các người hiểu biết có thể tiêm các tri thức và tư tưởng về chế độ tự do, về các giá trị sống của miền Nam nhé. Và họ sợ nhất là qua đám dân miền Nam các bộ đội của họ sẽ biết về cuộc sống thật của miền Nam khác với điều đảng CSVN đã tuyên truyền hàng chục năm nay…

Trong não trạng đó, những chính sách triệt hạ miền Nam được liên tiếp tung ra. Sau khi giành thắng lợi quân sự rồi thì phải đánh gục cái miền Nam trù phú thịnh vượng này, đánh cho bẹp tinh thần trung thực, nghĩa khí, tự do, dân chủ, tôn trọng con người của miền Nam. Đánh cho các giá trị sống đó, vốn khác biệt căn bản với các giá trị sống của xã hội cộng sản chủ nghĩa, không thể ngóc đầu lên được nữa.

Chính quyền CSVN không biết rằng các giá trị mà họ cố tình đánh cho chết đó chính là nền móng tối cần thiết và rất vững chắc cho sự hòa hợp hòa giải dân tộc mà họ, với tư cách là nhà cầm quyền của toàn bộ nước Việt Nam thống nhất, có trách nhiệm phải thực hiện. Họ không biết rằng các giá trị mà họ cố tình đánh cho chết đó là các giá trị sống của xã hội văn minh hiện đại.

Cho nên, tới ngày họ tưng bừng kĩ niệm 40 năm ngày họ chiến thắng, đất nước vẫn chia rẽ tột cùng, thù hận trong lòng dân tộc còn cao hơn những ngày đất nước chưa hòa bình. Việt Nam càng lún sâu vào hố thẳm của suy thoái về kinh tế và giá trị sống nếu so với những ngày đất nước chưa phát khởi cuộc chiến Chống Mỹ Cứu Nước. Và nguy cơ lọt vào vòng nô thuộc thảm khốc của nước Tàu ngàn năm nuôi dã tâm xâm lược là vô cùng nguy cấp.

Trước các hiện trạng của đất nước như vậy, nhiều thành phần dân chúng thấy rõ muốn đất nước thoát khỏi bế tắc phải tạo sự đồng tâm của đa số dân chúng. Đó cũng là một cách nói cho sự hòa hợp hòa giải của dân tộc. Một dân tộc mà trong đó các thành phần bình đẳng với nhau, cùng là những người chủ đất nước, có giá trị, quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau, và cùng góp sức chung tay xây dựng tương lai của Tổ Quốc chung.

Ngày 30/4 lần thứ 40 sau năm 1975 vẫn thấy hình ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập xuát hiện khắp nơi. Vẫn nghe vang dội điệp khúc mừng chiến thắng át tình tự dân tộc sum vầy, vẫn thấy đảng CSVN quyết tâm lãnh đạo toàn diện thay cho các bước tiến về hướng dân chủ tự do, vẫn thấy truyền hình chiếu các thước phim hừng hừng căm thù đế quốc Mỹ mà không nhắc gì tới Trung Quốc đang xâm lăng tổ quốc với chiến tranh biên giới, chiếm cứ biển đảo và xây dựng các căn cứ quân sự uy hiếp Việt Nam…

40 năm xưa, không có được tấm ảnh đẹp đã đành. 40 năm sau, sao vẫn tự hào với tấm ảnh không đẹp của ngày xưa?

40 năm xưa, không cảm nhận được tình đồng bào đang vui mừng vì cuộc chiến nồi da xáo thịt vừa chấm dứt, đã đành. 40 năm sau, sao vẫn không cảm nhận được hiện trạng suy thoái nhiều mặt của đất nước trong không khí hận thù, đàn áp, mặc cảm, khinh bỉ, bất hợp tác với nhau trong lòng dân tộc Việt Nam?

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Leave a comment

Ngày đầu tiên trên chặng đường 10 năm

Ngày đầu tiên trên chặng đường 10 năm

Thái Văn Cầu Chuyên gia Khoa học Không gian, Hoa Kỳ

  • 29 tháng 4 2015

BBC

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu 40 năm ngày chấm dứt chiến tranh Việt Nam, thống nhất đất nước, từ Lũng Cú, Hà Giang đến mũi Cà Mau.

Trong hơn một tháng qua, có nhiều bài viết, bài phỏng vấn, từ nhiều phía, về sự kiện này. Có bài so sánh Việt Nam với Đức hay với Triều Tiên, nước đã hay đang bị chia cắt, so sánh Việt Nam Cộng hoà với Hàn Quốc, Singapore, Thailand, nước có nền kinh tế tương đương nhau, trong cuối thập niên 1960-đầu thập niên 1970. Có bài trở lại đề tài ý nghĩa của ngày 30 tháng 4: “giải phóng” hay “quốc hận”?

Mục đích của bài này là nhằm nhận định khó khăn, thử thách của Việt Nam, và đóng góp ý kiến vào một quá trình cần thiết để vượt qua.

Con người

Do con người thuộc vốn quý nhất của một nước, không thể không xét khác biệt trong cái giá cho sự thống nhất giữa Đức và Việt Nam: gần 1.500 mạng người Đức, hơn 2.000.000 mạng người Việt Nam. Sau khi thống nhất, không như ở Đức, hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức Việt Nam Cộng hoà, bao gồm hàng chục ngàn chuyên gia, bị tập trung vào trại học tập cải tạo hay bị sa thải; hàng chục ngàn người chết trong trại học tập. Do chính sách đối xử phân biệt, khoảng 2.000.000 người Việt Nam phải rời nước, đi định cư ở nước khác; khoảng 200.000 người chết khi vượt biên.

Do không có hệ thống tam quyền phân lập, quyền làm người liên tục bị vi phạm, bất chấp quy định trong cam kết quốc tế và trong Hiến pháp Việt Nam. Trong 3 năm gần đây, có 260 người chết khi bị công an tạm giữ; chưa tới 20 trường hợp làm người chết được đưa ra luật pháp xét xử.

Giáo dục

Đối diện với nền giáo dục hình thức, lạc hậu, yếu kém, hàng trăm hội nghị, hội thảo về cải cách giáo dục không tìm được lối ra vì cốt lõi của vấn đề bị né tránh: giáo dục là nhằm đào tạo những thế hệ có tư duy độc lập, trên cơ sở tôn trọng sự thật, tôn trọng phản biện; giáo dục là để phục vụ con người, không phục vụ một tầng lớp, một hệ tư tưởng nào. Ở thời điểm năm 2013, Việt Nam có 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ trong dân số 90 triệu người, tỉ lệ tiến sĩ, thạc sĩ cao nhất khu vực Đông Nam Á, nhưng có con số nghiên cứu khoa học công bố trên tập san quốc tế thấp nhất khu vực.

Kinh tế

Sau 40 năm hoà bình, sau 20 năm bình thường hoá quan hệ với Mỹ, nước có nền kinh tế và công nghiệp hàng đầu thế giới, kinh tế Việt Nam còn bấp bênh, công nghiệp phát triển kém cỏi. Trong giai đoạn 2001-2014, nợ công tăng từ 12% đến trên 65% GDP, quá ngưỡng an toàn, trong khi năng suất lao động giảm từ 4,1% xuống 3,2%, thấp nhất khu vực; trong giai đoạn 2008-2011, chênh lệch giàu nghèo tăng từ 8,9 lần đến 9,2 lần; trong giai đoạn 2012-2014, theo báo cáo quốc tế, chỉ số tham nhũng tăng từ 116/177 đến 119/175.

Đạo đức-văn hoá

Nền giáo dục không lành mạnh, hệ thống luật pháp không nghiêm minh, dẫn đến một xã hội băng hoại, suy đồi. Một lãnh đạo Việt Nam, ông Mai Chí Thọ, năm 2000, bày tỏ buồn đau trước mức độ tội ác trong xã hội; ông cho rằng “me Tây”, “me Mỹ” trước 1975 vẫn biết xem nặng giá trị đạo lý hơn một số người sau 1975. Với tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên tăng nhanh, riêng năm 2014, Việt Nam có 150.000 trường hợp nạo phá thai ở tuổi vị thành niên, cao nhất khu vực.

