Chúa Là Nơi Con Nương Tựa & Bỏ Ngài Con Biết Theo Ai – Hoàng Oanh

Chúa Là Nơi Con Nương Tựa/Nữ Danh Ca Hoàng Oanh

Bỏ Ngài Con Biết Theo Ai – Hoàng Oanh

Posted in NHẠC CẢNH | Leave a comment

HÃY NHỚ ĐẾN NGÀY TẬN SỐ MÀ CHẤM DỨT THÙ HẬN!

HÃY NHỚ ĐẾN NGÀY TẬN SỐ MÀ CHẤM DỨT THÙ HẬN!

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

… Ngày 17-5-1972 cảnh sát trưởng Luigi Calabresi bị ám sát ngay trước cửa tư gia ở đường Cherubini tại thành phố Milano miền Bắc nước Ý, hưởng dương 35 tuổi (1937-1972). Năm ấy góa phụ Gemma Capra Calabresi mới 25 tuổi với hai đứa con trai còn nhỏ tuổi và đang mang thai đứa con thứ ba.

Thật là biến cố kinh hoàng làm đảo lộn tất cả. Thế nhưng đó mới chỉ là khởi đầu cho những đau thương tiếp diễn sau đó. Dầu vậy, hôm nay, sau hơn 40 năm trôi qua, bà Gemma Capra Calabresi vẫn tiếp tục nói và làm chứng cho Đức Tin và niềm Hy Vọng xuyên qua một cuộc sống ghi đậm niềm vui và nhất là Tha Thứ. Xin nhường lời cho bà Gemma.

Tức khắc lúc xảy ra án mạng trong lòng tôi không hề có chút oán thù. Nhờ thế mà tôi cảm nhận niềm trìu mến bao la đến từ bên ngoài chứ không phải từ chính tôi. Tôi cùng với Cha Sở đọc ngay một Kinh Kính Mừng cầu cho kẻ sát hại hiền phu tôi và nhất là cầu cho gia đình của anh ta. Tôi nghĩ chắc hẳn gia đình kẻ sát nhân có nỗi đau đớn còn lớn lao hơn cả chính tôi. Tôi xác tín rằng vào lúc ấy tôi nhận được hồng ân Đức Tin. Nói nghe có vẻ khù khờ khó tin. Nhưng sự thật là như thế. Tôi không hề cảm thấy oán thù và tuyệt vọng. Tôi như được THIÊN CHÚA đổ tràn Tình Yêu của Ngài và không thể nào diễn tả bằng lời. Tôi cảm nhận sự hiện diện và sức mạnh của Chúa ở trong tôi. Tôi nghĩ khi chúng ta nói về Chúa Thánh Linh là như thế. Tình Yêu và Sức Mạnh.

Ngay khi xảy ra án mạng tôi không hề tỏ ra giận dữ, than trách hoặc tuyệt vọng. Không. Được như vậy là nhờ tôi biết rằng THIÊN CHÚA đang hiện diện. Thế là tôi điềm tĩnh và nhìn sự việc dưới một nhãn quan khác. Điều này giúp tôi rất nhiều, kể cả những năm tháng kế tiếp sau đó và vào những lúc khó khăn nhất, đặc biệt trong thời kỳ xử án. Tuy nhiên tôi không luôn luôn giữ được Đức Tin vững mạnh. Thế nhưng mỗi lần bị thử thách tôi liền nhớ đến giây phút xảy ra án mạng để kín múc Đức Tin.

Có nhiều người cho rằng đây là vụ án chính trị. Riêng tôi, tôi không bao giờ đặt câu hỏi tại sao biến cố đau thương lại xảy ra cho tôi. Không. Tôi tự nhủ trên thế giới còn có nhiều đau thương khác lớn lao gấp bội phần đau thương của tôi. Nhưng đối với hiền phu quá cố của tôi thì khác. Tôi thắc mắc tại sao người ta lại giết anh, một người luôn quan tâm và sẵn sàng giúp đỡ tha nhân. Anh cố gắng tìm hiểu những gì đang diễn ra và ước muốn đối thoại với nhóm trẻ du-côn đang phá phách. Có lẽ vì thế mà anh trở thành mồi ngon cho oán thù.

Trên ngôi mộ của hiền phu tôi chọn câu nói của Đức Chúa GIÊSU: ”Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Luca 23,34). Khi chọn câu này tôi tự nhủ: ”Là tín hữu Công Giáo sống đạo chân thành, mình phải sống thực sự câu nói chứ không phải chỉ viết ra mà thôi!”. Tôi phải trải qua một lộ trình Tha Thứ thật dài. Nhưng tôi nhận được sự giúp đỡ của nhiều người.

Trước tiên là nhờ thân mẫu tôi với lời nói và gương lành của người. Mẹ tôi là phụ nữ có Đức Tin vững mạnh. Chúng tôi cùng nhau trao đổi và thổ lộ tâm tình. Khi tôi thấy một người nào đó tỏ ra giận dữ và nuôi mối căm thù tôi lấy làm tiếc vì như thế là người đó làm hỏng cuộc đời mình. Tha Thứ là một ân huệ đến từ THIÊN CHÚA nhưng nó cũng là một cái gì đó được chín mùi. Riêng tôi, tôi tha thứ nhờ sống Đức Tin. Con đường tha thứ có thể có nhiều lối khác nhau. Nhưng đối với tôi, Tha Thứ là một cuộc chinh phục. Tôi chiến thắng oán thù nhờ Đức Tin.

Ngay từ đầu sau thảm họa, tôi quyết định chọn việc giáo dục con cái tránh xa oán ghét và báo thù. Có như thế chúng tôi mới tận hưởng niềm vui trong cuộc sống. Dĩ nhiên cuộc đời tôi thay đổi rất nhiều sau cái chết đau thương của hiền phu. Nhưng trong thử thách tôi cảm thấy mình không cô đơn. Tôi biết rõ THIÊN CHÚA ở bên tôi. Chính niềm tin tưởng vững mạnh này ban cho tôi sức mạnh. Tôi cũng cố gắng truyền đạt Đức Tin và niềm an bình cho các con. Tôi tin rằng chúng là những con người yêu chuộng hòa bình.

Bên cạnh Đức Tin còn có niềm Hy Vọng. Với tư cách nhà giáo, tôi luôn luôn nhấn mạnh với các học sinh về sự cần thiết không bao giờ đánh mất niềm Hy Vọng và đừng bao giờ cảm thấy cô đơn. Cuộc đời chúng ta nằm trong vòng tay THIÊN CHÚA. Và chúng ta phải xác tín rằng THIÊN CHÚA ban cho chúng ta sức mạnh. Với niềm tin tưởng vững chắc này, chúng ta cứ an tâm tiến bước.

… ”Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm, về chuyện đó kẻ tội lỗi có biệt tài. Kẻ báo thù sẽ chuốc lấy báo thù của THIÊN CHÚA, tội lỗi nó, Người xem xét từng ly. Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha. Người với người cứ nuôi lòng hờn giận, thế mà lại xin THIÊN CHÚA chữa lành! Nó chẳng biết thương người đồng loại, mà lại dám xin tha tội cho mình! Nó chỉ là người phàm mà để tâm thù hận, thì ai sẽ xin tha tội cho nó? Hãy nhớ đến ngày tận số mà chấm dứt thù hận, nhớ mình sẽ phải hao mòn và phải chết mà trung thành giữ các điều răn. Hãy nhớ đến các điều răn mà đừng oán hờn kẻ khác, nhớ đến giao ước của Đấng Tối Cao mà không chấp nhất điều lầm lỗi” (Sách Huấn Ca 27,30/28,1-7).

(”CREDERE la gioia della fede”, Settimanale, Anno III, No 2, 11 Gennaio 2015, trang 14-18)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

GÁNH NHẸ NHÀNG

GÁNH NHẸ NHÀNG

MAI NHẬT THI

Ách của Ta thì êm áigánh của Ta thì nhẹ nhàng (JESUS. Mt 11,30)

Có câu chuyện như thế này:

Một người cảm thấy cuộc sống quá nặng nề, bèn đi tìm nhà triết học Plato cầu mong kiếm được con đường giải thoát.

(Ảnh: triết gia Plato)

Plato chẳng nói chẳng rằng, chỉ đưa cho ông ta một cái sọt bảo ông đeo lên vai, đồng thời chỉ vào một con đường lổn nhổn đất đá nói:

Mỗi khi anh bước đi một bước thì nhặt một hòn đá cho vào sọt, xem thử cảm giác như thế nào.

Người này bắt đầu làm theo lời Plato, còn Plato thì bước nhanh đến đầu kia của con đường.

Được một lúc, người kia đã đi đến con đường. Plato hỏi anh ta cảm, thấy thế nào. Người kia nói:

Tôi cảm thấy càng lúc càng nặng

Đây chính là nguyên nhân giải thích tại sao anh cảm thấy cuộc đời ngày càng nặng nề. Plato nói:

Mỗi người khi đến thế giới này, đều đeo một cái sọt rỗng, mỗi một bước đi trên con đường đời anh ta đều nhặt một thứ gì đó từ trong thế giới này để bỏ vào sọt, cho nên càng đi càng cảm thấy mệt mỏi.

Người kia hỏi:

Có cách nào có thể giảm bớt gánh nặng này không ?

Plato hỏi ngược lại anh ta:

Vậy anh có đồng ý vứt bỏ đi một trong các thứ như công việc, tình yêu, gia đình hay tình bạn không ?

Người kia nghe xong im lặng.

Plato nói:

Nếu thấy khó có thể vứt bỏ thì đừng nghỉ đó là gánh nặng nữa mà nên nghĩ đến niềm vui mà nó mang lại. Cái sọt của mỗi người trong chúng ta không những chứa đựng ân huệ mà Ông Trời ban cho chúng ta mà còn có trách nhiệmnghĩa vụ. Khi anh cảm thấy nặng nề, có lẽ anh đừng vội buồn, có thể cái sọt của kẻ khác còn to hơn, còn nặng hơn của anh nhiều. Nếu cứ nghĩ như thế, chẳng phải trong sọt của anh sẽ bớt nỗi buồn hay sao?”.

Người kia nghe xong chợt hiểu ra.

CHIA SẺ MỘT CHÚT SUY TƯ

GÁNH NHẸ NHÀNG

1. Gánh nặng cuộc đời

Đời có biết bao nhiêu thứ nặng nề hằng ngày “hành hạ” ta, nếu ta “để tâm” đến nó, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn. Nhưng, nhiều khi chúng ta quên một điều khá quan trọng, đó là cuộc sống thường có hai mặt, mặt nổi và mặt chìm. Mặt được phơi bày và mặt bị ẩn khuất.

(Ảnh: Sơn nữ mang gùi lúa sau lưng)

Nếu chúng ta chỉ thấy mặt nổi của một sự việc, và vì nó vừa ý hay không vừa ý ta, ta sẽ vấp phải sự kết luận vội vàng, và từ đó, ta cũng vội buồn, vội vui.

Đời, cái vừa ý ta thì ít, mà cái không vừa ý ta thì nhiều, nên nhiều khi chúng ta dễ “chán đời” ! Làm sao mà “yêu đời” được khi nhìn chung quanh ta toàn là những điều làm ta mệt mỏi, gánh nặng, cô độc…?

Bình tâm suy nghĩ, ta sẽ thấy, một sự việc xẩy ra, có thể đối với người này là quá sức tồi tệ, nhưng đối với người khác là chuyện “bình thường”, có khi nó còn mang ý nghĩa tích cực nữa là khác.

Có một lần một người chóm xóm than phiền với một cụ già:

Nhà bên cạnh vừa mua dàn Karaoke. Trời ơi, con nhỏ con gái trong nhà hát thiệt là kinh khủng, nó hát ngang như cua bò, còn thằng con trai thì gào thét đinh tai nhức óc. Nghe mệt mỏi làm sao !

Cụ già bình thản trả lời:

Tôi cũng thấy vậy, nhưng nếu mấy đứa đó mà đi ăn nhậu chơi bời, trộm cắp phá phách chòm xóm, thì còn đáng lo hơn. Đúng là việc chúng nó làm, chúng ta phải chịu đựng khổ sở, nhưng, dù sao, nó cũng an toàn…

Như vậy, gánh nặng cuộc đời còn tùy thuộc vào ta nhìn nó ở góc cạnh nào.

Nếu ta chỉ nghĩ tới mình, niềm vui phải làm sao hoàn toàn theo ý riêng ta, chắc chắn gánh cuộc đời càng nặng trĩu.

Niềm vui đến chỉ từ sự ích kỷ, niềm vui đó không tồn tại dài lâu được. Vì niềm vui ích kỷ, nó luôn hẹp hòi, bé nhỏ, nó không thể chịu đựng được những cơn lốc cuộc đời, vốn đòi hỏi con người biết cùng nhau chống đỡ. Sống có nhau, vì nhau, biết hợp đoàn, đỡ nâng, chung sống, chia sẻ, bảo vệ nhau.

Niềm vui cô đơn như hoa nở một mình, phơi hương tỏa sắc trơ trọi một mình, rồi héo tàn một mình, đơn độc và vô nghĩa. Voltaire đã nói: “Chỉ hay cho mình, tức là không hay cho ai nữa”. Chỉ mang gánh nặng một mình, dù đó là gánh vàng bạc ngọc ngà, mà không cho ai, vì ai, thì mang gánh nặng đó để làm gì ?

Chính vì tha nhân, vì những người thân yêu, vì tình người, vì đồng loại, mà những gánh nặng cuộc đời được thăng hoa thành những niềm vui cao cả, tuyệt vời. Những gì tưởng chỉ là nước mắt khổ đau, hóa ra, chúng biến hóa một cách mầu nhiệm thành những nụ cười hạnh phúc.

Người kia hỏi:

Có cách nào có thể giảm bớt gánh nặng này không ?

Plato hỏi ngược lại anh ta:

Vậy anh có đồng ý vứt bỏ đi một trong các thứ như công việc, tình yêu, gia đình hay tình bạn không ?

Người kia nghe xong im lặng.

Câu hỏi của Plato, ta cũng nên thường xuyên tự hỏi lòng mình:

“Tôi muốn từ bỏ những gì tôi đang gồng gánh được không ?”

2. Chối từ “gánh nặng cuộc đời” ?

Thật sự có người đã tìm cách trút bỏ gánh nặng cuộc đời bằng cái chết ! Thật ra, cái mà họ cho là “gánh nặng”, có khi chính là hạnh phúc Trời ban cho họ, thật đáng tiếc, họ không nhận ra, không hay biết !

Plato, trong câu chuyện trên, đã nói: “Cái sọt của mỗi người trong chúng ta không những chứa đựng ân huệ mà Ông Trời ban cho chúng ta mà còn có trách nhiệmnghĩa vụ”.

Có một câu chuyện minh họa điều này:

Trong phim của Abbas, đạo diễn người Iran có một tình tiết như sau:

Có một người thất chí, leo lên một cây anh đào, chuẩn bị nhảy từ trên cao xuống để kết thúc cuộc đời mình. Ngay lúc anh ta quyết định nhảy xuống thì trường học gần đó tan học. Một nhóm học sinh chạy đến. Một bạn nhỏ hỏi:

Chú làm gì trên cây vậy ?

“Dù gì cũng không thể nói cho trẻ con biết mình sắp tự sát”. Thế là anh ta nói :

Chú đang ngắm phong cảnh.

Thế chú có thấy bên cạnh có bao nhiêu là quả anh đào không ? Một học sinh khác hỏi.

Anh quay nhìn, thì ra mình cứ nghĩ đến việc tự sát mà không chú ý đến bao nhiêu là trái anh đào màu đỏ, nhỏ có, lớn có chung quanh.

Các bạn nhỏ nói:

Chú có thể hái anh đào giúp chúng cháu không ? chú chỉ cần lấy sức rung cành cây, anh đào sẽ rơi xuống chúng cháu. Năn nỉ chú đó ! Chúng cháu không leo cao như vậy được !

Anh có ý chần chừ nhưng không lay chuyển được các bạn nhỏ, đành phải ra tay giúp đỡ. Anh bắt đầu lay cây. Chẳng bao lâu, trái anh đào rơi xuống đất ngổn ngang. Dưới đất cũng tụ tập ngày càng đông các bạn nhỏ, mọi người vui vẻ và hưng phấn nhặt anh đào. Sau một đợt huyên náo, các bạn nhỏ cũng dần ra về.

Người thất chí đó ngồi trên cây, nhìn dáng vẻ vui mừng của các bạn nhỏ, không biết tại sao ý nghĩ muốn tự sát không còn nữa. Anh hái một ít trái anh đào chưa rớt xuống đất, nhảy xuống và mang anh đào từ từ đi về nhà.

Ngôi nhà vẫn cũ kỹ rách nát, vợ con anh vẫn như hôm qua. Nhưng bọn trẻ vui mừng khi trông thấy ba mang anh đào về. Khi cả nhà quây quần, ngắm nhìn các con vui vẻ ăn anh đào, bỗng anh cảm thấy có một nhận thức mới làm cho anh cảm động, anh nghĩ bụng: “Có lẽ với cuộc sống như vầy vẫn có thể sống vui…”

Chỉ nói riêng về những đứa bé thơ ngây thiếu vắng tình cha thôi, việc người cha từ chối cuộc sống đã là một điều sai lầm không thể chấp nhận được. Anh không nhận ra được rằng hai đứa con lành mạnh của anh chính là món quà quý báu mà Thượng Đế trao ban.

“Ngôi nhà vẫn cũ kỹ rách nát, vợ con anh vẫn như hôm qua”, còn anh thì đã khác, anh đã đổi mới. Bây giờ anh mới “hiểu ra” hạnh phúc tiểm ẩn trong chính gánh nặng mà anh muốn lánh xa.

“Có lẽ với cuộc sống như vầy vẫn có thể sống vui…”. Và như thế, anh đã biến gánh nặng cuộc đời thành gánh nhẹ nhàng, vì anh nhận ra bổn phận và trách nhiệm của mình. Anh có thể mang lại niềm vui cho người khác. Anh nhận ra, anh sống có ích cho cuộc đời. Lòng tự hào trong chính anh cho anh biết tự trọng. Sống không chỉ vì mình, mà còn vì tha nhân, vì cuộc đời nữa. Sao anh lại tự tử khi gia đình anh còn đó ? Anh phải hãnh diện vì bổn phận và trách nhiệm của mình, và, vì bổn phận và trách nhiệm, anh phải sống, và vui sống.

3. Gánh nhẹ nhàng.

Do đó, “gánh cuộc đời” nặng hay nhẹ còn tùy “tấm lòng” của chúng ta đối với cuộc sống. Tình yêu cuộc sống.

