Đại Sứ Phạm Duy Khiêm với chuyện Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế

Đại Sứ Phạm Duy Khiêm

với chuyện Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế

Đoàn Thanh Liêm

Tôi chưa bao giờ được gặp nhà giáo nhà văn Phạm Duy Khiêm (1908 – 1974), mà sau này vào năm 1954 – 55 ông đã làm Đại sứ của Việt nam tại Pháp. Từ lâu, tôi được nghe đến danh tiếng ông Khiêm là người Việt nam đầu tiên có văn bằng Thạc sĩ chuyên về bộ môn Văn phạm tiếng Pháp, mà có người gọi là “Trạng Mẹo” ( Mẹo = Văn phạm). Ông nổi tiếng là người có tài viết văn bằng tiếng Pháp rất trôi chảy và ông chỉ cộng tác với học giả Trần Trọng Kim trong việc biên sọan cuốn Văn phạm Việt nam – đó là cuốn sách duy nhất ông viết bằng tiếng Việt.

Hồi còn theo học ở bậc trung học tại Hanoi trước năm 1954, thì tôi có được đọc cuốn “Légendes des Terres Sereines” (Những Truyền thuyết từ Miền Đất Thanh Bình) của ông Khiêm viết từ năm 1941 và mới được tái bản ở Pháp vào năm 1951 – 52. Sách kể lại các chuyện cổ tích như Trầu cau, Thiếu phụ Nam Xương, Trương Chi & Mỵ Nương v.v… bằng một giọng văn mạch lạc, đơn sơ trong sáng – thật dễ hiểu và lôi cuốn cho lớp học sinh chúng tôi thời đó. So sánh với hai tác giả người Việt cũng viết bằng tiếng Pháp hồi trước năm 1945 là quý ông Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Tiến Lãng, thì lối viết của ông Khiêm hấp dẫn đối với chúng tôi hơn nhiều.

Vào cuối năm 1974, tại Saigon chúng tôi được nghe là Thạc sĩ Phạm Duy Khiêm đã tự sát và từ giã cõi đời ở bên Pháp. Báo chí hồi đó có đưa ra nhiều chi tiết về sự việc xung quanh biến cố này, nhưng lâu ngày rồi tôi cũng không còn nhớ rõ về câu chuyện đó nữa. Vào năm 2004, nhân dịp kỷ niệm năm thứ 30 kể từ ngày ông qua đời, tạp chí Thế kỷ XXI ở California có cho đăng một số bài do nhiều tác giả viết về nhà văn Phạm Duy Khiêm, trong đó có cả bài của nhạc sĩ Phạm Duy là bào đệ của ông. Và qua internet, ta cũng có thể đọc được nhiều bài viết về ông nữa.

Nhưng tôi đặc biệt chú ý đến chứng từ của giáo sư Raymond Aron (1905 – 1983) là một vị đại sư nổi danh ở Pháp viết trong cuốn Hồi ký nguyên tác bằng tiếng Pháp với nhan đề là : “ Mémoires : 50 ans de Réflexion Politique” xuất bản năm 1983 và bản dịch sang Anh ngữ với lời nói đầu của Henry Kissinger được xuất bản năm 1990 tại Mỹ. Hiện trong tay tôi, thì chỉ có bản dịch Anh ngữ này. Vì thế, tôi xin trình ra đây phóng ảnh của trang bìa và của một đọan trong trang 392 của bản tiếng Anh này với nhan đề như sau :

* Raymond Aron : Memoirs – Fifty Years of Political Reflection *

do nhà xuất bản Holmes & Meier ấn hành năm 1990 tại New York & London.

Giáo sư Aron viết trong đọan văn nói trên như sau : “ Thật ra, cuộc tấn công dịp Tết (Mậu Thân) là một sự thất bại về phía Việt cộng. Chẳng có nơi nào mà dân chúng lại hưởng ứng đi theo “ những chiến sĩ tự do” (Nowhere did the population join the “freedom fighters”). Những người chiến sĩ đó đã phạm vào những hành động không thể tha thứ được. Họ bắt buộc các nạn nhân phải đào những con hố mà họ đảy hàng trăm những viên chức và người có tên tuổi của kinh đô Huế để chôn vùi vào trong đó. Bạn của tôi, Phạm Duy Khiêm vốn là vị Đại sứ của miền Nam tại Paris vào năm 1954, thì có phổ biến thông qua thông tấn AFP vào ngày 13 tháng Tư năm 1968 một bản tường trình đày vẻ phẫn nộ (an indignant report) về cung cách đối xử của Việt cộng trong những vùng mà họ kiểm sóat được trong một số ngày.”Những vị trí thức đó đã không hề ngó ngàng gì đến số phận của những viên chức bình thường, những nhân viên vô tội của chính quyền và gia đình của họ, những quân nhân đang nghỉ phép, những linh mục công giáo người Pháp, những giáo sư người Đức cùng với vợ của họ đều bị chôn sống (vào khỏang 300 người), hay bị giết sau khi bị cắt chân tay và bị tra tấn đủ kiểu ( vào khỏang 700 người), đôi khi còn bị trói chung với nhau bằng giây kẽm gai nữa.” Bản tường trình này đã bị rơi vào sự dửng dưng và quên lãng…”

(Ghi chú : Lúc đó thì tại Stockholm thủ đô của Thụy Điển đang có một thứ Tòa án có tên là Bertrand Russell Tribunal để tố cáo “tội ác của Mỹ trong chiến tranh Việt nam “. Và phong trào phản chiến đang rầm rộ sôi nổi ở Mỹ cũng như ở Tây Âu nữa. Nên Đại sứ Khiêm mới phải đề cập đến “những nhà trí thức đó” với một sự phẫn nộ.)

Nếu ta để ý đến sự kiện là chỉ vào cuối tháng Hai năm 1968, thì quân đội Việt cộng mới bị đánh bật ra khỏi cố đô Huế và chỉ sau đó ít lâu thì các thông tin về cuộc Thảm sát kinh hòang hồi Tết Mậu thân mới được đưa ra một cách rõ ràng chính xác. Và như giáo sư Aron thuật lại ở trên là vào ngày 13 tháng Tư năm 1968, ông Khiêm lúc đó chỉ là một công dân bình thường - nhưng vì ý thức được trách nhiệm của một vị thức giả mà ông đã phải công bố ngay tức khắc cho thế giới biết đến vụ tàn sát kinh hòang ở Huế lúc đó.

Sự kiện rõ rệt này tôi chưa thấy có tài liệu nào của người Việt nói đến. Vì thế, tôi xin trích thuật ra đây để trước hết góp phần bổ túc cho “Hồ sơ Thảm sát tại Huế hồi Tết Mậu Thân 1968” có thêm được một chi tiết khả tín nữa. Và sau là để tỏ lòng biết ơn đối với Đại sứ Phạm Duy Khiêm vì sự đóng góp quý giá của ông trong việc lưu ý cho công luận thế giới biết rõ hơn về cái tội ác tầy trời đó của người cộng sản đối với người dân vô tội ở Huế thời đó.

Tôi hy vọng sẽ có nhà nghiên cứu sưu tầm được tòan văn “Bản Tường Trình công bố vào ngày 13 tháng Tư năm 1968 của Đại sứ Khiêm được gửi qua thông tấn AFP của Pháp” như giáo sư Raymond Aron đã trích thuật lại trong cuốn Hồi ký của mình.

Quả thật, trong giới trí thức của chúng ta lúc nào cũng vẫn có những con người có lòng thương cảm và sự ngay thẳng để tố cáo những sự tàn bạo độc ác xảy ra đối với các nạn nhận vô tội là đồng bào ruột thịt của mình – như trường hợp của Đại sứ Phạm Duy Khiêm được ghi lại trong bài này vậy/.

San Clemente California, Mùa Trung Thu Nhâm Thìn 2012

Đoàn Thanh Liêm

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, CHÍNH TRỊ, Tin Việt Nam | Leave a comment

Giới thiệu sách mới (18) : Hành trình của người trí thức dấn thân nhập cuộc

Giới thiệu sách mới (18) :

Hành trình của người trí thức dấn thân nhập cuộc

Bài của Đoàn Thanh Liêm

* * *

Nguyên tác bản tiếng Anh : Thinking the Twentieth Century.

by : Tony Judt with Timothy Snyder (xin lưu ý : Chữ Tony Judt do tác giả Timothy Snyder cố ý ghi bằng chữ lớn hơn hẳn chữ Timothy Snyder là tên của mình – cốt ý đề cao vai trò chính yếu của Tony trong cuốn sách)

Nhà xuất bản The Penguin Press, New York ấn hành năm 2012

Sách dày trên 400 trang với bìa cừng.

www. Penguin.com

* * *

Tony Judt (1948 – 2010) sinh trưởng tại London Anh quốc, là một giáo sư về môn lịch sử và chính trị tại nhiều Đại học danh tiếng ở Âu châu và ở Mỹ. Ông cũng là tác giả hay biên tập của 14 cuốn sách, trong đó có cuốn “Postwar : A History of Europe Since 1945” xuất bản năm 2005 là được giới thức giả quốc tế chú ý và đánh giá cao. Ông còn đóng góp nhiều bài vở cho các tạp chí nổi tiếng như The New York Review of Books, The Times Literary Supplement, The New Republic… Do bị bệnh liệt não (bệnh Lou Gehrig), ông đã sớm từ giã cõi đời tại New York vào năm 2010 lúc mới ở vào tuổi 62.

Nhận thấy bậc đàn anh lâm bệnh ngặt nghèo, nên Timothy Snyder – cũng là một giáo sư trẻ tuổi người Mỹ về môn lịch sử – trong các năm 2009 – 2010 đã đến tư gia của Tony Judt tại New York để trao đổi thảo luận trong nhiều buổi nói chuyện thân mật tay đôi với ông. Và qua việc khai thác các băng ghi âm từ những cuộc đối thọai đó, Timothy đã hòan thành được cuốn sách có nhan đề thật bao quát là : “Thinking the Twentieth Century” - sách này vừa mới cho ra mắt công chúng trong năm 2012. Có thể nói đây vừa là cuốn sách tự truyện của Tony Judt, vừa là một nhận định tổng hợp về sự dấn thân nhập cuộc của giới trí thức tại Âu châu suốt trong thế kỷ XX.

Để thuận tiện cho độc giả theo dõi câu chuyện đối đáp giữa hai vị chuyên gia về sử học tại Âu châu trong thế kỷ XX, người viết xin lần lượt trình bày về tiểu sử các tác giả trước khi đề cập đến những mục đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

I – Tiểu sử các tác giả.

1 – Tony Judt (1948 – 2010)

Xuất thân từ một gia đình có cả cha mẹ đều là di dân người Do Thái gốc gác từ Đông Âu, nên Tony Judt dễ có điều kiện tìm hiểu về những biến chuyển lớn lao tại miền đất xưa kia là quê hương của dòng họ bên nội cũng như bên ngọai của mình. Tony được học ở trường Đại học nổi danh bậc nhất của Anh quốc, đó là trường Cambridge – rồi lại còn được học thêm ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm ở Paris (École Normale Supérieure) là cái nôi sản sinh ra những tinh hoa của nước Pháp. Ông thông thạo nhiều ngọai ngữ như tiếng Pháp, Đức,Tiệp khắc… và được coi là một chuyên gia có thẩm quyền về Lịch sử Giới Trí thức của Pháp thời hiện đại.

Luận văn để thi bằng Tiến sĩ của ông tại Cambridge được xuất bản thành cuốn sách trước tiên bằng tiếng Pháp vào năm 1976 – với nhan đề là “La Reconstruction du Parti Socialiste 1921 – 1926” (Sự Tái Xây dựng Đảng Xã hội (Pháp) 1921 – 1926).

Ông đã giảng dậy nhiều năm về Lịch sử và Chính trị tại các Đại học danh tiếng như Cambridge, Oxford và Berkeley và làm Giám đốc Sáng lập của Viện Erich Maria Remarque tại Đại học New York, Viện này chuyên chú vào công cuộc Trao đổi và Đối thọai giữa Âu châu và Mỹ châu.

Tony Judt cũng là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng, điển hình như :” Past Imperfect : French Intellectuals, 1944 – 1956” (xuất bản năm 1992), “Marxism and the French Left : Studies on Labor and Politics in France 1930 – 1982” (xb 1990), “The Burden of Responsibility : Blum, Camus, Aron and the French Twentieth Century (xb 1998)”, “A Grand Illusion? : An Essay on Europe” (xb 1996). Và đặc biệt cuốn “Postwar : A History of Europe Since 1945” (xb 2005), thì được tạp chí New York Times Book Review xếp lọai là “một trong 10 cuốn sách hay nhất trong năm 2005”.

Ở vào tuổi 16 – 20, Tony đã nhiều lần về Do Thái để tham gia xây dựng kibbutz ở nông thôn và làm cả việc phiên dịch cho các đòan thiện nguyện viên trong cuộc chiến tranh 7 ngày năm 1967. Nhưng sau đó, Tony đã có lập trường khác biệt với chính quyền Do Thái và trở về đi học lại để hòan tất học trình thi Tiến sĩ và bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu và giảng dậy chuyên môn về lịch sử và chính trị cho đến khi lìa đời vào tháng 8 năm 2010 tại New York.

Năm 2003, Tony Judt đưa ra chủ trương “Một quốc gia – hai dân tộc” (A bi-national State) như là giải pháp cho cuộc tranh chấp Do Thái & Palestine – thì gặp phải sự phản ứng gay gắt trong công luận – khiến cho một vài tạp chí phải từ chối sự cộng tác của ông.

Về đời tư của gia đình, thì Tony Judt có hai người vợ trước đều đã ly dị. Sau cùng, ông sống đến cuối đời với bà vợ thứ ba tên là Jennifer Homans và có hai người con trai với bà này được đặt tên là Daniel và Nicolas.

2 – Timothy Snyder (sinh năm 1969)

Sinh trưởng tại Mỹ, Timothy Snyder theo học tại Đại học Brown ở Mỹ và tốt nghiệp văn bằng Tiến sĩ từ Đại học Oxford Anh quốc. Ông còn tham gia nghiên cứu tại Paris, Warsaw, Vienna và Đại học Harvard. Ông chuyên giảng dậy tại Đại học Yale về môn Lịch sử chính trị của Đông Âu hiện đại.

Ông cũng là tác giả của 5 cuốn sách đều được giải thưởng – trong đó cuốn sách nhan đề “Bloodlands : Europe between Hitler and Stalin” (Miền Đất Đẫm Máu) đã trở thành sách bán chạy nhất tại 4 quốc gia và được 10 nhà xuất bản xếp vào lọai sách hay nhất trong năm.

Timothy Snyder là người thông thạo rất nhiều ngôn ngữ Đông Âu, cụ thể như tiếng Nga, Ba Lan, Ukraine, Belorussian, Tiệp khắc và cả tiếng Yiddish của người Do Thái ở Đức và Trung Âu – đó là chưa kể tiếng Pháp và Đức. Sách của ông đã được dịch ra đến 20 ngôn ngữ khác. Chính Tony Judt đã xác nhận trong Lời cuối sách rằng : Với sự thông suốt về lịch sử và văn hóa Đông Âu, thì Timothy Snyder là phần bổ túc thật quý báu cho mình, mặc dầu Timothy trẻ hơn 21 tuổi so với Tony.

Tuy vậy, do sự khiêm tốn, trong cuốn sách này Timothy Snyder đã lọai bỏ bớt đi phần nói về tiểu sử của bản thân mình – cốt ý để cho Tony Judt đóng vai trò chính yếu trong việc hòan thành cuốn sách. Độc giả có thể nhận ra chi tiết đó ngay trên trang bìa sách, thì chữ Tony Judt cũng lớn hơn hẳn chữ Timothy Snyder – ông này tự coi như mình chỉ là ‘một tác giả phụ” của cuốn sách mà thôi.

II – Mấy nét chính yếu của tác phẩm.

1 – Có thể xếp lọai cuốn sách này là Lịch sử Tư tưởng Chính trị và giới Trí thức trong sinh họat chính trị của thế kỷ XX ở Âu châu – đó là một lãnh vực mà cả hai tác giả đều đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm. Vì thế mà có ấn bản lại ghi thêm một nhan đề phụ nữa là : “ Giới Trí thức và Chính trị” (Intellectuals and Politics) để bạn đọc chú ý hơn đến nội dung của sách. Phần Tự thuật của riêng Tony Judt có tác dụng minh họa cho những nghiên cứu cũng như về sự gặp gỡ trao đổi của ông với nhiều vị thức giả có tên tuổi trong giới học thuật đặc biệt xuất thân từ Đông Âu.

Cuốn sách được thành hình qua nhiều cuộc trao đổi đối thọai giữa hai vị giáo sư chuyên về môn lịch sử ở Âu châu thời cận đại – nên có tính chất linh họat của lối văn nói hơn là văn viết.