An ninh quốc phòng – Biển Đông

Không phải “thực dân Pháp”, “đế quốc Mỹ”, mà Trung Quốc là nước, trong 60 năm nay, chiếm giữ một phần lãnh thổ Việt Nam ở biên giới cực Bắc, ở Hoàng Sa-Trường Sa.

Từ năm 2000, hàng năm Trung Quốc ngang nhiên cấm đánh cá ba tháng trong vùng biển Việt Nam; Trung Quốc đang tích cực xây dựng cấu trúc quân sự, đảo nhân tạo ở Hoàng Sa-Truờng Sa, làm bàn đạp tấn công Việt Nam khi cần thiết. Sự thiếu quyết tâm của Việt Nam trong sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc khiến Trung Quốc không ngừng leo thang hoạt động phi pháp và khiến khả năng chiếm giữ tạm thời thành chiếm giữ vĩnh viễn của Trung Quốc ở Hoàng Sa-Trường Sa gia tăng.

Trong hơn 20 năm, FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam chỉ chiếm 1,5% tổng vốn FDI nhưng Trung Quốc nắm 90% tổng thầu EPC ở những công trình trọng yếu như điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất, v.v. Do cam kết trong Thông cáo chung Việt-Trung năm 2001, Việt Nam cho khai thác bauxite ở Tây Nguyên, bất chấp hiểm nguy cho an ninh quốc phòng, môi sinh môi trường, v.v., bất chấp phản đối của chuyên gia, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người có liên hệ với nghiên cứu khai thác bauxite trong thập niên 1980.

Nan đề của dân tộc và vai trò của tuổi trẻ

Việt Nam đang đối diện với khó khăn, thử thách chưa từng thấy trong lịch sử?

Thực trạng và trường hợp điển hình đề cập ở trên cho thấy, ở thời điểm 40 năm thống nhất đất nước, Việt Nam đang đối diện với khó khăn, thử thách chưa từng thấy trong lịch sử. Để khắc phục cần công sức và trí tuệ của toàn dân.

Trong 40 năm nay, mọi quyết định về chính sách, quốc sách cho Việt Nam, nằm trong tay một thiểu số lãnh đạo, không đến từ chọn lựa của công dân, thông qua bầu cử tự do và công bằng. Thực trạng hiện có là hệ quả tất yếu của lãnh đạo chủ trương đặt quyền lợi phe nhóm lên trên quyền lợi đất nước. Sự sinh tồn của dân tộc không cho phép thực trạng này kéo dài lâu hơn nữa.

Tuổi trẻ là người lãnh đạo tương lai của đất nước. Họ có đặc tính mà những lớp tuổi khác khó thể sánh bằng: năng lực, nhiệt tình và sáng tạo. Đồng thời, tuổi trẻ sẽ là người gánh chịu toàn bộ hậu quả, một khi họ thụ động, tiêu cực, theo chủ nghĩa “mặc kệ nó”, trước mọi nan đề hôm nay.

Trong khi thử thách, khó khăn là nhiều, thuận lợi dành cho tuổi trẻ không ít. Việt Nam là nước trẻ, với hơn 60% dân số sinh sau 1975. Trong cách mạng thông tin, thống kê năm 2014 cho thấy khoảng 75% thành phần trẻ sử dụng internet mỗi ngày. Đặc tính riêng và thông tin đa chiều tạo thêm sức mạnh cho tuổi trẻ.

Đây là chặng đường mà tuổi trẻ mạnh dạn phát huy vai trò tiên phong của mình, kết hợp sử dụng phương tiện tiên tiến trong thời đại tin học, với quyết tâm thúc đẩy thay đổi tận gốc rễ.

Trong hơn một tháng qua, có rất nhiều bài viết về cuộc chiến tranh tàn khốc giữa những người chung giòng máu, về những biến chuyển từ 1975. Bên cạnh lắng nghe, tôn trọng suy nghĩ, ý kiến của người khác, tuổi trẻ Việt Nam nên hướng về phía trước, xác định ngày 30 tháng 4 năm 2015 là ngày đầu tiên trên chặng đường 10 năm.

Đây là chặng đường mà tuổi trẻ mạnh dạn phát huy vai trò tiên phong của mình, kết hợp sử dụng phương tiện tiên tiến trong thời đại tin học, với quyết tâm thúc đẩy thay đổi tận gốc rễ. Tuổi trẻ cùng các thế hệ khác, trong và ngoài chính quyền, trong và ngoài đảng, giành lại quyền làm chủ, quyền quyết định vận mệnh đất nước, quyền chọn lựa lãnh đạo có tâm, có tầm, đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, thông qua bầu cử tự do và công bằng, kiên quyết thực hiện những quyền tự do như báo chí, đi lại, hội họp, phát biểu, v.v., quy định trong Hiến pháp và trong cam kết quốc tế.

Chặng đường 10 năm tới dứt khoát không là sự lập lại giai đoạn tệ hại nào trong 40 năm qua. Chặng đường 10 năm tới là quá trình nhận thức rõ bạn và thù của đất nước, nhận thức rõ không gông cùm vô hình hay nỗi sợ hãi nào ngăn được bước chân của tuổi trẻ Việt Nam.

Nó phải là chặng đường mà ở đích đến, thời điểm 50 năm thống nhất đất nước, Việt Nam là của 90 triệu người, của toàn dân tộc, như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, năm 2007, nói, “Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả”.

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Leave a comment

Lễ tưởng niệm các binh sĩ Mỹ và Đồng Minh hy sinh ở Việt Nam

Lễ tưởng niệm các binh sĩ Mỹ và Đồng Minh hy sinh ở Việt Nam

Nguyễn Khanh, RFA
2015-04-30

Tường trình lễ tưởng niệm binh sĩ Mỹ và Đồng minh hy sinh ở Việt Nam Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

tuong-niem-622.jpg

Lễ tưởng nhớ những chiến binh hy sinh ở chiến trường Việt Nam ở thủ đô Washington DC hôm 30/4/2015.

RFA

Your browser does not support the audio element.

Nhân dịp tưởng niệm ngày 30 tháng Tư năm nay, một trong những sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại là tổ chức buổi lễ tưởng nhớ những chiến binh Mỹ hy sinh ở chiến trường Việt Nam. Từ địa điểm buổi lễ ở thủ đô Washington.

Hy sinh cho tự do

Trước lễ đài, mọi người bùi ngùi nhớ đến 58,000 binh sĩ Hoa Kỳ hy sinh ở chiến trường Việt Nam, những người đã chiến đấu và hy sinh cho lý tưởng tự do.

Phần lớn những người nằm xuống là những thanh niên rất trẻ, trong đó có những người mới tốt nghiệp trung học, cũng có người vừa học xong đại học, cũng có người mới lập gia đình, và cũng có người nằm xuống mà không nhìn thấy mặt của đứa con đầu lòng.

Trưởng Ban tổ chức, Cô Nguyễn Thị Ngọc Giao cho biết:

“Buổi lễ ngày hôm nay là để tưởng niệm 40 năm ngày 30/04/1095, là ngày chúng ta – những người miền Nam Việt Nam bị mất nước vào tay cộng sản. Cho đến ngày hôm nay vẫn còn rất nhiều người tại Việt Nam phải chịu đau khổ dưới chế độ cộng sản.

Nhưng hôm nay tại Tượng đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở Washington DC chúng ta tỏ lòng cảm ơn những người đã hy sinh trong chiến tranh Việt Nam.

Ngoài các chiến sĩ Hoa Kỳ, chúng ta còn trân trọng vinh danh và ghi ơn các chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa và tất cả các chiến sĩ Đồng Minh. Điều này một lần nữa muốn nói rõ rằng chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến giữa những người Việt với cộng sản.

Và chúng ta hôm nay đứng đây cám ơn các chiến sĩ Hoa Kỳ và Đồng Minh đã chiến đấu cùng với chúng ta; trong khi đó cuộc chiến chống lại cộng sản tại Việt Nam vẫn còn đang tiếp diễn.