Ta suy nghĩ về câu chuyện này:

Một tín đồ người Ấn Độ đi bộ đến chùa Thánh ở Hymalaya. Đường đi thì xa xôi, đường núi vô cùng khó đi, không khí thì loãng. Ông ta tuy mang theo đồ đạt rất ít, nhưng vẫn cất bước không nổi, vừa đi vừa thở hổn hển

Ông ta đi rồi nghỉ, nghỉ rồi lại đi… không ngừng nhìn về phía trước, hy vọng mục tiêu đi đến sẽ sớm xuất hiện. Thình lình ông thấy phía trước có một bé gái chưa đầy 10 tuổi, trên lưng cõng một em bé đang từ bước từ bước… từng bước về phía trước. Cô bé thở hổn hển, mồ hôi đầm đìa nhưng hai tay vẫn ôm cứng đứa trẻ trên lưng.

Tìn đồ người Ấn Độ đi đến bên cô bé, rất đồng cảm nói:

Cháu của ta, cháu cũng giống như ta, cháu nhất định mệt rồi, cháu cõng nặng quá !

Cô bé nghe xong, không vui, trả lời:

Cái ông cõng là sức nặng, nhưng cái cháu cõng không phải là sức nặng, nó là em trai của cháu.

Người cảm thấy gánh nặng vì không có tình yêu.

Chính Tình Yêu cho ta sự nhẹ nhàng. Mọi thứ chỉ có ý nghĩa khi nó giúp cho ta sống cho một tình yêu chân chính, cho một lý tưởng rõ rệt, cho một cuộc đời có ý nghĩa.

Tình yêu nào cũng cần có sự hy sinh. Hy sinh là gánh nặng nếu tình yêu đó không thật. Được hy sinh cho tình yêu lại là niềm hạnh phúc, nó là “ách êm ái, và gánh nhẹ nhàng” khi trái tim đã dành trọn cho tình yêu.

Thế giới sẽ hạnh phúc biết bao, nếu mọi đôi vai đều biết kề nhau chung vác những trách nhiệm và bổn phận để làm cho thế giới đẹp hơn.

Trong gia đình, cộng đoàn, tập thể, tôn giáo… đều cần phải như vậy.

Mọi người sẽ đi trọn kiếp nhân sinh này với gánh nhẹ nhàng vì có nhau, vì nhau, trong một thế giới yêu thương huynh đệ cùng chung hướng về một niềm tin cao cả.

Và như thế, mọi người đã trao cho nhau “ách êm ái và gánh nhẹ nhàng như Tình Yêu Thiên Chúa đã trao cho con người qua Đức Giê-su Ki-tô.

“Ách của Ta thì êm áigánh của Ta thì nhẹ nhàng”. (JESUS. Mt 11,30)

MAI NHẬT THI

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

LỊCH SỬ MÙA CHAY

LỊCH SỬ MÙA CHAY

Trầm Thiên Thu

Mùa Chay là thời gian đặc biệt để cầu nguyện, sám hối, hy sinh và làm việc lành để chuẩn bị mừng lễ Phục sinh. Muốn canh tân phụng vụ Giáo hội, Hiến pháp về Phụng vụ Thánh của Công đồng Vatican II nói: “Hai yếu tố là đặc tính của mùa Chay – nhớ lại Bí tích Thánh Tẩy hoặc chuẩn bị cho Bí tích này, và sám hối – nên được nhấn mạnh trong phụng vụ và giáo lý. Qua đó, Giáo hội chuẩn bị cho các tín hữu về việc cử hành lễ Phục sinh, trong khi họ lắng nghe Lời Chúa nhiều hơn và dành thời gian cầu nguyện nhiều hơn” (số 109). Chữ Lent (mùa Chay) được rút ra từ chữ Lencten trong ngôn ngữ Anglo-Saxon, nghĩa là “mùa Xuân”, và Lenctentid không chỉ có nghĩa là “mùa Xuân” mà còn có nghĩa là “tháng Ba”, vì mùa Chay thường rơi vào tháng này.

Từ thời Giáo hội sơ khai, có chứng cớ về mùa Chay để chuẩn bị lễ Phục sinh. Chẳng hạn, Thánh Irênê (qua đời năm 203) đã viết cho Thánh Giáo hoàng Victor I, nói về việc cử hành lễ Phục sinh và sự khác nhau giữa hai việc cử hành này trong Giáo hội Đông phương và Tây phương: “Sự tranh luận không chỉ về ngày này, mà còn về đặc tính của việc ăn chay. Một số người nghĩ rằng họ nên ăn chay một ngày, một số người nghĩ nên ăn chay hai ngày, một số người khác lại nghĩ nên ăn chay nhiều ngày hơn; một số người khác lại nghĩ nên ăn chay 40 giờ cuối cùng. Sự khác nhau trong cách giữ luật như vậy đã không có nguồn gốc như ngày nay, mà rất khác trước, từ thời xa xưa” (Eusebius, Lịch sử Giáo hội, V, 24). Khi Rufinus dịch đoạn văn này từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Latin, có dấu phẩy giữa số 40 và chữ “giờ” khiến ý nghĩa hóa thành 40 ngày, mỗi ngày 24 giờ. Do đó, tầm quan trọng của đoạn văn vẫn là từ thời tổ tiên xa xưa – luôn được diễn tả là thời các tông đồ, và thời gian 40 ngày mùa Chay đã xuất hiện. Tuy nhiên, việc thực hành thực sự và thời gian mùa Chay vẫn chưa tương ứng trong cả Giáo hội.

Mùa Chay trở nên phổ biến hơn sau khi Kitô giáo được công nhận năm 313 (sau công nguyên). Công đồng Nicê (325), trong giáo luật ghi rằng hai công nghị nên được tổ chức hằng năm, “một công nghị trước 40 mùa Chay.” Thánh Athanasiô (qua đời năm 373) trong các “Lễ Thư” (Festal Letters) kêu gọi giáo đoàn ăn chay 40 ngày trước khi ăn chay nghiêm ngặt hơn trong Tuần Thánh. Thánh Cyril thành Giêrusalem (qua đời năm 386) nói trong các bài giảng giáo lý, ngày nay gọi là RCIA (Rite of Catholic Initiation for Adults, nghi thức khai tâm Công giáo cho người lớn), trong đó có 18 điều hướng dẫn trước khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội được trao cho các tân tòng trong mùa Chay. Thánh Cyril thành Alexandria (qua đời năm 444) viết trong một loạt “Lễ Thư” cũng cho biết rằng việc thực hành đó trong mùa Chay chú trọng thời gian 40 ngày ăn chay. Cuối cùng, Thánh Giáo hoàng Leo (qua đời năm 461) đã giảng rằng các tín hữu phải “hoàn tất việc ăn chay 40 theo luật”, đồng thời chú ý nguồn gốc mùa Chay. Có thể kết luận rằng, vào cuối thế kỷ IV, thời gian 40 ngày ăn chay chuẩn bị lễ Phục sinh được coi là mùa Chay như ngày nay, cầu nguyện và ăn chay đã tạo nên các bài luyện tập tâm linh thời sơ khai.

Dĩ nhiên, con số 40 luôn có ý nghĩa tâm linh đặc biệt quan tâm sự chuẩn bị. Trên núi Hô-rép (núi Sinai), chuẩn bị nhận Mười Điều Răn, “Môsê ở đó với Đức Chúa 40 ngày và 40 đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều khoản của giao ước, tức là Thập Điều” (Xh 34:28). Êlia đi bộ “40 ngày và 40 đêm lên núi Hô-rép để gặp Thiên Chúa” (1 V 19:8). Quan trọng nhất là Chúa Giêsu ăn chay và cầu nguyện “40 ngày và 40 đêm” trong hoang địa trước khi Ngài công khai sứ vụ (Mt 4:2).

Khi 40 ngày chay được thiết lập, việc kế tiếp là quan tâm mức độ ăn chay. Chẳng hạn, tại Giêrusalem, người ta ăn chay 40 ngày, các ngày từ thứ Hai tới thứ Sáu trong tuần, nhưng không ăn chay vào thứ Bảy hoặc Chúa nhật, do đó mùa Chay kéo dài 8 tuần. Tại Rôma và Tây phương, người ta ăn chay 6 tuần, các ngày từ thứ Hai tới thứ Bảy trong tuần, do đó mùa Chay kéo dài 6 tuần. Cuối cùng, người ta ăn chay 6 ngày mỗi tuần trong 6 tuần, thứ Tư lễ Tro được thiết lập để tăng số ngày cho đủ 40 ngày trước lễ Phục sinh. Luật ăn chay có khác nhau.

Thứ nhất, một số vùng kiêng cữ các loại thịt và các sản phẩm làm từ động vật, một số vùng lại trừ các thức phẩm như cá. Chẳng hạn, Thánh Giáo hoàng Grêgôriô (qua đời năm 604), viết cho Thánh Augustine thành Canterbury, nói về quy luật này: “Chúng ta phải kiêng những đồ tươi như thịt, và các loại tươi khác như sữa, bơ và trứng.”

Thứ nhì, luật chung cho mọi người là mỗi ngày chỉ ăn một bữa, buổi tối hoặc lúc 3 giờ chiều.

Luật ăn chay trong mùa Chay cũng thay đổi. Cuối cùng, được phép ăn nhẹ trong ngày để giữ sức khỏe mà làm việc. Được phép ăn cá, và sau đó cũng được phép ăn thịt suốt tuần, trừ thứ Tư lễ Tro và thứ Sáu. Rồi được phép ăn các sản phẩm làm từ sữa, và cuối cùng luật này được hoàn toàn nới lỏng. Tuy nhiên, kiêng cữ cả các sản phẩm sữa cũng dẫn đến việc ăn trứng Phục sinh và ăn bánh kẹp vào thứ Ba béo (Gras Mardi, Shrove Tuesday), trước thứ Tư lễ Tro.

Thời gian trôi qua, luật được thay đổi dần, thế nên ngày nay việc ăn chay không chỉ đơn giản mà còn quá dễ. Thứ Tư lễ Tro vẫn là khởi điểm mùa Chay, từ đó kéo dài 40 ngày, không kể Chúa nhật. Luật ăn chay và kiêng thịt ngày nay rất đơn giản: Chỉ giữ vào thứ Tư lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh, các tín hữu ăn chay (một bữa no, hai bữa nhẹ) và kiêng thịt; còn các thứ Sáu khác trong mùa Chay chỉ phải kiêng thịt. Giáo hội khuyến khích “từ khước cái gì đó” để hy sinh trong mùa Chay. Có điều thú vị vào các Chúa nhật và lễ trọng như lễ Thánh Giuse (19 tháng Ba) và lễ Truyền Tin (25 tháng Ba), người ta “được miễn trừ” và có thể tận hưởng bất cứ thứ gì phải kiêng trong mùa Chay.

Hãy hy sinh từ khước điều gì đó vì Chúa. Làm thật lòng chứ đừng như người Pharisêu (giả hình) để được người ta “chú ý.” Hãy chú trọng hoạt động tâm linh, như tham dự đi Đàng Thánh Giá, Thánh lễ, chầu Thánh Thể, cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng, xưng tội và rước lễ. Hãy tập trung vào hoạt động mùa Chay: Sám hối, canh tân đời sống, thể hiện đức tin và chuẩn bị cử hành mầu nhiệm cứu độ.

Trầm Thiên Thu

(Chuyển ngữ từ CatholicEducation.org)

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

CÁCH XA MỌI NGƯỜI MỘT TẦM QUĂNG ĐÁ

CÁCH XA MỌI NGƯỜI MỘT TẦM QUĂNG ĐÁ

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Chân lý tìm thấy chúng ta theo nhiều con đường khác nhau. Đôi khi chúng ta biết được ý nghĩa điều gì đó không phải trong lớp học mà trong phòng bệnh viện.

Vài năm trước, tôi đến bệnh viện thăm một người sắp chết vì ung thư. Ông sắp chết nhưng tinh thần vững, dù không có ai chết mà dễ dàng được. Ông cảm thấy cô đơn tận cùng dù chung quanh ông toàn những người thương yêu thương ông sâu đậm. Ông mô tả như sau: “Tôi có người vợ tuyệt vời và những đứa con tuyệt vời, rất nhiều người thân và bè bạn. Gần như phút nào cũng có người nắm bàn tay tôi, nhưng… tôi vẫn cách xa mọi người một tầm quăng đá. Tôi đang chết dần còn họ thì không. Tôi đang bước vào một nơi mà họ không thể nào đến. Đang chết dần, cô đơn một cách khủng khiếp.”

Ông đã mượn một câu trong Phúc âm thánh Luca, câu Chúa Giêsu nói với các môn đệ ở vườn Giếtsêmani đêm trước khi chết. Người mời họ cùng cầu nguyện với mình trong khi Người cố gắng chiến đấu để có sức mạnh đối diện với cái chết; nhưng, như thánh Luca nói thêm một cách khó hiểu, khi Người đổ mồ hôi máu, người cách xa họ “một tầm quăng đá.”

Một tầm quăng đá thì cách bao xa? Đủ xa để anh bị bỏ lại ở một nơi không ai có thể với tới. Cũng như khi chúng ta sinh ra một mình từ lòng mẹ, chúng ta cũng sẽ rời trần gian này một mình. Giêsu, cũng giống người đàn ông tôi vừa kể, cũng đối diện với cái chết, biết rằng mọi người thương yêu mình, nhưng ông cũng biết, một khi đứng trước cái chết, ông sẽ đi vào một nơi, ở đó ông cô độc, một mình.

Và việc nhấn mạnh tính chất một mình này thật sự là một trong những điểm chủ yếu trong các bài Thương Khó. Khi mô tả cái chết của Chúa Giêsu, có lẽ hơn bất cứ điều gì, các Phúc âm muốn chúng ta tập trung chú ý tới sự cô độc của Người, việc Người bị bỏ rơi, cách xa tất cả mọi người một tầm quăng đá.

Tôi chắc chắn nhiều người trong chúng ta đã xem bộ phim nổi tiếng Sự Thương Khó của Chúa Giêsu của Mel Gibson. Mặc dù bộ phim chắc chắn là một tác phẩm nghệ thuật xứng đáng, nhưng nó lại làm chúng ta xao lãng chứ không có ích xét về mặt giúp có thể hiểu được sự thương khó của Giêsu. Tại sao vậy? Vì bộ phim này quá nhấn mạnh tới nỗi đau đớn thể xác của Chúa Giêsu, chính là điều mà các Phúc âm không làm. Đúng hơn, các Phúc âm cố tình giảm đi những gì Chúa Giêsu phải chịu về mặt thể xác vì muốn chúng ta tập trung chú ý vào một điều khác, đó là nỗi đau đớn về mặt tinh thần và tình cảm của Người, đặc biệt là cảm giác bị bỏ rơi, cô đơn, không có một hỗ trợ sâu sắc nào của người chung quanh trong thời điểm cùng cực này của cuộc đời, và sự thiếu vắng này càng nặng nề hơn trước điều dường như là sự vắng mặt của Thiên Chúa. Trong giờ khắc cô đơn nhất, Chúa Giêsu không có một người bạn tâm tình nào, không có một nguồn an ủi thiêng liêng nào. Theo từ dùng của Gil Bailie, người là kẻ-vô-danh-tiểu-tốt. Không còn cảm giác bị bỏ rơi nào sâu đậm hơn thế nữa.

Và chính trong nỗi cô độc thống thiết đó mà Chúa Giêsu đã tiếp tục hiến dâng với lòng tin tưởng, tình thương yêu, lòng vị tha, và đức tin. Dễ dàng tin vào tình yêu khi chúng ta cảm thấy được thương yêu; dễ dàng tha thứ cho kẻ khác khi họ biết ơn chúng ta; và dễ dàng tin vào Chúa khi chúng ta cảm thấy sự hiện diện của Chúa một cách mạnh mẽ. Điều khó khăn, “phép thử”, chỉ đến khi tình thương yêu của con người và niềm an ủi thiêng liêng đều sụp đổ, khi chúng ta thấy vây quanh mình là hiểu lầm, bỏ rơi, thất tín, căm thù và nghi kỵ, đặc biệt vào giờ phút cô đơn nhất của chúng ta, đúng vào giây phút cuộc đời tăm tối. Lúc đó chúng ta đáp lại như thế nào?

Liệu tình thương yêu, lòng tin tưởng, lòng vị tha và đức tin trong tim chúng ta có sụp đổ không khi những trụ cột tình cảm thường khi vẫn chống đỡ chúng ta sụp đổ? Liệu chúng ta có tha thứ cho kẻ đang làm chúng ta đau khổ khi người đó nghĩ chính chúng ta gây ra vấn đề? Liệu chúng ta có tiếp tục yêu thương một người thù hận chúng ta hay không? Liệu chúng ta có thể tiếp tục tin vào lòng tin tưởng khi bất cứ nơi nào xung quanh chúng ta đều nếm trải sự phản bội? Liệu chúng ta có thể để cho đôi tay và trái tim của mình mở ra, kéo căng ra và đóng đinh trên thập giá được hay không khi chúng ta đang sợ hãi? Liệu chúng ta có thể vẫn giữ đức tin nơi Chúa hay không khi mỗi một cảm xúc trong lòng đều nói rằng Chúa đã bỏ rơi ta? Liệu chúng ta còn trao gửi linh hồn mình hay không khi cảm thấy tuyệt nhiên không có một hỗ trợ thiêng liêng hay của con người nào? Trái tim chúng ta sẽ nằm ở đâu khi chúng ta cách xa mọi người “một tầm quăng đá”?

Chính điều đó, chứ không phải khả năng chịu đựng nhục hình đóng đinh, mới là phép thử thật sự bên trong sự thương khó của Chúa Giêsu. Nỗi thống khổ của Chúa Giêsu ở Vườn Giếtsêmani không phải là đau khổ về chuyện để mình bị giết chết hay chuyện Người sẽ viện đến quyền năng thiêng liêng và thoát được. Người ý thức mình sắp chết. Câu hỏi đối với người, đúng hơn là, sẽ chết như thế nào: Liệu người có thể tiếp tục hiến mình cho Chúa và cho chân lý mà trước đó Người đã biết, trong khi bây giờ điều đó dường như đã bị mọi thứ xung quanh làm đảo ngược hoàn toàn? Liệu người có thể giữ được lòng tin? Linh hồn Người sẽ như thế nào khi Người trút linh hồn? Linh hồn đó sẽ đầy lòng biết ơn hay chua chát? Xả bỏ hay ôm mối thù? Đầy thương yêu hay đầy thù hận? Tín thác hay hoảng loạn? Tràn đầy hy vọng hay tuyệt vọng?

Và đó cũng sẽ là phép thử của chúng ta vào giờ cuối. Rồi một ngày mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ phải “trút” linh hồn mình. Trong lòng kẻ-vô-danh-tiểu-tốt lúc đó, trái tim chúng ta sẽ nồng ấm hay chua chát đây?

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

Diễn văn tại lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận tại Austin, Texas, 27 tháng 4, 2013

Diễn văn tại lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận tại Austin, Texas, 27 tháng 4, 2013

Mạch Sống, ngày 27 tháng 2, 2015

http://machsong.org

LTS: Cô Cung Hoàng Kim, đương kim Hoa Hậu Nebraska USA, vừa được sự đồng ý của ban tổ chức Hoa Hậu Hoa Kỳ (Miss USA) để tham gia chương trình vinh danh và tri ân ở Kennedy Center ngày 19 tháng 6 trong vai trò MC.