2 – Về mặt bố cục, sách được chia thành 9 chương với Lời Nói đầu của Timothy Snyder và Lời Nói cuối của Tony Judt do ông này viết tại New York vào ngày 5 tháng Bảy năm 2010 – chỉ mấy tuần trước ngày ông từ giã cõi đời vào tháng 8 năm 2010. Mỗi chương đều có nhan đề riêng biệt, điển hình như sau :

ñ Chương 3 : Familial Socialism : Political Marxist

ñ Chương 5 : Paris, California : French Intellectual.

ñ Chương 6 : Generation of Understanding : East European Liberal

ñ Chương 7 : Unities and Fragments : European Historian

ñ Chương 9 : The Banality of Good : Social Democrat.

Phần cuối sách còn có 6 trang kê khai rất nhiều tác phẩm được hai tác giả đề cập thảo luận tới trong các cuộc đối thọai. Cuốn sách thật hấp dẫn lôi cuốn đối với người đọc – vì trong nội dung mỗi đề tài thảo luận giữa hai tác giả, thì đều ghi xen lẫn cả nhiều chi tiết về quá trình sinh sống, gặp gỡ quen biết với các chuyên gia đày tài năng khác và cả sự miệt mài say sưa trong công việc nghiên cứu không biết mệt mỏi – đó là tính chất đặc trưng của Tony Judt.

3 – Vì chủ đề của những cuộc trao đổi thảo luận quá rộng rãi – bao quát nhiều khía cạnh của lịch sử tư tưởng và sinh họat chính trị tại Âu châu suốt trong thế kỷ XX, nên việc tóm lược cho thỏa đáng về những điểm cốt lõi của cuốn sách là một công việc hết sức khó khăn – nhất là lại phải gói gọn trong một bài giới thiệu không thể kéo dài quá 3,000 chữ như thường lệ. Do vậy, tôi chỉ xin nêu ra vài ba khía cạnh đặc trưng đáng chú ý nhất trong tác phẩm – đặc biệt đối với số người Việt vốn từng quen theo dõi tình hình sinh họat chính trị tại nước Pháp. Đó là nội dung được trình bày trong phần III sau đây.

III – Những khía cạnh đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

1 – Cách tiếp cận của người vừa ở trong cuộc, vừa ở ngòai cuộc. (Insiders/Outsiders Approach)

Như tác giả Timothy Snyder đã ghi trong Lời nói đầu, Tony Judt vừa là người trong cuộc, vì ông dấn thân họat động cụ thể trong một số lãnh vực như một người trí thức nhập cuộc (intellectuel engagé) – mà ông cũng còn là người ngọai cuộc, vì ông chủ trương theo đuổi cái viễn kiến rộng rãi hơn, thông thóang hơn của một nhà nghiên cứu lịch sử vốn đòi hỏi một tinh thần bao quát khách quan hơn. Điều này khác biệt với phong cách của một nhà viết tiểu luận (essayist) vì ông này cần bày tỏ lập trường nhận định của mình với sự xác tín và nhiệt huyết của cá nhân mình trong bài viết – mà không bó buộc phải cân nhắc đắn đo với những đối chiếu thận trong của một nhà viết sử.

Cụ thể là Tony lúc ở tuổi 16 – 20, thì đã từng về bên nước Do Thái để tham gia xây dựng tại các kibbutz. Nhưng sau này Tony lại có ý kiến khác hẳn với chủ trương của nhà đương quyền ở xứ này. Cũng vậy, Tony theo truyền thống Marxist trong gia đình, nhưng khi trưởng thành chín chắn, thì lại theo đường hướng Xã hội Dân chủ mà ông coi là nhân bản tốt đẹp hơn hẳn chế độ tàn bạo sắt máu trong hệ thống cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Và nhờ tiếp cận thân thiết với giới trí thức lưu vong từ Đông Âu sau năm 1968, mà Tony có cơ hội thấu hiểu cặn kẽ hơn về cái bối cảnh tòan diện chính trị xã hội và văn hóa của cả hai phía Đông Âu và Tây Âu – điều mà ít có người thức giả thực hiện được.

2 – Nhận định phê phán về Giới Trí thức của nước Pháp.

Là một nhà nghiên cứu lâu năm về tình hình chính trị cận đại của nước Pháp, Tony Judt đã trình bày những nhận xét hết sức rõ rệt sắc nét về giới Trí thức của Pháp trong thế kỷ XX. Tony thẳng thừng phê phán những trí thức thiên tả hàng đầu của Pháp như Jean – Paul Sartre, Maurice Merleau-Ponty, Simone de Beauvoir … là những người cố chấp, thiên vị đến độ mù lòa (blindfully) đồng lõa với chủ trương tàn ác của Staline. Họ coi cách mạng ở Nga năm 1917 là sự tiếp nối của cách mạng Pháp năm 1789. Tony coi họ có tinh thần điạ phương cục bộ, khư khư bám víu vào cái hư danh của truyền thống cũ kỹ cổ xưa của mình (parochial). (Xin đọc chi tiết nơi cuốn “Past Imperfect : French Intellectuals, 1944 – 1956 – xuất bản năm 1992)

Trái lại, Tony Judt lại đề cao những trí thức như Léon Blum, Albert Camus và Raymond Aron là những người đã có sự dũng cảm đi ngược lại cái khuynh hướng thiên tả cố chấp của đa số trí thức đương thời – để nói lên sự cảnh báo trước nguy cơ bành trướng của khối cộng sản Liên Xô kể từ sau năm 1945. Ông đã viết cả một cuốn sách nhỏ xuất bản năm 1998 dưới nhan đề là “The Burden of Responsibility…” đề cập chi tiết hơn về ba nhân vật này.

Trong cuộc đàm đạo với Timothy, thì Tony còn thuật lại vào tháng 2 năm 1948, cựu lãnh đạo Mặt trận Bình Dân ở Pháp năm 1936 (Front Populaire) là chính Léon Blum đã phải viết trong bài xã luận của tờ báo Le Populaire của Đảng Xã hội rằng : Ông nhận sự sai lầm của mình khi tin rằng phe Xã hội có thể hợp tác với phe Cộng sản” (trang 214) .

3 - Về chính sách kinh tế, Tony Judt bênh vực John Maynard Keynes.

Giữa hai quan điểm đối nghịch của John Maynard Keynes là kinh tế gia người Anh giữa thế kỷ XX và của Friedrick Hayek người gốc Áo quốc gần đây, thì Tony Judt có vẻ thiên về tác giả Keynes là người cổ võ cho chính sáchTòan dụng trong nền Kinh tế Vĩ mô (Full Employment in Macro-economics) – mà ông coi là bổ túc cho khuynh hướng của chủ trương kế họach hóa do Sir William Beveridge đề xuất ở nước Anh. Tony biện minh rằng chủ trương của Keynes có tính cách mềm dẻo linh động, chứ không có sự khe khắt khắc nghiệt làm tê liệt sáng kiến của giới doanh nhân - như Hayek đã nặng nề phê phán, đặc biệt trong tác phẩm nổi danh “The Road to Serfdom” của ông (Con Đường dẫn đến Sự Nô dịch).

Tony coi trọng thành quả của Tây Âu là đã xây dựng vững chắc được các định chế dân chủ và đặt nền móng sâu rộng cho một số quốc gia có nền phúc lợi xã hội khả quan (The Social Welfare State). Đặc biệt là sự thành công của chế độ Dân chủ Xã hội tại các quốc gia ở Bắc Âu châu (Social Democracy).

IV – Để tóm lược lại.

1 – Tuy chủ đề của cuốn sách quá rộng lớn bao quát, nhưng vì nội dung của các buổi thảo luận được trình bày xen kẽ với nhiều chi tiết sinh động về tiểu sử có tính cách tự thuật của Tony Judt, nên người đọc dễ theo dõi câu chuyện với sự thích thú kỳ diệu mà lại nhẹ nhàng. Cả hai tác giả đều là những nhà giáo – nhà nghiên cứu uyên bác và đã từng có những tác phẩm được đánh giá cao trong học giới cũng như trong công chúng độc giả. Vì thế, sự trình bày của họ trong cuốn sách thì rất là phong phú khúc chiết – nó giúp chúng ta có được một cái nhìn tổng hợp về tư tưởng và hành động của giới trì thức tiêu biểu tại Âu châu trong thế kỷ XX. Có thể nói các tác giả đã cung cấp cho người đọc một thứ lộ đồ (a road map) để khám phá cái không gian tư tưởng cực kỳ bao la đa dạng và phức tạp của thế kỷ XX.

2 – Đúng như nhan đề của bài viết, cuốn sách này là một thứ tự thuật của Tony Judt về quá trình nhập cuộc của bản thân mình trong sự tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho xã hội đương thời. Mà đồng thời cũng trình bày những nét chính yếu về vai trò của tòan thể giới trí thức ở Âu châu trong sinh họat chính trị văn hóa suốt thế kỷ XX. Các tác giả đã bày tỏ sự lạc quan và xác tín của mình trước viễn tượng của một nền Dân chủ Xã hội mà các thế hệ trẻ của thế kỷ XXI có thể xây dựng được – sau khi rút kinh nghiệm từ những thất bại của các thế hệ đàn anh của thế kỷ XX.

* * Người viết xin hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn sách rất hấp dẫn lôi cuốn và cũng thật có giá trị vững chắc này vậy./

Costa Mesa California, Tháng 12 năm 2012

Đoàn Thanh Liêm

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Cộng Đồng | Leave a comment

“Ai đến với Ta sẽ không đói khát bao giờ”

“Ai đến với Ta sẽ không đói khát bao giờ”

Tuyết Mai

Chúa Giêsu nói: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ”. (Ga 6, 24-35).

Quả thật Lời của Chúa Giêsu dạy chúng ta không sai bao giờ bởi ngay đời thường của chúng ta đây những bậc làm cha mẹ mà con cái dù có con đàn con đống cỡ nào đi chăng nữa, chúng ta cũng cố gắng mà nai lưng ra để lo cho chúng từng ly từng tý đây thì huống chi Chúa Giêsu Ngài có nề hà bất cứ điều gì nếu chúng ta xin đúng đâu. Như ngay ngày hôm nay đây, cảm tạ Ba Ngôi Thiên Chúa, con gái lớn của chúng tôi sáng sớm ngày đã nhận được cú phôn thật đặc biệt từ một trung tâm y tế rất gần nhà, gọi đến để hẹn ngày đi phỏng vấn nhận việc cho công việc y tá của cháu.

Cháu đã thất nghiệp cũng được 3 tháng nay, gia đình chúng tôi cũng theo kinh tế mà tụt dốc mà phải tằn tiện, liệu cơm gắp mắm, cố gắng để mà đầu không thiếu mà đuôi cũng không hụt. Dầu vậy hằng ngày chúng tôi vẫn luôn cảm tạ Thiên Chúa ban cho chúng tôi luôn an bình, vui vẻ, gia đình đầm ấm và phó thác tất cả cho Chúa quan phòng. Bởi có phải dù chúng ta có tính giỏi đến đâu thì tóc trên đầu cũng bạc trắng nhưng làm sao được tốt lành cho bằng có Thiên Chúa lo liệu, định đoạt và an bài.

Thứ hai này cháu mới bắt đầu nhận việc nhưng chúng tôi trong gia đình đã cảm thấy rất là hạnh phúc là an vui khi Thiên Chúa trên cao đã nhận lời chúng tôi cầu nguyện. Vì có phải Người đã biết rất rõ chúng tôi cần chi và Người đã ban phát cho chúng tôi những gì cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của chúng tôi hay không?. Vâng, tất cả những điều mà Chúa Giêsu dạy chúng ta trong Phúc Âm nhất nhất đều là những lẽ phải, là khuôn vàng thước ngọc.

Chúng ta cần phải tuân theo để được Người nuôi chúng ta luôn mãi. Chúa Giêsu dạy chúng ta tuy dù Ngài luôn ban phát cho chúng ta của ăn để nuôi thân xác nhưng không vì thế mà chúng ta trở nên ươn lười, sống ăn bám như những con đỉa đói, nằm chờ sung rụng hay quen sống lệ thuộc vào người khác, không tự lo cho chính bản thân mình. Chúng tôi thiết nghĩ Chúa Giêsu không dạy chúng ta sống dựa dẫm như thế mà chủ đích của Ngài là muốn cho chúng ta sống một cuộc sống trên trần gian tạm bợ này là phải biết thương yêu nhau như Thiên Chúa thương yêu chúng ta vậy.

Bởi vì Ngài luôn chạnh lòng thương khi biết chúng ta lúc nào bị đói khổ, thiệt thòi, bị áp bức, làm thân nô lệ, thì Ngài sẽ cho chúng ta bánh để nuôi thân và khi chúng ta được no nê thì chúng ta phải có trách nhiệm lo hay quan tâm cho anh chị em có nhu cầu của chúng ta.

Chúa Giêsu đáp: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê. Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi. Người là Đấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu”.

Người dạy chúng ta hãy ra công làm việc cho của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời đó là Chính bản thân của Người. Người là Đấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu. Chúa Giêsu quả là một Thiên Chúa độc nhất vô nhị không một Chúa nào khác trên hoàn cầu có thể nói được với chúng ta như vậy!. Ngài muốn hiến trọn thân mình mà nuôi con cái trần thế của Ngài chính Mình và Máu của Ngài thì là một chuyện liêu trai chí dị hết sức, thưa có phải?.

Lời nói của Ngài quả không ai có thể hiểu được ý nếu không được Ngài mạc khải cho hiểu. Bởi có phải Lời nói của Ngài sau này các tông đồ mới được Chúa Thánh Linh mạc khải cho để mà hiểu, chứ làm sao dân chúng có thể hiểu được ý của Ngài? Cho nên sự đi theo và tin tưởng vào Chúa Giêsu là Con Đường Chân Lý, là khôn ngoan nhất có thể dẫn chúng ta vào sự sống đời sau mà Ba Ngôi Thiên Chúa luôn mong mỏi chúng ta cùng được đến?.

Họ liền thưa rằng: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi bánh đó luôn mãi”. Chúa Giêsu nói: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ”. Lạy Chúa! Chúng con thật may mắn vì chúng con thời nay được học hỏi, được Chúa mạc khải cho hiểu biết Lời của Chúa một cách đúng đắn và tường tận hơn. Để chúng con biết rằng chính tấm thân của Ngài và máu của Ngài đã hằng tuần nuôi dưỡng linh hồn quý báu của chúng con. Để chúng con không còn khờ khạo để tìm kiếm những của ăn hư nát nơi trần gian chóng qua, chóng tàn này mà biết tìm kiếm của ăn trường tồn nơi mà Thiên Chúa hằng chờ đợi chúng con vào những ngày cuối tuần trong Nhà Chúa.

Lạy Chúa! Thời buổi khó khăn, gạo châu củi quế đã làm cho chúng con có cớ nhiều hơn để chúng con tìm kiếm những thứ chóng qua chóng tàn, đã cố tình lánh xa Chúa vì chúng con đã không biết chạy đến Chúa để mà xin. Chúng con kiếm cớ là không có thời giờ để chạy đến Chúa mà cầu nguyện, mà biết kiên nhẫn cho những điều mình xin hay xin đúng với những gì mình cần mà chỉ xin cho đươc trúng số hay những của mà con người tầm thường trần gian luôn say mê và đắm chìm. Trong sự chết dần của linh hồn mà chúng con không một mảy may lo sợ.

Lạy Chúa! Xin cho chúng con luôn sống khôn ngoan theo con cái của Chúa chứ không phải theo sự khôn ngoan của con cái sự dữ. Bởi nếu chúng con được mọi sự thế gian mà mất linh hồn đời đời thì có ích gì, phải không thưa Chúa?. Xin Ba Ngôi Thiên Chúa luôn ngự trị vào trong tâm hồn của chúng con vì Nó là Đền Thờ và Ngai Vàng của Chúa để chúng con được thờ phượng, suy tôn, chúc tụng và vinh danh … Vì chính Mình và Máu của Chúa Giêsu Kitô luôn ngự trị trong thân xác và nuôi dưỡng linh hồn sống đời của chúng con. Amen.

** Xin bấm vào mã số để nghe và hát:

https://www.youtube.com/watch?v=7r2PfC-yoUw
(Mình Máu Thánh Chúa)

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

07-31-2009

Edited 07-28-15

* Bài cũ trong mục “Tìm” tên của tác giả ở trang

VietCatholic News

————————————————

Mình Máu Thánh Chúa

Mình, Máu Thánh Chúa thật ư!?

Là Mầu Nhiệm Tình Yêu từ Ngôi Lời

Ngài thật là Con Chúa Trời

Xuống thế làm người cho đời bớt khổ

Quả trần đời là bể khổ!

