Việt Nam sẽ đu dây kiểu gì tại thượng đỉnh Mỹ – ASEAN trong tháng 5 tới đây?

Việt Nam sẽ đu dây kiểu gì tại thượng đỉnh Mỹ – ASEAN trong tháng 5 tới đây?

05:24 | Posted by BVN1

Jackhammer Nguyễn

16-7-2022

Ngày 16/4/2022, thư ký báo chí tòa Bạch Ốc thông báo rằng tổng thống Mỹ Biden sẽ có cuộc gặp thượng đỉnh với 10 vị lãnh đạo các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), vào hai ngày 12 và 13-5-2022.

Vậy là sự kiện quan trọng góp phần củng cố chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, cuối cùng được ấn định sau nhiều trục trặc (lần cuối được cho là sự phá bỉnh của Campuchia?!).

Đây là cơ hội thách thức chính sách đu dây của các quốc gia Đông Nam Á, trong đó nổi bật nhất là Việt Nam, trước tình hình quốc tế biến chuyển mạnh mẽ sau cuộc xâm lược của Nga ở Ukraine, và thái độ công khai của Trung Quốc ủng hộ Nga, công khai phản bội lại những câu đầu môi chót lưỡi của họ về chủ quyền quốc gia, về không can thiệp… (Thật ra, mọi người cũng chẳng lạ gì với những lời lẽ đầu môi chót lưỡi của Bắc Kinh lâu nay).

Nếu chúng ta công nhận chính sách đu dây của các quốc gia nhỏ có phần nào hợp lý trong cuộc xung đột giữa các siêu cường, thì cuộc chiến Ukraine làm lộ ra phần bên dưới tối tăm của sự lệ thuộc của Việt Nam vào nước Nga trong các lĩnh vực kinh tế và quốc phòng. Nga là quốc gia cùng chia sẻ mô hình chính trị với Việt Nam và Trung Quốc. Sự lệ thuộc mạnh mẽ đến mức dẫn đến thái độ phi logic của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế, chống lại đại đa số các thành viên của tổ chức Liên Hiệp quốc, để mà ủng hộ nước Nga nặc nô (pariah, từ được giới truyền thông và chính khách phương Tây sử dụng hiện nay). Những lá phiếu của Việt Nam đã phủ nhận cả những tuyên bố từ trước tới nay của họ về sự bình đẳng giữa các quốc gia, về việc không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác…

Trong một bài viết ngay sau lá phiếu thứ ba của Việt Nam chống lại việc trục xuất nặc nô Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc, tôi có nhận xét rằng, không khéo thì Hà Nội “già néo đứt dây” trong quan hệ với Mỹ. Khi nhận xét như vậy, tôi nói về những tính toán chiến thuật của Việt Nam, dựa trên giả định rằng Mỹ đang rất cần Việt Nam trong ván cờ toàn cầu của họ trong việc kiềm chế Bắc Kinh.

Cùng nhận xét đó với tôi, tác giả Trần Đông A đi xa hơn, cho rằng cái rủi ro già néo đứt dây đó nằm trong cả chiến lược lâu dài lẫn tầm nhìn tương lai cho dân tộc Việt Nam. Tác giả phân tích những vấn đề về nhân quyền và chế độ chính trị dựa trên luật pháp, dựa trên quyền bầu cử tự do của dân chúng… tất cả đều thiếu ở Việt Nam, mà những vấn đề đó lại được đưa ra trong báo cáo nhân quyền thường niên của Mỹ, đưa ra ngay sau việc bỏ phiếu gạt bỏ Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc.

Theo một phân tích mới đây của giáo sư chính trị Andrew J. Nathan, thuộc đại học Columbia, Hoa Kỳ, trên tờ báo rất có uy tín là Foreign Policy, thì ba điểm cốt yếu trong chính sách Mỹ chống Trung Quốc hiện nay là: Sự liên minh (với các quốc gia), tính sáng tạo (của xã hội Mỹ), và những giá trị dân chủ.

Tác giả cho rằng, mặc dù cùng một mục tiêu là kiềm chế, cạnh tranh với Trung Quốc, nhưng chính phủ Trump trước đây đã không làm được gì tới nơi tới chốn vì dựa trên tính cách con buôn đổi chác của ông Trump. Tính cách con buôn đổi chác này lại có vẻ hợp với thái độ đi dây õng ẹo của Hà Nội từ trước tới nay: Lấy vị trí địa chiến lược đắc địa, án ngữ biển Đông ra mà làm vật đổi chác.

Nay tình hình đã thay đổi sâu sắc. Nước Mỹ quay lại dòng chính của nó, Trung Quốc và nặc nô Nga làm cho các nền kinh tế phương Tây đoàn kết hơn lúc nào hết. Bắc Kinh đang đối diện với tương lai khó khăn đang chờ đón họ về kinh tế, không chỉ ở Mỹ mà cả sự nghi hoặc của châu Âu đối với họ. Bắc Kinh cũng cảm thấy vấn đề đe dọa Đài Loan trở nên khó khăn hơn, trong khi sự sáng tạo của nền kinh tế vẫn còn xa tít tắp (làm sao có được sự sáng tạo dưới một chế độ toàn trị?), chưa nói đến khả năng ảm đạm tái phát dịch Covid, vì vaccine Hoa lục kém hiệu quả.

Có một may mắn cho Hà Nội là các nhà hoạch định chính sách đối ngoại chính yếu của Mỹ hiện nay ở Đông Á là hai ông Jake Sullivan và Kurt Campbell, đều là những người thông hiểu và ít nhiều có cảm tình với Việt Nam, họ có thể có kiên nhẫn, nhưng còn có những nhóm khác trong hành pháp Mỹ hiện nay chủ trương cách tiếp cận mạnh mẽ hơn, có thể không kiên nhẫn.

Tuy nhiên, cũng như tôi, tác giả Trần Đông A cho rằng chưa tới mức Mỹ sẽ làm khó Việt Nam về thái độ thân Nga của Hà Nội, mà vẫn đang tìm cách chinh phục xã hội Việt Nam với các giá trị mềm “Made in USA”. Hơn nữa, thiết nghĩ Hà Nội vẫn chưa đủ quan trọng như Ấn Độ, để cho Washington thẳng thắn chỉ trích.

Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó, già néo đứt dây về chiến thuật ở tương lai gần, hay già néo đứt dây với chính dân tộc mình, như tác giả Trần Đông A chỉ ra, đều dẫn đến kết quả không hay cho dân tộc.

Thủ tướng Việt Nam, ông Phạm Minh Chính sẽ đến Washington vào ngày 12/5 này để … đu dây, nên quan tâm đến sự kiên nhẫn của người Mỹ.

J.N.

Nguồn: Tiếng Dân

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 2)

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 2)

Tác giả Lê Phương Lan,

 

Tôi yêu nhất bài “Dòng An Giang” với điệu valse dìu dặt như sóng nước.

Thủ đô của miền Nam tự do thuở ấy đã được ngợi ca rằng “Sài Gòn đẹp lắm Sài gòn ơi! Sài Gòn ơi!”; bên cạnh đó còn có bài “Đường Về Sài Thành”. Và trong bài “Ghé Bến Sài Gòn” nhạc sĩ Văn Phụng đã ân cần mời gọi:

“Cùng nhau đi tới Sài Gòn, thủ đô yêu dấu nước Nam tự do…

Người ơi! Sài Gòn chốn đây là ‘ngọc viễn đông’ vốn đã lừng danh!”

Và giòng nhạc trữ tình thời bấy giờ đã ghi nhận các tài năng lớn với những cung bậc du dương trong lời nhạc thanh tao như Vũ Thành, Dương Thiệu Tước, Cung Tiến, Hoàng Trọng, Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Phạm Đình Chương. Vườn hoa âm nhạc càng nở rộ trong mảnh đất trù phú để rồi tiếp theo sau này với vô số tên tuổi như Lam Phương, Anh Bằng, Lê Dinh, Trúc Phương, Hoàng Nguyên, Phạm Trọng Cầu, Lê Trọng Nguyễn, Thu Hồ, Hồ Đình Phương, Lan Đài, Hoàng thi Thơ, Tuấn Khanh, Châu Kỳ, Hoài Linh, Minh Kỳ, Mạnh Phát, Lê Dinh, Nhật Bằng, Nhật Ngân, Thanh Sơn, Song Ngọc, Y Vân … làm nên một di sản “nhạc vàng” bất tử mặc cho “bên thắng cuộc” với lòng hẹp hòi, thiển cận đã và đang ra sức cấm cản, chôn vùi.

Về nhạc sĩ Pham Duy, ông đã may mắn chạy vào được miền Nam để xây dựng cho các con ông cũng được vinh hoa trong lãnh vực ca hát. Bản thân ông được tự do sáng tác những tác phẩm lớn được người dân miền Nam yêu thích. Ông đã tránh được số phận nghiệt ngã của các thi sĩ như Hoàng Cầm, Hữu Loan, Phùng Quán, Trần Dần đã uất hận:

“Bút tôi ai cướp mất rồi!

Tôi sẽ dùng dao khắc văn trên đá”;

số phận của nhạc sĩ tài hoa Văn Cao suốt ngày thơ thẩn ngoài đường! Nhưng nếu như ánh đèn đã lôi cuốn những con thiêu thân thế nào thì danh lợi là một thử thách dường như không thể cưỡng lại được đã đốt cháy tiết tháo nhiều người nghệ sĩ đã một thời được ái mộ. May ra chỉ còn lại hai danh ca Thanh Thúy và Hoàng Oanh.