Sinh trưởng ở Texas, Cô Hoàng Kim đã từng đoạt giải Hoa Hậu Thiếu Nữ Texas(Miss Texas Junior Teen) năm 2007-2008 của tổ chức National American Miss (NAM). Sau đó, cô lần lượt đoạt các giải: Americas U.S. Miss 2011, Miss Texas Collegiate 2012, và National American Miss 2013. Và mới đây, cuối năm 2014, cô vừa thắng một cuộc thi khó khăn hơn nữa, Miss Nebraska USA 2015. Cô sẽ là người Mỹ gốc Việt đầu tiên tranh giải Miss USA sẽ được tổ chức trong năm nay.

Cô tốt nghiệp bằng cử nhân từ Đại Học Texas ở Austin. Sau khi tốt nghiệp cô làm neo (anchor) tin tức cho đài truyền hình NBC ở Nebraska.

==============

Kính Thưa Quý Vị,

Qua Lịch Sử, chúng ta được học là nên ghi nhớ lấy các Tư Tưởng, hơn là Con Người. Vì con người có thể thất bại. Con người có thể bị bắt giữ, bị giết chết và quên lãng, nhưng dù năm tháng trôi qua, một tư tưởng vẫn có thể tồn tại và thay đổi cả thế giới. Chúng ta không thể tiếp xúc, va chạm, hoặc giữ lấy một tư tưởng trong tay mình. Tư tưởng không biết đổ máu và không biết đau đớn, nhưng nó tiếp tục sống và hiện hữu với thời gian…

38 năm đã trôi qua kể từ khi Saigon thất thủ, nhưng chúng ta vẫn tụ họp ở đây hôm nay, tưởng niệm về sự mất mát quê hương xinh đẹp của mình. Tuy nhiên, có thể không đáng kể lắm về việc mất đi mảnh đất, mà đáng kể hơn nhiều, là Sự Mất Tự Do, Mất Đạo Đức, Và Sự Mưu Cầu Hạnh Phúc Cho Dân Tộc Việt Nam.

Là một nữ sinh viên 22 tuổi, sắp tốt nghiệp hạng Danh Dự, từ University of Texas (UT) vào Tháng 5, 2013, tôi tự hào là cư dân Texas, và hơn thế nữa, hãnh diện mình là người Mỹ gốc Việt. Dĩ nhiên tôi rất ý thức là gia đình tôi đến Hoa Kỳ vì sự lựa chọn chính trị, với tư cách là Người Tỵ Nạn, nạn nhân của chế độ Cộng Sản Việt Nam, chứ không phải vì lý do kinh tế vật chất.

Đằng sau lớp sơn “dân chủ” mỏng và rẻ tiền, Việt Nam bây giờ vẫn có đủ những đặc tính của Cộng Sản độc tài, mà các quốc gia tân tiến như Hoa Kỳ không thể tin được là những chuyện này còn tồn tại. Không có cơ sở thông tin nào do tư nhân làm chủ, tất cả từ báo chí, đài truyền hình, và ngay cả các chương trình ca nhạc giải trí, đều do nhà nước kiểm soát. Các người trong đảng Cộng Sản tự phong mình là “lãnh đạo” cầm quyền. Hậu quả là luật lệ không được thi hành, công an và quân đội Việt Cộng bảo vệ đảng, không bảo vệ dân, và người dân khổ sở…

Tôi thật đau xót khi nghĩ đến những cô gái đồng trang lứa với tôi ở Việt Nam hôm nay, bị mang bán ra nước ngoài, hoặc phải làm việc quá sức. Họ bị mắc bẫy trong cuộc sống đầy dẫy lạm dụng về tình dục, đói khổ, làm việc kiệt sức, nói chung là một cuộc sống đầy máu và nước mắt.

Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, tôi được đi học và được làm công việc tôi thích: làm người kể chuyện bằng cách tường-thuật tin tức về những gì xẩy ra chung quanh tôi. Tôi nhận thức, được sống trong một xứ sở tự do ở đây, là một đặc ân. Nhưng sự tự do nầy có được, với cái giá rất cao. Sau cùng, Năm Mươi Tám Ngàn Chiến Binh Hoa Kỳ, Ba Trăm Ngàn Chiến Binh Việt Nam Cộng Hòa Đã Hy Sinh Cho Miền Nam Việt Nam. Họ đã ngã xuống cho tôi được đứng đây hôm nay, trước mặt quí vị. Năm Trăm Ngàn Thuyền Nhân Việt Nam đã chết trên Biển Đông, trong khi cố gắng vượt thoát để hy vọng có Cuộc Sống Tự Do như tôi hôm nay. Những người đàn ông, phụ nữ, thanh niên, và các trẻ em, đã chiến đấu cho một Lý Tưởng hoặc một Tư Tưởng, Không Bao Giờ Mất.

Nhưng Tư Tưởng này là gì? Đó là một Nguyên Tắc về Nhân Quyền, Dân Chủ, Công Lý, và Tự Do. Nó cung cấp cho dân Việt sự yên bình trong tâm hồn và không phải khiếp sợ nhóm cầm quyền cộng sản như hiện nay. Họ có thể ngủ yên an toàn ban đêm, không phải lo toan cho có bữa ăn ngày hôm sau, hoặc bị nhốt tù vì Ý Tưởng Được Độc Lập, như Cựu Đại Úy VNCH Nguyễn Hữu Cầu, Nhà Báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, như Nông Dân Đoàn Văn Vương, như Ca Nhạc Sĩ Việt Khang, Blogger Tạ Phong Tần, nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên, và còn biết bao nhiêu người khác nữa… Họ đang gánh chịu ngục tù Cộng Sản, vì họ dám đứng lên tranh đấu cho Nhân Quyền và Độc Lập ở quê hương Việt Nam, chống lại Tầu.

Đối với thế hệ trẻ, những người được sinh ra và nuôi dưỡng trong một xã hội tự do, thì Sự Tự Do Giống Như Khí Trời Bao La. Chúng ta hiếm khi nghĩ đến nó vì Sự Tự Do luôn luôn có sẵn đó. Nhưng đối với 90 triệu người Việt đang sống trong một đất nước Cộng Sản, tràn đầy áp bức và ngăn cấm, Sự Tự Do Không Hề Hiện Hữu.

Nếu Có Ai Cần Ghi Nhớ Và Bảo Vệ Tư Tưởng Nầy, Đó Chính Là Chúng Ta, Những Người Tỵ Nạn Miền Nam Việt Nam. Chúng ta phải tranh đấu để ghi nhớ Tư Tưởng Tự Do và Nhân Quyền nầy, vì nó sống mãi trong thâm sâu, tận đáy lòng ta. Đó Là Một Giấc Mơ Rực Lửa. Lúc đầu, nó là ngọn lửa rất đẹp, thường bùng cháy dữ dội, nhưng rồi dần dần vơi đi… Tuy nhiên, khi ngọn lửa Tư Tưởng Tự Do được phát triển lâu dài, nó giống như than đốt, nóng bỏng, cháy thâm sâu xuống dưới, và không sao dập tắt được nữa…

Speech of Cung Hoàng Kim, National American Miss 2012-2013, Miss Nebraska USA 2015, on the commemoration of BLACK APRIL in Austin, Texas, 2013

Ladies and Gentlemen,

We are told to remember the Idea rather than The Man. Because a man can fail. He can be caught, he can be killed and forgotten, but years and years later, an idea can still change the world. You cannot contact an idea, touch it or hold it. Ideas do not bleed, do not feel pain, but they can live on…

38 years have passed since the fall of Saigon and still, we gather here today, commemorating the loss of our beautiful country. And yet, it is probably not so much about the loss of a country territory, but much more about the loss of human rights, freedom, morality, and the pursuit of happiness for the Vietnamese people.

As a 22-year-old college student, graduating from the University of Texas with honors, I’m a very proud Texan and most of all, a very proud Vietnamese American. However, I am very aware my family came to America as a political choice, refugees, and victims of the Vietnamese Communist regime, not for economic pursuits.

Behind a thin, cheap layer of “democracy”, Vietnam today carries communist characteristics that well-developed nations like America find hard to believe exists. There isn’t any privately owned media – everything including newspapers, television stations, even entertainment is controlled by the government. Self-appointed government “leaders” from the Communist party run the country. And as a result, laws are not enforced, the Vietnamese Communist police and military protect communist party, not the people, and ultimately the citizens suffer.

It is hard for me think girls my age in Vietnam are forced into human trafficking and hard labor. They are trapped in lives full of sexual abuse, starvation, and grueling work – ultimately a life with blood and tears.

On the other hand, I in the states, have the luxury of attending school and doing what I love: being a story teller by reporting on news happening around me. I acknowledge the privilege I have to live here in a free country. But this freedom came at a vast cost. 58 Thousand American Soldiers and 300 Thousand South Vietnamese Soldiers Made The Ultimate Sacrifice for South Vietnam to allow me to stand here before you today. 500 thousand Vietnamese boat people lost their lives at Eastern Sea in an attempt to live like I do today. These men, women, young people, and children fought for An Ideal or Idea, Which Can Never Die.

But what is this Idea? It is a principle of Human Rights, Democracy, Justice, and Freedom. It is giving the people of Vietnam peace of mind and not being absolutely terrified of their current communist government. They are being able sleep safely at night, not having to worry about getting food on the table the next day or being imprisoned because of an Idea of Independence, like former captain of the Republic of Vietnam, Nguyễn Hữu Cầu, Journalist Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải, Farmer Đoàn Văn Vương, Singer/Songwriter Việt Khang, Blogger Tạ Phong Tần, female college student Nguyễn Phương Uyên, and the countless others…They are enduring communist prisons because they took a stand to have Basic Human Rights and Independencece in Vietnam against China.

For the younger generation who are born and raised in a free society, freedom is like air. We hardly ever think about it because it is always there. But to the 90 million Vietnamese living in a Communist country, full of oppression and prohibition, Freedom Does Not Exist.

If Anyone Is Obligated to Remember and Defend this Idea, It Is Us, The South Vietnamese Refugees. We must fight to remember this Idea of Liberty and Human Rights because deep down in our hearts, it lives. It Is A Dream Caught On Fire. In the beginning it is a flame, very pretty, often hot and fierce, but then light and flickering… However, as it grows older, it becomes like coals, deep-burning and unquenchable…

Austin, Texas, 4/27/2013

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

MỘT HIỆN TƯỢNG ĐÁNG LO NGẠI

MỘT HIỆN TƯỢNG ĐÁNG LO NGẠI

Trên BVN ngày 26-2-2014 chúng tôi có đăng bài Về một hiện tượng đáng suy nghĩ của ông Đào Tiến Thi. Đây chỉ là một đoạn trích từ lá thư chung của ông Đào Tiến Thi gửi cho nhiều người, chưa phải một bài viết chặt chẽ, đăng lên mà chưa được phép tác giả là một thiếu sót. Vì vậy, chúng tôi xin đăng lại bài viết hoàn chỉnh của tác giả đã được đăng trên hai trang mạng Diễn đànVăn Việt thay cho bài đã đăng và xin có lời cáo lỗi chân thành cùng ông Đào Tiến Thi và bạn đọc.

Bauxite Việt Nam

Đào Tiến Thi

Vào những dịp cuối năm và đầu năm, tôi thường có những việc phải về quê, nhân đó mà chứng kiến hoặc nghe kể biết bao cảnh “xuống” (theo cách nói của Tản Đà) của xã hội làng quê truyền thống. Ngoài những sự tranh giành, chém giết mà báo chí thường nêu, tôi thấy hiện tượng này mới thực sự đáng lo ngại: ĂN NHẬU và VUI TRÀN CUNG MÂY (tạm gọi như vậy) đến phát sợ. Có thể kể một số biểu hiện sau:

1. Đám ma, đám cưới, khao thọ, giỗ chạp mỗi ngày một to, thủ tục mỗi ngày một rườm rà và thêm những biến tướng mới. Ví dụ: đám ma kéo dài thêm thời gian quàn thi thể người chết để làm được nhiều các trò cúng tế; đám cưới thì cưới hai lần cho những người sinh vào các năm Đinh, Nhâm, Quý, để tránh phải đi “hai lần đò”[1],…

2. Ngày càng có thêm các cuộc gặp gỡ để ăn nhậu: hội đồng niên, hội đồng ngũ, hội những gia đình ba con, năm con,… Có gia đình riêng mùa cưới hỏi giỗ chạp năm nay đã phải bán đi 7 tạ thóc để chi cho việc đi ăn cỗ.

3. Lượng rượu, bia uống mỗi ngày một nhiều. Kiểu uống “nhâm nhi” của các cụ xưa gần như không còn nữa. Thay vào đó là kiểu “nốc” rượu: nốc chúc nhau tại mâm rồi lại mỗi người lần lượt cầm cái chén đi chúc các mâm, đều uống theo cách “nốc” một phát/ một chén rồi bắt tay – cái tay dính lem nhem thức ăn. Chúc một vòng, rồi lại vòng nữa, vòng nữa…

4. Số người bệnh ung thư và bệnh tâm thần mỗi ngày một nhiều. Cũng có một số người cảm thấy nguyên nhân từ rượu nhưng điều đó cũng chẳng ảnh hưởng gì đến các cuộc vui tràn cung mây.

5. Trong mâm rượu người ta gần như không nói chuyện chính trị – xã hội như ngày trước, mà chỉ nói những chuyện lên chức lên “lon”, chuyện về các “con” xe, “con” di động,… Rồi thì thơ phú tuôn ra rào rào trong các cuộc gặp gỡ này.

Những hiện tượng trên diễn ra một cách tự phát. Một số người cũng thấy “chướng” vì vừa tốn kém tiền của và thời giờ lại vừa lố bịch. Nhưng chẳng ai “dại” mà chống lại dòng nước lũ này. Có người chê trách nhà khác là xa hoa, rởm đời, nhưng đến lượt nhà mình lại làm như vậy, có khi còn hơn.

Những điều kể trên, trước mắt, nó làm người dân hoang tưởng rằng cuộc sống đang “nở hoa”, đang ngày càng thịnh vượng, từ đó quên đi các chuyện bức xúc, vô lý, khổ đau có thật. Và nhất là nó làm người ta bận rộn, đam mê việc làng đến quên đi việc nước. Dân quê vốn thiết thực. Đầu óc họ còn lúc nào mà để ý chuyện biển đảo của đất nước đang ngày càng bị đe doạ nữa. Còn về lâu dài, nó làm cho con người Việt Nam dần dần mất gốc và bại hoại cả thể xác lẫn tinh thần. Đến thời điểm nào đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh có thể thò tay mà nhúp nước Việt Nam dễ dàng.

Điều lạ là những việc như thế ngày trước (thời bao cấp, thời nguyên vẹn tính chất XHCN) chính quyền, đoàn thể can thiệp rất sát sao. Chính quyền thậm chí còn cấm ăn uống trong các đám cưới. Đám nào cố tình, có khi dân quân đến tịch thu cả rượu thịt đã bày ra mâm. Nhưng ngày nay, chính quyền, trong khi vẫn rất hà khắc trước những hành động đấu tranh của nhân dân, thì các hiện tượng xuống cấp văn hoá trên lại được buông, được làm ngơ, được coi là “bình thường”.

Quan niệm sai? Sự vô trách nhiệm? Hay còn có gì đó thuộc bề sâu của vấn đề còn ẩn khuất?

Xin kể thêm mấy câu chuyện để chúng ta cùng suy nghĩ.

Mới đây trong một cuộc liên hoan, tôi ngồi cùng một vị cựu quan chức, người ta hỏi sao ông ngoài bảy mươi mà trông lại tráng kiện hơn trước, thì ông ấy nói rằng, do ông tập pháp luân công (PLC). Khi ngà ngà say, ông ấy bảo: “Các vị biết vì sao Trung Quốc nó cấm PLC không? Là vì PLC làm cho con người khoẻ mạnh, cường tráng, tinh thần minh mẫn. Người ta sẽ rủ nhau theo hết PLC. Tập Cận Bình có lần nói rằng “PLC tranh hết quần chúng của Đảng là vì thế”.

Tôi được nghe mấy năm vừa qua, có rất nhiều phóng viên các báo đi Trường Sa. Mục đích chuyến đi tất nhiên là tìm hiểu, thăm hỏi, động viên chiến sỹ giữ gìn biển đảo. Tuy nhiên, cảm giác của nhiều phóng viên khi về lại là sự thất vọng. Thất vọng vì cảnh thiếu thốn và cả tinh thần thiếu tin tưởng của các chiến sỹ quân đội ta. Và dư âm để lại cho nhiều phóng viên sau chuyến đi là: ta không thể đấu với Trung Quốc được!

Mới đây TP. Hà Nội chủ trương cho bắn pháo hoa thường xuyên trên cầu Nhật Tân chứ không chỉ bắn vào những ngày lễ trọng đại của đất nước. Khi Dư luận phản đối thì một vị quan chức – ông Phan Đăng Long, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội giải thích: “Biết đâu, những người nghèo họ cũng khao khát được xem bắn pháo hoa, những lúc thưởng thức bắn pháo hoa giúp họ quên đi cái nghèo, cái khó, những cái vất vả luôn đeo bám cuộc sống của họ bấy lâu nay”.

Cả sự vui vẻ nhố nhăng lẫn sự chán nản, thất vọng đều làm tiêu mòn nguyên khí quốc gia. Những người cầm quyền ấu trĩ, dốt nát hay thờ ơ vô trách nhiệm, hay thậm chí chủ tâm cứ để mọi sự tự phát phát triển để dân chúng dần dần mất gốc và bại hoại cả thể xác lẫn tinh thần cho dễ cai quản, lèo lái? Tôi chưa kết luận là cái nào. Nhưng dù thế nào thì hậu quả của nó cũng là có hại vô cùng. Và cái nguy hại mang vẻ rất riêng của nó là: một quá trình mất nước từ từ khiến đa số không quan tâm.

Các triều đại phong kiến xưa cũng như các nước đế quốc trong thời kỳ tìm đất thực dân, nhìn chung, họ khuất phục các dân tộc khác bằng vũ lực, sau đó mới nô dịch bằng văn hoá, tinh thần; tuy nhiên lịch sử cũng cho thấy nó có thể diễn ra bằng một số con đường khác. Nhà thơ Inrasara (Việt Nam nhìn từ huyền thoại ít được biết đến, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển số 3 – 4/2015) cho rằng quá trình mở cõi của người Việt về phía Nam được tiến hành bằng cả hai phương thức: bằng gươm và bằng mỹ nhân. Ngoài Huyền Trân công chúa, về sau còn có các công chúa khác như Ngọc Khoa, Ngọc Vạn tiếp bước “mượn màu son phấn đền nợ Ô, Ly”, góp phần hoàn tất quá trình Nam tiến của người Việt. Nhưng rõ ràng người Việt chỉ thực hiện được điều này bởi có những ông vua Chăm ham sắc (và coi thường nhân dân) đến độ đánh đổi cả lãnh thổ quốc gia. Sự đồi bại về văn hoá và tinh thần của người Việt Nam hôm nay, thiết nghĩ là đã vô hình tạo điều kiện để nhà cầm quyền Bắc Kinh thôn tính bằng sức mạnh mềm.