Khổ hơn vì lòng người cô đơn luôn

Tìm lạc thú quên linh hồn

Tìm của chóng qua, phiền muộn muôn thuở

Vì loài người hay than thở!

Hãy tìm đến Chúa Ki tô, rất Thánh!

Thịt Ngài nằm trong chiếc bánh

Cùng Máu Ngài chan hòa tan trong rượu

Ôi Mình Máu Chúa kết tựu!

Là Của Ăn, Uống rất ư nhiệm mầu!

Ta hãy dâng Chúa nguyện cầu!

Hồn an xác mạnh toàn cầu Chúa thương

Con dân của Chúa can trường

Trung kiên, trung tín, theo Đường Chúa ta

Đường hẹp là Đường của ta

Ta về Nhà Chúa Nhà Cha trên Trời

Làm người sống ở trên đời

Sống sao biết Chúa biết người biết ta

Ăn ở ngay thẳng thật thà

Đừng mang lòng dạ gian tà quỷ ma

Hãy yêu người như yêu ta!

Mới đẹp lòng Chúa lòng Cha trên Trời

Mới xứng đáng Rước Con Trời

Linh hồn no thỏa một đời sống vui

Linh hồn ơi hãy đẩy lùi!

Những tham, sân, si, chôn vùi đất sâu

Tìm đến Chúa như hoa mầu

Đượm thắm ân tình Ngài sâu thẳm sâu

Ôi lậy Chúa con thật xấu!

Chẳng xứng đáng Rước Chúa đâu, Chúa ơi!

Nhưng xin Chúa đừng chấp tội

Một hãy biến đổi thay đổi tim con

Xin Chúa thay dạ đổi lòng!

Để chúng con được sống trong quỹ đạo

Của Yêu Thương, của Luật Đạo

Của Đường, của Đấng Sáng Tạo chỉ bảo

Xin Mình Máu Chúa tuôn trào!

Luân lưu trong con để tạo mới luôn

Dưỡng nuôi xác cùng linh hồn

Được bình an được mạch sống yêu thương

Xin Mình Máu Chúa rộng thương!

Ban thế giới bớt nhiễu nhương thảm họa

Khắp nơi hát khúc hoan ca

Để Danh Chúa được tụng ca phụng thờ

Con tin Tim Chúa rộng mở

Thương yêu nhân loại không ngờ không nghi

Dù tội thế gian đen xì

Chúa luôn có cách có gì khó đâu!?

Nhiệm Mầu quá! Quả Nhiệm Mầu!

Chúa yêu nhân loại từ lâu từ đầu

Dậy người tin có Đời Sau

Dậy người luôn sống trước sau chí tình

Trước kính Chúa yêu Thánh Kinh

Sau yêu người như yêu mình thì mới

Đẹp lòng Chúa đẹp lòng người

Là Điều Kiện để Cửa Trời rộng mở

Hỡi nhân gian cúi mình thờ!

Xin Chúa chúc lành để giờ Chúa Gọi

Được đi đến Thế Giới Mới

Một Thế Giới Chúa gọi mời để Đến

Một Thế Giới đầy cảm mến

Người người yêu thương cảm mến ngập lòng

Người người hạnh phúc chờ trông

Sống bên Thiên Chúa cõi lòng ngất ngây

Uploaded on YouTube Jul 19, 2011

*** Để cảm tạ, ngợi khen, và tôn vinh Thiên Chúa là Cha chung của tất cả chúng ta, tôi chân thành mời anh chị em hãy dùng những bài hát của tôi để hát, đem đến tận phương trời xa, để làm Sáng Danh Thiên Chúa.

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, LỜI CHỨNG, TÔN GIÁO | Leave a comment

Nhạc Trung Quốc đã vào Bộ Quốc phòng Việt Nam?

Nhạc Trung Quốc đã vào Bộ Quốc phòng Việt Nam?

VOA

Khánh An

Ở phút thứ 4'16

Ở phút thứ 4’16” đến 4’30” khúc nhạc được vang lên khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bước lên bục phát biểu trong chương trình ‘Khát vọng đoàn tụ’ tối 27/7 tại Hà Nội

Hôm 27/7, trong một chương trình nghệ thuật quy tụ các quan chức đứng đầu nhà nước Việt Nam có tên “Khát vọng đoàn tụ”, diễn ra tại Bộ Quốc Phòng, được trực tiếp truyền hình trong nước như một cách giới thiệu sự có mặt của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh sau một thời gian vắng bóng, ngay khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bước lên sân khấu để đọc diễn văn khai mạc thì một đoạn nhạc được phát lên. Đoạn nhạc này ngay sau đó được người dân Việt Nam phát hiện là bài hát “Ca ngợi tổ quốc”, một bài hát được nhiều người xem là “quốc ca thứ hai” của Trung Quốc. Khánh An của đài VOA phỏng vấn ông Phan Tất Thành, một cựu chiến binh đã từng có một thời gian được học tập, nuôi dạy tại Quế Lâm, Trung Quốc, cũng là người đầu tiên phát hiện ra “sự cố” này.

“Khát vọng đoàn tụ” là một chương trình nghệ thuật lớn được tổ chức nhân ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7. Chương trình này càng thu hút sự chú ý của dư luận khi được đồng loạt loan báo trên các kênh truyền thông của nhà nước trước đó với sự xuất hiện trở lại của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, người đột nhiên vắng bóng trong một thời gian khiến gây ra nhiều tin đồn về tình trạng sức khỏe của ông cũng như khả năng ông đã qua đời nhưng không được tiết lộ.

Chương trình quy tụ nhiều quan chức hàng đầu Việt Nam, gồm Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, Phó chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam…và gần 500 đại biểu là lãnh đạo Đảng, Nhà nước và được phát song trực tiếp trên Đài Truyền hình Việt Nam vào tối ngày 27/7. Ngay khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bước lên sân khấu để đọc diễn văn khai mạc thì một đoạn nhạc được phát lên.

Đoạn nhạc này ngay sau đó được người dân Việt Nam phát hiện là bài hát “Ca ngợi tổ quốc”, một bài hát được xem là “quốc ca thứ hai” của Trung Quốc. Bài hát này do ông Vương Tân, người Vô Tích, Giang Tô, Trung Quốc, sáng tác vào tháng 9/1950.

Người đầu tiên được cho là đã phát hiện ra “sự cố” này là ông Phan Tất Thành, một cựu chiến binh đã từng có một thời gian được học tập, nuôi dạy tại Quế Lâm, Trung Quốc. Ông Thành cho biết nguyên nhân ông phát hiện ra vụ việc này.

Posted in Tin Việt Nam | Leave a comment

Nửa trái dưa và bài học về tình vợ chồng

Nửa trái dưa và bài học về tình vợ chồng

Vào buổi trưa một ngày nọ, tôi tan làm trở về nhà, nóng quá đến nỗi đầu chảy đầy mồ hôi, mở tủ lạnh ra xem, không ngờ bên trong có nửa quả dưa hấu mát lạnh, tôi mừng rỡ và vội lấy ra ăn một cách ngon lành.

Đúng lúc này vợ tôi cũng trở về, vừa đi vào cửa nhà cô ấy vừa than thở: “Chết khát mất, nóng chết mất!”, mở tủ lạnh ra, cô ấy ngẩn cả người ra.

Tôi bảo với vợ là miếng dưa hấu đó tôi ăn rồi, nét mặt cô ấy thoáng một chút không vui, vội vã cầm ly đi rót nước uống, vừa nhấc ấm nước lên, bên trong cũng không còn một giọt nào.

Thế là cô ấy đột nhiên phát cáu: “Anh cũng không biết đun lấy một chút nước, về nhà lâu như thế làm gì ?” Tôi cũng giận dữ: “Sao cái gì cũng đều là tại tôi thế?”. Vì chuyện này mà hai chúng tôi chiến tranh lạnh mất một tuần mới hòa giải được.

Thứ bảy, tôi một mình trở về nhà bố mẹ tôi, họ vừa thấy tôi liền hỏi: “Sao một tuần nay bố mẹ không nhìn thấy vợ con rồi?”. Tôi liền đem câu chuyện giận dữ kể cho họ nghe từ đầu đến cuối. Mẹ tôi nghe xong liền trách mắng tôi, làm việc không nên chỉ có nghĩ đến bản thân mình mà không để ý đến người khác.

Tôi không cho là đúng: “Chỉ là ăn hết nửa quả dưa hấu thôi mà, có cái gì ghê gớm đâu.”

Bố tôi vừa cười vừa nói: “Con không cần phải biện bạch cho bản thân nữa, ngày mai là chủ nhật, cả hai đứa cùng tới đây một chuyến.”

Ngày hôm sau, tôi cùng vợ chở con trở lại nhà bố mẹ tôi.

Vừa vào cửa, bố tôi liền sai tôi đi mua dấm chua, đợi đến lúc tôi mua trở về, bố tôi nói vợ tôi đã đưa con ra ngoài rồi, nói xong bố tôi liền bê ra một nửa quả dưa hấu đưa cho tôi rồi nói: “Nhìn con nóng quá đầu chảy đầy mồ hôi rồi, mau ăn miếng dưa hấu giải khát đi.”

Nửa trái dưa hấu cũng chừng bốn năm cân, ông đưa cho tôi một cái thìa: “Ăn không hết thì để phần thừa còn lại cho vợ con về ăn”, tôi cầm lấy cái thìa rồi ăn lấy ăn để, ăn chưa đến một nửa, bụng đã căng lên rồi.

Lúc cả nhà ăn cơm, bố tôi mang ra hai miếng dưa hấu đặt lên bàn rồi nói với tôi: “Con xem xem chúng có gì khác nhau?”

Tôi rất bối rối, cẩn thận nhìn đi nhìn lại, một nửa là tôi vừa mới ăn, một nửa còn lại cũng là đã được ăn, nhìn một lúc lâu, cũng nhìn không ra kết quả gì, đành phải lắc đầu.

Bố tôi chỉ vào miếng dưa hấu nói: “Một nửa này là con ăn, còn nửa kia là vợ con ăn, bố đều nói cho hai đứa là, “nếu như ăn không hết, thì để phần thừa còn lại cho người kia ăn”. Con nhìn vợ con ăn như thế nào? Là dùng thìa xúc từ bên cạnh rồi vào phía bên trong, ăn hết một nửa, nửa còn lại để nguyên không động tới. Nhìn miếng của con xem, bắt đầu xúc từ chính giữa, ăn hết phần thịt ở chính giữa, để phần bên cạnh cho người khác ăn, người nào mà chẳng biết phần thịt ở chính giữa ngọt chứ? Từ việc nhỏ này mà xét thì thấy vợ của con có tấm lòng hơn con nhiều.”

Mặt tôi bỗng nhiên đỏ lên.

Bố tôi nói ý tứ sâu xa: “Cả một đời của hai người, liệu có thể có bao nhiêu việc to tát? Tình cảm vợ chồng thể hiện ở chỗ nào? Là thể hiện ở một giọt dầu, một thìa cơm, một thìa canh trong cuộc sống hàng ngày. Lần trước con vì việc ăn dứa hấu mà cãi nhau với vợ, lại còn bao biện hót như khướu, điều đó rõ ràng là con không đúng. Nếu như đổi lại là vợ con về nhà trước, nhất định nó sẽ để phần cho con một nửa.”

“Đừng xem đây là việc nhỏ, nó có thể phản ánh ra tấm lòng của một người, bên trong miếng dưa chứa đựng một bài học lớn về cách ứng xử trong gia đình, khi trái tim đã nguội lạnh, con phải từng chút từng chút sưởi ấm cho nó, mỗi ngày đều luôn nhớ ủ ấm cho nó. Ngược lại khi trái tim đang ấm áp, con từng muỗng từng muỗng nước lạnh đổ vào nó thì một ngày nào đó nhất định sẽ khiến nó nguội lạnh.”

“Con thử suy ngẫm xem, nếu như vợ con cũng giống như con, làm mọi việc đều không nghĩ đến con nữa, lâu dần, con sẽ thấy thế nào?”

Thực sự là một câu nói thức tỉnh một người trong mộng như tôi, tôi bỗng nhiên phát hiện ra rằng, thường ngày khi trở về nhà, đôi dép được để gọn gàng, nước trà đã để sẵn trên bàn, chiếc ô được để sẵn ngoài cửa ra vào khi trời mưa, đó đều là thể hiện tình cảm yêu thương của vợ tôi, nhưng còn tôi thì sao, lại cứ tùy tiện, coi như không nhìn thấy, không hiểu được những điều đó mà còn suy bụng ta ra bụng người.

Nghĩ ra những điều đó, tôi hổ thẹn vô cùng, tôi vội vàng bưng sủi cảo đã lạnh ra đưa cho vợ: “Cái này không còn nóng nữa rồi, em ăn trước đi!”

Vợ tôi cười: “Anh chỉ giả bộ một chút trước mặt bố mẹ thôi.”

Bố tôi cũng cười: “Có thể hạ quyết tâm đóng giả như thế cả đời thì là người chồng tốt rồi.”

Tình yêu thương phải được thể hiện qua lại giữa đôi bên với nhau, hãy cảm thông với một nửa của bạn, đừng cho rằng mọi chuyện là họ cố tình gây sự với mình, mà hãy suy ngẫm tìm sai sót của bản thân mình.

Hạnh phúc không phải là ở trong một căn nhà lớn bao nhiêu mà là bên trong căn nhà có bao nhiêu tiếng cười hạnh phúc.

Hạnh phúc không phải là lái một chiếc xe rất sang trọng, mà là người lái xe có thể bình an trở về nhà.

Hạnh phúc không phải là yêu một người vô cùng xinh đẹp, mà là yêu một người có vẻ mặt cười sáng láng.

Hạnh phúc không phải là nghe được bao nhiêu lời nói ngọt ngào, mà là lúc tổn thương có thể có người nói với bạn rằng: “Không sao cả, có anh ở đây rồi.”

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Posted in GIA ĐÌNH, Lời Hay Ý Đẹp | Leave a comment

Vụ Phùng Quang Thanh và truyền thông Việt Nam

Vụ Phùng Quang Thanh và truyền thông Việt Nam

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh

Mấy tuần qua, trên các phương tiện truyền thông xã hội, đặc biệt là facebook, tin tức khiến người ta chú ý và bình luận nhiều nhất là về Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng của Việt Nam. Thoạt đầu, có tin ông bị ám sát, sau đó, tin ông chết vì ung thư phổi trong bệnh viện Georges Pompidou của Pháp. Mà không phải chỉ có người Việt Nam. Ngay cả hãng thông tấn Đức Deutsche Press-Agentur (DPA) cũng loan tin ông qua đời. Chính quyền Việt Nam phải lên tiếng cải chính.

Mới đây, báo chí trong nước loan tin ông Phùng Quang Thanh đã bay từ Pháp về Việt Nam với tình trạng sức khoẻ rất tốt. Tuy vậy, tin đồn về cái chết của ông vẫn tiếp tục râm ran trong dư luận. Người ta vạch ra những sự mơ hồ và không đáng tin cậy trong các bản tin đăng trên báo chí Việt Nam: Chỉ có những lời tường thuật chung chung chứ không có một bức ảnh nào của Phùng Quang Thanh cả. Thật ra, cũng có. Có một bức ảnh ông đứng sau chiếc xe Lexus ra phi trường đón. Nhưng trong bức ảnh ấy, hình của Phùng Quang Thanh rất mờ. Người ta nghi ngờ đó không phải là ông.

Thực tình, tôi không quan tâm đến chuyện Phùng Quang Thanh chết hay sống. Ông chết hay sống, tình hình chính trị Việt Nam, đặc biệt trong quan hệ với Trung Quốc, cũng không có gì thay đổi. Người này mất thì người khác lên thế. Chính sách của Việt Nam ít khi lệ thuộc vào một người, ngay cả khi người ấy đang ở một vị thế rất cao là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Điều khiến tôi quan tâm nhiều nhất là vấn đề truyền thông của Việt Nam. Về phương diện này, có mấy vấn đề cần được chú ý:

Thứ nhất, chúng ta thấy rất rõ sự vụng về của giới truyền thông Việt Nam. Trước sự vắng mặt của Phùng Quang Thanh trong các buổi lễ lớn tại Việt Nam và trước sự ngạc nhiên và tò mò của dư luận, người ta hoàn toàn im lặng. Mãi đến khi tin đồn về cái chết của ông lan rộng, người ta mới lên tiếng cải chính. Nhưng sự cải chính cũng không thuyết phục. Ai cũng thấy một điều: Chỉ cần đưa một bức ảnh mới của Phùng Quang Thanh trong bệnh viện, mọi người sẽ an tâm ngay tức khắc. Vậy mà người ta không làm. Ngay cả khi loan tin Phùng Quang Thanh đã về nước, người ta cũng không đăng một bức ảnh nào cụ thể cả khiến dư luận vẫn tiếp tục xôn xao và thắc mắc. Nếu mục tiêu chính của bộ máy truyền thông nhà nước là để tuyên truyền và an dân, trong mấy tuần vừa qua, có thể nói bộ máy ấy hoàn toàn thất bại.