Với chiếc ba lô đeo sau lưng và khẩu súng cầm trong tay, họ bước lên máy bay rời nước Mỹ để đến một vùng đất thật xa lạ mang tên Việt Nam, vùng đất mà có lẽ hầu hết đều không biết nằm ở vị trí nào trên bản đồ thế giới.

Vì lý tưởng bảo vệ tự do, họ chấp nhận rời mái nhà thân yêu, giã từ người thân, để đi đến vùng đất xa lạ đó, hãnh diện cầm súng chiến đấu với những người không nói chung ngôn ngữ, không cùng một màu da với họ.

Ông Cựu quân nhân Mỹ tên Grant McLure kể lại câu chuyện này với Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do chúng tôi:

Tôi là Grant McLure, trưởng toán liên lạc với quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Làm việc trong nhóm chúng tôi có những người Việt Nam. Nhóm gồm cả cố vấn quân sự lẫn dân dự, chẳng hạn như tôi làm việc với toán quân y phục vụ ở Ban Mê Thuột từ 1969 đến 1971. Hôm nay chúng tôi có mặt ở đây để bày tỏ lòng kính trọng với những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa mà chúng tôi đã có dịp làm việc chung trong thời chiến tranh”.

Những kỷ niệm chiến trường

tuong-niem-400.jpg

Các cựu binh tham dự Lễ tưởng nhớ những chiến binh hy sinh ở chiến trường Việt Nam ở thủ đô Washington DC hôm 30/4/2015. RFA PHOTO.

Nhiều mẩu chuyện ngắn ngủi khác cũng được nhiều người kể lại khi nói về người bạn đồng minh của mình 40 năm trước đây. Có người nhắc lại lần đầu tiên đi hành quân chung với anh lính Mỹ, có người nhắc lại chuyến trực thăng đổ quân xuống giữa rừng già do một anh phi công Mỹ cầm lái, cũng có người nhắc lại chuyện từng cầm máy truyền tin gọi cho đơn vị pháo binh Hoa Kỳ để nhờ bắn yểm trợ.

Nhưng quan trọng nhất, điều mà những người Việt có mặt trong buổi lễ tưởng niệm muốn nói đến vẫn là tình đồng đội giữa người lính Việt Nam Cộng Hòa và người lính Mỹ.

Riêng với ông Trần Ngọc Huế, kỷ niệm mà ông bao giờ quên là những ngày sát cánh cùng các người bạn đồng minh trong trận chiến kéo dài nhiều ngày để lấy lại thành phố Huế:

“Tôi muốn kể lại một kỷ niệm mà tôi với người cố vấn Mỹ của tôi hồi tôi chỉ hy Đại đội Hắc Báo trong trận Mậu Thân để đánh tan sự chiếm đóng của quân cộng sản tại thành phố Huế.

Tuần đầu tiên thì chúng tôi, Đại đội Hắc Báo, không có cố vấn vì cố vấn trưởng của tôi lúc đó phải chống cự với sự tấn công của quan cộng sản tại căn cứ ở phía Nam Sông Hương. 10 ngày sau thì ông cố vấn này đã qua với chúng tôi; và lúc đó chúng tôi rất vui mừng là đã có một người bạn đồng minh ở bên cạnh hổ trợ để cùng nhau chia sẻ những gánh nặng như là tải thương, như là yêu cầu những phi pháo của phía Mỹ.

Chúng tôi rất là cám ơn những người đồng minh đó từ phía Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ và Sư đoàn 101 Nhảy dù của Mỹ đã cùng các quân binh chủng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã lấy lại Thành Huế sau 26 ngày đêm bị quân cộng sản vây hãm, đem lại sự thanh bình cho người dân Huế cho đến năm 1975.”

Bùi ngùi, xúc động

Không ai bảo ai, trong nhìn ánh mắt của những người tham dự, mọi người dường như muốn nói lên rằng điều đau buồn nhất là cuộc chiến Việt Nam đã không được quyết định ở chiến trường, mà lại được quyết định ở chính trường Washington.

Những ánh mắt đó như thầm bảo không chỉ người lính của quân đội miền Nam mà ngay chính những người lính Mỹ đã phải chiến đấu, chấp nhận mọi gian khổ, kể cả chấp nhận hy sinh chính thân xác của chính mình, cũng không được quyền chiến thắng.

Vì thế, ánh mắt của những người Việt có mặt trong buổi lễ tưởng niệm như thầm bảo với những người bạn Mỹ đã nằm xuống cho lý tưởng tự do rằng: chúng tôi không bao giờ quên những gì bạn đã làm cho đất nước chúng tôi, và xin hứa với các bạn rằng con đường chúng ta đã đi dù còn dài đến đâu đi chăng nữa, nhưng cuối cùng, chắc chắn chúng tôi sẽ đi cho đến đích.

Buổi lễ không chỉ là dịp để Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại cám ơn sự hy sinh cao cả của những người bạn đồng minh Hoa Kỳ, mà cũng là dịp để một số binh sĩ Mỹ gặp nhau, nhắc lại đoạn đường chiến đấu mà họ đã trải qua, đặc biệt với toán binh sĩ của Đại Đội C, Trung Đội 3, Tiểu đoàn 1/9 Thủy Quân Lục Chiến, ngày 30 tháng Tư năm nay là dịp để họ nhắc lại cũng ngày này 40 năm trước đây, họ chính là toán binh sĩ Mỹ cuối cùng lên chiếc trực thăng cất cánh từ Tòa Đại Sứ Mỹ:

“Chúng tôi thuộc toán binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến cuối cùng được đưa vào Saigon hôm 25 tháng Tư 1975, giữ trách nhiệm bảo vệ an ninh cho Tòa Đại Sứ Mỹ. Anh em chúng tôi hãnh diện đã làm tròn trách nhiệm cho tới phút chót, đồng thời cũng hãnh diện đá giúp di tản được một số người ra khỏi Việt nam vào giờ chót”.

Một cựu quân nhân trong toán là ông Carl Stroud còn cho chúng tôi xem hình chụp 2 lá cờ, một Mỹ, một Việt Nam Cồng Hòa, mà ông mang ra được từ Tòa Đại Sứ. Hai lá cờ này hiện đang được giữ ở Viện Bảo Tàng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Cũng cần nói thêm là ngoài 58,000 binh sĩ Mỹ hy sinh ở chiến trường Việt Nam còn có gần 2,000 binh sĩ nằm trong danh sách mất tích.

40 năm sau ngày cuộc chiến kết thúc, các toán tìm kiếm mới thu nhặt được hơn 700 thi hài, và không thể biết đến bao giờ mới tìm được hài cốt của những người lính cuối cùng, để đưa họ về an nghỉ ở nơi mà họ đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành, trước ngày họ rời quê nhà để lên đường sang Việt Nam chiến đấu.

(Nguyễn Khanh, tường trình từ Washington).

Posted in Tin Cộng Đồng | Leave a comment

Cựu binh Nga kể chuyện bắn máy bay Mỹ

Cựu binh Nga kể chuyện bắn máy bay Mỹ

Georgy Yefremov

Ông Georgy Yefremov nói chuyện với BBC tiếng Nga

Các chuyên gia quân sự Nga đóng góp vai trò đáng kể giúp tăng cường sức mạnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến Việt Nam.

Theo một thống kê của Liên Xô, từ 1965 đến 1974 đã có “6.359 sĩ quan, tướng lĩnh và hơn 4.500 binh sĩ, hạ sĩ quan các lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia chiến đấu tại Việt Nam”.

Đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam (1975-2015), ban tiếng Nga của BBC đã phỏng vấn một người Nga phục vụ tại Việt Nam từ 1966 đến 1967.

Theo đại tá về hưu Georgy Yefremov, sứ vụ của đoàn Liên Xô đến Việt Nam là bí mật. Vì vậy ngày nay ông không được chính quyền Nga cấp cho chứng nhận “cựu chiến binh tham gia chiến tranh”, vốn dành cho những người trở về từ chiến trận.