Để phân tích tìm ra nguyên nhân và hậu quả các hiện tượng trên cần có sự khảo sát, nghiên cứu kĩ hơn. Tuy nhiên, một điều có quy luật là: Nước mất nhưng văn hoá, tinh thần còn thì vẫn có điều kiện để khôi phục độc lập. Nhưng mất văn hoá, mất tinh thần dân tộc là mất gốc, dù hiện tại chưa mất nước nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ mất nước rất cao.

ĐTT

(24-2-2015)


[1] Thời xưa, những người tin thuyết số mệnh cho rằng “Trai Đinh, Nhâm, Quý thì tài/ Gái Đinh, Nhâm, Quý phải hai lần đò”. (Hai lần đò: hai lần lấy chồng). Để hoá giải điều này, khi cưới, người ta tổ chức hai lần đưa rước dâu, trong đó một lần mang ý nghĩa tượng trưng (chắc là để đánh lừa quỷ thần). Nếu chỉ có thế thì cũng không đáng trách lắm, chỉ hơi mệt cho thủ tục đưa rước dâu. Tuy nhiên ngày nay, nhiều cặp hôn nhân làm hai lần đám cưới và đưa rước râu ở hai lần cách xa nhau, tức cả hai lần đều là thật một trăm phần trăm. Như thế sự ngu muội đã đến cực điểm.

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

Hung hãn và hèn nhát

Hung hãn và hèn nhát

RFA

Xã hội Việt Nam đang rất sôi động. Một sức sống như đang bừng bừng trẻ trung với bề ngoài của nó. Hào nhoáng. Chộn rộn. Mỗi ngày, khi trên báo chí hay truyền hình ra một đề bài lá cải, khắp nơi nhộn nhịp tham gia bàn tán như các cô cậu học sinh mùa thi được thử thách tâm sinh lý. Ở các ngã tư đường, các quán nhậu, các diễn đàn facebook… đâu đâu người ta cũng bàn tán về đề thời sự mới nhất. Một ông già hom hem ngấu nghiến hôn cô gái trẻ được báo chí ghi lại, lập tức trở thành quốc sự. Nền dân chủ lý sự tầm ruồng phất cao ngọn cờ ngời sáng với 2 phe: một bên thì đập ngực đem tất cả vốn liếng đạo đức để chỉ trích, một bên thì chống nạnh, viện dẫn mọi tư duy cấp tiến để nói rằng đó là chuyện bình thường, thậm chí đáng yêu.

Quốc sự về nụ hôn của một cụ già trỗi máu xuân tình dĩ nhiên không quên bàn về nước dãi của cụ còn để lại trên gò má căng phính lông tơ của cô gái trẻ. Quốc sự về hình ảnh đó cũng có đủ mọi lời bảo vệ bằng cách đưa ảnh một vị lãnh tụ khác cũng hay hôn phụ nữ, đàn ông và trẻ con như một truyền thống đáng noi theo. Dĩ nhiên, khi đã tranh luận, mỗi phe càng nói càng hăng. Ngôn ngữ mỗi lúc một mạnh bạo, thậm chí rất hung hãn.

Sự hung hãn của một dân chủ xã hội đầy sôi động đó cũng được mô tả bằng bản tin hơn 5000 người Việt đánh nhau đến nhập viện trong một mùa xuân cầu mong yên lành. Sự hung hãn được chỉ định bằng việc giết heo trong lễ hội theo lối yêu trảm (chém ngang lưng) du nhập từ đời nhà Tần phương Bắc sang Việt Nam. Sự hung hãn được xác nhận như phần cần thiết của lễ hội mua thần bán thánh, từ miệng của một quan chức cấp cao, phó chủ tịch Uỷ ban Nhân Dân Sóc Sơn “Lễ hội không tổ chức phát lộc cho người dân nên ai muốn có phải cướp. Xô xát là bình thường”. Loại câu nói đủ biết hạng người nào, tri thức kiểu gì đang đứng trên đầu dân chúng.

Một khi chuyện hôn hít của một ông già, chuyện đánh nhau vỡ đầu giành lộc, chuyện hung hãn đánh nhau giữa đường rồi cùng nhập viện… nay đã trở thành quốc sự hạng một, chiếm lĩnh mọi sự quan tâm của quốc dân, thì đó cũng là một chỉ dấu của con đường đến mạt vận.

Người Việt hôm nay dường như rất hung hãn trong những chuyện tự do ngôn luận dân chủ tầm ruồng, bỏ quên hay tránh né về những điều nguy ngập khác, rằng Trung Cộng đã dựng xong sân bay, pháo đài… trên biển, có thể đánh chiếm Sài Gòn trong 24 giờ. Thế nhưng tướng quân đội Việt Nam thì tâm tư tha thiết kêu gọi dân chúng không nên ghét bỏ kẻ đang lăm lăm cướp – giết tổ quốc mình.

Người Việt hôm nay dường như rất hung hãn trong cách dùng mọi học thuật để chứng minh đối phương đồi bại hay tiến bộ trong những điều chỉ đáng liếc qua và lãng quên, nhưng giỏi cười qua loa với chuyện các dự án bauxite thua lỗ trầm trọng mà vẫn phải tiếp tục, ngày đêm giao nộp sang biên giới, giỏi giả lơ khi giá xăng được tuyên hô sẽ lên giá không cần lý do, khi dầu thế giới chỉ có giá 50 USD/ thùng – mức giá thấp nhất từ trước đến nay.

Người Việt hôm nay dường như đủ hung hãn chém con heo ra nhiều mảnh, reo hò và tắm máu như thời các bộ lạc dã man, nhưng hèn nhát câm miệng không dám bàn về tài sản các quan chức tham nhũng đang đục ruỗng tổ quốc mình. Người ta im lặng hèn nhát khi nghe những kẻ như Trần Văn Truyền chỉ bị kỷ luật giơ cao đánh khẽ, còn những người tố cáo cái ác như ông Kim Quốc Hoa, báo Người Cao Tuổi, đang lao đao giữa trùng vây vô lại.

Cái cần phải hung hãn, thì người ta đang chọn cách hèn nhát. Cái cần phải hèn đi thì người ta ồ ạt xông lên: hung hãn giành giật thức ăn buffet, hung hãn trói đánh kẻ trộm chó, hung hãn phán xét, nguyền rủa chung quanh như bản thân mình là hiện thân của ngọn cờ đầu nhân nghĩa.

Hung hãn và hèn nhát, hai mặt đối lập của số đông trong một quốc gia, cho thấy sự sục sôi của chủ nghĩa duy lợi đang lây lan như một loại virus trọng bệnh, mà tỷ lệ nghịch với làn sóng đó, là sức sống còn cho một quốc gia.

Tham khảo thêm:

http://www.webtretho.com/forum/f26/co-nen-chi-trich-hinh-anh-gs-vu-khieu-thom-ma-hoa-hau-ky-duyen-2016578/

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/hon-5-000-nguoi-nhap-vien-vi-danh-nhau-trong-tet-3149577.html

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

Luật tạm giữ, tạm giam có biện pháp chống bức cung, nhục hình?

Luật tạm giữ, tạm giam có biện pháp chống bức cung, nhục hình?

Chuacuuthe.com

VRNs (28.02.2015) – Sài Gòn – Cuối cùng thì Việt Nam cũng đã công nhận trong quá trình điều tra, công an đã từng dùng các biện pháp nhục hình và bức cung.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) chiều hôm 27/2 vừa qua đã tiến hành thảo luận về dự án Luật Tạm giữ, tạm giam do Bộ Công an chủ trì soạn thảo. Trong đó, các thành viên Ủy ban đã đặt vấn đề làm sao để chống bức cung, nhục hình? Người bị tạm giữ, tạm giam chưa có tội thì có được tước các quyền tự do của họ?

Tờ Pháp Luật Thành Phố dẫn lời Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý đặt câu hỏi, dự thảo Luật Tạm giữ, tạm giam có quy định nào để khắc phục tình trạng bức cung, nhục hình?

Hình minh họa - PLO

Hình minh họa – PLO

Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương trả lời, chuyện bức cung, nhục hình phần lớn xảy ra do cán bộ cơ quan điều tra.

Ông Lý nói tiếp, “phần lớn tình trạng bức cung, mớm cung, nhục hình do quá trình điều tra nhưng lại nằm trong giai đoạn tạm giữ, tạm giam.”

Vì vậy, ông đề nghị “một mặt phải có quy định về điều cấm ở phía điều tra. Mặt khác, phải có biện pháp cụ thể trong hoạt động tạm giữ, tạm giam… như khi thực hiện điều tra phải có luật sư.”

Phần lớn các ý kiến của Thường trực Ủy ban Tư pháp lại kiến nghị tách việc quản lý nhà tạm giữ, trại tạm giam ra khỏi cơ quan điều tra hình sự để bảo đảm tính khách quan trong công tác giam giữ. Theo đó, cần bảo đảm minh bạch, rõ trách nhiệm giữa quản lý tạm giữ, tạm giam và cơ quan điều tra, có kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan này.

Phó Viện trưởng VKSND tối cao Nguyễn Hải Phong được tờ Dân trí dẫn lời cũng cho rằng, “mọi vụ bức cung, nhục hình đều xảy ra trong thời điểm cá nhân bị tạm giữ, các vụ thông cung, nhục hình thì xảy ra trong thời gian tạm giam.”

Ông Phong vì thế nói, cách chống bức cung, nhục hình, xâm phạm quyền con người tốt nhất trong lĩnh vực này là hạn chế tối đa các trường hợp tạm giam, tạm giữ con người. Ông Phong gợi ý kinh nghiệm của người nhiều nước cho phép quy đổi số ngày tạm giữ, tạm giam sang hình thức bảo lãnh bằng tiền, quản chế không giam giữ…

Phó Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Doãn Khánh thì cho rằng, quyền im lặng là quyền cơ bản, quan trọng nhất đối với người bị tạm giam, tạm giữ.

Ngoài ra cũng có nhiều ý kiến đề nghị, dự án Luật cần quy định rõ cả về quyền hạn và trách nhiệm, nhất là trách nhiệm của các chủ thể thực hiện quản lý đối với người bị tạm giữ, tạm giam nhằm bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam.

Trong khi đó, Thường trực Ủy ban Tư pháp cho rằng một số quyền công dân của người bị tạm giữ, tạm giam cần phải được bảo đảm như quyền về an toàn tính mạng, sức khỏe, chăm sóc y tế, tiếp cận thông tin, quyền gặp người bào chữa, người thân…

Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện nói, “đề nghị Chính phủ nghiên cứu để quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam trên cơ sở thể chế hóa Hiến pháp năm 2013” còn những nội dung nào liên quan đến việc hạn chế quyền con người “thì phải được đưa vào ngay trong dự luật chứ không thể giao cho Chính phủ, các bộ, ngành quy định.”

Trong dự thảo luật này quy định là trong thời gian bị giam giữ, người bị tạm giữ, tạm giam bị hạn chế các quyền tự do đi lại, tự do thân thể, tự do giao dịch, tiếp xúc, thông tin hoặc thực hiện hành vi tín ngưỡng tôn giáo. Đây là những vi phạm quyền con người nghiêm trọng.

Tồ chức Quan sát Nhân Quyền (Human Right Watch), có trụ sở ở Mỹ, trong một bản phúc trình hồi tháng 9/2014 cũng từng cho rằng, “tình trạng tử vong và chấn thương khi bị công an tạm giam giữ là phổ biến ở Việt Nam.”

Tổ chức này cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam “cần hành động ngay lập tức để chấm dứt những cái chết mờ ám trong thời gian bị giam giữ và tình trạng công an dùng nhục hình với những người bị giam, giữ.”

Trong đó, “cần thành lập một ủy ban độc lập về các khiếu tố đối với công an để xem xét và điều tra tất cả các khiếu tố về bạo hành và sai phạm của công an, và tạo điều kiện ở cấp cao nhất cho việc tiến hành các cuộc điều tra nhanh chóng, vô tư, và việc truy tố xét xử những hành vi sai phạm và bạo hành của công an.”

Đức Thiện, VRNs tổng hợp

Posted in Tin Việt Nam | Leave a comment

Làm sao đẩy lùi bệnh tiểu đường?

Làm sao đẩy lùi bệnh tiểu đường?

Việt Hà – RFA
2015-02-27

vhealth030215.mp3

awarded

Dr. George L. King was one of the six Harvard Medical School researchers to receive the prestigious 2014 António Champalimaud Vision Award. …and they received $1.3 million to further the research. (Lời chú giải cùa Trung tâm Joslin về Tiểu đường)

Courtesy of aadi.joslin.org

Your browser does not support the audio element. Chiến lược mới có gì mới?

Trong cuốn sách mới được xuất bản gần đây có tựa ‘The Diabetes Reset’, tạm dịch là ‘Định lại căn bệnh tiểu đường’, bác sĩ George King, chuyên khoa về tiểu đường thuộc trung tâm điều trị tiểu đường Joslin ở Hoa Kỳ, cho rằng những người bị bệnh tiểu đường hoặc có nguy cơ bị bệnh tiểu đường có thể hoàn toàn kiểm soát được bệnh tiểu đường, ngăn chặn bệnh hoặc thậm chí đảo ngược căn bệnh bằng cách theo đuổi một hoặc cả 8 bước chiến lược cơ bản mà ông đề cập trong cuốn sách của mình.

8 chiến lược được ông nêu ra về cơ bản cũng tương tự như những gì các bác sĩ khác đã nói trước đó về cách kiểm soát bệnh tiểu đường hay ngăn chặn bệnh. Đó là các cách bao gồm: giảm ăn chất béo, tăng chất xơ trong chế độ ăn, giảm cân, năng vận động, giảm stress, ngủ đủ giấc (khoảng 6 đến 7 tiếng một đêm), tránh các bệnh viêm nhiễm và tăng cường các chất chống ô xi hóa tự nhiên trong cơ thể. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào từng chiến lược cụ thể mà bác sĩ George King đề ra trong cuốn sách, người ta có thể thấy có những khác biệt đáng kể trong đề xuất mới của ông. Nói về những điểm mới trong các chiến lược này, bác sĩ George King giải thích:

“Theo tôi khác biệt chính là chúng tôi phác họa những bước rất đơn giản có thể tạo những tác động chính yếu, ví dụ như khi chúng tôi khuyên mọi người nên giảm cân, chúng tôi không nói mọi người giảm 30 hay 40 pounds, chúng tôi nói tất cả những gì họ cần là giảm từ 5 đến 10% lượng cân nặng của mình. Ví dụ họ nặng 150 pounds thì họ chỉ cần giảm 5 đến 10% lượng cân nặng. Điều này sẽ có những tác động lớn lên cơ thể. Một số khác nữa là chúng tôi cũng đã làm các nghiên cứu về thức ăn nông thôn cổ truyền của người châu Á. Các nghiên cứu cho thấy nếu mọi người ăn đồ ăn có lượng chất xơ trong carb cao và loại carb phức tạp (complex carb) ví dụ như hạt đậu Hòa Lan hay xúp-lơ xanh thì sẽ rất tốt vì nó giúp bạn cảm thấy no miệng. Ngoài ra còn nhiều điều khác nữa chưa từng được nói đến trong các sách khác ví dụ như mỡ nâu có thể giúp tiêu hao năng lượng (calorie). Đây là điểm chưa được đề cập đến trong các cuốn sách khác mà tôi được biết. Chúng tôi cũng nói về việc ngủ, làm thế nào để có được lợi từ ngủ, rồi loại thể dục nào là tốt, ví dụ nếu bạn tập thể dục trong phòng mát thì tốt hơn trong phòng nóng. Nói chung tất cả những điểm mới chỉ được phát hiện trong vòng 2 hay 3 năm qua từ phòng thí nghiệm và đưa vào cơ sở y tế.

Bác sĩ George L. King

dr-george-king

Người bị tiểu đường vẫn có thể ăn carb

Điểm đáng chú đầu tiên trong chiến lược kiểm soát bệnh tiểu đường được bác sĩ George King đề xuất chính là việc cho phép người bị bệnh tiểu đường hoặc có nguy cơ bị bệnh tiểu đường ăn carb với tỷ lệ khá cao trong các bữa ăn nếu so với các hướng dẫn khác phổ biến hiện nay là cắt giảm carb tối đa. Trong chiến lược đầu tiên, bác sĩ George King đề xuất người bị bệnh tiểu đường có thể ăn một bữa ăn với tỷ lệ 70% carb phức tạp, 15% chất béo và 15% đạm (protein). Tuy nhiên 70% carb ở đây phải là loại carb phức tạp có nhiều chất xơ. Giải thích về chiến lược này, bác sĩ George King cho biết:

“Chúng tôi đã làm một nghiên cứu lớn về vấn đề này. Lý do là chúng tôi quan sát về chế độ ăn nông thôn châu Á như Nhật bản, Ấn Độ hay Trung Quốc. Chúng tôi thấy là tỷ lệ tiểu đường ở các vùng nông thôn đó chỉ khoảng từ 1 đến 2% dân số, nhưng ở các thành phố lớn ở châu Á, tỷ lệ tiểu đường trong dân số là 12%. Lý do chính là vì dinh dưỡng. Ở các vùng nông thôn châu Á, phần lớn người dân ăn khoảng 15% chất béo và 70% carb nhưng loại carb này là carb phức tạp, tức là khác với đường hay các loại carb đơn giản. Carb phực tạp có trong các thực phẩm như rau quả. Người dân ở các vùng nông thôn châu Á ăn rất nhiều rau. Loại chế độ ăn này khác rất nhiều so với các chế độ ăn khác. Tôi không nói là các chế độ ăn khác là không tốt nhưng tôi chỉ muốn nói là lượng calorie (năng lượng) tổng cộng trong các bữa ăn ở các nước phát triển đã tăng lên trong vòng 10 đến 20 năm qua. Vì vậy chúng ta cần cắt giảm lượng calorie đưa vào cơ thể. Những thực phẩm có nhiều chất béo thường gây cảm giác chưa no và do đó bạn cảm thấy cần ăn nhiều hơn. Nhưng nếu bạn ăn rau thì bạn sẽ cảm thấy no hơn. Nếu bạn nấu món rau đúng theo cách của người châu Á thì nó còn rất ngon không kém các món thịt.

