Nghị quyết 36 thành công hay thất bại?

Nghị quyết 36 thành công hay thất bại?

Jackhammer Nguyễn

21-10-2022

Ông Nguyễn Hữu Liêm ở San Jose, lâu nay “bị” xem là thân “cộng”, vừa viết một bài liên quan tới việc tiếp xúc giữa Hà Nội và người gốc Việt ở Mỹ. Trọng tâm của bài viết này, ông Liêm đưa ra những biện luận của mình để chứng minh rằng “nghị quyết 36” của Đảng Cộng sản Việt Nam (đảng CSVN) đã thất bại. Nghị quyết này được đưa ra để Đảng CSVN tiếp cận với người Việt ở hải ngoại, chủ yếu là nhóm tù chính trị (“cải tạo”), thuyền nhân.

Tôi nghĩ rằng “cộng” sẽ không hài lòng với bài viết này. Ông Liêm chỉ trích Đảng CSVN khá nặng. Ông nói rằng họ có “tư duy nông dân”, và nghị quyết 36 ấy được viết với tư duy đó.

Ông Liêm cũng đề nghị Đảng CSVN đưa ra một nghị quyết mới, thật lòng hơn, trong đó có việc nhận trách nhiệm về những tội lỗi lịch sử mà Đảng CSVN đã gây ra, như là cải cách ruộng đất, giam giữ tù chính trị, đánh tư sản miền Nam,…

Đây là bài thứ ba liên tục mà ông Liêm, theo chủ quan của tôi, đã làm phật lòng Hà Nội. Đầu tiên ông gọi ông đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng là “người cộng sản cuối cùng”, kế đó ông đả kích chủ nghĩa Marx, và bây giờ ông mắng Đảng CSVN là … nhà quê (nông dân).

Đối với bài viết đả kích Karl Marx, tôi không dám có ý kiến phản biện lại người chuyên nghiên cứu triết học như ông Liêm. Còn hai bài kia thì tôi không đồng ý, tôi cho rằng tính chất cộng sản của ông Trọng cũng chẳng hơn các đàn em của ông ấy đâu, và ông Trọng cũng chẳng hiểu Karl Marx hơn ông Liêm.

Còn chuyện ông mắng Đảng CSVN là nhà quê thì tôi đã viết trong bài “Những chiếc ghế gỗ và sự sang trọng cộng sản”, để nói rằng, người “cộng sản” Việt Nam hiện nay chẳng quê tí nào đâu, mà họ rất thích sự … sang trọng. Có thể ông Liêm đúng với hàm ý rằng “các nông dân Ba Đình” hiện nay không suy nghĩ được gì lớn lao, hay nói theo ngôn ngữ báo chí trong nước là “không có tầm nhìn”.

Nhưng ông mắng họ “nhà quê” là họ giận lắm đấy.

Thôi, sau khi phiếm lòng vòng các danh từ, khái niệm, cho vui, bây giờ tôi xin trở lại vấn đề đánh giá nghị quyết 36 của Hà Nội.

Tôi cho rằng, nói thành công như Đảng CSVN đánh giá thì cũng đúng, mà nói thất bại, như ông Liêm và các bạn ông, cũng đúng. Vấn đề nằm ở chỗ, ta đứng ở góc nào, yêu cầu của ta ra sao để mà đánh giá. Rõ ràng, yêu cầu của ông Liêm và Đảng CSVN không giống nhau.

Có thể Đảng CSVN cho rằng, họ đã mời được “các nhà truyền thông hải ngoại” … về nước, giao lưu, mà những người này cũng có hoạt động trong… “cộng đồng”, thành ra là … thành công!

Ông Liêm và các bạn thì mong muốn ý tưởng của các ông nên được Đảng CSVN xem xét để thúc đẩy sự thịnh vượng của Việt Nam, nên các ông xem nghị quyết 36 là thất bại.

Một việc nữa là ông Liêm và các bạn ông xếp mình vào nhóm người ra đi từ miền Nam Việt Nam, những người đã trưởng thành trước năm 1975, mà nhóm người này chưa bao giờ xem Đảng CSVN thật lòng với họ cả. Nghị quyết 36 rõ ràng thất bại với nhóm này, trừ một số nhà… “truyền thông hải ngoại”.

Nếu ta định lượng kết quả của nghị quyết 36, bằng số lượng người Việt hải ngoại về thăm nhà, số tiền họ gửi về giúp người thân, số lần biểu tình chống đối cũng như cường độ của các cuộc biểu tình bị giảm xuống… thì nghị quyết 36 thành công.

Tuy nhiên, những cuộc biểu tình và cường độ của nó giảm xuống, lại không phải do nghị quyết 36, mà do những người biểu tình già đi, ngọn lửa biểu tình không còn được con cháu họ coi trọng. Đó không phải là thành công của Đảng CSVN, mà là thất bại của cộng đồng người Việt chống cộng ở hải ngoại.

Sự thắng thế của Đảng CSVN tại hải ngoại, nếu có, không phải là họ có nhiều điều hay ho, mà là họ có… thời gian.

Theo đánh giá của một nhân vật lãnh đạo chính trị của người Việt hải ngoại (mà tôi xin giấu tên), thì số lượng người Việt ở Mỹ, đến Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình từ thập niên 1990 trở về sau (tức là sau khi Việt Nam mở cửa, không còn là “cộng sản” nữa), cộng với những người sinh ra ở Mỹ, hoặc sinh ra ở Việt Nam, nhưng lớn lên ở Mỹ, đã đông hơn những người từng là tù cải tạo, thuyền nhân.

Nhóm đến sau, hoặc lớn lên ở Mỹ này không còn “quyết tâm chống cộng” mạnh mẽ nữa.

Vào dịp Tết nguyên đán đầu năm 2022, một số nguồn tin khả tín nói rằng, Lãnh sự quán Việt Nam ở San Francisco đã xuống miền Nam California, tổ chức một buổi tiệc tân niên ngay tại khu Little Saigon, nơi được mệnh danh là “Thủ đô tinh thần của người Việt tị nạn Cộng Sản”, có đến 200 người tham dự. Vậy mà không có tờ báo Việt ngữ nào của “cộng đồng” đề cập đến.

Thế nhưng, nếu lấy con số 200 đó mà nói nghị quyết 36 thành công, thì không thỏa đáng. Tôi nghĩ rằng chí ít, nhà cầm quyền Hà Nội cũng mong thu được nhân tâm của những người như nhóm ông Nguyễn Hữu Liêm, hay thế hệ trẻ người Việt, không phải là du học sinh, chứ đâu chỉ thu phục nhóm người thích về Việt Nam chơi bời và đến dự tiệc của lãnh sự quán để ăn uống!

Nhóm người Việt trẻ tuổi lớn lên ở Mỹ chú ý đến nước Mỹ hơn Việt Nam. Họ quan tâm đến nền dân chủ Mỹ, và dĩ nhiên với tình trạng chính trị Việt Nam hiện nay thì họ quan tâm để làm gì? Có bao nhiêu chính trị gia trẻ tuổi người Mỹ gốc Việt, lớn lên ở Mỹ, có quan hệ với Hà Nội? Theo hiểu biết của tôi, con số đó gần bằng… zero.