Thứ hai, mặc dù nắm trong tay hơn 800 tờ báo các loại cũng như tất cả các cơ quan truyền thông chính thống khác (như truyền thanh và truyền hình), chính quyền Việt Nam cũng không làm chủ được dư luận. Hơn nữa, càng ngày họ càng ở thế bị động. Thường, họ không phải là người loan tin mà chủ yếu là người cải chính. Bởi vậy, khi có điều gì thắc mắc, nơi dân chúng tìm kiếm tin tức không phải là các cơ quan ngôn luận lề phải mà là báo chí thuộc lề trái, nhiều nhất là trên mạng internet. Tôi có một số bạn, khá đông, hầu hết đều thuộc giới trí thức, ở Sài Gòn có và Hà Nội cũng có, nói giống nhau: để nắm tin tức hàng ngày, điều họ thường làm nhất là vào facebook hoặc các blog nổi tiếng chứ không phải là mở các trang báo của đảng. Những chuyện họ bàn tán nhiều nhất những lúc gặp nhau cũng vẫn là những chuyện được đề cập trên những trang mạng ấy. Có thể nói chính quyền Việt Nam đã thua cuộc ngay trên chính sân chơi mà họ muốn hoàn toàn độc quyền.

Thứ ba, như là hệ quả của đặc điểm thứ hai ở trên, càng ngày các phương tiện truyền thông xã hội càng phổ biến và càng quan trọng. Ngoài các tin tức liên quan đến Phùng Quang Thanh, một ví dụ tiêu biểu nhất về tầm ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông xã hội là vụ chặt cây xanh ở Hà Nội cách đây mấy tháng. Dư luận ồn ào đến độ chính quyền Hà Nội phải ra lệnh ngưng ngay việc chặt cây và sau đó, tiến hành kiểm điểm và kỷ luật một số cán bộ liên hệ. Có thể xem các trang truyền thông xã hội ấy là một đối trọng của ngành truyền thông nhà nước. Nghe nói hiện nay ở Việt Nam có khoảng một phần ba dân số, tức khoảng 30 triệu người, thường xuyên sử dụng internet. Chắc không phải ai cũng lên internet để đọc tin tức. Nhưng con số ấy chắc cũng không ít. Điều rất dễ thấy: với số người đọc đông đảo như vậy, internet sẽ là một trận tuyến quan trọng của trào lưu dân chủ hoá Việt Nam.

Thứ tư, trong cuộc chiến giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội, nhà nước Việt Nam chỉ có một cách duy nhất để chiến thắng: minh bạch. Lý do khiến nhiều người tìm kiếm tin tức trên internet là vì họ không tìm thấy ở đâu khác. Lý do khiến cái gọi là báo lề trái thu hút sự quan tâm của dân chúng hơn báo lề phải là vì trên báo chí lề phải người ta chỉ thấy toàn những sự dối trá. Lý do khiến người ta tin và lan truyền các tin đồn, đôi khi hoàn toàn sai sự thật, là bởi vì người ta không tin vào các cơ quan truyền thông chính thống. Sống ở Tây phương đã lâu, tôi chưa bao giờ thấy dân chúng đồn đãi bất cứ chuyện gì trong đời sống chính trị nước họ. Tất cả những gì họ bàn luận đều là những chuyện được công khai hoá trên các cơ quan truyền thông chính thức. Giới chính trị gia biết rõ điều đó nên họ thường xuyên tổ chức các cuộc họp báo để cung cấp thông tin và giải đáp các thắc mắc của dân chúng.

Có thể nói chính sự thiếu minh bạch làm nảy sinh các tin đồn và sự lan rộng của các tin đồn dần dần bào mòn sự tin tưởng của dân chúng đối với chính phủ. Cũng có thể nói sự tồn tại phổ biến của các tin đồn về chính trị là một trong những bằng chứng rõ nhất tố giác một xã hội thiếu dân chủ .

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

Gặp nữ tài tử khai sinh nghề nail cho cộng đồng Việt tại Mỹ

Gặp nữ tài tử khai sinh nghề nail cho cộng đồng Việt tại Mỹ

Nguoi-viet.com

*40 năm hội ngộ của Weimar Hope Village – chiếc nôi nghề nail của người Việt tị nạn


Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, Calif. (NV) - “Nhớ đến trại Weimar là nhớ đến những ân nghĩa người Mỹ dành cho mình, dạy học tiếng Anh, dạy học đánh máy, dạy lái xe, dạy nghề nail, tất cả giúp cho mình nhiều lắm để hòa nhập vào đời sống nơi đây.” Ông Trần Dật, 80 tuổi, hiện ở Glendale, bày tỏ suy nghĩ.

Ông Dật, 80 tuổi, cựu phi công trong Quân Lực VNCH, là một trong số đông những người có mặt tại tòa soạn Nhật Báo Người Việt vào trưa Chủ Nhật, 26 Tháng Bảy, để cùng tham dự buổi hội ngộ đầu tiên của những người từng trải qua ngày tháng sống tại Weimar Hope Village, nơi được xem là chiếc nôi của nghề nail của người Việt tị nạn từ 40 năm trước.

40 năm vẫn muốn nói một lời tạ ơn

40 năm – thời gian bằng nửa đời người – có được một lần hội ngộ, để gặp lại những người xưa năm cũ, để được nói một lời cám ơn những ân tình nhận được trong những ngày tháng lao đao nhất, quả thật có nhiều cảm xúc.

Những người từng ở Weimar Hope Village năm 1975 gặp lại sau 40 năm (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Bà Trương Kim Dung, hiện ở Laguna Niguel, người khởi xướng cho buổi gặp gỡ đặc biệt này, cho biết: “Lý do để 40 năm mới tổ chức được buổi này là vì khi ra khỏi trại, mọi người đi tản mác khắp nơi, không liên lạc được với ai, nên sự thân mật gần gũi không đủ mạnh để tổ chức được điều gì. Đến dịp 40 năm vừa rồi cứ nghe trên đài trên báo nói nhiều quá nên lòng tôi cũng hơi xốn xang, tôi nghĩ mình phải có một dịp để cám ơn tổ chức “Food For the Hungry”, cám ơn những người đã giúp mình từ những ngày đầu đến Mỹ nên tôi cố gắng viết thư liên lạc, để chuẩn bị nhiều thứ cho ngày họp mặt này.”

Nghe hỏi “Cô nhớ gì nhất trong những ngày ở trại Weimar?”, bà Dung chùng giọng, “Tôi đến Mỹ khi đó mới 26 tuổi, cùng hai đứa con, chồng thì mất trước đó, nên tâm trạng không vui. Thế nên khi đứng đâu ngồi đâu cũng tìm, cũng nhìn những gì gợi quê hương, vì vậy mà những hàng thông ở Weimar, mùi thông ở Weimar là thứ làm tôi nhớ nhất, bởi nó làm tôi nhớ nhà.”

Với ông Nguyễn Cao Đạt, người con trai thứ ba của cựu thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, thì Weimar Hope Village mang đến nhiều kỷ niệm không quên, bởi ông chính là “thiện nguyện viên đầu tiên đặt chân vào trại này cùng cựu Đại Tá Không Quân Jack Bailey.” Ngày đó, Nguyễn Cao Đạt mới là một thanh niên 19 tuổi.

Ông Đạt kể: “Khởi đầu Weimar Hope Village vốn là một nhà thương. Khi người ta không còn dùng nó làm bệnh viện nữa thì tổ chức ‘Food For the Hungry’ mướn chỗ này để đưa người Việt Nam tị nạn đến. Khi đó cựu Đại Tá Không Quân Jack Bailey liên lạc với bố tôi là Nguyễn Cao Kỳ nói rằng ông muốn giúp những người tị nạn Việt Nam, đặc biệt là những người Không Quân. Bố tôi nói làm gì được cho người tị nạn bố tôi đều sẵn sàng. Tôi nghe được cuộc nói chuyện giữa hai người nên nói với bố là tôi tình nguyện đi với ông Bailey.”

“Có thể nói tôi là người thiện nguyện đầu tiên bước chân vào trại này, lúc đó chưa có ai hết. Tôi cùng ông Bailey đến đây sắp xếp mọi thứ trước khi đón mọi người đến. Rồi nhiều người cùng đến giúp đỡ, trong đó có Bác Sĩ Larry Ward, có tài tử Tippi Hedren…” Ông Đạt nhớ lại.

40 năm, lần đầu gặp lại, ông Đạt thấy “vui lắm, đặc biệt lắm.”

Ông nói, “Ngày đó mình còn trẻ, có nhiều người cũng trẻ như mình, giờ bao nhiêu năm gặp lại thấy vui, thấy quý lắm. Đặc biệt nhất là con nuôi của ông Jack Bailey là cậu Minh, 40 năm mình mất liên lạc với nhau, vậy mà hôm nay nhờ buổi này mà mình mới gặp lại nối lại tình bạn tình anh em ngỡ như đã mất.”

Cũng cùng cảm xúc đó, ông Trần Dật bày tỏ, “Gặp lại những người từ 40 năm trước thấy rất xúc động. Có người ở Sacramento xuống, có người ở tiểu bang khác về. Gặp nhau vui lắm. Vui nhất là mình còn sống để được nhìn thấy mọi người, chứ nhiều người đã mất rồi. Ngày đến trại tôi mới 40, giờ đã 80 rồi còn gì.”

Nữ tài tử Tippi Hedren (ngồi, bên phải), người mang nghề nail đến cho người Việt tị nạn từ năm 1975

và những học viên nghề nail đầu tiên trên đất Mỹ, hội ngộ sau 40 năm. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Bà Ánh Vũ, 67 tuổi, ở Thousand Oaks thuộc Ventura County, tỏ ra rất vui khi nhớ lại ngày tháng cũ: “Nhớ lại thời đó cái gì cũng làm, ai kêu gì mình cũng giúp. Ban đêm ban khuya có loa gọi đi thông dịch, mình cũng đi. Tôi cũng đi học nail cùng mọi người để giúp thông dịch cho những người không biết tiếng Anh nữa.”

Bà Ánh nghỉ hưu từ 7 năm trước, sau một ngày duy nhất đi làm nail và 32 năm liên tục làm việc cho ngân hàng. Bà nói, “Tôi không có thói quen nghĩ về những điều đau buồn đã qua. Những gì không vui hãy cứ để nó trôi qua. Tôi chỉ muốn hướng đến những gì tốt hơn, và giúp mọi người với tất cả khả năng mình có.”

Tại buổi gặp gỡ, những người có mặt nhắc nhiều đến Bác Sĩ Larry Ward, người sáng lập tổ chức “Food For The Hungry”, tổ chức đã giúp đỡ cho các gia đình tị nạn Việt Nam tại Weimar Hope Village.

Bà Cao Thị Hoa Đào, hiện ở Elk Grove, từng là thư ký của Bác Sỹ Larry Ward từ những ngày còn ở Sài Gòn, cũng có mặt tham dự buổi hội ngộ 40 năm. Bà nói trong sự xúc động, “Được hiện diện ở đây tôi muốn cám ơn người sáng lập ra hội ‘Food for the Hungry’ mà tôi may mắn được làm thư ký cho ông từ lúc còn ở Việt Nam. Tôi tin rằng ông vẫn còn đâu đó quanh chúng ta, hướng về chúng ta để giúp chúng ta như ông đã từng.”

Nhiều giọt nước mắt đã lăn trên những gương mặt hằn nhiều vết nhăn của thời gian, không kể đàn ông hay phụ nữ, khi nghe người này, người kia nhắc lại, ôn lại ký ức xưa, kể từ những phút cuối cùng họ trắng tay, mất gia đình, mất sự nghiệp, mất cả quê hương.

Gặp người khai sinh nghề nail cho cộng đồng Việt

Có lẽ nhân vật được chú ý nhiều nhất, được mọi người vây quanh chụp hình nhiều nhất trong buổi hội ngộ của Weimar Hope Village chính là nữ tài tử Tippi Hedren, người được xem là khai sinh ra nghề nail cho cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ từ năm 1975.

85 tuổi, nhưng nét đẹp quý phái, sang trọng vẫn rạng rỡ trên gương mặt của người diễn viên nổi tiếng trong cuốn phim kinh dị The Birds của đạo diễn Alfred Hitchcock. Không chỉ vậy, vẻ đẹp nhân hậu của một tâm hồn luôn hướng về những người đau khổ dường như lại vượt lên tất cả khi nhìn ngắm bà.

Tài tử Tippi Hedren, người có công mang nghề nail đến cho cộng đồng Việt Nam. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Trò chuyện với phóng viên Người Việt, bên cạnh là nữ tài tử Kiều Chinh, người cũng trải qua một thời gian ngắn ở Weimar Hope Village, bà Hedren kể lại những công việc mà bà đã làm để giúp đỡ tha nhân nói chung và người tị nạn Việt Nam buổi đầu nói riêng.

“Trong thời gian làm thiện nguyện cho ‘Food For The Hungry’, tôi đi vòng thế giới để giúp mọi người ở những nơi bị động đất, sóng thần, hay bất cứ tai ương nào. Khi Sài Gòn bị thất thủ, biết được có nhiều người Việt Nam vượt thoát trên những chiếc thuyền nhỏ, chúng tôi bèn mướn một chiếc tàu cùng thủy thủy đoàn của Úc đi vòng vòng trên biển China Seas để giúp cho những thuyền nhân.” Bà Herden bắt đầu câu chuyện.

Bà tiếp tục, “Chúng tôi cho họ thức ăn, quần áo, thuốc men. Nhưng do luật hàng hải quốc tế, nên những người Việt Nam không thể ở trên tàu được. Tuy nhiên chúng tôi có thể hướng dẫn họ đi đến những bến bờ nào an toàn vì tôi nghĩ nhiều thuyền không có la bàn, họ không biết nơi mình đến. Đó là một phần quan trọng trong số những việc mà chúng tôi làm.”

“Sang đến Mỹ, trại Weimar Hope Village ở miền Bắc California vốn là một bệnh viện trị lao trước đây nên rất lớn, có rất nhiều phòng. Họ dùng nơi đó cho người tị nạn ở. Rồi chúng tôi đi tìm sự đỡ đầu, tìm những thứ cần thiết để giúp cho người tị nạn như dạy họ lái xe, hướng dẫn họ thi lấy bằng lái, tìm việc làm… Tôi mang đến trại Weimar những người thợ dạy cắt may, dạy đánh máy để giúp cho những người chưa có việc làm có việc để học, để họ có được một nghề trong tay để mà đi kiếm việc.” Diễn viên Tippi Hedren nhớ lại.

Theo lời kể của bà Hedren, trong thời gian lui tới giúp đỡ cho những người tị nạn Việt Nam tại Weimar, bà làm bạn với khoảng 20 người phụ nữ khác ở đây, những người theo bà là “rất thân, rất tử tế, dịu dàng” và bà “thích họ lắm”.

Người phụ nữ có đôi mắt thật đẹp này nhớ tiếp, “Trong thời gian quen biết họ, tôi nhận ra là họ rất thích hai bàn tay tôi với những móng tay dài, được chăm chút kỹ lưỡng, và hay sơn màu san hô. Thế là tôi nghĩ, ồ, đây là cơ hội tuyệt nhất cho những người phụ nữ này đi học nghề nail, để trở thành những người thợ nail chuyên nghiệp.”

20 phụ nữ gốc Việt đầu tiên được học nghề nail

từ trại Weimar Hope Village 40 năm trước (Hình: Facebook củaWeimar Hope Village)

Nghĩ là làm. Nữ tài tử xinh đẹp Tippi Hedren bèn “đề nghị người thợ làm móng của tôi ở Los Angeles lên Weimar dạy cho những người phụ nữ đó làm nail. Cô ta đồng ý và mỗi tuần một lần cô ta lên Weimar dạy cho những người phụ nữ Việt Nam các bước làm móng, rồi họ thực tập làm với nhau, họ tập làm luôn trên cả tay của tôi.”

“Chúng tôi đã có một thời gian rất vui khi nhìn thấy một cơ hội đầy thú vị để trở thành thợ nail chuyên nghiệp. Nghề nail có thể là một nghề sang cả, một nghề mang đầy tính nghệ thuật.” Bà nói.

Bà tiếp tục kể lại chuyện của 40 năm trước, bằng giọng dịu dàng, “Người thợ nail của tôi tên là Dusty, tôi không nhớ họ cô ta. Cô ta thích công việc làm nail, thích cả việc dạy cho những người phụ nữ này làm nail. Nhiều người cũng thích cổ và theo học tới cùng, dù không phải tất cả.”