Các loại carb phức tạp được bác sĩ George King đề cập bao gồm rau quả, gạo nâu, các loại hạt, các loại bột nguyên hạt chưa qua chế biến và tẩy trắng. Trong nghiên cứu về chế độ ăn được các bác sĩ tại Trung tâm Tiểu đường Joslin thực hiện trong 4 năm từ năm 2006, những người tham gia nghiên cứu là những người có nguy cơ cao bị bệnh tiểu đường. Kết quả nghiên cứu cho thấy những người lựa chọn chế độ ăn nông thôn châu Á và theo đuổi chế độ ăn này trong một thời gian dài có những gia tăng đáng kể trong mức nhạy cảm với insulin, là loại hormone giúp điều hòa lượng đường trong máu, chỉ số về cholesterol xấu trong máu cũng giảm. Theo bác sĩ George King, chế độ ăn nông thông châu Á truyền thống không giới hạn năng lượng đưa vào cơ thể (trừ khi người ăn muốn giảm cân đáng kể). Nếu người ăn theo đúng tỷ lệ 70 -15-15 trong các bữa thì sẽ không bị tăng cân, thậm chí vẫn có thể giảm một số cân nhất định.

Phát hiện về mỡ nâu

Một điểm mới đáng chú ý khác nữa trong các chiến lược được bác sĩ George King đề ra là mỡ nâu và tác dụng của mỡ nâu trong việc tiêu hao năng lượng, giảm cân hiệu quả ở người bị bệnh tiểu đường hoặc có nguy cơ cao bị bệnh tiểu đường.

Trên thực tế, trước khi bác sĩ George King đề xuất phương án kích hoạt mỡ nâu trong các chiến lược kiểm soát tiểu đường, các nhà khoa học trên thế giới cũng đã biết về mỡ nâu. Đây là một bộ phận của cơ thể giúp tạo hơi ấm cho cơ thể. Các nhà khoa học tìm thấy mỡ nâu rất nhiều ở trẻ nhỏ. Đó là lý do vì sao khi chạm tay vào người trẻ, người ta thường cảm thấy ấm. Tuy nhiên khi trẻ lớn lên, lượng mỡ nâu trong cơ thể càng ngày càng ít đi và do đó khả năng tiêu hao năng lượng cần thiết của mỡ nâu trong cơ thể cũng giảm. Các bác sĩ tại Trung tâm Tiểu đường Joslin đã tiến hành các nghiên cứu để tìm cách kích hoạt mỡ nâu ở cơ thể người lớn và thấy rằng ngay cả ở người lớn, việc kích hoạt mỡ nâu đúng cách cũng có tác dụng nhất định trong việc tiêu hao calorie và giảm cân hiệu quả. Bác sĩ George King cho biết:

“Điều đáng chú ý của mỡ nâu là khi nó được kích hoạt nó sẽ giúp đốt cháy calorie mà bạn không phải làm gì nhiều. Nó có thể đốt cháy từ 100 đến 200 calorie mỗi ngày mà bạn không cần phải làm gì. Khi bạn kích hoạt mỡ nâu, bạn tiêu hao calorie và giúp giảm cân. Nhưng làm thế nào để kích hoạt nguồn mỡ này? Có hai cách mà chúng tôi biết. Thứ nhất là trong thời tiết lạnh. Nếu bạn sống trong điều kiện thời tiết mát mẻ, và bạn đi bộ thì phải đảm bảo là phần cổ và ngực để hở, vì có rất nhiều phần cảm ứng nhiệt độ của cơ thể ở khu vực này. Điều này cho phép cơ thể kích hoạt mỡ nâu. Thứ hai là tập thể dục. Nhiều người đến các câu lạc bộ thể dục thể thao để tập thể dục hoặc tập thể dục ở nhà, nhưng điều đáng chú ý là nhiều người lại tăng nhiệt độ phòng khi tập thể dục để toát mồ hôi. Điều tốt nhất nên làm là giảm nhiệt độ xuống 62 độ F để kích hoạt mỡ nâu. Nên tập thể dục trong phòng mát để không những giúp chúng ta đốt calories mà còn kích hoạt mỡ nâu để tiêu hao thêm calorie”.

Bác sĩ George King khuyên những người theo đuổi chiến lược kích hoạt mỡ nâu nên tập thể dục ít nhất cách một ngày một lần, mỗi lần từ 40 đến 45 phút.

Nên theo đuổi 1 chiến lược hay cả 8 chiến lược?

diabetes-reset-book

Sách Định lại bệnh tiểu đường của BS. King- Courtesy of tweeter.org

Câu hỏi được đặt ra với những người bị bệnh tiểu đường hoặc có nguy cơ bị tiểu đường là liệu họ có nên hoặc có thể theo đuổi được cả 8 chiến lược đã được bác sĩ George King đặt ra hay không? và chắc chắn cũng có không ít người mong muốn rằng họ không chỉ kiểm soát được bệnh tiểu đường mà còn có thể đảo ngược được căn bệnh, tức là không phải dùng thuốc.

Trong cuốn sách của mình, bác sĩ George King cho rằng một người chỉ cần theo đuổi 1 chiến lược được đề ra cũng có thể thấy những cải thiện đáng kể. Trong khi đó, những người theo đuổi cả 8 chiến lược có thể làm giảm nguy cơ bị mắc bệnh tiểu đường trong tương lai, thậm chí có thể đảo ngược được căn bệnh. Khi được hỏi về khả năng đảo ngược căn bệnh tiểu đường, bác sĩ George King nói:

“Chúng tôi không thực sự có những nghiên cứu cho thấy phần trăm số người thực hiện cả 8 chiến lược thì có thể đảo ngược được bệnh tiểu đường. Tuy nhiên có nhiều nghiên cứu cho thấy nó có thể giúp ngăn ngừa tiểu đường. Thực tế là cha tôi đã bị tiểu đường từ khi 72 tuổi nhưng bây giờ ông chỉ nặng 126 pounds, và cao 5’6, là người Mỹ gốc Á. Ông thay đổi chế độ ăn, và tập đi bộ 50 phút mỗi ngày. Trước đó ông phải uống ba loại thuốc dành cho người tiểu đường. Sau đó khoảng 1 năm, ông đã ngừng uống các thuốc này và vẫn tiếp tục chế độ ăn uống tập thể dục này trong vòng 12 năm sau đó cho đến khi ông phải uống loại thuốc chữa bệnh khác. Cho nên rõ ràng là bạn có thể đảo ngược được bệnh tiểu đường và nhiều bệnh nhân đã làm như vậy.”

Tất nhiên, theo bác sĩ George King, không phải người nào theo đuổi cả 8 chiến lược cũng có thể đảo ngược được bệnh tiểu đường, vì điều này còn tuy thuộc vào những vấn đề sức khỏe khác. Theo ông, những người đã bị tiểu đường trong thời gian dài hoặc tiểu đường dạng 1, tức là cơ thể không thể tự sản sinh insulin, thì việc theo đuổi cả 8 chiến lược chỉ có thể giúp họ kiểm soát bệnh tốt hơn mà thôi.

Mong quý vị chia sẻ các thông tin và những đóng góp về các vấn đề y tế, sức khỏe đến trang tạp chí sức khỏe đời sống tại email vietha@rfa.org hoặc www.facebook.com/vietharfa

Posted in SỨC KHOẺ | Leave a comment

Lãnh đạo đối lập Nga bị bắn chết

Lãnh đạo đối lập Nga bị bắn chết

Ông Nemtsov từng tỏ ra lo ngại rằng mình sẽ bị giết hại do phản đối cuộc chiến tại Ukraine

Lãnh đạo đối lập và cựu phó thủ tướng Nga, ông Boris Nemtsov, vừa bị bắn chết tại Moscow.

Một kẻ tấn công không rõ danh tính đã bắn vào lưng ông Nemtsov bốn lần khi ông đang đi ngang qua một cây cầu gần Điện Kremlin, cảnh sát cho biết.

Ông bị sát hại chỉ vài giờ sau khi vận động sự ủng hộ cho một cuộc tuần hành tại Moscow vào ngày 1/3 nhằm phản đối xung đột ở Ukraine.

Tổng thống Nga Vladimir Putin đã lên án vụ sát hại, Điện Kremlin cho biết.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Nemtsov nói ông lo ngại rằng mình có thể bị Tổng thống Putin giết hại vì phản đối chiến tranh ở Ukraine.

Ông Nemtsov, 55 tuổi, từng là một phó thủ tướng dưới thời Tổng thống Boris Yeltsin trong những năm 90.

Ông được biết đến như là một nhà cải cách kinh tế khi còn là thị trưởng của một trong những thành phố lớn nhất của Nga, Nizhny Novgorod.

Ông đã nhiều lần công khai chỉ trích Tổng thống Putin, người kế nhiệm ông Yeltsin.

Nhiều người đã đến đặt hoa tưởng niệm tại hiện trường vụ nổ súng

‘Tàn bạo’

Ông Thorbjorn Jagland, Tổng Thư ký Hội đồng châu Âu, đã lên án vụ sát hại.

Ông viết trên tài khoản Twitter: “Tôi cảm thấy sốc và kinh hoàng trước vụ sát hại lãnh đạo đối lập Boris Nemtsov. Hung thủ cần phải đối mặt với công lý”.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng lên án vụ sát hại “tàn bạo” và kêu gọi chính phủ Nga “nhanh chóng” thực hiện một cuộc điều tra “công bằng và minh bạch”.

Ông Nemtsov bị bắn chết vào lúc 23:40 giờ ngày 27/2, giờ địa phương, khi đang đi qua Cầu Bolshoy Kamenny cùng một người phụ nữ khác, Bộ Nội vụ Nga cho biết.

Kẻ tấn công đã nổ súng từ một chiếc xe hơi màu trắng và sau đó tẩu thoát, một nguồn tin cảnh sát nói với hãng thông tấn Nga Interfax.

Trong khi đó, hãng tin Meduza của Nga nói “nhiều người” đã bước ra từ chiếc xe và bắn chết ông Nemtsov.

Một trong các đồng nghiệp của ông Nemtsov trong đảng Tự do Nhân dân Nga, Ilya Yashin, xác nhận cái chết của ông Nemtsov.

“Tôi có thể thấy thi thể của ông Boris Nemtsov nằm ngay trước mặt,” ông được trang tin lenta.ru dẫn lời nói.

Nhiều người đã đến đặt hoa tại hiện trường nơi xảy ra vụ nổ súng.

Các lãnh đạo đối lập Nga, Ilya Yashin (trái) và Ksenia Sobchak, phản ứng trước tin ông Nemtsov bị sát hại

‘Xâm lược’

Trong tin nhắn cuối cùng đăng trên Twitter, ông Nemtsov đã kêu gọi phe đối lập của Nga vượt qua sự chia rẽ hiện nay để cùng tham gia vào một cuộc tuần hành phản chiến do ông khởi xướng vào ngày 1/3.

“Nếu bạn ủng hộ chấm dứt chiến tranh giữa Nga và Ukraine, nếu bạn ủng hộ chấm dứt hành động xâm lược của Putin, hãy tham gia vào Cuộc Tuần hành Mùa xuân tại quận Maryino vào ngày 1/3,” ông viết.

Trước đó, trong một cuộc phỏng vấn với hãng tin Sobesednik, ông Nemtsov đã tỏ ra lo ngại cho tính mạng của mình.

“Tôi e rằng mình sẽ bị Putin giết chết”, ông nói.

“Tôi tin rằng ông ta là người đã khơi mào cho chiến tranh tại Ukraine”.

Ông Putin bị cáo buộc đã châm ngòi cho cuộc nổi dậy ở miền đông Ukraine – điều mà ông này đã lên tiếng bác bỏ.

Xung đột tại đây nổ ra sau khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine hồi tháng Ba năm ngoái.

Ít nhất 5.800 người đã thiệt mạng và khoảng 1,25 triệu người đã phải rời bỏ nhà cửa, theo số liệu của Liên Hiệp Quốc.

Chính phủ Ukraine, các lãnh đạo phương Tây cũng như Nato nói có nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy Nga đang chi viện quân đội và khí tài cho phe nổi dậy.

Nhiều ý kiến trong giới quan sát độc lập cũng xác nhận điều này.

Moscow, mặc dù bác bỏ các cáo buộc trên, nhưng cũng thừa nhận nhiều binh lính của nước này đã ‘tình nguyện’ gia nhập vào lực lượng nổi dậy ở Đông Ukraine.

Cái chết của những người chống Putin

Tháng Tư 2003 – Chính khách Sergey Yushenkov bị ám sát gần nhà ở Moscow

Tháng Bảy 2003 – Nhà báo Yuri Shchekochikhin chết sau căn bệnh bí hiểm kéo dài 16 ngày

Tháng Bảy 2004 – Biên tập viên tạp chí Forbes phiên bản tiếng Nga Paul Klebnikov bị bắn trên đường ở Moscow

Tháng Mười 2006 – Nhà báo Anna Politkovskaya bị bắn ngoài căn hộ ở Moscow

Tháng 11/2006 – Cựu điệp viên Nga Alexander Litvinenko chết, gần ba tuần sau khi uống trà dính chất polonium ở khách sạn tại London

Tháng Ba 2013 – Boris Berezovsky, từng đóng vai trò phân phát quyền lực nhưng sau chống Putin, chết trong nhà ở Anh.

Posted in Tin Thế Giới | Leave a comment

Hành trình H.O.

Hành trình H.O.

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

Gia đình và tù nhân chính trị đến Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn. Files photos

Files photos
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 hàng triệu binh sĩ chế độ VNCH buông súng để sau đó hơn 200 ngàn sĩ quan và viên chức vào hơn 80 trại cải tạo trong nhà tù của chế độ mới. Những tù nhân ấy sau khi ra trại lại có một chuyến hành trình nữa được gọi là HO để đến Mỹ bắt đầu vào năm 1990.
Mặc Lâm tìm hiểu thêm chương trình nhân đạo có một không hai này qua lời kể của bà Khúc Minh Thơ, một trong những người vận động cho chương trình H.O. thành hình.

Từ Hội Gia đình Tù nhân Chính trị đến H.O.

Sau ngày 30 tháng 4, hai danh từ mới xuất hiện trong từ điển Việt Nam là thuyền nhân và HO. Thuyền nhân là những người không chịu sống trong chế độ mới, vượt biển đông bất chấp sóng gió, cướp biển cùng những nguy hiểm khác để tìm tự do. HO là những sĩ quan, viên chức bị cải tạo ba năm trở lên trong các nhà tù sau khi trình diện Ủy ban Quân quản tại khắp miền Nam để lên đường vào trại cải tạo gọi là học tập. Những sĩ quan viên chức này trở thành HO khi qua cuộc phỏng vấn của phái đoàn Mỹ tại tp HCM và chính thức có danh sách sang Mỹ bắt đầu bằng hai chữ HO.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bên cạnh sĩ quan các cấp, những chính trị gia, nhà báo, dân biểu, lãnh đạo tôn giáo cũng cùng số phận với những người cầm súng. Tất cả đều được gọi là tù nhân cải tạo, tất cả đều bị đối xử như nhau và tất cả đều không có án.

Từ sự gợi ý của ông Lawman, một hội mang tên Gia đình Tù nhân Chính trị Việt Nam thành hình tập hợp vợ con của những người tù cải tạo để có tiếng nói chung

Cuộc sống của những tù nhân này được nuôi dưỡng bằng mồ hôi nước mắt của người thân, cha mẹ vợ con thậm chí là bạn bè, hàng xóm. Cũng có những trường hợp vợ con của họ vượt biên và nơi xa xôi tưởng chừng như mù mịt ấy những món quà nhỏ bé chắt chiu gửi về thăm nuôi họ. Sợi dây ràng buộc mong manh ấy đã ngày một bện chặt hơn khi số thuyền nhân ngày càng nhiều và ý tưởng cứu những người tù cải tạo ra khỏi đất nước một cách hợp pháp đã nảy sinh trong lòng những người vợ của họ đang sống tại Mỹ.

Một trong những người như thế là bà Khúc Minh Thơ, chồng bà là một sĩ quan đã chết trước khi trở thành một HO và bà có rất nhiều bạn bè của chồng vẫn nằm trong trại cải tạo. Bà Khúc Minh Thơ sang Mỹ năm 1977 và ý tưởng vận động cho tù nhân cải tạo vẫn thôi thúc trong lòng bà. Ông Shef Lawman, một chuyên viên của Bộ Ngoại giao Mỹ làm việc tại Việt Nam cho tới phút cuối. Do có vợ Việt ông Lawman hiểu rất rõ tình hình chính trị, văn hóa và xã hội Việt Nam và là người đầu tiên bà Khúc Minh Thơ gặp và trao đổi với ông ý tưởng của mình. Từ sự gợi ý của ông Lawman, một hội mang tên Gia đình Tù nhân Chính trị Việt Nam thành hình tập hợp vợ con của những người tù cải tạo để có tiếng nói chung.

Bà Khúc Minh Thơ kể lại giai đoạn đầu khi bà nghĩ tới bắt tay vào việc vận động này:
Khi mà tôi qua tới đây giống như trong một con đường tăm tối mà tôi phải đi tại vì không làm cách gì ngoài tình thương của gia đình, tình thương của bạn bè mà tôi cùng với anh chị em trong hội Gia đình Tù nhân Chính trị để mà làm. Có hy vọng nhưng không bao giờ nghĩ tới mình sẽ thành công nhưng vì không thể nào không nghĩ tới những người thân yêu ruột thịt của mình chết trong tù mà mình không làm gì được.

Khi nghe bà Khúc Minh Thơ vận động một việc làm không khác gì mò kim đáy biển như thế rất nhiều người e ngại cho sự thành công là quá ít và kéo dài vô tận vì nước Mỹ vừa mới thất bại trên chiến trường, tiếng nói không còn mạnh như xưa đối với Việt Nam và nhất là dân chúng Mỹ chưa chắc chấp thuận một gánh nặng cho hàng trăm ngàn người Việt như thế. Tuy nhiên nhạc sĩ Nam Lộc lúc đó đang làm việc cho cơ quan thiện nguyện USCC chuyên giúp đỡ người tị nạn tại Mỹ lại không bi quan như vậy căn cứ vào kinh nghiệm của ông:

Người thúc đẩy cho tôi nhiều nhất là ông Robert Funseth, ông ấy đặc trách chương trình tỵ nạn của Bộ ngoại giao, hai nữa người mà theo dõi diễn tiến của tụi tôi nhiều nhất là ông Shef Lowman, ông ấy là nhân viên của Bộ ngoại giao…..Ngoài ra bên lập pháp còn có TNS John McCain và TNS Robert Kennedy
Việc tranh đấu cho những người tù nhân chính trị bị cộng sản giam giữ mà họ gọi là cải tạo rất nhiều người nghĩ rằng là một nỗ lực không tưởng, khó để thành công. Nhưng cá nhân tôi thì tôi rất tin tưởng. Cũng những suy nghĩ tiêu cực như vậy đã xảy ra trước đó cả chục năm khi cơ quan thiện nguyện USCC cùng một số cơ quan định cư khác nỗ lực thành lập chương trình ODP thành ra chúng tôi nghĩ nếu ODP thành công thì việc tranh đấu cho các tù nhân chính trị này cũng không phải là điều không tưởng.

Bà Khúc Minh Thơ (thứ 2 từ trái) trong một buổi lễ của cựu tù nhân chính trị .