Nói cho cùng thì cộng đồng người Việt hải ngoại và chính quyền Hà Nội hiện nay có thể chả quan tâm gì đến nhau cũng không sao cả, mạnh ai nấy sống. Người Việt hải ngoại có được cái may mắn chạy thoát khỏi “lũy tre làng ngàn năm văn vật”, cứ tiếp tục hưởng tinh thần dân chủ.

Trong một bài viết cho báo New York Times hôm nay, ông Ngãi Vị Vị, một nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc, hiện sống ở châu Âu, viết rằng: “Não trạng người Trung Quốc chưa bao giờ thực sự tự do… không có sự thay đổi cơ bản nào khả dĩ diễn ra. Người Trung Quốc bình thường chỉ việc tuân lệnh thôi”.

Ai có thể bảo tôi rằng, người Việt thì khác? Thế cho nên Đảng CSVN cần chi nghị quyết 36 để cãi chày cãi cối với ông Liêm như thế!

Vấn nạn ‘dân trí’ của người Việt…

Lmdc Viet Nam

 “Vấn nạn ‘dân trí’ của người Việt…”

Nhắc đến Phan Bội Châu (1867-1940), rất nhiều người Việt Nam có thể dễ dàng nói ông là nhà tư tưởng, nhà cách mạng nổi tiếng của Việt Nam.

Nhưng không phải ai cũng biết về tinh thần “phê phán” của Phan Bội Châu, thể hiện qua tác phẩm Việt Nam quốc sử khảo, xuất bản lần đầu vào năm 1909.

Với mục đích động viên tinh thần yêu nước và làm cách mạng, Phan Bội Châu đã dành một phần trong sách để than phiền về điều mà ông xem là vấn nạn ‘dân trí’ của người Việt đương thời.

Trích, theo bản dịch của Chương Thâu:

– “Hay nghi kỵ lẫn nhau, không làm nên việc gì cả, đó là điều rất ngu thứ nhất.

– Tôn sùng những điều xa hoa vô ích, bỏ bê những sự nghiệp đáng làm, đó là điều rất ngu thứ hai.

– Chỉ biết lợi mình mà không biết hợp quần, đó là điều rất ngu thứ ba.

– Thương tiếc của riêng, không tưởng đến việc ích chung, đó là điều rất ngu thứ tư.

-Biết có thân mình nhà mình mà không biết có nước, đó là điều rất ngu thứ năm.”

Một đoạn khác, Phan Bội Châu than: “Cùng làm chung việc thì nghi kỵ nhau, cùng làm thành công thì ghét bỏ nhau, chưa đánh với người ngoài mà trong nhà đã tranh nhau.

* Buồn thay, lời của cụ Phan Bội Châu vẫn đúng đến tận ngày nay

TL BBC

Phan Bội Châu là một trong những nhà yêu nước lớn ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Ông sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867, tại làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hòa), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Những hoạt động yêu nước, chống Pháp do Phan Bội Châu khởi xướng, tiêu biểu như phong trào Đông Du (1905 – 1909) và tổ chức Việt Nam Quang phục Hội (1912 – 1917).

Khi Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt năm 1925, thì tầng lớp thanh niên, với lực lượng chủ công là học sinh, sinh viên, trí thức đã tích cực xuống đường đấu tranh đòi chính quyền thực dân ở Việt Nam phải trả tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu.

Kết quả là thực dân Pháp buộc phải giảm án từ tử hình xuống chung thân khổ sai, sau đó đưa ông về an trí ở Huế cho đến khi ông qua đời năm 1940.

Thánh Phao-lô Thánh giá (1694-1775)-Cha Vương

Thánh Phao-lô Thánh giá (1694-1775)

Mến Chúc bạn và gia đình ngày Thứ 5 an lành và cảm nghiệm được tình yêu sâu đậm của Con Thiên Chúa đã chết trên Thập giá để cứu chuộc bạn. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Phao-lô Thánh giá (1694–1775), đấng sáng lập Dòng Thương Khó Chúa Giê-su, vị Thánh ít người biết đến trong giáo dân Việt Nam. Chúc mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 20/10/2022

Thánh Phao-lô Thánh giá sinh tại Ô-vi-đa nước Ý, năm 1694, trong một gia đình thương gia giàu có đạo đức. Ngay từ nhỏ, thánh nhân đã được mẹ dạy dỗ đầy đủ về đạo hạnh, đặc biệt về lòng tôn kính cuộc Thương khó Chúa. Vì thế khi lớn lên, ngài hết lòng kính mến Chúa Giê-su chịu đóng đinh, chịu chết trên khổ giá, hằng ngày thánh nhân thực hành việc hãm mình phạt xác và ăn chay, quỳ gối cầu nguyện lâu giờ trước ảnh chuộc tội.

    Năm lên 20 tuổi, thánh nhân gia nhập Đạo Binh Thánh giá, tham gia công cuộc bảo vệ Hội thánh, chống lại đạo quân Hồi giáo đang xâm chiếm Thánh Địa.

    Năm 1720, thánh nhân được Chúa soi sáng. Ngài thấy cần lập một hội dòng tôn sùng sự Thương Khó Chúa Giê-su. Ngài thảo bộ luật Dòng và gởi xin Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô thứ 14 phê chuẩn.

    Bảy năm sau, thánh nhân chịu chức Linh mục và được phép thâu nhận tập sinh vào dòng. Đó là Dòng Thương Khó, đặc biệt tôn sùng Chúa Giê-su chịu khổ hình chịu chết vì tội loài người. Ngài thường nói với các tập sinh: “Thật là việc tốt lành và thánh thiện khi suy tưởng và suy ngắm các khổ nạn của Chúa, vì nhờ con đường nầy mà người ta đạt tới sự kết hiệp thánh thiện với Thiên Chúa. Chính trong ngôi trường rất thánh nầy, mà người ta học được sự khôn ngoan chân thật, vì chưng, tất cả các thánh đều học khôn ở đó. Khi nào Thập Giá của Đức Giê-su dịu hiền đã đâm rễ trong tâm trí anh em, lúc ấy anh em hãy ca lên: “Chịu khổ chớ không chịu chết”, hay là “hoặc chịu khổ hoặc chịu chết”, hay hơn nữa “chẳng chịu khổ cũng chẳng chịu chết, nhưng chỉ trọn vẹn tuân theo thánh ý Thiên Chúa”.

    “Tình yêu là một năng lực hiệp nhất; nó biến những khổ hình của Đấng thiện hảo đáng yêu mến của mình. Ngọn lửa tình yêu lan tới tận tâm can, biến người yêu thành kẻ được yêu thương, và một cách sâu hơn, tình yêu nhập vào trong khổ đau và đau khổ nhập vào tình yêu; cả hai hòa nhập keo sơn đến nỗi không thể phân biệt tình yêu với đau khổ. Bởi vậy tâm hồn yêu mến reo vui trong chính nỗi khổ sầu, và nhảy mừng hoan lạc trong chính tình yêu bi thương của mình”.