“Rồi chúng tôi mướn một chiếc xe bus chở họ đến một trường mà tôi quên tên rồi, ở phía Nam của Sacramento, để họ học tiếp lấy bằng. Họ đều đậu khi thi bằng tiếng Anh. Tôi nghĩ chương trình giúp đỡ cho những người tị nạn này đã rất thành công Họ đi ra khỏi Weimar, và đi làm.”

“Tôi vẫn giữ liên lạc với họ. Lúc đó nghe có người khoe mua nhà, người thì mua xe Cadillac. Tất cả đều như chuyện hoang đường, không tin được. Bởi vì thật không hề dễ dàng cho bất kỳ ai đặt chân đến một nơi xa lạ mà mình hoàn toàn không biết, ngay sau khi vừa bước ra khỏi sự hoang tàn cuộc chiến. Điều tuyệt vời nhất để nhìn về sự thành công của họ chính là ở chỗ họ đã từng cảm thấy rất sợ hãi vì họ mất tất cả mọi thứ, kể cả quê hương.” Người phụ nữ góp phần mang lại sự giúp đỡ lớn lao cho người tị nạn Việt Nam nói về những suy nghĩ đầy nhân bản của mình.

Trả lời cho câu hỏi, “Khi tìm người dạy nghề nail cho 20 người phụ nữ Việt Nam đầu tiên, bà có nghĩ đến việc nghề nail sẽ thành công và phát triển như hôm nay không?”

Bà Hedren tròn mắt, “Thật không thể tưởng tượng được. Hiện nay nail đã trở thành ngành công nghiệp mang lại hàng tỉ đô la. Tôi ước gì tôi có được một phần nào số tiền đó.”

“Tôi thật sự không ngờ nó lại thành công và phát triển đến mức như vậy. Tôi rất vui khi nghề nail đã mang sự thành công đến với những người thợ nail và cả gia đình của họ để có được cơ sở tài chánh vững vàng, để có cuộc một cuộc đời tươi đẹp nơi đây.” Bà mỉm cười.

Liên lạc tác giả: Ngoclan@ngươi-viet.com

Posted in Tin Cộng Đồng | Leave a comment

Ông tướng Phùng Quang Thanh đi xem ‘giao lưu nghệ thuật’

Ông tướng Phùng Quang Thanh đi xem ‘giao lưu nghệ thuật’

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) - Mãi cho đến hôm Thứ Hai, truyền thông chính thống CSVN mới đưa tin kèm theo hình ảnh và video clips ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng để giải tỏa các lời đồn đoán ông ta đã chết.

Tướng Phùng Quang Thanh ngồi cạnh Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng
tham dự buổi “giao lưu nghệ thuật” có chủ đề là “khát vọng đoàn tụ” ở Hà Nội.
(Hình: VnExpress)

Các báo ở Việt Nam đưa tin ông tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng CSVN tới hội trường Bộ Quốc Phòng, buổi tối ngày 27 tháng Bảy, 2015, tham dự “chương trình giao lưu nghệ thuật” với chủ đề “Khát vọng đoàn tụ” nhân kỷ niệm “68 năm Ngày Thương Binh-Liệt sĩ do Ban Chỉ Đạo Quốc Gia 1237 phối hợp với Đài Truyền Hình Việt Nam, Trung Tâm Phát Thanh-Truyền Hình Quân Đội tổ chức.”

Chương trình này được truyền hình trực tiếp trên VTV1 thấy có sự có mặt của một số nhân vật hàng đầu của chế độ như ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang, phó chủ tịch Quốc Hội Tòng Thị Phóng, phó thủ tướng Vũ Đức Đam, chủ tịch MTTQ Nguyễn Thiện Nhân, trưởng Ban Dân Vận Trung Ương Hà Thị Khiết. Và đặc biệt, có mặt ông Phùng Quang Thanh.

Một vài đoạn video clips ngắn và một số hình ảnh được hệ thống báo đài nhà nước trưng ra để chứng minh một ông Phùng Quang Thanh bằng xương bằng thịt còn sống chứ không phải đã chết, kể cả chuyện bị ám sát, như những lời đồn đãi tràn lan trên mạng từ một tháng nay.

Cho tới khi báo chí trong nước đưa tin ông Phùng Quang Thanh về đến phi trường Nội Bài, Hà Nội, sáng ngày 25 tháng Bảy, 2015, vẫn có những lời nghi ngờ vì tấm hình duy nhất mà tờ Tuổi Trẻ trưng ra được chụp từ xa. Người được nói là ông Phùng Quang Thanh đứng lố nhố cùng với một số người phía sau chiếc Lexus SUV không được rõ nét, nên không đánh tan được ngờ vực.

Ông Phùng Quang Thanh qua Pháp chữa bệnh nghi là bị ung thư phổi nhưng ngụy trang dưới hình thức sang Pháp gặp bộ trưởng Quốc Phòng Pháp ngày 19 tháng Sáu. Ngay ngày hôm sau thì ông vào bệnh viện George Pampidou rồi được giải phẫu cắt “khối u” ở phổi và rồi bệnh viện ngày 10 tháng Bảy.

Trong khi đó, Ban Bảo Vệ Sức Khỏe Trung Ương ở Hà Nội thì loan tin dối trá là ông vào bệnh viện ở Paris ngày 24 tháng Sáu, khác với sổ bệnh nhân của bệnh viện nói trên.

Các tin tức liên quan đến sức khỏe, bệnh tật của những người cầm đầu chế độ độc tài đảng trị ở Việt Nam thường được che giấu kỹ lưỡng cho tới khi nào không thể che đậy được nữa thì mới xì ra một ít.

Nếu không có những lời đồn đại ông ta bị ám sát hoặc tin ông ta đi chữa bệnh rồi chết ở Pháp thì chuyện ông Phùng Quang Thanh mượn cớ sang Pháp chữa bệnh sẽ hoàn toàn không được thấy trên mặt báo chí chính thống của chế độ.

Tin ông Nguyễn Bá Thanh bị ung thư chạy sang Mỹ chữa bệnh ở Seattle chỉ được báo chí trong nước thuật lời quan chức “Ban bảo vệ sức khỏe trung ương” nói đến khi hình ảnh ông Nguyễn Bá Thanh nằm trên giường bệnh viện ở Mỹ truyền đi rộng rãi trên các diễn đàn thông tin “lề trái.”

Dù vậy, không hề có tấm hình nào của ông Nguyễn Bá Thanh nằm bệnh viện trên báo chí nhà nước CSVN. Thậm chí, ngày ông bị bệnh viện Mỹ “chê” tức là họ đã làm hết cách và khuyên ông về Việt Nam cho gia đình lo hậu sự, vẫn bị che giấu. “Ban bảo vệ sức khỏe trung ương” vẫn còn đưa ra các lời lẽ lạc quan cho đến ngày ông ta sắp chết về phương pháp điều trị phối hợp động Tây y. Và không hề có một tấm hình nào về ông Nguyễn Bá Thanh xuất hiện.

Chuyện sống chết và sức khỏe của ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh cuối cùng được nhiều báo điện tử ở Việt Nam đưa thông tin chỉ nhằm đối phó với các mạng xã hội.

Ông Phùng Quang Thanh, 66 tuổi, được một số nhà bình luận thời sự dự đoán ông là một trong mấy ứng viên vào các ghế chủ tịch nước hay tổng bí thư Đảng CSVN tại kỳ họp đại hội đảng dự trù tổ chức vào đầu năm 2016 tới đây.

Nếu ông có vấn đề sức khỏe nghiêm trọng thì tương lai chính trị của ông ta coi nhưng đóng lại. Không có những tai tiếng tham nhũng trực tiếp nhưng con trai ông, đại tá Phùng Quang Hải, Chủ tịch Hội đồng thành viên của Tổng Công Ty 319 Bộ Quốc Phòng CSVN, bị trang mạng “Chân Dung Quyền Lực” đưa ra nhiều hình ảnh, tài liệu để “giới thiệu” tài sản kếch xù và đời sống xa hoa trụy lạc của một “ông giời con” tại Bộ Quốc Phòng.

Nếu không có ông bố chống lưng, ông con Phùng Quang Hải không thể có cơ hội thâu tóm những hợp đồng khổng lồ để vơ vét hàng triệu đô la cho bố con nhà ông. Bây giờ, ít ra, người ta thấy ông Phùng Quang Thanh còn ngồi trên ghế bộ trưởng Quốc Phòng, ủy viên Bộ Chính Trị và phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương, đại biểu Quốc Hội, cho đến đầu năm 2016, nếu ông ta không chết trước đó. (TN)

Posted in Tin Cộng Đồng, Tin Việt Nam | Leave a comment

Những Kỷ Niệm Nhỏ

Những Kỷ Niệm Nhỏ

Tổng thống Wilson của Hoa Kỳ, người đã đưa nước Mỹ can thiệp vào thế chiến thứ I, là người rất thận trọng đối với những kỷ niệm nhỏ.

Lần kia, ông và phu nhân cùng với nhiều nhân vật cấp cao trong chính phủ dừng lại một thành phố thuộc tiểu bang Montana.

Cảnh sát làm hàng rào không cho bất cứ ai đến gần vị tổng thống. Nhưng, không hiểu làm thế nào mà có hai cậu bé đã chui lọt hàng rào cảnh sát để đến gần chỗ ngồi của tổng thống. Hai cậu bé ngắm nhìn một cách say sưa vị nguyên thủ quốc gia. Một cậu bé tìm cách tặng cho kỳ được lá cờ nhỏ bé của nước Mỹ mà em đang cầm trên tay. Cảnh sát cố tình ngăn chận cậu bé, nhưng bà Wilson đã đưa tay đón lấy lá cờ và vẫy tay em một cách nhiệt tình.

Cậu bé khác cảm thấy buồn hiu vì em không có gì để dâng tặng cho tổng thống. Em cố gắng mò mãi trong túi quần và cuối cùng lôi ra được một đồng xu nhỏ. Em cố gắng vượt qua mọi chướng ngại để chạy đến trao cho tổng thống. Em sung sướng vô cùng, bởi vì chính tổng thống Wilson là người chìa tay ra để đón nhận món quà của em với tất cả trang trọng.

Năm năm sau, tổng thống Wilson qua đời. Bà Wilson xếp đặt lại các đồ dùng quen thuộc của chồng. Mở chiếc ví của ông, bà thấy có một bọc giấy được giữ gìn cẩn thận. Tháo chiếc bọc giấy, bà nhận ra ngay tức khắc đồng xu nhỏ mà cậu bé đã tặng cho chồng bà cách đây năm năm. Ông quý đồng xu nhỏ ấy đến độ đi đâu ông cũng mang nó theo.

Thiên Chúa cũng đối xử với chúng ta như thế. Ngài giàu có biết bao, nhưng những đồng xu nhỏ mà chúng ta trao tặng cho Ngài, Thiên Chúa đón nhận và cất giữ như báu vật… Một Thiên Chúa giàu sang dường như không ưa thích của cải dư dật của chúng ta cho bằng những đồng xu nhỏ của lòng thành, sự quảng đại, những âm thầm hy sinh, phục vụ quên mình của chúng ta…

Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy được cái nhìn trang trọng của Chúa đối với lòng thành của con người. Lần kia, Ngài vào đền thờ và quan sát những người đang dâng cúng tiền của. Ai ai cũng bỏ tiền vào hòm, chợt có một người đàn bà góa chỉ bỏ có một đồng xu nhỏ. Vậy mà Ngài đã tuyên bố: Người đàn bà này đã dâng cúng nhiều hơn ai hết, bởi vì trong khi mọi người bố thí những của dư thừa của mình, còn người đàn bà nghèo này lại dâng cúng tất cả những gì mình có để độ nhật…

Thiên Chúa luôn trân trọng và quý mến tất cả những gì chúng ta dâng tặng Ngài. Những lễ vật càng đơn sơ, nhỏ bé dưới mắt người đời, càng có giá trị trước mặt Chúa. Chỉ có Chúa mới thấy được giá trị của những âm thầm đau khổ, của những hy sinh quên mình từng ngày, của những việc làm vô danh…

Sách Lẽ Sống

Tên Sát Nhân Trung Thành

Vê-bích, một tên sát nhân, ngày kia hắn đã dùng đá ném chết ông Phi-bua. Hai người con trai của ông Phi-bua là Pin-tô và Xê-bat yêu cầu quan tòa phải xét xử công bằng. Tên sát nhân đã giết cha họ thì cũng phải bị án tử hình.

Trước mặt quan tòa, Vê-bích đã thú nhận tội lỗi. Anh ta chỉ xin một ân huệ là về nhà trong ba ngày để thu xếp việc gia đình. Rồi sau đó anh hứa sẽ trở lại thụ án.

Ðang lúc quan tòa do dự không muốn tin ở lời hứa của tên tử tội, thì trong đám khán giả có người lên tiếng:

- Tôi xin đứng ra bảo đảm cho lời cam kết của tội nhân. Nếu sau ba ngày hắn không trở lại, tôi sẽ chết thay.

Sau ba ngày, tội nhân trở lại và tuyên bố:

- Tôi đã giải quyết xong mọi việc trong gia đình. Giờ đây tôi trở lại để chịu chết. Tôi trung thành với lời cam kết, để người ta không thể nói: chữ tín trung không còn trên mặt đất nữa.

Sau lời phát biểu của tử tội, người đàn ông đứng ra bảo lãnh cho hắn tiến ra giữa đám đông và tuyên bố:

- Phần tôi, sở dĩ tôi đứng ra bảo lãnh cho người này, là vì tôi không muốn để cho người ta nói: Lòng quảng đại không còn trên trái đất này nữa.

Sau hai lời tuyên bố trên, mọi người đều lặng thinh. Dường như ai cũng đang cảm thấy được mời gọi thể hiện những gì là cao cả nhất trong lòng mình.

Từ đám đông, bất ngờ Pin-tô và Xê-bát tiến ra và nói với quan tòa:

- Thưa ngài, chúng tôi xin tha cho kẻ đã giết cha chúng tôi, để người ta không thể nói: Lòng tha thứ không còn hiện hữu trên mặt đất nữa.

* * *

Câu chuyện trên đây muốn nhắc chúng ta rằng: giữa một xã hội khô héo tình người, giữa một xã hội mà những giá trị tinh thần và đạo đức đang bị chết nghẹt, thì chứng từ của người Kitô hữu cần thiết hơn bao giờ hết.

Kitô hữu phải sống thế nào để người ta có thể nói: Niềm tin vào cuộc sống, ý nghĩa của cuộc đời vẫn còn cháy sáng giữa thế gian.

Kitô hữu phải sống thế nào để người ta có thể nói: chữ tín thành, lòng quảng đại, sự tha thứ vẫn còn ngự trị khắp nơi trong xã hội.

Kitô hữu phải sống thế nào để người ta có thể nói: Thiên Chúa vẫn luôn luôn yêu thương con người.

Kitô hữu phải sống thế nào để người ta có thể nói: con người vẫn có thể yêu thương nhau và sống cho nhau.

Chân Lý Á Châu

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Posted in Lời Hay Ý Đẹp | Leave a comment

Tư Lệnh lực lượng Tuần Duyên Mỹ sẽ đến thăm Việt Nam

Tư Lệnh lực lượng Tuần Duyên Mỹ sẽ đến thăm Việt Nam

Ảnh chụp từ website của báo Tuổi Trẻ ngày 27/7 cho thấy Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius và Thứ Trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh.

Ảnh chụp từ website của báo Tuổi Trẻ ngày 27/7 cho thấy Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius và Thứ Trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh.

27.07.2015

Đại sứ Mỹ tại Hà Nội Ted Osius cho biết đương kim Tư Lệnh lực lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ sẽ đi thăm Việt Nam vào tháng 9 tới đây.

Các báo Tuổi TrẻThanh Niên của Việt Nam hôm nay tường thuật Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cho biết như vậy trong cuộc gặp gỡ với Thứ Trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh hôm nay.

Cuộc họp diễn ra bên lề một hội thảo quốc tế về các lực lượng gìn giữ hoà bình đươc tổ chức trong cùng ngày, thứ Hai 27/7.

Tin cho hay ông Nguyễn Chí Vịnh hoan nghênh chuyến đi thăm của Tư Lệnh Lực lượng Tuần duyên Mỹ, và ngỏ lời cảm ơn Đại sứ Osius đã thăm hỏi sức khoẻ của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, mà theo báo chí tại Việt Nam, đã trở về nước sau một thời gian chữa bệnh tại một bệnh viện ở Paris.

Hôm 19/7 hãng thông tấn DPA của Đức tường thuật rằng Đại Tướng Phùng Quang Thanh đã qua đời tại Paris sau khi điều trị bệnh ung thư phổi, nhưng sau đó đã đính chính tin này.