Một người Mỹ khác có công rất nhiều trong việc vận động cho chương trình này là ông Robert Funseth, Phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách Chương trình Tỵ nạn. Ông là một nhà ngoại giao dành hầu như toàn bộ cuộc đời ngoại giao của ông tại Việt Nam từ khi bước chân sang cho tới khi miền Nam sụp đổ. Ông chứng kiến nhiều cảnh chiến đấu của người lính VNCH và rất hăng hái trong việc vận động tổng thống Reagan và Quốc Hội Hoa Kỳ cũng như đứng ra thương thuyết thẳng với Việt Nam về vấn đề trao đổi đối với những người tù chính trị. Bà Khúc Minh Thơ cho biết thêm về ông và những người như ông trong tiến trình giúp bà vận động:

Người thúc đẩy cho tôi nhiều nhất là ông Robert Funseth, ông ấy đặc trách chương trình tỵ nạn của Bộ ngoại giao, hai nữa người mà theo dõi diễn tiến của tụi tôi nhiều nhất là ông Shef Lowman, ông ấy là nhân viên của Bộ ngoại giao, hiểu nhiều nhất chương trình tù nhân chính trị, cũng như những người bị bắt ở tù thành ra rất là ủng hộ tôi về vấn đề này. Ngoài ra bên lập pháp còn có Thượng nghị sĩ John McCain và Thượng nghị sĩ Robert Kennedy và hầu hết phần đông những thượng nghĩ sĩ, dân biểu mà hồi xưa là cựu chiến binh Hoa Kỳ họ hiểu hoàn cảnh của anh em họ rất là ủng hộ.

Chuyến bay HO đầu tiên

Đoạn đường vận động phía Hoa Kỳ chấp nhận thương thuyết đã gian nan, nhưng về phía Việt Nam, nơi nắm giữ vận mạng của hàng trăm ngàn tù nhân chính trị cũng không phải là dễ thuyết phục khi bản thân chính quyền đang say sưa trên chiến thắng, bà Khúc Minh Thơ kể:

Cuối cùng tôi lên gặp tòa đại sứ của Việt Nam cộng sản ở New York. Tôi nhớ là ngày 30 tháng 4…tôi được Bộ Ngoại giao và Quốc hội sắp xếp cho tôi gặp ở trên đó để đòi cho được họ thả tù nhân chính trị và định cư ở Mỹ. Ba tháng sau cái ngày cuối cùng đó thì họ chấp thuận ký cái thỏa hiệp, agreement để cho tù nhân chính trị ra đi là ngày 30/7/1989
Mình vận động rất là lâu tới chừng cuối cùng tôi lên gặp tòa đại sứ của Việt Nam cộng sản ở New York. Tôi nhớ là ngày 30 tháng 4, tôi luôn luôn lấy ngày 30 tháng 4 như một điểm quan trọng, tôi được Bộ Ngoại giao và Quốc hội sắp xếp cho tôi gặp ở trên đó để đòi cho được họ thả tù nhân chính trị và định cư ở Mỹ. Ba tháng sau cái ngày cuối cùng đó thì họ chấp thuận ký cái thỏa hiệp, agreement để cho tù nhân chính trị ra đi là ngày 30 tháng 7 năm 1989.
Ngày mà ông Funseth và phái đoàn đi qua để thương thuyết cái thỏa hiệp này tôi vô tới Bộ Ngoại giao cầu chúc ông ấy thành công thì ông ấy cho tôi một lịch trình làm việc của ông ấy, tôi để cái lịch trình ấy trước mặt để mà cầu nguyện.

Khi ông Funseth tới phi trường Bangkok thì ông gọi cho vợ là bà Funseth để bà này báo tin cho tôi biết là đã ký xong. Lúc đó không thể tưởng tượng, không thể nói được lời nào vì mình đâu có nghĩ kết quả lại trọn vẹn như vậy.

Ngày 5 tháng 1 năm 1990 có lẽ là ngày lịch sử đối với hàng trăm ngàn người trong đại gia đình tù nhân chính trị Việt Nam. Chuyến bay chở nhóm HO đầu tiên ghé Bangkok làm thủ tục trung chuyển sang Mỹ đã làm cộng đồng người Việt tại Mỹ theo dõi từng giây phút. Sau bao nhiêu năm chờ đợi trong một đống tin tức lệch lạc thậm chí sai sự thật thì những tù nhân ấy đã chính thức bước chân xuống Mỹ. Nhạc sĩ Nam Lộc kể lại ngày vui mừng ấy khi ông ra phi trường đón những người tù nhân này trong nhóm người ra đi đầu tiên dưới cái tên HO1.

Khi những người trong đợt đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ thì đó là một ngày chúng tôi chờ mong, một ngày giấc mơ đã thành sự thật. Tôi đã ra phi trường đón tiếp những người đầu tiên trong số đó có anh Nguyễn Tiến Chỉnh một người bạn thân của chúng tôi từ khi còn rất trẻ. Anh là một trung úy không quân, một thành viên của ban nhạc Spot Light và là một trong những người thuộc nhóm đầu tiên đến Hoa Kỳ.

Cái chữ HO hồi đó có nhiều người hỏi tôi cho nên tôi hỏi lại những người làm việc tại BNG phòng đặc trách về người tỵ nạn thì họ nói hai chữ HO của bên Việt Nam chứ không phải của Bộ Ngoại giao hay chính phủ Hoa Kỳ…Bộ Ngoại giao họ thì thường trong ba tháng họ gửi cho chúng tôi để biết cái CT tỵ nạn đã có bao nhiêu người qua thì họ gọi là Political Prisoners Sub-Committee chứ họ không gọi là HO

bà Khúc Minh Thơ
Tuy nhiên, sau khi 5 năm trôi qua chương trình HO phải ngưng lại vì Quốc hội chỉ cho phép với giới hạn 5 năm. Sự ngưng lại ấy lại làm cho những người vận động cho chương trình một lần nữa phải tìm cách đối phó, bà Khúc Minh Thơ kể:

Ở trong Quốc hội Bộ Ngoại giao họ nói với tôi nếu tôi xin nhiều thì Quốc hội sẽ không chấp thuận thành ra khi đầu tiên bắt đầu xin cho chương trình đó vào năm 1990 là tới 1996 là 5 năm cho chương trình HO. Sau đó ông Funseth các người bên văn phòng của McCain, Kennedy nói rằng sau đó thì sẽ xin lại thêm chứ bây giờ mà xin 10 năm, 20 năm thì họ đâu có chịu! nhưng tù nhân mà xin 5 năm thì làm sao cho đủ? Vì vậy tới năm 1996 nó ngưng thì tôi lại phải vận động để 10 năm sau, năm 2005 tôi mới có được cái thỏa hiệp thứ hai để cho chương trình HO tiếp tục, tuy nhiên những người nào đã được chấp thuận (approve) rồi thì tiếp tục ra đi cho tới khi nào tới Mỹ.

Cho tới nay hai chữ HO vẫn là cái tên chính thức cho chương trình ra đi này. Nhiều người tra tìm chữ viết tắt của HO đã không hài lòng về kết quả của nó. Một lần nữa bà Khúc Minh Thơ cho biết nguồn gốc của hai từ này, nó không phải của Mỹ mà là từ Việt Nam:

Cái chữ HO hồi đó có nhiều người hỏi tôi cho nên tôi hỏi lại những người làm việc tại Bộ Ngoại giao phòng đặc trách về người tỵ nạn thì họ nói hai chữ HO của bên Việt Nam chứ không phải của Bộ Ngoại giao hay chính phủ Hoa Kỳ. Đầu tiên HO 1 mới kêu là HO cho tới khi HO10 thì không còn là HO nữa mà là H10. Bộ Ngoại giao họ thì thường trong ba tháng họ gửi cho chúng tôi để biết cái chương trình tỵ nạn đã có bao nhiêu người qua thì họ gọi là Political Prisoners Sub-Committee chứ họ không gọi là HO.

Theo nhạc sĩ Nam Lộc cũng là giám đốc USCC tại miền Nam California cho biết có khoảng trên dưới 200 ngàn tù nhân chính trị và gia đình đã sang Mỹ theo diện HO kéo dài cho tới năm 2008 thì mới chính thức chấm dứt.

Đó là sự chờ đợi của tất cả những người Việt ờ hải ngoại cũng như thân nhân những người tù nhân chính trị họ vui mừng không còn chỗ nào vui hơn sau năm 1975. Đó là niềm vui cho tất cả mọi người Việt Nam.

Sự ra đi chính thức của hàng trăm ngàn tù nhân chính trị và thân nhân có thể được xem là một phép lạ của thượng đế bù đắp những khốn khổ, chết chóc mà dân tộc này phải chịu. Các thế hệ nối tiếp đã có những thành tựu trong nhiều lĩnh vực tại Hoa kỳ do con em HO thực hiện. Thành quả ấy không phải do một mình bà Khúc Minh Thơ, tổng thống Reagan, ông Funseth hay John McCain, hoặc Robert Kennedy mà là kết hợp của tất cả trong niềm tin: đây là một đất nước hình thành từ di dân, do đó mọi ý tưởng cứu người bị ngược đãi, đàn áp là phương châm đầu tiên của cả dân tộc này để rồi những người di dân sau tiếp tục phát triển, bồi đắp triết lý nhân văn ấy.

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Cộng Đồng | Leave a comment

CHAY LÒNG CÙNG SỐNG TIẾT ĐỘ

CHAY LÒNG CÙNG SỐNG TIẾT ĐỘ
(Sống Mùa Chay)

Tuyết Mai

Cuộc sống của chúng ta ngày qua ngày do tầm ảnh hưởng rất lớn từ trong gia đình do cách dậy dỗ con cái của bố mẹ như câu “Dậy con từ thuở còn thơ”. Để con cái khi chúng lớn lên chúng sẽ trở thành người gì hay thành phần gì trong xã hội tương lai sau này. Như nhà nghèo thì dậy chúng câu “Nghèo cho sạch, rách cho thơm”. “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, học biết để phần ăn cho người vắng mặt nhất là dậy con cái điều răn thứ 9 là “Chớ tham của người” cùng sống Tiết Độ trong mọi sự việc.

Cách sống Tiết Độ cần phải được giáo dục từ tấm bé để khi lớn lên dù là nhà nghèo hay có cơ may trở thành người giầu có thì cái học quen sống Tiết Độ từ tấm bé sẽ không làm cho con người ta ra hư hỏng cách nhanh chóng. Có Tiết Độ sẽ giúp cho con người không bị thay đổi hình dạng (phát tướng) vì thường khi có tiền thì ai cũng ăn nhậu thái quá. Không dễ tham lam mà làm xấu đi phong cách của chính mình, hoặc làm gương xấu để ảnh hưởng trên con cái … Nhất là tránh được sự tồi tệ mang lại cho sự tan vỡ của cả một gia đình.

Tại sao thường chúng ta khó giữ chay, kiêng thịt trong Mùa Chay? Thưa có phải vì chúng ta có cuộc sống bê tha, phóng khoáng và không Tiết Độ mà một người cần phải có?. Đó là giữ Tiết Độ trong sự ăn uống, trong chuyện phòng the, nhậu nhẹt, nói hành nói xấu người vắng mặt, chửi bới nhau, gây chuyện với nhau, lấy của người làm của mình khi có cơ hội, v.v…

Thông thường thì người giầu có họ khó có thể giữ Chay hơn vì họ luôn có tiệc tùng cả ngày và đêm nên họ khó nhịn miệng là chuyện dễ hiểu. Còn đối với người nghèo khổ thì hằng ngày trong bữa cơm của họ cũng chỉ có rau và rau nên giữ Chay có phần dễ hơn nhiều. Nhưng ngược lại thì người nghèo khổ họ thường có cái tội ao ước. Từ sự ao ước đó nó nổi lòng tham và rồi từ sự suy nghĩ nó bước qua hành động gian ác thì khó mà lường cho được.

Vì con người của chúng ta luôn là yếu đuối xác thịt nên phải cần có Chúa trong cuộc đời. Có nghĩa Chúa phải luôn được ở trong cõi lòng của chúng ta mỗi ngày chứ không phải khi chúng ta tốt lành thì mời Chúa ra thờ phượng và xin xỏ – còn khi chúng ta làm tội thì đem nhốt Chúa lại, khóa chặt Người tận đáy của chiếc Rương vì không muốn Chúa nghe thấy?. Mà không hiểu rằng Thiên Chúa Người nghe, biết và thấy hết mọi sự. Chỉ vì chúng ta đã để cho chúng quỷ tự tung tự tác, tự do hoành hành từ trong tư tưởng, việc làm tồi bại mà chúng ta ao ước được làm.

Điều này cũng làm cho chúng ta nhớ đến Lời Chúa nói là “Những gì chúng ta bỏ vào bụng thì không dơ bẩn nhưng những gì từ trong bụng chúng ta phát ra ấy mới là dơ bẩn”. Ước gì trong Mùa Chay này chúng ta sống hãm mình, chừa tội và sống Tiết Độ hơn thì dù có là 40 ngày Chay Thánh hoặc hơn – Chúa cũng sẽ giúp chúng ta sống với Chúa với anh chị em cách trọn vẹn và đẹp lòng Chúa hơn. Amen.

** Xin bấm vào hình để nghe và hát:


(Sám Hối)

Y Tá của Chúa,
Tuyết Mai

———————————————–

**::* Sám Hối *::**
*~* Tuyết Mai (68) 02-20-05 *~*

Cùng mau đến ta hiệp nhau lặng lẽ nguyện cầu
Dâng tâm tình lên Thiên Chúa Cha dấu yêu
Cùng dâng lên Thiên Chúa bao lỗi lầm những ngày qua
Con trót lỗi phạm đến Cha
Xin Chúa thứ tha vì thân xác yếu hèn con

Nguyện xin Chúa Cha Tình Yêu và rất Nhân Từ
Con xin Ngài nghe con nói lên nỗi niềm
Để xin Cha thông cảm cho những tội tháng ngày qua
Con cố lỗi phạm đến Cha
Xin Chúa thứ tha vì thân xác lỗi tội con

ĐK:
Xin Cha ban cho chúng con Thần Khí Chúa như sức mạnh
Để khi gặp cám dỗ như thuẫn luôn bao che
Trên bước đường đầy cạm bẫy
Xin Cha soi lối dẫn đường để ngăn tránh
Nghịch thù tối tăm luôn đe dọa con

Lậy xin Chúa Cha Từ Nhân Ngài Đấng trọn lành
Con xin Ngài nghe con thốt lên tiếng than
Để xin Cha giảm bớt cơn thịnh nộ chớ phạt con
Khi đã cố tình trốn Cha
Xin Chúa xót thương vì ham muốn Thú, Lợi, Danh

Giờ con hứa luôn thành tâm nguyện Chúa Chiên Lành
Xin đoái hoài ban Thế Giới luôn ấm no
Cùng xin ban hoa quả cho Giáo Hội khắp mọi nơi
Gặt hái Tin Mừng rắc gieo
Để khắp chân trời người góc bể tán tụng Cha.

*** Để cảm tạ, ngợi khen, và tôn vinh Thiên Chúa là Cha chung của tất cả chúng ta, tôi chân thành mời anh chị em hãy dùng những bài hát của tôi để hát, đem đến tận phương trời xa, để làm Sáng Danh Thiên Chúa.

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

Trăng đã lên! Trăng đã lên!

“Trăng đã lên! Trăng đã lên!”
Hương ngát thơm bao u huyền vườn thu thiết tha.
Trăng sáng soi. Trên lá hoa
Dâng nhớ bao câu mong chờ nhạc xưa đã qua.
Xa xôi rồi nhớ thương, ai mong chờ vấn vương.
Riêng có ta tim xót xa, luyến thương bao khúc ca xưa, đã phai nhòa.”

(Nhạc: Louis Ferrari Domino – Lời: Hương Huyền Trinh Khúc Nhạc Muôn Đời)

Trần Ngọc Mười Hai

(Galát 5: 22-24)

“Khúc Nhạc muôn đời”, ư? thử hỏi: bạn và tôi, ta có nên đưa Nhạc này vào Mùa Chay, chứ? Đó là câu hỏi từ nhà báo Robert Hiini ở Úc, khi phỏng vấn người viết nhạc Tracey Combes ở Úc, như sau:

“Mùa Chay năm nay tại Giáo phận Wollongong Sydney, Úc, có chương trình gọi là “Arise” đã và đang chứa-đựng một khí-cụ thầm-lặng nhưng sắc-bén trong âm-nhạc. Và, đây còn là khí-cụ không-có-gì-bí-mật, cả. Chương-trình này kéo dài khoảng 90 phút, xoay quanh loạt bài chiêm-niệm của sơ Hilda Scott dòng OSB rút từ phim nổi tiếng “The Abbey”; và của sơ Hoya Henlen, OLSH cùng Lm Michael Fallon, MSC và nhà nghệ-thuật Nelson Colo Matona đặt địa-bàn hoạt-động tại Sydney, chuyên sản-xuất các dĩa nhạc và sách trầm lắng, sống động.

Trả lời câu hỏi của phóng viên tờ The Catholic Weekly, Tracey Cobes nói: “Tôi coi âm-nhạc như thứ “thuốc trị bệnh” linh-hồn rất tốt. Và có lẽ, Thiên Chúa cũng sử-dụng âm-nhạc để nói lên điều Ngài muốn nói, hầu đi vào tâm-can con người theo cách-thức của Ngài. Âm-nhạc, là quyền-lực thiêng-liêng đích-thực ta ủy-thác cho Chúa. Và, bà con ta cũng nên xin Chúa chúc-lành cho âm-nhạc để nó xuyên-thấu tâm-can con người bằng giòng chảy nhẹ lâng, thanh-thoát. Tôi tin chắc chắn Ngài sẽ chúc lành cho chuyện này…” (x. Robert Hiini, Secret Weapon in Lenten Music, The Catholic Weekly, 15-02-2015, tr. 10)

Nghe thế thì biết thế. Vấn-đề: bạn và tôi, ta có đồng ý với tác-giả người Úc này hay không, là chuyện khác. Thế nhưng, “đồng-ý hay không?” còn tùy mỗi người và nơi chốn ta diễn-đạt loại nhạc ấy, mỗi thế thôi. Nhưng, để bà con ta có thêm chất-liệu mà góp ý, nay xin bạn và xin tôi, ta hãy nghe thêm đoạn nữa tiếp-tục ở bên dưới:

“Bạn lòng ơi! đã bao đêm thức trông trăng sáng long lanh.
Nhìn giòng sông nước trong xanh

cuốn trôi nhanh, giữa đêm thanh.
Sông mong chờ nhớ, bao khúc nhạc thắm,
Nay đâu còn nữa, đã quá xa.
Và từ đây, mỗi khi nghe khúc ca xưa giữa gió mưa.
Thì lòng ta thấy xót xa, nhớ thiết tha, phút đã qua.
Ðã phai nhòa hết. Hoa xưa tàn hết.
Nhưng, ngàn thu mãi trong tim ta.”

(Domino – bđd)

“Ngàn thu mãi trong tim ta”, phải chăng là tình-tự của thương-yêu không chỉ ở mỗi âm-nhạc?

“Lòng ta thấy xót xa, nhớ thiết tha, phút đã qua”, cả vào mùa Chay kiêng như học-giả kinh-điển nọ vốn từng bảo: “Phục Sinh, vốn dĩ có mặt cả vào mùa Chay nữa”.

Nói thế, khác nào bạn và tôi, ta lại cứ ngâm nga câu tiếp vẫn hát rằng:

“Thu đã qua! Bao lá hoa!
Theo gió bay, bay quay quần rụng theo gió đưa.
Mây vẫn xanh! Trăng vẫn thanh!
Nhưng thấy đâu, khúc ca đẹp, nhạc êm thắm tươi
Ai xa vời, có hay bao nhiêu ngày gió bay?
Bao lá khô! Theo gió thu!
Rớt trên đôi mắt, đôi môi, khắp mong chờ.”

(Domino – bđd)

Hôm nay, hát lại nhạc-bản này, ý bần đạo không phải để bình-luận thi-ca/âm-nhạc này khác, cho bằng chỉ muốn dẫn-nhập vào chuyện thần-học/tu-đức để bạn và tôi, ta có hứng mà bàn chuyện khô-cứng, cũng rất nên. Chuyện nên bàn ở đây, là chuyện từng gây tranh-cãi về tín-lý/giáo-điều được học-giả ở đây đó, vẫn tâm-tình như sau:

“Những năm còn sống trong Dòng thánh sinh-hoạt theo kiểu Trung cổ, tôi lại đã tạo được cho mình ít nhất 3 món quà của người xưa. Thứ nhất, là tên gọi do cha mẹ đặt, tức: đơn-giản chỉ mỗi chữ “Gioan”. Thứ đến, là tên đệm do Dòng thánh của tôi trao tặng, khi có vị nào đó trong Dòng tuyên-khấn sống hy-sinh tận-tụy. Và, thêm điều nữa, là điều tôi vẫn xác-tín bảo rằng: niềm tin và sự việc này khác vẫn xảy đến, như: vấn-đề mặc-khải và lý-luận mình có, không tương-phản hoặc kình-chống nhau bao giờ hết, trừ phi đầu óc mình bị lệch sai một bên; hoặc mình cứ lẫn lộn cả hai phía. Món quà thứ ba tôi có được, là: tình yêu dành cho Thanh-Nhạc, tức thứ âm-nhạc Grêgôriên thanh-thoát, cho dù mình từng hát dở đến độ phá tan ban hợp-xướng nổi tiếng của Dòng, nên thoạt lúc tôi ra đi, các đấng-bậc ở lại đều mở cờ trong bụng,do bởi các vị sẽ có cơ-hội phục-vụ Thanh-nhạc đúng mức hơn.” (x. John D. Crossan, Who is Jesus, Answers to your questions about the historical Jesus, Westminster John Knox Press, Louisville, Kentucky 1996 tr. X)

Thế đó, lập-trường của vị học-giả vốn dĩ là linh-mục nổi cộm dạy trường thần-học De Paul ở Chicago, Hoa Kỳ. Ở đây, lại cũng thấy các quan-niệm sống riêng-tư, hoặc lập-trường chính-qui/chính-mạch của nhà Đạo chỉ muốn mọi người sống theo truyền-thống cũng rất chung của Giáo-hội, từ trước đến nay.

Thế đây có là khuynh-hướng nói chung của nhiều người không? Đây là câu hỏi, rất khó trả lời, bởi lẽ bần đạo đây không có đủ số-liệu thống-kê để giải-mã cho phải lẽ.

Khó thật đấy, nhưng cũng xin đưa ra một it ý-kiến ở đây đó, để mỗi người và mọi người có cơ-hội nhận-định hoặc tuân-giữ. Trước nhất là ý-kiến riêng lẻ của một số nhân-vật như sau:

“Âm-nhạc lâu nay từng đổi thay cuộc sống của con trẻ, ở khu phố nghèo khổ xứ miền Châu Mỹ La-tinh. Cateura, là thị-trấn ngoại ô thủ-đô Asuncion của Paraguay, chỉ gồm mỗi 25 ngàn dân sống chen chúc mãi tận khu đổ rác, chất đống. Nhưng, có thể gọi nơi đây là một trong các khu “ổ chuột” lớn nhất ở Nam Mỹ…

Tuy là thế, nơi này còn được coi như chốn miền cũng khá kỳ lạ cho sự lạ về âm-nhạc. Bởi, tại chốn miền bị quên lãng rất ô-nhiễm của thế-giới, lại thấy xảy ra một thứ phiêu-lưu/mạo-hiểm đầy gợi hứng cho nhiều người. Tôi muốn nói đến “Dàn nhạc Cateura” gồm các nhạc-cụ được tái-chế…” (xem thêm Pedro Dutour, Recycling Mozart, MercatorNet 19/6/2013)

Nói đến nhạc Nam Mỹ, có lẽ không thể không nhắc đến điệu Tango nổi tiếng được người trẻ ở Sydney từng nhận-định như sau:

“Tango” với người dân Argentina cũng dễ thương như người em ‘má đỏ môi hồng’ và thiêng liêng như núi Fuji đối với người Nhật Bản vậy. Người nước ngoài khó có thể tưởng tượng nổi tâm hồn người dân Argentina chao đảo đến thế nào khi vũ điệu “Tango” được cất lên. Đặc điểm của “Tango” là nó kết hợp giữa những lời ca mộc mạc của đồng quê châu Âu, ai oán thở than cho kiếp nghèo luôn phải vật lộn với cuộc sống ‘trôi sông, lạc chợ’. Từng ấy giai điệu lời ca đan-xen nhau thành một thứ nhịp điệu Phi châu dập-dìu mạnh-mẽ, nửa như lả lơi mời gọi đôi tình nhân hãy mau dìu bước trên sàn nhảy.

Trong truyền thống “Tango”, là nhạc cụ tiêu biểu nhất vẫn là đàn Bandonéon, một loại phong-cầm như accordéon xuất xứ từ nước Đức, phát ra những thanh-âm nỉ-non gợi tình, cực kỳ lôi cuốn. Thoáng nghe, tôi cứ tưởng như tiếng “phèng la” mà đồng bào Thượng ở nước ta thường hay thổi trong những dịp hội hè, đình đám. Đàn Bandonéon có tất cả 71 nút bấm, và có thể chơi được cả hai nốt nhạc cùng một nút, tùy thuộc nút mở hay đóng. Đây là một nhạc-cụ rất khó sử-dụng, nhưng âm-thanh bi-thảm của nó lại hết sức hòa-hợp với xúc cảm Tango. Vì vậy, nó được xem là biểu-tượng cho “Tango”, ‘bà chúa của vũ trường’.

Trước khi biến-thành một điệu hát bình-dân, Tango đã xuất-hiện ở quận La Boca thuộc thủ-đô Buenos Aires vào cuối thế kỷ 19 như một phong trào khiêu-vũ. Lúc đầu, vũ-điệu tango chỉ là thể-loại nhạc-khí đơn-thuần chứ chưa có ca từ, gồm có một cây guitar, sáo tây (flute) và vĩ cầm (violin), là những nhạc-cụ duy-nhất được sử-dụng để diễn-đạt thể-điệu này. Sau đó, mới thêm đàn Bandonéon vừa được chế tạo xong, và nhập từ Đức sang. Nhưng vẫn còn thiếu phần nhạc cụ tối thiểu để giữ nhịp và làm nền cho bản nhạc. Phải đợi đến khi có sự hội nhập của hai loại đàn đắt tiền là dương cầm (piano) và đại hồ cầm (double bass) chơi nhịp chõi làm nền thì “tango” mới có được cái tên đích thực của mình như hiện nay.

Mấy chục năm sau, lời ca mới được viết theo ngôn-ngữ giang-hồ của đám dân thường ở phố chợ, lời lẽ thô-tục và sử-dụng khá nhiều tiếng “lóng” địa-phương. Trong màn đêm u tối của các xóm nghèo tạm-bợ, vũ điệu Tango đã được nhảy ngoài hè đường, trong quán rượu, cà-phê, sòng bạc và các hồng lâu, nhà thổ, nhậu nhẹt say sưa suốt canh-thâu. Tại đây thường tụ-tập nhiều dân tứ chiếng đến từ khắp các nước châu Âu nhập lậu vào Argentina, trong đó chủ-yếu là nam-giới đến từ các nước như: Đức, Ý, Tây Ban Nha, sống chui rúc với đám da đen Phi châu trong những khu ổ chuột ngoại thành. Ban ngày họ thường đi làm thuê gánh mướn, nhiều nhất là đi chăn bò tại các nông-trại xa thành phố. Mấy anh chăn bò nhà quê này, người dân thành-thị hay gọi chế-diễu là gauchos. Làm quần quật suốt ngày, chỉ khi màn đêm buông xuống, họ mới được nghỉ ngơi, ăn uống hội hè.

Và họ tự sáng-tạo nên điệu vũ mới mang tên Tango để tìm quên trong giây lát nỗi sầu viễn-xứ, thân phận bị bạc đãi, cũng như bộc-lộ tâm-trạng thất-tình qua giai-điệu não-nùng của giòng nhạc Tango qua âm-thanh khổ-đau, lãng mạn, tuyệt vọng. Bởi, hầu hết họ là những gã đàn ông cô-độc, thiếu đàn bà, ra đi bỏ lại đằng sau tất cả mà mục đích chỉ để tìm kiếm sự thành-đạt nhỏ nhoi nơi quê người. Họ gặp nhiều trở-ngại trong việc diễn-đạt ngôn ngữ, vất vả trong cuộc sống, đồng thời tiếc-nuối hạnh-phúc đã vụt-thoáng mà họ để lại trên quê-hương trong bước đường bỏ nước ra đi. Chỉ âm-nhạc và khiêu-vũ mới có đủ khả-năng lôi kéo người người lại gần với nhau, bất kể thân-phận thấp hèn, màu da hay ngôn-ngữ. Thế là điệu nhảy Tango ra đời giữa đàn ông nhảy với nhau, và thường diễn ra trong các động chứa hay hộp đêm, quán rượu. Chính ở nơi đây, bọn họ tụ tập nhau lại để tìm quên lãng qua những ván bài, tìm hơi ấm qua các chầu nhậu say túy lúy, hay rơi vào vòng tay của các ả làng chơi nghiện ngập. Từ khoảng giữa hai thập niên 1860 và 1880 trở đi, lịch sử của Tango đã ra đời từ các khu ổ chuột bẩn thỉu nói ở trên mà dân thường ít dám bén mảng tới.

Ít ai ngờ rằng một vũ-điệu táo-bạo và hấp-dẫn từng chinh phục thế giới như thế, lại có một quá khứ trụy-lạc đến như vậy. Nhất là khi ngắm đôi nam nữ cọ xát vào nhau, phóng mình theo từng nhịp thở, ai cũng thấy bước nhảy của họ thật thú vị nhờ hai động-tác căn-bản đặc-trưng của “Tango”. Một được gọi là Quebrada, tức: cô đào phải gập đầu gối ngả người xuống phía sau. Động tác thứ hai được gọi là Corte, tức: là lúc đôi trai/gái đang nhảy ngon trớn bỗng phải chững lại một hồi, nhạc cũng ngưng hẳn một đoạn trước khi quay vòng chơi tiếp. Quí vị biết tại sao lại thế không? Vì “Tango” bắt đầu bằng sinh-hoạt của các anh chăn bò Argentina. Họ lười tắm, trên người còn đẫm mồ hôi ngựa, nhưng lại thích bước vào các hộp đêm đông nghẹt mời các cô gái nhảy. Người họ hôi quá, nên các cô chỉ móc tay trái vào khuỷu tay phải của gã chăn bò, chứ không dám ôm sát để nhảy; và đầu ngửa về phía sau cho đỡ nặng mùi. Còn tay phải thì buông thõng xuống dưới hông gã, chỗ gần túi quần như để móc túi lấy tiền công nhảy.

Từ điệu nhảy lò cò nhà quê của các gã chăn bò nghèo hèn, “Tango” được sàng lọc qua thời-gian trở nên đại-chúng-hoá, thành vũ-điệu xã-giao phổ-biến khắp mọi nơi trên thế-giới hiện nay. Trong giai-đoạn phát-triển tột bực 1880-1930, phong trào “Tango” cuốn hút giới trẻ và đặc-biệt là tầng lớp nghèo sống ở kinh-thành đến mức mà các góc phố ngoại-ô thuộc khu-vực La Boca, nam-giới công-khai nhảy với nhau giữa ban ngày chứ không sinh- hoạt về đêm như trước nữa. Nó phần nào giống đám thanh-niên ngày nay quay-quần tụ-tập để trình-diễn nhạc “rap” vậy. Lối khiêu-vũ ngoạn mục và hình tượng của “Tango” rất ăn khách trong các khu đông dân, giới khuân vác tại bến cảng thủ-đô, đã lập tức bị nhà cầm quyền quy-kết là sinh-hoạt đồi-trụy khiêu-dâm, nên tìm cách dập tắt phong-trào này nhưng không thể ngăn cấm họ được. Đến khi đó thì phong-trào đã lan rộng ra khắp thủ-đô, con em giới trung-lưu/trưởng-giả cũng bắt chước nhảy theo.

Nhờ vào đóng góp của giới phong-lưu/trí-thức mà những phần thô-tục của lời ca dần-dà bị loại-bỏ bằng nét bay bướm, thể hiện qua lời ca chứa-chan tình-cảm, xót-thương da-diết. Thế rồi, từ thủ đô Buenos Aires, Tango truyền qua Âu châu du-nhập hồi thập niên 1910s. Đầu tiên, được hoan-nghênh nhiệt-liệt ở Paris và sau đó đã lan rộng. Các hội-quán “Tango” nảy sinh khắp nơi. Từ Paris, London, Berlin, cho chí các tỉnh lẻ tại Hòa Lan, Phần Lan, người ta có thể nhảy “Tango” suốt đêm. Ở Nhật và Trung Quốc, “Tango” biến thể theo hình-thức riêng. Riêng Việt Nam chúng ta, dù trong nước hay hải ngoại, mỗi khi nghe thấy điệu “Tango” trổi lên là bà con kéo nhau ra sàn nhảy đông chật cứng! Các ca-khúc Tango Việt Nam được sáng-tác nhiều khủng-khiếp. Không mấy ai là không biết điệu Tango, cho dù là không biết nhảy. Và dĩ nhiên, phải biết đến các ‘giọng buồn chơi vơi’ bên ‘khúc Tango đắm say’ của các nữ-hoàng chuyên trị “Tango” như Lệ Thu với “Bài tình ca mùa đông” của Trầm Tử Thiêng. Hoặc, Khánh Ly với bản “Kiếp Nghèo” của Lam Phương.

Cuối cùng thì, mấy ông nhà giàu ở thủ đô Argentina đành bó tay xuôi theo thời thế mà lao vào cuộc vui khiêu vũ. Lúc đó, dân giàu ở Buenos Aires rất ưa xuống thuyền đi Âu-châu du-lịch, ít nhất là mỗi năm một lần. Họ đều có biệt-thự nghỉ mát ở Paris hoặc London. Dạ tiệc của họ thường quy tụ giới quý tộc nổi tiếng. Người Pháp bấy giờ thường rỉ tai nhau qua câu nói: ‘nó giàu giống như người Argentina để chỉ sự giàu có đến cực kỳ của họ. Con cái xuất dương du học, mang theo điệu Tango Argentina vào giới thượng-lưu Paris, rồi từ đó tạo nên làn sóng điên-cuồng với “Tango”. Mọi người mở dạ-tiệc khiêu-vũ với dàn nhạc Argentina và nhảy Tango. Y phục phụ nữ cũng thay đổi, những váy thụng và xòe của loại nhạc Luân vũ (Waltz) cao sang nay được thay bằng bộ váy đầm gọn gàng, buông thả hơn. Với sự ủng hộ nhiệt tình của dân Âu châu, “Tango” tái ‘nhập cảng’ ngược về thủ đô Buenos Aires. Và lần này, được cả nước hoan nghênh.

Cho nên muốn đi tìm vũ điệu Tango truyền thống không lai tạp thì chỉ có thể tìm thấy ở chính tại quê hương phát sinh ra nói mà thôi. Nếu bạn là người đam mê lịch sử hay văn hóa cổ truyền như tôi, thì bạn sẽ không thể bỏ qua một địa chỉ thật đặc biệt của thủ đô Buenos Aires. Đó là quận La Boca, nơi điệu Tango ra đời. Nơi đây từng là bến tàu chính của thành phố, nhưng do vì nước thải quá ô nhiễm nên tàu bè đã bị chính phủ bắt phải dời sang chỗ khác. Hiện nay, khu phố sống nhờ vào du lịch và vẫn cố giữ lại những nét đặc thù của ngày xưa. Tôi đã bỏ ra cả buổi để đi tìm hiểu về quá trình hình thành “tango” tại nơi đây, đến tối lại đi xem show ca vũ nhạc Tango có kèm ăn uống tại hý viện Carlos Gardel nữa, nên cũng biết được chút đỉnh gọi là….” (trích du ký Nam Mỹ- Anthony Trần)

Không cần biết em là ai, ca-sĩ hay nhạc-sĩ có sáng-chế ra nhạc-cụ hay tiết-điệu lạ-kỳ như “Tango” Argentina không. Chẳng cần hỏi, em có sử-dụng âm-nhạc làm công-cụ như Giáo-hội và xã-hội từng làm không. Chỉ cần cảm-thông với em, người em đang hát đôi giòng chảy của người viết nhạc như sau:

“Trăng sáng soi! Trên lá hoa!

Dâng nhớ bao câu mong chờ nhạc xưa đã qua.

Xa xôi rồi, nhớ thương, ai mong chờ vấn vương.

Riêng có ta tim xót xa, luyến thương bao khúc ca xưa, đã phai nhòa.”

(Domino – bđd)

Nếu bảo rằng: “không cần biết em là ai”, kể thì hơi quá đáng. Nhưng nếu nói: bạn và tôi ta vẫn quan-tâm đến những điều và những ý chuyển-tải khi rao-truyền lời Chúa, như nhận-định của người ở Úc, từng viết như sau:

“Rao-báo Tin Mừng tuyệt nhiên không chỉ là giảng giải Lời Chúa thôi, nhưng lại là và chính là sống thực Lời Ngài trong mỗi động-tác tương-giao với mọi người.

Tôi đồng ý với thánh Phanxicô thành Átxizi khi thánh-nhân từng tuyên-bố: “Hãy rao giảng Tin Mừng của Chúa và nếu được, hãy sử-dụng lời-lẽ cho chính-đáng…” Theo tôi thì, rao giảng Tin Mừng là tìm cách sống thực Tin Vui An Bình từng chi-tiết, trong cuộc sống giữa đời. Sống như thế, là sống tử tế, có ân-huệ keo sơn vẫn đan xen với sự cảm-thông/hiểu biết của người khác, với thời-gian mình bỏ ra để lắng nghe bậc cao-niên đang nhớ lại thời vàng son của Giáo-hội, cứ hăng say diễn-tả không ngừng nghỉ. Sống Tin Mừng, còn là sống và làm việc cật lực cho sự việc chính-đáng, phải lẽ. Là, bộc-lộ nỗi ngạc-nhiên đầy hứng-thú, có niềm vui khi ta hành-xử theo cung-cách Đức Kitô từng làm, vào thời trước. Sống rao giảng Lời Chúa, còn có nghĩa sống vui-tươi, quyết làm chứng-tá cho Tin Vui An Bình mỗi khi ta quyết sử-dụng thời-gian để trở-thành người tốt cho chính mình, tức: thứ quyết-tâm nào đó mà ta không thể lúc nào cũng hoàn-thành cách tốt đẹp nhất thứ là khi ta cảm thấy như điên-cuồng, mê sảng khi mở hộp-thư ra thấy nhiều điều vui/buồn, ở trong đời.” (xem thêm Ann Rennie, How wil they know if we really love them, Australian Catholics, Summer 2014, tr.16)

Sống thực điều mình rao-truyền Tin Vui An Bình và/hoặc làm chứng-tá cho Đạo, còn là và phải là: sống như con trẻ, tức: các bé em từng có “giòng chảy” tư-tưởng be bé, ngắn gọn từ điện-thư gửi Chúa, được thày cô gom góp ở đâu đó, rất trường lớp như sau:

-Jane: “Lạy Chúa con, thay vì Chúa cứ để cho con người chết, rồi Chúa lại sinh ra người khác, sao Chúa không giữ lại những người mà Chúa đang có bây giờ được không? Ký tên, Jane người con nhỏ của Chúa.”

-Neil: “Lạy Chúa, hôm qua con đi nhà thờ dự lễ cưới của chị con, nghe mọi người hát rất hay, thấy mọi người mặc áo rất đẹp, nhưng có một chuyện mà con không thích, đó là: anh chị con chưa xong đám cưới mà đã hôn nhau trước mặt mọi người, coi kỳ quá phải không Chúa? Chúa phải khuyên họ chấm dứt chuyện ấy mới được.”

-Jennifer: “Chúa ơi, vào thời Chúa viết Sách Thánh, người ta có hát loại nhạc lạ kỳ như con vẫn nghe ở nhà thờ không?”

-Elliot: “Lạy Chúa, đôi lúc con cũng nghĩ về Chúa. Nhất là vào lúc con đọc kinh và đi hát lễ với mọi người.”

-Robert: “Chúa à, con là người Mỹ, thế Chúa là người gì? Có kỳ-cục như tụi con không?”

-Joyce: “Con cảm ơn Chúa đã cho mẹ con sinh ra em bé, nhưng con đây từng cầu Chúa cho mẹ sinh chú Tôtô chứ đâu phải thằng bé kia đâu!”

-Nan:“Thưa Chúa, Con chắc là Chúa thương yêu hết mọi người trên thế-giới. Trong nhà của con có mỗi 4 mạng người thôi mà chẳng ai làm được thế hết.”

-Ginny: “Chúa dấu yêu, có thể nào Chúa ban thêm cho bọn con một ngày nghỉ khác giữa Giáng Sinh và Phục Sinh được không? Có như thế, con mới hát nhiều hơn ở nhà thờ.”

-Chris: “Chúa thân yêu, Con cũng muốn được sống đến 90 năm như ông kia ở Sách Thánh, nhưng biết làm sao bây giờ, hả Chúa?”…

-Raphael: “Nếu Chúa ban cho con cây đèn thần như Alladin, con quyết sẽ cho Chúa tất cả những gì con có, ngoại trừ số tiền ở trong bóp hoặc bàn cờ tướng mẹ mới mua cho con.”

-Donna: “Chúa ơi, Con đọc truyện tranh thấy người ta nói ông Tôma Êđison chế ra ánh-sáng, nhưng đi nhà thờ lại thấy cha xứ bảo là: Chúa làm hết mọi chuyện. Vậy, con dám chắc là ông kia đã cóp nhặt ý của Chúa, phải không?” (trích điện-thư thày cô chuyển đến mọi người)

Không cần biết em là ai, con trai hay con gái, mà lại có ý-tưởng lạ đời như thế. Chỉ cần biết, em có trung-thành tin vào điều em học được ở trường lớp hay không, thôi.

Vâng. Đúng thế. Không cần biết bạn là con trai hay con gái, ở nhà Đạo, mà chỉ cần hỏi là bạn có trung-thành tin vào những điều nhà Đạo dạy bạn từ nhỏ không thôi. Và, chỉ cần biết: nhà Đạo nay có còn dạy những điều “không ăn-khớp” những gì mà em và tôi đã và đang học vào thời này, thôi.

Đó, là tư-tưởng của người viết những giòng chảy ở sách vở, như sau:

“Như tôi đã đề-nghị cung-cách trở-thành người Công-giáo thời nay, ở đây rồi. Bây giờ, tôi sẽ chuyển câu “Thế nào là người Công giáo” sang thể hỏi “Tại sao làm người Công-giáo?” như vẫn được dạy từ hồi nhỏ. Từ đó đến nay, tôi thấy được lý-do rất rõ và cũng thuyết-phục được mọi người, đó là: con đường duy-nhất dẫn đến Ơn Cứu-Chuộc mà thôi. Nói thẳng ra, thì: xưa giờ ta được dạy rằng: con người dễ có mối nguy phải rơi vào chốn hoả-ngục đầy lửa bỏng, nếu không trở thành người Công-giáo. Nguy-hiểm này rất cao, lại khó lòng tưởng-tượng ra cung-cách đe-nẹt/doạ-nạt mạnh-bạo nhiều thuyết phục hơn thế, vào thời ấy.

Thế nhưng, nay tôi không còn tin như thế nữa. Và đa số người Công-giáo ở miền Bắc Hoa Kỳ, cũng không còn tin những chuyện như thế nữa. Không tin như thế, là bởi hiện thời, mọi người ở nhiều nơi, còn tìm ra nhiều lý-do mạnh hơn thế. Một trong các lý-do thấy rõ nhất vẫn xuất hiện mỗi khi ta đặt vấn-đề tương-tự, đó là: Hiện nay mọi người đều nhận ra được chiều-hướng của chủ-thuyết đa tôn-giáo. Thời nay, con người biết nhiều về đạo-giáo khác theo phương-cách khác biệt, như: từ trường lớp, báo-chí, truyền thanh hoặc truyền-hình, vi-tính và/hoặc qua các tiếp-xúc ngày càng nhiều với đủ mọi người theo đủ mọi tôn-giáo rất khác nhau. Dĩ nhiên, chuyện này dễ thấy nhất là ở Châu Âu và các nơi khác trên thế-giới, thế nhưng chỉ tập-trung xem xét những gì xảy ra ở miền Bắc Hoa-Kỳ thôi cũng đã đủ. Và, câu hỏi đặt ra cho mọi người là: tại sao phải là người Công-giáo mới có được Cứu rỗi?

Thật sự mà nói: ta chỉ hiểu được Đạo Chúa khi nhìn về Đạo trong bối-cảnh của chủ-thuyết đa tôn-giáo mà thôi. Thuyết đa tôn-giáo là yếu tố dân-gian ở thời-đại ta đang sống bởi nó cung cấp cho ta thấy được các đạo-giáo –trong đó có cả Kitô-giáo- rất mới mẻ. Một khi ta nhận ra Kitô-giáo trong khuôn-khổ các đạo-giáo như một tổng-thể, thì khi ấy ta sẽ thấy Kitô-giáo -với bản-chất và mục-tiêu của mình - cách rõ ràng hơn và hiểu Đạo Chúa hơn. Vậy thì, câu hỏi: “Tại sao phải là người Công-giáo?” Thì, câu trả lời trước nhất rất ngắn gọn của tôi lại có khác nhiều điều mang tính xây dựng: thực-tại dân-gian của thuyết đa tôn-giáo, một cách-thức nhìn đạo-giáo từ khi có Thời đại Khai sáng; sự thông-hiểu về sự khác-biệt và giống nhau giữa các đạo, và: vai-trò của Đạo-giáo trong cuộc sống của ta với Chúa…” (x. Marcus J. Borg, Heart and Home Being Christian in an Age of Pluralism, The Heart of Christianity How We Can Be Passionate Believers Today, HarperOne 2003, tr.207-208)

Nói cho cùng, có sống đúng vai-trò hoặc thế-đừng của người con Chúa không, đó là vấn-đề. Và vấn đề sẽ mãi mãi đặt ra như bậc thánh-hiền từng nhắc nhở mọi người ở Kinh sách rằng:

“Hoa quả của Thần Khí là:

bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu,

từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.

Không có luật nào chống lại những điều như thế.

Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt

vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê.

Nếu ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước.

Ta đừng có tìm hư danh, đừng khiêu khích nhau, đừng ganh tỵ nhau.”

(Thư Galata 5: 22-24)

Hiểu thế rồi, nay ta hãy cùng nhau tiến bước với lời ca hôm nào mình từng nghe hát, như:

“Mây vẫn xanh! Trăng vẫn thanh!
Nhưng thấy đâu, khúc ca đẹp, nhạc êm thắm tươi
Ai xa vời, có hay bao nhiêu ngày gió bay?
Bao lá khô! Theo gió thu!
Rớt trên đôi mắt, đôi môi, khắp mong chờ.”

(Domino – bđd)

Vâng. Đúng thế. Mây vẫn xanh. Trăng vẫn thanh. Dù bạn dù tôi, ta có hát hoặc quyết-tâm thế nào đi nữa, trời/trăng vẫn như vậy. Suốt đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng từng hát những bài như trên,

Nhưng quyết-tâm lại rất khác. Làm sao biết.

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment

Tình mất rồi! oán hận đã mênh mông.

“Tình mất rồi! oán hận đã mênh mông.”

Chớ thờ ơ! Ta nổi giận vô cùng,
Nhiều ác mộng hằng len vào giấc ngủ.

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng Ga 2: 13-15

Gần đến lễ Vượt Qua của người Do-thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem. Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.” Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân.

Người Do-thái hỏi Đức Giêsu: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” Đức Giêsu đáp: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại.” Người Do-thái nói: “Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?” Nhưng Đền Thờ Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người. Vậy, khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, Họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đã nói.

Trong lúc Đức Giêsu ở Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều kẻ tin vào danh Người bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm. Nhưng chính Đức Giêsu không tin họ, vì Người biết họ hết thảy, và không cần ai làm chứng về con người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người.”

Tình đã mất, nên niềm oán hận đã mênh mông. Cũng dễ hiểu. Nhưng ở đây, nhà thơ lại nổi giận, cộng với ác mộng vô cùng, hằng len lỏi. Nhà Đạo hôm nay, cũng đã thấy Thầy Chí Ái, biết nổi giận. Tuy giận dữ, nhưng Ngài vẫn kiên nhẫn đợi chờ con dân, cố sửa sai.

Đọc Lời Chúa hôm nay, người người đều thấy Đức Chúa nổi giận không phải vì sinh hoạt buôn bán hoặc đổi chác, do người làm. Mà vì, người Do thái đã ngang nhiên dùng nhà Cha, chốn phụng thờ, để làm chuyện sai trái, không đúng phép.

“Đem tất cả những thứ này ra khỏi nơi đây, đừng biến Nhà Cha Tôi thành nơi buôn bán”. Có thể là, thời của Chúa, giới thẩm quyền ở Đền thờ từng làm ngơ, không ngó ngàng gì đến sinh hoạt sai trái, trong nhà Chúa. Cũng có thể, họ kiếm nhiều lợi lộc khi thương gia “quen lớn” đã mướn chỗ Đền Thờ, để cạnh tranh. Làm lợi. Điều này giải thích rõ, cơn giận của Đức Chúa.

Bởi thế, họ cả gan dám vấn nạn: “Ông lấy dấu gì chứng tỏ rằng Ông có quyền xử như thế?” Nhờ có thế, Đức Giêsu mới mặc khải việc Ngài làm: “Các ông cứ phá Đền Thờ này đi, nội ba ngày, Tôi sẽ xây dựng lại.” Và Lời Chúa kéo theo một thắc mắc: “Đền Thờ này phải mất 46 năm mới xong, thế mà nội trong ba ngày Ông xây lại được sao?” Vấn nạn thế, quả có đúng theo nghĩa đen, rất “từng chữ”. Bởi, vào lúc ấy, Đền Thờ vẫn chưa hoàn tất việc dựng xây.

Trên thực tế, Chúa nói về chốn thánh thiêng khác. Đó là Đền thánh nơi Chúa sống, tức: Thân Mình Ngài. Nhờ vào sự kiện này, dân con trong Đạo lại được nhắc nhở về những gì Hội thánh đang chuẩn bị mừng kính. Kính sự chết. Mừng sự sống lại của Đức Kitô, trong mùa Chay.

Mừng kính sự chết và sống lại, là trọng tâm của niềm tin, có nơi ta. Trong thư gửi giáo đoàn Cô-rin-tô, thánh Phaolô từng quả quyết: “cái chết của Đức Giêsu đối với người Do Thái là cớ vấp phạm, là sự điên rồ, là rào cản không thể vượt qua được” (1Cr 1: 23). Thật khó cho họ, khi phải chấp nhận Đấng Mêsia của họ phải chịu khổ đau và đi vào nỗi chết ô nhục trong bàn tay không phải của kẻ thù dân tộc mà thôi, mà cả dân Ngài nữa. Cũng thế, môn đồ Ngài cũng thấy khó lòng mà chấp nhận.

Với dân ngoại, đây là điều vô nghĩa. Với họ, chỉ có nghĩa, nếu đó là quyền lực. Là, sự trấn áp ngự trị. Là, ảnh hưởng trên mọi người. Với những người như thế, ý tưởng về phụng thờ một đấng nào đó bị liệt chung vào danh sách các tội phạm hình sự, như Đức Chúa, quả là điều không thể nào tưởng tượng được. Ngày nay có người, khi suy nghĩ về chuyện này, đều cho đó là việc phi lý, rồ dại.

Nhưng, với những người lâu nay được mời gọi, và đang đáp ứng với lời gọi mời ấy, dù là Do thái hay dân ngoại, nam hay nữ, nô lệ hoặc tự do, đó là quyền uy và sự khôn ngoan của Đức Chúa. Cái chết của Đức Giêsu, đối với người luôn khách quan nhận xét, đều ra như thất bại nhục nhã. Tin vào những chuyện như thế, được coi là người dốt nát, kém cỏi. Tuy nhiên, ai có cặp mắt đức tin, đều thấy đó là uy lực của tình yêu, trong nỗi chết.

Và, tình yêu lớn lao con người có thể thực hiện, chính là trao ban sự sống của mình cho người mình yêu. Đức Giêsu làm như thế, không phải để cho bạn bè Ngài thôi, mà cả những người chối bỏ Ngài. Những người đem lại cho Ngài cái chết, nữa. Chính vì thế, Ngài xin cùng Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ. Vì họ không biết việc mình làm”. (Lc 23: 34).

Bài đọc 2, thánh Phaolô nói rõ: “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì hơn sự khôn ngoan của loài người. Và, sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn loài người.” (1Cr 1: 25) Và hôm nay, sau hơn hai ngàn năm dài, sự khôn ngoan của Đức Giêsu; và thập giá Chúa, đã lướt thắng mọi sự. Điều này được lập lại nhiều lần bằng những hy sinh cho đến chết, của nhiều đáng thánh tử đạo. Những: Oscar Romeo, Martin Luther King, Maximilan Kolbe, Dietrich Bonhoeffer, vv… là những ví dụ cụ thể.

Sức mạnh của người phàm, cho đến nay vẫn chưa vượt qua, chưa đạp đổ những gì Đức Kitô đã khởi sự. Các phong trào vô thần đối nghịch Kitô giáo, tuy cố gắng triệt hạ Đạo Chúa, cuối cùng đều thất bại. Hiện nay, chế độ vô thần Cộng sản ở nhiều nước, là một ví dụ cụ thể khác.

Trên thực tế, ta vẫn tiếp tục chứng tỏ với mọi người, về khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa, qua hành vi mà người đời coi là rồ dại và yếu ớt, khi chấp nhận chết cho sự xấu, vẫn lướt thắng. Ta vẫn xác chứng điều đó, bằng chính sự sống có tình thương yêu vô điều kiện. Có hài lòng xót thương. Có từ bỏ tất cả. Từ bỏ, cả chính mình, như bài đọc 1 vẫn răn dạy, như từ bỏ:

-mọi hình thức của bạo lực bằng lời hoặc hành động, chống lại chính mình hoặc người khác, kể cả những lạm dụng cơn say/ghiền, kích thích tố độc hại, và ma tuý đủ loại;

-mọi hình thức của lạm dụng tình dục, với chính mình, hoặc với vợ hoặc chồng/bạn đường, người phối ngẫu hay người dưng khác lạ. Với, giới trẻ, kẻ vô vọng;

-mọi hình thức bất lương, thiếu công bằng hoặc tham nhũng;

-mọi hình thức sai trái, không đúng thực, nhằm triệt hạ tiếng tăm của người khác;

-mọi hình thức tham lam ham hố, cưỡng chiếm của cải/ bản thân người khác, đủ loại.

Tất cả điều nêu trên, đều là sự xấu, cần lướt thắng.

Đối với thế giới chuyên chú vào việc cần có nhiều hơn/cần hưởng thụ hơn, thì những điều kể trên chỉ là rồ dại và yếu đuối. Nhưng với ta, những người đeo đuổi sự rồ dại của thập giá đem về cuộc sống, thì điều cần quan tâm hơn cả, là: tôn thờ Thiên Chúa của Tình yêu. Chính vì thế, bài đọc 1 nhấn mạnh nhiều đến việc tuân giữ ngày Sabát. Quyết cột chặt tín hữu vào các chi tiết, rất từng chữ.

Với thế giới hôm nay, Chúa nhật đã trở thành “một ngày như mọi ngày”. Ngày làm ăn. Ngày mua sắm. Với người khác, đó là ngày nằm trên giường, đọc báo lá cải, mải mê mua sắm hoặc ngồi trước màn hình nhỏ ngắm nhìn đủ mọi thứ bạo lực mang hình thức “thể thao”. Là dân con Đức Chúa, thiết tưởng cũng nên nghĩ đến cung cách “rất Kitô”, hầu sử dụng ngày của Chúa, cho phải phép. Như, tổ chức nghi tiết phụng thờ cùng với cộng đoàn, có người anh người chị hiệp thông trong Đức Kitô. Có sinh hoạt giải lao, ăn uống rất thân thương. Rất nhè nhẹ, tình cộng đoàn của Nước Trời.

Nói tóm lại, dấn bước theo Chúa, Đấng chịu mọi khổ đau thập giá và đã sống lại, còn là việc sử dụng tài cán/năng lực của mình, góp phần dựng xây một xã hội có cuộc sống, giá trị. Đó là khôn ngoan. Là, bình an. Hạnh phúc. Tưởng, cũng nên suy tư về việc này, mùa Chay kiêng, rất thánh.

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá lược dịch

Posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Leave a comment