Georgy Yefremov, có mặt tại Việt Nam từ 1966 đến 1967:

Tháng 12 năm 1965, tôi được cử đi Việt Nam cùng 200 chuyên gia.

Khi đến nơi, chúng tôi ở trong rừng, đào tạo bộ đội Việt Nam trong ba tháng để điều khiển hệ thống hỏa tiễn đối không S-75.

Sau đó chúng tôi chuyển ra vị trí phòng không, cách Hà Nội 30 cây số. Vào tháng Sáu 1966, mưa nhiều lắm, không làm gì được, nên phải 10 ngày sau chúng tôi mới bắt đầu chiến đấu.

Chúng tôi có mặt ở đoàn Cao xạ Tam Đảo. Máy bay Mỹ bắt đầu xuất hiện và đánh bom Hà Nội.

Sư đoàn S-75 của chúng tôi có 32 tên lửa đối không. Khi chúng tôi vào vị trí, ba máy bay Mỹ quần thảo trên đầu. Chúng tôi bắn rơi một máy bay, nó phát nổ cách chúng tôi 400 mét.

Tay phi công Mỹ đi ra, làm bị thương hai chiến sĩ Việt Nam. Họ đánh gục hắn, và cho vào trại giam ở Hà Nội.

Sau mỗi phiên chiến đấu, chúng tôi phải thay đổi vị trí vì vào hôm sau, người Mỹ sẽ bay đến và đánh bom chỗ cũ.

Ông Georgy Yefremov và một sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1966

Không lâu sau, chúng tôi chuyển vào vùng núi gần Thái Lan. Tại đó, chúng tôi bắn rơi hai máy bay “Con ma” F-4 của Mỹ.

Chúng tôi trông thấy bốn phi công Mỹ bị bắn rơi, và định đánh chúng. Nhưng chúng tôi không được phép tiếp xúc với người Mỹ. Chỉ có người Việt được phép thôi.

Chúng tôi có nguyên tắc: nếu các học viên người Việt chiến đấu thành công ba lần, thì chúng tôi tin tưởng cho họ điều khiển thiết bị.

Sau khi bộ đội Việt Nam hoàn tất kỳ thi, chúng tôi điều khiển tên lửa chiến đấu trong ba lần để họ xem, rồi đổi cho họ. Khi họ đã bắn được máy bay, chúng tôi chuyển sang vai trò chuyên gia mà thôi.

Chúng tôi đóng vai trò quan trọng. Đằng sau hậu trường, người ta bảo các đơn vị tên lửa của chúng tôi đã bắn rơi khoảng 6000 máy bay, mặc dù chính thức thì họ chỉ nói là 1.500 thôi.

Người ta chỉ gọi đây là hỗ trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở Liên Xô thời đó, và cả Nga bây giờ, người ta không gọi là chiến tranh.

Tôi đã tới kho lưu trữ của Bộ Quốc phòng vì tôi muốn có chứng nhận “Cựu chiến binh tham gia chiến tranh”. Nhưng họ bảo, “Ông đâu có tham gia đánh nhau.” Chính thức thì chả có ghi chép ở đâu cả. Chỉ là “hỗ trợ” thôi.

Khi đi Việt Nam, chúng tôi được trả tiền khá lắm. Vợ tôi sống ở thành phố Bryansk vì tôi thuộc trung đoàn Bryansk. Bà ấy được nhận 220 rúp, còn khi ở Việt Nam, tôi nhận 470 rúp.

Khi đi Việt Nam, tôi mới là đại úy. Khi về, tôi được đưa về trụ sở đơn vị phòng không của Moscow.

Khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đọc tin trên báo chí Liên Xô. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là tôi đã giúp cho việc thống nhất Việt Nam, có đóng góp của tôi.

Việt Nam vẫn là đất nước thân thiện. Từ ngày đó, tôi đã đến sứ quán Việt Nam 48 lần cho dịp chiêu đãi, nơi tôi gặp lại một số đồng chí.

Nhờ chúng tôi giúp đỡ, Sài Gòn đã thống nhất với Hà Nội, miền Nam thống nhất với miền Bắc. Liên Xô đã cứu Việt Nam, và ngày nay, Việt Nam đang phát triển, thậm chí còn hơn cả Nga.

Posted in Tin Việt Nam | Leave a comment

Luật sư Lê Công Định nói về ngày 30 tháng 4

Luật sư Lê Công Định nói về ngày 30 tháng 4

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-04-29

Luật sư Lê Công Định nói về ngày 30 tháng 4 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg10174163.jpg

Luật sư Lê Công Định phát biểu trong một cuộc phỏng vấn với AFP tại nhà riêng ở thành phố Hồ Chí Minh hôm 10/4/2015.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Trong chuyên đề Ký ức 40 năm hôm nay Mặc Lâm có cuộc trao đổi với Luật sư Lê Công Định, nguyên Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư Sài Gòn, một trí thức từng có nhiều bài viết cổ súy cho dân chủ tại Việt Nam. Ông là con của một gia đình cách mạng sinh trưởng và lớn lên tại Sài Gòn nhưng có cái nhìn khác về ngày 30 tháng 4 năm 75. Luật sư Lê Công Định từng bị tù hơn 4 năm về tội tuyên truyền chống phá cách mạng và đây là lần phỏng vấn đầu tiên ông dành cho RFA sau khi ra khỏi trại giam vào ngày 06 tháng 2 năm 2013. Trước nhất LS Định nói về ký ức ngày 30 tháng 4 của mình khi ấy ông vừa 7 tuổi:

Tôi còn đọng lại trong ký ức của mình hình ảnh ngày 30 tháng 4 năm 75. Thực ra lúc đó tôi mới 7 tuổi thôi, trước ngày đó thì chúng tôi vẫn đến trường đều đặn. Những cuộc di tản trên đường phố cũng như tại Tòa đại sứ Mỹ lúc đó bắt đầu có những người chạy vào leo lên trực thăng, tôi thấy những hình ảnh đó khi đi ngang qua và nó vẫn còn đọng lại trong ký ức của tôi về cuộc chiến tranh.

Cái ngày 30 tháng 4 đó tôi và những trẻ con trong khu phố mình ở đã ra đường để xem mặt đoàn quân giải phóng như thế nào và sau dó thì xem TV thì thấy Ủy ban Quân quản họ tổ chức những buổi meeting đưa hình ảnh ông Hồ Chí Minh cũng như đưa những lá cờ đỏ sao vàng và cờ của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam. Lúc đó tôi rất ngạc nhiên và hỏi ba tôi ông đó là ai, ba tôi trả lời đó là ông Hồ.

Sau đó khi lớn lên thì tôi bắt đầu hiểu rõ hơn về cuộc chiến tranh, tất nhiên đã bị giảng dạy một cách lệch lạc theo cái nhìn của chính quyền chứ không phải theo đúng sự thật lịch sử của nó. Do đó tôi cũng như bao thế hệ trẻ lớn lên trong lòng của chế độ mới này khi học hành chúng tôi bị tiêm nhiễm bởi cái lối truyền đạt có tính cách tuyên truyền nhiều hơn là dạy cho học sinh, sinh viên hiểu được thế nào là lịch sử trong quá khứ.

Ông hối hận tại sao mình lại tham gia xây dựng nên một chính quyền để rồi cuối cùng người dân bình thường lại bị tước đoạt như thế này?
- Luật sư Lê Công Định

Khi vào đại học tôi nhận ra điều đó qua nói chuyện với người thân trong gia đình cũng như bạn bè của tôi, tôi mới bắt đầu tìm hiểu, đọc lại sách. Nhưng sách lúc đó hầu hết do nhà nước xuất bản làm sao mình có thể hiểu được? Vì vậy buộc lòng tôi phải đọc lại những cuốn sách in trước năm 75 của gia đình tôi và đặc biệt của người anh trai tôi. Những cuốn sách đó đã thực sự thay đổi suy nghĩ của tôi, tôi bắt đầu định hình một suy nghĩ mới, nhận thức mới của lịch sử Việt Nam từ những năm 17-18 tuổi. Tôi chỉ muốn nhìn một cách tổng quát đa chiều về lịch sử của đất nước mình.