Báo chí Việt Nam cũng tường thuật rằng từ khi về nước, Tướng Phùng Quang Thanh đã gặp các giới chức cao cấp nhất trong chính phủ, nhưng tình trạng sức khoẻ của Tướng Thanh vẫn còn là một nghi vấn, sau khi ông không xuất hiện để tham dự lễ dâng hương tại Đài Tưởng niệm các Liệt sĩ, và cũng không dẫn đầu đoàn đại biểu quân uỷ trung ương đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo lịch trình đã được loan báo trước đó.

Trong mấy năm qua, Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ với sự phối hợp chặt chẽ của Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, đã giúp Việt Nam tăng cường khả năng kiểm soát hàng hải bằng cách huấn luyện cảnh sát biển Việt Nam.

Trong cuộc tiếp xúc giữa Đại sứ Mỹ và Thứ Trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, hai bên bày tỏ hài lòng về sự tiến triển của các quan hệ hợp tác Mỹ-Việt.

Nguồn: Thanh Nien, Tuoi Tre.

Posted in Tin Thế Giới, Tin Việt Nam | Leave a comment

Sự bí ẩn của các nhà lãnh đạo cộng sản

Sự bí ẩn của các nhà lãnh đạo cộng sản

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-07-27

07272015-the-secret-of-the-communi-leaders.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

File photo

Ông Phùng Quang Thanh cuối cùng đã xuất hiện trong một buổi lễ tại Bộ quốc phòng vào tối ngày 27/7. Việc này xóa đi đồn đoán là ông đã bị chết vì bệnh tật hay bị ám sát. Tuy nhiên người ta vẫn đặt câu hỏi là tại sao những chuyện bình thường như đi chữa bệnh lại được truyền thông nhà nước Việt nam loan truyền một cách nhỏ giọt và không có hình ảnh nào trong thời đại của phim ảnh kỹ thuật số?

Và không chỉ là hành tung của ông Phùng Quang Thanh, mà đời sống của nhiều lãnh đạo trong thế giới cộng sản xưa và nay cũng thường được bao bọc bởi một lớp màn bí ẩn. Tại sao như vậy?

Sức khỏe lãnh tụ là bí mật quốc gia

Luật sư Nguyễn Văn Đài sống ở Hà nội, nhận xét về cách thức công bố không rõ ràng về tình trạng sức khỏe của các lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay:

Đó gọi là di sản hay cái gì đó từ xa xưa để lại. Tức là từ sức khỏe, từ đời sống cá nhân của những người cộng sản luôn luôn được giấu kín và bưng bít. Và tất cả những thông tin mà họ đưa ra nó phải theo ý đồ của ban tư tưởng trung ương, bây giờ là ban tuyên giáo. Họ không thể công khai cuộc sống của họ cho người dân biết được. Đấy coi như là bí mật quốc gia, ngày xưa xem như là bí mật quốc gia, sức khỏe hay là những hoạt động của các vị lãnh đạo của họ, qui định từ cấp nào, bộ chính trị hay là cấp nào đấy từ trung ương trở lên là thuộc hàng bí mật.”

Ngoài ra ông cũng nêu lên một giả thuyết về sự cạnh tranh quyền lực, theo đó các phe phái giấu diếm thông tin để chờ thời cơ. Ông lấy ví dụ là chuyện Đại tướng Lê Đức Anh đã từng biến mất một khoảng thời gian dài trước khi xuất hiện trở lại vào thời điểm mà các đối thủ chính trị của ông đã bị loại trừ.

Nhà văn Thùy Linh, sống ở Hà nội cho rằng con đường đi đến quyền lực của các viên chức cộng sản không bao giờ là chuyện minh bạch cho nên tất cả những gì bao quanh cuộc sống của họ cũng bí ẩn.

“Với những vị trí, những chức vụ trong đảng cộng sản, nó không có một sự minh bạch nào cả cho nên là tất cả những gì đi theo nó đều được phủ lên một cái màn rất bí ẩn. Cái ghế ngồi của từng vị trí không được chọn lựa một cách minh bạch. Những gì kèm theo vị trí đó, như cuộc sống cá nhân đều phải che phủ bởi sự bí ẩn.”

Sự bí ẩn là bản chất của chế độ cộng sản

Nhà bất đồng chính kiến Tiến sĩ Hà Sĩ Phu hiện sống ở Đà Lạt thì cho rằng chuyện không nói lên sự thật là bản chất của chế độ:

Đại tướng Phùng Quang Thanh đến hội trường Bộ Quốc phòng tối ngày 27/07/2015

Đại tướng Phùng Quang Thanh đến hội trường Bộ Quốc phòng tối ngày 27/07/2015. Ảnh: Việt Dũng/TT

Về mặt vĩ mô mà nói thì cộng sản đương nhiên là phải nói dối, như lời của ông Gorbachev, ông ấy nói cộng sản đương nhiên phải nói dối. Đấy là cái tổng thể của cái chủ nghĩa. Còn riêng cái chuyện các lãnh tụ tại sao lại phải giữ bí mật, cái gì cũng bí mật, từ ông Nguyễn Ái Quốc trở đi, thì cái đó là họ phải bịp dân thôi, phải tạo ra cái hào quang. Cái đường đi nước bước của họ để vì đảng là chính. Quần chúng nhân dân mà biết thì sẽ không được, thế cho nên họ phải giấu.”

Về cái hào quang của người cộng sản mà Tiến sĩ Hà Sĩ Phu vừa nhắc tới, người ta đã từng nói nhiều đến việc thần thánh hóa các lãnh tụ của họ. Từ vị lãnh tụ đầu tiên thiết lập nhà nước cộng sản là Lenin ở Liên xô cũ trở đi. Cách đây khá lâu tờ báo An ninh thế giới của cơ quan công an tại Việt nam có đưa tin về một cơ quan lưu giữ và nghiên cứu bộ não của ông Lenin. Theo báo này thì về nguyên tắc Lenin là người xuất chúng nhất của nhân loại. Tại Triều tiên thì những câu chuyện huyền thoại về gia đình của lãnh tụ Kim Nhật Thành được tuyên truyền rất rộng rãi. Còn tại Việt nam thì ngay trong thế kỷ 21 này, việc tôn vinh ông Hồ Chí Minh là một vị thánh cũng rất phổ biến.

Các lãnh tụ độc tài và sức khỏe

Người ta cho rằng với thói quen dùng hình ảnh mạnh mẽ và thánh thần như thế, các lãnh tụ cộng sản, cũng như các vị đứng đầu các thể chế độc tài đều rất e ngại chuyện đưa hình ảnh bị bệnh tật của mình ra công chúng. Nhà báo Đoan Trang nhận xét rằng:

Tất cả các lãnh tụ ở các nước độc tài đều sợ bị dân chúng thấy là mình ốm yếu. Hoặc là sợ lộ những hình ảnh ốm yếu của mình trước dân chúng. Tức là họ sợ lộ ra là mình yếu thì không còn đủ sức để lãnh đạo dân chúng nữa, dân chúng sẽ lật đổ mình.”

Điều này cũng từng được một tác giả Mỹ là Giáo sư Bruce Bueno de Mesquita nhận xét trong một bài viết cách đây khá lâu. Trong bài viết về chuyện các nhà lãnh đạo độc tài thường hay giữ kín bệnh tật của mình được nhà báo Thủy Trúc dịch ra tiếng Việt cách đây 3 năm, ông Mesquita liệt kê một loạt những vị lãnh tụ độc tài từ thế giới cộng sản cũ cho đến các vị nắm độc quyền cai trị quốc gia ở Mỹ Latin, châu Phi, châu Á. Trong danh sách đó người ta thấy cả các vị đương còn sống như ông Tập Cận Bình bên Trung quốc, hay ông Fidel Castro bên Cuba.

Ông Mesquita cho là trong xã hội độc tài luôn có mầm mống một cuộc nổi dậy, cho nên nếu tin tức về sức khỏe suy yếu của lãnh tụ được loan truyền thì dễ có nguy cơ loạn lạc. Ông dẫn chứng chuyện trong một thời gian dài vào thập niên 1990 ở Trung quốc người ta không biết ông Đặng Tiểu Bình còn sống hay đã chết. Trước đó nữa, người ta cũng không biết ông Mao Trạch Đông sức khỏe như thế nào trước khi mất. Và tất cả những việc đó là nhằm để giữ ổn định cho đảng và nhà nước cộng sản Trung quốc. Ở Việt nam người ta cũng cho rằng hồ sơ sức khỏe của ông Hồ Chí Minh cũng bị giấu đi trước khi ông qua đời.

Song song với chuyện giấu giếm bệnh tật, các nhà lãng đạo độc tài cũng thường được cho là hay chứng minh sức mạnh thể lực cường tráng của mình như ông Putin hay biểu diễn những trò thể thao, còn ông Mao Trạch Đông, người sáng lập ra nhà nước cộng sản Trung quốc đã bơi qua sông Trường Giang vào tuổi 73 để chứng minh thể lực khỏe mạnh của mình.

Với sự xuất hiện của truyền thông điện tử, việc giữ sự bí ẩn của các lãnh tụ cộng sản trở nên khó hơn. Theo Luật sư Nguyễn Văn Đài thì sự minh bạch của những người cầm quyền ở Việt nam có khá hơn lúc trước.

Nhà văn Thùy Linh thì không đồng ý như thế vì bà cho rằng chủ nghĩa cộng sản luôn là tư tưởng lạc hậu so với thời đại. Và bà nói thêm là bà cũng không để ý đến câu chuyện vừa qua của ông Phùng Quang Thanh, chỉ khi nào các vị lãnh tụ Việt nam được bầu lên một cách minh bạch thì bà mới để ý đến.

Posted in Tin Việt Nam | Leave a comment

Tướng Thanh ‘ở lại trụ sở Bộ Quốc phòng’

Tướng Thanh ‘ở lại trụ sở Bộ Quốc phòng’

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh tại Chương trình “Khát vọng đoàn tụ” tối 27/7

Trợ lý của Đại tướng Phùng Quang Thanh nói hôm 27/7 ông sẽ “ở lại trụ sở Bộ Quốc phòng chứ không về nhà riêng”.

Lý do được Thiếu tướng Ngô Quang Liên giải thích là để “hạn chế tiếp khách nhiều”.

Ông Liên cũng được dẫn lời nói “sau khi trở về từ Pháp, Đại tướng Phùng Quang Thanh khỏe mạnh, mọi sinh hoạt và làm việc điều diễn ra bình thường”.

Tuy nhiên, ông Thanh chỉ có thể làm việc “có mức độ” và chưa thể tham gia các hoạt động, sự kiện.

Thiếu tướng Liên nói: “Do bị bệnh phổi và mới trải qua cuộc phẫu thuật, theo khuyến cáo của các bác sĩ bên Pháp, Đại tướng Phùng Quang Thanh đang phải kiêng, hạn chế tất cả các cuộc tiếp xúc và gặp gỡ nơi đông người.”

Ông Phùng Quang Thanh đã không tham dự lễ đặt vòng hoa và viếng lăng Hồ Chủ tịch vào sáng thứ Hai 27/7 như dự định.

Thế nhưng ông đã có mặt tại sự kiện nhân Ngày Thương binh Liệt sỹ Việt Nam – Chương trình giao lưu nghệ thuật “Khát vọng đoàn tụ”, được truyền hình trực tiếp tối 27/7.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam được giới thiệu tên, và ngồi cạnh các nhân vật lãnh đạo khác tại chương trình giao lưu nghệ thuật ở Bộ Quốc phòng.

Các bức ảnh cũng như sự xuất hiện của ông Phùng Quang Thanh trên truyền hình đã xua tan đồn đại rằng ông đã qua đời tại Pháp.

Trên ảnh và truyền hình, ông Thanh khá tươi cười khi tiếp xúc với các quan chức và người tham dự, tuy cũng có lúc tỏ ra mệt mỏi.

Trước đó một tuần, hãng thông tấn Deutsche Presse-Agentur (DPA) đưa tin Bộ trưởng Phùng Quang Thanh qua đời hôm 19/7 tại một bệnh viện tại Paris.

Hãng này sau đó đã thừa nhận thông tin “sai lầm” và gửi thư riêng xin lỗi Bộ trưởng Thanh.

Hôm 25/7 DPA cũng gửi thông báo bằng tiếng Đức tới khách hàng để xin lỗi.

Thông báo có đoạn: “Dựa vào một nguồn tương đối tin cậy, DPA ngày 19/7 đã đưa tin Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh qua đời vì ung thư tại một bệnh viện ở Paris. Thông tin này sau đó được chứng minh là sai sự thật. Chúng tôi muốn xin lỗi các quý vị vì sai sót này.”

Posted in Tin Việt Nam | Leave a comment

II Giáo Dục Giải Phóng Con Người : Nội dung & Ảnh hưởng(bài 2)

II Giáo Dục Giải Phóng Con Người : Nội dung & Ảnh hưởng(bài 2)

Đoàn Thanh Liêm

Trước khi đề cập đến nội dung của chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” của Paulo Freire, người viết xin được kể sơ lược về cái duyên hạnh ngộ với nhà tư tưởng nổi danh này, xuất thân từ xứ Brazil là quốc gia đông dân nhất của Châu Mỹ La Tinh. Đó là vào cuối năm 1970, trong dịp tham dự một hội nghị quốc tế tại Paris, nhằm thành lập Institut Oecuménique au service du Développement des Peuples ( INODEP = Viện Đại kết Phát triển các Dân tộc), tôi đã được gặp đích thân Paulo Freire là một thuyết trình viên chính của Hội nghị, mà ông cũng còn được bàu là vị chủ tịch của INODEP nữa. Người tầm thước với bộ râu tóc dài đã điểm muối tiêu của người đã bước vào tuổi ngũ tuần, Paulo Freire có lối nói thật say mê sôi nổi, lôi cuốn như là một thi sĩ, mà lại diễn giải quan điểm lý luận của mình với niềm xác tín sâu sắc của một triết gia. Cử tọa gồm nhiều nhân vật đại diện từ khắp năm châu đều chăm chú theo dõi bài nói chuyện quan trọng, mà đày nhiệt tình của ông. Rồi qua năm 1972, lúc tôi đến Geneva để trao đổi gặp gỡ với một số vị tại văn phòng trung ương của Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới (WCC World Council of Churches), thì tôi cũng gặp lại Paulo Freire đang phụ trách về vấn đề giáo dục của tổ chức này.

Mùa hè năm 1971, vào dịp đến tham dự một cuộc hội thảo khác nữa tại Mindanao Philippines, thì tôi thấy sinh viên ở đây chuyền tay bán cho nhau cuốn sách “The Pedagogy of the Oppressed”, ấn bản địa phương đơn giản, chỉ có ruột sách, chứ không có bìa riêng theo kiểu tự làm lấy, cho nên giá rất rẻ, có 2 US$ một cuốn thôi. Và dĩ nhiên là tôi cũng đã mua vài cuốn để đem về cho các bạn ở Việt nam. Chuyện nhỏ này lại càng khiến tôi chăm chú theo dõi tư tưởng và đường lối giáo dục của Paulo Freire suốt từ hồi năm 1970 cho đến nay.

A – Nét chính yếu của tư tưởng và hành động của Paulo Freire.

Có thể nói Paulo Freire luôn nhất quán về cả phần lý thuyết, cũng như thực hành trong đường lối Giáo dục, nhằm giúp khối quần chúng bị áp bức tìm ra cho mình một phương cách cụ thể, hữu hiệu để tự giải thóat khỏi thân phận của người bị áp bức, bị tha hóa do các điều kiện khách quan của môi trường xã hội, cũng như chủ quan nội tại của bản thân mình. Quan điểm của ông có tính chất triệt để, dứt khóat là : Xã hội đương thời ở châu Mỹ La tinh, cũng như ở nhiều nơi khác đều do bao nhiêu bất công, áp bức bóc lột tạo ra nỗi lầm than cơ cực triền miên cho đa số quần chúng nhân dân. Và không khi nào mà giới thống trị lại chịu tự nguyện đứng ra chủ động việc cải thiện các định chế xã hội vốn bảo vệ các đặc quyền đăc lợi cho riêng họ.

Như vậy, chỉ khi nào chính cái đại khối quần chúng là nạn nhân của sự áp bức thống trị tệ hại đó, mà nhất quyết dấn thân vào công cuộc giải phóng kiên trì để tự cứu thóat lấy mình, thì xã hội mới có cơ may được xây dựng tốt đẹp, và con người mới phục hồi được nhân phẩm cao quý cho từng cá nhân được. Nói khác đi, chỉ khi nào chính quần chúng nhân dân mà được thức tỉnh giác ngộ về vai trò làm chủ nhân đích thực của xã hội, và cùng đồng lòng lăn xả vào cuộc tranh đấu giải phóng đó, thì họ mới có được một tương lai tươi sáng viên mãn, như từng mơ ước từ bao nhiêu thế hệ xưa nay.

