NỘI CHIẾN NAM – BẮC MỸ VÀ NÚI ĐÁ STONE MOUNTAIN

Nghệ Lâm Hồng

HẬN THÙ CÓ VĂN HOÁ DÙ CÁCH ĐÂY GẦN HAI TRĂM NĂM

NỘI CHIẾN NAM – BẮC MỸ VÀ NÚI ĐÁ STONE MOUNTAIN

Tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, trên vách núi có khắc tượng của tướng Lee, vị chỉ huy bại trận của miền Nam trong cuộc Nội Chiến Bắc-Nam (Civil War) của Mỹ. Atlanta là thủ đô của quân miền nam. Hiện nay lá cờ của quán miền nam nền đỏ với chữ X màu xanh dương vẫn bay phấp phới tại đây. Cuộc Nội Chiến này đã khiễn nữ văn sĩ Margaret Michell viết nên tác phẩm bất hủ là “Gone with the wind’ thường được dịch là “Cuốn Theo Chiều Gió”, đồng thời nó được chuyển thể thành phim.

Nước Mỹ vĩ đại vì họ có những con người vĩ đại và cách thức họ kết thúc một cuộc nội chiến cũng rất đáng khâm phục.

Câu chuyện tại làng Appomattox.

Cách đây đúng 153 năm, Tướng Robert E Lee của quân đội miền Nam đầu hàng Tướng Ulysses Grant của quân đội miền Bắc, đánh dấu kết thúc cuộc nội chiến Hoa Kỳ đã làm hơn 7 trăm ngàn người thiệt mạng. Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam Bắc là vì cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống Lincoln chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chống lại chủ trương này.

Cuộc chiến Nam Bắc của Mỹ thường được nhắc tới qua những trận đánh đẫm máu giữa quân đội của hai phe: quân miền Bắc do tướng Ulysses Simpson Grant chỉ huy và quân miền Nam do tướng Robert Edward Lee cầm đầu. Tuy tướng Lee đã nhiều lần tấn công và gây tổn thất khá nặng cho đội quân của tướng Grant nhưng quân miền Bắc được sự hỗ trợ to lớn từ ngân sách liên bang và chiêu mộ được thêm nhiều quân số từ những người nô lệ da đen vừa được giải phóng nên cuối cùng quân miền Nam của tướng Lee phải chấp nhận thua trận.

Đã có những lời khuyên tướng Lee nên chia nhỏ quân của mình ra và tiến hành đánh du kích nhưng tướng Lee đã nói: nếu cứ tiếp tục chiến tranh gây bao chết chóc thì tội của tôi đáng chết gấp ngàn lần. Ông đã nhắn cho tướng Grant là ông chuẩn bị đầu hàng. Tướng Grant nhắn lại, đề nghị tướng Lee chọn địa điểm bàn thảo việc qui hàng. Và căn nhà của một người buôn bán tên là Wilmer Mc. Lean tại làng Appomattox đã được chọn. Ngày nay ngôi nhà này trở thành di tích lịch sử quốc gia, và được gọi là Appomattox Court House.

Đến ngày hẹn, tướng Lee bận một bộ lễ phục mới tinh và đeo kiếm, còn tướng Grant xuất hiện muộn hơn trong bộ đồ tác chiến thường ngày còn dính bùn đất hành quân. Hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về những kỷ niệm quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mexico. Câu chuyện lâu đến nỗi tướng Lee sốt ruột, chủ động đề cập đến “mục đích buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay là bàn về việc đầu hàng”. Tướng Grant bèn lấy cây bút chì và tờ giấy viết vội những điều khoản và trao cho tướng Lee, trong đó có những nội dung nói về binh lính miền Nam:

  1. Không bị coi là phản quốc và không phải ở tù.
  2. Chính phủ coi binh lính miền Nam là những công dân bình thường nếu họ chấp hành tốt luật lệ.
  3. Được mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình cày cấy vào mùa xuân.

Sau khi xem qua những điều tướng Grant vừa viết, tướng Lee nói: “Những điều này sẽ có tác động tốt đến quân sĩ của tôi. Chúng sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc chúng ta.” Tướng Lee cho biết ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không có đủ lương thực cho họ. Tướng Grant đáp lại rằng ông sẽ gửi ngay cho binh lính miền Nam 25.000 phần lương thực khô. Ông cũng ra lệnh cho in 28.231 giấy phóng thích cho binh lính miền Nam.

Khi tin phe miền Nam đầu hàng bay đến doanh trại, quân miền Bắc định bắn đại pháo chào mừng. Tướng Grant ra lệnh ngưng ngay lập tức các hoạt động ăn mừng. Ông nói với các sĩ quan dưới quyền: “Chiến tranh đã kết thúc. Giờ đây họ đã là đồng bào của chúng ta”. Ông cho rằng hai bên không còn là kẻ thù, và cách tốt đẹp nhất để bày tỏ niềm vui của miền Bắc là không vui mừng trước thất bại của miền Nam.

Ngày 12 tháng 4 năm 1865, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng Appomattox để giao nộp vũ khí. Tướng Joshua L.Chamberlain của miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ qui hàng. Trước hàng quân miền Bắc nghiêm chỉnh, ông nhìn những binh sĩ miền Nam bại trận đi vào làng với cảm xúc dâng trào. Sau này ông viết lại: “Giây phút đó làm tôi thực sự xúc động. Tôi quyết định đánh dấu sự kiện này bằng một hành động, không gì khác hơn là giơ tay chào kiểu nhà binh. Tôi biết có người sẽ chỉ trích tôi về cử chỉ này. Tôi đã không xin phép và cũng không yêu cầu sự tha thứ về hành động này. Đối diện với chúng tôi là những chiến binh, bại trận nhưng can trường, là biểu tượng cho tinh thần trượng phu, không rã rời, không đau khổ, bất chấp hy sinh và không có gì khuất phục được họ. Giờ đây, họ là những người ốm yếu và đói khát, nhưng họ hiên ngang nhìn thẳng vào chúng tôi, làm sống dậy những ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn bao giờ hết. Không có lý do gì để những đấng nam nhi ấy không được hội nhập vào Hợp Chủng Quốc vững vàng của chúng ta.”

Sau đó tất cả hàng ngũ quân miền Bắc thắng trận từ đơn vị này đến đơn vị khác đều nghiêm chỉnh giơ tay chào kiểu nhà binh. Vị tướng dẫn đầu đoàn quân miền Nam đầu cúi xuống trong buồn bã, chợt nhận ra và ngồi thẳng lại trên lưng ngựa, giơ tay chào đáp lễ. Ông ra lệnh cho các đơn vị theo sau tuân theo nghi lễ quân sự khi đi ngang qua đoàn quân miền Bắc. Không có kèn thắng trận, không có tiếng trống, tiếng hô, tiếng reo hò mừng chiến thắng, không một lời nói hay tiếng xì xầm… Một sự im lặng đến nghẹt thở.

Từ sáng sớm đến chiều tối, những người lính miền Nam đều giơ tay chào khi đi ngang qua hàng quân miền Bắc cũng đang giơ tay chào. Họ giao nộp vũ khí, những lá cờ trận rách tơi tả của miền Nam và trở về quê. Gần 100.000 quân miền Nam đã qui hàng ở làng Appomattox. Vài ngày sau tất cả rời khỏi nơi này, ngôi làng trở lại cuộc sống bình thường.

Hàng năm, có khoảng 110.000 du khách đến thăm ngôi làng này. Các du khách đến đây để tìm nguồn cảm hứng, và câu chuyện các du khách muốn nghe không phải là trận đánh cuối cùng mà là sự hòa hợp của quốc gia và những điều khoản rộng rãi do tướng Grant đưa ra.

Ông Ron Wilson, sử gia của Appomattox Court House nói: “Tướng Grant và tướng Lee có một tầm nhìn rất xa. Hai ông nhận thức rằng những nỗ lực hai bên cùng dồn vào cho cuộc chiến đã gây ra sự phân hóa khắc nghiệt trong bao năm qua, giờ đây cần phải được dùng để tái thiết quốc gia. Không cần phải có hận thù.”

Tướng Lee và tướng Grant đã đi vào lịch sử như những huyền thoại. Nhưng đằng sau câu chuyện ở làng Appomattox là bàn tay đạo diễn của Tổng thống Abraham Lincoln, lẽ đương nhiên cũng là một nhân vật huyền thoại. Ông thường nói rằng ông mong muốn cuộc chiến kết thúc trong sự khoan dung. Ông Ron Wilson nói rằng Tổng thống Lincoln và tướng Grant đã gặp nhau hai tuần trước đó trên chiến hạm River Queen ở sông James. Họ đã thảo luận rất lâu về hình thức kết thúc chiến tranh và những xáo trộn có thể xảy ra trong thời kỳ hậu chiến. Tổng thống Lincoln đã nói với tướng Grant: “Hãy để họ buông súng một cách thoải mái”.

(Sau chiến tranh, ngày 14/4/1865 tổng thống Lincoln bị ám sát, tướng Lee trở thành Viện trưởng của Đại học Washington, tướng Grant được bầu làm Tổng thống Mỹ hai nhiệm kỳ 1869-1877).

Nguồn: Đa Minh Việt Nam

Phỏng theo Mercy at Appomattox (William Zinsser) – Reader’s Digest

FB Hien Huynh Thanh

Việt Nam ngày 30/4, bận bịu với quá khứ và chưa biết phải làm gì với hiện tại

Việt Nam ngày 30/4, bận bịu với quá khứ và chưa biết phải làm gì với hiện tại

Bởi  AdminTD

 Jackhammer Nguyễn

2-5-2022

San Jose, California, Hoa Kỳ

Buổi lễ kỷ niệm 30/4 diễn ra trước bảo tàng Viet Museum, San Jose, California, hay còn gọi là Bảo tàng Thuyền nhân Việt Nam.

Người ta thả bảy quả bong bóng màu vàng tượng trưng cho 7 vị sĩ quan cấp tướng và tá của quân đội Việt Nam Cộng hòa tự sát trong ngày 30/4/1975, không để bị quân đội cộng sản cầm tù.

Buổi lễ năm nay có một gương mặt còn trẻ của cộng đồng, là thiếu tướng Lương Xuân Việt, một trong những người được vinh dự cầm một trong bảy quả bóng, tượng trưng cho bảy vị tuẫn tiết. Ông Việt là người gốc Việt đầu tiên được phong tướng trong quân đội Mỹ.

Những người như ông Việt không nhiều. Cũng như những buổi tập hợp mang tính chính trị của cộng đồng người Việt ở Mỹ trong 10 năm trở lại đây, người ta thấy những mái đầu bạc ngày càng nhiều, rồi những hàng ghế cũng trống đi, mà không có mấy mái đầu xanh thế chỗ.

Các diễn từ thì không thay đổi, vẫn nhắc lại ngày đau buồn của Sài Gòn sụp đổ, cùng với thảm trạng tù cải tạo, thuyền nhân sau đó. Tôi cảm thấy như đang đi trên một con tàu xuyên ngược thời gian, và hóa thạch lại ở một điểm dừng cách đây bốn thập niên. Hai lá cờ Việt Nam Cộng hòa và Mỹ bay phần phật trong nắng gió California, phía sau lưng tôi là một cụ bà lưng đã còng, chắp tay theo nghi thức Phật giáo, hướng mắt về lá cờ, nước mắt lưng tròng.

Cách đây mấy năm, một người bạn vong niên nói với tôi rằng: Chúng ta đang chết (nguyên văn: We are dying).

Bên ngoài công viên của nhà bảo tàng, “chúng ta không đang chết” chút nào cả. Các tiệm ăn, quán xá dọc hai con đường Story và Tully, được xem như trung tâm của khu Việt Nam ở San Jose, tấp nập thực khách, ngoài đường xe kẹt hàng đoàn dài…

Hơn 100 ngàn người gốc Việt ở San Jose vẫn tạo nên cái không khí nhộn nhịp đó như mọi ngày. Hơn 100 ngàn người gốc Việt đó đủ sức kéo các quan chức hàng đầu của địa phương đến dự lễ 30/4, từ ông thị trưởng Sam Liccardo cho đến dân biểu liên bang Ro Khanna (tôi có nghe xướng tên ông này, nhưng không thấy ông), đều có mặt tại nhà bảo tàng, cầm bong bóng tưởng niệm các vị tướng Việt Nam.

Việt Nam

Sau buổi lễ ở San Jose, tôi về nhà giở các trang báo Việt Nam trong nước ra, xem họ nói gì về ngày 30/4. Trên các tờ báo nhiều người xem nhất Việt Nam hiện nay, như Tuổi Trẻ, VietNamNet… tôi không thấy người ta dùng chữ … “giải phóng”, mà thay vào đó là “thống nhất”, hay “kết thúc chiến tranh”. Nhưng bài xã luận trên báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, vẫn là một áng văn mẫu đầy… “giải phóng”!

Tuy nhiên, điều đáng chú ý nhất trong ngày 30/4 năm nay từ bên kia Thái Bình Dương là bài viết của ông Nguyễn Đình Bin, cựu đại sứ Việt Nam tại Pháp, cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nay đã về hưu. Ông Bin cũng từng là ủy viên Trung ương Đảng, một trong 200 người có quyền nhất ở Việt Nam. Ông Bin nói, cuộc chiến Việt Nam có tính chất nội chiến và ông bác bỏ mô hình cộng sản.

Ông Bin là nhân vật cộng sản cao cấp nhất của Việt Nam cho đến nay công nhận rằng cuộc chiến Việt Nam có tính chất nội chiến. Dù văn phong của ông vẫn là văn phong của một cán bộ chính trị cộng sản, bài viết của ông vẫn bị cái bóng của Đảng trùm lên, việc công nhận tính chất nội chiến, đồng thời với sự thẳng thắn bác bỏ mô hình kinh tế xã hội cộng sản, là một điều rất khác so với trước.

Tôi nghĩ, ông Bin là một người từng trải, từng chứng kiến nhiều điều bên ngoài Việt Nam, từng quan sát cộng đồng người Việt hải ngoại, thực lòng nói lên suy nghĩ của ông là mong muốn hòa giải giữa những người dự buổi lễ ở San Jose, và những người viết bài xã luận trên báo Nhân Dân. Nhưng trong bài viết của ông lộ rõ một mâu thuẫn, khi ông thẳng thắn gạt bỏ mô hình kinh tế xã hội cộng sản lỗi thời, làm thế nào ông có thể dung hòa với cái bóng của Đảng trong bài viết của ông?

Ông Bin là một viên chức đã về hưu, sức mạnh trong cái mới của bài viết ông cũng bị giảm đi phần nào. Nhưng nếu chúng ta nhìn lại rằng, đã từng có vị đại sứ bị cầm tù không án sau thời gian hoạt động ở “vùng địch”, có thể nói rằng ông Bin là một tiếng nói can đảm.

Bận bịu với quá khứ và chưa biết làm gì

Các hoạt động từ hải ngoại nhằm thay đổi chế độ toàn trị cộng sản trong nước, cho đến giờ này đã hoàn toàn thất bại. Nhiều người bỏ công tìm kiếm nguyên nhân, và có lẽ ý kiến hợp lý nhất, cũng được nêu lên trong ngày 30/4 năm nay, là của ông Từ Thức, ở Pháp, rằng ý thức dân chủ của người Việt hãy còn chưa đủ!

Có thể còn một lý do nhỏ nữa, theo ý chủ quan của tôi, là hoạt động của người Việt hải ngoại trong ngần ấy năm không có gì thay đổi, vẫn quá nhiều cảm xúc, không theo kịp sự thay đổi của cuộc sống bên trong Việt Nam. Mà không phải chỉ bên trong Việt Nam, nếu chúng ta quay lại khung cảnh đường phố San Jose sôi động ngày thứ bảy và những buổi lễ ngày càng thưa thớt trước Viet Museum. Trong cái đám đông người gốc Việt làm cho San Jose sôi động ấy, rất nhiều người không gắn với quá khứ tù cải tạo, hay thuyền nhân, và họ ngày càng đông. Những người này không biết có một buổi lễ kỷ niệm có tên gọi là Tháng Tư Đen.

Bên kia Thái Bình Dương, tôi không chắc bài viết của ông Nguyễn Đình Bin đại diện cho một sự thay đổi lớn nào đó. Dù có sự thay đổi trong cách phát ngôn, nhưng các trang báo “quan điểm lập trường, chủ trương đường lối” cũng vẫn như cũ. Mà không chỉ báo chí nhà nước, nếu ta bỏ công theo dõi mạng xã hội của những người Việt ủng hộ nước Nga xâm lược trong những ngày này, vẫn đầy rẫy những cái gọi là… “hồng hơn chuyên”!

Bộ máy thư lại theo kiểu toàn trị của Việt Nam thất bại thảm hại trong việc chống dịch bằng công an trong năm 2021. Vị trí địa lý đắc địa của Việt Nam đã cứu dân chúng bằng những lô vaccine từ Mỹ và Anh, vì Mỹ và Anh cần Việt Nam hiện nay trong cuộc đối đầu với Bắc Kinh.

Trong quyển hồi ký của cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Ted Osius có nói rằng, nỗ lực hòa giải của ông giữa cộng đồng người Việt chống Cộng ở hải ngoại và nhà cầm quyền Hà Nội đã thất bại.

Tôi chợt nghĩ đến chuyến thăm Mỹ sắp tới đây của thủ tướng Phạm Minh Chính, nhân thượng đỉnh Mỹ ASEAN trong hai ngày 12 và 13/5/2022.

Theo những tin tức chưa được kiểm chứng, có thể ông Chính sẽ tới Bắc California để họp bàn các vấn đề hợp tác kinh tế với California. Nếu điều đó diễn ra, chắc chắn ông Lam Liccardo, thị trưởng thành phố San Jose, sẽ có mặt. Thị trưởng Liccardo cũng đã có mặt trong buổi lễ kỷ niệm Tháng Tư Đen năm nay.

_______

Một số hình ảnh lễ kỷ niệm Tháng Tư Đen tại Bảo tàng Thuyền nhân Việt Nam ở San Jose, California, Hoa Kỳ, của tác giả Jackhammer Nguyễn gửi cho Tiếng Dân:

Vì sao tháng 4 vẫn là thời điểm làm người Việt nhức nhối? (VOA)

Vì sao tháng 4 vẫn là thời điểm làm người Việt nhức nhối?

28/04/2022

Tại một sự kiện tưởng niệm biến cố 30 tháng Tư tại Little Saigon, California.

Còn ba năm nữa là tròn 50 năm Việt Nam thống nhất về mặt địa lý nhưng thực tế cho thấy, thời gian không phải là yếu tố có thể tạo ra… đồng tâm.

Sắp hết tháng thứ tư của năm 2022 và dù sắp tròn 47 năm kể từ sự kiện 30/4/1975 nhưng tháng tư năm nay vẫn là thời điểm cho thấy sự kiện “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” không thống nhất được nhân tâm dù hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam không ngừng đề cao… “hòa hợp, hòa giải”…

Không chỉ ở hải ngoại, tại Việt Nam, nhờ Internet và thực trạng quốc gia trong 47 năm qua, đặc biệt là thời gian gần đây đã khiến nhận thức về sự kiện 30/4/1975 đang tiếp tục thay đổi cả trên diện rộng lẫn chiều sâu, ngược chiều với nỗ lực tuyên truyền về cuộc “kháng chiến chống Mỹ” nhằm… “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”!..

Ví dụ, Nguyễn Thiện góp ý về… “Ngụy”: Cách đây nhiều năm, báo Tuổi Trẻ đề nghị tôi viết suy nghĩ về 30 tháng 4. Tôi nêu ý kiến là phải chấm dứt việc gọi Việt Nam Cộng hòa (VNCH) là “ngụy” và Tuổi Trẻ lúc ấy đã đăng. Theo dõi, tôi thấy thay đổi chậm, nhiều phim tài liệu chiếu trên Đài Truyền hình Quốc gia vẫn ra rả… “ngụy”. Tôi mong dịp 30 tháng 4 này, Bộ Chính trị có văn bản chỉ đạo toàn bộ hệ thống chính trị không được gọi VNCH là ngụy. Nếu điều đó được làm với sự thành tâm thì không chỉ nhằm hòa giải đoàn kết dân tộc mà còn liên quan mật thiết đến tính pháp lý khi chúng ta khẳng định với thế giới rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam (1).

Ví dụ, Nguyễn Đình Bin – cựu Ủy viên BCH TƯ đảng CSVN, cựu Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài – nhấn mạnh “thiết tha kiến nghị” của ông: Truy phong “Liệt sĩ” và khen thưởng xứng đáng các sĩ quan, binh lính, viên chức của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh để bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc ở Hoàng Sa. Đó là những người con đích thực của dân tộc Việt Nam. Thực hiện đầy đủ chính sách người có công hiện hành đối với họ và thân nhân, cũng như tất cả sĩ quan, binh lính, viên chức khác của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đồng bào miền Nam đã có công tham gia phục vụ cuộc chiến đấu lịch sử này.

Ông Bin đề nghị: Xây dựng tượng đài xứng đáng về sự kiện hải chiến ở Hoàng Sa tại thành phố Đà Nẵng. Xây dựng tượng đài xứng đáng tưởng niệm các Liệt sĩ Gạc Ma và những người đã anh dũng hy sinh bảo vệ quần đảo Trường Sa tại thành phố Nha Trang. Xây dựng tượng đài xứng đáng, đặt tại Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh để tưởng niệm tất cả đồng bào ta, dù ở bên này hay bên kia, đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh đã diễn ra trên đất nước ta hơn một thế kỷ qua, nói cho cùng, cũng như toàn thể dân tộc ta, đều là nạn nhân của đại họa ngoại bang đến thống trị và xâm lược nước ta và của cuộc xung đột tư tưởng Đông – Tây trực tiếp đã diễn ra trên đất nước ta.

Ông Bin còn đề nghị: Chấm dứt chính sách phân biệt đối xử, thực hiện chính sách xã hội hiện hành đối với cả các thương, phế binh, viên chức cũ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và thân nhân. Theo ông: Các việc làm nói trên sẽ lay động mọi trái tim Việt, khơi dậy và thổi bùng nhiệt huyết yêu nước, tình nghĩa đồng bào, góp phần hòa giải, hòa hợp, hàn gắn vết thương dân tộc sau gần nửa thế kỷ chiến tranh chấm dứt vẫn còn rỉ máu, kết nối mọi con cháu các Vua Hùng, ở trong cũng như ngoài nước, thành một khối, đồng lòng sát cánh cùng nhau chung sức đạp bằng mọi chông gai, trở ngại, đưa non sông gấm vóc bật dậy, đuổi kịp và sánh vai tiến bước cùng các quốc gia giầu mạnh, tiên tiến trên thế giới, bảo vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc đã và đang bị Trung Quốc vi phạm, xâm lấn nghiêm trọng (2)…

Giống như 47 năm qua, tháng tư năm nay, có rất nhiều người hồi tưởng về những gì họ đã trải qua trước, trong cũng như sau sự kiện 30/4/1975, chẳng hạn trên “Trang văn chương miền Nam” (3), Thanh Luu đề nghị mỗi người trong số hơn 75.000 thành viên kể lại chuyện của chính họ (4)…

30 tháng 4 năm nay, Hoang Ngoc Dieu công bố một tài liệu được lưu trữ trong kho dữ liệu của “Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Khánh” (hình thành sau tháng 4/1975 và đã được tách ra thành Phú Yên và Khánh Hòa). Theo Hoang Ngoc Dieu thì trong quá trình lục lọc, tìm kiếm tài liệu, ông tìm được tài liệu này – bản thống kê tên chủ sở hữu và địa chỉ những bất động sản bị đảng CSVN “tịch thu” sau khi “giải phóng hoàn toàn miền Nam”. Hoang Ngoc Dieu nhấn mạnh, danh sách bất động sản bị tịch thu và nay ông công bố chỉ trong phạm vi thị xã Nha Trang – nơi theo thống kê của Nha Điền địa chỉ có khoảng hơn 10.000 gia đình nhưng có tới hơn 1.000 gia đình bị “tịch thu” nhà.

Ngoài việc đề nghị mọi người tham khảo, Dieu lưu ý: Ai có tên trong danh sách hoặc ai đang cư ngụ ở những địa chỉ có trong danh sách thì nên biết rằng, năm xưa, từng căn nhà trong danh sách này đã từng là mái ấm – nơi cư trú của gia đình nào đó rồi bị cướp đoạt sau khi miền Nam “được giải phóng” (5).

Từ danh sách mà Hoang Ngoc Dieu công bố, Như Hiếu – một friend của Dieu – kể thêm câu chuyện về gia đình bác gái. Vợ chồng bà có bốn người con ngụ ở Nha Trang. Họ có nhà và một dãy phòng trọ cho thuê. Sau khi miền Nam “được giải phóng”, gia đình này không chỉ tan tác mà còn mất sạch tài sản. Đầu tiên là dãy phòng trọ cho thuê bị tịch thu, kế đó là họ bị “tịch biên tài sản” vì là “tư sản”. Trắng tay, họ bỏ Nha Trang vào TP.HCM ở trọ nhà sui gia rồi mất… Con cái họ đã bỏ xứ đi ngoại quốc. Như Hiếu cho biết: Anh chị họ của tôi giờ đang ở bên Mỹ. Tuy không tiện để hỏi cho tường tận nhưng tôi biết chắc toàn bộ tài sản của họ đều… lọt vào tay… “tộc cối”!..

***

Cho dù vẫn đề cao… “hòa hợp, hòa giải” nhưng những diễn biến về mặt nhận thức trong tất cả các giới ở Việt Nam như vừa kề đã khiến hệ thống chính trị, hệ thống công quyền buộc phải tự lột mặt nạ, một số cơ quan truyền thông trong hệ thống truyền thông chính thức như Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân,… trước nay luôn sắm vai… “xung kích” để bảo vệ… “sự đúng đắn” của đảng CSVN, giờ bị đẩy vào thế phải sổ toẹt “hòa hợp, hòa giải” hay “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”… Theo Quân Đội Nhân Dân thì… “Hòa hợp dân tộc không phải là trộn lẫn, đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa” (6).

Bất kể các tư liệu lịch sử đã được bạch hóa cả ở trong lẫn ngoài Việt Nam, chứng minh đảng CSVN đã xâm chiếm miền Nam Việt Nam suốt 20 năm, chính quyền cộng sản ở miền Bắc Việt Nam đã vi phạm các cam kết với cộng đồng quốc tế trong những hiệp định như Geneve (1954), Paris (1973), vừa xin, vừa vay đủ thứ từ các quốc gia trong khối cộng sản, vừa đón ngoại nhân vào lãnh thổ để gia tăng nguồn lực xâm chiếm miền Nam,… thì “hòa hợp dân tộc” vẫn là phải cúi đầu thừa nhận… sự kháng cự của miền Nam Việt Nam là “phi nghĩa” và “chính quyền Việt Nam Cộng hòa là tay sai của Mỹ, thực hiện mưu đồ của Mỹ là biến Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới”.

Với quan điểm như thế, Công An Nhân Dân xếp những người không chấp nhận “hòa hợp, hòa giải” bằng cách… cúi đầu thừa nhận “chính nghĩa” của cuộc chiến 21 năm do đảng CSVN khởi xuống để “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” là “chống đối”, xếp việc có chính kiến khác với quan điểm của đảng về cuộc chiến này là “giữ cách nhìn thù hận về đất nước, quê hương”. Lên án họ “không có khái niệm hòa hợp”, thiếu thiện chí, “chứng tỏ sự bảo thủ, định kiến trước sự đổi mới, mở cửa của đất nước cũng như truyền thống bao dung, chung lòng đất mẹ, ân nghĩa một nhà…”. Khuyên họ “hướng về nguồn cội bằng sự chân thành chứ không phải là đặt điều kiện” (7).

***

Còn ba năm nữa là tròn 50 năm Việt Nam thống nhất về mặt địa lý nhưng thực tế cho thấy, thời gian không phải là yếu tố có thể tạo ra… đồng tâm. Tại sao “hòa hợp, hợp giải” thất bại, thậm chí càng ngày càng nhiều người Việt nhận thức lại về cuộc chiến “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, về sự kiện 30/4/1975?

Chú thích

(1) https://www.facebook.com/nguyenthien.haihuoctutrao/posts/10221809446605448

(2) https://www.facebook.com/dinh.nguyen.94009841/posts/5106092716119686

(3) https://www.facebook.com/groups/395853348109312

(4) https://www.facebook.com/groups/395853348109312/posts/735055564189087/

(5) https://www.facebook.com/HND.Activist/posts/5242213912467540

(6) https://www.qdnd.vn/phong-chong-tu-dien-bien-tu-chuyen-hoa/nhan-thuc-dung-gia-tri-cua-chien-thang-30-4-1975-co-so-cua-dao-duc-nhan-cach-va-tri-tue-cua-nguoi-viet-nam-692927

(7) https://antgct.cand.com.vn/Chuyen-de/dat-me-bao-dung-i651611/

Những ngày cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam và bí mật về sự can thiệp của Trung Quốc (VOA)

Những ngày cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam và bí mật về sự can thiệp của Trung Quốc

30/04/2022

Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai gặp mặt Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger trong cuộc gặp được gọi là “lịch sử” tại Bắc Kinh ngày 9/7/1971.

Hơn mt thp k tìm kiếm qua nhng tài liu gii mt và các cuc phng vn vi nhng người trong cuc, nhà s hc George J. Veith phát hin ra điu mà ông gi là bí mt ln cui cùng ca Chiến tranh Vit Nam

Lần đầu tiên ông Veith, người có bằng tiến sỹ về sử học, biết về ‘bí mật’ này là qua một nhà ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa và cũng là bạn của ông, Nguyễn Xuân Phong, người từng là Quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm Paris của chính phủ VNCH trước khi tới Mỹ và làm việc tại Đại học Texas Tech đầu những năm 2000.

“Ông (Phong) nói rằng ông có một ‘bí mật lớn’ mà ông chưa nói với ai,” ông Veith, một cựu Đại úy Lục quân Hoa Kỳ, nói và cho biết ông Phong đã giữ kín bí mật đó trong hơn 30 năm. “Ông ấy chỉ nói rằng khi còn ở trong trại cải tạo (của Bắc Việt), những người Cộng sản đã đánh đập ông để tìm ra những gì ông ấy biết nhưng ông không nói.”

Qua một cuộc điện thoại cách đây nhiều năm, ông Phong cho ông Veith biết rằng “phía Trung Quốc muốn đưa hai sư đoàn nhảy dù vào Biên Hòa để chặn cuộc Nam tiến của quân Bắc Việt” trong những ngày tháng cuối của cuộc chiến tranh.

Theo phát hiện của nhà sử học từng viết 4 cuốn sách về đề tài Chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc, một đồng minh lâu năm của miền Bắc Việt Nam, có thể đã tìm cách tạo ra một miền Nam trung lập vào năm 1975 nhằm ngăn cản Hà Nội giành được chiến thắng mà họ đã tìm kiếm từ lâu.

“Điều này thực sự là sốc vì Trung Quốc, cùng với Liên Xô, đã hỗ trợ Hà Nội trong suốt những năm tháng đó rồi đột nhiên thay đổi,” ông Veith nói với VOA về sự phát hiện khiến ông “bàng hoàng.”

Phát hiện này được ông Veith tiết lộ trong cuốn “Drawn Swords in a Distant Land: South Vietnam’s Shattered Dreams,” (Tuốt gươm ở miền đất xa lạ: Những giấc mơ tan vỡ của miền Nam Việt Nam) trong đó cung cấp nhiều chuyện hậu trường chưa được biết tới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, tập trung vào sự nghiệp chính trị của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng như thăng trầm của chính quyền dưới thời ông. Đây là cuốn sách mới nhất và cũng là cuốn sách thứ 4 của ông Veith về Chiến tranh Việt Nam, ra mắt vào năm ngoái. Trước đó, ông cho ra mắt cuốn “Black Friday: The Fall of South Vietnam 1973-75” (Tháng Tư đen: Sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam 1973-75) sau hai cuốn về việc tìm kiếm binh sỹ Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam.

‘Người đưa thư

Trong thời gian đàm phán ở Paris về Việt Nam từ 1968 đến 1975, ông Phong – từ địa vị thành viên đến trưởng phái đoàn rồi Quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm – cho ông Veith biết rằng ông đã tiếp xúc với phía Trung Quốc nhằm để cứu vãn miền Nam Việt Nam.

Không lâu sau khi Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger có chuyến thăm lịch sử tới Bắc Kinh năm 1971, ông Phong được mời tới tham dự một tiệc chiêu đãi ở Sứ quán Miến Điện ở Paris. Tại đó, theo ông Veith kể trong chương cuối cùng của cuốn sách, ông Phong được giới thiệu với một quan chức Trung Quốc từ Văn phòng Thủ tướng Chu Ân Lai. Người này kết thúc cuộc thảo luận bằng câu hỏi: “Liệu Tổng thống Thiệu có biết ai là bạn ai là thù của ông ấy không?”

Theo ông Phong, phía Trung Quốc đã qua ông gửi nhiều thông điệp tới ông Thiệu để tìm cách có được một cuộc hội thoại trực tiếp nhưng vị tổng thống VNCH đã không đáp lời.

Ông Phong nói rằng khi trở lại Sài Gòn vào năm 1975, ông mang theo một thông điệp bí mật từ phía Trung Quốc. Ông ngay lập tức đi gặp Tổng thống Trần Văn Hương, người lên nắm quyền từ 21/4/1975 sau khi ông Thiệu từ chức, để thông báo rằng không có hy vọng cho các cuộc đàm phán khi ông còn đương nhiệm. Ông Phong không nhắc tới thông điệp từ phía Trung Quốc. Ngày hôm sau, ông Hương triệu tập cuộc họp để bắt đầu quá trình chuyển giao quyền lực cho Tướng Dương Văn Minh.

Sau đó vài ngày, ông Phong gặp mặt với người bạn thân của Tướng Minh, Tướng Trần Văn Đôn, và một đại diện của Chính phủ Giải phóng Lâm thời (PRG) để bàn thảo về việc thành lập một chính phủ liên minh. Tại cuộc gặp, có cả sự hiện diện của một quan chức PRG – do Bắc Việt hậu thuẫn – ông Phong nói rằng Pháp và các nước khác sẽ giúp đỡ chính phủ mới nhưng cố tình mơ hồ về ý nghĩa của điều này.

Trung Quốc, theo ông Phong, rất muốn PRG nắm quyền thông qua công thức liên minh của Pháp với Tướng Minh để ngăn chặn sự tiếp quản của Bắc Việt. Sau khi một liên minh được thành lập, ông Minh sẽ gửi lời kêu gọi trợ giúp và người Pháp sẽ trả lời rằng một lực lượng quốc tế sẽ vào Nam Việt Nam để bảo vệ chính phủ mới. Ban đầu, như ông Phong cho biết, sẽ là “hai sư đoàn nhảy dù của Trung Quốc vào Biên Hòa” và Bắc Kinh yêu cầu có 4 ngày để điều động quân của họ đưa đến căn cứ không quân này.

“Bắc Kinh không thể ra mặt và làm việc này một cách trực tiếp nhưng họ để mọi người thấy rằng họ… để cho người Pháp làm việc này!,” ông Phong giải thích về ý định của Bắc Kinh – được nhà sử học Veith ghi lại trong cuốn sách. “Bắc Kinh không thể ngang nhiên can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam. Pháp cần phải kêu gọi một số quốc gia tham gia vào một ‘lực lượng quốc tế’ (với Pháp là mũi nhọn) để cho phép Bắc Kinh can thiệp.”

Vì sao Trung Quốc muốn can thiệp bằng quân sự để ngăn cản chiến thắng của quân Bắc Việt sau nhiều năm ủng hộ Hà Nội?

Theo giải thích của nhà sử học Mỹ, Trung Quốc muốn một miền Nam Việt Nam trung lập để không bị bao vây bởi một hiệp ước tiềm tàng giữa Moscow và Hà Nội. Điều này được Nayan Chanda của Far Eastern Economic Review khẳng định khi cho rằng Bắc Kinh đã “nhất quán tuân thủ chính sách duy trì bằng mọi cách theo ý của mình một Đông Dương bị chia cắt không có các cường quốc lớn.”

Thông đip t Trung Quc

Ông Phong, qua đời năm 2017, không phải là người duy nhất mang thông điệp của Trung Quốc tới chính thể VNCH. Theo ông Veith, một tướng hồi hưu người Pháp có tên Paul Vanuxem, người quen biết ông Thiệu và các sĩ quan cao cấp khác của quân đội VNCH từ sau Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, cũng mang một thông điệp tương tự như ông Phong. Ông Vanuxem đã thỉnh thoảng đến thăm ông Thiệu và trở lại Việt Nam vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh với tư cách là phóng viên tuần báp Carrefour của Pháp.

Trong cuốn sách phát hành năm 1976 về những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, ông Vanuxem, người mất năm 1997, nói rằng ông đã tới Dinh Độc Lập vào ngày 30/4/1975 để nói chuyện với Tướng Minh, lúc đó là tổng thống. Theo sử gia Veith, ông Lý Quí Chung, bộ trưởng Bộ Thông tin trong chính phủ tồn tại hai ngày của Tổng thống Minh, khẳng định điều này khi cho biết rằng “ông Vanuxem nói rằng ông ấy muốn đưa ra một kế hoạch cho ông Minh để cứu vãn tình hình tuyệt vọng mà chính thể Sài Gòn đang đối mặt.” Ông Vanuxem nói với ông Minh, ngay sau khi ông Minh ghi âm lời tuyên bố đầu hàng sáng ngày 30/4, rằng: “Tôi đã sắp đặt việc này ở Paris. Tôi yêu cầu ông công khai xin trợ giúp từ Nước C (China – tức Trung Quốc) để bảo vệ ông.”

Ông Vanuxem yêu cầu ông Minh cầm cự trong 3 ngày nhưng ông Minh từ chối, theo ghi nhận của sử gia Veith. Ông Minh đã cười một cách cay đắng trước lời đề nghị của ông Vanuxem và nói rằng: “Theo Tây, theo Mỹ mãi chưa đủ sao mà bây giờ lại theo Tàu?”

“Tôi tiếp tục đào sâu và sau đó tôi tìm thêm ra nhiều thông tin được chính những người Cộng sản công bố, trong đó cũng nói về những điều tương tự,” ông Veith cho biết và nói rằng Hà Nội cũng biết được lời đề nghị của ông Vanuxem và cuối cùng thừa nhận về ý định can thiệp của Trung Quốc. “Sách Trắng Quốc phòng (của Việt Nam) xuất bản 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc, trong đó thừa nhận rằng ông Vanexum đã tới Dinh (Thống Nhất) và tìm cách thực hiện âm mưu nhằm ngăn chặn bước tiến của họ để giành chiến thắng trong cuộc chiến đó.”

Phía Trung Quốc cũng được cho là đã tiếp cận cựu Phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn với William Buckley trên Firing Line tháng 9/1975, ông Kỳ nói rằng các đặc vụ Trung Quốc đã tới nhà ông ở Sài Gòn vào năm 1972 và yêu cầu ông lật đổ Tổng thống Thiệu cũng như “tuyên bố miền Nam Việt Nam trung lập, không theo Nga hay Mỹ.” Ông Kỳ, người đã đưa gia đình di tản sang Mỹ sau khi Sài Gòn sụp đổ, nói rằng nếu ông làm điều đó, “thì phía Trung Quốc sẽ hỗ trợ ông” bởi vì Bắc Kinh “đã gặp khó khăn ở biên giới phía bắc với người Nga” và “không muốn sườn phía nam của mình bị vệ tinh của Nga (tức Bắc Việt Nam) chiếm đóng.”

Với những khẳng định từ nhiều nguồn khác nhau, sử gia Veith tin rằng những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản chiến thắng của quân Bắc Việt bằng cách hậu thuẫn một chính phủ trung lập ở miền Nam Việt Nam, là có thật. Tuy nhiên điều này không thể được khẳng định hoàn toàn khi không có bằng chứng tài liệu hay sự chấp nhận chính thức từ chính phủ Trung Quốc hoặc Pháp.

Liệu Trung Quốc hay Pháp, mỗi nước vì lợi ích quốc gia, có thông đồng để tìm cách làm cho miền Nam Việt Nam trung lập cũng như ngăn chặn chiến thắng của Hà Nội hay không, sẽ vẫn là một khả năng bỏ ngỏ và sử gia Veith gọi đó là “bí mật lớn cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam.”

Cựu thứ trưởng Ngoại Giao CSVN đòi thả giới bất đồng đang bị giam cầm

Cựu thứ trưởng Ngoại Giao CSVN đòi thả giới bất đồng đang bị giam cầm

May 1, 2022

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Trong bài dài đăng trên trang cá nhân vào dịp 30 Tháng Tư, ông Nguyễn Đình Bin, cựu thứ trưởng Ngoại Giao CSVN, thẳng thắn đề nghị nhà cầm quyền “hàn gắn vết thương huynh đệ tương tàn vẫn còn rỉ máu.”

Ông Bin nêu yêu cầu với nhà nước: “Trả lại tự do cho những người đang bị giam giữ chỉ vì bất đồng chính kiến, phê phán các chủ trương, chính sách cũng như lãnh đạo đảng và nhà nước. Thực sự tôn trọng tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí như đã được quy định tại hiến pháp và khẳng định rõ ràng trong các văn kiện chính thức, trong các phát biểu lâu nay của lãnh đạo đảng và nhà nước. Khuyến khích phản biện xây dựng, đóng góp ý kiến theo tinh thần đã nói trên.”

Ông Nguyễn Đình Bin, cựu thứ trưởng Ngoại Giao CSVN. (Hình: Quốc Tế)

Vị cựu thứ trưởng cũng bình luận rằng, các ý kiến phản biện đúng đắn “chỉ giúp cho đảng và nhà nước hoàn thiện đường lối, chính sách, còn nếu đường lối, chính sách mà đúng đắn thì lo sợ gì.”

Theo ông, những ý kiến phản biện [nếu] sai trái “chỉ càng làm sáng tỏ hơn tính đúng đắn đó, giống như hòn ngọc chỉ càng thêm ngời sáng giữa những cục đá, viên sỏi.”

Ngoài ra, ông Bin nhắc lại yêu cầu xây dựng các tượng đài xứng đáng, đặt tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn “để tưởng niệm tất cả con dân Việt đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh đã diễn ra trên đất nước ta hơn một thế kỷ qua.”

“Tôi tin tưởng rằng chỉ cần thực hiện được các việc cơ bản nói trên, thì mỗi dịp kỷ niệm ngày Tháng Tư cũng như các ngày lịch sử vẻ vang khác của đất nước, chắc chắn tất cả mọi con dân Việt sẽ đều vui, chẳng còn một ai buồn nữa,” theo Facebook Nguyễn Đình Bin.

Blogger Phạm Đoan Trang, nhà báo tự do, bị phạt 9 năm tù vì chỉ trích nhà cầm quyền trên mạng xã hội. (Hình: Người Lao Động)

Bên dưới bài đăng của ông Bin, Giáo Sư Mạc Văn Trang phản hồi: “Cảm ơn anh đã rất thành thực và dũng cảm nói lên nỗi niềm tự đáy lòng. Những lời tâm huyết này chắc đã được ấp ủ, nung nấu từ lâu, nay mới được nói ra thật rành rẽ, cụ thể. Nhưng Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư đảng Cộng Sản có ai dám nghĩ, dám làm đổi mới chính trị, khi cả hệ thống chính trị cứ bùng nhùng níu kéo chặt lấy nhau?”

Dường như các ý kiến của vị cựu thứ trưởng không được đảng và nhà nước lắng nghe như mong muốn của ông. Hồi Tháng Ba, ông Bin từng lên tiếng đề nghị dựng tượng đài binh sĩ VNCH bảo vệ Hoàng Sa nhưng cũng không được nhà cầm quyền hồi đáp. (N.H.K)

Khởi tố bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn do đấu đá nội bộ CSVN

Khởi tố bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn do đấu đá nội bộ CSVN

May 1, 2022

HÀ NỘI, Việt Nam (NV).- Khởi tố Nguyễn Thị Thanh Nhàn là đấu đá quyền lực nội bộ chóp bu đảng CSVN, đồng thời làm trở ngại cả thương vụ mua bán võ khí giữa Israel và Hà Nội.

Báo Do Thái Haaretz ngày Chủ Nhật mùng 1 Tháng Năm, đưa tin như vậy khi bật mí những uẩn khúc trong vụ việc “khởi tố vụ án” và ra lệnh bắt giam bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, “nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty AIC” cùng với giám đốc Sở Y tế tỉnh Đồng Nai.

Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn. (Hình: Tiền Phong)

Họ bị cáo buộc “vi phạm quy định đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” dẫn đến sự thiệt hại lối $7 triệu đô la cho nhà nước trong vụ đấu thầu xây dựng bệnh viện đa khoa của tỉnh Đồng Nai mấy năm trước, mà guồng máy thông tin tuyên truyền của chế độ rầm rộ đưa tin ngày 29 Tháng Tư.

Giám đốc Sở Y tế Đồng Nai, Phan Huy Anh Vũ, thì thấy tờ Thanh Niên nói bị khám xét nhà và bắt giam. Nhưng bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn thì chỉ nói “ ra quyết định khởi tố bị can” với bà này chứ không rõ rệt nói bà ta bị bắt. Nói chung báo chí tại Việt Nam rất mập mờ trong vụ khám xét chỗ ở và bắt giữ bà Nhàn, khác hẳn những vụ bắt giữ nổi cộm khác khi báo chí nhà nước đăng tải tin tức kèm theo hình ảnh đương sự đứng nghe công an đọc lệnh bắt giữ.

Trong các bản tin khởi tố và lệnh bắt giữ bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, như tờ Tuổi Trẻ, không thấy hình ảnh đó. Báo Do Thái Haaretz nói bà Nhàn đã chạy qua Âu châu ở trước khi xảy ra vụ khám xét chỗ ở và khởi tố, nhiều phần đã “đánh hơi” được sự nguy hiểm trong khi một Facebooker Việt Nam thì lại cho là bà ta đang ở Nhật. Nói khác, bà Nhàn chỉ bị khởi tố khiếm diện chứ không bị bắt.

Có vẻ, vụ khởi tố bà Nhàn qua vụ đấu thầu gian lận xây dựng bệnh viện ở Đồng Nai chỉ là cái cớ bề ngoài của một vụ việc chằng chịt giữa quyền lực và quyền lợi trong hậu trường chính trị CSVN.

Theo tờ Haaretz, xuất cảng các loại võ khí, trang bị an ninh của Isreal tới Việt Nam gia tăng chóng mặt mấy năm gần đây, có thể gặp trục trặc vì việc bắt giữ bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn. Bà là nhân vật chính yếu vận động và môi giới các thương vụ mua bán võ khí cả thập niên vừa qua giữa Việt Nam với Israel.

Trong hơn 15 năm qua, Việt Nam là một trong những thị trường xuất cảng võ khí quan trọng của kỹ nghệ an ninh quốc phòng Israel. Hai nước ký thỏa hiệp kín (confidentiality agreement) hồi năm 2011 để tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng. Hơn ba năm trước, một phái đoàn cấn cao của Isreal đã thăm viếng Việt Nam năm 2018. Trước đó, tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Quốc phòng CSVN cầm đầu phái đoàn sang Isreal thăm một số kỹ nghệ quốc phòng nước này.

Thương vụ quốc phòng giữa hai bên đã vượt quá 1 tỉ USD, và theo Haaretz, hiện đang có cuộc đàm phán để Hà Nội mua vệ tinh tình báo quân sự Ofek (Chân Trời) của công ty quốc phòng không gian IAI (Israel Aerospace Industries) sản xuất. Trị giá thương vụ khoảng $550 triệu USD.

Mấy tháng trước, một phái đoàn Isreal đã ký thỏa hiệp kỹ thuật cho thương vụ nhưng chưa hoàn tất được vấn đề tài trợ tín dụng. Tuy nhiên, tập đoan quốc phòng Pháp Thales cũng cạnh tranh với Isreal trong vụ bán hàng này của IAI với những nỗ lực được mô tả là quyết liệt để dành mối khách hàng.

Theo Haaretz, nguồn tin ở Việt Nam liên quan đến vụ khởi tố bà Nhàn nói lý do thật sự của vụ việc dính đến các vụ mua sắm quốc phòng. Nguồn tin nhấn mạnh rằng vụ khởi tố bắt nguồn từ đấu đá nội bộ giữa ông thủ tướng Phạm Minh Chính với ông Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng dự trù sắp về vườn, Bộ trưởng Công an Tô Lâm và ông chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc.

Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, 53 tuổi, được coi là một nhân vật thân cận với ông thủ tướng Phạm Minh Chính. Báo chí chính thống tại Việt Nam từng nhiều lần ca ngợi bà này qua những lần bà nhận lãnh giải thưởng, hay vinh danh.

Thương vụ quân sự lớn nhất giữa Isreal và CSVN diễn ra cách đây 5 năm khi Hà Nội mua 3 giàn hỏa tiễn phòng không Spyder từ công ty Rafael Advanced Defense Systems trị giá hơn nửa tỉ đô la. Một công ty khác của Isreal từng bán hệ thống dò xét an ninh cho chế độ Hà Nội, trị giá từ $20 triệu tới $30 triệu USD, từng bị cáo buộc là Công an dùng để theo dõi, đàn áp giới bất đồng chính kiến.

Nhiều thương vụ khác như IAI bán kỹ thuật và giúp nâng cấp xe tăng, hỏa tiễn cho CSVN trị giá hàng chục triệu USD. Công ty Samy Katsav đã giúp CSVN xây dựng nhà máy trị giá 100 triệu USD để lắp ráp súng trường Tavor. Một công ty khác bán hệ thống kiểm soát, điều hành trị giá khoảng $60 triệu USD, một số trang bị không gian và viễn thông khoảng $30 triệu trị giá, từ công ty Elbit cho Hải quân CSVN.

Triển lãm quân sự gồm các loại hỏa tiễn phòng không tại tỉnh Thái Nguyên năm 2019, có cả hỏa tiễn Spyder của Isreal. (Hình: Linh Pham/Getty Images)

Công ty IAI bán 3 máy bay không người lái quân sự Heron cho Việt Nam trị giá khoảng $140 triệu USD trong khi các công ty con của IAI bán các hệ thống radar trị giá $150 triệu USD bên cạnh 60 xe thiết giáp trị giá 20 triệu USD. Rồi một công ty khác kiếm được hàng chục triệu đô khi bán các hệ thống giám sát trên không cho Hà Nội.

Bây giờ, bà Nhàn đang ở đâu vẫn còn là điều bí mật trong khi tương lai các vụ mua bán trang bị quốc phòng giữa Hà Nội và Isreal chưa biết sẽ ra sao. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ về vườn khi có đại hội đảng giữa kỳ như đồn đoán từ đầu năm ngoái hay vẫn ngồi lỳ lại để “đốt lò” làm vui?

Tờ Tuổi Trẻ ngày 30 Tháng Tư được mớm tài liệu khui ra một loạt những vụ trúng thầu ở nhiều lãnh vực khác nhau của “đế chế” AIC tức “Công ty cổ phần Tiến bộ quốc tế” của bà Nhàn. Nếu không phải là “sân sau” của những ai đó thì khó lòng hốt được những vụ trúng thầu lớn như vậy. Tuy nhiên, Tuổi Trẻ không hề đả động gì hay không biết gì về cái lớn nhất, tức các môi giới trang bị quân sự của bà.(TN)

Giọt mưa trên tóc –  Tiểu Tử


Giọt mưa trên tóc 

 Tiểu Tử

  • 10.2008

Đường Hai Bà Trưng. Chiều. Một trai một gái tuổi độ 17, 18, đạp xe về hướng Tân Định, đi song song. Bỗng, trời nổi gió ào ào rồi mây đen kéo về vần vũ. Mọi người đều hối hả, đi như chạy, để tránh mưa. Đứa con trai giục:

– Đạp lẹ lên Kim! Qua khỏi đoạn này mới có chỗ đụt.

Đứa con gái gật đầu, chồm lên nhấn mạnh bàn đạp, nhưng chỉ vài phút sau mưa đã rơi lắc rắc xuống hai đứa làm chúng nó cười lên hăng hắc, cái cười hồn nhiên thanh thoát khi thấy mình bị mưa đuổi kịp, cái cười còn nguyên nét trẻ con trong trò chơi “cút bắt”! Chúng nó vội tấp vào mái hiên một tiệm giày. Sau khi dựng xe đạp lại ngay ngắn, Kim nhìn bạn, hơi ân hận:

– Tại Nghĩa đợi Kim mới bị mưa ướt đó. Phải hồi nãy Nghĩa đạp đi trước thì đâu có sao?

Đứa con trai tên Nghĩa vừa nhìn quanh vừa trả lời, người hơi lắc qua lắc lại giống như cành cây đong đưa trong cơn gió thoảng:

– Mình đi chung mà Kim.

Nghe bạn nói, Kim yên lặng nhìn ra mưa mà nghe lòng thật ấm cúng. Sự nhạy cảm của người con gái ở tuổi đó đã giúp Kim nhận thấy một tình yêu nho nhỏ đang nhen nhúm giữa hai đứa, một “cái gì” vừa nhẹ nhàng vừa tinh khiết, mà lại vừa thật là rung động. Một “cái gì” cứ bắt phải cần có nhau; một “cái gì” cứ bắt phải nghĩ đến nhau. Một “cái gì”… Một “cái gì”… Không biết nữa! Kim cảm thấy nóng hai vành tai. Kim nhìn xuống chiếc áo bà ba trắng đang dán vào người từng mảng nhỏ. Tự nhiên, Kim khoanh tay lại che ngực, rồi tự trách thầm: “Phải nghe lời má đội nón thì bây giờ đã có cái gì để ôm cho đỡ ngượng. Con gái gì mà đi đâu cũng đầu trần! Cho đáng…”. Thật ra, Kim thấy đội nón bực bội quá, cứ nghe ngứa ngáy trên đầu như mấy ngày chưa gội và sau đó khi lấy nón ra tóc cứ như bị dán keo nằm nhẹp xuống coi thật chướng mắt. Cho nên, thảng hoặc có đi đâu với má thì Kim cầm theo cái nón lá cho khỏi bị rầy, kỳ dư là đi đầu trần – dù đi học hay đi lao động cũng vậy. Thành ra, tóc Kim bồng lên thật đẹp, đen huyền xõa xuống ngang vai, chao qua chao lại khi Kim nghiêng đầu và lúc nào cũng tự do phất phơ theo chiều gió. Mấy thằng bạn cùng lứa – nhứt là Nghĩa – thường hát ghẹo: “Nắng lên, gió lên cho tóc em bồng…” Và Kim thấy hãnh diện với “mái tóc em bồng”  đó.

Cơn mưa thật lớn. Vỉa hè, mặt đường… đều lai láng nước. Làm như là nước từ dưới đất dâng lên!

Bên kia đường là nhà thờ Tân Định với bức tường cao kéo dài. Bên này, chỗ nào có mái hiên là có người đứng đụt. Cách chỗ hai đứa đứng vài căn phố là tiệm nước mà phía trước là chiếc xe mì với hàng ghế đẩu đứng trong mưa chờ khách.

Mái hiên chỗ hai đứa đụt bỗng nghiêng triền qua một bên, đổ ào nước xuống như một dòng thác. Không bảo nhau mà cả hai đứa cùng nhảy lùi vào trong và cùng đứng về phía mái hiên không đổ nước. Khoảng trống không bị ướt dưới mái hiên bây giờ thu hẹp lại chỉ còn một góc nhỏ vừa đủ cho hai đứa đứng. Không đứng sát vào nhau, nhưng đứng thật gần nhau…

Nghĩa quay nhìn phía sau: cửa lưới sắt tiệm giày đóng im lạnh ngắt. Bên trong tủ kiếng, kệ hàng trống bốc, bụi đầy. Nhìn sang Kim, Nghĩa nói:

– Kim biết không? Ông chủ tiệm giày này đã đưa gia đình vượt biên cách đây ba bốn tháng…

– Sao Nghĩa biết?

Kim ngạc nhiên, bởi vì nhà Nghĩa ở xóm Chi Lăng, còn đây là chợ Tân Định.

Nghĩa chỉ tay sang nhà thờ:

– Con nhỏ em của Nghĩa học ở trường nhà thờ bên kia. Chiều nào Nghĩa cũng tới đón nó. Trong khi chờ đợi, nghe mấy anh xích lô nói chuyện với nhau mới biết.

– Họ đi thoát không?

– Không biết nữa. Mà không phải có tiệm giày đi thôi đâu. Cả dãy phố này đều lần lượt chui hết. Cho nên nhà nào nhà nấy đóng cửa im ỉm, Kim thấy không? Nhà Nước tịch thâu lâu rồi sao không thấy cấp cho ai hết.

Kim nhìn ra mưa, bâng khuâng:

– Không biết họ đi có thoát không?

Im một lúc, bỗng Nghĩa ngập ngừng hỏi nhỏ:

– Gia đình Kim có định… có định… đi không Kim?

Kim nhìn bạn, nửa ngạc nhiên, nửa dò xét. Rồi khi thấy không có gì khác lạ trên gương mặt của người bạn trai, Kim thở dài nhìn ra mưa:

– Gia đình Kim mà đi đâu, Nghĩa! Chạy gạo hằng ngày thì lấy vàng đâu mà đi chui?

Nghĩa bối rối, người hơi lắc lư:

– Thì… hỏi là hỏi vậy thôi, chớ Nghĩa cũng biết…

Ba của Kim làm thầy giáo. Hồi thời “ngụy”, bị động viên, rồi chạy chọt được biệt phái trở về đi dạy học – để khỏi đi đánh giặc. Qua trào Việt Cộng, hai chữ “biệt phái” đã làm cho họ nghi là CIA nên bắt đi học tập từ đó đến giờ. Ở nhà, má và chị Hai của Kim chạy ngược chạy xuôi lảnh đồ về may để nuôi năm miệng ăn và góp nhóm chút đỉnh để lâu lâu đi thăm ba của Kim một chuyến. Cho nên, nói chuyện “lo đi vượt biên” cũng như chuyện xuống biển mò trăng…

Bên gia đình Nghĩa cũng không hơn. Ngày xưa, ba Nghĩa làm kế toán ngân hàng, bây giờ đan giỏ chầm nón ở tổ “Mây Tre” Phú Nhuận với má Nghĩa. Hai ông bà sáng đi tối về, đèo nhau trên xe đạp. Nghĩa và con nhỏ em đi học, tối về dán bao giấy bỏ mối cho mấy bà ngoài chợ gói hàng. Bữa cơm gia đình thường là tương chao hoặc ba  cái trứng luộc dầm nước mắm. Chuyện “vượt biên” đúng là chuyện mò trăng đáy biển!

Bỗng Kim nhìn Nghĩa, một thoáng tinh ranh nằm trong ánh mắt:

– Còn Nghĩa? Có tính đi không?

Nghĩa phì cười, miệng rộng huệch:

– Kim trả thù hả?

Kim cười bằng mắt, nhái lại câu của Nghĩa khi nãy, người cũng nhẹ lắc lư:

– Thì… hỏi là hỏi vậy thôi.

Không bảo nhau mà cả hai cùng phá lên cười, cái cười che giấu sự sung sướng bên trong của mỗi đứa, cái cười của những người cùng cảnh ngộ gặp nhau, cái cười không phải của niềm vui mà là của sự an ủi. Rồi chúng nó nhìn nhau một thoáng, trước khi quay nhìn đi nơi khác để cảm thấy thật gần gũi nhau vô cùng.

Mưa thôi ồ ạt nhưng vẫn chưa dứt hột thì nửa vùng trời đã hé nắng ở đằng kia. Ánh nắng xiên xiên thật sáng, thật trong làm như vừa được mưa lau sạch  bụi! Nắng chiều mà giống như nắng sáng.

Nắng xuyên mưa đổ xuống chỗ Kim và Nghĩa, giống như vệt đèn pha sân khấu. Nghĩa nhìn Kim đứng trong vùng ánh sáng đó bỗng nhớ tới vở kịch thần thoại Liên Xô mà hai đứa đóng trong trường cách đây mấy tháng, trong đó Nghĩa làm người cùng khổ còn Kim là bà tiên áo trắng, mái tóc đầy kim tuyến lấp lánh như kim cương. Bây giờ, những giọt mưa đọng lại trên tóc Kim cũng lấp lánh như kim cương trong tia nắng chiều nghiêng chụp xuống. Đẹp quá!

Kim chợt bắt gặp cái nhìn ngây dại của bạn, nóng bừng hai tai.

– Nhìn gì kỳ vậy Nghĩa?

Nghĩa giật mình, người hơi lắc lư:

– Nghĩa đang nhìn mấy giọt nước trên tóc Kim. Nó… Nó…

Kim mỉm cười, lắc mạnh đầu mấy cái rồi đưa hai tay vuốt tóc tém vào ót. Tóc được gom lại, dính vào nhau thành một cái đuôi cong cong.

Nghĩa tiếp:

– Nó giống như kim cương. Thật giống kim cương. Uổng quá!

– Cái gì uổng?

Kim ngạc nhiên hỏi. Nghĩa đang tiếc rẻ hình ảnh đẹp của Kim khi nãy với những giọt mưa trên tóc, bất ngờ bị hỏi vặn, không biết phải trả lời làm sao. Nghĩa đưa tay gãi ót, chặc lưỡi:

– Thì…

Mắt Nghĩa bỗng sáng lên, mặt hí hửng. Một ý nghĩ vừa thoáng qua trong đầu, Nghĩa chụp lấy như người sắp chết đuối chụp lấy cái phao:

– Uổng quá chớ! Nếu là kim cương thiệt thì Kim dư sức đưa gia đình đi vượt biên rồi.

Rồi Nghĩa cười lên ha hả, cái cười của người vừa thoát nạn. Kim cũng cười theo bạn, nhưng cười vì cái ý nghĩ ngộ nghĩnh bắt nguồn từ những giọt mưa trên tóc.

Trời cũng vừa hết mưa. Đường phố khi nãy vắng tanh, bây giờ đầy người trở lại. Làm như mưa ngừng cho nước rút xuống để rừng người mọc lên! Nghĩa và Kim nhập vào đoàn người đạp xe về ngã Phú Nhuận. Không khí sau mưa mát rượi. Hai đứa đều có cảm giác như mặt mũi mình vừa được rửa sạch trong cơn mưa.

Đến ngã tư Phú Nhuận, Nghĩa vẫy tay chào bạn:

– Thôi, “bye” nghe Kim.

Rồi cắm đầu đạp nhanh về hướng Gia Định trong lúc Kim quẹo sang trái để về cổng Phi Long.
 

***

Sau bữa cơm tối, ba gọi Nghĩa và con nhỏ em vào buồng, kéo ngồi xuống chiếc chiếu trải dưới đất, vẻ nghiêm trọng, thấp giọng nói:

– Hổm rày ba má giấu tụi con. Bây giờ, tới lúc phải cho tụi con biết. Khuya nay mình vượt biên.

Nghĩa cảm thấy choáng váng mày mặt, mồ hôi đổ ra như tắm. Trước mắt Nghĩa bỗng là một khoảng trống không mơ hồ. Nghĩa không còn thấy ba. Nghĩa không còn thấy em. Nhưng Nghĩa còn loáng thoáng nghe tiếng ba nửa xa nửa gần:

– Ba sẽ chở má. Nghĩa chở em. Mình đạp xuống cầu Kinh, bỏ xe ở nhà bác Tám rồi băng ruộng ra bờ sông cách đó chừng năm trăm thước. Ghe chờ ở đó. Tụi con đừng đem gì theo hết. Cứ đi tay không như mình đi thăm bác Tám vậy. Hiểu chưa?

Nghĩa gật đầu như người máy, nhưng Nghĩa không hiểu. Thật tình không hiểu! Ba má vẫn hay than vắn thở dài: “Phải chi nhà mình có chút đỉnh gì để liều một chuyến vượt biên như thiên hạ coi ra sao”. Khi gặp bạn bè, ba thường chép miệng: “Tôi mà biết bị kẹt lại như vầy, tôi đã đưa gia đình di tản cha nó hồi bảy mươi lăm rồi! Bây giờ thì thôi. Đành muôn năm ở lại với Bác!”. Vậy mà bây giờ… bây giờ… Nghĩa không hiểu! Thật tình không hiểu! Mới hồi nãy đây, còn đứng đụt mưa chung với Kim, còn đùa nhau về chuyện vượt biên – lý do để hai đứa thấy gần nhau hơn nữa – còn đạp xe song song trên đường dài – dù đường dài có dài thăm thẳm chắc hai đứa lúc nào cũng đạp xe song song… Vậy mà bây giờ… bây giờ… Sao nó giống như ngã tư Phú Nhuận, mỗi đứa đi về một hướng, hai hướng ngược nhau trên một đường thẳng, nghĩa là chẳng bao giờ gặp lại nhau  dù có kéo mãi về vô tận. Và những giọt mưa trên tóc. Ờ… những giọt mưa trên tóc! Những gì hồi nãy mới thấy đây, mới hiện diện đây, những rung động, những cảm nhận thật rõ ràng mới đây, hồi nãy, khi đứng đụt mưa với Kim dưới mái hiên tiệm giày… bây giờ sao giống như giọt mưa trên tóc, chỉ một cái lắc đầu đã rơi mất trong không gian! Còn Kim?… Kim?… Kim sẽ làm sao? Một câu hỏi thật ngớ ngẩn nhưng nói lên chiều sâu của tình yêu vừa chớm, thứ tình yêu chưa rõ nét như bước chân chập chững của trẻ thơ, thứ tình yêu còn thơm mùi giấy mực học trò, còn thật thà như đọc cửu chương hai! Nghĩa bỗng thấy cần phải gặp Kim. Gặp ngay bây giờ. Không biết để làm gì, nhưng phải gặp. Không biết sẽ nói cái gì, nhưng cứ gặp trước cái đã. Có một cái gì thúc đẩy từ bên trong. Có một cái gì kêu gọi từ bên ngoài. Nghĩa không hiểu nữa. Cảm thấy thật cần thiết, thật cấp bách!

Nghĩa bước ra phòng khách, với tay lên kệ lấy đại hai quyển sách gì đó rồi nói với ba đang soạn giấy tờ trên bàn:

– Con đem trả sách cho thằng Tuân.

Khi thấy ba nhìn mình soi mói, Nghĩa tiếp:

– Trả cho nó học.

Ba gật đầu:

– Ờ… Nhưng ba cấm con nói “chuyện đó” với bất cứ ai, dù là bạn thân cũng vậy. Nghe chưa?

Nghĩa gật đầu, đẩy xe đạp ra sân. Ba nói với theo:

– Trả rồi về ngay nghe con, Nghĩa.

Nghĩa “dạ” rồi phóng lên xe, đạp thật nhanh. Trên đường Phan Đăng Lưu (Chi Lăng cũ), Nghĩa ném hai quyển sách vào một đống rác rồi đi thẳng.

Nhà Kim ở xóm cổng Phi Long. Nghĩa vẫn quen lui tới. Vậy mà bây giờ sao thấy nó xa thăm thẳm. Mặc dù xe đã lao nhanh nhưng Nghĩa vẫn có cảm tưởng như hãy còn quá chậm. Nghĩa vừa nhấn mạnh bàn đạp vừa nghĩ miên man: “Không biết phải nói làm sao đây? Ba đã cấm thì mình làm sao nói? Mà không nói làm sao Kim hiểu? Không biết mình đi có thoát không? Rồi cuộc đời sẽ ra sao? Không có Kim mình sẽ ra sao? Còn Kim? Kim sẽ ra sao? Ra sao?… Ra sao?…”. Thật nhiều câu hỏi để không có được một câu trả lời. Người con trai đó cảm thấy thật chơi vơi, tất cả đều vuột khỏi tầm tay, tất cả đều vượt khỏi tầm suy luận của nó, nó không hiểu được gì hết, không chủ động được chuyện gì hết! Lần đầu tiên, người con trai đó nhận thấy cuộc đời này quá nhiều rắc rối chớ không đơn giản như những bài toán ở trong trường, mà mình thì giống thằng học trò dốt nhìn tấm bảng đen thấy nó rộng bằng cái sân banh…

Khi Nghĩa vừa thắng xe trước cổng nhà Kim thì con chó chạy ra sủa mấy tiếng rồi chồm lên cửa sắt vẫy đuôi mừng. Có tiếng má của Kim hỏi vọng ra:

– Ai đó?

– Dạ thưa cháu.

Nghĩa trả lời.

– Nghĩa hả? Đi đâu tối vậy?

Rồi đèn dưới hiên được bật lên, một bóng đèn nhỏ xíu tỏa ánh sáng vàng vọt như ánh sáng cây đèn dầu. Má của Kim bước ra mở cổng:

– Cháu ngồi chơi. Em nó tắm rồi ra bây giờ. Bác còn phải vô may tiếp mớ đồ để mai giao…

Nghĩa “dạ”, rồi dựng xe vào tường rào. Con chó chạy lại quắn quýt mừng rồi chạy vào trong sủa mấy tiếng như để báo là nhà có khách! Nghĩa nhìn quanh: nhà vắng teo, chỉ nghe có tiếng máy may xành xạch đều đều. Nghĩa nghĩ: “Chắc mấy đứa nhỏ về dưới quê hết rồi. Chớ không thì đã chạy ào ra mừng như mọi khi”. Sân nhà Kim tuy nhỏ nhưng tráng xi măng sạch sẽ. Ở góc sân có cây mận khá lớn, tàng gie ra phủ lấy sân như cây lộng. Dưới gốc mận, có mấy gộc củi to đặt đứng để làm ghế ngồi. Trên thân cây mận, hãy còn treo mấy giỏ phong lan mà ba của Kim trồng hồi đó.

Khi Nghĩa vừa ngồi xuống cạnh gốc mận thì Kim cũng vừa bước ra hiên nhà. Tóc Kim chải ngược về phía sau, để lộ khuôn mặt đều đặn với đôi mắt ngời tinh anh. Kim dừng ở hiên một chút… như để định hướng, rồi mới bước tiếp ra sân. Chỉ trong một thoáng đó thôi – một thoáng dừng lại của Kim – Nghĩa bỗng thấy không gian chìm mất chỉ còn lại gương mặt của người bạn gái là hiện hữu, là sinh động, là rạng rỡ… Nghĩa thấy gương mặt đó thật rõ, thật sáng. Thấy mái tóc hãy còn láng nước, tóc mai còn dán vào má vào tai. Thấy vầng trán rộng, thấy đôi mày dài. Thấy ánh sao trong mắt, thấy nét cười phớt nhẹ làn môi… Chỉ trong có một giây thật ngắn ngủi – như một chớp mắt – mà sao ngần đó nét, ngần đó chi tiết được Nghĩa nhìn thấy hết, thâu nhận rõ hết. Phải chăng đó là hình ảnh của Kim mà Nghĩa muốn ghi lần cuối cùng vào tim vào óc? Ghi lấy để giữ lấy mãi mãi, bởi vì, sẽ không còn có lần nào khác nữa để Nghĩa được nhìn Kim như bây giờ…

Kim vừa bước về hướng Nghĩa, vừa hỏi:

– Ủa? Đi đâu mà tối vậy Nghĩa?

Yên lặng. Từ cái thoáng dừng lại khi nãy của Kim, từ cái thoáng đặt hết tâm tư vào gương mặt của người bạn gái, Nghĩa không còn cảm nhận được sự hiện diện của mình. Tiếng của Kim, Nghĩa nghe loáng thoáng như trong chiêm bao.

Nghĩa chỉ sực tỉnh khi Kim đã ngồi đối diện. Người con gái đó có dáng ngồi thật thẳng, thật ngoan, thật dễ thương với hai bàn tay đặt nằm thoai thoải trên đầu gối. Ở Kim, toát ra một cái gì vừa tươi mát vừa tinh khiết, lại vừa trầm lặng với sức sống căng đầy. Nghĩa cảm thấy bối rối, không biết phải nói cái gì, nói làm sao, rồi miên man nghĩ: “Chắc Kim sẽ buồn lắm khi nghe mình nói. Chắc Kim cũng sẽ… cũng sẽ đau khổ lắm khi biết mình đi. Bây giờ còn ngồi đây với nhau chớ lát nữa đây, rồi ngày mai, rồi mãi mãi sẽ không còn gặp nhau nữa. Vĩnh viễn không gặp nhau nữa. Vĩnh viễn… Vĩnh viễn…”. Nghĩa thấy thương Kim. Nghĩa thấy thương Nghĩa. Nghĩa thấy thương hai đứa. Nghĩa muốn khóc! Nghĩa không dám nhìn thẳng mặt Kim. Nghĩa nhìn đôi bàn tay thon nhỏ của Kim, đôi bàn tay ngoan hiền nằm trên đầu gối. Đôi bàn tay đó đã từng vẫy gọi Nghĩa trong đám đông, đã từng vỗ vào nhau thành nhịp khi Nghĩa đàn, và một hôm, đã từng kết lại giùm Nghĩa cái nút áo, sau một lần vật lộn với bầy em của Kim. Đôi bàn tay đó, rồi đây, suốt cuộc đời về sau, Nghĩa sẽ không còn được cầm lấy, nắm lấy, hay nhìn thấy, dù là trong giấc mộng. Không tự chủ được, Nghĩa nghiêng người tới cầm lấy hai bàn tay của Kim. Một cử chỉ thật đột ngột làm Kim sửng sốt định rút tay về, nhưng khi thấy Nghĩa chẳng có nét gì sỗ sàng nên để yên. Nghĩa giữ tay Kim trong tay mình như giữ một vật gì đẹp nhứt, quí nhứt của cuộc đời này. Như hơi thở. Như nhịp tim. Như tình yêu… tình yêu… tình yêu…

Yên lặng. Nghĩa ngồi như pho tượng. Lưng khom khom, đầu chúc xuống, cùi chỏ chống lên đùi làm hai vai nhô lên. Kim không nhìn thấy mặt Nghĩa, nhưng Kim “nhìn” thấy tâm tư của Nghĩa trong đôi bàn tay và trong dáng ngồi của bạn. Đôi bàn tay muốn nắm thời gian ngừng lại và dáng ngồi nói lên niềm thống khổ vô biên…

Yên lặng. Rồi có tiếng Kim hỏi, thật trầm tĩnh: “Nghĩa đi hả?”

Không có tiếng trả lời. Nhưng Nghĩa gật gật đầu, cái đầu đã ở sẳn tư thế cúi thấp xuống của một người nhận chịu số phận! Rồi vai Nghĩa bỗng run run, Nghĩa gục xuống tay nấc lên khóc. Bấy giờ – và chỉ bấy giờ – những ngón tay của hai đứa mới đan vào nhau, tự nhiên đan vào nhau, giữ lấy nhau, giữ chặt lấy nhau. Không biết tại sao? Không biết để làm gì? Mà cần gì phải biết, khi tất cả đều vô nghĩa? Vô nghĩa!

Yên lặng. Không gian không còn nữa. Thời gian không còn nữa. Vũ trụ bây giờ nằm trọn trong lòng tay hai đứa, một vũ trụ rách nát, đau thương. Ở đó, giữa những ngón tay đan chặt vào nhau, tình yêu vừa mới sinh ra, còn măng non nhưng sao đã thấy già nước mắt….

Yên lặng. Kim không khóc. Kim vẫn ngồi thẳng, nhìn thẳng, tuy tâm hồn đã tê dại. Phải một lúc lâu sau, thật lâu sau, Kim mới trở về với chính mình để nhận thấy rằng bỗng nhiên mình già đi mười mấy tuổi! Kim nhìn xuống Nghĩa, chỉ thấy cái đầu tóc ngắn, cái ót gầy gầy, đôi vai nhô cao. Hình ảnh cuối cùng của Nghĩa là đây chăng? Người con trai có đôi mắt xếch xếch, có cái cười rộng huỵch làm cho một bên má lúm đồng tiền, người con trai đã làm Kim rung động, người con trai đã làm Kim xao xuyến, người con trai đó, bây giờ, Kim chỉ nhìn thấy được có cái ót và đôi vai thôi! Rồi mai mốt… mai mốt… Một chua xót đang trạo trực dâng lên. Kim cắn môi kềm lại. Yên lặng…

Một lúc sau, Kim hỏi, giọng lạc đi:

– Chừng nào?

Nghĩa ngồi thẳng lên, tay vẫn không rời tay Kim, mặt còn đầy nước mắt, giọng cũng lạc đi:

– Khuya!

Kim nhìn gương mặt méo mó vì đau khổ của Nghĩa bỗng nghe xúc động dạt dào. Kim muốn chồm tới ôm lấy Nghĩa, ôm lấy gương mặt đầy nước mắt đó áp vào má mình, ôm thật chặt, xiết thật chặt, để mọi niềm đau được cùng chia sớt, để mọi nỗi hận được cùng xẻ đôi. Nhưng Kim gượng lai, gượng lại vì lễ giáo, và gượng lại vì sợ không rời nhau ra được nữa… Trào lòng dâng dậy miên man, Kim nhắm nghiền mắt lại, siết những ngón tay của Nghĩa, siết với hết sức mình, siết thật mạnh, siết thật đau, siết như để nén một trời thống khổ, siết như để bóp vỡ một cái gì uất nghẹn trong tim, siết như đang cố gắng nuốt một liều thuốc đắng, siết như… siết như để chia tay lần cuối trước khi lìa đời… Kim cắn răng để đừng bật khóc!

Yên lặng. Lâu sau, Nghĩa buông tay Kim đứng lên, lủi thủi lại lấy xe đạp. Kim bước theo, nhẹ như một cái bóng. Kim mở cổng, tiếng cổng rỉ sét rên lên. Nghĩa dẫn xe ra, không dám nhìn lại cũng không dám nói một lời, chỉ phóng lên xe đi thẳng. Kim đóng cổng, cổng sắt lại rên lên trước khi kêu cái rầm khô khan. Kim có cảm tưởng như mình vừa bị nhốt trong tù. Ngoài kia, đã là một thế giới khác.

Khi Kim bước lên cầu thang để lên gác – cái gác lửng ba làm cho Kim ngủ và học riêng một mình trên đó – Kim bỗng nghe hai chân mình yếu đi, chẳng còn chút sức lực nào hết. Kim cố bám từng nấc thang, mồ hôi đổ ra như tắm. Lên đến bên trên, Kim chỉ còn đủ sức gieo mình xuống giường, úp mặt xuống gối, khóc ngất… Bao nhiêu nước mắt trần gian xin gởi hết cho Kim, người con gái mang tâm trạng người góa phụ.
 

***

Trời mưa Paris. Ở đây không có “mưa rồi chợt nắng” như ở Sàigòn. Ở đây, mưa không ngập tràn cống rãnh, mưa không đưa rác trôi quanh phường phố. Cũng không có trẻ con cởi truồng chạy giỡn trong mưa. Cho nên, chẳng có gì để gợi nhớ như mưa Sàigòn…

Nghĩa ngồi một mình uống cà phê trong một bar ở khu Maubert. Hai cô đầm tránh mưa kéo vào ngồi bàn trước mặt. Những giọt mưa trên mái tóc vàng gợi nhớ những giọt mưa trên mái tóc đen của Kim hồi đó. Hồi đó, nghĩa là đã hơn bảy năm. Bảy năm không một tin tức gì hết của Kim, mặc dù đã gởi không biết bao nhiêu thơ, đã nhắn không biết bao nhiêu lời qua bạn bè của hai đứa! Cứ im lìm trống rỗng, làm như những chuyện gì đã xảy ra hồi đó chỉ là một ảo ảnh, một giấc mơ…

Những giọt mưa trên tóc hai cô đầm trước mặt vẫn lấp lánh dưới ánh đèn trong bar càng gợi lại hình ảnh Kim trong lần đụt mưa hồi đó với những giọt mưa trên tóc, rõ ràng như Nghĩa đang nhìn bây giờ. Vậy mà bây giờ….

Nghĩa đốt điếu thuốc. Hít một hơi dài bỗng nghe khói thuốc thật đắng và làm cay chảy nước mắt!

 Tiểu Tử

Những câu chuyện Di Tản của nhà văn Tiểu Tử (RFA)

 Những câu chuyện Di Tản của nhà văn Tiểu Tử

Hành trình vượt biên được nói nhiều, viết nhiều bởi những ngòi bút hải ngoại, nhưng bên cạnh cuộc vượt biên vĩ đại đó, những hình ảnh của cuộc di tản cũng không kém phần đau thương của người dân Việt Nam hầu như bị bỏ quên.

Tường An, thông tín viên RFA

2011.04.30

Nhà văn Tiểu Tử

Photo by Tường An/RFA

vtan04302010.mp3

00:00/00:00

Nhà văn Tiểu Tử – hiện đang định cư tại Pháp – là một trong số rất ít những nhà văn đã ghi lại những hình ảnh này để nhớ lại một giai đoạn bi thảm trong hành trình tìm tự do. Thông tín viên Tường An trò chuyện với nhà văn Tiểu Tử và giới thiệu một vài đoản văn của ông về cuộc di tản trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Mời quý vị cùng nghe:

Với lối hành văn mộc mạc của người Nam Bộ, những truyện ngắn của nhà văn Tiểu Tử luôn luôn gây xúc động cho người đọc bằng những hình ảnh rất đơn giản trong cuộc sống hàng ngày: một chiếc nón lá, một tô cháo huyết, một cái quần rách, một bản vọng cổ. Những hình ảnh rất đời thường đó, qua giọng văn của ông đã biến thành những âm điệu quê hương khơi dậy nhiều dòng nước mắt.

Cuộc di tản kinh hoàng

Dân chúng quá sợ cộng sản qua sự kiện Tết Mậu Thân đã bỏ chạy khi thấy các đơn vị quân đội rút khỏi Huế. Photo by Trần Khiêm.

Trong tâm tư người Việt hải ngoại, cuộc vượt biên đánh dấu một đoạn đời không thể quên, tuy nhiên nhà văn Tiểu Tử muốn nhắc cho mọi người nhớ lại một một cuộc hành trình khác không kém phần bi thảm đã xảy ra trên chính quê hương của mình trước ngày 30 tháng 4 năm 75. Đó là cuộc di tản từ miền Trung vào miền Nam, từ làng này sang làng khác của người dân để trốn chiến tranh. Ông cho biết lý do ông chọn đề tài này:

“Mỗi một hình ảnh có một cái đau thương riêng của nó. Hình ảnh di tản là cái đầu tiên hết mà mình thấy, thành ra nó gây xúc động mạnh hơn cái hình ảnh của cuộc hành trình tị nạn. Mặc dù rằng hành trình tị nạn có nhiều cái ví dụ như chết ở dưới biển, bị Thái lan nó hãm hiếp rồi nó chặt đầu….này kia…Cái đó là cái mình thấy sau này. Tức là không phải cũng một lúc mà mình có ngần đấy hành trình tị nạn, nghĩa là, nó rời rạc.

Trong lúc đó, thì cuộc di tản nó ồ ạt, nó nhiều, nó đông và cùng một lúc. Thành ra những cái đau thương của cuộc di tản bị cái ồ ạt đó che lấp đi mình không thấy. Nếu mà mình thấy được, viết ra được tất cả những cái đau thương khổ cực trong lúc di tản. Mình sẽ thấy có nhiều hơn nhiều lắm. Bởi vì, nó đông, cái số người đi di tản cũng một lúc, đông lắm.”

Nếu mà mình thấy được, viết ra được tất cả những cái đau thương khổ cực trong lúc di tản. Mình sẽ thấy có nhiều hơn nhiều lắm.

Nhà văn Tiểu Tử

Xin mời quý thính giả cùng nghe 1 đoạn tả lại một hình ảnh trong cuộc di tản:

Giữa cầu thang, một bà già, bà mặc quần đen áo túi trắng đầu cột khăn rằn, bà đang bò nặng nhọc lên từng nấc thang. Bà không dáo dác nhìn trước ngó sau hay có cử chỉ tìm kiếm ai, có nghĩa là bà già đó đi một mình. Phía sau bà thiên hạ dồn lên, bị cản trở nên la ó! Thấy vậy, một thanh niên tự động lòn lưng dưới người bà già cõng bà lên, xóc vài cái cho thăng bằng rồi trèo tiếp.

Chuyện chỉ có vậy, nhưng hình ảnh đó đã đeo theo nhà văn Tiểu Tử từ bao nhiêu năm, ông thắc mắc:

“Bà già đó sợ gì mà phải đi di tản? Con cháu bà đâu mà để bà đi một mình? Rồi cuộc đời của bà trong chuỗi ngày còn lại trên xứ định cư ra sao? Còn cậu thanh niên đã làm một cử chỉ đẹp – quá đẹp – bây giờ ở đâu?… Tôi muốn gởi đến người đó lời cám ơn chân thành của tôi, anh ta đã cho tôi thấy cái tình người trên quê hương tôi nó vẫn là như vậy đó, cho dù ở trong một hoàn cảnh xô bồ hỗn tạp như những ngày cuối cùng của tháng tư 1975…

Những bàn tay nhân ái

Quá sợ cảnh tàn sát của cộng sản trong trận Tết Mậu Thân, người dân bỏ nhà cửa, ruộng đất gồng gánh theo đoàn quân di tản. Photo by Trần Khiêm.

Đàn bà, trẻ con luôn luôn là những mảnh đời lau sậy, yếu đuối  trong cơn lốc của chiến tranh, truyện của Tiểu Tử hầu như luôn có những bàn tay nhân ái đưa ra gánh vác những mảnh đời lau sậy này:

Trong luồng người đi như chạy, một người đàn bà còn trẻ mang hai cái xắc trên vai, tay bồng một đứa nhỏ. Chắc đuối sức nên cô ta quị xuống. Đứa nhỏ trong tay cô ta ốm nhom, đang lả người về một bên, tay chân xụi lơ. Người mẹ – chắc là người mẹ, bởi vì chỉ có người mẹ mới ôm đứa con quặt quẹo xấu xí như vậy để cùng đi di tản, và chỉ có người mẹ mới bất chấp cái nhìn bàng quan của thiên hạ mà khóc than thống thiết như vậy – người mẹ tiếp tục van lạy cầu khẩn.

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem. Thằng nhỏ ốm đến nỗi cái xương sống lồi lên một đường dài…

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem.

Nhà văn Tiểu Tử

Anh thứ hai đã lấy trong túi ra chai dầu,  rồi cạo gió bằng miếng thẻ bài của quân đội. Họ bồng đứa nhỏ, vừa chạy về phía cầu thang vừa cạo gió! Người mẹ cố sức đứng lên, xiêu xiêu muốn quị xuống, vừa khóc vừa đưa tay vẫy về hướng đứa con. Một anh lính Mỹ chợt đi qua, vội vã chạy lại đỡ người mẹ, bồng xốc lên đi nhanh nhanh theo hai chàng thanh niên, cây súng anh mang chéo trên lưng lắc la lắc lư theo từng nhịp bước….

Hình ảnh người Mẹ lúp xúp chạy theo đứa con sắp chết của mình trong tay một người xa lạ, Hình ảnh ấy, mặc dù đã hơn ba mươi năm, nhưng khi viết lại câu chuyện này, nhà văn Tiểu Tử vẫn:

“Cầu nguyện cho mẹ con thằng nhỏ được tai qua nạn khỏi, cầu nguyện cho hai anh thanh niên có một cuộc sống an vui tương xứng với nghĩa cử cao đẹp mà hai anh đã làm. Bây giờ, tôi nhìn mấy anh lính Mỹ với cái nhìn có thiện cảm!

Quê hương xa rồi

Mọi người đổ xô ra biển để theo tàu vào Đà Nẵng. Photo by Trần Khiêm.

Cái nón lá, hình ảnh mộc mạc, thân quen đến độ người ta không còn nhớ đến nó, không để ý đến nó. Nhưng trong giờ phút chia lìa, nó bỗng trở thành một cái gì gắn bó, một cái gì thân thuộc mà nếu rời xa, người ta tưởng chừng như xa cả quê hương:

Cũng trên chiếc cầu thang dẫn lên tàu, một người đàn ông tay ôm bao đồ to trước ngực, cõng một bà già tóc bạc phếu lất phất bay theo từng cơn gió sông. Bà già ốm nhom, mặc quần đen áo bà ba màu cốt trầu, tay trái ôm cổ người đàn ông, tay mặt cầm cái nón lá. Bà nép má trái lên vai người đàn ông, nét mặt rất bình thản của bà, trái ngược hẳn với sự thất thanh sợ hãi ở chung quanh!

Lên gần đến bong tàu, bỗng bà già vuột tay làm rơi cái nón lá. Bà chồm người ra, hốt hoảng nhìn theo cái nón đang lộn qua chao lại trước khi mất hút về phía dưới. Rồi bà bật khóc thảm thiết…

Bà già đó chắc đã quyết định bỏ hết để ra đi. Yên chí ra đi, vì bà mang theo một vật mà bà xem là quí giá nhứt, bởi nó quá gần gũi với cuộc đời của bà:

“Đó là cái nón lá! Đến khi mất nó, có lẽ bà mới cảm nhận được rằng bà thật sự mất tất cả. Cái nón lá đã chứa đựng cả bầu trời quê hương của bà, hỏi sao bà không xót xa đau khổ? Tôi hy vọng, về sau trên xứ sở tạm dung, bà mua được một cái nón lá để mỗi lần đội lên bà sống lại với vài ba kỷ niệm nào đó, ở một góc trời nào đó của quê hương…

Những cuộc chia tay xé lòng

Dân chúng quá sợ cộng sản qua sự kiện Tết Mậu Thân đã bỏ chạy khi thấy các đơn vị quân đội rút khỏi Huế. Photo by Trần Khiêm.

Ngòi bút của ông trải dài qua nhiều đoạn đời bi thảm của cuộc di tản, nhưng hình ảnh thương tâm nhất đã ở lại mãi trong tâm hồn ông là cảnh chia tay xé lòng của hai cha con trên một bến tàu, cuộc chia tay không có tiếng còi tàu hú dài, cũng không có cả một lời từ biệt mà cả cha lẫn con đều biết là sẽ không có ngày gặp lại, nhà văn Tiểu Tử chia sẻ:

“Cái hình ảnh làm tôi xúc động nhất có lẽ là cái hình ảnh mà thằng nhỏ mà Cha nó dẫn đi ra bến tàu. Cầu tàu kéo lên rồi Cha nó lạy lục những người trên tàu. Những người trên tàu thòng xuống cái sợi dây. Người Cha nắm được cái sợi dây cột ngang eo ếch của thằng con, rồi ra dấu cho ở trên kéo thằng con lên.

Thằng con không khóc, không giãy dụa. Nó nghiêng người nhìn xuống cái người đứng ở dưới, lúc đó tôi mới đoán ra cái người đứng ở dưới là Cha của nó. Người đứng ở dưới ra dấu “đi đi, đi đi”. Rồi tự nhiên tôi thấy ông già đó úp mặt vô hai tay khóc nức nở, tôi thấy tôi cũng ứa nước mắt.

Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất! Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!

Nhà văn Tiểu Tử

Bên cạnh ông là một thằng nhỏ cỡ chín mười tuổi, nép vào chân của ông, mặt mày ngơ ngác. Người đàn ông chắp tay hướng lên trên xá xá nhiều lần như van lạy người trên tàu. Bỗng trên tàu thòng xuống một sợi thừng, đầu dây đong đưa. Mấy người bên dưới tranh nhau chụp. Người đàn ông nắm được, vội vã cột ngang eo ếch thằng nhỏ. Thằng nhỏ được từ từ kéo lên, tòn teng dọc theo hông tàu, hai tay nắm chặt sợi dây, ráng nghiêng người qua một bên để cúi đầu nhìn xuống. Người đàn ông ngước nhìn theo, đưa tay ra dấu như muốn nói: “Đi, đi! Đi, đi!”. Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất! Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!

Không biết thằng nhỏ đó –bây giờ cũng đã trên bốn mươi tuổi — ở đâu? Cha con nó có gặp lại nhau không? Nếu nó còn mạnh giỏi, tôi xin Ơn Trên xui khiến cho nó đọc được mấy dòng nầy.

Bên cạnh nghề chính là một kỷ sư hóa học. Nhà văn Tiểu Tử, với trên dưới 30 truyện ngắn ở hải ngoại đã cùng với Lê Xuyên, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Ngọc Tư đưa văn học miền Nam đến với người đọc bằng ngôn ngữ bình dị mà thắm thiết, lắt léo mà bao dung, đơn sơ nhưng chan hòa tình cảm.

GIA ĐÌNH là “‘trường học đào tạo cho nhân tính được hoàn hảo và phong phú hơn’

GIA ĐÌNH là “‘trường học đào tạo cho nhân tính được hoàn hảo và phong phú hơn’

Ngày Chúa Nhật thật ấm áp và hạnh phúc trong Tình Yêu Thiên Chúa nhé.

CN: 01/05/2022

TIN MỪNG: Người [Chúa Giê-su] hỏi lần thứ ba: “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có thương mến Thầy không?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: “Anh có thương mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su bảo: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy. (Ga 21:17)

SUY NIỆM: Trong tông huấn FAMILIARIS CONSORTIO (nhiệm vụ gia đình trong thế giới ngày nay) của Đức Gioan Phaolô II có viết: GIA ĐÌNH là “‘trường học đào tạo cho nhân tính được hoàn hảo và phong phú hơn’: điều đó được thể hiện qua việc chăm sóc và tình yêu dành cho các em nhỏ, những người đau yếu, những người già cả, qua những việc phục vụ lẫn nhau trong đời sống hằng ngày, qua việc chia sẻ của cải, chia sẻ những niềm vui và nổi khổ.”

 Bạn nghĩ gì về gia đình của bạn hôm nay? Dựa trên lời Chúa hỏi ông Phê-rô đến 3 lần “Con có thương mến Thầy Không” rồi Ngài bảo “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” có bao giờ bạn nghĩ chính gia đình của bạn là đàn chiên và mỗi một phần tử trong gia đình là con chiên? Từ muôn thuở Chúa đã mời gọi con người bằng tiếng gọi yêu thương của Chúa. “Từ muôn đời Chúa đã yêu con, và còn yêu con mãi mãi…” Con người đáp lại tiếng gọi yêu thương của Chúa qua chính ơn gọi của của mình. Những ơn gọi đó là:

(1) Làm con Thiên Chúa,

(2) ơn gọi tu trì hoặc ơn gọi hôn nhân,

(3) Ơn gọi dâng hiến cuộc đời mình theo sát Chúa Ki-tô qua bậc sống độc thân với lời khấn Khiết Tịnh cam kết chỉ có Chúa là điều cần thiết duy nhất của đời mình.  Nếu Chúa hỏi bạn 3 lần “con có thương mến Thầy không”? Bạn trả lời thế nào? Hiển nhiên nếu Chúa hỏi thì dễ trả lời rồi.  Tuy vậy nhưng không phải vậy đâu bạn ạ. Điều mà Chúa muốn nghe nơi ông Phê-rô đáp là lời hứa của một tình yêu AGAPE, tình yêu siêu việt, là dạng cao hơn tình yêu bình thường, nó được hiểu là tình yêu Thiên Chúa dành cho con người và con người dành cho Thiên Chúa, nó luôn được thể hiện bằng hành động, hành động đó được thể hiện rõ ràng nhất trên thập giá. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. (Ga 15:13) Bạn hứa với Chúa điều gì hôm nay? Đừng hứa rồi để thất hứa nhé.

LẮNG NGHE: Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. (Ga 14:15)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con chỉ xin Chúa một điều hôm nay là xin giúp con hãy yêu anh em con như Chúa yêu con vậy.

THỰC HÀNH: Lập lại lời thề hứa ơn gọi của mình.

From: Đỗ Dzũng

Hồng quân – Những con thú dữ được tháo xích xiềng

Van Pham

Hồng quân – Những con thú dữ được tháo xích xiềng

P.Nguyễn Dũng

Càng tiến về hướng Tây, Hồng quân Liên Xô càng đánh mất đi ý nghĩa tốt đẹp là một đoàn quân giải phóng. Người dân Ukraine phía Tây và các nước Baltic vốn quá rõ bản chất Liên Xô khi Kremlin từng thôn tính quê hương họ từ năm 1939 và do vậy hiểu rằng họ sẽ lại phải gánh chịu một sự thống trị về chính trị lẫn kinh tế. Người Ba Lan không quên rằng cũng vào năm 1939 họ từng bị quân Xô Viết tấn công, vào thời gian mà Liên Xô và phát xít Đức còn là “đồng minh”, thể hiện qua hiệp ước cam kết không gây hấn tấn công nhau Molotov-Ribentrop…

Như con thú dữ được tháo xiềng

Biến từ những kẻ “giải phóng” thành những người phạm tội ác, đoàn quân Liên Xô trở nên tham lam, lao vào nhặt nhạnh, hôi của và cướp bóc. Họ chỉ còn là những “con thú săn mồi bị thúc giục bởi sự bần cùng”, như nhà văn Sandor Marai viết trong cuốn Hồi ký Hungari (NXB Albin Michel, năm 2004):

“Càng chung đụng với họ, quan sát cách sống, sở thích, cách nói chuyện và phản ứng tự vệ của họ, dần dần tôi hiểu ra đâu là nguyên nhân của sự suy sụp nhân cách. Sau hàng chục năm bị tẩy não, bị nhồi sọ, bị bóc lột, bị cưỡng bức lao động tập thể, phải chịu cảnh thiếu thốn đủ mọi thứ, họ đã trở thành những kẻ ích kỷ, nhỏ nhoi, chăm chăm gom nhặt và giữ kỹ từ những thứ tưởng nhỏ nhặt nhất nhưng với họ lại là món quà quý để mang về nhà. Một đôi giày cũ, món đồ chơi, con búp bê, cái hàn thử biểu bị mẻ…, tất tất miễn sao là món đồ vật thực thụ mà họ thực sự là chủ sở hữu chứ không phải những thứ tưởng tượng từ lời tuyên truyền mị dân ráo hoảnh. Sự nghèo khốn thiếu thốn biến họ thành kẻ tham lam, trấn lột chứ không phải chỉ là sự căm ghét muốn trả thù lính Đức và người Đức. Trông họ đáng thương như những con chó ốm đói tranh nhau khúc xương”.

“Tồi tệ hơn nữa, họ bị kích động để trở thành công cụ tàn sát bất cứ ai không là đồng đội của họ. Chính quyền Moscow hô hào các binh sĩ trên đường hành quân giải phóng các nước khỏi phát xít Đức rằng, “Đừng đếm bao ngày tháng đã qua, đừng đếm bao nhiêu cây số đã vượt mà chỉ cần đếm số tên Đức mà các bạn đã giết”, một phóng viên chiến trường viết trong một bài báo được đọc trên radio và đăng tải bởi đủ báo địa phương vào Tháng Hai 1945. “Hãy giết bọn Đức, đây là lời khẩn cầu của mẹ bạn. Hãy giết bọn Đức, đây là tiếng thét từ miền đất quê hương của bạn”.

Đa số là lính mới chứ không phải là những sư đoàn từng chiếm đóng Ba Lan trong cuộc xâm lược năm 1939, họ bị các chính trị viên bơm vào đầu những khích lệ, ca ngợi và cuối cùng lính Xô Viết tin mình là những chiến sĩ giải phóng thực sự. Cho nên, trước thái độ thiếu thiện cảm của người dân các nước mà họ cho rằng đến giải phóng, lính Liên Xô lại có thêm lý do để tin rằng những hy sinh của mình bị “người ngoại quốc” xem thường. Và họ trả thù.

Như con thú dữ được tháo xích xiềng, lính Liên Xô mặc sức làm bậy, từ hôi của đến hãm hiếp và sát hại. Những hành động bạo lực kinh khủng của đoàn quân đến từ phương Đông, rất hung dữ và hầu như bất khả chiến bại khiến đàn ông ở các nước “được” giải phóng hoàn toàn bị khuất phục. Họ chẳng thể chống chọi lại. Họ cảm thấy mình quá bất lực và đành cúi đầu im lặng trong tủi nhục, uất ức. Sự im lặng cứ thế kéo dài năm này qua năm nọ ở Đức, Hungari, Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumani… Nó cộng thêm vào nỗi lo sợ trước sự tàn bạo và nhẫn tâm của Liên Xô. Nếu không thế thì toàn khu vực Đông Âu đã chẳng bị thống trị và phải theo Liên Xô mãi cho đến đầu thập niên 1990, đến khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 (và hai năm sau Liên Xô tan rã).

HỐT TRỌN TỪNG VIÊN GẠCH, BÙ LOONG

Ngoài những hành động xuất phát từ cá nhân, tập thể nhỏ, sự vơ vét như một hình thức trả thù còn được chính quyền Liên Xô lên kế hoạch từ năm 1943, được chính Stalin bật đèn xanh. Quốc gia bị hại nhiều nhất là Đức. Những nước ủng hộ Hitler cũng bị trừng phạt. Hàng loạt nhà máy, cơ xưởng công nghiệp Đức trở thành điểm tập kết của đoàn quân Nga. Họ đến tháo dỡ từ trên xuống dưới, tháo đi từ cây đinh vít, bù-loong…, chất lên xe lửa chở về Liên Xô, dù nhiều máy móc và trang thiết bị chẳng thể có hữu ích nào cho kinh tế Liên Xô vì không có kỹ sư, công nhân biết sử dụng, bảo trì và sửa chữa. Kremlin gọi những hành động ấy là “đền bồi thiệt hại chiến tranh”.

Theo kế hoạch, 3/4 trang thiết bị công nghiệp Đức sẽ được chở về Liên Xô. Stalin nói rằng Đức phải trả cho Liên Xô $10-12.8 tỷ đền bù thiệt hại. Thủ tướng Churchill phản đối nhưng cuối cùng vấn đề không được giải quyết vì thực tế là các nước Anh, Mỹ không thể làm gì để ngăn cản Hồng quân Liên Xô thực hiện “chiến dịch vơ vét để trả thù”. Tháng Ba 1945, một ủy ban do Kremlin dựng ra bắt đầu lập xong danh sách tài sản Đức bị tháo dỡ. Hè năm ấy, ủy ban báo cáo đã chọn được 70,000 “chuyên gia” Liên Xô thuộc nhiều lãnh vực để thực hiện chiến dịch ăn cướp công khai.

Cứ thế, máy móc còn tốt hay hư đều được tháo mang đi, cùng với vật phẩm nghệ thuật giá trị bị khuân ra khỏi nhà của những gia đình giàu có. Lính Liên Xô cũng mang đi những bộ sưu tập tư liệu, sách báo lịch sử cổ xưa lẫn hiện đại dù chẳng biết để làm gì. Chúng chỉ biết vơ vét, chất đống và chở đi. Những người Đức tình cờ đi ngang thậm chí bị chặn lại và buộc phải phụ chúng! Oái oăm là một số công ty Đức không chỉ bị tịch thu sạch mọi máy móc mà còn phải thanh toán chi phí vận chuyển. Những công ty trong lãnh vực thực phẩm, đồ gia dụng, nội thất… bị buộc phải bán sản phẩm với giá rất rẻ cho quân đội và doanh nghiệp Liên Xô. Chuyện tưởng đùa mà có thật: Tháng Mười 1945, quân Liên Xô đến Sở thú Leipzig tịch thu tất cả thức ăn nuôi thú; vài tuần sau, chúng trở lại, chở đi luôn các con thú!

Theo số liệu mà ông Norman Naimark thu thập được từ tài liệu lưu trữ ở Bộ Ngoại giao Liên Xô, trong tám tháng đầu năm 1945, quân Liên Xô đã tháo dỡ và chở đi 1,280,000 tấn “vật liệu” và 3,600,000 tấn trang thiết bị từ các nhà máy trên lãnh thổ phía Đông Đức. Trong 17,024 nhà máy lớn và trung ở vùng này bị ủy ban Liên Xô lập danh sách thì có trên 4,500 nhà máy bị tháo dỡ trống hốc; khoảng 50-60 nhà máy rất lớn vẫn được giữ nguyên nhưng trở thành tài sản của những doanh nghiệp Xô Viết. Từ 1945 đến 1947, nền công nghiệp miền Đông nước Đức bị tiêu mất từ 1/3 đến một nửa khả năng sản xuất. Các nhà máy sản xuất ống thép, sơn công nghiệp, các loại ống kính dùng trong nhiếp ảnh, y khoa… không chỉ bị mất máy móc mà kỹ sư, công nhân cũng bị bắt và đưa lên xe lửa chở về Liên Xô.

Nhà máy nhỏ, nhà máy to còn bị lấy, huống chi biệt thự, lâu đài, nhà nghỉ mát ven hồ, căn hộ ở thành phố. Tất cả đều trở thành tài sản của đám tướng tá Hồng quân và đảng viên cao cấp trong các chính quyền địa phương. Hầu như không người Đức nào còn xe hơi riêng. Thống tướng Georgy Zhukov, Tổng chỉ huy Mặt trận Bielorusse số 1, cũng tích cóp cho nhiều căn hộ lớn của mình ở Moscow bằng những thứ vét về từ Berlin.

_____________

HỒNG QUÂN LIÊN XÔ VÀ HAI TRIỆU VỤ CƯỠNG DÂM

-Hai nữ sử gia người Đức Barbara Johr và Helke Sander cho biết có hai triệu vụ cưỡng dâm trên khắp lãnh thổ Đức gây ra bởi Hồng quân Liên Xô.

-Trong cuốn Sex and Russian Society (NXB Bloomington, Indiana University Press, 1993), nhà phân tâm học người Nga Igor Kon nói rằng, các vụ lính Liên Xô cưỡng hiếp phụ nữ là “hội chứng tình dục trại lính”, tức những thanh niên trẻ trong quân đội Liên Xô bị dạy dỗ phải yêu quý đảng cộng sản và đồng chí lãnh đạo tối cao Stalin trong khi bị kìm hãm nhục dục suốt thời gian dài. Sau khi vượt biên giới, bọn lính trẻ này – sau bao năm trời không hề dám tán tỉnh cô gái nào – nhanh chóng trở thành những kẻ tấn công phụ nữ Đức, Ba Lan, Ukraine, Bielorussia. Hầu hết chúng đều say rượu khi tấn công phụ nữ.

-Giáo sư Anthony Beevor, trường Birbeck College, London kể rằng, riêng tại Berlin, trong những tuần sau ngày 2 Tháng Năm 1945, chỉ tính sổ sách lưu giữ tại các bệnh viện thì đã có từ 80,000 đến 100,000 phụ nữ bị lính Liên Xô hiếp.

-Và theo sử gia Mỹ Normaan M. Naimark viết trong cuốn The Russians in Germany: A History of the Soviet Zone of Occupation, 1945-1949 (NXB Belknap Press of Harvard University Press, 1995), các vụ hiếp dâm phụ nữ kéo dài suốt nhiều tháng trong các vùng do quân Liên Xô chiếm đóng, tuy mức độ thấp hơn so với những tuần đầu ngay sau ngày Berlin đầu hàng. Tại thủ đô Đức, có bức tượng người lính vô danh mặc quân phục Hồng quân ôm đứa bé trong tay được phụ nữ địa phương gọi là “Tượng tên lính hiếp dâm vô danh”.

HÌNH:

– Thế chiến thứ hai kết thúc với sự tự hào chiến thắng của Hồng quân được tiếp nối lập tức sau đó là những hành vi ô nhục lưu mãi trong lịch sử (ảnh: Berliner Verlag/Archiv/picture alliance via Getty Images)

– Những tên lính trẻ Xô Viết được dạy kỹ về tôn sùng lãnh tụ nhưng không được giáo dục về đạo đức và nhân cách (ảnh: Mondadori via Getty Images)

– Phụ nữ Đức và các nước Đông Âu sau khi được giải phóng khỏi phát xít Đức lập tức trở thành nạn nhân của chính những kẻ giải phóng họ (ảnh: Hulton-Deutsch Collection/CORBIS/Corbis via Getty Images)

– Khi lên tàu trở về nhà, lính Liên Xô ôm theo nhiều hàng hóa ăn cướp công khai từ những quốc gia Đông Âu (ảnh: Ivan Shagin/Slava Katamidze Collection/Getty Images)

https://saigonnhonews.com/…/hong-quan-nhung-con-thu-du…/