Mặc Lâm: Thưa LS sau khi ông bị bắt thì báo chí chính thống rộ lên nhận định cho rằng gia đình ông là một gia đình cách mạng và đã được ưu đãi. Trong thời gian sau 30 tháng 4 thì gia đình ông có được ưu đãi như họ nói hay không thưa luật sư?

Luật sư Lê Công Định: Về việc đó thì nó như thế này: Ông nội tôi, bác tôi, ba tôi và thậm chí cô tôi đều đi theo phong trào cộng sản. Giống như những trí thức miền Nam lúc đó họ không thích sự có mặt của quân đội nước ngoài. Sau cuộc chiến tranh chống Pháp kéo dài không ai còn muốn thấy quân đội nước ngoài ở Việt Nam. Gia đình tôi cũng như bao nhiêu người trí thức khác đều lựa chọn cho mình thái độ trung lập đối với chính quyền lúc đó.

Gia đình tôi không may được tiếp cận với những người hoạt động cho phong trào cộng sản cho nên họ bị ảnh hưởng và họ tham gia vào phong trào cộng sản gọi là “cuộc kháng chiến chống Mỹ”.

Gia đình tôi bị ảnh hưởng rất nhiều và ba tôi thậm chí đi tù vì những hoạt động chống lại chính quyền Sài Gòn vào năm 1960 và ông nhận cái án tương đối nặng nề là 5 năm tù. Sau đó khi ra tù ông tiếp tục cuộc sống bình thường của mình nhưng vẫn âm thầm cổ vũ cho phong trào cộng sản. Năm 75 xảy ra sự kiện thống nhất thì ba tôi nghiễm nhiên trở thành một thành viên trong chế độ mới nhưng có nhiều điều sau đó khiến ông bắt đầu nhận thức ra mình đã bị lừa dối như thế nào qua các chính sách mà họ áp dụng cho người miền Nam lúc đó. Thí dụ như là giam cầm những quân nhân và công chức của chế độ Sài Gòn, cải tạo tư sản. Ba tôi đã từng tham gia vào những cuộc gọi là cải tạo tư sản đó và ông nhận ra được bản chất phi nhân của những chính sách như vậy.

Người dân trước năm 75 họ ky cóp tài sản của mình và làm ăn một cách chân chính để sống đời sống giản dị như giới trung lưu thì họ bị chụp cái mũ là tư sản mại bản, bị tước đoạt toàn bộ tài sản và đẩy cả gia đình vào vùng kinh tế mới.

Ba tôi có kể với tôi một sự kiện mà đến bây giờ tôi vẫn nhớ hoài. Ba tôi kể khi đoàn làm việc của ông đến nhà một bà bán tạp hóa người Hoa để kiểm kê và tịch thu tài sản của bà thì buổi sáng bà đó vẫn còn đầu óc minh mẫn, tóc vẫn đen và nói chuyện vẫn đâu ra đó. Bà năn nỉ van xin mong người ta để lại tài sản dù là một phần, nhưng đoàn làm việc theo lệnh trên vẫn lấy toàn bộ tài sản của bà. Bà đã khóc lóc van xin suốt từ sáng đến chiều…ba tôi nói rằng khi nhìn toàn bộ tài sản của mình bị lấy đi hết thì bà đã hóa điên hóa dại, nói năng không còn bình thường nữa và tóc bà trở nên bạc trắng! Ba tôi nhìn hình ảnh đó và ray rứt cả cuộc đời. Ông hối hận tại sao mình lại tham gia xây dựng nên một chính quyền để rồi cuối cùng người dân bình thường lại bị tước đoạt như thế này? Điều đó ba tôi kể cho tất cả các con nghe.

 

Người dân Sài Gòn di tản hôm 30/4/1975. AFP photo

Riêng tôi hình ảnh bà bán tạp hóa người Hoa hóa điên, tóc trở nên bạc trắng ám ảnh và ảnh hưởng đến suy nghĩ của tôi từ nhỏ cho đến tận bây giờ. Gần như trong gia đình tôi có một sự phản tỉnh từ ba tôi cho tới các con.

Nói về mặt lý lịch thì tất nhiên gia đình tôi là một “gia đình cách mạng” lẽ ra cũng nhận những ưu đãi giống như bao nhiêu cán bộ trong hệ thống này, tuy nhiên có một điều xảy ra vào năm 1980 khi mâu thuẫn nội bộ bên trong hàng ngũ cán bộ giữa miền Bắc và miền Nam lúc đó. Ba tôi bị chụp cái mũ làm sai nguyên tắc quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa và ông bị chính đồng đội của mình bắt giam trong 6 tháng trời không qua xét xử và có bất kỳ một bằng chứng nào nên cuối cùng phải thả ba tôi ra và yêu cầu ba tôi làm bản kiểm điểm để quay trở về làm việc.

Ba tôi từ chối, ông nói với họ rằng sự tham gia vào phong trào cộng sản của ông là một bản kiểm điểm quá vĩ đại của cuộc đời ông rồi. Sáu tháng tù mà những người đồng đội bắt giam ông nó cũng là một bản kiểm điểm quá vĩ đại để ông có thể tiếp tục làm một bản kiểm điểm nữa. Ông trở về đời sống dân sự bình thường.

Kể từ đó gia đình tôi đoạn tuyệt với hệ thống chính quyền này và không nhận bất kỳ một sự ưu đãi nào. Tất nhiên khi xét lý lịch bắt giam tôi thì họ vẫn xem gia đình tôi là gia đình có công với cách mạng do vậy khi xuất hiện ở Tòa sơ thẩm tôi có nói một điều như thế này: “ Tôi nghĩ rằng gia đình tôi từ ông tôi cho tới bác, cha, cô tôi đều đi theo cách mạng, tuy nhiên tôi đã đi ngược hoàn toàn với con đường đó” Tôi nói rất rõ ràng nhưng sau đó coi lại trên Youtube thì họ cắt thêm một phần ở một câu khác nhét vào ngay sau cái câu mà tôi vừa nói. Họ bảo tôi đi ngược lại đường lối gia đình, những công lao của gia đình cho nên tôi thấy ân hận.

Tôi nghĩ rằng hòa giải lẽ ra là một vấn đề đương nhiên áp dụng sau khi hết chiến tranh bởi vì cả bên thắng cũng như bên thua cuộc đều là đồng bào trong nước.
- Luật sư Lê Công Định

Tôi thấy buồn cười bởi vì khi nói ra câu đó tôi muốn gửi một thông điệp rất rõ ràng rằng: tuy gia đình tôi đi theo con đường cộng sản góp phần xây dựng nên chế độ này nhưng tôi lớn lên và ý thức rõ việc tôi làm và quyết định đi ngược lại con đường đó.

Mặc Lâm: Quay trở lại câu chuyện 40 năm thì tù nhân côn đảo, tù nhân cải tạo đã trở về nhà nhưng xuất hiện một loạt tù nhân lương tâm mới vẫn còn trong tù, điều này cho quốc tế thấy gì?

Luật sư Lê Công Định: Đối với những tù nhân cải tạo quân nhân của chế độ Sài Gòn ngày xưa chúng ta thấy nó thể hiện rõ một chính sách của chính quyền là trả thù những người từng là đối thủ của mình. Họ không có một sự khoan dung, không có sự hòa giải thật sự cho nên mới thực hiện việc đó.

Còn đối với tù nhân lương tâm bây giờ thì tất cả mọi người đểu đã thấy rằng đây là một chế độ độc tài cho nên người ta chỉ thích nghe những lời êm tai, xuôi theo cách họ nói chứ họ không nghe những ý kiến trái ngược thập chí là đối lập, do đó mới có việc bắt giam tù chính trị và tù nhân lương tâm như tôi chẳng hạn. Bởi vì tôi chỉ đơn giản nói lên tiếng nói của mình nhưng họ lại xem đó là mối đe dọa của thế lực thù địch qua đó quốc tế đã nhận rõ chính sách nhất quán của mọi chế độ cộng sản. Từ Châu Âu, Châu Á và đặc biệt là Hoa Kỳ thấy họ không thay đổi chủ nghĩa độc tài của mình.

Càng ngày chúng ta thấy càng nhiều hơn tù nhân lương tâm bị bắt nó thể hiện mối sợ hãi ám ảnh đầu óc của người lãnh đạo. Họ luôn luôn sợ quyền lực của họ bị mất do sự ảnh hưởng của người trí thức, bất đồng chính kiến hôm nay và cách duy nhất là họ đàn áp, tù đày. Cách tốt nhất dập tắt tiếng nói đối lập.

Mặc Lâm: Ngày 30 tháng 4 là ngày thống nhất đất nước nhưng 40 năm sau hai chữ “thống nhất” vẫn còn khá mơ hồ về sự hòa giải. Theo luật sư ai là người phải tỏ thiện chí một cách nghiêm túc trước? Bên thắng hay bên thua cuộc?

Luật sư Lê Công Định: Tôi nghĩ rằng hòa giải lẽ ra là một vấn đề đương nhiên áp dụng sau khi hết chiến tranh bởi vì cả bên thắng cũng như bên thua cuộc đều là đồng bào trong nước. Họ đâu phải là hai chủng tộc khác nhau, hai kẻ thù một bên là ngoại xâm còn một bên là người bị xâm lược vậy thì việc gì phải tiếp tục hận thù và chia rẽ?

Chưa bao giờ muộn cho vấn đề hòa giải cả kể cả bây giờ 40 năm sau, không ai còn tin vào chính sách hòa giải của nhà cầm quyền nữa. Nhưng nếu bây giờ nhà nước Việt Nam thật tâm muốn thực hiện chính sách hòa giải thì họ nên làm bằng thực chất chứ không phải làm qua lời nói.

Ở đây không phải là sự hòa giải giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc vì 40 năm đã qua nên gác lại chuyện đó đi. Bây giờ điều quan trọng hơn là hòa giải giữa người cộng sản và người không cộng sản. Ngay những người như tôi lớn lên trong chế độ mới, học hành mưu sinh trong chế độ này. Bản thân tôi, cuộc đời tôi chả liên quan gì tới chế độ Việt nam Cộng hòa cả vậy thì tôi không cần sự hòa giải của bên thua cuộc và bên thắng cuộc. Cái tôi cần là sự hòa giải giữa người cộng sản và người không cộng sản.

Mặc Lâm: Xin cám ơn luật sư Lê Công Định.

Posted in Tin Cộng Đồng, Tin Việt Nam | Leave a comment

Nỗi ám ảnh lý lịch

Nỗi ám ảnh lý lịch

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-04-29

Nỗi ám ảnh lý lịch

h1133-600.jpg

Panô tuyên truyền cho ngày 30 tháng 4 tại Sài Gòn hôm 11/4/2015

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Dựa trên nguyên tắc đấu tranh giai cấp, các chế độ cộng sản triệt để áp dụng nguyên tắc đào tạo và tuyển dụng một người dựa trên lý lịch của người đó.

Điều này cũng được triệt để áp dụng tại miền Nam Việt Nam sau năm 1975, ít nhất cho đến giai đoạn Việt Nam cải cách kinh tế vào năm 1986. Sau đây là một vài ghi nhận về chính sách này của nhà cầm quyền Việt Nam trong việc tuyển sinh đại học sau khi chiến tranh kết thúc, cũng như câu chuyện của một số nhân chứng. Bài do Kính Hòa trình bày.

Mười bốn loại lý lịch

Ông Nguyễn Đình Nguyên hiện là một chuyên gia về bệnh loãng xương tại Australia, đã từng học đại học tại Việt Nam vào những năm 1980 nhớ lại:

Trước khi bước vào kỳ thi đại học thì chúng tôi phải bước qua một kỳ khai lý lịch. Nếu tôi nhớ không lầm thì lý lịch của chúng tôi được xếp từ 1 cho đến 13. Chúng tôi cũng có nghe tới 14 nhưng tôi chưa thấy bạn nào bị như vậy. Tôi được xếp hạng thứ thứ 11 tức là gia đình (mà họ gọi là) ngụy quân, ngụy quyền ở cấp bậc nhỏ. Loại 12 thì họ gọi là có nợ máu với nhân dân, tức là đi quân đội và dường như là xếp từ thiếu úy trở lên. Loại 13 là những sĩ quan cao cấp, hay là sĩ quan công giáo, tôi cũng không biết tại sao.”

Không phải ai cũng biết là mình bị xếp loại lý lịch như thế nào như ông Nguyễn Đình Nguyên. Ông Nguyễn Thanh Liêm thi đại học vào năm 1978 nói:

Thưa anh bản thân tôi không biết họ sắp xếp như thế nào, bởi vì tất cả đều diễn ra ngầm, không có một chủ trương, một chính sách nào đưa ra rằng con cái của những người thuộc chế độ cũ bị đối xử không giống như những người khác.”

” …tôi không biết họ sắp xếp như thế nào, bởi vì tất cả đều diễn ra ngầm, không có một chủ trương, một chính sách nào đưa ra rằng con cái của những người thuộc chế độ cũ bị đối xử không giống như những người khác.
- Ông Nguyễn Thanh Liêm”

Trong thời gian từ năm 1975 cho đến khi Việt Nam thực hiện việc cải cách kinh tế vào năm 1986, hồ sơ dự thi đại học của tất cả học sinh được nộp lên một cơ quan gọi là Ban tuyển sinh tỉnh hay thành phố. Nhưng theo một chuyên viên xin được gấu tên hiện làm trong ngành giáo dục tại Việt Nam, thì cơ quan này chỉ là nơi làm công việc hành chánh của Bộ giáo dục. Theo chuyên gia này thì nơi quyết định số phận của các thí sinh là chính quyền địa phương. Ông nói về những người có lý lịch được xếp vào loại xấu

Người ta đã xếp loại trước và người ta đã chuyển cái loại lý lịch đó cho các Ủy ban quân quản, hay ủy ban nhân dân từ cấp phường trở lên. Nghĩa là đối với số đó thì anh có thi, có đậu đại học, thì cái giấy đậu đại học cũng không tới được gia đình anh. Như vậy người dân bình thường người ta không biết đâu. Hay bên ngành giáo dục, người ta chỉ chấm thi thôi, còn chuyện em đó tại sao đậu mà không đi học thì theo kinh nghiệm 40 năm làm trong ngành giáo dục thì tôi biết là bên ngành giáo dục không có quyền biết cái đấy.”

Với hệ thống phân loại đến 14 cấp lý lịch như vậy, trình độ của các sinh viên trúng tuyển rất chênh lệch nhau. Ông Nguyễn Đình Nguyên cho biết là vào năm 1984, điểm của cấp lý lịch thứ 11 như ông vào Đại học Tây Nguyên là 15/30, nhưng trong lớp có cả những bạn học chỉ đạt có 3 điểm.

Không những bị hạn chế ở cánh cửa bước vào đại học, các sinh viên có lý lịch gọi là xấu cũng sẽ không được đi nước ngoài để du học. Ông Nguyễn Đình Nguyên nói:

Chúng tôi không có cơ hội nào để đi du học nước ngoài ở loại lý lịch 11, chúng tôi chỉ có đậu và trượt, dù ở số điểm rất cao chứ không có cơ hội nào xuất ngoại để du học cả.”

Tương lai không ở Việt Nam

Con cái của những người có quan hệ với chế độ Việt Nam cộng hòa phải đạt được điểm số rất cao để vào đại học, hơn nữa họ còn phải tránh những trường được coi là có giá vào những năm ấy, ví dụ như các trường Y khoa, Dược khoa, Bách khoa.

Cha ông Nguyễn Thanh Liêm là cựu Thiếu tá quân đội Việt Nam cộng hòa bị đi tù 15 năm sau năm 1975. Ông Liêm vẫn cố gắng vào được đại học, nhưng bỏ dở giữa chừng để vượt biên ra nước ngoài. Ông giải thích lý do của quyết định đó:

Gia đình thấy rằng không có một tương lai nào để đi lên. Sống thì lúc nào cũng sợ bị bắt bớ, bị đưa đi kinh tế mới. Gia đình quyết định là chỉ có con đường vượt biên đi ra nước ngoài thì mới có tương lai hơn. Gia đình sắp xếp đi vì không tin là có thể sống trong một chế độ như vậy.”

Người chuyên viên giấu tên trong ngành giáo dục mà chúng tôi tiếp chuyện cũng đồng ý điều đó. Ông cho biết thêm:

Vượt biên là cái lối thoát của những người không đậu đại học mặt dầu họ đủ điểm hay là thừa điểm để vào đại học. Về mặt công bằng tôi cho là một chuyện oan trái, tôi dùng chữ oan trái này là đúng đó vì anh em tụi tôi cũng buồn là vì nếu những người đó cũng được vào đại học, thì về mặt khoa học, về mặt cống hiến có khi họ tốt hơn những người như bọn tôi, vì đầu óc họ rất tốt.”

” Mình thấy đơn giản là cái quyền của con người, quyền được đi học, được làm việc, nó bị xâm phạm một cách ngu xuẫn và tàn nhẫn quá. Tôi không muốn cho con tôi ở vào trường hợp đó nữa.
- Ông Lê Dũng “

Ông Nguyễn Thanh Liêm và gia đình sang được đến Mỹ. Ông Liêm hiện là kỹ sư điện làm việc trong nhà máy bảo trì các loại máy bay chiến lược của Mỹ tại tiểu bang Oklahoma.

Đối với những người được chấp nhận vào đại học trong những năm 1970, 1980, con đường tương lai khó khăn của họ chưa chấm dứt, vì họ vẫn phải mang một lý lịch gọi là xấu sau khi ra trường. Ông Lê Dũng hiện sống tại Austin, Texas kể lại:

Sau 30/4 thì tôi vào lớp bảy. Thật sự thì từ lớp bảy đến lớp 12 tôi không thấy áp lực lắm. Cái thứ hai nữa là mình bị tẩy não rằng nhà mình là có tội với nhân dân, thành ra cho sống là may lắm rồi, không cảm thấy phàn nàn gì cả. Được đi học là mừng lắm. Áp lực sau khi được đi học nó qua đi. Đến khi ra trường thì nó quay trở lại. Khi lang thang thì mấy người bạn trước khóa, bên đại học bách khoa hay kinh tế, người ta biết mình người ta kéo qua, nhưng ai cũng ngại khi thấy cái lý lịch của mình.”

Cha ông Lê Dũng là một Thiếu Úy Tâm lý chiến trong binh chủng nhảy dù của quân lực Việt Nam cộng hòa. Ông bị đi tù năm 1975 và mất trong tù 3 năm sau đó trong một cái chết mà nhiều người trong gia đình cho là khuất tất.

Ông Lê Dũng cũng là thí sinh đạt điểm cao thứ nhì trong kỳ thi tuyển vào Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1981. Sau khi ra trường ông làm nghề dạy kèm trong hai năm, rồi sau đó được một nhóm đầu tư người Việt tại Đức tuyển vào làm việc trong một nhà máy in hiện đại vào năm 1988, là thời điểm mà Việt Nam bắt đầu mở cửa cải cách kinh tế. Nhưng ngay trong cả thời kỳ đó, người có lý lịch như ông Dũng nếu muốn đi nước ngoài phải được sự chấp thuận của Ban tổ chức thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.

Trong một lần dự hội nghị về Toán và Vật lý lý thuyết tại thành phố Trieste ở Ý, ông được một Giáo sư thu xếp cho một học bổng tại Mỹ. Sau khi hoàn tất việc học tại Mỹ, ông quyết định ở lại. Ông giải thích quyết định này.

Tôi nghĩ rằng bố tôi chiến đấu cho một cái mà ông tin vào đó thì ông không có tội. Người ta tin vào những điều khác nhau, cho nên ông không có tội. Giả sử bố tôi có tội đi nữa thì mắc mớ gì đến tôi. Mình thấy đơn giản là cái quyền của con người, quyền được đi học, được làm việc, nó bị xâm phạm một cách ngu xuẩn và tàn nhẫn quá. Tôi không muốn cho con tôi ở vào trường hợp đó nữa.”

Ông Lê Dũng hiện là Tiến sĩ Toán và dạy tại Đại học Texas ở Austin. Kết thúc buổi nói chuyện với chúng tôi ông nói rằng việc phân biệt lý lịch của những người cộng sản đã làm cho họ không thể có được những nguồn lực mới, và sẽ dẫn đến kết quả giống như một sự suy thoái về di truyền.

Ông Nguyễn Thanh Liêm nhắc lại chuyện lúc cha ông đi tù vì là sĩ quan quân đội Việt Nam cộng hòa nhưng ông vẫn được chính quyền địa phương tại Sài gòn cho đi học, từ đó ông nói rằng ông vẫn hy vọng là trong hàng ngũ cán bộ cộng sản vẫn còn có những người mà ông gọi là tốt.

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Leave a comment

Nghệ An: Xây đập tốn 17 tỷ đồng, chưa bàn giao đã hỏng

Nghệ An: Xây đập tốn 17 tỷ đồng, chưa bàn giao đã hỏng

Nguoi-viet.com

NGHỆ AN (NV) - Dự án sửa chữa đập Kí Rượu vừa hoàn thành. Song, điều đáng nói là chưa nhận bàn giao thì đã xuất hiện nhiều hư hỏng, do xây không đúng thiết kế, thiếu hạng mục.

Theo dân Trí, dự án sửa chữa, nâng cấp đập Kí Rượu tại xã Lăng Thành, huyện Yên Thành, có tổng vốn hơn 17 tỷ đồng, do huyện Yên Thành làm chủ đầu tư, khởi công từ tháng 10, 2012, do công ty xây dựng Tây An, thành phố Vinh thi công. Sau khi hoàn thành, đập Kí Rượu sẽ cung cấp nước tưới cho khoảng 950 hecta đất trồng lúa ở xã Lăng Thành và các vùng phụ cận.


Tràn xả lũ bị thi công thiếu 5m so với thiết kế ban đầu. (Hình: Dân Trí)

Dự án sửa chữa đập Kí Rượu vừa hoàn thành. Song, điều đáng nói là chưa nhận bàn giao thì đã xuất hiện nhiều hư hỏng, do xây không đúng thiết kế, thiếu hạng mục.

Tuy nhiên, ngay sau khi đập hoàn thành, tại nhiều vị trí trên công trình đã xuất hiện tình trạng hư hỏng nghiêm trọng.

“Ðập chưa tích nước mà đã hư hỏng như vậy, không biết đến mùa mưa bão sẽ ra sao nữa. Chúng tôi là những hộ dân sống ngay dưới khu vực hạ lưu của con đập vô cùng lo lắng cho chính tính mạng của mình,” ông Hưng, một người dân sống dưới con đập tỏ ra lo lắng.

Trao đổi với Dân Trí, ông Lê Văn Tuấn, giám đốc ban quản lý các dự án xây dựng huyện Yên Thành cho biết: “Sau khi nhà thầu làm xong, trong lúc nghiệm thu chúng tôi đã phát hiện chất lượng công trình không ổn, một số hạng mục bị thiếu như phần mái thượng lưu và hạ lưu tích nước, chất lượng dầm khung, bê tông không đạt tiêu chuẩn… Phần tràn xả lũ cũng bị thiếu đi 5m so với thiết kế ban đầu…,” ông Tuấn nói.

Tin cho biết, điều đáng nói trong quá trình nhà thầu thi công suốt hơn 2 năm, công trình chậm tiến độ 15 tháng so với dự kiến ban đầu, nhưng đơn vị giám sát, chủ đầu tư không phát hiện ra những sai sót trên khiến chất lượng công trình bị ảnh hưởng.

Dư luận chung cho rằng,việc nhà thầu tự thay đổi thiết kế, tự tung tự tác trong suốt quá trình thi công bớt xén một số hạng mục để trục lợi đã “qua mặt” được đơn vị quản lý. Hay chính sự lỏng lẻo, thiếu quan tâm của chủ đầu tư, huyện Yên Thành nên mới dẫn đến sự việc trên? (Tr.N)

Posted in Tin Cộng Đồng, Tin Việt Nam | Leave a comment

Voi Bà Trưng cưỡi đi ‘diễu binh’ thời XHCN là ‘thùng rác’

Voi Bà Trưng cưỡi đi ‘diễu binh’ thời XHCN là ‘thùng rác’

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) .- Hai con voi giả để chị em Hai Bà Trưng cưỡi trong dịp nhà cầm quyền Việt Nam tổ chức “diễu binh mừng chiến thắng 30-4” tại Sài Gòn đang làm giới sử dụng mạng xã hội bình luận rôm rả.

Voi Bà Trưng cưỡi trong cuộc tập dượt “diễu binh” 30-4 “mừng chiến thắng” của CSVN là “thùng rác” có 4 bánh xe. (Hình: Facebook).

Tấm hình được phổ biến khá rộng rãi trên các mạng xã hội và Facebook mấy ngày nay trong số các hình chụp cảnh diễn tập. Không rõ là bà Trưng Trắc hay bà Trưng Nhị cưỡi trên con voi giả trong tấm hình này. Chỉ thấy cái đầu và cái vòi là giống đầu và ngà voi nhưng nhiều phần là giấy bồi hay giấy nhựa phết trên một cái khung gì đó. Phần còn lại, bốn chân voi không thấy, đúng ra 4 chân voi là 4 bánh xe. Thân voi thì cũng không thấy còn Bà Trưng ngồi trên cái ghế gần phía đuôi.

Nói tóm lại, voi bà Trưng cưỡi tham dự “diễu binh mừng chiến thắng 30-4” là con voi giả từ đầu tới chân. Có người tố cáo rằng con voi giả đưa Bà Trưng đi “diễu binh” là cái thùng rác của đội quân thu gom rác trong thành phố.

“Cái thùng rác này chắc made in China!”, một người bình luận.

“Bánh xe made in China chắc luôn”. Một người khác tên Tuan Phung viết.

“Phá hết rừng, thì về chặt cây ở Hà Nội. Voi giết hết rồi, giờ dùng voi bằng thùng rác. Bôi bác hết chỗ nói. Chẳng biết đây là sáng kiến của thằng mẹ rượt nào.” Một người bình luận trên Facebook.

“Kỷ lục thế giới”. Facebooker tên Vũ Xuân Phong viết.

“Là con người phải biết đúng sai, chẳng hiểu bọn công an có óc không hay trong hộp sọ toàn bã đậu? Chúng làm theo lệnh một cách ngu xuẩn và bất nhân.” Facebooker tên Van Son viết.

“Hồi trước 2 Bà dùng voi thật đâu có thắng được Mã Viện. Nếu 2 Bà dùng voi giả như bây giờ thì may ra Mã Viện lăn ra chết vì cười.” Một người bút danh Nam-Ky Nguyen bình luận.

“Cỡi voi thế nầy thì làm sao quýnh giặc …đúng là con cháu trọng Lú”. Giac Huynh viết.

Người ta không rõ cuộc “diễu binh” nói trên tốn kém bao nhiêu ngàn tỉ đồng vì không thấy nêu ra con số khi “Ban tổ chức cấp quốc gia kỷ niệm các ngày lễ lớn” mở “họp báo quốc tế” ở Sài Gòn ngày 13 tháng 4, 2015 loan báo về “hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước”.

Theo sự loan báo, khoảng 6,000 người gồm đủ mọi thành phần được huy động tập dượt cho buổi “mít-tinh, diễu binh, diễn hành” ngày 30 tháng 4 từ quân đội cho đến công an, sinh viên học sinh và các đoàn thể ngoại vi của đảng CSVN. Địa điểm là trục đường Lê Duẩn, tức đường Thống Nhất cũ, phía trước dinh Độc lập và Nhà Thờ Đức Bà tại Sài Gòn.

Những ngày qua, có rất nhiều lời kêu ca vì nạn cấm đường kẹt xe gây ra bởi các cuộc tập dượt diễn hành liên tục rất nhiều tuyến đường quanh địa điểm tổ chức lễ.

Cứ mỗi năm đến dịp 30-4, nhà cầm quyền CSVN cho guồng máy tuyên truyền đăng tải những bài viết ca ngợi chiến thắng, bôi bác quân dân miền Nam, tiếp tục khoét sâu thêm mãi hố chia rẽ lòng người. Luật hình sự CSVN điều 87 trừng phạt kẻ nào “phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc…” thì bị phạt tù nhẹ từ 2 năm, nặng đến 15 năm tù.

Ngồi trong cuộc họp báo với một số quan chức khác, ông Huỳnh Vĩnh Ái, Thứ trưởng Bộ Văn Hóa- Thế Thao- Du Lịch CSVN nói rằng “Tinh thần của chính phủ là tổ chức trang trọng nhưng tiết kiệm”. Có thể vì chủ trương như thế nên Bà Trưng ngồi trên thùng rác tham dự “diễu binh, diễn hành” mừng chiến thắng.

Tin cập nhật: Trong cuộc ‘diễu binh mừng chiến thắng’ vào sáng 30 tháng Tư hai con voi giả này đã không xuất hiện, mà theo dư luận là bởi bị dân tình ‘chửi’ trong suốt mấy ngày qua. (TN)

Posted in Tin Việt Nam | Leave a comment

40 Năm vươn lên từ nước mắt

40 Năm vươn lên từ nước mắt

Nguoi-viet.com

WESTMINSTER (NV) – Đó là tựa đề bộ phim do Trần Nhật Phong, một ký giả ở miền Nam California, tổng hợp và thực hiện. Phim do ABNC LLC sản xuất và được trình chiếu trên các hệ thống truyền thông của người Việt hải ngoại.

Bấm vào để xem phim

Bộ phim dài hơn 95 phút ghi lại hành trình 40 năm của cộng đồng người Viêt hải ngoại, vươn lên từ nước mắt, vươn lên từ khổ đau, vươn lên từ mất mát.

40 năm trước họ rời Việt Nam bằng hay bàn tay trắng, và rồi 40 năm sau vươn lên bằng chính khát vọng của mình.

Từ những bãi đất trống, vườn dâu, vườn cam bãi rác, họ xây dựng thành những khu thương mại sầm uất, những ngôi chùa nguy nga, những nhà thờ tráng lệ.

40 năm hình thành một xã hội cộng đồng trong xã hội rộng lớn của Hoa kỳ, họ vẫn không ngừng tranh đấu, không ngừng làm việc, để thế hệ sau có thể hãnh diện rằng, ông cha họ đã có công xây dựng mảnh đất ly hương trở thành vùng đất hứa, vùng đất mà họ khẳng định là “quê hương”. (KN)

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

Kim Jong-un ‘tử hình nhiều người’

Kim Jong-un ‘tử hình nhiều người’

Lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong-un đã ra lệnh hành quyết 15 người trong năm nay, gồm cả quan chức cao cấp, theo tình báo Hàn Quốc.

Tình báo Hàn Quốc nói với quốc hội hôm thứ Tư rằng họ bị xử bắn vì tội danh làm gián điệp.

Trong đó có hai thứ trưởng và thành viên của một dàn nhạc.

Ông Kim từng hành quyết người chú năm 2013.

Phóng viên BBC Stephen Evans tại Seoul nói: “Nếu quả thực 15 quan chức cao cấp đã bị tử hình trong bốn tháng của năm nay, tức là một người mỗi tuần, nó chứng tỏ chính thể đang cứng rắn hơn.”

Tình báo Hàn Quốc nói bốn thành viên của Dàn nhạc Unhasu cũng đã bị tử hình hồi tháng Ba.

Có tin nói vợ của ông Kim, Ri Sol-ju, từng là ca sĩ tại đây trước khi kết hôn.

Không có xác nhận từ Bắc Hàn về những tin tức này.

Năm 2013, ông Kim cho tử hình người chú Chang Song-thaek cùng một nhóm quan chức thân cận của ông này.

Posted in Tin Thế Giới | Leave a comment