Với niềm xác tín như thế, Paulo Freire đã nhập cuộc với xã hội quê hương mình, bằng cách phát triển phương thức giáo dục tráng niên, thúc bách cho các học viên cần phải có sự suy nghĩ với thái độ phê phán (critical thinking = conscientization) về hiện trạng xã hội, mà họ là nạn nhân của bao nhiêu áp bức bất công. Và rồi từ đó, chính họ sẽ ra tay hành động, nhằm biến đổi xã hội hủ lậu đó đi (transformative action). Do lối suy nghĩ và hành động cụ thể, cấp tiến như vây, mà ông đã bị phe quân nhân cầm quyền ở Brazil bắt giữ, rồi trục xuất đi ra khỏi nước vào năm 1964.

Trong thời gian sống lưu vong, ông có dịp đúc kết các suy nghĩ và hoạt động của mình, để rồi trình bày trong 2 cuốn sách xuất bản hồi cuối thập niên 1960, và được nhiều người đánh giá rất cao. Đó là cuốn sách đầu tiên có nhan đề “ Education, the Practice of Freedom”, và đặc biệt là cuốn “The Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ phân tích chi tiết rành mạch hơn về tác phẩm quan trọng này trong một đoạn sau. Và ông đã kiên trì tiếp tục tìm kiếm trong suốt cuộc đời còn lại, nhất là kể từ ngày được trở về lại quê hương vào năm 1980, để khai triển cho thêm phong phú hơn nữa cái chủ trương giáo dục có tính cách khai phóng và nhân bản cao độ này.

Tác giả Henry A Giroux nhận định về Freire rằng : “ Thực ra, ông là người đã kết hợp được điều mà tôi gọi là cả hai thứ ngôn ngữ phê phán với thứ ngôn ngữ khả thể” (In effect, Freire has combined what I call the language of critique with the language of possibility).

B – Giới thiệu tác phẩm “ Giáo dục của Người bị Áp bức”.

Trong cuốn sách 160 trang ngắn gọn, xúc tích với chỉ có 4 chương này, Paulo đã phân tích khá rành mạch, dứt khoát về chủ trương kiên quyết không thỏa hiệp với nền thống trị đàn áp, vẫn ngự trị lâu đời trong xã hội đương thời, đặc biệt là tại châu Mỹ La tinh là quê hương bản quán của ông. Và sau khi cuốn sách ấn bản tiếng Anh ra đời vào năm 1970, tác giả lại còn có nhiều dịp trao đổi với các thức giả khắp thế giới, và từ đó ông đã hoàn chỉnh hơn quan điểm và lý luận của mình, như được trình bày trong nhiều cuốn sách và bài báo xuất bản vào thập niên 1980-1990 nữa. Ta có thể tóm gọn tư tưởng của ông trong mấy khía cạnh chính yếu sau đây :

1 / Giáo dục đại chúng cốt yếu là một cuộc đối thoại giữa” người dậy” và “người đi học” (a dialogue between the educator and the learner), trong đó phải có sự tương kính lẫn nhau giữa hai phía (mutual respect). Paulo Freire đặc biệt phê phán cái lối dậy học “nhồi nhét”, mà ông gọi là “banking concept”, tức là chỉ có người dậy chủ động chuyển mớ kiến thức vào đầu óc của học viên, y hệt như việc ký gửi các số tiền vào nơi chương mục tại ngân hàng (making deposits). Như vậy, thì người học viên hoàn toàn đóng vai trò “thụ động” của một đối tượng, chứ không hề được khuyến khích để chủ động phát huy óc sáng tạo và sự suy nghĩ có tính cách phê phán (critical thinking), để mà có thể tự mình khám phá ra hoàn cảnh bị áp bức của mình và rồi đưa đến một hành động thích đáng.

Thay vào đó, tác giả đề ra cái khái niệm “Giáo dục đặt vấn đề” (problem-posing concept of Education), trong đó cả hai phía người dậy và người học đều cùng hợp tác với nhau trong một quá trình hỗ tương (a mutual process), nhằm cùng nhau khám phá thế giới, và chung với nhau cố gắng vươn tới một mức độ nhân bản viên mãn hơn (their attempt to be more fully human).

2 / Cuộc đối thoại này không phải chỉ nhằm đào sâu sự hiểu biết, mà còn là một phần làm thay đổi nơi thế giới. Tự bản thân, sự đối thoại là một loại hoạt động có tính hợp tác bao gồm sự tôn kính (a co-operative activity involving respect). Quá trình này quan trọng, vì nó giúp tăng thêm sức mạnh cho cộng đồng và đồng thời lại xây dựng nên nguồn vốn xã hội (enhancing community and building social capital), mà lại đưa dẫn chúng ta đến hành động cho công lý và phát triển nở rộ về phương diện nhân bản (human flourishing) nữa.

Cơ sở cụ thể cho hệ thống giáo dục căn cứ vào sự đối thoại này chính là nơi các“câu lạc bộ văn hóa” (culture circle), trong đó các học viên và người phối trí hợp cùng nhau bàn thảo về những” chủ đề khởi sinh” (generative themes), mà có ý nghĩa trong bối cảnh cuộc sống thực tiễn của người học viên. Các chủ đề này liên hệ tới thiên nhiên, văn hóa, công việc làm và các tương quan xã hội, thì đều được khám phá ra qua sự tìm kiếm chung nhau giữa nhà giáo dục với học viên. Rồi các chủ đề đó được sử dụng làm căn bản cho cuộc đối thoại trong phạm vi sinh họat nội bộ của câu lạc bộ. Từ đó, mà dần dần diễn ra quá trình cấu tạo được ý thức phê phán (critical consciousness) nơi các học viên tham gia, với tư cách là chủ thể của xã hội, mà chính họ đang cùng nhau ra sức xây dựng với quyết tâm của cả tập thể của mình.

3 / Tính chất độc đáo trong tư tưởng của Paulo Freire chính là việc ông đã khôn khéo tổng hợp đến độ nhuần nhuyễn được kinh nghiệm của những nhà tư tưởng tiền bối, và đem áp dụng vào đường lối giáo dục của ông. Điển hình là phép biện chứng của triết gia Hegel giữa “ông chủ và đày tớ”, thì đã được Freire áp dụng trong lối “giải thóat khỏi các hình thức độc đóan trong giáo dục”(liberation from authoritarian forms of education). Chủ thuyết hiện sinh của Jean Paul Sartre và của Martin Buber, triết gia Do Thái đã giúp Freire đưa ra khái niệm về “ sự tự biến đổi của người bị áp bức để tiến vào trong lãnh vực của tình trạng liên chủ thể tiến bộ” (the self-transformation of the oppressed into a space of radical intersubjectivity). Kể cả thuyết duy vật lịch sử của Karl Marx cũng ảnh hưởng tới quan niệm của Freire về lịch sử tính của các mối quan hệ xã hội (historicity of social relations).

Và chủ trương “Thần học giải phóng” cũng ảnh hưởng rõ rệt đến quan điểm của Freire, khi ông cho là “Tình yêu thương là điều kiện thiết yếu cho một nền giáo dục đích thực”. Rồi quan điểm cách mạng chống đế quốc của Ernest Che Guevara và Frantz Fanon, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Les Damnés de la Terre”, cũng ảnh hưởng đến sự phân tích của Freire về tình trạng trầm đọng (sedimentation) của tư tưởng của giới áp bức thống trị, mà vẫn còn hằn sâu nơi não trạng của chính bản thân lớp người nạn nhân bị áp bức. Và rồi từ đó, ông đã dấn thân hết mình vào công cuộc tranh đấu chống lại chế độ thực dân đế quốc ở khắp mọi nơi.

C – Ảnh hưởng của tư tưởng Paulo Freire trên thế giới.

Có thể nói Paulo Freire là mẫu “con người tri hành hợp nhất” theo lối nói của Vương Dương Minh là nhà tư tưởng nổi danh của Trung quốc ngày xưa. Ông không chỉ đơn thuần là một lý thuyết gia, mà còn là một con người dấn thân hoạt động hết mình cho lý tưởng giải phóng con người. Chủ trương Giáo dục của ông tuy rất cương quyết dứt khoát, triệt để tiến bộ, nhưng đày tính nhân bản ôn hòa, khác hẳn với khuynh hướng quá khích, bạo hành của lớp người cộng sản Marxist tại châu Mỹ La tinh, cụ thể như Che Guevara, Fidel Castro. Vì thế mà đại bộ phận quần chúng nhân dân tại khu vực quê hương ông, vốn theo Thiên chúa giáo, thì đã tiếp nhận tư tưởng của Freire một cách nồng nhiệt, phấn khởi.

Tại Phi châu cũng vậy, trong nhiều dịp đến làm việc tại châu lục này, nhất là tại mấy nước trước đây cũng là thuộc địa của Bồ Đào Nha, như Angola, Mozambique, Guinea Bissau, Paulo Freire đã được đón tiếp một cách rất thân tình trân trọng, bởi lẽ ông cùng chia sẻ cái thân phận của người dân đã từng phải sống dưới sự thống trị hà khắc của các chánh quyền thực dân đế quốc trước kia, cũng như của các chế độ độc tài bản xứ trong giai đoạn độc lập tự chủ hiện nay.

Tại Á châu, ông cũng được đón tiếp tại nhiều nơi như Ấn độ, Papua New Guinea, và có nhiều dịp trao đổi với các giới chức hoạt động trong lãnh vực giáo dục, cũng như hoạt động cộng đồng.

Đã có nhiều quốc gia thiết lập các Viện Nghiên cứu Paulo Freire (Paulo Freire Institute = PFI) nhằm cổ võ và quảng bá tư tưởng của ông về lãnh vực cải cách giáo dục tráng niên, cũng như thúc đảy công cuộc tranh đấu cho công bằng xã hội trên phạm vi toàn cầu. Điển hình như PFI tại Nam Phi, tại Tây Ban Nha, tại Phần Lan, tại đảo quốc Malta, và dĩ nhiên tại Brazil là quê hương của ông.

Riêng tại Mỹ, thì có FPI đặt tại đại học UCLA ở thành phố Los Angeles California. Viện nghiên cứu này được thiết lập năm 2002 và rất hoạt động với việc xây dựng những mạng lưới liên kết giới học giả, nhà giáo, nhà họat động xã hội, nghệ sĩ và các thành viên của cộng đồng. Thông qua các cuộc gặp gỡ trao đổi thường xuyên, tất cả các thành viên và các thân hữu của Viện FPI đều dồn nỗ lực vào việc xây dựng công bằng xã hội, và sử dụng giáo dục như là một phương tiện để tạo sức mạnh cho khối quần chúng bị áp bức, bị khuất phục tại khắp nơi trên trái đất.

Ngòai ra, cũng còn phải kể đến các Diễn Đàn Paulo Freire (bi-annual PF Forums) được tổ chức mỗi năm 2 lần, nhằm mở rộng và nâng cao sự nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm của những thức giả vốn theo đuổi đường lối giáo dục tiến bộ do Paulo Freire đã dày công khai phá từ trên nửa thế kỷ nay.

D – Thay lời kết luận.

Có thể nói Paulo Freire là một con người tòan diện, vừa có trình độ suy tư lý luận rất thâm hậu, mà cũng vừa là con người dấn thân họat động suốt đời, không bao giờ mệt mỏi. Ông được quần chúng mến phục, không những do các tác phẩm sâu sắc về triết lý giáo dục, về phương pháp vận động khích lệ cho tầng lớp người bị áp bức bóc lột, mà còn vì cái nhân cách sáng ngời, cái tinh thần khiêm cung hòa ái, và nhất là vì tấm lòng tha thiết yêu mến tột cùng đối với nhân quần xã hội nữa.

Quả thật, Paulo Freire là một tiêu biểu rất xứng đáng, là niềm tự hào cho tầng lớp sĩ phu trí thức của xứ Brazil, cũng như của tòan thể châu Mỹ La tinh vậy./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010.

Đoàn Thanh Liêm

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, CHÍNH TRỊ | Leave a comment

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

( Paulo Freire : 1921 – 1997)

Paulo Freire sinh năm 1921 tại Brazil. Ông học Luật và Triết học, nhưng lại dấn thân vào công cuộc giáo dục đặc biệt cho giới tráng niên, nhằm gây ý thức cho đại chúng phải mạnh dạn tự giải thoát mình ra khỏi tình trạng áp bức nặng nề, tàn bạo của xã hội đương thời. Vì có tư tưởng và hành động cấp tiến như vậy, nên ông bị giới quân nhân cầm quyền bắt buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài, từ năm 1964, mãi cho đến năm 1980, ông mới có thể trở về quê hương mình được.

Tại nước Chi lê, ông đã làm việc cho tổ chức văn hóa Unesco của Liên Hiệp Quốc, và Viện Cải cách Ruộng đất của chánh phủ Chi lê. Ông còn được mời tới làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu về Phát triển và Biến đổi xã hôi thuộc đại học Harvard ở Mỹ (Center for Studies in Development and Social Change). Rồi sau này làm giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Tôn giáo thế giới (World Council of Churches) tại Geneva, Thụy sĩ.

Năm 1970, ấn bản tiếng Anh “The Pedagogy of the Oppressed” (Giáo dục của Người bị Áp bức) của Paulo Freire đã gây một tiếng vang lớn trong giới giáo dục và hoạt động xã hôi khắp thế giới. Sau trên 40 năm, thì đã có hàng triệu cuốn được phổ biến rộng rãi qua nhiều lần tái bản, và hàng mấy chục bản dịch ra các thứ tiếng khác nữa. Ông là người đã cổ võ cho ý niệm “ Conscientizacao’ nguyên văn tiếng Bồ đào nha, mà bây giờ đã trở thành thông dụng khắp thế giới với tiếng Anh là “Conscientisation” (= Consciousness Raising, Critical Conciousness). Ta có thể diễn tả ý niệm này là : Sự thức tỉnh Ý thức và Suy nghĩ có tính cách phê phán.

Quả thật, chủ trương giáo dục có tính chất cách mạng triệt để của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giáo dục và xã hội cùng khắp thế giới. Và tư tưởng triết học của ông cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành học thuật như thần học, xã hội học, nhân chủng học, sư phạm, ngữ học thực hành và nghiên cứu văn hóa (applied linguistics & cultural studies).

Có thể nói : Paulo Freire là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất về bộ môn giáo dục vào cuối thế kỷ XX ( the most influential thinker about education).

Bài viết này nhằm giới thiệu tư tưởng độc đáo và dứt khoát của ông. Đồng thời cũng lược qua về ảnh hưởng của tư tưởng này trong thế giới hiện đại, đặc biệt là tại các quốc gia vốn xưa kia là thuộc địa của thực dân Tây phương ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và Châu Á. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Paulo Freire, là một nhân vật tiêu biểu của trào lưu thức tỉnh và vận động xã hội tại Châu Mỹ La tinh là quê hương của ông, người viết xin được dàn trải việc trình bày trong 2 bài như sau :

Bài 1 / – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX.

Bài 2 / – Cốt lõi chủ trương “Giáo dục giải phóng” & Ảnh hưởng trong thế giới hiện đại.

I – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh.

Châu Mỹ La tinh (Latin America) là khu vực nằm ở phía nam của nước Mỹ, mà xưa kia hầu hết đều là các lãnh thổ nằm dưới sự cai trị của hai nước Tây ban nha và Bồ đào nha. Hiện nay khu vực này có chừng 30 nước với tổng số dân là trên 560 triệu. Chỉ có Brazil với dân số trên 190 triệu là nói tiếng Bồ đào nha. Còn lại, thì tất cả đều nói tiếng Tây ban nha. Trừ một số rất nhỏ xưa kia là thuộc địa của Pháp, Anh, Hòa lan, thì vẫn còn nói tiếng như tại “mẫu quốc” cũ của họ.

Có tới 70% dân chúng trong khu vực theo đạo Thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic). Và chừng 15% theo đạo Tin lành.

A – Tình trạng bất ổn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Kể từ thập niên 1960 trở đi, khu vực này đã trải qua nhiều biến động về chính trị kinh tế, cũng như về mặt văn hóa xã hội thật sôi động, nhiều khi đưa đến những tranh chấp tàn bạo đẫm máu, do các chế độ độc tài thiên hữu, quân phiệt hay thiên tả gây ra. Nhiều cuộc đảo chính đã liên tục xảy ra, khiến cho xã hội luôn bất ổn định, và chế độ độc tài quân phiệt dễ có cơ hội được củng cố, và người dân bị dồn vào thế bị động, không thể hợp nhau góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia được.