Song song với giai đoạn nở rộ của nền tân nhạc phong phú, đó cũng là thời hoàng kim của nền điện ảnh, kịch nghệ, sân khấu cải lương, một đặc trưng của Sài Gòn hoa lệ với các đoàn hát lớn như Kim Chung, Kim Chưởng, Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Hương Mùa Thu vang bóng một thời. Tự do trong sáng tác đã khiến người nghệ sĩ thoải mái diễn đạt trọn vẹn cảm xúc của mình qua những tác phẩm qua bao năm tháng vẫn còn lưu trữ trong ký ức của người thưởng thức. Thanh bình, no ấm khiến người dân yên lòng trong sinh kế nên đã thoải mái tham dự các sinh hoạt văn nghệ, giải trí.

Trong lãnh vực nghệ thuật tôi yêu hình ảnh thanh tú của danh cầm Phùng Phúc Trân với mái tóc dài tha thướt, bàn tay dìu dặt, lả lướt trên cây violon mảnh mai trên vai đã làm say mê khán thính giả. Ngoài ra, tôi còn ngưỡng mộ các bức tranh đôi khi chỉ tưởng như những nét vẽ phác họa thể hiện bút pháp rất độc đáo của nữ họa sĩ Bé Ký cũng được giới thưởng ngoạn rất yêu thích. Trong sinh hoạt thể thao, các danh thủ bóng bàn như Lê Văn Tiết, Nguyễn Văn Inh, Mai Văn Hòa đã làm rạng danh Việt Nam Cộng Hòa tại Nhật.

Nhưng vàng son nhất là nền túc cầu. Đội banh Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng Do thái 2-0 trong khuôn khổ vòng loại Olympic 1964. Cũng trong vòng loại thế Vận Hội 1968, đội banh VNCH đã hạ Phillipines 10-0. Vẻ vang nhất là thành tích vô địch giải Merdeka 1966 tại Mã Lai với 12 nước Á châu tham dự đem vinh dự cho đội banh VNCH với các danh thủ: Tam Lang, Nguyễn Văn Rạng, Đỗ Thới Vinh, Lâm Hồng Châu …

Thế hệ cha anh chúng tôi với nhiệt tâm lo cho thế hệ đi sau đã xây dựng tại miền Nam một nền giáo dục tiến bộ, rất nhân bản. Vào lớp học, ngay trên tấm bảng đen trước mặt các học sinh chúng tôi là hàng chữ: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Các sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư đã dạy chúng tôi những bài luân lý căn bản làm nền tảng đạo đức của con người với “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”.

Sách Công Dân Giáo Dục dạy chúng tôi sống với lương tâm và nghĩa vụ xây dựng đất nước của một người công dân. Những lời ca dao thể hiện tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương mộc mạc, nhưng chân thành, tha thiết. Các câu tục ngữ ngắn gọn, những câu châm ngôn, các sách học làm người đều dạy chúng tôi sống lương thiện “Đói cho sạch, rách cho thơm”.

Những câu chuyện ngụ ngôn của Lafontaine được cụ Nguyễn Văn Vĩnh chuyển dịch lời Việt rất dễ nhớ, dễ thuộc là những bài học xử thế rất thiết thực. Bên cạnh đó là cả một dòng văn học tuổi thơ trong sáng của các tờ báo như tờ Tuổi Hoa với sự cộng tác của nhà văn Quyên Di, thày giáo Hoàng Đăng Cấp, Họa sĩ Vivi. Tạ ơn các thày cô giáo đáng kính trọng. Cám ơn nền giáo dục đã giúp chúng tôi không đánh mất nhân cách khi bị chính quyền cộng sản sau khi chiếm miền Nam quyết dồn chúng tôi vào “tử lộ”. Chính nhờ nền giáo dục này trong đau thương nét sáng ngời của viên ngọc tình người càng tỏa sáng.

Sau ngày mất nước, gia đình chúng tôi sống trong sự giúp đỡ, che chở của bà con hàng xóm con hẻm 54 đường Thánh Mẫu, Chí Hòa. Cũng thế, trong lớp 9 tôi làm giáo viên chủ nhiệm tại trung học Đắc Lộ, các em nam sinh (Hạnh, Bình, Sơn) đã tự động đến giúp đóng lại trần nhà và mái tôn đã bị hư hại. Em Hoa sau mỗi buổi học phải đẩy xe xê ri đi bán rong đã đem đến cho tôi chén cơm với nửa trái trứng vịt kho mặn. Hai chị em Kim Anh, Kim Nhật và Nhung đã đến giúp tôi cán bột mì làm bánh quai vạc để đi tiếp tế.

Nhưng như một định mệnh! Thời thái bình thịnh trị của miền Nam đã không còn khi thành phố Sài gòn nhiễu loạn với các cuộc xuống đường đã bị Việt cộng trà trộn, kích động; khi người Mỹ đã đạo diễn cho các tướng lãnh phản bội lật đổ nền Đệ I Cộng Hòa! Và nền Đệ II Cộng Hòa ra đời sau các cuộc đảo chánh, chỉnh lý! Nhiều khuôn mặt chính khách, tướng tá thay phiên xuất hiện trên sân khấu chính trị!

Hết Nguyễn Khánh “râu dê” lại đến Nguyễn Cao Kỳ “râu kẽm”. Miền Nam trong sáng giờ đã bị khuấy động để trở thành vũng nước đục cho các tay gián điệp cộng sản nằm vùng thả câu! Cũng may là vẫn còn các tướng sạch “Nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng” và biết bao chiến sĩ VNCH trong các quân binh chủng, các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia đã chiến đấu can trường trên mọi mặt trận, chống cự cho đến ngày đồng minh đã thực sự rời bỏ chúng ta!

Sau cái chết của hai anh em tổng thống Diệm, từ 1963 trở về sau chiến tranh đã bước vào thành phố. Máu đã đổ do đặc công Việt cộng đặt chất nổ tại nhà hàng Mỹ Cảnh, khách sạn Caravel, tòa đại sứ Mỹ; do các đạn pháo kích bừa bãi từ “dàn phóng” đôi lúc chỉ là các thanh tre gác vào nhau từ vùng ven đô gây bao cảnh tang tóc cho những người dân vô tội, khiến nhiều gia đình lo sợ phải xây hầm trú ẩn bằng bao cát. Việt Cộng còn ra tay ám sát nhà báo Từ Chung và giáo sư Nguyễn Văn Bông! Trong giai đoạn nhiễu nhương ấy bố tôi quyết định về hưu sớm để bước ra khỏi những tranh dành chức tước, quyền lực. Ông dùng tâm trí để làm việc với cơ quan JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office) một cơ quan thuộc nghành thông tin của chính phủ Mỹ tại Sài gòn.

Khi đó gia đình tôi từ cư xá Sĩ Quan Chí Hòa đã dọn đến một căn nhà mái tôn nhỏ ở khu rừng cao su cũ đường Nguyễn Văn Thoại. Anh em chúng tôi có một căn gác chật hẹp mà chỉ đến buổi chiều mới leo lên chống cánh cửa sổ lên cho thoáng mát để có thể ngồi học bài và đi ngủ được. Từ đấy tôi đã biết yêu những cơn mưa về đêm vừa xóa tan cái nóng bức, vừa dạo nhạc nền đi vào giấc ngủ.

Khi tôi còn theo học tại trường trung học Đắc Lộ ở ngã tư Bảy Hiền thì buổi sáng thường là đi bộ mất khoảng nửa tiếng để đến trường. Khi ra về leo lên các xe Lam ba bánh. Nhưng sau đó tôi cũng vẫn phải lội bộ khá xa từ ngã ba Ông Tạ để về đến nhà. Tôi còn cách khác để về là vẫy loại xe đò nhỏ mang tên Cửu Hiệp chạy tuyến đường Hóc Môn- Chợ Lớn qua đường Nguyễn Văn Thoại dẫn vào con hẻm gần nhà tôi hơn. Một hôm xe chật ních bạn hàng với quang gánh treo đầy hai bên cửa xe, thúng mủng trái cây chất đầy trên mui. Tôi “hiên ngang” một tay bám chặt song sắt ở cửa xe, tay kia nắm cặp táp và nón lá, tà áo dài trắng tung bay phất phới! Về nhà kể lại bị mẹ mắng cho một trận và bị cấm không cho tái diễn màn “Tarzan đu dây” ấy nữa!

Hai năm cuối của bậc trung học thì tôi đã có chiếc xe đạp Peugoet nhỏ xinh để đi học tại trung học Nguyễn Bá Tòng. Cho đến khi lên đại học thì tôi đã có được chiếc Honda PC mảnh mai để di chuyển. Hình ảnh các nữ sinh yêu kiều và người phụ nữ tại Sài gòn và trên khắp các thành phố của miền Nam tự do đã làm chất liệu cho biết bao thi văn, ca nhạc tiêu biểu như

“Áo Lụa Hà Đông,

Phượng Hồng,

Ngày Xưa Hoàng Thị,

Giáng Ngọc,

Cô Nữ Sinh Đồng Khánh,

Tà Áo Tím,

Tiếng Hát Học Trò,

Tà Áo Trinh Nguyên,

Tà áo Đêm Nô En,

Trưng Vương

Khung Trời Mùa Thu…”

Tuy đời sống gia đình có chật vật khó khăn nhưng vẫn là chuỗi ngày vui vẻ, hạnh phúc. Sau bữa cơm chiều, cả nhà quây quần quanh chiếc TV trắng đen 17inches mà bố tôi đã nhờ người bạn Mỹ mua ở trong PX để nghe nữ xướng ngôn viên thanh lịch Mai Liên đọc tin tức, thưởng thức các chương trình tân nhạc, cải lương, thoại kịch.

Mẹ tôi lại thích giọng nói rất rõ ràng, đanh thép của cô Hồng Quế, xướng ngôn viên của chương trình Xây dựng Nông Thôn. Tối đến mở radio nghe Dạ Lan “thỏ thẻ” với các anh chiến sĩ VNCH.

Khi chiến tranh leo thang và người Mỹ quân nhân cũng như dân sự xuất hiện đông hơn thì bộ mặt thành phố đã có nhiều thay đổi. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa với chủ trương bảo vệ thuần phong mỹ tục, ngăn chặn các tệ nạn xã hội “tứ đổ tường” (cờ bạc, rượu chè, hút sách, trai gái), tổng thống Ngô Đình Diệm trước tiên đã dẹp sòng bạc Đại Thế Giới tại Chợ Lớn cũng như giới hạn việc mở các vũ trường.

Tuy nhiên, sau khi ông Diệm mất thì cường độ chiến tranh gia tăng trên các mặt trận đã tỷ lệ thuận với dòng người đổ về thủ đô sinh sống và với những sinh hoạt về đêm. Dù lệnh giới nghiêm đã được ban hành, những phòng trà ca nhạc, hộp đêm, vũ trường đã thi nhau xuất hiện. Đó là thời kỳ huy hoàng nhất của nền tân nhạc Việt Nam với sự nở rộ của các ban nhạc trẻ và các ca sĩ trên truyền thanh, truyền hình, dĩa nhạc, phòng trà. Tôi yêu giọng ca cao vút, trong trẻo của Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao; giọng “mũi” mang chút ngậm ngùi của Lệ Thanh; giọng ca liêu trai của Thanh Thúy; giọng ca mềm mại, luyến láy nhẹ như hơi thở của Hà Thanh; giọng tròn trịa trong từng nốt nhạc cũng như lời ca của Hoàng Oanh; giọng cao, ấm, vang vọng của Lệ Thu; và giọng trầm ấm, sang trọng của Duy Trác.

Thời gian đó cũng là giai đoạn ghi dấu ấn đậm nét nhất trong cuộc đời tôi với Sài Gòn. Trong độ tuổi mơ mộng nhất tâm hồn tôi đã ngập tràn những cung bậc và ca từ rất mới, rất diễm lệ, đầy cảm xúc rung động của Phạm Mạnh Cương, Nguyễn Ánh 9, Vũ Đức Nghiêm, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Trường Sa, Trịnh Công Sơn (với người nhạc sĩ này hầu hết nhạc của ông tôi rất yêu thích, nhưng có bất công hay không khi những người trai đất nước đang hy sinh trong lửa đạn để cho ông được yên thân viết lên những bài hát phản chiến tiếp tay làm suy sụp chế độ của miền Nam tự do?)

Trong các loại nhạc thì những bài ca về người lính VNCH mới thực sự là loại nhạc thời trang thời bấy giờ. Tôi cũng đâu tránh khỏi những ảnh hưởng của những bài hát quá lãng mạng ấy khi đường phố Sài Gòn dập dìu những tà áo tung bay bên cạnh các bộ quân phục oai hùng! Và thế là trong tập nhạc của tôi đầy ắp những bài hát của các tác giả Trúc Phương, Anh Thy, Nguyễn Văn Đông. Nhưng nhiều nhất và gây ảnh hưởng sâu đậm nhất chính là nhạc của Trần Thiện Thanh. Một cựu quân nhân sống tại Hoa Kỳ đã viết rằng: “Dân nhà binh chúng ta phải biết cám ơn Nhật Trường vì nhờ ông mà chúng ta mới lấy được vợ!”

Thật vậy! Qua thi văn, ca nhạc, đời lính đầy gian khổ, hiểm nguy, bất trắc nên càng dễ thương cảm, mến phục! Tình yêu với lính vì mong manh, ly biệt nên lại càng lãng mạn! Người lính với nét ngang tàng, “phong sương” trong bộ áo trận đã khiến người đẹp trai thì xem ra đẹp trai hơn, người trung bình hay xấu trai cũng trở nên “dễ coi” hơn!

Trong khung trời hoa mộng đó “người ấy” đến với tôi trong những ngày lửa khói Tết Mậu Thân. Trông chàng cũng khá “phong sương” với nước da ngăm đen trong bộ đồ rằn ri Cảnh Sát Dã Chiến. Qua nét ngang bướng, tôi tìm thấy nơi anh lòng cương trực và chân tình! Tôi bị chú ý vì cách làm quen lạ đời! Những ngày mới biết nhau chàng rủ tôi đi xem người chết được đưa về nhà xác nghĩa địa Chí Hòa! Điểm hẹn đầu tiên là “kinh nước đen” của trại chăn nuôi gần ngã tư Bảy Hiền! Sau kỳ nghỉ phép kéo dài lâu hơn do chiến sự Tết Mậu Thân chàng phải trở lại trung tâm huấn luyện CSDC Đà Lạt. Thế là tính văn chương thi phú trong tôi được dịp trổ tài qua những tờ thư peulure qua lại. Rồi tình yêu đã đi nhẹ vào đời!

Một năm sau chàng được đổi trở về Sài Gòn. Lúc đầu chiếc xe PC của tôi được chàng dùng để đi làm, để đưa đón tôi đi học và đi chơi. Sau đó chiếc Lambretta đỏ trắng được thay thế cho đến khi chàng đã có xe Jeep riêng để đi làm. Tôi yêu thích cảm giác nồng nàn, ấm áp khi ngồi vững vàng trên yên xe Lambretta. Một tay cầm tà áo dài, tay kia là vòng ôm rất êm ái!

Chúng tôi cũng có những con đường kỷ niệm: đường Cường Để chạy ngang qua Đại Học Văn Khoa của tôi cuối đường là tu viện cổ kính, thanh tịnh của các nữ tu dòng kín mà tôi thường ghé vào để cầu nguyện. Nhưng “con đường tình ta đi” được tôi chọn là đường Tú Xương. Con đường ngắn thôi nhưng rất yên tĩnh, sạch đẹp với hai hàng cây dài bóng mát. Trong những buổi hẹn hò hai đứa thường chở nhau vòng vòng quanh thành phố. Thỉnh thoảng ghé vào thưởng thức những món ăn hợp túi tiền lúc bấy giờ: nghêu, ốc hấp ở vỉa hè Nguyễn Tri Phương, xe bò viên Cao Thắng và vài lần tại quán bò bẩy món Ánh Hồng đường Nguyễn Minh Chiếu.

Chúng tôi chọn ngày đầu năm 1971 để làm đám cưới nên ngoài bạn bè, họ hàng hai bên nhà thờ còn chật ních giáo dân tham dự thánh lễ đầu năm trong tiếng chuông rộn rã của nhà thờ “Ba Chuông” ngã tư Huỳnh Quang Tiên, Trương Minh Ký. Chúng tôi đã cùng “dắt dìu về căn nhà mới” tại đường Võ Tánh, gần phi trường Tân sơn Nhất.” Căn nhà màu tím” do hai đứa ngẫu nhiên pha màu và sơn “phết”. Chiến cuộc ngày càng tăng không cho chúng tôi có những giây phút hạnh phúc trọn vẹn. Anh thường xuyên vắng nhà do các cuộc hành quân ven đô và những cuộc biểu tình trong thành phố.

30 tháng 4, 1975!

Sài gòn thất thủ! Mẹ tôi bị mảnh đạn pháo kích khi Việt cộng bắn vào phi trường Tân Sơn Nhất làm mất hẳn chân phải! Bố tôi, chồng tôi, anh tôi lần lượt đi tù. Các cột trụ chính trong gia đình đã bị đốn ngã! Chị em tôi ngơ ngác, thất thần như hàng triệu người dân Sài Gòn lúc bấy giờ. Chồng tôi bị bắt trước khi có lệnh tập trung cải tạo. Tôi đạp xe đi tìm tin tức chồng trong thành phố để mưa lệ trong lòng tuôn theo lời thơ của Trần Dần:

“Tôi đi không thấy phố, không thấy nhà!

Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ!”.

Không lâu sau tôi chỉ được nhìn thấy anh qua làn nước mắt sau hàng rào kẽm gai tại chi cuộc cảnh sát quận 10. Rồi ba năm sau mới được tin anh bị giam tại khám Chí Hòa. Nhưng từ đó trở về sau những lần thăm gặp trong bảy năm ở Chí Hòa cộng với sáu năm tại trại kiên giam trừng giới A20 Xuân Phước, những hiểm nguy, cực nhọc cũng như nỗi uất hận không được thăm gặp tôi phải nuốt nước mắt vào trong để chỉ khóc một mình trên đường về, hay trong những đêm dài đơn lẻ sau một ngày chống chọi với cuộc sống khắc nghiệt!

“Thần giao cách cảm” đã làm tôi thấm nỗi xót xa của thân phận người trai trẻ mà những đọa đày thân xác cũng đau đớn như nỗi bất lực trước cảnh khổ của những người thân yêu. Nỗi đau đã được thi sĩ Yên Ba diễn tả thật não lòng:

Dìu nhau vượt suối ưu phiền.

Anh non tay chống cho thuyền em chao.

Thương thì thôi! Xót xa nhau!

Cho nhau trọn kiếp, kiếp sau anh đền!”

Vì thế, qua những lá thư nồng nàn gửi cho chồng mà chắc chắn đã bị đọc trước, tôi muốn chứng tỏ cho họ hiểu rằng không gì có thể tiêu diệt nổi tình cảm thiêng liêng của con người!

30 tháng 4, 1975!

Ngày đại họa của dân tộc Việt Nam! Dân tộc chúng ta thật bất hạnh đã không có được cái bắt tay như hai tướng Grant và tướng Lee của dân tộc Hoa Kỳ sau cuộc chiến tranh Nam Bắc! Với người cộng sản Việt Nam thì những ai không chấp nhận hay không còn con tim và khối óc để tin theo chủ nghĩa cộng sản phi lý, phi nhân thì đều bị xem là “những thế lực thù địch”! Chủ nghĩa cộng sản vô thần là phi lý vì việc xây dựng con người “đạo đức xã hội chủ nghĩa”chỉ là lường gạt, hoang tưởng.

Thay vào đó nó chỉ tạo nên một tầng lớp thống trị kết thành một đảng cướp gian manh ăn chơi xa xỉ với những của nổi trong nước; của chìm đã được con cháu, người thân tín đem ra “thả neo” tại ngoại quốc. Để khi quốc biến thì nỗi thống khổ để lại cho người dân lành.

Chủ nghĩa này phi nhân vì nó phản bội lại truyền thống đạo đức của dân tộc. Người Việt chúng ta luôn tin tưởng vào thần thánh, luôn tin rằng sống sao có đức có nhân vì “hoàng thiên hữu nhãn”. Ngay cả các bậc những anh hùng liệt nữ cũng được tôn thờ:

“Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh.

Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần”.

Với chủ thuyết vô thần con người không còn e ngại làm những chuyện táng tận lương tâm, dễ sống đến tận cùng của sự sa đọa! Có đau lòng không khi thành tích của Việt Nam bây giờ là nước đứng đầu về mức tiêu thụ bia rượu và tỷ lệ thanh nữ, phụ nữ phá thai tại Đông Nam Á.

“Hòn ngọc Viễn Đông” ngày nào giờ đây là khoảng không gian đặc quánh bụi bậm & khí thải. Chỉ một cơn mưa nhỏ đã trở thành “hồ chứa mưa” hôi hám! Lương tâm đâu rồi khi đang xẩy ra cuộc “tàn sát tập thể” do ngộ độc thực phẩm?!

Trong bài “Rác Của Một Thời” tác giả đã cho rằng: “Sau 46 năm, chứng kiến sự bất toàn và bất nhất trong việc lãnh đạo đất nước, người dân Việt Nam nói chung đã kiên nhẫn chấp nhận những sai lầm của họ lúc ban đầu. Nhưng thật không có gì tàn nhẫn hơn khi lợi dụng sự khổ đau của con người Việt Nam đang vọng về một tương lai tốt đẹp hơn, rồi mị dân, dẫn dắt họ đi về những lý lẽ bao biện, những thói sống lạc lối với nền văn minh và luật pháp.”

Sự mất mát của nền văn hóa Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn khai phá mở mang mảnh đất trù phú từ Thuận Hóa đến tận các đồng bằng sông Cửu Long. Một mạch sống văn hóa phong phú của miền Nam đã bị đứt đoạn, tàn phá. Sự tàn phá thành phố Sài gòn không phải chỉ trong phạm vi đất đai và môi trường sống mà xót xa nhất là trong lãnh vực văn hóa. Việt cộng khi vào đến Sài Gòn đã lấy khuôn mẫu từ đám Hồng Vệ Binh của họ Mao dùng đoàn thanh niên cộng sản trong chiến dịch thanh toán “văn hóa đồi trụy” đã đốt phá tiêu hủy trong hỗn loạn cả một di sản văn hóa của dân tộc!

Viết về Sài Gòn là một đề tài mênh mang trong đó mỗi người viết sẽ tìm thấy một góc quen thuộc của mình trong đó. Khi trân trọng quá khứ tôi muốn “ôn cố tri tân” để hướng về tương lai. Khi những điều thiện hảo của Sài Gòn xưa được nói lên, hy vọng những tàn phá do Việt cộng gây ra sẽ được đối chiếu.

Còn bao lâu nữa mới lấy lại được giang sơn gấm vóc? Còn bao lâu nữa để Việt Nam thoát khỏi nguy cơ đang trở thành một Tây Tạng thứ hai?

Dân chủ, dân quyền đã được nhiều quốc gia lựa chọn: dân chủ đã vực dậy nước Mỹ sau cuộc nội chiến; nước Do Thái sau cuộc tàn sát diệt chủng của Đức Quốc xã; nước Nhật tơi tả sau hai quả bom nguyên tử; nước Đức sau khi thống nhất Đông và Tây Đức. Nhìn chung quanh dân chủ đã đem lại phú cường cho Nam Hàn và Singapore. Gần đây nhất là Myamar.

Còn nhớ chăng câu lời nói của cụ Trần Văn Hương khi trao quyền tổng thống lại cho Dương Văn Minh: “Mình phải tự cứu mình trước khi bạn cứu mình, trước khi trời cứu mình!”

Tác giả Lê Phương Lan,

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 1)

Van Pham

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 1)

Tác giả Lê Phương Lan,

Chỉ còn 10 ngày nữa là đến thời điểm 46 năm cộng quân tấn chiếm miền Nam với mỹ từ “giải phóng”. Cái giải phóng đó đã không hề mang lại điều gì tốt đẹp hơn. Nhưng lại mang những điều tồi tệ, bỉ ổi cho đất nước, khiến mọi người hồi tưởng lại qúa khứ. Để mong ước một thời hoa mộng đầy ắp tình người thủa nào trở lại.

Thương tặng ace tù nhân lương tâm cùng thân nhân để thấy rằng người dân miền Nam VN cũng đã trải qua đọa đày từ chế độ để hàng triệu người đã không tiếc mạng sống mà từ bỏ chế độ bất nhân ngay sau cái ngày oan nghiệt 30-4…

***

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ

Chúng ta đang bước vào tháng 4 của năm 2021. Nghĩa là đã 47 năm chúng ta mất miền nam tự do và thành phố Sài Gòn. Mới đây tại Houston, Texas đã có nỗ lực của đoàn làm phim đài BBC dựng lại cảnh ra đi nát lòng của người Sài gòn vào những ngày thành phố trong cơn hấp hối. Riêng tôi với trí nhớ nhỏ nhoi của mình cố gắng viết lại những kỷ niệm thật đẹp đáng ghi nhớ nhất trong quãng đời sống với thành phố thân yêu của mình.

Tôi nói giọng Bắc, giọng Hà Nội trước 1954 của bố mẹ tôi. Vì thế nên năm đầu tiên đi học tại trường Tiểu Học “Hòa Bình” bên cạnh Vương Cung Thánh Đường, khi bị đám bạn chọc quê “Bắc kỳ ăn cá rô cây” tôi ức lắm, về nhà mách mẹ. Bà cho biết rằng tôi sinh ra tại Khánh Hội, Sài Gòn vì bố tôi trong quân đội nên sau đó bố mẹ tôi trở ra Hà Nội, đến 1954 cùng đồng bào miền Bắc di cư vào lại miền Nam. Thế là tôi yên tâm trả lời với lũ bạn!

Căn nhà nơi tôi sinh ra còn được ghi lại trong tấm hình mẹ tôi còn rất trẻ mặc áo dài lụa đang bế anh tôi, tóc bà kẹp cao hai bên và được búi lỏng thả nhẹ ngang lưng. Hai mẹ con đứng ngoài hiên nhà. Trên mặt đường có một chiếc xe thổ mộ đang đậu với chú xà ích cầm cây roi ngồi ở phía trước.

Tôi yêu Sài gòn, nơi tôi sinh ra. Nơi đã cho tôi sống thời thơ ấu của “tuổi thần tiên” như lời một bài hát của nhạc sĩ Phạm Duy. Tuổi thơ ấu đó chúng tôi được sống hồn nhiên trong tình thương chan hòa của bố mẹ; trong căn nhà khang trang ngay ngã tư đường Gia Long – Tự Do bên trong bộ chỉ huy Hiến Binh Quốc Gia.

Tại căn nhà này anh em chúng tôi có thể đứng trong lan can lầu để xem các cuộc diễn hành nhân ngày lễ Hai Bà Trưng và cũng là ngày Quốc Tế Phụ Nữ của nữ sinh các trường trung học Trưng Vương, Gia Long, Lê văn Duyệt. Hình ảnh hai nữ sinh mặc áo hoàng bào lộng lẫy của hai nữ vương Trưng Trắc, Trưng Nhị uy nghi ngồi trên mình voi vẫn còn đậm nét trong tâm trí tôi. Đoàn diễn hành khởi đầu từ dinh Gia Long, rẽ vào đường Tự Do rồi hướng thẳng về Tòa Đô Chánh. Cùng với kiệu voi, xe hoa và diễn hành.

Trong ngày lễ Hai Bà Trưng – học sinh được nghỉ học – còn có tổ chức các cuộc thi nữ công gia chánh và thi trẻ em khỏe đẹp. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn thuộc lòng bài hát thúc dục người phụ nữ Việt gánh vác công việc xã hội:

“Lời sông núi bừng vang bốn phương trời,

dục chúng ta đường phụng sự quyết tiến.

Triệu Trưng xưa đẹp gương sáng muôn đời.

Giòng máu thiêng còn đượm nồng vạn trái tim …”

Tuổi thơ của chúng tôi đã được nuôi dưỡng bởi không khí trong lành, hiền hòa của Sài Gòn xưa khi đường phố vẫn còn thưa thớt xe cộ. Khi tại các ngã tư, các bùng binh còn những anh cảnh sát hiền khô trong bộ sắc phục trắng cầm những cây côn ngắn hay giơ tay với những thao tác nhịp nhàng để chỉ đường cho xe và người đi bộ.

Sài Gòn xưa còn có những phương tiện giao thông đã hoàn toàn “cuốn theo chiều gió”. Đó là các chiếc taxi con cóc sơn màu xanh dương trắng, các xe xích lô máy di chuyển với tiếng nổ phành phạch đinh tai, những cỗ xe thổ mộ có chú ngựa hai bên mắt đã bị che kín, vừa kéo cỗ xe chạy lóc cóc vừa “vô tư” xả “chất thải” ra mặt đường và còn chiếc xe Lambretta ba bánh phun khói ào ạt nữa!

Tôi yêu tiếng chuông trầm ấm, rộn ràng của nhà thờ Đức Bà. Những buổi tan lễ Chủ Nhật gia đình tôi cùng giòng người ra về trên con đường Tự Do với hàng cây dầu cao vút hai bên đường. Trong bộ nhớ của tôi còn mãi tấm ảnh kỷ niệm những ngày hạnh phúc xa xưa: bố mẹ tôi tươi trẻ, thanh lịch, anh tôi gọn gàng trong bộ short trắng, hai chị em tôi “đồng phục” trong bộ áo đầm lính thủy trên vỉa hè sạch đẹp của đường Tự Do phía sau là nhà thờ Đức Bà.

Sau buổi lễ, chúng tôi thường được cho ăn sáng với những ổ bánh mì thơm phức tại kiosque Bưu Điện hay được dắt vào con hẻm Casino đường Pasteur để thưởng thức những tô phở ngạt ngào hương vị. Đôi khi còn được ghé vào quán Givral với mái vòm cong kiều diễm, một trong những kiến trúc đẹp người Pháp đã xây dựng tại thủ đô của miền Nam tự do, để mua cho chúng tôi mấy cái crossant “sừng trâu” hay bánh patechaud đặc biệt hương vị Pháp.

Thời đó Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cho đổi tên các đường phố Sài Gòn chỉ giữ lại tên các danh nhân như Pasteur, Calmet, Alexandre Rhode nhưng trong một thời gian khá lâu người Sài Gòn vẫn quen với các kiểu nói “dạo phố Bonard, bát phố Catinat”. Thương xá Charner – thương xá Nguyễn Huệ – là cửa hàng sang trọng nhất thời bấy giờ.

Con đường Nguyễn Huệ những chiều lộng gió tỏa hương thơm từ những quán bán hoa. Thật đúng chất thơ trong “Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội”

“khi mưa xuống lạnh mình ướt,

chung nón dìu bước thơm phố phường”

của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Nỗi nhớ thương về thành phố Hà Nội – một thời nghe bố tôi kể lại là đã được mệnh danh là “Tiểu Paris”- của bố mẹ tôi dường như cũng đã hòa đồng vào vẻ đẹp của Sài gòn xưa.

Tôi được thừa hưởng lòng mộ đạo của mẹ và tình yêu thơ văn, ca nhạc của bố tôi. “Thuở ban đầu” của bố mẹ tôi tại ga Hàng Cỏ (Hà Nội) đã được ông ghi lại:

“Anh nhớ mãi buổi chiều êm ả ấy.

Anh và em cùng đứng đợi tàu qua.

Thoạt mới trông lòng đã kết muôn hoa.

Máu đang chảy trong tim như ngừng lại …”

Từ bé tôi đã được nghe những giọng ca “tiền bối” qua những đĩa hát 30 hay 45 tours như: Anh Ngọc, Minh Trang, Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà và ban hợp ca Thăng Long với Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc với dòng nhạc tiền chiến. Âm nhạc miền nam đã theo tôi vào đời và ở lại với tôi mãi mãi. Và cứ thế tuổi trẻ của anh em chúng tôi lớn lên trong môi trường văn học nghệ thuật đầy nhân bản, khai phóng.

Bố tôi mua về rất nhiều sách vở, tạp chí. Đến nay tôi còn nhớ nội dung một vài bài văn trong tạp chí Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh. Trong vô số những tạp chí tôi còn nhớ đã được đọc là các tờ Sáng Tạo, Phổ Thông và Thời Nay. Nhà văn, nhà thơ nổi tiếng tại miền Nam thì quá nhiều. Xin ghi vào đây những tên tuổi lớn trong trí nhớ của tôi như Mai Thảo, Doãn Quốc sĩ, Võ Phiến, Thanh Nam, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan, Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long, Trần Dạ Từ, Nhật Tiến, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Nguyễn Đình Toàn, Phan Nhật Nam, Hà Huyền Chi.

Các nhà văn nữ thì có Minh Đức Hoài Trinh, Nhã Ca, Trần thị Hoàng, Túy Hồng, Nguyễn thị Thụy Vũ và Lệ Khánh, nhà thơ của các nữ sinh trung học chúng tôi. Trong các bài biên khảo tôi lại rất ưa thích hai học giả miền Nam Hồ Hữu Tường với thuật ngữ “chẳng đặng đừng” và cụ Vương Hồng Sển với cách hành văn đặc biệt “nam kỳ” của một cụ già hóm hỉnh, tinh thông Hán học cũng như Tây học.

Cùng với “khẩu vị” này về sau tôi cũng thích đọc truyện của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Lê Xuyên. Thật ra tôi cũng rất mê giọng văn mượt mà của Mai Thảo. Nhưng có lẽ vì cái gốc “nam kỳ” vả lại gia đình tôi cũng đã có một thời gian sống tại vùng sông nước Mỹ Tho nên tôi hợp với chất giọng hồn nhiên, bộc trực, hào sảng của người miền Nam chăng?

Lúc bấy giờ gia đình chúng tôi cũng là độc giả trung thành của các tờ báo Tự Do, Ngôn Luận, Chính Luận, say mê theo dõi các truyện dài của nhà văn Hoàng Hải Thủy phóng tác nhiều tác phẩm lớn ngoại quốc mà Kiều Giang là một truyện phóng tác được ông yêu thích nhất.

Với nhiệt huyết xây dựng xã hội, bố tôi sau khi du học chuyên nghiệp ngành phạm pháp học tại Paris đã xuất bản ba quyển sách: “Phạm Tội Học Yếu Lược, Thiếu Nhi Phạm Tội, và Công Cuộc Chiến Đấu Chống Kẻ Bất Lương” đầy hoài bão! Rất tiếc vì qua cuộc đổi đời kinh hoàng chúng tôi đã không còn giữ được nữa!

Trong môi trường tự do và khung cảnh thanh bình thịnh trị của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã nở rộ những khúc hát rộn ràng diễn tả quê hương miền Nam tươi đẹp:

“Khúc Nhạc Đồng Quê,

Trăng Thanh Bình,

Nắng Đẹp Miền Nam,

Khúc Ca Ngày Mùa,

Lối Về xóm Nhỏ,

Tôi Yêu Quê Tôi,

Dựng Một Mùa Hoa,

Ta Vui Ca Vang,

Mộng Lành,

Mùa Hợp Tấu,

Bên Bờ Đại Dương,

Khúc Hát Ân Tình v..v..”. (còn tiếp)…

Hợp và tan

Hợp và tan

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Tuấn Khoa

18-4-2022

Ngày đầu tiên đi học lại sau biến cố lịch sử 30/04, lớp chưa chia Ban nên dễ biết ai đi, ai ở. Lớp tôi vắng nửa lớp. Đứa nào vắng tức là đã rời khỏi Việt Nam rồi. Không khí ngột ngạt. Cuối giờ học H lù lù xuất hiện trước cửa lớp. Nó kêu tôi ra ngoài hành lang và nói nó rút hồ sơ, không học ở đây nữa mà đi về quê ở Tây Nguyên. 

Nó nói, nhà trong Huỳnh Hữu Bạc bị mất, ba nó trung tá Không Quân, đi tù ở ngoài Bắc không có tin tức. Gia đình nó quyết định đi kinh tế mới (KTM) để cho ba nó được về sớm, còn nó học ở quê để giảm nhẹ lý lịch với hy vọng cơ hội vào đại học lớn hơn [SIC]. Nó nói ở trong rừng nên không có địa chỉ để liên lạc. Lúc đó tôi nghĩ rằng, tôi sắp mất thêm một thằng bạn nữa.

Chuyện HỢP-TAN-HỢP của tôi và H giống như trò chơi Năm-Mười.

Sáu năm sau, năm 1981, tôi và H bất ngờ đối mặt nhau tại cổng trường đại học Bách Khoa (ĐHBK), hé mở chỉ đủ cho 2 xe ra-vào. Cuộc đoàn tụ của 2 thằng bạn Võ Trường Toản xúc động không sao tả xiết.

H ngậm ngùi kể rằng gia đình nó trả giá quá đắt cho chuyến lập nghiệp ở KTM. Ba nó vẫn chưa về, má nó bệnh không làm việc nặng được nhưng buồn nhất là việc thi cử của nó thật lận đận. Tôi gọi đó là khúc bi tráng.

Thật vậy, H làm được việc đáng nể, nó đậu vào ĐHBK liên tiếp 4 năm 1978, 1979, 1980 và 1981 nhưng Ban Tuyển Sinh của tỉnh Tây Nguyên không cho nó đi học. Lý lịch của của cha là một rào cản cho mọi nỗ lực vào đời của thằng nhỏ. Mỗi lần đậu mà không được đi học, nó thấy tủi thân và bế tắc. Nó xa lánh hết mọi người. Đi làm ruộng để chờ năm sau thi lại.

Năm 1981 nó lại đậu với điểm rất cao nhưng vẫn không được đi học. Nó uất ức nên quyết định đánh một ván cờ tàn. Nó gặp ông Bí Thư tỉnh, sau ít phút trình bày với bằng chứng về thành tích thi cử, ông thấy nó thật thà và hiếu học nên ký giấy đặc cách cho nó đi học.

Chuyện chưa có tiền lệ này tạo nên một tiếng vang toàn tỉnh rồi H trở thành người nổi tiếng. Nó được đi học và giờ đây tôi có thêm một thằng bạn Võ Trường Toản để hàn huyên tâm sự và để giải tỏa tâm trạng u uất và cô độc ở chốn dường như không dành cho những thằng có lý lịch như tôi và H. Thực tế, những lần gặp gỡ của chúng tôi ở sân trường thật hiếm và ngắn. Gặp nhau lần nào cũng vội.

Ngày tôi ra trường đánh dấu một giai đoạn TAN lần thứ II giữa 2 đứa vì tôi không còn dịp gặp nó nữa.

13 năm sau, năm 1996, tôi đến Tây Nguyên để làm việc với công ty Tư Vấn. Anh Y, giám đốc, xác nhận H là kỹ sư của công ty này nhưng đã đi Mỹ theo diện HO nhiều năm nay. Anh Y nhận xét, H. lầm lì, ít nói nhưng lại nổi bật ở mọi nơi. Hồi học ở trung học H giỏi nhất tỉnh, vào BK vẫn học giỏi, làm việc ở cty này lại là một kỹ sư rất xuất sắc khiến anh phải thay đổi hệ thống lương để hợp thức hóa mức lương của H.

Tôi ví von H là loại bê-tông phát triển cường độ muộn. Đó là dạng học sinh khá ở lớp dưới nhưng thực sự xuất sắc từ cấp III, đại học và thời gian dài sau đó. Cuối buổi, anh dành cho tôi sự bất ngờ, anh nói H mới về Việt Nam hôm qua hiện đang ở nhà tập thể phía sau công ty.

Cuộc gặp gỡ lần này bất ngờ đến mức nó lắp bắp, không nói được lời nào. Nó kể, sang Mỹ nó phải cày bừa vì ba nó bệnh nặng do lao lực và thiếu ăn trong tù ở Bắc Việt, má nó cũng không khỏe, con nó còn nhỏ. Vì vậy nó không có duyên với con đường học hành ở Mỹ. Tôi thấy thật tiếc cho H và tiếc cho nước Mỹ.

Chia tay với nó lần đó tôi không nghĩ lâu đến như vậy. 14 năm.

Tháng 4/2019, trong buổi làm việc với tỉnh Tây Nguyên tôi lại hỏi thăm về nó. Nhờ nó quá nổi tiếng mà tôi có được thông tin của nó. Tháng 7/2019, H về Việt Nam. Cuộc đoàn tụ của hai thằng đàn ông từng trải có quá nhiều chuyện để kể. Được và mất. Nó nói ,dẫu sao lập nghiệp ở Hoa Kỳ vẫn tốt đẹp hơn chuyến lập nghiệp ở KTM năm 1975. Mừng cho hậu vận của nó.

Dâu bể cuộc đời. Tuy vậy có một điều vẫn không thay đổi, H vẫn lầm lì, ít nói, lặng lẽ, phớt tỉnh Ăng-lê, sống đời ẩn sĩ. Tôi tự hỏi chia tay lần này, bao lâu sẽ gặp lại?

***

Cau Ut Long Xuyen

Thư bạn Hoang Nguyễn, chữ “nếu” của bạn xem yếu quá. Lê Duẫn có học hành gì đâu mà hiểu biết. Không những hắn mà toàn bộ máy cai tri của Cộng Sản cũng”cá mè một lứa” thôi, chỉ có Võ Văn Kiệt vì có thời gian sống trong Nam, mới có chút suy nghĩ. Nhưng cùng để bụng vì lộ ra là bị diệt ngay. Vì vậy toàn bộ những người có hiểu biết, thức thời đều ra rìa hoặc bị thủ tiêu. Sau 30/4/75 họ ra tay cướp của và tiêu diệt từ nhân sự ( bắt đi tù: cải tạo. kinh tế mới), văn hóa ( đốt sách), giáo dục ( thay bằng lối giáo dục CS ngu dân) đến kinh tế.(đánh tư sản, 2-3 lần đổi tiền). Không phải họ ngu, vì làm như vậy họ mới đút túi và chia chác “chiện lợi phẩm” cướp được. Hơn thế nữa họ tức tối vì thấy VNCH giàu và sung túc hơn Miền Bắc của họ quá nhiều.
Đến năm 1986, 11 năm sau mới sáng mắt, thấy con đường đến thiên đường CS tối mù nên ” đổi cũ” tức là làm từ từ những gì VNCH trước đó đã làm. Đến nay năm 2022 đổi mới “kinh tế thị trường” giống VNCH trước đây, chỉ khác cái “đuôi khỉ”: “dưới sự lãnh đạo đường lối Cộng Sản” để trục lợi cho cá nhân, phe nhóm. Dân chúng bị sưu cao thuế nặng, bốc lột cạn tàu, ráo máng. Tham nhũng tràn lan từ Viêt Á, Cục Lãnh Sự Bộ Ngoai giao, Cục Quân Y, Bộ Quốc Phòng, Hết thuốc chữa rồi chú Trong ơi!!!

Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không?

Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không?

Ha-lê-lui-a!!! Nguyện xin Chúa Phục Sinh sưởi ấm tâm hồn bạn hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 19/04/2022

GIÁO LÝ:  Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không?  Không. Thánh Phaolô viết: “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại thì lời chúng tôi rao giảng sẽ vô ích, và đức tin của bạn cũng vô ích” (1Cr 15,14). Vậy, Làm thế nào mà các môn đệ Chúa Giêsu đã đi đến chỗ tin Người sống lại? Đầu tiên, các ông mất hết hi vọng, nhưng dần dần, các ông đã đi đến chỗ tin Chúa sống lại, vì sau khi Người chết, họ đã thấy Người trong nhiều dịp khác nhau, các ông đã nói chuyện với Người, đã có kinh nghiệm rõ ràng là Người đang sống. (YouCat, số 104 & 105)

SUY NIỆM: Những biến cố Phục Sinh diễn ra ở Giêrusalem khoảng năm 30 không phải là chuyện bày đặt ra. Bị sốc vì cái chết của Chúa và vì sự nghiệp chung thất bại, các môn đệ đã trốn mất. Chúng tôi hy vọng rằng Người là Đấng sẽ giải thoát Israel (Lc 24,21). Hoặc các ông ẩn núp sau những cửa đóng kín. Chỉ nhờ được gặp gỡ Chúa Kitô sống lại họ mới được giải thoát khỏi bị ức chế và được đầy niềm tin phấn khởi vào Chúa Giêsu, Chúa của sự sống và sự chết. (YouCat, số 105 t.t.)

❦  Biến cố Chúa Giêsu chết và sống lại trở thành tâm điểm của Kitô giáo. Đó là điểm tựa cho đức tin của ta, là đòn bảy mạnh mẽ cho tin tưởng vững chắc của ta, là luồng gió mạnh quét sạch mọi sợ hãi, và lưỡng lự, mọi hồ nghi và tính toán của loài người. (Đức Bênêđictô XVI, 19-10-2006)

 ❦ Ai hiểu biết lễ Vượt Qua thì không thể thất vọng nữa. (Dietrich Bonhoeffer, 1906–1945, thần học gia Tin lành và chống Hitler bị xử tử trong trại tập trung Flossenbürg)

LẮNG NGHE: Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; vì Đức Ki-tô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết. (Rm 14: 8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Kitô phục sinh, Chúa là Đường  để con bước đi, là Sự Thật để con tín thác, là Sự Sống để con được sống muôn đời. Xin đừng để con xa lìa Chúa bao giờ.

THỰC HÀNH: “Đấng Cứu Thế đã bảo đảm cho chúng ta về sự hiện diện hữu hình của Người ở giữa chúng ta, ngang qua Lời Chúa và bí tính Thánh thể.” Trong Mùa Phục Sinh này mời bạn hãy tham dự Thánh Lễ một cách sốt sắng hơn.

From: Đỗ Dzũng

VÔ THƯỜNG

Duyên Phận

VÔ THƯỜNG

Người có biết trần gian là quán trọ

Vừa thanh xuân thoắt cái đã bạc đầu

Đời vội vã còn ta thì lơ đễnh

Lạc nhau rồi sao tính cuộc bể dâu?

Người có biết cuộc đời vô thường lắm

Buông bỏ đi sao cứ phải dày vò

Hãy thương yêu khi vẫn còn có thể

Khép mắt rồi hoá cát bụi tàn tro.

Nếu có thể đừng trách chi dâu bể

Bao muộn phiền người cứ thả trôi đi

Đời ngắn lắm yêu thương còn chưa đủ

Nên đừng buồn vì những chuyện sân si!

Nếu có thể rộng lòng thêm chút nữa

Dành cho nhau nhiều hơn những nụ cười

Dù nghèo khó hay giàu sang bình thản

Mang được gì khi về cõi người ơi!

Người có biết trăm năm kia hữu hạn

Chốn trần gian ai rồi cũng sẽ già

Bàn tay thương thêm một lần hãy nắm!

Lỡ mai này vĩnh viễn phải rời xa.

Tác giả: Phương Quỳnh.

Tại sao một số Bác-Sĩ từ-chối điều-trị để cứu sống bản-thân

 Tại sao một số Bác-Sĩ từ-chối điều-trị để cứu sống bản-thân

 Câu hỏi: Tại sao một số bác sĩ từ chối phương pháp điều trị cứu sống cho bản thân, chẳng hạn như hóa trị, lọc máu, thông khí, phẫu thuật hoặc đặt ống ăn?

 Trả lời bởi Maureen Boehm, cựu bác sĩ nội khoa:

 Tôi không thể nói thay cho tất cả các bác sĩ, nhưng tôi nghĩ rằng họ (các bác sĩ) thường từ-chối khi mục-đích duy nhất của những phương-pháp điều-trị đó là kéo dài cuộc sống, chứ không phải chữa khỏi.

 Rõ ràng là khi một người gần chết, cuộc sống của họ là khủng khiếp. Họ kiệt sức, ốm yếu. Cơ thể của họ, đã từ lâu, không còn mang lại cho họ niềm vui nữa. Tuy nhiên, gia đình bệnh nhân thường yêu cầu chúng tôi làm mọi thứ.

 Không muốn làm gia đình thất vọng, bệnh viện cho phép điều trị. Bác sĩ biết rằng sẽ không cứu được bệnh nhân mà còn khiến họ đau đớn và dẫn đến một loạt những phản ứng phụ khó chịu và mệt mỏi khác.

 Điều này, về cơ-bản là điều-trị để chết.

 Là bác sĩ, chúng tôi thấy việc này xảy ra hàng ngày. Nó cực kỳ vô nhân-đạo. Bản thân tôi sẽ không cho phép bệnh nhân hóa trị hoặc lọc máu hoặc đặt máy thở, nếu không có hy vọng phục hồi.

 Gia đình tôi biết điều này. Tôi để lại di chúc thể hiện mong muốn của tôi nếu việc điều trị là vô ích.

 Hãy để tôi kể chuyện này.

 Tôi đã có một đồng nghiệp. Anh ta là một chàng trai khá trẻ, ở độ tuổi 40, có con đang đi học. Anh được chẩn đoán mắc GBM, dạng u não nguy hiểm nhất. Anh còn khoảng 4 tháng nếu không điều trị hoặc có thể lâu hơn một chút. Khi được hỏi anh đang cân nhắc điều trị gì, anh suy nghĩ một lúc, rồi thì thầm, đi biển.

 Anh đưa gia đình đi du lịch châu Âu. Anh chơi với con, trên bãi biển. Họ đi du lịch qua những nơi vui vẻ và thú vị. Anh ấy đã có những bữa ăn tuyệt vời, ấm áp cùng vợ con trong những quán cà phê nhỏ. Họ đã thử nhiều loại rượu vang hảo hạng và rất nhiều món ăn ngon. Họ giữ lại rất nhiều niềm vui và những kỷ niệm đẹp trong trái tim suốt chuyến đi đó.

 Khi bệnh tình trở nên nặng hơn, anh trở về Mỹ và vào bệnh viện. Anh ta chết ở nhà, được bao quanh bởi gia đình, vài tuần sau đó.

 Tôi nghĩ anh ấy là người đàn ông rất khôn ngoan. Anh ta đã thấy, giống như tôi, tất cả những người được trị liệu sẽ kéo dài cuộc sống của họ, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng sẽ tàn phá gia đình của họ cả về mặt cảm xúc và tài chính.

Những tháng cuối cùng của họ trên trái đất này được dành để phục hồi sau khi điều trị hoặc vượt qua cuộc phẫu thuật. Họ đã bỏ lỡ cơ hội của mình cho một sự ra đi yên bình, đáng yêu với những người thân yêu của họ, thay vào đó họ chờ vòng hóa trị tiếp theo, hoặc phẫu thuật hoặc lọc máu, v.v.

 Tôi sẽ không bao giờ, cho phép điều đó cho bản thân mình. Khi thời gian của tôi kết thúc, tôi sẽ đi.

 Với tất cả sự bình yên.                          

            Bài viết nầy của cựu bác sĩ nội khoa Maureen Boehm thì tôi đã đọc đôi lần trên mạng, cũng như được người quen gửi đến để xem cho biết. Do nhận thấy nội dung có tính chất trung thực và giá trị hữu ích. Nên muốn thêm thắt đôi chút khái quát, về những gì nghe qua từ con cái mình hành nghề Y khoa có dịp giải thích như sau:

                 1) Chứng ung-thư quái ác, dù bất kể dưới dạng gì. Xin hiểu rằng mãi đến hiện nay, vẫn thuộc loại nan-y, hầu như… bất trị.

                 2) Sự nguy-hiểm tột bực là cancer rất khó-khăn trong việc chẩn-đoán phát-hiện (chính xác) ở thời-kỳ tiềm-ẩn đầu tiên (từ 5-7 năm khi vướng phải). Chỉ khi nào sau đó bệnh bước vào giai đoạn kế tiếp phát triển nhanh chóng mạnh mẻ, tiến đến hiện tượng di căn sau cùng, bệnh lây lan khắp cả khu vực nội tạng, tạo sự tàn phá lớn lao khủng khiếp. Thì bệnh nhân mới cảm thấy có những triệu chứng đau đớn dữ dội liên tục thường xuyên xảy ra trong cơ thể họ.

                 3) Những phương-thức chữa trị như phẫu-thuật, hay hoá-trị, hoặc xạ-trị. Tựu trung chỉ nhằm mục-đích khống-chế (tạm thời) cơ-quan bị ung-thư. Chứ không thể nói là chữa-trị hoàn toàn dứt hẳn bệnh cancer.

                4) Bất luận phương thức chữa trị dù bằng xạ trị hay hoá trị cũng làm cho những tế bào lành mạnh nơi vùng lân cận chịu ít nhiều tổn thương. Điều nầy khiến gây ảnh hưởng đến các chức năng quan trọng hoạt động cần thiết của nó kém đi hiệu quả, hoặc hoàn toàn bị huỷ diệt.

                 Ngay cả việc giải phẫu cũng vẫn phải luôn được giới bác sĩ chuyên môn theo dõi kiểm soát lâu dài, vì chất chứa nhiều nguy cơ bệnh tái phát về sau.

                 5) Ở giai đoạn di căn là thời kỳ cuối cùng của bệnh ung thư (kéo dài trong vòng một năm). Bệnh nhân hầu như suy kiệt tận cùng về thể xác và tinh thần. Thân thể hốc hác, vóc dáng tiều tuỵ, việc ăn uống thường thực hiện bằng đường ống truyền vào bao tử xuyên qua thực quản.

                 Tuy nhiên họ luôn bị tình trạng đau đớn hành hạ. Vì thế cần phải thường trực nằm bệnh viện để được chích thuốc giảm đau bằng chất morphine.

                 6) Chính vì thế, dẫu bác sĩ hay bệnh viện không hề có ý định muốn…”nuôi con bệnh” lâu dài để kiếm tiền của hệ thống bảo hiểm y tế (tư nhân chi trả hoặc chính phủ đài thọ).

                Thông thường vào thời kỳ sống sót cuối cùng của bệnh nhân (khoảng một tháng). Giới chuyên viên điều trị sẽ gợi ý đề nghị, nếu như gia đình hay thân nhân muốn đưa bệnh nhân về nhà. Hầu tạo cơ hội gần gũi hầu đáp ứng thoả mãn các ước vọng tha thiết cuối đời. Trước khi họ nhắm mắt xuôi tay, để vĩnh viễn rời bỏ cõi thế gian ra đi. Mà lòng không quá ân hận, ray rứt luyến tiếc nhiều, do vì nhận biết “ý nghĩa đời thực sự đáng sống” ra sao khá muộn màng. Khi mà tử thần bất chợt gõ cửa, tức giờ phút lâm chung đã điểm và sự chết tới sát cận kề./.

From: TU-PHUNG

ĐỨC GIÊSU VẪN SỐNG

ĐỨC GIÊSU VẪN SỐNG

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Sáng ngày thứ nhất trong tuần, khi đến thăm mồ Đức Giêsu, chị Maria Magdala phát hiện không có xác Đức Giêsu trong đó.  Chị cho rằng có ai đã lấy xác Đức Giêsu và quăng đi đâu đó, vì có lẽ chị không biết mồ nơi chôn táng Đức Giêsu là tài sản của ông Giuse Arimathia.  Chị chạy về báo tin cho các tông đồ, cụ thể là cho Phêrô và Gioan.  Hai môn đệ này tới, và cũng nhận thấy xác Đức Giêsu không còn trong mồ nữa.  Tin mừng Gioan cho thấy “người môn đệ đến trước”, đã thấy và đã tin (Ga.20, 8); tuy nhiên tin mừng lại không cho thấy ông tin điều gì.  Theo tin mừng Maccô, không có tông đồ nào tin Đức Giêsu Phục Sinh khi các chị phụ nữ báo tin Đức Giêsu đã phục sinh (Mc.16, 9-14).

Tất cả các tông đồ chỉ tin Đức Giêsu Phục Sinh, khi các ông gặp gỡ Ngài.  Trong lần hiện ra đầu tiên cho các tông đồ, Thomas không ở đó nên không thấy, nên ông đã không tin Đức Giêsu phục sinh cho dù các tông đồ khác và các chị phụ nữ loan tin cho ông.  Tám ngày sau, khi Chúa Phục Sinh hiện ra với ông, ông mới tin.  Phục Sinh, là điều vượt trên kinh nghiệm bình thường của con người, nên các tông đồ không tin Đức Giêsu Phục Sinh, cũng là điều dễ hiểu.  Đã đành các tông đồ có kinh nghiệm người chết sống lại như trường hợp con trai bà góa thành Naim, con gái ông Giairô, Lazarô em của Matta và Maria, nhưng Đức Giêsu Phục Sinh khác với những người khác sống lại.  Ngài vẫn sống nhưng người ta không giữ Ngài lại được.  Ngài hiện ra và biến đi, không gì ngăn cản được Ngài.

Những người được Đức Giêsu phục sinh như Lazarô, con trai bà góa thành Naim, ai muốn gặp có thể tới để gặp họ.  Đức Giêsu Phục Sinh thì không như vậy.  Chỉ người nào Ngài muốn, người đó mới được gặp Ngài mà thôi.  Trong khoảng 40 ngày, các tông đồ còn có thể gặp Ngài (Cv.1, 3); nhưng sau thời điểm này, không ai được diễm phúc gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh nữa.  Ai tin Ngài, là ngang qua những chứng nhân để tin vào Ngài.  Đức Giêsu phục sinh là một biến cố mà người ta phải tin để biết.  “Phúc cho những ai không thấy mà tin.”  Bao nhiêu người tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, đều là những người được ơn đức tin.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là hồng ân lớn lao.  “Không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa mà không nhờ Thần Khí” (1Cor.12, 3).

Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là một hành vi tự do.  Những lý chứng cho thấy Đức Giêsu phục sinh, không đạt được tính buộc người ta phải chấp nhận như luận chứng toán học 2+2=4.  Người ta vẫn tự do để tin Đức Giêsu phục sinh hay không.  Tin cũng là biết.  Hai anh chị yêu nhau, người này nói yêu người kia, và người kia cần tin.  Tin vào người khác, là một cách biết người đó.  Tin ai đó, cho rằng những điều người đó nói hay làm chứng là đúng, và nếu không tin thì không thể biết được vậy.

Tất cả các tông đồ chỉ tin Đức Giêsu Phục Sinh, sau khi các ngài đã được thấy Đức Giêsu Phục Sinh.  Sau đó những ai tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đều phải tin qua lời chứng của các tông đồ.  Các tông đồ đã dùng chính mạng sống của mình để làm chứng rằng những gì các ngài nói là sự thật.  Từ ngữ tử đạo (martureô) có nghĩa là làm chứng.  Lời chứng đáng tin nhất, là lời chứng của người dám dùng chính mạng sống mình để bảo đảm rằng điều mình khẳng quyết là sự thật.  Tất cả các tông đồ đều tử đạo trừ tông đồ Gioan.

Không tin Đức Giêsu Phục Sinh, đây là điều bình thường.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là một ơn vô cùng lớn.  Kitô hữu không ngạc nhiên khi người ta không tin Đức Giêsu Phục Sinh.  Kitô hữu cũng biết rằng họ muốn người khác chia sẻ niềm tin với họ, là để người đó hạnh phúc hơn.  Tuy nhiên, đức tin là một hồng ân, là điều vượt khả năng của Kitô hữu.  Chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban hồng ân ấy cho người ta.  Muốn ai tin Đức Giêsu Phục Sinh, Kitô hữu phải cầu xin Chúa ban ơn ấy cho người đó.  Không phải vì người Kitô hữu giảng hay, dạy tốt mà người đó tin vào Đức Giêsu Phục Sinh.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, không phải là chuyện con người có thể làm được.  Đó là hồng ân của Thánh Thần.

Để có thể đón nhận đức tin, để có thể biết như người của Thiên Chúa, người đó phải có đời sống có thể đón nhận đức tin.  Nếu một người có đời sống bất lương, nếu người đó chỉ tin vào mình, thì cũng khó có thể tin Đức Giêsu Phục Sinh.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, đòi người đó phải đổi đời, phải có đời sống mới, phải sống lương thiện.  Không sẵn sàng đổi đời để thành người lương thiện, người đó sẽ tìm mọi cách để biện luận từ khước tin vào Đức Giêsu Phục Sinh.

Kitô hữu không là những người mê tín, nhưng là những người ý thức mình được ơn đặc biệt.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là hồng ân vô cùng lớn.  Niềm tin này làm Kitô hữu có cái nhìn mới về thế giới, về Thiên Chúa, và về con người.  Tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, Kitô hữu nhận ra mình được Thiên Chúa yêu thương vô cùng.  Và một khi biết Thiên Chúa yêu thương mình, mình có thể phó thác đời mình trong tay Thiên Chúa, Đấng yêu thương mình vô cùng, Ngài sẵn sàng làm tất cả mọi sự để được mình.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

From: Langthangchieutim

KHÔNG KẾT THÚC Ở ĐÓ

KHÔNG KẾT THÚC Ở ĐÓ

“Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối”.

Wilbur Chapman nói, “Nếu trở thành một Kitô hữu là điều đáng giá, thì vẫn ‘không kết thúc ở đó’, nó còn có nhiều điều hơn nữa. Điều vui thích bình thường nhất đối với những ai chúng ta gặp gỡ, sẽ thúc đẩy chúng ta nói với họ về Chúa Kitô!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật Phục Sinh cho thấy, trong tình yêu, luôn có một điều gì đó cấp bách, thôi thúc; một điều gì đó không thể chậm trễ! Maria Mađalêna ra mộ Chúa Giêsu “từ sáng sớm khi trời còn tối”; “Phêrô và Gioan cùng chạy ra mộ”. Cả ba đều thấy, “tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ”. Thế nhưng, như ý tưởng của Wilbur Chapman, câu chuyện ‘không kết thúc ở đó!’.

Maria không thể đợi trời sáng; bởi lẽ, lửa mến thiêu đốt trái tim cô, một phụ nữ dám đi ra nghĩa địa một mình lúc trời còn tối! Thấy tảng đá đã được lăn ra, “Cô liền chạy về tìm Simon Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu yêu mến”. “Chạy” là một phần không thể thiếu của trình thuật này. Maria chạy; Phêrô và Gioan chạy, “Gioan chạy nhanh hơn!”. Tình yêu dành cho Chúa Giêsu luôn tạo ra một cảm giác cấp bách. Những gì họ nhìn thấy ở ngôi mộ có thể được nhìn thấy mà không cần chạy chút nào, nhanh chóng là dấu hiệu của tình yêu đối với Thầy! Cũng thế, nếu muốn trải nghiệm Chúa Kitô và quyền năng phục sinh của Ngài, tôi cũng cần có cảm giác cấp bách trong mối quan hệ với Ngài; ngõ hầu qua tôi, Tin Mừng Phục Sinh ‘không kết thúc ở đó’.

Họ chạy đến mộ, “Gioan cúi mình xuống, thấy những khăn liệm để đó. Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ, và khăn che đầu Người trước đây”. Thế nhưng, ‘không kết thúc ở đó’, Gioan viết, “Bấy giờ môn đệ kia vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông đã thấy và đã tin!”.

Tuyệt vời! Không có niềm tin, những thực tế khơi dậy hy vọng và kỳ vọng sẽ chỉ gây ra nhầm lẫn. Cả ba đều nhìn thấy ngôi mộ trống, nhưng đức tin có hạn của họ cần thời gian để phát triển và chấp nhận quà tặng tuyệt vời này.

Bởi lẽ, mộ trống là dấu hiệu của chiến thắng trọn vẹn nhất, tình yêu tột độ nhất và sự hiện diện mạnh mẽ nhất của Đấng Phục Sinh!

Gioan kết luận, “Các ông còn chưa hiểu; theo Thánh Kinh, thì Người phải sống lại từ cõi chết”. Đức tin bắt đầu với kinh nghiệm của giác quan nhưng ‘không kết thúc ở đó’, nó cần được đào sâu những trải nghiệm, những lời của Thầy, “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời, bị giết chết; nhưng ngày thứ ba, sẽ sống lại”; “Hạt lúa mì gieo xuống đất, mà chết đi, thối đi; nó sẽ sinh nhiều bông hạt”…

Và những gì Thánh Kinh đã nói về Thầy, “Viên đá thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường”. Cuối cùng, Phêrô, Gioan và Maria, sẽ có một niềm tin chắc chắn vào Chúa Phục Sinh, trở thành những sứ giả của Phục Sinh; nhưng trước tiên, họ cần nhìn thấy ngôi mộ trống, nhặt các khăn vải. Họ cần được thấy và chạm vào Ngài. Tất cả sẽ gây nên ngạc nhiên, suy gẫm; và cuối cùng, nhận thức ngày càng tăng, sẽ tạo ra niềm tin.

Anh Chị em,

Maria tin rằng, Giêsu rất quyền năng, đã thật sự chết! Thế nhưng, tình yêu cô dành cho Ngài chẳng hề chết! Cô “ra mồ từ sớm” cốt chỉ để thăm nấm mồ. Giêsu ấy đã ra khỏi mồ, Ngài đã phục sinh như lời Ngài tiên báo. Ngài đang sống giữa chúng ta; Ngài mong chúng ta mỗi ngày chạy nhanh tới bàn tiệc thánh khi trời còn tối với con tim đầy tràn tình yêu để gặp Ngài. Có như thế, sự Phục Sinh của Chúa Kitô sẽ ‘không kết thúc ở đó’, nhưng qua chúng ta, thế giới sẽ nghe Tin Mừng.

Phêrô và Phaolô trong hai bài đọc hôm nay đã làm điều đó. Tại nhà Cornêliô, Phêrô rửa tội cho gia đình ông và nói về Chúa Giêsu cho nhiều người; Phaolô cũng mời gọi, “Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa”. Tuy nhiên, Phục Sinh không chỉ liên quan đến các tông đồ, nó ‘không kết thúc ở đó’, mà còn liên quan đến cuộc sống và đức tin của tôi; Phục Sinh mời gọi tôi thay đổi và thay đổi hoàn toàn, như các môn đệ đã thay đổi. Ngày tôi thay đổi; đúng hơn, ‘được biến đổi’ cũng là ngày đáng được hát lên như lời Thánh Vịnh đáp ca hôm nay, “Đây là ngày Chúa đã lập ra, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Chúa biết cách chuẩn bị cho các môn đệ cảm nghiệm ‘Sự Hiện Diện Phục Sinh’ của Chúa một cách sâu sắc và thâm trầm. Xin cũng chuẩn bị cho con như thế!”, Amen.

From: Kim Bang Nguyen