    “Vậy anh em hãy kiên trì thực hành mọi nhân đức, nhất là hãy noi gương bắt chước đức nhẫn nhục chịu đựng trong Đức Giê-su dịu hiền, vì đó chính là tuyệt đỉnh của tình yêu thuần khiết. Anh em hãy làm sao để mọi người thấy anh em không những mang lấy hình ảnh Đức Ki-tô chịu đóng đinh là gương mẫu cho mọi dịu ngọt và hiền lành tự đáy lòng, mà còn cả ở bên ngoài nữa…”

    Ngoài ra việc đào luyện các tu sĩ, thánh nhân còn đi khắp nước Ý, rao giảng kêu gọi mọi người tôn sùng sự Thương Khó Chúa. Đi tới đâu, dân chúng cũng tiếp đón ngài nồng hậu kính cẩn, vì họ nhìn nhận ngài là một Đấng Thánh.

    Thánh nhân qua đời ngày 18 tháng 10 năm 1775 và năm 1865 được tôn phong Hiển thánh.

* Quyết tâm: Hết lòng tôn kính Chúa Giê-su chịu khổ hình chịu chết trên Thánh giá, và hằng ngày sẵn lòng vác khổ giá theo Chúa, để được hưởng nhờ ơn cứu rỗi, theo gương thánh Phao-lô Thánh Giá. (Nguồn: Hạnh Các Thánh, Gx-Xuân Việt)

    Cùng với thánh nhân, mời bạn hôm nay đứng trước Thập Giá Đức Kitô đọc và suy niệm lời kinh sau đây nhé: Lạy cha Thánh Phaolô, là cha và là người anh em của chúng con, giờ đây, chúng con đang cùng ngài đứng trước Thập Giá Đức Kitô. Xin tình yêu được thể hiện cho chúng con nơi thập giá của Đức Kitô chiếm lấy khối óc, con tim và đời sống chúng con. Ngài đã noi gương Chúa Giêsu chịu đóng đinh, thì xin cho chúng con cũng gạt bỏ mọi sự, mà khao khát mỗi thánh ý của Thiên Chúa và làm cho sự tưởng niệm về cuộc Thương Khó và sự Chết của Chúa Giêsu Kitô, Đấng là hy vọng duy nhất của chúng con, luôn sống mãi. Amen.

From: Đỗ Dzũng

Tâm Sự Của Một Y Công – Nguyễn Thượng Chánh, DVM

Tâm Sự Của Một Y Công – Nguyễn Thượng Chánh, DVM

Hình minh họa 

Săn sóc bệnh nhân ở giai đoạn cuối đời, chẳng hạn như thay tã, thay quần thay áo, làm giường, giúp họ trong việc ăn uống, trong vấn đề vệ sinh, tắm rửa hằng ngày, v.v…là những công việc thường lệ của một y công.

Đây là một job không phải dễ, rất cực nhọc, đòi hỏi một sự chịu đựng và nhẫn nại hơn người.

Không phải ai cũng có thể làm được hết đâu.

Làm việc trong một khung cảnh đượm vẻ thê lương, nặng nề, và đầy rẫy âm thanh rên xiết suốt ngày suốt đêm, người y công cũng không dám nói là mình chai đá dửng dưng được trước cảnh đời quá phủ phàng, kiếp nhân sinh quá phù du…

NNT  là cháu của người viết và hiện là một y công tại một bệnh viện lớn ở Montreal. Cậu ta làm việc tại một bộ phận hắc ám nhất. Đó là tầng bệnh nhân ở giai đoạn cuối, gọi là unité de soins palliatifs. Đây là nơi nằm của các bệnh nhân hết thuốc chữa và chỉ chờ ngày chết mà thôi.

Sau  đây là đôi dòng tâm sự của cậu ta.

 « …Cuộc đời đưa đẩy tôi làm y công cho một bệnh viện ở Montreal.

Công việc của tôi là chăm sóc người bệnh, giúp cho họ có được những giây phút thoải mái để cuộc sống dễ chịu hơn trong những ngày cuối cùng của đời họ trên dương thế nầy.

Đó là những người bệnh già, bệnh nhân lú lẫn Alzheimer, những người bị ung thư vào giai đoạn cuối, những người mới vừa được mổ và những người bị bệnh tâm thần, v.v…

Bệnh nhân được tôi săn sóc nằm trong khoảng tuổi từ 18 đến 101 tuổi.

Có người còn rất trẻ, đâu trên dưới 20 tuổi mà phải chịu nằm chờ chết vỉ họ bị ung thư não. Có người bị cancer vú, mùi hôi thúi nồng nặc rất khó chịu, cần phải băng bó vết thương lại bằng những loại băng có chất than charbon activé cho đỡ hôi thúi. Họ không ngớt rên la cả đêm vì quá đau đớn và khó chịu. Họ thường năn nĩ để xin thuốc morphine để giảm đau.

Tôi thấy rất xót xa và cảm thương họ, nhưng biết làm sao bây giờ?

 Biết chừng đâu một ngày nào đó mình cũng sẽ như họ?

 Trước tình cảnh như thế, người ta tự hỏi chúng ta có nên giúp bệnh nhân chấm dứt sự đau đớn vô ích đó càng sớm càng tốt hay không? Nhưng đây chỉ là ý tưởng riêng tư của mỗi người mà thôi.

Luật pháp Canada cấm ngặt việc trợ tử.Vấn đề nầy hiện nay vẫn còn là một vấn đề tranh luận tại các xứ Tây phương!

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xem sự sống là thiêng liêng nên họ đều cấm triệt việc giúp đỡ bệnh nhân sớm kết liểu cuộc sống. Đây là một vấn đề cấm kỵ, còn đang được tranh luận.

Ngày nay chỉ có Hòa Lan, Thụy Sĩ và Bỉ mới cho phép việc trợ tử theo ý muốn của bệnh nhân.

 Vừa qua, báo chí có đề cập đến trường hợp của một người Mỹ gốc Việt rất giàu có, tài sản 100 triệu dollars nhưng chẳng may bị cancer vào giai đoạn cuối cùng, và bác sĩ nói ông ta chỉ còn sống khoảng ba tháng mà thôi. Bệnh nhân bèn trở về quê hương để được chết bên đó. Theo lời khuyên bảo cùa một thầy tử vi, ông ta xin chánh quyền Việt Nam cho phép ông được chết vào ngày giờ tốt hầu giúp cho con cháu được hưng phát sau nầy.

Biết rằng luật pháp Việt Nam cấm việc trợ tử. Không biết với tài sản kết xù của mình, bệnh nhân có thể chết theo ý muốn được không?

Tôi rất xót xa mỗi khi thấy những bệnh nhân còn quá nhỏ tuổi mà phải vô nằm trong soins palliatifs. Họ chưa hưởng được gì cả trong cuộc đời quá ngắn ngủi. Đối với các cụ lớn tuổi, 80- 90 tuổi trở lên thì dễ chấp nhận hơn vì họ đã thật sự sống cuộc đời họ rồi. Chết là sự giải thoát khỏi thân xác già nua xấu xí, khỏi bệnh tật, khỏi sự đau đớn của thể xác và tâm hồn…Các cụ đã sống quá đủ rồi.

 Theo sự quan sát của mình, tôi thấy người bệnh rất sợ chết mà thân nhân cũng rất sợ xác chết nữa. Tôi muốn nói đến trường hợp của một cụ bà người Hoa, 85 tuổi. Con gái, 65 tuổi, của cụ bà thường phàn nàn sao đêm nào mẹ mình cũng không ngớt gọi mình làm mình không ngủ nghê gì được cả. Rồi có một đêm nọ, người con gái không còn nghe tiếng mẹ mình gọi nữa. Bà ta mới hỏi tôi và tôi cho biết là bà cụ đã đi rồi trong đêm qua. Người con mới xin tôi được mang găng tay và mặc áo blouse để vào nhìn mặt mẹ lần cuối cùng. Tôi nói bà cụ là mẹ thì cần gì phải mang găng và bận áo choàng làm chi. Bà cứ việc vô đi, không sao đâu, nhưng bà ta không dám, mà chỉ đứng ngoài cửa lấp ló ngó vào và run cầm cập. Mẹ mình mà mình cũng sợ!

 Mỗi khi có người vừa mới tắt thở, bác sĩ liền được mời đến để chứng thật. Phận sự của tôi sau đó là tháo gỡ hàm răng giả của người chết ra và bỏ vào hộp. Thay bỏ quần áo cũ ra và bận vào xác chết một cái áo giấy, cuộn xác kỹ lưỡng vào một tấm nylon to. Để xác lên xe và đẩy xuống nhà xác. Thế là xong một kiếp người!

Mỗi khi có người quá vãng thì thân nhân đến viếng.

Dân Haiti thường đến rất đông, khóc la thảm thiết, kế đến là người Ý cũng khá đông.

Người mình thì ít hơn. Đôi khi cũng có gia đình rước thầy đến tụng niệm kinh vãng sanh, bằng không thì cũng để cassette hoặc CD Nam Mô A Di Đà Phật, hoặc kinh Tây Tạng.

Om maņi padme hum.

Mahājñāna cittotpāda,

 Làm việc lâu năm trong soins palliatifs, đối mặt thường xuyên với cảnh bệnh hoạn và chết chóc, tôi phải tự tạo cho mình một cái vỏ khá cứng mới có thể chịu đựng được… » NNT

 TÂM TRẠNG CỦA NGƯỜI SẮP CHẾT

 Tiếp xúc với người sắp chết là việc rất khó và rất tế nhị. Chúng ta phải biết cảm thông với người bệnh vào giai đoạn cuối đời.

Nên ghi nhớ những điều sau đây:

–          Khuyến khích họ thố lộ ra những ưu tư, ước muốn và nói lên những tình cảm sâu kín của họ.

–          Phải biết lắng nghe họ bằng đôi tai, bằng cặp mắt, và bằng cả con tim của mình và nhẹ nhàng nắm lấy tay họ.

–          Nếu họ còn nói được, cần phải nhẫn nại, nên dùng những chữ đơn giản, có thể không dùng ngôn từ mà chỉ sử dụng cử chỉ để trao đổi với người bệnh.

–          Phải biết tôn trọng bệnh nhân trong giai đoạn cuối đời. Không bao giờ nói với họ những câu như: ngày mai sẽ khá hơn, hãy mĩm cười, tất cả sẽ tốt đẹp, đừng có lo, mọi sự rồi sẽ trở nên ổn thoả hết...

–          Đôi khi người sắp chết cần phải nói lên về sự chết hay về quá khứ của họ.

–          Phải nể trọng họ và hãy lắng tai nghe họ nói.

–          Chúng ta cũng cần phải tôn trọng sự im lặng của người sắp chết.

–          Người sắp chết tuy nằm bất động nhưng họ vẫn còn nghe. Vậy tránh nói những lời không tốt đẹp hoặc đem chuyện gia đình ra gây gổ với nhau bên cạnh giường bệnh.

Người sắp chết thường phải trãi qua các tâm trạng sau đây :

  • Sự chối từ

Đây là một phản ứng tự nhiên. Họ không chấp nhận sự chẩn đoán chung quyết của bác sĩ. Họ rất lo sợ nên có phản ứng chối từ.

  • Sự giận dữ

Tại sao phải là tôi? Tại sao ngay bây giờ. Bệnh nhân cố ý không chấp nhận sự thật và trở nên hung dữ đối với tất cả mọi người.

  • Thương lượng với sự chết

«Nếu tôi có chết cũng không thể nào trước ngày đám cưới của con gái tôi được. hoặc không thể nào chết trước ngày ra đời của cháu nội tôi được»

  • Giai đoạn chán đời, trầm cảm

Bệnh nhân rơi vào trạng thái buồn rầu cực độ trước sự chết quá hiển nhiên của mình trong những ngày sắp tới. Họ phải xa lìa và bỏ lại hết tất cả những gì thân thương nhất trên cõi đời nầy.

  • Chấp nhận cái chết

Cuối cùng họ trở nên bình thản hơn và chịu chấp nhận sự ra đi của họ.

KẾT LUẬN

Chết là điểm cuối cùng trong chu trình sanh lão bệnh tử.

Chết chỉ là một việc rất tự nhiên mà thôi.

Xã hội có khuynh hướng vui mừng hân hoan trước sự nhiệm mầu của sanh sản nhưng lại khắc khe chống đối sự chết. Tại sao? Tại vì con người quá tham lam, dệt quá nhiều ước mơ và quá nhiều hy vọng chăng?

Nói theo Phật giáo, thì chúng ta vì tâm luyến ái nên cố bám víu vào cuộc sống, và vì vô minh nên không biết đó là giả tạo, không có gì là thật cả!

Cố tình không bàn đến cái chết là cố tình không muốn biết đến lực lượng đông đảo bác sĩ, y tá, y công và thiện nguyện viên ngày đêm hy sinh, không quản ngại khó khăn, sát cánh bên nhau để giúp cho các bệnh nhân cuối đời có được những giây phút thoải mái trước khi thanh thản nhắm mắt về cõi vĩnh hằng.

Con lãnh đạo ở Quảng Ngãi du học bằng tiền thuế dân rồi ‘từ từ trả nợ’

QUẢNG NGÃI, Việt Nam (NV) – Giới chức Sở Nội Vụ tỉnh Quảng Ngãi được ghi nhận đang “đau đầu” với nhiệm vụ thu hồi khoản tiền 9.9 tỷ đồng ($405,073) từ bốn “nhân tài” là con của cựu quan chức tỉnh này.

Theo báo Giao Thông hôm 17 Tháng Mười, hồi 10 năm trước, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành đề án đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ và “thu hút nhân tài.”

Sở Nội Vụ tỉnh Quảng Ngãi được giao nhiệm vụ thu hồi khoản tiền $405,073 từ các “nhân tài” là con của quan chức tỉnh này. (Hình: Zing)

Trong số này có bốn “hạt giống đỏ” là con của lãnh đạo đương chức của các sở, ban ngành của tỉnh Quảng Ngãi. Đó là bà Phạm Thị Mỹ Hạnh, con gái ông Phạm Thanh Hải, trưởng Ban Tuyên Giáo; bà Nguyễn Lê Ngọc Hà, con gái ông Nguyễn Chín, trưởng Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy; ông Phạm Thành Việt, con trai ông Phạm Tấn Hoàng, chủ tịch thành phố Quảng Ngãi; và bà Huỳnh Thị Lan Viên, con gái ông Huỳnh Chánh, giám đốc Sở Tài Chính.

Bà Phạm Thị Mỹ Hạnh du học Úc, trong lúc ba người còn lại du học Anh. Chi phí tổng cộng cho bốn người là 9.9 tỷ đồng.

Năm 2017, cả bốn người nêu trên đều lấy được bằng thạc sĩ và về nước. Thế nhưng, chỉ có bà Nguyễn Lê Ngọc Hà đến nhận việc tại Sở Tài Chính tỉnh Quảng Ngãi, trong lúc ba người còn lại “cao chạy xa bay.” Tuy nhiên sau thời gian ngắn công tác tại Sở Tài Chính, bà Hà cũng nghỉ việc.

Do vậy, năm 2019, Sở Nội Vụ tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu bốn người nêu trên phải trả lại tiền trong vòng hai năm, được chia thành 10 lần, mỗi lần nộp tối thiểu một phần mười tổng kinh phí phải hoàn trả.

Cho đến năm ngoái, nhóm này chỉ mới trả góp được 2.8 tỷ đồng ($114,566), tức chưa được một phần ba số tiền ban đầu đã chi cho họ.

Huỳnh Thị Lan Viên được học bổng từ tiền thuế dân du học ở Anh nhờ là con gái ông Huỳnh Chánh, giám đốc Sở Tài Chính tỉnh Quảng Ngãi. (Hình: Người Lao Động)

Theo ghi nhận của báo Giao Thông, hiện chưa rõ nhóm bốn người đó có tiếp tục trả nợ hay không.

“Theo tôi biết thì có một số trường hợp đã hoàn trả xong, một số chưa. Nhưng từ năm 2021 đến giờ không thấy ‘đụng đậy’ gì nên không biết ra sao,” một giới chức không được nêu danh tính của Sở Tài Chính tỉnh Quảng Ngãi cho hay. (N.H.K) [qd]

NGHỊCH LÝ ĐỜI TU!

NGHỊCH LÝ ĐỜI TU!

 Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Nhìn từ bên ngoài, người ta luôn thấy đời tu rất đẹp, hệt như một Thiên Đường tại thế. Suốt ngày cất cao giọng hát ngợi khen Chúa, vui vẻ với những công việc tầm thường như việc cắt cỏ, trồng rau, không một chút bon chen với cuộc đời, không phải lắng lo chuyện gia đình, con cái, không ganh đua với danh vọng cao sang. Nhìn những vị tu sĩ cao niên đắc đạo, miệng lúc nào cũng nở những nụ cười tươi, không quần áo sang trọng, không vàng bạc trữ kho, nhưng tâm hồn lúc nào cũng bình yên thư thái, lối hành xử luôn chậm rãi khoan thai, không hờn ai, không trách cứ, đó quả thực là điều nhiều người ước mong. Rồi những tấm gương hy sinh cả một đời giúp đỡ những người cơ nhỡ, người nghèo, hay những ai bị cuộc đời ruồng rẫy, họ làm việc như thể đó là niềm vui, cho đi mà chẳng mong gì đền đáp, bao lụy phiền của nhân tình thế thái chẳng thể bám víu trái tim họ. Đời tu quả là tươi đẹp, là dấu chỉ của Nước Chúa hiện diện ở trần gian.

Thế nhưng, chỉ có những ai sống trong đời tu mới có thể hiểu rõ được sống đời tu thật không dễ tí nào. Để có thể trở nên một cây cổ thụ sừng sững uy phong, nó đã phải trải qua không ít những gian nan thử thách. Cây nào chịu đựng được thì lớn lên; cây nào không đủ sức thì gục ngã. Đời tu tuy đẹp đấy, nhưng để có thể sống trọn vẹn lý tưởng này, chẳng con người nào có thể tự sức mình mà sống được. Ấy là bởi vì sống đời tu là sống giữa nghịch lý vô cùng căng thẳng của kiếp người.

Người đi tu là người sống giữa thế gian nhưng không được để mình bị thế gian đụng đến. Họ người có đôi chân chạm đất nhưng đầu thì hướng thẳng về trời cao. Họ phải sống trong cuộc đời nhưng lại bị xem là người ở cõi khác. Họ chọn đời hiến dâng không phải để trốn đời, hận đời, nhưng là để vào đời và yêu mến đời nhiều hơn. Người đi tu cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp như ai kia, nhưng phải chọn lấy cho mình phần kém nhất. Họ phải trải rộng tình thương của mình cho người khác, nhưng lại không được để một người nào đó được phép yêu mình. Họ phải yêu người nhưng không được giữ lại riêng cho mình một ai. Họ yêu nhưng không được nắm giữ.

Ai cũng mong muốn mình có một bến đỗ dừng chân, nơi một mái ấm nhỏ, có tiếng cười của con thơ. Nhưng người đi tu thì phải vượt trên mong muốn ấy. Họ có đôi bàn chân không bao giờ ngừng bước. Họ như ngọn gió ngao du khắp núi rừng, băng qua biển khơi. Chẳng nơi đâu là nhà nhưng cũng chẳng nơi đâu là xa lạ. Nơi họ đặt chân đến là quê hương, là cuộc sống của họ… Họ không được đậu neo ở điểm dừng nào, không được để lòng lưu luyến ai hay bất cứ nơi đâu, nhưng phải thanh thoát và tự do với mọi sự. Nơi con tim của người đi tu chất chứa đầy những tâm tư sâu kín. Họ có yêu ai không, không ai biết; họ có ghét ai không, chẳng ai hay; họ có nóng giận, buồn phiền với ai không, không ai tỏ. Dù bên trong có thế nào, điều mà họ thể hiện ra bên ngoài phải là niềm hạnh phúc, phải là niềm vui, phải là dấu chỉ của Nước Trời.

Đó là lý tưởng đẹp, nhưng cũng là điều không phải dễ mà sống được. Sống giữa căng thẳng luôn làm người ta như muốn xé nát con người mình làm đôi. Làm sao giữa dòng đời vạn biến, tâm mình vẫn không động, vẫn yên vui? Làm sao giữa một thế giới đang hô hào chuyện hưởng thụ vật chất, sống trụy lạc và tự do cá nhân, mình lại chủ trương chọn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục người khác? Có những tu sĩ đã vì những xu hướng và thúc bách cá nhân đưa đẩy, lại thiếu đi sự kết hiệp với Chúa nên đã dần dần đánh mất đi lý tưởng tuyệt vời và cao quý của đời tu.

Trong giờ phút này, chúng ta hãy dành ít phút cầu nguyện cho những vị tu sĩ ấy:

Trước hết, chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai đang đứng trước chọn lựa giữa đời tu và đời sống bình thường. Xin cho họ được ơn soi sáng để có thể bình tâm chọn lựa điều nào hợp với thánh ý Chúa cho cuộc đời mình.

Chúng ta cũng xin Chúa đến kề bên và nâng đỡ những tu sĩ nào đang bị ngả nghiêng theo cơn gió cuộc đời. Xin cho họ biết chạy đến với Chúa khi tâm hồn có chút gợn sóng nhân gian để được ủi an và thêm sức, chứ đừng tìm bù trừ nơi những niềm vui thế tục, nơi những vật chất, tiện nghi. Xin Chúa giúp cho các tu sĩ biết tìm hạnh phúc nơi những hy sinh và thập giá, chứ không phải nơi bạc tiền và danh vọng.

Xin cho các tu sĩ nhận ra rằng biết bao linh hồn đang cần họ đi tới và chia sẻ; có rất nhiều người đang nhìn đến đời sống phục vụ vô vị lợi của họ mà thầm tạ ơn Chúa và nhờ đó có thêm nghị lực đứng lên làm lại cuộc đời. Xin cho họ đừng vì ích kỷ cá nhân và quên đi lời gọi mời cao quý Chúa đã dành cho họ.

Xin cho các tu sĩ, mỗi ngày nên giống Đức Giêsu Kitô vác thập giá – mẫu gương đời sống dâng hiến của họ hơn.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

 

NHẪN

NHẪN

Người biết nhẫn là người hoà hiệp

Sống bình tâm ăn nói cũng nhẹ nhàng

Họ luôn luôn thanh thản trước nguy nan

Và lịch sự lẹ làng ngoài xã hội

Người biết nhẫn làm trọng tài lúc rối

Chẳng giận hờn trách móc kẻ chung quanh

Nét căm thù không bộc lộ phát nhanh

Nói hoà nhã vui cùng niềm vui bè bạn

Người biết nhẫn sống hài hòa bình thản

Biến những lời gay gắt trở thành không

Biết can ngăn khi sự việc nổ phồng

Hoá giận dữ hoà đồng cho vui vẻ

Người biết nhẫn không bao giờ chia rẽ

Đưa bạn bè xích lại sát gần nhau

Chỉ cho nhau sai trái buổi ban đầu

Hay an ủi vỗ về người lầm lỗi

Người biết nhẫn trong cuộc chơi mở lối

Với tấm lòng hàn gắn kịp can ngăn

Sống hiếu đời, hoà giải mọi lỗi lầm

Để tình bạn đời đời thêm gắn bó

Người biết nhẫn là người không thách đố

Mọi ưu phiền giải tỏa biến thành vui

Đem tấm lòng rộng mở với mọi người

Không chèn ép biết hoà mình chung cảnh ngộ …!

Anh chi Thụ Mai gởi

Ukraina sẽ chiến thắng một ngày không xa

Ukraina sẽ chiến thắng một ngày không xa

Nguyễn Đức Thành

19-10-2022

Ảnh: Tác giả chụp cùng bà Nataliya đại biện Ukraine tại Việt Nam

Chiều hôm nay, tôi tới thăm Nataliya tại Đại sứ quán Ukraina tại Hà Nội. Chúng tôi quen nhau, đầu tiên là qua các sự kiện trên mạng xã hội, từ sau khi cuộc chiến phi nghĩa của Nga nổ ra trước sự bàng hoàng của nhân loại. Khi đó tôi vẫn đang ở Mỹ, và không đêm nào ngủ trọn giấc từ sau ngày 24/2/2022.

Nataliya là Tham biện của Ukraina tại Việt Nam (Nôm na là Phó Đại sứ). Cô là người Ukraina gốc Nga, lớn lên trong những ngày gian khó trước khi Liên Xô sụp đổ, trưởng thành trong lĩnh vực ngoại giao của đất nước Ukraina non trẻ, rồi có một thời gian học tiếng ở Việt Nam trước khi nhận một vị trí tại Đại sứ quán. Cô đã chứng kiến giai đoạn vươn lên mạnh mẽ của nước Việt Nam trong kinh tế thị trường, hội nhập và năng động. Cô đã rất yêu Việt Nam và muốn gắn bó lâu dài với xứ sở.

Ảnh: FB tác giả

Khi cuộc chiến nổ ra, Cô đã làm hết sức mình để lên án cuộc chiến phi nghĩa vô nhân tính của Putin, đưa thông tin cập nhật tới nhân dân Việt Nam. Tôi đã rất ấn tượng khi gặp Nataliya trong một cuộc hội thảo online, khi người phụ nữ của đất nước bị xé nát vì chiến tranh, đôn đáo tìm kiếm sự ủng hộ cho quê hương. Tiếc thay, nhiều người Việt Nam đã hiểu rất sai về cuộc chiến phi nghĩa này, lại biện minh cho nó bằng một thái độ ngây thơ tàn nhẫn.

Qua trao đổi từ xa, tôi đề xuất với Nataliya nên tổ chức một cuộc triển lãm tranh của các họa sĩ Việt Nam về chủ đề Ukraina, nơi họ được bộc lộ cảm xúc và quan điểm của họ qua tác phẩm của mình, đồng thời bán đấu giá những tác phẩm ấy để giúp nhân dân Ukraina trong cảnh chiến tranh. Cô đồng ý ngay, chỉ không biết là phải làm thế nào. Rất may là nghệ sĩ Trần Lương đã nhận lời làm curator cho cuộc triển lãm này. Với uy tín to lớn của anh, nghệ sĩ Trần Lương nhanh chóng tập hợp được các nghệ sĩ tài năng và nhiệt huyết. Cuộc triển lãm, lấy tên PEACE FOR UKRAINA, đã rất thành công nhờ sự đóng góp hào phóng của các nghệ sĩ và nhóm của Trần Lương. Số tiền quyên góp được từ việc bán tranh đã được chuyển thẳng về cho Chính phủ Ukraina.

Hôm nay tôi đến thăm Nataliya vào một buổi chiều Thu Hà Nội gió heo may, Cô trao cho tôi lá thư cảm ơn của Đại sứ Ukraina tại Việt Nam, được viết theo lối thư pháp cổ xưa của người Cossark, do một nghệ nhân tại Ukraina thực hiện. Bà là người hiếm hoi vẫn lưu giữ được những nguyên tắc cổ xưa của một nghệ thuật gần như đã thất truyền. Đây là loại chữ thảo được sử dụng trong các văn bản hành chính và quân sự ở Zaporizhia, miền Nam Ukraina, quê hương của những người Cossark, từ cuối thế kỷ XVI. Phong cách hùng tráng của thư pháp, như lưỡi kiếm của người chiến binh vút lên giữa nền nhạc của đàn bundura trong ngọn lửa bập bùng giữa thảo nguyên, đồng thời đậm nét kiêu hãnh của nghệ thuật Baroque.

Ảnh: FB tác giả

Cả Nataliya và tôi cùng tin tưởng chắc chắn rằng Ukraina sẽ chiến thắng một ngày không xa, đất nước thanh bình lại nở hoa!!! Ngày ấy sẽ sớm tới thôi, và tôi sẽ đi thăm đất nước tươi đẹp anh hùng ấy!

Hỏa ngục là gì? – Cha Vương

Hỏa ngục là gì? – Cha Vương

Nguyện xin Thiên Chúa ở bên cạnh bạn và gia đình hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 19/10/2022

GIÁO LÝ: Hỏa ngục là gì? Hỏa ngục là tình trạng xa lìa đời đời với Thiên Chúa, thiếu vắng tình yêu cách tuyệt đối. (YouCat, số 161)

SUY NIỆM: Ai chết trong tình trạng đã phạm tội nặng do biết rõ và cố tình mà không ăn năn hối cải, ai từ bỏ đến muôn đời tình yêu hay thương xót và tha thứ của Thiên Chúa, người đó tự loại bỏ mình ra khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và các Thánh. Có thể có ai lúc chết được nhìn ngắm tình yêu tuyệt đối ở trước mặt mà cứ nhất định bỏ không? Ta không biết. Nhưng vì ta có tự do, nên có thể có. Chúa Giêsu luôn ngăn ngừa chúng ta đừng có dứt khoát chia ly với Chúa bằng cách không quan tâm gì đến những khốn khổ của anh chị em chúng ta. Chúa nói với mọi người ở bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời… vì xưa Ta đói các ngươi đã không cho ăn… Ta bảo thật mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé mọn nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (Mt 25, 41.45). (YouCat, số 161 t.t.)

❦ Kẻ không yêu thương thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân. Và anh em biết không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong mình nó. (Ga 3,14-15)

❦ Tôi tự hỏi: “Hỏa ngục là gì?”. Tôi quả quyết rằng: là không thể yêu thương được. (Fedor Dostoievski, 1821– 1881, văn sĩ Nga)

LẮNG NGHE: Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. (Mc 9,43)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi ngày Chúa ban cho con là một cơ hội để chọn lựa Thiên đàng hay hoả ngục. Chúa muốn tất cả mọi người được hưởng hạnh phút Thiên đàng nhưng Chúa lại ban cho con tự do để chọn lựa, xin cho con biết luôn dứt khoát chọn Chúa và Thiên đàng bằng cuộc sống thánh thiện, bác ái yêu thương trong xã hội hôm nay. 

THỰC HÀNH:  Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo số 1035 có viết: “linh hồn của những người chết trong tình trạng đang có tội trọng, sẽ lập tức xuống hỏa ngục, lửa vĩnh viễn.” Bạn nghĩ gì về lời dạy này? Hãy tìm một giải pháp cho mình để khỏi bị vào hoả ngục nhé.

From: Đỗ Dzũng

Đức tính ân cần của người Sài Gòn 

 

Đức tính ân cần của người Sài Gòn 

Tác giả: Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Buổi sáng nọ, nơi góc đổ rác chung của cả khu nhà tự dưng xuất hiện một đôi giày cũ còn khá tốt. Giày được đặt trong một cái hộp với tờ

giấy ghi chú, nét chữ nắn nót “đồ còn tốt, ai cần xin cứ tự nhiên”. 

Ở mấy nước tư bản, việc đem bỏ đi đồ dùng còn xài tốt không lạ, nhưng cách nhường lại cho người khác sử dụng với tất cả sự ân cần là một cung cách đáng ngưỡng mộ. Đôi giày cũ khi đặt vào hộp, gửi tặng mơ hồ vào cõi nhân gian, được chủ nhân ân cần đi đánh xi lại, mới và đẹp, ai nhìn cũng thú vị.

Vậy mà mấy ngày sau mới có anh Mễ làm nghề đổ rác đến lấy, rồi để lại chữ “cám ơn”. Đôi giày nằm liên tục mấy ngày ở đấy, vì những người trong khu nhà không ai muốn giành lấy phần của người có thể khó khăn hơn mình.

Thỉnh thoảng thấy trong đời có sự ân cần làm lay động, lại chợt nhớ Sài Gòn với tất cả không gian từng rất ân cần của nó, một không gian mà giờ đây nhắc lại như một thứ của quý đang mất dần, phai dần, dư niệm của nhiều thế hệ.

Sài Gòn ân cần trong trí nhớ đơn giản lạ. Đôi khi chỉ là chuyện người qua đường trú mưa được chủ nhà mời vào ngồi vì sợ kẻ lạ bị ướt. Đôi khi vì một thùng trà đá để trước cửa để giúp bá tánh lỡ đường giải khát trưa hè. Có đi đến tận những thành phố, hỏi đường đi bị tính tiền, mới biết Sài Gòn đã từng ân cần thế nào. Sài Gòn ân cần và vô tư đến mức từng thấy người say nắng ngất xỉu bên đường, không ai biết ai cứ xúm vô cạo gió, lấy thuốc cho uống để giúp khách qua đường có sức đi tiếp.

Mới hôm rồi, may mắn đọc được một câu chuyện của người Sài Gòn mà lòng mát dịu. Lại thấy thương người đất miền Nam không quen nói trôi chữ, chỉ có tấm lòng.

Một anh trên facebook kể rằng anh đi làm thêm kiếm tiền đi học, chạy bàn rửa chén cho một đôi vợ chồng ở Sài Gòn. Một hôm lỡ tay làm bể hết nguyên chồng tô dĩa, anh luýnh quýnh không biết làm sao thì bất chợt bà chủ chạy vô nhìn thấy.

Bà sững người, chưa kịp la đã dặn: “Nếu chồng cô có xuống thấy thì nói tại cô làm bể, chứ không ổng chửi chết!”.

Vừa quay lưng thì ông chủ chạy từ trên lầu xuống, nhìn đống tô dĩa nát bấy mà thất thần, rồi dặn: “Nếu vợ chú vô hỏi, thì nói chú làm bể nghe, chứ không bả chửi chết!”.

Người làm công đó mang kỷ niệm ngọt ngào và xúc động đó kể lại trên nhật ký của mình, làm không biết bao người đọc rưng rưng, trìu mến.

Sự ân cần là cách mà con người thấu hiểu đời sống, đối đãi bằng lòng chân thành của mình. Bước đi vài dặm trong một đất nước, có thể thấy sự ân cần cho con người đang ở mức nào.

Việt Nam hôm nay có những thành phố lớn hơn, con người cao sang hơn, đại lộ đi bộ to rộng hơn… nhưng sự xua đuổi người nghèo khó cũng quyết liệt hơn. Sự ân cần như chỉ còn trú ngụ loanh quanh với giai cấp dưới, ở những thị dân ít học được thói cao sang.

Nhiều cao ốc được dựng lên, nhưng không mấy cái có lối đi của người khuyết tật. Nhà vệ sinh công cộng phải xây đắt tiền như tượng đài, nhưng hầu như không có cái nào dành cho phụ nữ có thai hay cho người già yếu.

Trong sự rực rỡ của đất nước này hôm nay, đã nhàn nhạt sự ân cần của người với người. Sự chói lọi chỉ số phát triển vẫn kèm theo khoảng tối đen mù lòa sau lưng nó.

NHÀN RỖI NỘI TÂM

NHÀN RỖI NỘI TÂM

Thứ Tư Tuần XXIX – Mùa Thường Niên

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chủ sẽ về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết!”.

Đức Cha Fulton Sheen thường trích dẫn, “Trong đời sống tâm linh, không có bình nguyên hay cao nguyên; đơn giản, ở đó, chỉ toàn dốc! Bạn đang lên dốc hoặc xuống dốc; ở đó, không có thời gian cho sự ‘nhàn rỗi nội tâm!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Sẽ rất thú vị khi chúng ta gặp lại ý trưởng của Đức Cha Fulton Sheen qua Lời Chúa hôm nay. Chúa Giêsu không chỉ nói đến mối ‘bận tâm’ của một người quản lý là trung thành và cẩn trọng, nghĩa là không chỉ tránh một lối sống ‘văn hoá nhàn rỗi’, nhưng còn nói đến một tình trạng tác hại nghiêm trọng hơn mà người quản lý phải tuyệt đối tránh, một sự ‘nhàn rỗi nội tâm!’.

“Chủ sẽ về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết!”. Thiên Chúa, Đấng còn có một cái tên khác, ‘Thường Xuyên Vắng Mặt’, cũng là Đấng thường đến vào những lúc con người ít mong đợi nhất. Vì thế, để có thể gặp Ngài, sống với Ngài, chúng ta phải tập sống nhiệm hiệp hay cầu nguyện. Cầu nguyện là sự chờ đợi của linh hồn. Thánh Augustinô từng nói, “Tôi sợ Chúa đi qua và tôi không nhận ra”. Như thế, ngủ hay thức không quan trọng; quan trọng là sống với Chúa thường xuyên; nói cách khác, không bao giờ sống trong trạng thái ‘nhàn rỗi nội tâm’. Một người ‘nhàn rỗi nội tâm’ sẽ không nhận ra Chúa đang đi qua; người ấy sống như thể không có Chúa vốn là Chủ; hoặc họ nghĩ, mình là chủ. Đang khi kế hoạch của Chúa thì khá đơn giản; Ngài chỉ cần các chúng ta trung thành và cẩn trọng! Trung thành, bạn và tôi ý thức mình là tôi tớ, không tìm cách áp đặt tầm nhìn hay ước muốn của mình lên ý muốn của Chủ; và nhất là làm sao ý chí của chúng ta đạt đến mức đồng hoá với ý muốn của Chủ. Cẩn trọng, chúng ta biết cách điều chỉnh lối nhìn và thích ứng nó với vô số hoàn cảnh. Tắt một lời, tìm cách áp dụng cho mình phương châm, “Chúa Giêsu sẽ làm gì” trong hoàn cảnh của tôi?

Trong thư Êphêsô hôm nay, Phaolô ví mình như một tôi tớ, “Tôi đã được nên người phục vụ Tin Mừng, do ân huệ Thiên Chúa đã ban”. Gọi việc “phục vụ Tin Mừng” là “ân huệ Thiên Chúa ban”, Phaolô ý thức hồng ân được gọi. Vì thế, sẽ thật ngơ khờ khi chối từ bất cứ một trách nhiệm nào mà Chủ đã tin tưởng trao ban. Thiếu trách nhiệm, một tôi tớ sẽ nảy sinh ham muốn và lạm quyền; sự “trì hoãn” của Chủ, bấy giờ, mang lại cho anh ta một cảm giác an toàn giả tạo. Nếu không có sự quan sát của Chủ, niềm kiêu hãnh của anh sẽ mất kiểm soát. Tuy nhiên, Chủ nhất định phải trở lại, và cuối cùng, người ấy phải nếm trải quả đắng từ sự kiêu ngạo của mình. Thiên Chúa mời gọi chúng ta nhận thức rõ hơn về sự hiện diện thường xuyên của Ngài. Sự vắng mặt và chậm trễ của Chúa là điều đương nhiên, nhưng Ngài vẫn hiện diện đầy tràn cho những ai sống trung thực và có trách nhiệm. Ân sủng Ngài luôn dẫy đầy cho những ai sống nhiệm hiệp; bấy giờ, “Các bạn sẽ vui mừng múc nước tận nguồn ơn cứu độ”, Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm! Bởi lẽ, không bao giờ họ có cho mình những khoảnh khắc ‘nhàn rỗi nội tâm’.

Anh Chị em,

“Chủ sẽ về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết!”. Chúa Giêsu là kiểu mẫu tỉnh thức tuyệt vời; Ngài từng nói, “Của ăn của Tôi là làm theo ý Đấng đã sai Tôi”. Tìm và làm theo ý Cha là một tình trạng thường xuyên nơi Chúa Giêsu; nơi Ngài, không bao giờ có sự ‘nhàn rỗi nội tâm’, mặc dầu điều đó không loại trừ Ngài có những giây phút nghỉ ngơi, vui đùa với các trẻ nhỏ hay với các môn đệ. Hy vọng rằng, chúng ta sẽ không là những quản lý tồi, “say sưa, đánh đập tôi trai tớ gái”; nhưng là những quản lý chăm sóc tốt những ai được giao cho mình. Tuy nhiên, đôi khi trách nhiệm có vẻ nặng hơn là những gì chúng ta mong đợi. Đang khi người quản lý tồi tận hưởng những đam mê, thì người quản lý tốt có nguy cơ mệt mỏi và thiếu kiên nhẫn. Đừng sợ! “Hãy đến với Tôi, tất cả những ai mang gánh nặng nề, Tôi sẽ bổ sức cho!”. Hãy để Ngài bổ sức; từ đó, học cách gạt bỏ những phiền toái nhỏ nhặt sang một bên; thay vào đó, trung thành chăm sóc những ai Chúa trao trong sức mạnh và ân sủng mà Ngài sẵn sàng đổ xuống.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xuống dốc thì dễ chịu hơn lên dốc; xin đỡ nâng con. Cho con xác tín rằng, ‘nhàn rỗi nội tâm’ của con chắc chắn có và chỉ có, vào một ngày kia, khi con ở với Chúa trên trời!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Kim Bang Nguyen