Lại nữa, vào giữa thời chiến tranh lạnh, nên phía Liên Xô đã tìm nhiều cách để gây ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản tại đây; điển hình là tại Cuba từ khi Fidel lên nắm chánh quyền năm 1959 và đã ngả hẳn về phía Liên Xô. Chúng ta hẳn đều còn nhớ việc Liên Xô cho đem thiết trí lọai hỏa tiễn tại Cuba nhằm hướng vào nước Mỹ, khiến xúyt gây nên cảnh chiến tranh giữa hai siêu cường Nga-Mỹ vào năm 1962, trước sự đối đầu nẩy lửa của hai lãnh tụ Kruschev và Kennedy.

Mà phía Mỹ, thì cũng tìm mọi cách can thiệp nhiều khi rất nặng tay tàn bạo, để bảo vệ toàn thể khu vực được gọi là“cái sân sau” (backyard) của riêng nước Mỹ; điển hình như có bàn tay của CIA trong việc lật đổ chế độ thiên tả của Tổng thống Salvador Allende tại Chi lê năm 1973. Rồi sau này vào thập niên 1980, thì phe Sandinista khuynh tả đã lên nắm được chánh quyền ở Nicaragua, với sự trợ giúp đắc lực của Cuba cộng sản cũng như của Liên Xô. Và chánh quyền Mỹ dười thời Tổng thống Reagan đã ra tay can thiệp mạnh bạo, để giúp phe đối lập Contras lập lại thế cờ tại đây. Đại khái đó là vài nét đại cương về ảnh hưởng của chiến tranh lạnh tại khu vực Châu Mỹ La tinh, từ hồi thập niên 1960 cho đến khi khối Liên Xô bị tan rã kể từ 1990.

B – Sự nhập cuộc của Giáo hội công giáo La mã.

Về phía Thiên chúa giáo, thì do ảnh hưởng của tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican 2, trong giới tu sĩ và giáo dân tại khu vực đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong sự nhận thức, cũng như trong hành động của Giáo hội công giáo. Điển hình như trường hợp của Tổng giám mục Helder Camara của Brazil; ông là người rát năng động trong việc phục vụ và tranh đấu cho khối đa số nghèo túng, đến nỗi bị chụp mủ là “vị giám mục đỏ” (the red bishop). Ông nói chua chát như sau : “Khi tôi cho người nghèo ăn, thì người ta gọi tôi là một ông thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có thực phẩm, thì người ta gọi tôi là một người cộng sản!” Giám mục Camara và cầu thủ Pele’ là hai người xứ Brazil mà được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Lại có trường hợp vị Giám mục cấp tiến Oscar Romero ở nước El Salvador, ông còn bị chánh quyền cho dùng tay chân ám sát, ngay giữa lúc ông đang cử hành thánh lễ an táng cho bà mẹ của một người bạn vào năm 1980. Và đã có đến 250,000 người đến tham dự lễ an táng của vị mục tử kiên cường này, mà họ coi như là một vị thánh tử đạo (Martyr).

Cũng tại El Salvador, vào cuối năm 1980 đã xảy ra việc sát hại 4 nữ tu người Mỹ, do bàn tay của nhân viên công lực nhà nước. Sự kiện này đã gây sự phẫn nộ tột cùng của báo chí và công luận nước Mỹ, đến độ tạo thành áp lực buộc chánh phủ Mỹ phải có biện pháp răn đe mạnh mẽ đối với chánh quyền tàn bạo của El Salvador.

Cũng phải kể thêm về trường hợp của vị linh mục Camilo Torres ở nước Colombia, ông là một tu sĩ cấp tiến, được đào tạo tại đại học công giáo nổi tiếng Louvain bên nước Belgium ở Âu châu. Vì áp lực nặng nề từ phía chánh quyền Colombia, ông phải thóat ly theo hẳn phe du kích chống chánh phủ, và đã bị hạ sát vào năm 1966 trong một cuộc đụng độ với quân đội. Tên tuổi của Camilo Torres, cũng như của Che Guerava bị hạ sát năm 1967 tại Bolivia, thì đã trở thành một huyền thoại lôi cuốn giới trẻ trong toàn thể khu vực Châu Mỹ La tinh từ trên 40 năm nay.

Nhân tiện, cũng cần phải ghi lại cái thủ đọan cực kỳ độc ác là “làm mất tích” (disappearance), bằng cách thủ tiêu những người chống đối, mà cơ quan an ninh tại nhiều nước trong khu vực sử dụng, để đàn áp phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do tại các nước này. Điển hình là tổ chức Các Bà Mẹ có con bị mất tích ở Argentina, đã liên tục trong nhiều năm tháng đến tụ hợp với nhau tại một quảng trường Plaza de Mayo trong thành phố thủ đô, để đòi hỏi chánh quyền phải cho công bố về các vụ mất tích này. Các tổ chức tranh đấu bảo vệ nhân quyền quốc tế như Hội Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cũng đã thâu thập được khá nhiều chứng từ về các trường hợp “ người bị mất tích” (disappeared persons) tại nhiều quốc gia trong vùng, mà có nơi con số này lên tới nhiều ngàn người. Rõ ràng chế độ độc tài nào dù theo phe tả như cộng sản, hay theo phe hữu như chế độ quân phiệt, thì cũng đều tàn bạo độc ác như thế cả.

C – Nền Thần học Giải phóng.

Châu Mỹ La tinh này lại còn là nơi phát sinh một trào lưu tư tưởng đặc biệt sôi nổi sinh động, đó là nền “Thần học giải phóng” ( Liberation Theology). Đó là cả một phong trào của các giáo sĩ và giáo dân phản ứng không khoan nhượng trước thực trạng xã hội đày rẫy bất công áp bức, bóc lột trong xã hội các quốc gia trong khu vực. Họ lục tìm trong Kinh thánh và trong Giáo huấn chân truyền của Giáo hội công giáo từ xưa nay, để xây dựng được một nhận thức đứng đắn, trung thực về vai trò dấn thân nhập cuộc của Giáo hội trong công trình giải thoát con người và xã hội khỏi các định chế chính trị xã hội hủ lậu, phản động và vô luân trong xã hội đương thời. Trừ một số nhỏ thiên về phía marxit cộng sản quá khích, còn đa số giáo sĩ và giáo dân đều giữ vững lập trường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động của tôn giáo. Hệ thống tư tưởng tiến bộ này luôn được sự hưởng ứng của quần chúng giáo dân và giới chức sắc của giáo hội, mà tiêu biểu sáng ngời nhất là “Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh (CELAM = the Latin American Episcopal Conference). Dưới sự thôi thúc của những vị lãnh đạo năng nổ, nhiệt tình như Helder Camara, Hội Đồng này đã biểu quyết thông qua chủ trương rất tiến bộ là : “ Giáo hội phải dứt khoát chọn lựa đứng về phía người nghèo” ( Church’s Option for the Poor).

D – Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ.

Trong khi đó, thì giới hàn lâm đại học (Academia), cũng như giới văn nghệ sĩ, đều sôi nổi góp phần vào công cuộc dấn thân phục vụ xã hội, mà điển hình là sự đóng góp thật là vĩ đại của Paulo Freire với chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” như đã được trình bày rất khúc chiết trong cuốn “Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ đề cập chi tiết vế tư tưởng này trong một bài sau.

Cũng cần phải ghi thêm về ảnh hưởng của phong trào trí thức tả phái phát xuất từ Âu châu, đặc biệt là từ thập niên 1950, đối với tư tưởng và hành động của học giới và văn nghệ sĩ tại Châu Mỹ La tinh. Khuynh hướng “Bài Mỹ” (Anti-Americanism) từ Âu châu đã làm tăng thêm sự hậm hực, ân óan vốn có sẵn từ lâu đời đối với sự thống trị và khuynh lóat của chánh sách bá quyền (hegemony) của nước Mỹ đối với tòan thể các quốc gia và lãnh thổ yếu thế, mà lại bị chia rẽ, phân tán ở phía Nam bán cầu (hemisphere). Lâu lâu, người ta vẫn nghe thấy dân chúng tại đây hô thật to cái khẩu hiệu “Yankees, Go Home” (Người Mỹ, Hãy Cút Đi!) mỗi khi có phái đòan cao cấp của Mỹ đi qua một số thành phố lớn. Điển hình là vụ phản đối rầm rộ, đến độ xô xát bạo hành đối với Phó Tổng thống Nixon của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nam Mỹ vào năm 1958.

Lại nữa, chánh phủ Mỹ vì luôn bênh vực che chở cho giới tài phiệt Mỹ làm ăn buôn bán khai thác tại các nước trong khu vực, nên đã cho thiết lập và ủng hộ các chánh quyền cực hữu, độc tài mà được đặt tên một cách mỉa mai là “Banana Republics”, vì chuyên làm tay sai cho các đại gia chuyên môn khai thác trồng chuối để xuất cảng về Mỹ, hoặc khai thác các nguồn lợi thiên nhiên khác, để thu về được một số lợi nhuận khổng lồ cho các tập đòan kinh tế có độc quyền khai thác, mà điển hình là United Fruit.

Trước tình trạng bất ổn căng thẳng như thế, ta không lạ gì với sự chống đối quyết liệt như của những lãnh tụ mới đây như Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela đối với nước Mỹ. Và qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về phản ứng dứt khóat và triệt để của giới trí thức như Paulo Freire trong bối cảnh chung của khu vực Châu Mỹ La tinh vậy./

( Bài 2 : Giáo dục Giải phóng : Nội dung và Ảnh hưởng)

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, CHÍNH TRỊ | Leave a comment

Vì yêu …

Vì yêu …

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

nguoi-yeu

Khi làm việc gì, ta thường được thúc đẩy bởi một động cơ nào đó. Động cơ ấy thêm sức cho ta, giúp ta được mạnh mẽ để thực thi và hoàn thành những dự tính của mình. Hơn bất kỳ một động cơ nào khác, tình yêu – vốn là một sự huyền nhiệm khôn tả – có một sức cuốn hút và khiến người ta trở nên “vô địch” trong những hành vi của mình. Chẳng ai biết tình yêu là gì, không ai có thể định nghĩa được tình yêu. Người ta chỉ có thể nhận ra nó như một cái gì đó từ một nơi bí ẩn xuất hiện vào lúc không ngờ làm điên đảo con người, làm mất hết lý trí, làm người ta chẳng hiểu nổi được mình. Đã có biết bao giai thoại về những câu chuyện tình lâm ly bi đát, hạnh phúc có, đau buồn có. Và cứ hệt như một điều được mọi người công nhận, áng thơ nào không có chút tình, áng thơ ấy chẳng có gì hay; câu chuyện nào chẳng có chữ yêu, câu chuyện ấy chẳng đủ sức làm co thắt lòng người. Vốn dĩ tình yêu đã là một điều khó hiểu trong số những gì khó hiểu nhất, càng suy nghĩ về nó, đào sâu, nghiên cứu về nó, ta lại càng như rơi vào một mê cung với bao điều khiến ta phải tròn xoe đôi mắt.

Vì yêu, ta sẵn sàng thay đổi chính mình. Một lối sống, một cung cách hành xử bị cho là thâm căn cố đế của ta, sẽ chẳng bao giờ ta chịu thay đổi cho đến khi ta yêu. Tình yêu ta dành cho ai đó sẽ khiến ta vui mừng và hớn hở lột xác khỏi con người cũ của mình. Ta bắt đầu chăm chút hơn về diện mạo. Ta tự nhận thấy mình phải đẹp hơn trong mắt người khác. Ta bỗng dưng sống có ý thức hơn, có trách nhiệm hơn. Ta muốn mình phải giỏi hơn. Ta cũng có động lực phải vượt qua tất cả những khiếm khuyết của mình để làm hài lòng người mình yêu, để “lấy điểm” trong mắt họ. Ta bắt đầu nghĩ đến tương lai. Suy nghĩ của ta cũng trở nên chín chắn cách lạ thường… Tất cả những điều đó diễn tả một niềm vui lớn lao trào ứ trong con tim của ta. Phải, có một hạnh phúc nào đấy không tên đang khuấy động bên trong con người ta, khiến ta thấy trời đất như đổi khác, trời đông lạnh lẽo bỗng hóa nên nắng xuân ấm áp chan hòa. Yêu một người là muốn gắn kết đời mình với người ấy và một cách tự nhiên, ta tự nhủ mình phải gọt dũa mình để hai bên có thể hòa hợp với nhau. Bởi thế, nếu ai cho rằng mình yêu mà không có chút biến đổi nào, người ấy chưa thực sự yêu.

Vì yêu, ta dường như có đủ sức mạnh để nếm trải tất cả những gian lao thử thách. Cái kỳ lạ của tình yêu nằm ở chỗ, nó có thể khiến người ta hạnh phúc khi phải hy sinh. Chẳng ai thích hy sinh, vì hy sinh có nghĩa là chịu thiệt thòi, mất mát. Nhưng hy sinh trong tình yêu lại khiến cho người ta thấy hạnh phúc và hân hoan. Con đường xa, lầy lội vì cơn mưa lớn có là gì đối với hai người yêu nhau. Núi cao sông dài có là gì khi con tim đã trao nhau. Nghìn năm chờ đợi có là chi khi lòng ta đã tìm thấy chỗ đáp. Tình yêu là thế, nó làm cho người ta sẵn sàng bỏ đi cái tôi, cái ngã, cái cao ngạo của mình mà không hề cảm thấy quá khó khăn hay vất vã. Bởi thế, ta sẵn sàng bị chê là “sến” khi nói những lời ngọt ngào dành cho nhau. Ta chẳng ngại xấu hổ khi tỏ tình với nhau. Ta cũng nhanh chóng cúi mình nói lời xin lỗi, dù có khi ta chẳng có lỗi gì. Tình yêu gắn liền với một chút nhịn, một chút hy sinh, một chút từ bỏ. Có lẽ vì thế mà hoa hồng có gai, sô-cô-la vừa ngọt lại vừa đắng. Và chính tình yêu cũng được lớn lên nhờ những điều ấy. Không có một tình yêu nguyên vẹn nào sẵn tồn tại từ trời rơi xuống. Tình yêu cũng hệt như một ngọn đèn, biết chăm chút cho nó thì nó cháy, bỏ bê nó thì nó lụi tàn. Mà để có thể chăm chút cho nó, ta phải hy sinh nhiều lắm!

Người ta thường nói, khi yêu, ta phải cố gắng cố gắng để có được nhau trong cuộc đời. Điều đó đúng lắm! Nhưng sự huyền nhiệm của tình yêu vốn dĩ không có nguyên tắc: có đôi khi, chính vì yêu mà ta phải mạnh dạn để cắt đứt, để chia tay. Yêu nhau và đến được với nhau là hai chuyện khác nhau. Ta luôn mong muốn chúng là một, nhưng cuộc đời đâu phải lúc nào cũng thỏa đáp mong muốn của ta. Yêu là tiếng nói của con tim, còn việc san sẻ cả cuộc đời với nhau lại tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố. Lý trí không thể điều khiển được con tim, nó không thể cấm cản hành vi của con tim, nhưng nó lại có đôi mắt sáng để rọi vào từng cảm xúc của con tim. Biết là sẽ đau, rất đau, nhưng ta đành phải chấp nhận để một cuộc tình dang dở có một cái kết buồn. Ta làm thế, không phải vì ta không còn yêu, nhưng chính vì chữ yêu mới khiến ta đi đến quyết định ấy. Vì sao ư? Vì yêu thì mong muốn điều tốt đẹp cho người mình yêu, là xem người mình yêu hơn cả mình, chứ không phải tìm thỏa mãn cho chính mình. Chia tay vì một điều tốt đẹp quý giá hơn, đúng đắn hơn là một sự chia tay rất cao cả. Nó đòi hỏi một nghị lực lớn, một sự trưởng thành và cả một tình yêu – sự hy sinh vĩ đại.

Còn có biết bao điều phải nói về tình yêu! Người ta đã viết về nó, nói về nó trong suốt cả một lịch sử dài rồi mà còn chưa diễn tả đủ. Mãi mãi, tình yêu luôn là cái khiến ta bận tâm, dù ta có muốn hay không. Ai đã yêu thì sẽ rõ: nó còn hơn những gì có thể được nói hay biểu lộ ra. Nó làm biến đổi người khác, nó khiến người khác thích hy sinh, nó giúp người khác can đảm để làm điều mà họ chưa bao giờ muốn làm. Nó mang đến hạnh phúc cho người ta, nhưng nó cũng là nhân tố khiến người ta đau đến vô cùng. Nó đến như một kẻ trộm, chẳng ai chờ ai mong, nhưng nó cứ ở lì trong trái tim ta, chẳng chịu buông rời. Thế giới này trở nên phức tạp cũng vì chữ yêu, nhưng nó cũng trở nên phong phú nhờ chữ yêu.

Vì yêu…

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment