Hội nghị Trung ương 5: Có phải tình trạng ‘phe phái’ đã được giải quyết?

Đài Á Châu Tự Do 

Nhà báo độc lập Nguyễn Ngọc Già khi trả lời RFA từ Sài Gòn hôm 4/5, nhận định:

“Nhà cầm quyền CSVN đang lấy lượng thay phẩm, tức họ lấy số mới bị bắt gần đây để nói rằng đã kiểm soát được quyền lực. Điều này là một cách tiếp cận rất sai lầm, bởi vì để kiểm soát quyền lực thì phải làm ngay từ đầu, tức là khi trao quyền. Chứ không phải là đợi đến khi các cuộc tham nhũng lan tràn, phá nát kinh tế xã hội rồi mới bắt bớ bỏ tù… đây là phép ngụy biện gọi là đảo ngược nhân quả. Thứ hai, việc khởi tố bắt giam chỉ là bề nổi, khi nhà cầm quyền CSVN không thể phớt lờ được nữa, đặc biệt là trước Hội nghị Trung ương 5. Họ muốn dùng điều này để thuyết phục người dân về tính chính danh của họ, nhưng tôi nghĩ đã thất bại vì phát ngôn kiểm soát được quyền lực là từ nội bộ của họ với nhau chứ không phải từ dân, tức không có tính khách quan.”

Thứ ba theo Nhà báo độc lập Nguyễn Ngọc Già, việc bắt bớ vừa rồi dù bắt rất nhiều và mạnh tay, nhưng việc bắt bớ đó càng bộc lộ cho dư luận thấy các phe phái đang thanh trừng chính trị dưới ‘vở kịch’ chống tham nhũng. Bởi vì theo ông Nguyễn Ngọc Già, những trọc phú tại Việt Nam đã khiến dư luận nghi ngờ khi bất ngờ xuất hiện, không rõ tài năng, vốn liếng… nhưng lại được báo chí và nhà nước tung hô… và rồi lại đột ngột bị bắt vì tội danh này hay tội danh khác… nhưng đều liên quan tham nhũng. Nhà báo độc lập Nguyễn Ngọc Già nói tiếp:

“Thế thì thử hỏi, nếu không có sự bảo kê, sự chống lưng từ những thế lực siêu cao nào đó, thì làm sao họ được vậy. Có nghĩa là những vị trọc phú đó họ vẫn là ’ những con cua cậy càng… những con cá cậy vây’… Do đó cái gọi là kiểm soát được quyền lực, kiểm soát được tình trạng như ông Nguyễn Phú Trọng nói là đã hết tình trạng ‘cua cậy càng, cá cậy vây’… Thì tôi cho rằng nó vẫn nguyên si, chuyện tham nhũng, thanh trừng phe phái, vẫn là một cái bình rất rẻ tiền với rượu rất là nhạt nhẽo.”

Trả lời RFA hôm 4/5, Nhà báo Nguyễn Vũ Bình, từng công tác tại Tạp chí Cộng sản, nhận định:

“Cơ chế độc tài toàn trị của đảng CS thì cái đấy không bao giờ hết được, các phe phái xuất phát từ cơ chế này mà ra, chỉ khi chế độ này chấm dứt thì mới hết ô dù, phe phái, bè cánh… Thực tế nó như vậy, bởi vì không có bầu cử, ứng cử tự do, và có sự đấu đá ngầm trong đảng CS để phân chia quyền lực. Ông Trọng nói vậy thôi, ổng dựa vào việc bắt một số tướng tá công an quân đội, việc bắt một số nhân vật quyền lực… Nhưng thực tế không phải vậy, vẫn còn những phe cánh đang đấu đá, Hội nghị Trung ương tới thì việc tranh giành quyền lực trong cấp chóp bu rất kinh khủng. Ngay cả việc những người vừa bị bắt cũng là phe cánh đánh nhau, triệt tay chân của nhau… trên cơ sở chống tham nhũng.”

Vì vậy theo Nhà báo Nguyễn Vũ Bình, với cơ chế hiện tại của nhà nước cộng sản Việt Nam, thì phe phái, bè cánh hay tranh giành quyền lực là không bao giờ hết.

https://www.rfa.org/…/has-the-faction-status-been…

RFA.ORG

Hội nghị Trung ương 5: Có phải tình trạng ‘phe phái’ đã được giải quyết?

Ngay trước thềm Hội nghị Trung ương 5, báo nhà nước lại dẫn lời giới lãnh đạo cho rằng, nhờ kiểm soát quyền lực nên tình trạng ‘phe cánh’ đã không còn. Thực tế ra sao?  

Tại sao Chúa Giêsu Kitô là Chúa của cả vũ trụ?

Chúc bạn hôm nay có một giây phút gần gũi với Chúa hơn bao giờ hết. Chúa thương bạn nhiều lắm đó.

Cha Vương

Thư 4: 4/5/2022

GIÁO LÝ: Tại sao Chúa Giêsu Kitô là Chúa của cả vũ trụ? Chúa Giêsu Kitô là Chúa của cả vũ trụ và Chúa của lịch sử, vì nhờ Người mà muôn vật được tạo thành. Tất cả mọi người được Chúa cứu chuộc, và đều được Người dẫn dắt. (YouCat, số 110)

SUY NIỆM:  “Chúa ở bên trên ta” và Chúa là Đấng duy nhất mà ta quỳ gối thờ lạy; Người ở bên ta, và Chúa là đầu Hội Thánh của Người, trong Hội Thánh đó Nước Thiên Chúa đang bắt đầu ngay từ bây giờ, và Người ở trước mặt ta, làm chủ của lịch sử; làm cho lực lượng của tối tăm cuối cùng chịu thất bại và số phận của thế giới được hoàn thành theo chương trình của Thiên Chúa; Người đến để gặp gỡ ta trong oai nghi, vào ngày mà ta không biết, để đem trái đất vào cuộc đổi mới và tới chỗ hoàn thành. Ta có thể khám phá Chúa gần gũi ta trước hết là trong Lời Chúa, khi lãnh nhận các Bí tích, trong việc chăm sóc người nghèo và trong lúc hai hoặc ba người tập họp với nhau nhân danh Người (Mt 18,20). (YouCat, số 110 t.t.) 

    Nếu Chúa luôn ở bên ta thì tại sao lại có nhiều người lại không nhận ra hoặc biết Ngài? Đây là những lý do điển hình: Tự ti, tự mãi, kiêu ngạo, thờ ơ, chủ nghĩa duy vật— “Bất cứ khi nào sự giàu có tăng lên, bản chất của tôn giáo cũng giảm theo cùng một tỷ lệ.” (John Wesley) 

Có khi nào bạn cảm thấy gần Chúa hơn bao giờ hết chưa?

LẮNG NGHE: Vì trong Người muôn vật được tạo thành trên trời cũng như dưới đất hữu hình và vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới; tất cả đều do Thiên Chúa tạo dụng nhờ Người và cho Người. (Cl 1:16)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, thế gian đưa ra quá nhiều thứ  thường làm con quá bận rộn, xao lãng đến độ kiệt sức, mất đi khả năng để nghe tiếng Chúa đang thầm thì với con, xin cất đi nơi con những gì không thuộc về Chúa để con sống và trở nên một người Ki-tô hữu đích thực.

THỰC HÀNH: Sắp đặt lại bậc thang ưu tiên trong ngày của bạn và tự hỏi Chúa đang ở nấc thang thứ mấy vậy? Hãy đặt Chúa lên hàng đầu nhé.

From: Đỗ Dzũng

Xin Chúa Tha Thứ Cho Tôi

Sonny Doan

Xin Chúa Tha Thứ Cho Tôi

Sau thời cách mạng Pháp, trước cửa một nhà thờ tại Balê, người ta thường thấy một người hành khất với một dáng vẻ lạ thường. Xuyên qua lớp áo rách rưới, ai cũng có thể nhìn thấy trên vòng cổ của người ăn xin một cây thánh giá nhỏ bằng vàng.

Người khách quen thuộc nhất của người xấu số này là một vị linh mục trẻ. Vị linh mục thường đến dâng thánh lễ tại nhà thờ này. Mỗi lần ra khỏi nhà thờ, ông không quên hỏi han và giúp đỡ người hành khất.

Ngày nọ, vị linh mục trẻ không còn thấy người ăn xin lảng vảng trước cửa nhà thờ nữa. Lần mò hỏi thăm, vị linh mục đã tìm đến thăm người hành khất đang trong cơn rét run vì bệnh tật và đói ăn. Cảm động trước nghĩa cử của vị linh mục, ông ta đã kể lại cuộc đời của mình như sau: “Khi cách mạng vừa bùng nổ, tôi làm quản gia cho một gia đình giàu có. Hai vợ chồmg chủ tôi là những người đạo đức, giàu lòng thương người. Thế nhưng tôi đã phản bội họ. Quân cách mạng tìm cách bắt họ. Hai vợ chồng và hai đứa con của họ đã bị bắt giữ và kết án tử hình. Chỉ còn người con trai duy nhất là thoát khỏi”.

Nghe đến đây, vị linh mục như muốn té xỉu, nhưng ông đã cố gắng giữ bình tĩnh để nghe tiếp câu chuyện của người hành khất: “Tôi nhìn họ leo lên đoạn đầu đài và thản nhiên theo dõi cảnh người ta chém đầu họ. Tôi quả thực là một quái vật khát máu… Từ đó, tôi không thể nào có sự bình an trong tâm hồn. Tôi bắt đầu đi lang thang khắp các ngả đường để quên tội ác của mình. Tôi vẫn còn giữ tấm ảnh của gia đình họ trong túi áo này đây. Cây thánh giá tôi đang treo ở đầu giường là của người chồng, còn chiếc thánh giá bằng vàng tôi đeo trên cổ đây là của người vợ… Xin Chúa tha thứ cho tôi”.

Vừa nghe xong những dòng tâm sự và cũng là lời tự thú của người hành khất, vị linh mục trẻ đã quỳ gối xuống bên cạnh chiếc giường của người hấp hối và thay cho một công thức giải tội, ông đã nói như sau: “Tôi chính là người con trai còn sống sót trong gia đình. Ðại diện cho gia đình và với tư cách là một linh mục, tôi tha thứ cho ông nhân danh Cha và Con và Thánh Thần…”.

Câu chuyện tha thứ trên đây là một trong những mẩu chuyện đã và đang xảy ra ở mọi thời đại và mọi nơi. Giữa sa mạc cằn cỗi của lòng người, Thiên Chúa vẫn còn cho mọc lên những hoa trái của yêu thương, tha thứ. Tha thứ là vẻ đẹp thanh tú cao sang nhất của lòng người…

ST.

Bài học từ chiến tranh Ukraine, từ Nhật Bản đến Việt Nam

Bài học từ chiến tranh Ukraine, từ Nhật Bản đến Việt Nam

Chiến tranh nhấn mạnh tính cấp thiết của việc củng cố liên minh và hệ thống phòng thủ quốc gia

 

Lực lượng Phòng thủ Mặt đất (JGSDF) của Nhật Bản luyện tập bắn đạn thật từ xe tăng Type-74 ở gần núi Phú Sĩ (Fuji) ngày 22 tháng Năm 2021 trong cuộc huấn luyện hàng năm. Ảnh Akio Kon – Pool/Getty Images

Hành động tấn công quân sự vô cớ của Nga chống Ukraine là lời cảnh báo an ninh nghiêm trọng đối với nhiều quốc gia. Sự tàn phá kinh hoàng và thương vong lớn mà Ukraine phải gánh chịu buộc các nhà lãnh đạo trên thế giới phải suy nghĩ lại về các chính sách quốc phòng và chiến lược an ninh. 

Phần Lan và Thụy Điển là hai trường hợp đáng chú ý nhất. Sau nhiều thập niên theo đuổi một đại chiến lược chủ yếu nhằm bảo đảm chung sống hòa bình với Nga, hai quốc gia này hiện đang tính gia nhập NATO. Tuy ở châu Á xa xôi, Nhật Bản không thể tự cô lập khỏi những sự thay đổi lớn do cuộc chiến Ukraine gây ra và cũng đã từng bước thay đổi chính sách và chiến lược an ninh của Tokyo.

Khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014, chính quyền của thủ tướng khi đó là Shinzo Abe đã kiềm chế, không đưa ra các biện pháp trừng phạt nghiêm ngặt đối với Moscow, không đứng cùng hàng ngũ với các cường quốc phương Tây. Lần này, khi cuộc chiến Nga-Ukraine nổ ra, chính phủ Nhật Bản đã có lập trường rõ ràng và mạnh mẽ hơn. Cùng với Mỹ và châu Âu, Nhật Bản đã tăng cường các biện pháp trừng phạt Nga và bắt đầu tiếp nhận người tị nạn Ukraine, dù với số lượng ít hơn nhiều so với các nước phương Tây. Đây chắc chắn là một phản ứng đúng đắn trước việc Nga vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Ukraine.

Tuy nhiên, Nhật Bản chưa sẵn sàng tự mình đối mặt với một cuộc khủng hoảng an ninh. Các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản cần phải học một số bài học quan trọng từ chiến tranh Ukraine và phải tìm ra các kế hoạch giúp cho quốc gia ít bị tổn thương hơn trước các mối đe dọa.

Các nhà hoạch định chính sách và chuyên gia Nhật Bản cho rằng cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine mang lại ba bài học quan trọng cho Nhật Bản, một bài bình luận trên báo Nikkei Asia Review cho biết. 

Bài học thứ nhất là trong tình huống chiến tranh, chỉ có thể dựa vào các đồng minh an ninh chính thức, bất kể có thể có bao nhiêu bạn bè. Đây là một thực tế lạnh lùng, khắc nghiệt. Cả Mỹ và châu Âu đều không cử quân đội đến Ukraine để chống lại Nga mặc dù họ đã cung cấp nhiều loại vũ khí cho quốc gia đang kháng chiến. Điều này là do Ukraine không thuộc liên minh quân sự NATO. Việc tham gia một liên minh quân sự đa phương như NATO hoặc song phương với một siêu cường như Hoa Kỳ là một bảo đảm an ninh có tính chất chiến lược.

Nhật Bản đã và đang mở rộng quan hệ an ninh song phương với Úc, Ấn Độ, Anh và Pháp. Tokyo cũng đang thực hiện các bước để củng cố khuôn khổ hợp tác an ninh Bộ Tứ (Quad) với Mỹ, Úc và Ấn Độ. Những động thái chiến lược này là quan trọng nhưng không thay thế được liên minh của Nhật Bản với Mỹ. Điều quan trọng đối với Tokyo là trước hết phải tăng cường hệ thống phòng thủ quốc gia dựa trên hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ.

Thứ hai, như một câu tục ngữ đã nói, trời giúp những người tự giúp mình. Ukraine đã nhận được sự ủng hộ từ nhiều quốc gia vì người dân của họ đã chiến đấu chống xâm lược với lòng dũng cảm và quyết tâm bất khuất. Các quốc gia không thể giúp Ukraine nếu quân đội của Kyiv nhanh chóng quy hàng. Để nhận được sự trợ giúp quốc tế, trước hết phải có thể tự vệ một cách hiệu quả.

Vào giữa những năm 2010, Thủ tướng Abe đã ban hành một chỉ thị cho các quan chức cấp cao của Bộ Quốc phòng. Mặc dù không biết chính xác từ ngữ của chỉ thị, nhưng nó có nội dung là: “Khi quần đảo Senkaku bị [Trung Quốc] xâm chiếm, tìm kiếm sự giúp đỡ ngay lập tức của Hoa Kỳ là điều cuối cùng nên làm. Một liên minh sẽ không hoạt động trừ khi Nhật Bản cố gắng hết sức để tự vệ.” Mệnh lệnh này có thể áp dụng cho bất kỳ phần nào của lãnh thổ Nhật Bản. Nếu Nhật Bản thiếu ý chí và khả năng tự vệ, Mỹ sẽ không chấp nhận rủi ro lớn để đứng ra bảo vệ Nhật.

Thứ ba, khả năng lãnh đạo chính trị cũng quan trọng như sức mạnh quân sự trong việc quyết định kết quả của một cuộc chiến. Tổng thống Ukraine, Volodymyr Zelenskyy vẫn ở thủ đô Kyiv, bất chấp mối đe dọa đến tính mạng, khi ông tập hợp người dân và quân đội của mình cùng nhau chống lại Nga. Zelenskyy đã chỉ huy chiến đấu, đã tham gia các cuộc đàm phán ngừng bắn và đã vươn ra thế giới, đưa ra các yêu cầu và thông tin. Ngược lại, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã mắc phải vô số sai lầm, vây quanh ông ta là những nịnh thần và đã đàn áp các cuộc biểu tình phản chiến ở Nga.

***

Từ ba bài học kinh nghiệm Nhật Bản, nhìn về Việt Nam, không thể không lo ngại trước hiện tình đất nước. Cũng như Nhật Bản, Việt Nam sống bên cạnh Trung Quốc, một nước lớn có tham vọng bành trướng lãnh thổ và bắt nạt các nước láng giềng. Nhưng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, theo đuổi chính sách quốc phòng “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để chống nước kia. không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.) Nếu xung đột với Trung Quốc xảy ra như chiến tranh Nga – Ukraine hiện nay, Nhật Bản có thể dựa vào liên minh quân sự Nhật-Mỹ, khối Quad hoặc quan hệ an ninh song phương với Ấn Độ, Úc, Anh và Pháp; còn Việt Nam thì “đơn thân độc mã”, không ai ngó ngàng tới.

Lực lượng Phòng vệ SDF của Nhật tuy quân số không lớn nhưng trang bị rất hiện đại, tinh thần sung mãn, lại được cọ xát thường xuyên trong việc ngăn chặn sự xâm lấn của Trung Quốc ở quần đảo Senkaku mà Bắc Kinh tuyên bố là lãnh thổ Trung Quốc, gọi là đảo Điếu Ngư. Quân đội Việt Nam đông, nhưng vũ khí trang bị ọp ẹp, tướng tá chỉ lo “làm kinh tế” để làm giàu, tham nhũng và tranh giành quyền lực. Chưa có chiến tranh mà đã có tới 19 tướng công an và 25 tướng quân đội phải vào tù vì tham nhũng. Một quân đội như vậy có ý chí và khả năng tự vệ khi đất nước bị xâm lược hay không, câu trả lời tưởng đã rõ.

Bên cạnh tiềm lực quân sự như vậy, khả năng lãnh đạo chính trị của Việt Nam chắc chắn không dẫn tới một kết quả lạc quan trong chiến tranh. Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện một chế độ toàn trị khắc nghiệt đến mức người dân không được phép biểu thị lòng yêu nước trước những hành vi gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông; cùng với một nền kinh tế tư bản bè phái, trong đó giới quan chức và tư sản đỏ mặc sức làm giàu trên tài nguyên quốc gia và mồ hôi nước mắt người dân. Nếu chiến tranh với Trung Quốc nổ ra thì ai là người có thể tập hợp quân đội và nhân dân kháng chiến như Tổng thống Volodymyr Zelensky ở Ukraine hiện nay? Liệu người dân Việt Nam, đã quá mỏi mệt vì nhiều cuộc chiến tranh liên miên, có xung phong cầm súng ra trận để bảo vệ một đảng độc tài đi theo một ý thức hệ lỗi thời và phản động, một chế độ cực quyền đã tước bỏ quyền tự do, quyền làm chủ của người dân hay không? 

Từ chiến tranh Ukraine, nếu Nhật Bản nhận ra nước Nhật đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng về an ninh quốc phòng thì có thể nói gì về tình trạng ở Việt Nam? “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”, câu thơ buồn của cụ Nguyễn Du quả là có tính tiên tri về vận mệnh dân tộc.

Từ cuộc chiến tại Ukraine, nhìn lại chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam

Từ cuộc chiến tại Ukraine, nhìn lại chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam

Trần Trung Đạo

Với tỉ số vượt trội gồm 141 nước kết án Nga và chỉ có 5 nước ủng hộ Nga trong Quyết nghị LHQ ngày 2 tháng 3, 2022 là một kết quả rất ngạc nhiên và người ngạc nhiên nhất không ai khác hơn là Vladimir Putin.

Trước đó, ngày 25 tháng 2, Hội đồng Bảo An LHQ họp để biểu quyết quyết nghị tố cáo Nga vi phạm Điều 2, phân đoạn 4 của Hiến chương LHQ vì đã dùng võ lực xâm phạm chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine, quốc gia hội viên. Quyết nghị này bị Nga phủ quyết, nhưng ngoài TC, Ấn, United Arab Emirates bỏ phiếu trắng, không một quốc gia nào trong số 15 hội viện của Hội đồng Bảo an ủng hộ Nga.

Cộng hòa Kenya là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. Buổi chiều tối trước giờ biểu quyết, Đại sứ Martin Kimani đã đọc một diễn văn để bày tỏ lập trường của quốc gia ông. Dưới đây là vài đoạn trích từ diễn văn hùng hồn, đầy thôi thúc của Đại sứ Martin Kimani:

“Kenya và hầu hết các quốc gia châu Phi ra đời bởi sự kết thúc của đế chế. Biên giới của chúng tôi không phải do chúng tôi vẽ mà được vẽ ở các mẫu quốc thuộc địa xa xôi của London, Paris và Lisbon, không liên quan gì đến các quốc gia thời cổ đại đã bị tách rời nhau.”

“Chúng tôi cũng lên án mạnh mẽ xu hướng trong vài thập niên gần đây của các cường quốc, bao gồm cả các thành viên của Hội đồng Bảo an, vi phạm luật pháp quốc tế mà không được quan tâm.”

“Đêm nay, chủ nghĩa đa phương nằm trên giường bệnh. Ngày nay cũng như trong quá khứ gần đây, chủ nghĩa đa phương đã bị các cường quốc tấn công.”

Một người Việt Nam quan tâm nào đọc diễn văn của Đại sứ Martin Kimani cũng đều cảm thấy gần gũi, xúc động và cảm thông. Số phận những nước nhược tiểu từng bị thực dân bóc lột ở đâu cũng giống nhau.

Giống như dân tộc Kenya, dân tộc Việt Nam không hề ký vào các Hòa ước Nhâm Tuất 1862 (nhượng Nam Kỳ cho Pháp), Hòa ước Giáp Thân (Patenôtre) 1884, Hiệp định Geneva 1954 hay Hiệp định Paris 1973. Tất cả đều là tác phẩm của thực dân và đế quốc để phân chia quyền lợi và quyền lực bằng máu xương người Việt.

Diễn văn của Đại sứ  Martin Kimani cũng cho thấy khuôn mặt mới của thế giới đang định hình và một xu hướng mới đang mở ra cho các quan hệ đối ngoại. Kết quả hai cuộc biểu quyết ở LHQ cũng cho thấy sự cần thiết phải đẩy mạnh chủ nghĩa đa phương để giải quyết các vấn đề chung của các quốc gia trong phạm vi một khu vực hay thế giới.

Chủ nghĩa đa phương (multilateralism)  liên kết của các quốc gia qua hình thức của những tổ chức, những trung tâm, những cơ quan quốc tế, những nhóm liên kết của ba nước hay nhiều hơn. Khác với phương thức đơn phương (unilateralism) hay song phương (bilateralism), phương thức đa phương là cơ hội cho các quốc gia nhỏ có tiếng nói, có quyền hạn và trách nhiệm đối với cộng đồng nhân loại. LHQ hay WTO là những tổ chức đa phương.

TC rất sợ và từ chối cách giải quyết các tranh chấp trên nền tảng đa phương. Chiến lược đàm phán của TC từ nhiều năm nay là song phương nhưng thực chất cũng chỉ là đơn phương vì TC luôn giữ thế mạnh và quyết định kết quả của đàm phán.

Các lãnh đạo đảng CSVN thường xuyên lặp lại hai chữ “ổn định” để diễn tả tình trạng Việt Nam. Nhưng đó chỉ cách nói dối, không chỉ dối với người dân mà còn tự dối với chính mình.

Hiểm họa TC là hiểm họa thường trực thì làm gì có ổn định. Đọc lại vài biến cố nổi bật từ sau chiến tranh Biên giới Việt-Trung 1979 tới nay để thấy tội ác của bá quyền TC đối với dân tộc Việt Nam gấp nhiều lần hơn so với tội các của Nga đối với Ukraine.

Cuộc chiến xâm lược Việt Nam của Đặng Tiểu Bình năm 1979 mang về cho TC một thảm bại nhục nhã nhưng đồng thời đó cũng là thời điểm đánh dấu những thay đổi lớn trong sách lược quốc phòng. Họ Đặng đẩy mạnh hiện đại hóa quốc phòng bằng cách trẻ trung hóa cấp chỉ huy và nâng cấp kỹ thuật chiến tranh trong quân đội. Hơn một triệu lính và sĩ quan già các cấp bị cho giải ngũ. Yếu tố phẩm chất được nhấn mạnh thay vì số lượng.

Mặc dù thua to, họ Đặng không từ bỏ tham vọng tấn công Việt Nam.

Những năm từ 1980 đến 1983, các trận pháo liên tục bắn vào lãnh thổ Việt Nam và các đụng độ nhỏ tiếp tục diễn ra dọc biên giới Việt-Trung. Theo Miles Maochun Yu (Dư Mậu Xuân 余茂春 học giả Mỹ gốc Hoa – BVN chú), từng là cố vấn chính sách về Trung Quốc của Bộ Ngoại giao Mỹ:  “Chỉ trong năm 1985, Trung Quốc đã bắn một triệu quả đạn vào vùng Vị Xuyên của Việt Nam, sau đó là một loạt trận pháo kích dài ngày khác trong suốt hai năm sau đó, kèm theo các cuộc tấn công của Trung Quốc vào các vị trí của Việt Nam với sự tham gia của ít nhất 15 sư đoàn quân TC. Chỉ trong vòng 5 năm từ 1985 đến 1989, Trung Quốc đã bắn hơn hai triệu quả đạn pháo vào Việt Nam.” (America’s Pivot To Vietnam, Miles Maochun Yu, Friday, May 27, 2016, Hoover Institution) .

Hai triệu quả pháo là một con số khủng khiếp, không nhiều hơn nhưng chắc cũng không ít hơn so với số lượng pháo TC bắn vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ trong thập niên 1950.

Sau 5 năm cải tiến, Đặng Tiểu Bình muốn thử nghiệm hiệu quả của chính sách “hiện đại hóa quốc phòng” và lần nữa nơi thử nghiệm chẳng đâu khác là Việt Nam.
Ngày 24, 12, 1983, họ Đặng tiếp Norodom Sihanouk, lúc đó đang là Chủ tịch của Chính phủ Liên hiệp Ba thành phần gồm Khmer Đỏ, Campuchia Dân chủ và Mặt trận Giải phóng Dân tộc Khmer, tại Bắc Kinh. Trong buổi tiếp xúc này, Norodom Sihanouk yêu cầu Đặng can thiệp bằng quân sự vì phía CSVN đang thắng thế trong nhiều mặt trận trên khắp lãnh thổ Cambodia.  (Xiaoming Zhang (Trương Hiểu Minh 张晓明 – BVN chú), Deng Xiaoping’s Long War: The Military Conflict between China and Vietnam, University of North Carolina Press, 2015).

Đặng Tiểu Bình đồng ý giúp nhưng thay vì mở một cuộc chiến tranh biên giới khác, họ Đặng nhắm hai căn cứ chiến lược Lão Sơn (Laoshan) và  Núi Bạc (Zheyinshan).   Sau nhiều trận đánh suốt mùa hè 1984, Lão Sơn của Việt Nam đã bị TC chiếm ngày 16 tháng 7, 1984. Nhiều ngàn thanh niên Việt Nam đã chết trên các đỉnh núi Lão Sơn. Đặng Tiểu Bình xem đây là một chiến thắng lớn. Viên Tư lịnh Sư đoàn tham dự mặt trận Lão Sơn được đặc cách lên chức Tư lịnh Binh đoàn 11 của quân đội TC. ((1) Trần Trung Đạo, Đặng Tiểu Bình và Trận Lão Sơn Trong Chiến tranh Biên giới Trung – Việt Năm 1984 dịch từ China-Defense, (2) Charlie Gao, China’s Loss That You Have Never Heard About,  The National Interest, August 18, 2021).

Ngày 14 tháng 3, 1988, TC chiếm Gạc Ma. Cuộc thảm sát này hiện nay được được nhắc lại trong các báo khá nhiều. Báo Lao Động ngày 13/03/2022 viết: “Ngày 14.3.1988, nhằm ngày 27 tháng giêng âm lịch, Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm đảo đá chìm Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong một cuộc chiến không cân sức để bảo vệ đảo đá Gạc Ma, 64 chiến sĩ thuộc lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu và anh dũng hy sinh. Nhiều người trong số họ đã nằm lại mãi mãi nơi đáy biển sâu.” Cũng theo báo Lao Động, mãi tới 11 năm sau “những bài báo viết về các anh, các cựu binh Gạc Ma mới bắt đầu xuất hiện rải rác. (Lao Động, Chủ nhật, 13/03/2022).

Chiếm Gạc Ma chỉ là đầu cầu cho chiến lược bành trướng Biển Đông của Đặng Tiểu Bình. Vào thập niên 1990, đối tượng cạnh tranh chiến lược của Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo TC sau ông ta  là Mỹ, Nhật, Đức chứ không còn là Việt Nam.

Cuối năm 1990, LX đang trên đà sụp đổ. Sáu trong số mười lăm nước “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa” đã tuyên bố độc lập, nền kinh tế LX đang thời kỳ suy thoái, bức tường Bá Linh đã bị đập đổ. Boris Yeltsin từ bỏ đảng CS và trở thành lãnh đạo của phong trào dân chủ Nga. CSVN trở thành con thuyền không bến và chiếc phao duy nhất còn lại là TC. Hội nghị Thành Đô trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 đánh dấu cho ngày trở về của đảng CSVN dưới ảnh hưởng TC.

Chỉ ba tháng sau hội nghị Thành Đô, ngày 8 tháng 5 năm 1992 Trung Cộng ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty năng lượng Crestone của Mỹ, cho phép công ty này thăm dò khai thác dầu khí trong thềm lục địa của Việt Nam, nằm ở phía Tây Nam của quần đảo Trường Sa. Trung Cộng cũng hứa với công ty Creston sẽ bảo vệ bằng võ lực nếu Việt Nam can thiệp vào công việc của họ.

Ngày 25 tháng 2, 1992, TC thông qua Luật Lãnh hải và Vùng Tiếp giáp. Theo luật này, Biển Đông, trong đó có  Hoàng Sa và Trường Sa, thuộc về TC. Văn bản này viết: “Lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là vành đai biển tiếp giáp lãnh thổ đất liền và nội thủy của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Lãnh thổ trên đất liền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bao gồm đất liền và các đảo ven biển; Đài Loan và tất cả các đảo bao gồm quần đảo Điếu Ngư; quần đảo Penghu; quần đảo Đông Sa; quần đảo Tây Sa; quần đảo Trung Sa và quần đảo Nam Sa; cũng như tất cả các đảo khác thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”

Theo phân tích của Council On Foreign Relations, một trung tâm nghiên cứu lớn tại Mỹ, ý đồ của TC không chỉ là kinh tế nhưng chính là quân sự. TC muốn khóa Biển Đông khỏi sự hải hành quân sự của Mỹ.

Quan trọng nhất là việc TC quân sự hóa Biển Đông qua việc xây dựng hàng loạt “đảo nhân tạo” và các căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa. Bảy đảo nhân tạo đó gồm Johnson Reef South (Đá Gạc Ma), Subi Reef (Đá Xu Bi), Gaven Reef (Đá Ga Ven), Hughes Reef (Đá Tư Nghĩa), Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập), Cuarteron Reef (Đá Châu Viên) và Mischief Reef (Đá Vành Khăn).

Tại hội nghị Shangri-La 2015 (The IISS Shangri-La Dialogue) với cấp bộ trưởng quốc phòng của 50 quốc gia, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter chính thức yêu cầu TC ngưng xây dựng các căn cứ quân sự nổi qua hình thức các đảo nhân tạo. Tuy nhiên, ngoại trừ có các biện pháp cứng rắn của các quốc gia trực tiếp trong vòng tranh chấp, không một lời yêu cầu nào hay văn bản nào có thể làm thay đổi tham vọng của Tập Cận Bình.

Ngày 14 tháng 2, 2016, TC đặt các giàn hỏa tiễn địa đối không (surface-to-air missiles) và chiến đấu cơ J-11 trên đảo Phú Lâm (Hoàng Sa). Tờ The Wall Street Journal trích dẫn nguồn tin quân sự cho biết đây là loại hỏa tiễn HQ-9 dài 6 mét, nặng hai tấn, tầm bắn từ trung bình tới xa (China Positions Missiles on Disputed South China Sea IslandThe Wall Street Journal, Feb. 17, 2016).

Ngày 18 tháng 5, 2018, các oanh tạc cơ H-6 của TC cất cánh từ đảo Phú Lâm và đáp xuống một “đảo nhân tạo” của TC trên Biển Đông. Ấn bản điện tử của Nhân dân Nhật báo còn đăng cả một video ngắn cho thấy oanh tạc cơ H-6K có tầm bay xa 1900 hải lý hạ cánh xuống một trong những “đảo nhân tạo”. Với loại oanh tạc cơ này, tất cả các thành phố lớn, các quốc gia vùng Đông Nam Á đều nằm trong tầm oanh tạc của H-6K nói chi là Việt Nam chỉ cách Hoàng Sa 121 hải lý (China lands bomber on South China Sea island for first time, CNBC, May 18, 2018).

Ngày 18 tháng 4, 2020, TC công bố thành lập hai đơn vị hành chánh mới gồm Tây Sa bao gồm Hoàng Sa và Nam Sa bao gồm Trường Sa của Việt Nam. Trụ sở của hai đơn vị hành chánh này đặt tại đảo Phú Lâm, trực thuộc tỉnh Hải Nam của TC. Nhiều người nghĩ tình trạng Covid-19 sẽ làm giảm chính sách bành trướng của Tập Cận Bình, nhưng không, họ Tập không những [không] chậm mà còn lợi dụng khó khăn của thế giới để đẩy mạnh hơn tham vọng xâm thực chủ quyền của các nước chung quanh trong đó có Việt Nam.

Trên đây chỉ là vài sự kiện chính được các viện nghiên cứu, các hãng tin, các báo chí quốc tế ghi lại. Sự chịu đựng của ngư dân Việt Nam trong 47 năm qua không sách vở nào ghi hết như Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô Đại cáo “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”.

Nhiều người có thể đặt câu hỏi nếu vậy thì làm gì?

Cuộc chiến tranh xâm lược của Nga vào Ukraine đã làm các nhà phác họa chính sách đối ngoại, từ các nước lớn như Mỹ, Đức, Anh cho tới những nước nhỏ xa xôi như Ghana ở Phi Châu hay Cambodia ở Á Châu suy nghĩ lại chính sách đối ngoại của nước mình và chọn lựa một hướng đi mới phù hợp với xu hướng mới đặt trên nền tảng đa phương.

Việt Nam không có khả năng đánh bại hải quân TC, không đủ không quân để làm chủ bầu trời Biển Đông nhưng không phải là tuyệt lộ. Ít nhất có một việc nên làm ngay, đó là hủy bỏ chính sách quốc phòng “Bốn không”.

Chính sách “Bốn không” được xác định trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” (Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019).

Tại sao phải “Bốn không”? Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Philippines, Cambodia và ngay cả nước nhỏ tí như Brunei cũng không tự cô lập khi đưa ra một chính sách tự trói tay như Việt Nam.

Một chính sách đối ngoại đúng là chính sách đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết chứ không đặt quyền lợi của cường quốc nào lên trên hết. Chính sách “Bốn không” thực chất là một chính sách “tiền đồn” nhằm phục vụ cho quyền lợi của TC để giữ “sân sau” Việt Nam làm hành lang an toàn cho TC khi có một xung đột giữa TC với Mỹ và Đồng minh xảy ra.

Hủy bỏ “Bốn không” không có nghĩa phải thay bằng “Bốn có”, không nhất thiết phải chọn đi với Mỹ nhưng để giải quyết các vấn đề thế giới trên nền tảng đa phương, không tự trói tay.

Hủy bỏ “Bốn không” không có nghĩa là chống lại TC mà là giới hạn sự lệ thuộc vào TC và tạo điều kiện được đối xử bình đẳng trong quan hệ ngoại giao với TC.

Cuộc chiến tự vệ của Cộng hòa Ukraine với sự ủng hộ của gần hết các quốc gia trên thế giới cho thấy tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương.

Chưa bao giờ trong lịch sử thế giới từ sau Thế chiến thứ Hai, sự liên kết và phụ thuộc hỗ tương giữa các quốc gia bất kể lớn nhỏ quan trọng như những ngày này. Một trong những quốc gia nhỏ nhất thế giới là Lục Xâm Bảo (Luxembourg) với dân số chỉ 640 ngàn người cũng gởi võ khí chống tăng đến giúp Ukraine. Con số tuy nhỏ nhưng tính đại diện rất quan trọng và ý nghĩa.

Sự thất bại của Putin là bài học cho Tập Cận Bình, đặc biệt là quan điểm chủ nghĩa dân tộc cực đoan của y đối với Đài Loan. Khái niệm dân tộc ngày nay không chỉ được định nghĩa bằng quá khứ lịch sử, ngôn ngữ, giống nòi, tôn giáo mà quan trọng hơn là dựa vào khát vọng của con người sống trong thời đại họ. Khi thành phố Bucha của Ukraine bị san bằng, hàng ngàn người dân vô tội, kể cả phụ nữ mang thai bị giết, mọi lời rao về tình dân tộc Rus củaVladimir Putin đã trở thành những hạt muối xát vào vết thương của người dân Ukraine.

Sự thất bại của Putin cũng là bài học cho Tập Cận Bình về hậu quả của chủ nghĩa bành trướng. Lịch sử cận đại chứng minh các đế quốc bành trướng như Ottoman, Phổ, Nhật, Nga, Áo-Hung v.v. đều thất bại và sụp đổ.

Cái gọi là “quyền lịch sử” mà bộ máy tuyên truyền TC huênh hoang tối ngày thực chất chỉ là quyền ăn cướp. Nếu TC quả thật có đủ bằng chứng cụ thể và thuyết phục trước công pháp quốc tế thì họ đã không trốn khi bị Philippines kiện ra tòa.

Xin nhớ, Chính phủ Philippines không hề giấu diếm ý định mà còn báo trước cho TC biết họ sẽ nộp đơn kiện để TC có thời gian chuẩn bị.

Nhắc lại, ngày 22 tháng 1, 2013 Chính phủ Philippines trao cho Đại sứ Trung Cộng tại Philippines một công hàm ngoại giao trong đó trình bày lý do Philippines kiện Trung Cộng lên Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS). Chính phủ Philippines cũng cho Đại sứ TC biết trọng tài thứ nhất Philippines chọn là luật gia người Đức Rüdiger Wolfrum.

Cộng hòa Philippines dựa vào Điều 287 (chọn thủ tục) và Phụ lục số Bảy (Annex VII) của Công ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea, UNCLOS) để nộp đơn lên kiện Trung Cộng vi phạm UNCLOS đối với Philippines và thách thức cái gọi là “Quyền lịch sử” của Trung Cộng trên Biển Đông.

Kẻ cướp chỉ có súng chứ làm gì có bằng chứng sở hữu vì của cải, đất đai, nhà cửa là của chủ nhà. Sau gần một tháng họp bàn, ngày 19 tháng 2, 2013 TC thông báo cho Chính phủ Philippines biết sẽ không tham gia vụ kiện. Vì không tham gia nên TC không có quyền đề cử thẩm phán trọng tài. Kết quả như cả thế giới đều biết hôm nay, Philippines chẳng những thắng phần mình mà còn làm cho lý luận gọi là “quyền lịch sử” chỉ để đun nóng chủ nghĩa dân tộc cực đoan tại lục địa chứ hoàn toàn vô nghĩa trước công pháp quốc tế (The South China Sea Arbitration. The Republic of Philippines v. The People’s Republic of China, Case 2013-19 PCA)

Thay vì “Bốn không”, quan điểm quốc phòng chỉ nên viết một cách tổng quát: Chính sách quốc phòng Việt Nam phục vụ cho mục đích duy nhất là bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, và do đó, trong mỗi tình huống của thế giới, chính sách có thể sẽ được linh động áp dụng một cách thích nghi.

Hủy bỏ “Bốn không” chưa hẳn là “thoát Trung” nhưng ít nhất cũng phá vỡ tình trạng tự cô lập, bế tắc để mở ra một không gian mới thúc đẩy đa phương hóa trong tranh chấp Biển Đông.

Im lặng là góp phần nuôi dưỡng tội ác.

Nhìn bức ảnh đính kèm theo bài viết độc giả sẽ thấy không phải một sáng, một chiều, một tháng, hay ngay cả một năm mà TC xây xong bảy căn cứ quân sự trên Biển Đông.

Các hình ảnh chụp năm 1988 và 1995 cho thấy những “căn cứ” của TC trên Trường Sa vừa chiếm được của Việt Nam đơn sơ không khác gì những chòi giữ vịt ở Cao Lãnh. Tuy nhiên, chính sách quốc phòng tự cô lập của Việt Nam đã khuyến khích TC biến những chòi giữ vịt đó thành những phi trường cho các oanh tạc cơ, chiến đấu cơ, các giàn phóng hỏa tiễn tầm xa được đặt, đồn trú hay trang bị như ngày nay.

TC có kho ngoại hối dự trữ (foreign-exchange reserves) lớn nhất thế giới nhờ mấy chục năm bán sức lao động của mấy trăm triệu dân và kho võ khí hiện đại một phần không nhỏ do ăn cắp kỹ thuật. Tuy nhiên, như bài học Putin cho thấy võ khí và tiền bạc không đem lại chiến thắng.

Nga có nguồn dự trữ lớn thứ tư trên thế giới với 611 tỷ dollar nhưng ngoại trừ 13% số tiền đó ký thác trong các ngân hàng Trung Cộng và sẽ sử dụng được, số lớn còn lại đã bị “đóng băng”. Kỹ thuật chiến tranh của Nga chưa phải là đối thủ của Mỹ và NATO.

Yếu tố còn lại và cũng là yếu tố quyết định là con người. Đây cũng là nỗi lo của Tập Cận Bình. Chính họ Tập đã gọi quân đội TC đang mắc một bệnh dịch gọi là “bệnh hòa bình”. Lý do, từ sau chiến tranh biên giới với Việt Nam, quân đội TC chưa tham dự một cuộc chiến nào. (Charlie Lyons Jones, Xi believes a ‘peace disease’ hampers China’s military modernization, Australian Strategic Policy Institute, 26 Aug 2019)

TC không đáng sợ nhưng nếu CSVN tiếp tục theo đuổi các chính sách tự cô lập, tách rời khỏi hướng đi của thời đại, không liên kết với các quốc gia có cùng quyền lợi để ngăn chặn kịp thời tham vọng bành trướng của TC, Việt Nam, một quốc gia bán đảo bên bờ Thái Bình Dương, có nguy cơ trở thành một nước không có biển.

Cuộc chiến xâm lược của Nga tại Ukraine là một trường hợp nghiên cứu cho tất cả học viện quân sự, các “think tank” (trung tâm nghiên cứu chiến lược) tại mọi quốc gia, mọi chính phủ, nhất là những nước có vị trí địa lý chính trị tương tự như Ukraine.

Nếu Ukraine cũng theo đuổi chính sách “Bốn không” như Việt Nam chắc chắn đã không có sự viện trợ quân sự của 36 quốc gia, và hậu quả ai cũng có thể hình dung được thủ đô Kyiv hôm nay là một đống tro tàn.

Qua hai cuộc bỏ phiếu vừa rồi tại LHQ, người viết không kỳ vọng giới cầm quyền CSVN thay đổi chính sách quốc phòng, nhưng chẳng qua nói phải nói cho hết, viết phải viết cho hết.

Biển vô cùng quan trọng. Phải giữ cho được biển. Nhiều ngàn năm trước, tổ tiên dòng giống Việt vượt núi, băng rừng từ bỏ vùng đất nằm sâu trong đất liền để di dân về phương Nam và đã dừng lại ở Việt Nam chỉ vì nơi đây có biển. Đừng vì sự “ổn định” tạm thời của đời mình hay của đảng mình mà quên đi nền hòa bình, thịnh vượng và ổn định thật sự của cả dân tộc trong nhiều đời sau.

T.T.Đ.

10 HIỂU LẦM  VỀ  ĐỘT  QUỴ  KHIẾN  NGƯỜI  BỆNH  MẤT CƠ  HỘI  VÀNG  ĐIỀU  TRỊ   

10 HIỂU LẦM  VỀ  ĐỘT  QUỴ  KHIẾN  NGƯỜI  BỆNH  MẤT CƠ  HỘI  VÀNG  ĐIỀU  TRỊ   

Đột quỵ xảy ra rất phổ biến, tuy nhiên không phải tất cả các thông tin đồn đại về đột quỵ đều là sự thật. Có khá nhiều hiểu lầm còn tồn tại về tình trạng này.

Tại Việt Nam, theo Bộ Y tế, mỗi năm nước ta ghi nhận thêm 200.000 ca đột quỵ, trong đó khoảng 50% trường hợp tử vong. Nhiều người sống sót sau đột quỵ phải sống chung với các di chứng về thần kinh, vận động… Tỷ lệ đột quỵ ở người trẻ tuổi đang có xu hướng tăng lên, trung bình khoảng 2% mỗi năm, số lượng nam giới cao gấp bốn lần nữ giới. Trong đó, nhiều người bệnh không biết mình mang yếu tố nguy cơ, đến khi bị đột quỵ, đo huyết áp, thử đường huyết mới phát hiện.

Còn ở Mỹ, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), mỗi năm có hơn 795.000 người bị đột quỵ, trong đó có khoảng 610.000 trường hợp là đột quỵ lần đầu tiên.

Trong năm 2019, đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 trên thế giới, ước tính chiếm khoảng 11%.

Đột quỵ có 3 thể chính:

– Đầu tiên và phổ biến nhất (ước tính chiếm khoảng 87% các trường hợp) là đột quỵ thiếu máu não, xảy ra khi mạch máu cung cấp oxy cho não bị tắc nghẽn.

– Thứ hai là đột quỵ xuất huyết não, xảy ra do nứt vỡ các động mạch trong não dẫn đến phá hủy các mô xung quanh.

Cục máu đông làm ngừng lưu lượng máu đến một khu vực của não trong bệnh thiếu máu cục bộ (ảnh trái), trong khi máu rò rỉ vào mô não trong trường hợp xuất huyết (ảnh phải). Nguồn: scientificanimations.

– Thể thứ ba của đột quỵ là thiếu máu não thoáng qua (TIA), xảy ra khi dòng máu tới não là bị tắc nghẽn tạm thời, thường trong thời gian ngắn hơn 5 phút.

Đột quỵ xảy ra rất phổ biến, tuy nhiên không phải tất cả các lời đồn đại về đột quỵ đều là sự thật.

Có khá nhiều hiểu lầm còn tồn tại, khiến người bệnh bỏ qua các cơ hội vàng để hồi phục hoặc giảm thiểu nguy cơ đột quỵ.

Để giúp mọi người xóa bỏ những lầm tưởng và nâng cao hiểu biết, chúng tôi đã liên lạc với Bác sĩ Rafael Alexander Ortiz, trưởng khoa Phẫu Thuật nội mạch thần kinh và Xạ trị thần kinh can thiệp tại Bệnh viện Lenox Hill, Mỹ.

Hiểu lầm 1: Đột quỵ là vấn đề của tim

Mặc dù các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch và đột quỵ có liên quan tới nhau, một số người nhầm lẫn đột quỵ và nhồi máu cơ tim. Đột quỵ xảy ra tại não, nguyên nhân do tắc nghẽn hoặc nứt vỡ của các mạch máu trong não. Trong khi đó, nhồi máu cơ tim xảy ra bởi sự tắc nghẽn dòng máu nuôi dưỡng tim.

Đột quỵ do thiếu máu cục bộ trong đó lưu lượng máu bị tắc nghẽn do cục máu đông. Nguồn: brown.edu

 Hiểu lầm 2: Đột quỵ không thể phòng tránh

Bác sĩ Ortiz nói: “Các yếu tố nguy cơ phổ biến nhất gây ra đột quỵ là tăng huyết áp, hút thuốc lá, tăng cholesterol máu, béo phì, đái tháo đường, chấn thương ở đầu hoặc cổ, và rối loạn nhịp tim”.

Nhiều trong số các yếu tố nguy cơ kể trên có thể được điều chỉnh bởi lối sống. Tập thể dục thường xuyên và ăn uống với chế độ lành mạnh có thể giảm các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, béo phì, đái tháo đường.

Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm sử dụng nhiều bia rượu và căng thẳng. Loại bỏ hoặc làm giảm các yếu tố này cũng có thể làm giảm nguy cơ của đột quỵ.

Hiểu lầm 3: Đột quỵ không có yếu tố di truyền

Các rối loạn đơn gen như bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Các thành viên trong cùng một gia đình có cùng môi trường sống và lối sống. Do đó, môi trường và thói quen sinh hoạt không lành mạnh có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ ở tất cả các thành viên, đặc biệt là khi có các yếu tố di truyền kèm theo, ví dụ như tăng huyết áp hoặc các yếu tố nguy cơ liên quan đến tim mạch.

Hiểu lầm 4: Khó phát hiện triệu chứng đột quỵ

Các triệu chứng phổ biến nhất của đột quỵ tạo nên từ viết tắt F.A.S.T:

  • F (face): Khuôn mặt bị méo, một bên mặt bắt đầu tê liệt và nụ cười bị méo một bên.
  • A (arm): Một cánh tay bắt đầu yếu hoặc tê bì, khi nâng lên thì rơi xuống từ từ.
  • S (speech): Nói khó, nói ngọng.
  • T (time): Thời gian là vàng, hãy gọi tổng đài cấp cứu ngay khi phát hiện các triệu chứng trên.

Một số triệu chứng khác của đột quỵ bao gồm:

  • Tê liệt hoặc yếu mặt, cánh tay, chân, hoặc một bên cơ thể.
  • Lú lẫn, gặp khó khăn trong việc nói hoặc hiểu lời nói.
  • Khó nhìn ở một hoặc cả hai mắt.
  • Đi khó, bao gồm chóng mặt, mất cân bằng hoặc cả hai.
  • Đau đầu dữ dội không có nguyên nhân.

Hiểu lầm 5: Đột quỵ không thể điều trị

Bác sĩ Ortiz giải thích: “Có một số niềm tin cho rằng đột quỵ là không thể hồi phục và không thể điều trị. Nhưng niềm tin này không chính xác”.

Đây là thông tin đúng: Điều trị cấp cứu đột quỵ với thuốc tiêu sợi huyết, lấy huyết khối bằng cách đặt dụng cụ xâm lấn tối thiểu vào mạch máu (stent), hoặc phẫu thuật… có thể điều trị được các triệu chứng của đột quỵ ở rất nhiều bệnh nhân, đặc biệt nếu họ đến bệnh viện đủ sớm để thực hiện các liệu pháp điều trị (một vài phút hoặc một vài giờ từ khi khởi phát triệu chứng).

Các triệu chứng càng kéo dài thì kết quả điều trị sẽ càng thấp. Tuy nhiên, điều quan trọng là tại thời điểm khởi phát triệu chứng – ví dụ nói khó, nhìn đôi, liệt hay tê bì thì nên gọi cấp cứu sớm để đưa bệnh nhân tới bệnh viện gần nhất.

CDC cũng đã chỉ ra những bệnh nhân tới bệnh viện trong vòng 3 giờ đầu từ khi xuất hiện triệu chứng thì trong vòng 3 tháng sau đó, nguy cơ bị tàn tật sẽ ít hơn so với những bệnh nhân đến muộn.

Hiểu lầm 6: Đột quỵ chỉ xảy ra ở người già

Tuổi là yếu tố nguy cơ quan trọng của đột quỵ. Nguy cơ đột quỵ tăng gấp đôi mỗi 10 năm từ sau 55 tuổi. Tuy nhiên, đột quỵ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Một nghiên cứu của CDC đã chỉ ra rằng 34% các trường hợp đột quỵ ở bệnh viện trong năm 2009 có độ tuổi dưới 65.

Một báo cáo khác trong năm 2013 chỉ ra: “Xấp xỉ 15% tất cả các trường hợp đột quỵ thiếu máu não xảy ra ở người trẻ và thanh thiếu niên”.

Những nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng các yếu tố nguy cơ đột quỵ bao gồm tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn mỡ máu, và sử dụng thuốc lá là những tình trạng phổ biến nhất ở nhóm tuổi này.

Hiểu lầm 7: Tất cả đột quỵ đều có triệu chứng

Không phải tất cả các trường hợp đột quỵ đều có triệu chứng. Một số nghiên cứu cho thấy đột quỵ không có triệu chứng xảy ra phổ biến hơn đột quỵ có triệu chứng.

Một nghiên cứu thực hiện trên hơn 11 triệu người đột quỵ năm 1998 chỉ ra rằng chỉ 770.000 trường hợp có triệu chứng, trong khi đó có tới gần 11 triệu trường hợp là không có triệu chứng.

Bằng chứng của các trường hợp đột quỵ thầm lặng là các đốm trắng (biểu hiện của các sẹo hình thành trong mô não sau khi bị tổn thương do mạch máu bị tắc nghẽn hoặc bị vỡ) xuất hiện trên MRI.

Đột quỵ thầm lặng được xác định khi bệnh nhân nhận kết quả MRI sau khi xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, giảm tri giác và chóng mặt.

Mặc dù các trường hợp này xảy ra không có triệu chứng, nhưng cũng nên được điều trị tương tự như là đột quỵ có triệu chứng. Đột quỵ thầm lặng đặt người bệnh vào nguy cơ đột quỵ có triệu chứng trong tương lai, suy giảm nhận thức, và sa sút trí tuệ.

Hiểu lầm 8: Thiếu máu não thoáng qua không rủi ro

“Một số người đang nghĩ rằng thiếu máu não thoáng qua chỉ là một cơn đột quỵ nhỏ và sẽ mang lại nguy cơ thấp”- bác sĩ Ortiz nói- “Quan niệm này cũng không chính xác. Đó không phải là cơn đột quỵ nhỏ mà là một dấu hiệu của một cơn đột quỵ lớn có thể xảy ra. Bất kỳ triệu chứng của đột quỵ cấp, thoáng qua hay dai dẳng đều cần được điều trị cấp cứu và quản lý để tránh một cơn đột quỵ lớn”.

Hiểu lầm 9: Đột quỵ luôn là nguyên nhân của liệt

Đột quỵ là nguyên nhân dẫn tới tàn phế lâu dài, nhưng không phải tất cả mọi người bị đột quỵ đều sẽ bị liệt hay yếu chi.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng hơn một nửa số bệnh nhân trên 65 tuổi còn sống sau khi trải qua cơn đột quỵ sẽ bị giảm chức năng vận động. Tuy nhiên, ảnh hưởng lâu dài của đột quỵ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như là số lượng nhu mô não bị tổn thương và vùng não bị tổn thương. Nếu tổn thương ở bán cầu não trái thì sẽ ảnh hưởng tới bên phải cơ thể và ngược lại.

Nếu đột quỵ xảy ra ở bán cầu não trái, ảnh hưởng có thể bao gồm:

  • Liệt nửa người bên phải.
  • Lời nói và ngôn ngữ có vấn đề.
  • Hành vi chậm chạp và kỳ lạ.
  • Mất trí nhớ.

Nếu ảnh hưởng đến bán cầu não phải, liệt cũng có thể xảy ra và tổn thương ở bên trái cơ thể. Một số ảnh hưởng bao gồm:

  • Nhìn khó.
  • Hành vi nhanh và kỳ lạ.
  • Mất trí nhớ.

Hiểu lầm 10: Đột quỵ hồi phục nhanh

Quá trình hồi phục sau đột quỵ cần có thời gian vài tháng, nếu không muốn nói là vài năm. Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp không hồi phục hoàn toàn. Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ cho biết, trong số những người sống sót sau đột quỵ:

  • 10% sẽ hồi phục lại hoàn toàn.
  • 10% cần sự chăm sóc của điều dưỡng tại nhà hoặc phương tiện hỗ trợ lâu dài khác.
  • 25% sẽ hồi phục sự với suy yếu nhẹ ở một vài cơ quan.
  • 40% sẽ suy yếu từ mức độ trung bình tới nặng.

Các nghiên cứu chỉ rằng giai đoạn cửa sổ tính từ lúc khởi phát đột quỵ tới 2-3 tháng sau là khoảng thời gian vàng để tập phục hồi chức năng, mang lại cho bệnh nhân nhiều cơ hội hồi phục. Một số trường hợp cũng có thể tự phục hồi trong giai đoạn này.

Ngoài giai đoạn cửa sổ này và mốc 6 tháng, bệnh nhân vẫn có thể phục hồi các chức năng mặc dù khả năng phục hồi chậm hơn đáng kể.

Thánh Philipphê và thánh Giacôbê

Thánh Philipphê và thánh Giacôbê

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay 3/5 Giáo Hội mừng kính trọng thể 2 thánh Tông Đồ Philipphê và Giacôbê. Mừng bổn mạng đến những ai chọn các ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 03/05/2022

Thánh Philipphê là người xứ Bethsaida. Ông là một trong những người đầu tiên được Đức Giêsu kêu gọi. Chính ông đã mách cho Nathanael Tin mừng lớn lao này: “Đấng mà sách luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng ta đã gặp. Đó là ông Giêsu, người Nazareth”. Thấy bạn mình còn hoài nghi, ông đã giục: “Cứ đến mà xem”. Nathanael sau khi đã gặp Đức Giêsu và nghe Ngài nói thì đã tin. Philipphê đã xuất hiện nhiều lần trong Phúc âm: Lúc Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều; làm trung gian cho những người ngoại giáo muốn gặp Đức Giêsu. Philipphê cũng là người đã xin Đức Giêsu: “Lạy Ngài, xin chỉ cho chúng con thấy Cha, thế là đủ cho chúng con”. Người ta nghĩ rằng ông đã đem Tin mừng đến cho người Scythen sau ngày lễ Ngũ tuần và chết rất thọ ở Hiérapolis, tại Phrygie.

Còn thánh Giacôbê mà chúng ta mừng kính hôm nay là Giacôbê hậu, con ông Alphê. Gọi là Giacôbê hậu để phân biệt với Giacôbê tiền, là con của ông Dêbêđê. Phân biệt này không mang ý nghĩa gì khác ngoài việc tránh sự nhầm lẫn. Khoa Thánh Kinh còn nghi ngờ không biết có phải Giacôbê hậu này có phải là “anh em của Đức Giêsu” và là tác giả của lá thư Giacôbê hay không? Nhưng Phụng vụ Rôma lại có sự đồng hoá và xác nhận. Trước khi các Tông đồ tản mác mỗi người một nơi, thì họ chỉ định thánh Giacôbê làm Giám mục Giêrusalem. Ngài là linh hồn của cộng đoàn Giêrusalem. Vì ngài đã làm cho nhiều người trở lại với Đức Giêsu nên bị bản án ném đá. Ngài đã chịu tử đạo đang khi quỳ gối cầu nguyện cho tên lý hình đang kết thúc đời Ngài bằng một thanh sắt giáng xuống trên người, trong thời điểm mừng lễ Vượt Qua. (Theo “Tự điển các thánh”, trang 268-269 và trang 159).

Noi gương thánh Philipphê và thánh Giacôbê, bạn có thể trở thành tông đồ của Chúa qua lối sống hằng ngày của mình hôm nay bằng cách làm những việc nhỏ với một con tim chân thành, với một thái độ cởi mở. Đây là một minh chứng hùng hồn và cụ thể nhất cho đức tin của mình đó.

Xin thánh Philipphê và thánh Giacôbê, cầu cho chúng con.

Trở Về Trên Chuyến Tàu Việt Nam Thương Tín – TRUYỆN NGẮN CÓ THẬT – Nguyễn Ngọc Dung

Van Pham

*TRUYỆN NGẮN CÓ THẬT … – Nguyễn Ngọc Dung,

Trở Về Trên Chuyến Tàu Việt Nam Thương Tín.

Mùa Xuân đang về, thời tiết lý tưởng, với chồi non, nụ thắm… dễ làm người ta yêu đời hơn.

Ngày dài hơn, nắng vàng của những ngày đầu mùa Xuân làm cho tôi ngồi vào bàn, viết lại một quãng thời gian đầy biến động và thay đổi cho cả gia đình mình. Một công việc đã âm ỉ trong lòng, chưa được viết ra, như một gửi gấm đến các con cháu mình những gì đến với cuộc đời của tôi, và phần nào muốn chia sẻ với các bạn, như một lời tâm tình của một thành viên bé nhỏ trong cái tập thể “vợ những người tù cải tạo” quanh đây.

30 Tháng Tư, 1975, lịch sử Việt Nam sang một trang mới. Tôi lấy chồng trong những ngày cuộc chiến cao độ (1970), chàng là một người lính Hải Quân, nay đây mai đó, lúc ở căn cứ hải quân mãi tận Phú Quốc, lúc đi tàu biển, rồi có khi về ngay bộ tư lệnh Hải Quân Sài Gòn và đơn vị cuối cùng, là giang đoàn ở Đồng Tâm, Mỹ Tho.

Tôi đi học, đi làm và không theo chân anh đi các vùng xa xôi như thế. Ngày 27 Tháng Tư, 1975, anh về thăm tôi 1 chút rồi trở về Long An, lúc đó là nơi anh được huy động về tiếp tay với các bạn giữ vùng 4 sông ngòi. Anh và tôi xa nhau, gặp nhau như chuyện thường ngày của các gia đình quân đội – nhất là hải quân – trong thời chiến, nào có biết rằng cũng là lần cuối gặp nhau mang hình ảnh anh trong bộ quần áo tác chiến hải quân.

Chúng tôi mất liên lạc từ đó, vài ngày sau, với lời tuyên bố đầu hàng sáng 30 Tháng Tư, 1975, tôi biết cuộc đời mình sẽ có những thay đổi rất lớn, mà chẳng biết nó sẽ như thế nào. Tôi chờ anh trở về Sài Gòn, chờ anh về nhà, tuy biết là không thể trở về với chiếc tàu, để đón gia đình hai bên và tôi.

Về sau này, tôi mới biết, giang đoàn của anh được biệt phái từ Đồng Tâm, tới Nhà Bè, rồi về Long An, nằm trong Lực Lượng Đặc Nhiệm 99, gồm rất nhiều tàu bè, một mũi nhọn xung kích mạnh mẽ nhất của Hải Quân miền Nam lúc bấy giờ.

Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 được thành lập để bảo vệ an ninh thủy trình sông Soài Rạp và sông Lòng Tào, và bảo vệ chính phủ rút về miền Tây, khi tình thế xấu.

Bến Bạch Đằng quen thuộc, gần nhà bố mẹ tôi, nay đã chẳng còn một chiếc tàu nào mang lá cờ xưa.

Chiều tối hôm 29 Tháng Tư, 1975, tôi cùng đoàn người gần nhà ra bến Bạch Đằng, mong có một cơ may nào lên được sà lan, tàu buôn hay cả ghe nhỏ để cứ đi vào một bến bờ vô định. Đi như trong giấc ngủ vật vờ, đêm xuống, bờ sông hỗn loạn, hàng kẽm gai kéo ngang, họng súng gờm sẵn sàng nhả đạn. Tên anh cũng chẳng ích gì trong việc xin 1 chỗ cho mình tôi lên tàu hải quân, ai thoát được, cứ lạnh lùng bỏ đi.

Thôi rồi, số phận mình ra sao, anh ở đâu và có an toàn?

Một đêm không ngủ nghe tiếng trực thăng bay liên tục, nhìn những chiến hạm không đèn trên sông Sài Gòn, tôi biết mọi hi vọng ra đi đã bị cắt đứt. Đi qua bộ tư lệnh Hải Quân, qua cầu tàu nơi có khi anh chỉ cho tôi, kia là con tàu anh đang làm việc trên đó, nay chỉ là một quãng sông đen ngòm, đe dọa và nhận chìm mọi hi vọng của chúng tôi.

Ngày qua ngày, qua lời 1 anh lính cận kề với anh ở giang đoàn, anh ta về nhà nhưng không muốn gặp mặt tôi, tôi biết anh đã dẫn đoàn ghe ra cửa biển, đón tàu khác để di tản.

Tôi vẫn phải đi làm, sáng ra phải dự các buổi gọi là “giao ban,” gặp tất cả các bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ và ban quân quản bệnh viện. Không khí căm thù bàng bạc suốt buổi, nhiều đe dọa, chúng tôi chỉ biết nhìn nhau, im lặng, vì quanh mình chẳng biết ai là bạn ai là thù.

Bên cạnh đó, những buổi học tập tại chỗ, những bài tự khai thật nặng nề, những câu hỏi mơ hồ khiến câu trả lời nào của chúng tôi cũng không thỏa mãn được họ. Nhất là với tôi, khi tôi khai ông chồng tôi…mất tích… Thì đúng là mất tích chứ sao bây giờ, khi Tháng Năm, Sáu, Bảy, Tám 1975 không biết anh ở đâu.

Họ đâu có chịu cho tôi yên với hai chữ mất tích kia, cái mất tích hàm nhiều ý nghĩa…có thể là đã chết, di tản, vô bưng hoạt động chống lại họ, hay trốn ở đâu. Họ bắt tôi lên họp, chỉ một với một, họ hạch hỏi quanh chữ “mất tích.” Tôi cũng hoang mang lắm, không biết anh sống chết thế nào.

Bức màn sắt đã trùm xuống toàn miền Nam, toàn vùng chỉ là đêm đen giữa ban ngày. Chỉ có một đường radio VOA, BBC để biết tin nước ngoài, được nghe trong sự trốn tránh che giấu. Sáng đi làm, nhìn những lá cờ đỏ trên đường, rùng mình như màu máu đang rút dần ra khỏi cơ thể tôi, ngủ dậy mới thấy đã qua được 1 ngày yên ấm, chưa bị bắt như các người lớn trong bệnh viện, nay ông bác sĩ bệnh viện trưởng, mai ông phụ tá hành chánh, mốt ông điều dưỡng trưởng.

Không khí trong bệnh viện đầy đe dọa, dò xét, ngay cả hộp đồ ăn trưa cũng được bà trưởng phòng về tiếp quản, đổ ra ngoài xem có dấu gì trong đó, hay xem bọn “ngụy” ăn uống cao lương mỹ vị gì.

Đến khoảng Tháng Tám 1975, tôi nhận được 1 điện tín gửi từ Pháp, như sau: sẽ hồi hương, cho biết ý kiến.

Bức điện tín ngắn gọn, mà thật là khó giải quyết. Tôi xin ý hai bên cha mẹ. Bố mẹ anh không biết nên bảo anh về lại Việt Nam hay bảo anh qua Mỹ, được sung sướng cho anh, thì lại khổ cho con dâu mà ông bà rất yêu quý. Bố mẹ tôi bảo anh trở về, thì thương anh bị ở tù khổ cực lắm. Ngay bản thân tôi, cũng chẳng biết sao là đúng.

Biết là anh đang rất cần câu trả lời để có quyết định, về hay ở?

Sau cùng, chúng tôi đành đánh điện tín qua: “Tùy ý quyết định.” Những ngày tháng sau đó, tôi sống như một người có tội, tội đẩy anh vào nơi lao lý, biết có ngày về ?

Sau đó các đài phát thanh, VOA, BBC báo tin cho biết sẽ có một chuyến tàu mang tên Việt Nam Thương Tín sẽ đưa một số người muốn hồi hương, khoảng Tháng Mười sẽ trở về. Thuở ấy, sau bức màn sắt là một thế giới khác, bít bùng, mọi tin tức đều không thể đến với người dân. Tôi đi làm, lòng đầy hoang mang, anh có về, nếu anh về, thì có phải ở tù không? Người ở đây, còn vào tù, huống gì người đã đi, nay trở lại, mang theo những câu nghi ngờ về các anh, có phải đã mang về những công việc dọ thám, đánh phá chế độ…

Rồi được tin nghe lén, chiếc tàu mang tên Việt Nam Thương Tín (VNTT) đã chở người di tản dạo 30 Tháng Tư, 1975, nay được dùng để đưa đoàn người hồi hương. Tôi tự hỏi, liệu có anh trong đó, nếu có thì anh sẽ ra sao. Ngay bản thân tôi ở Sài Gòn, còn bị đe dọa đi kinh tế mới, vì đã được đặt tên là vợ của ngụy quân, tội ác đầy mình, cần phải cải tạo cái đầu tư sản bằng con đường lao động.

Hai bàn tay một Nha Sĩ như tôi, thay vì điêu khắc lên miếng trám cho thật đẹp, thật giống những hình dáng thật của răng, nay có lúc phải cầm cuốc đi trồng dứa (thơm) ở nông trường, cầm cuốc trồng khoai mì sau khi đã cuốc hết sân cỏ xanh mướt tốn công biết bao, ở sân trước bệnh viện Chợ Rẫy nổi tiếng ở Sài Gòn.

Có lần chúng tôi phải đi đào kinh, giẫm chân trên dòng kinh lúp xúp nước, chuyền những miếng đất được các vị bác sĩ, các giáo sư đại học Y Khoa Sài Gòn trao cho, để tạo con kênh dẫn nước phèn vào ruộng. Dòng nước váng lên những phèn, cây nào sống nổi. Sau những lần khổ cực như thế, số bác sĩ quyết chí rời bỏ nước lại càng tăng lên. Họ đã không trọng vọng nhân tài, yêu quí những vị “cứu nhân, độ thế.”

Qua những sự việc hàng ngày như thế, tôi đã có thể hình dung cuộc sống trong tù “cải tạo” của các quân nhân chế độ cũ, và nhất là các anh đã về theo chuyến tàu VNTT sẽ khổ như thế nào.

Lá thư anh gửi từ trại tù Tuy Hòa đã xác định, anh đã trở về.

*******

Tôi lên phòng nhân viên của bệnh viện tôi làm việc, xin điều chỉnh tình trạng chồng mình. Chữ “mất tích” nay đổi thành một địa chỉ lạ hoắc, ở một nơi rừng sâu núi thẳm nào đó miền Trung. Tưởng rằng đã yên cho mình, tưởng rằng không còn cái cảnh gọi lên làm lại lý lịch tôi đã thuộc lòng, với lời nghi ngờ là ông chồng tôi đang ở một nơi nào, đe dọa đến an ninh của chế độ mới.

Bây giờ họ đem chồng tôi để “dụ” tôi vào một công tác mới. Họ hỏi, tôi có muốn đi thăm nuôi anh, có muốn gặp anh? Dĩ nhiên là tôi muốn lắm chứ, nhưng tôi cũng biết dè chừng cái thâm ý của họ.

Đằng sau cái đề nghị ngọt ngào đó, hẳn là sẽ có điều kiện gì đây?

Thì ra, họ muốn tôi làm một thứ “ăng ten” để tìm hiểu về một nhân vật trong bệnh viện mà họ muốn bắt. Tôi tuy còn non trẻ, nhưng cũng đã biết lưu ý kịp thời, để không mắc mưu họ, giữ an toàn cho người ấy và cả cho mình. Cuộc sống bấy giờ, là một sự đối phó, là những cẩn thận và căng thẳng. Rồi cũng qua ngày, tôi tìm quên trong công việc. Trong bệnh viện, ngày ngày có tin người này đi thoát, bạn khác bị bắt. Tôi đã tìm cho mình một hướng đi, dứt khoát ở lại với anh. Chúng tôi chưa có con, tưởng như không có điều chi ràng buộc, nhưng tình nghĩa vợ chồng sâu nặng, nhất là sự trở về của anh, thì sự dứt khoát kia trở thành một điều không lay chuyển.

Chuyến tàu VNTT về đến hải phận Vũng Tàu từ Tháng Mười, 1975, thế mà chúng tôi chỉ biết đến tin nhau qua vài lá thư, thư đầu tiên từ Tuy Hòa, ngày gửi là Tháng Hai, 1976, thư thứ hai từ Nghệ Tĩnh.

Anh đã bị còng tay, giải đi thật xa, đến một nơi nghèo nhất nước, để đói khát, bệnh tật sẽ giết lần mòn nhóm sĩ quan ưu tú của quân đội. Những lá thư được rập khuôn, vài ba chữ hỏi thăm là đã hết, anh chẳng đả động gì đến chuyện đi thăm, sự cô lập trong rừng sâu, sự cô lập với dân quanh vùng và ghê sợ hơn cả là sự cách chia với gia đình.

Anh sống thế nào nhỉ?

Sự chờ đợi mỏi mòn cho đến cuối năm 1978, anh mới báo tin cho tôi đi thăm nuôi. Hai chữ “thăm nuôi” thật giản dị mà đầy ý nghĩa.

Nghĩa là có hai việc trong lần được gặp này: thăm và nuôi. Anh viết thư về, danh sách các thứ “nuôi” dài thậm thượt, với một người gọi là “khảnh ăn” như anh, mà phải liệt kê bao nhiêu món như thế, chắc chắn anh thiếu thốn ghê gớm.

Quãng đường Hà Nội vào Vinh bằng tàu chợ đã là một ám ảnh tôi cho đến bây giờ, xe lửa cho những con buôn đanh đá, cảnh hỗn loạn cho những tay cướp hoạt động, nơi những tay anh chị và đồng bọn hoành hành với những luật chơi riêng của họ. Những chị đi thăm nuôi cứ chết dí, né tránh và chịu đựng. Nói sao cho hết những nhục nhằn chịu đựng trên đường thăm nuôi.

Lần đầu tiên gặp lại sau 3 năm xa cách, anh đã trở thành một người khác, cả người sưng phù, khuôn mặt giữ nước trông như mập ra, anh như một người khác trong bộ bà ba đen có lần tôi gửi vào theo đường bưu điện.

Vợ chồng nhìn nhau qua 1 chiếc bàn lớn, xa cách như tội nhân. Chúng tôi tội tình gì nhỉ, muốn nói bao điều, mà chỉ nói bằng ánh mắt. Giờ được thăm loáng cái đã hết, chúng tôi bịn rịn, anh ngay đây mà như một người xa lạ, gặp nhau và chia tay, chỉ yên tâm là chúng tôi vẫn còn sống, ngày mai sẽ ra sao, chẳng ai biết.

Anh quay vào trại, sống kiếp tù đày, tôi trở về lại Hà Nội đợi máy bay vào Sài Gòn. Ra đến Hà Nội mới biết các chuyến bay tạm ngưng vì chiến tranh Tháng Mười Hai, 1978 giữa Việt Nam và Cambodia, tôi kẹt ở lại, tôi đánh điện tín về bệnh viện xin nghỉ, họ không tin, cứ nghĩ tôi đã vượt biên. Sau khi có máy bay trở lại, tôi đi làm và đã bị làm khó dễ không ít với sự việc này. Đất nước đã được rêu rao là “thống nhất,” là hạnh phúc, mà sao vẫn sợ dân mình bỏ nước ra đi?

Cuộc sống ngay cả ngoài tù còn đầy rẫy khó khăn, đói ăn, thiếu mặc, thiếu tự do. Thử hỏi trong tù, nhất là người tù luôn kèm theo bốn chữ Việt Nam Thương Tín, thì khổ thế nào. Bốn chữ ấy có nghĩa là luôn nằm trong sự nghi ngờ của chính quyền, sự thương cảm của bạn bè, sự tiếc nuối có khi tức giận của những người đang tìm đường vượt biên. Riêng tôi, bị nhìn như nguyên nhân chính của sự trở về của anh.

Tôi tự giận mình, quyết định để anh trở về, như đang ở thiên đường mà lại xuống địa ngục. Nhiều khi tôi phải tự tìm ra câu trả lời, là, quyết định lúc nào, là đúng nhất vào lúc ấy, không ân hận và không tiếc gì. Hỏi rằng có ai can đảm như anh, biết trở về là tù đày mà chỉ nghĩ đến một ngày sẽ trở về với gia đình và tôi.

Nhiều bạn anh lúc còn ở Guam, đã ngăn anh trở về, nhưng các bạn mạnh miệng vì họ đang ở trong sự đầy đủ của vợ, con, cha mẹ. Anh tâm sự, có những buổi chiều ở Guam, ngồi ở bãi biển, nhìn đôi chim bay cùng nhau trong nắng xế, nhìn người ta bên cạnh vợ con, tuy chưa biết ngày mai nhưng vẫn ánh lên hạnh phúc vui vầy. Anh đã về vì chẳng có ai trong gia đình anh, gia đình tôi di tản được.

Anh ra khỏi tù Tháng Mười, 1982, từ xứ Nghệ Tĩnh rất xa, vào đến miền Nam là cả một lòng thương yêu của dân chúng, họ giúp đỡ, trên đường di chuyển về Sài Gòn. Hai năm sau, chúng tôi có đứa con trai đầu tiên và 3 năm sau, một đứa con trai thứ ra đời khi tôi đã ở tuổi 40. Bạn bè của anh thường lui tới thăm hỏi, nựng nịu hai cháu nhỏ nhất khóa.

Chúng tôi muốn sống yên bình, nhưng thấy luôn luôn có những phân biệt, ngăn cản bước tiến của con mình từ phía chính quyền mới. Và năm 1991 bốn người chúng tôi ra đi định cư ở Mỹ trong chương trình H.O., chúng tôi phải làm lại từ đầu, bắt đầu một cuộc đời mới ở một xứ sở mới đã dang tay đón nhận chúng tôi.

Chúng tôi với tuổi thanh xuân, với thời điểm đẹp nhất cho việc tạo dựng một cuộc đời tốt đẹp, lúc ấy, đã bị cướp đi, phải bắt đầu một cuộc đời mới bằng hai bàn tay trắng. Những mất mát ấy, chẳng cách gì lấy lại được. Thật là nhiều thua thiệt, chỉ còn những an ủi là những ngày tháng cuối đời được sống bình an nơi xứ sở này, nơi chúng tôi xin nhận làm quê hương.

Anh đã từ Mỹ, trở về Việt Nam, trải qua 7 năm gian khổ, và 9 năm sau gia đình chúng tôi đã cùng nhau trở lại “thiên đường” tưởng đã đánh mất, sau 19 năm tuổi trẻ, đã qua đi vô ích, tuổi đẹp nhất của một đời người.

Qua những gian khó ban đầu ai cũng phải sống như thế, chúng tôi đã hội nhập được với “dòng chính,” các cháu học hành nên người, cuộc sống không đến nỗi kham khổ.

Để đến bây giờ, chúng tôi vẫn hãnh diện trả lời, “Vâng, chúng tôi là người của chuyến tàu VNTT, con tàu mang tên Định Mệnh, từ Guam trở về Việt Nam Tháng Mười, 1975.”

HÌNH:

– Những ngày tháng yêu nhau…. gặp gỡ nhau trên chiến hạm trước 30-4-1975…

– Phi trường Tân Sơn Nhất, 4 Tháng Bảy, 1991. (Hình: Tác giả cung cấp)

– Tết đầu tiên ở Hoa Kỳ, 1992. (Hình: Tác giả cung cấp)

Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn vừa bị khởi tố và có lệnh bắt giam, là ai?

Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn vừa bị khởi tố và có lệnh bắt giam, là ai?

BTV Tiếng Dân

29-4-2022

LGT: Nhân sự kiện bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Tổng giám đốc Công ty AIC, vừa bị khởi tố và có lệnh bắt giam (cùng với ông Phan Huy Anh Vũ, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Đồng Nai); để bạn đọc có thêm thông tin về nhân vật này, chúng tôi xin được giới thiệu lại bài viết của tác giả Thu Hà, đăng trên Tiếng Dân ngày 15-11-2020: Nguyễn Thị Thanh Nhàn, người gây sóng gió chính trường trước đại hội XIII (Phần 1) và Phần 2:

Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn là người từng nhận danh hiệu “Ý tưởng và mô hình quốc gia thông minh xuất sắc nhất” hồi tháng 10/2018, do Tổ chức Thành phố thông minh (TPTM) Thế giới phối hợp với Hiệp hội Công nghệ Pháp Normandy French Tech và Viện Khoa học Điều khiển – Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga đồng tổ chức. Nguồn: Báo LĐ

Ngay sau khi Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban kinh tế Nguyễn Văn Bình nhận kỷ luật cảnh cáo, chính thức giã từ sân chơi đại hội XIII, thì một cái tên khác cũng “hot” không kém, được các trang mạng xã hội xướng lên với nhiều đồn đoán: Nguyễn Thị Thanh Nhàn.

Nhưng Nguyễn Thị Thanh Nhàn là ai? Nhàn sinh năm 1969, quê Thuân Thành, Bắc Ninh. Nhàn là con ông Nguyễn Văn Mỹ và bà Nguyễn Thị Hy. Xuất thân từ gia cảnh nghèo khó, Nhàn quyết tâm phải làm giàu bằng mọi giá, trong đó có quyết định bỏ tấm bằng sư phạm, để lấy văn bằng thương mại.

Sau khi ra trường, Nhàn làm đủ thứ việc. Đến cuối năm 1999, Nhàn dừng chân tại một đơn vị nhà nước, trở thành người của ngành giao thông vận tải. Nhà được đề bạt là cán bộ phụ trách công việc kinh doanh xuất khẩu lao động (XKLĐ) ở Trung tâm Xây dựng và Thương mại (Traenco) trực thuộc bộ Giao thông Vận tải (GTVT).

Nguyễn Thị Thanh Nhàn trong một sự kiện năm 2004. Ảnh trên mạng

Nhàn dẻo miệng, ăn nói lưu loát và có tài mê hoặc đối phương rất nhanh, cộng thêm ngoại hình chỉnh sửa, trở thành vũ khí lợi hại giúp nàng thành danh, “vua biết mặt, chúa biết tên” sau này.

Tháng 9/2002, bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy viên Trung ương Đảng khoá IX, Thứ trưởng thường trực Bộ Tài chính, được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương. Bà Ngân là người phụ nữ duy nhất ở Việt Nam vào thời điểm đó giữ chức Bí thư Tỉnh ủy và là người phụ nữ độc nhất nắm quyền điều hành cao nhất tỉnh Hải Dương từ trước đến nay.

Công ty Traenco lúc đó có chi nhánh ở Hải Dương để “cò mồi” xuất khẩu lao động người Hải Dương và vùng phụ cận sang nước ngoài làm thuê. Luồn lách, láu cá và cơ hội, Nhàn nhanh chóng tiếp cận được bà Bí thư Tỉnh uỷ. Phụ nữ miền Nam vốn chân thành và cả tin, họ kết nghĩa chị em từ đó.

Traenco ngày ấy gần như độc quyền về xuất khẩu lao động trên cả nước. Thị trường lao động phổ thông các nước từ Đài Loan, Hàn Quốc, châu Phi, Trung Đông như UAE, Ả Rập Saudi, Libi, Iran, Iraq, Oman, Bahrain… là rất lớn. Đơn vị đưa người đi lao động cứ thế mà đếm tiền, họ cướp hàng trăm triệu đồng trên đầu người tham gia, từ khâu thủ tục giấy tờ hợp đồng, đến cả cắt xén lương của công nhân trên đất khách quê người. Trong khi đó, họ lại vô trách nhiệm, phủi tay khi người đi xuất khẩu có tai nạn lao động, bị bạo hành, bị quỵt lương hoặc ốm đau.

Không biết thời gian ở đâu, học khi nào và làm cách gì, Nhàn có bằng Thạc sỹ Quản trị kinh doanh do Đại học La Trober (Australia), rồi tiến sĩ tại Viện IASS ở Nga. Hệ thống cầm quyền với hàng trăm tờ báo quốc doanh đã ca tụng theo lời “nổ” của Nhàn, rằng để có kiến thức về quản trị kinh doanh, tài chính, kế toán, thương mại, ngoại ngữ, Nhàn đã phải học rất nhiều, học mọi lúc, mọi nơi, học những lúc ngồi trên ô tô, trên máy bay… Vì vậy mà Nhàn sử dụng thông thạo 5 thứ tiếng: Anh, Trung, Nga, Hàn và cả tiếng Nhật.

Tháng 10/2005, Traenco được cổ phần hóa và đổi tên thành Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế (AIC). Dĩ nhiên, Nguyễn Thị Thanh Nhàn nhảy lên ghế Chủ tịch Hội đồng Quản trị, kiêm Tổng Giám đốc AIC. AIC dưới thời Nhàn điều hành đã xảy ra nhiều vụ bê bối trong xuất khẩu lao động, qua những cáo buộc của khách hàng của họ là “đem con bỏ chợ”.

Chân dung Nguyễn Thị Thanh Nhàn những ngày đầu lập nghiệp

Phần bà Nguyễn Thị Kim Ngân, sau khi rời Hải Dương hồi đầu năm 2006, bà Ngân lần lượt làm thứ trưởng Bộ Thương mại, bộ trưởng Bộ LĐ-TB-XH, rồi Phó chủ tịch Quốc hội. Năm 2011, khi quân đội đảo chính chế độ Gaddafi (sau này lập nên chế độ độc tài, khát máu) chiến sự nổ ra nguy hiểm. Sợ liên luỵ, Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã cầu cứu bà Kim Ngân, giúp AIC của Nhàn và một số công ty XKLĐ khác, thiết lập cầu hàng không để đưa 10.000 lao động VN từ Libya về nước. Sau vụ này, bà Kim Ngân trở nên nổi tiếng và AIC cũng được ăn theo.

Qua cầu nối từ bà Kim Ngân, Nhàn bắt đầu quen biết và “dắt mũi” hàng loạt Ủy viên Trung ương Đảng để sai khiến, lợi dụng họ, đánh bóng tên tuổi của Nhàn và làm nên những phi vụ kinh thiên, động địa. Những cái tên đình đám dính líu đến Nguyễn Thị Thanh Nhàn là: Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Thị Kim Ngân, Phạm Minh Chính, Nguyễn Thiện Nhân, Hoàng Bình Quân, Trịnh Đình Dũng, Nguyễn Nhân Chiến, Phạm Thị Thanh Trà, Nguyễn Xuân Thắng, Trần Bình Minh, Châu Văn Minh…

Nguyễn Thị Thanh Nhàn với Hồ Nghĩa Dũng
Nguyễn Thị Thanh Nhàn với Trần Bình Minh. Nguồn: VTV7
Nguyễn Thị Thanh Nhàn với Nguyễn Xuân Thắng

Tháng 2/2015, Nguyễn Thị Thanh Nhàn gây sửng sốt cho những người quen biết bà ta và làm bất ngờ cả giới học thuật Việt Nam khi được Viện nghiên cứu hệ thống Liên Bang Nga (Viện IASS) trao tặng hai danh hiệu: Viện sĩ có thành tích xuất sắc nhất giai đoạn 2004-2014 và phần thưởng Ngôi sao Vernadski. Đích thân Ủy viên Bộ chính trị khoá XI, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, cùng nhiều quan chức bộ ngành, đã đến dự.

Nguyễn Thị Thanh Nhàn nhận văn bằng “Viện sĩ”

Mặc dù viện này cũng không tiếng tăm gì với quốc tế, nhưng báo Đảng và báo quốc doanh thổi nó thành “Viện hàn lâm nổi tiếng thế giới” và Nguyễn Thị Thanh Nhàn là “người phụ nữ đầu tiên của khu vực châu Á và Việt Nam được Viện hàn lâm IASS trao tặng hai danh hiệu danh giá“.

Với mục tiêu loè bịp thiên hạ, phục vụ cho ý đồ gây thanh thế để dễ kiếm tiền, Nhàn vơ hết tất cả các giải thưởng, từ Sao đỏ, Bông hồng vàng, doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu nhất, gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu nhất, thương hiệu quốc gia xuất sắc nhất… cùng nhiều bằng khen của Thủ tướng, huân, huy chương, nhiều bằng khen của các bộ, ban, ngành và địa phương trên cả nước, đến cả… Huân chương Lao động và các huy chương danh giá khác.

Có tiền, có chức vụ, mua được học hàm học vị, từ một con buôn, “cò” XKLĐ ăn trên mồ hôi, nước mắt và cả máu của người lao động tha phương nơi xứ người, Nguyễn Thanh Nhàn đã trở thành người đàn bà quyền lực, uy danh cả nước, trúng thầu các dự án “khủng”, thu tóm hàng trăm ngàn tỷ đồng từ các dự án công béo bở. Hiện bà ta là cái tên gây sóng gió, chao đảo chính trường Việt Nam trước thềm đại hội XIII của đảng cộng sản.

______

Phần 2:

Tham vọng của Nguyễn Thị Thanh Nhàn đúng là không có điểm dừng. Ngàn tỷ, học hàm, học vị “đụng nóc nhà” vẫn chưa đủ. Năm 2017, Nhàn chạy để Tạp chí Forbes Việt Nam đưa tên mình vào danh sách công bố “50 Phụ nữ ảnh hưởng nhất Việt Nam năm 2017“, xếp trong “top 10” cùng các chính trị gia là Uỷ viên Bộ chính trị Nguyễn Thị Kim Ngân, Tòng Thị Phóng, Trương Thị Mai.

Chân dung Nguyễn Thị Thanh Nhàn. Ảnh trên mạng

Công ty cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC) của Nguyễn Thị Thanh Nhàn, thực chất là một công ty buôn người. Lấy danh nghĩa “đào tạo” rồi xuất khẩu lao động (XKLĐ), là cái cách mà AIC móc túi người dân đăng ký đi XKLĐ. Những năm AIC đưa công nhân đi bán sức lao động tại thị trường Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi, tiền môi giới khoảng từ 2000 đến 3000 đô la một người, chưa kể các khoản thu “trời ơi đất hỡi” khác.

Sau này chuyển qua khai thác thị trường XKLĐ Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, số tiền mà công ty AIC của Nguyễn Thị Thanh Nhàn thu, đã nhân lên gấp mấy lần. Họ kê ra hàng loạt các khoản thu, mà người đi XKLĐ chỉ nhắm mắt đưa chân, không đủ thời gian để tìm hiểu:

1. Tiền môi giới

2. Chi phí dịch vụ (bằng 3 tháng lương theo hợp đồng)

3. Chi phí đào tạo kỹ năng

  1. Chi phí dạy ngoại ngữ tốc hành

5. Tiền đặt cọc chống trốn

6. Chi phí khám sức khoẻ

7. Tiền visa, giấy tờ khác, vé máy bay

8. Phụ phí phát sinh nếu có: áo quần, đồng phục, sách vở giáo trình, vali..

Ai thắc mắc, AIC sẽ ném ra, nào là: Nghị định 95/2013/NĐ-CP; Thông tư liên tịch 16/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTC “Về tiền môi giới và tiền dịch vụ trong hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng“; Thông tư 21/2013/TT-BLĐTBXH về mức trần tiền ký quỹ XKLĐ tại một số thị trường.

Quảng cáo chiêu dụ XKLĐ của AIC Group

Công ty AIC có mạng lưới nhiều tầng, nấc, khắp các tỉnh thành để thông báo, săn tìm nguồn “hàng” XKLĐ. Nhiều nam thanh nữ tú ở miền quê, thậm chí vùng miền núi, bị XKLĐ của AIC chiêu dụ, bỏ học, bỏ ruộng đồng, rủ nhau cầm cố sổ đỏ cho ngân hàng, vay cho đủ 15.000 đến 20.000 đô la để đóng trọn gói đi Nhật Bản, Hàn Quốc. Rất nhiều đau thương, hệ luỵ nảy sinh từ XKLĐ, thân phận người lao động nơi xứ người, mà báo chí trong nước và cả ngay nước sở tại đã nhiều lần làm những thiên phóng sự cảnh báo. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào những vụ việc này.

Nguyễn Thị Thanh Nhàn và AIC không chỉ dừng lại ở XKLĐ. Cô ta cho lập hàng chục công ty con trên toàn quốc, tạo thành AIC Group. Lĩnh vực mà Nhàn công khai công bố nhúng tay vào không khác gì một chính phủ thu nhỏ: Bất động sản; Y tế; Giáo dục; Dạy nghề; Đào tạo nhân lực; Xử lý ô nhiễm và kiểm soát môi trường; Chống biến đổi khí hậu; Khoa học công nghệ; Giao thông; Công nghệ thông tin; Phòng cháy chữa cháy; Đầu tư; Tư vấn; Tài chính ngân hàng; Xuất khẩu lao động.

Từ năm 2008, qua nhịp cầu của bà Kim Ngân, dưới sự chống lưng của các Uỷ viên Trung ương, giúp Nhàn đấu thầu nhiều dự án, nên Nhàn đã có biệt danh “Nhàn đấu thầu” và trở thành siêu lừa có hạng. AIC thành lập Cty CP Bất động sản AIC để ôm hai dự án lớn hàng chục hecta ở thành phố Hà Nội rồi sau đó bỏ hoang từ đó đến nay, gây kiện tụng và phẫn nộ trong dân.

Năm 2010, UBND TP Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Xây dựng nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Nam Sơn cho AIC theo hình thức BOT (xây dựng – kinh doanh – chuyển giao) với kỳ vọng sẽ giải quyết được bài toán quá tải rác thải sinh hoạt kéo dài nhiều năm. Nhưng sau khi ôm đất vàng của thành phố và ôm đất lúa của người dân để phân lô bán nền hoặc bỏ hoang, rồi tháo chạy, không thực hiện dự án, Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã gây ra nhiều bức xúc cho chính quyền sở tại và người dân.

Năm 2013, AIC ăn được phi vụ khổng lồ, khi nhập 150 lò đốt rác thải cũ của Nhật với tổng giá 45.000 USD, nhưng bán cho các bệnh viện làm lò đốt rác thải y tế, tổng thu khoảng 300 tỷ đồng.

Tháng 9/2013, một phi vụ lừa thành công nữa của AIC. Nguyễn Thị Thanh Nhàn thầu “Xây dựng lắp đặt vận hành nhà máy rác thải An Khê” tổng vốn đầu tư cho nhà máy là 117 tỉ đồng.

Nhà máy xây dựng xong, không hoạt động được, do máy móc cũ hư hỏng. AIC và Nhàn ôm gần 120 tỷ bỏ chạy, để lại chủ đầu tư là UBND thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai một đống sắt bỏ hoang từ đó đến nay.

Nhà máy “xử lý rác” 117 tỷ bỏ hoang, biến thành…rác

Như đã nói ở trên, nhờ bảo kê của các “anh đại, chị đại” mà Nguyễn Thị Thanh Nhàn vẫn thắng thầu rất nhiều các dự án trăm tỷ, ngàn tỷ trên khắp đất nước.

– Tại Hà Nội: 41 tỷ. AIC trúng gói thầu số “Mua sắm thiết bị học tập” từ Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội.

– Tại TP HCM: Đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TP.HCM năm học 2014-2015” với kinh phí thực hiện là 4.000 tỉ đồng. AIC của Nhàn nhập laptop của Trung Quốc giá 900 ngàn về bán chi dự án 5 triệu / cái. Như vậy vốn bỏ ra tầm 500 triệu, thu về 4000 tỷ, người ta ước tính Nhàn đã “xơi” được 3500 tỷ.

– Tại Bắc Ninh: 99 tỷ. Gói thầu “Mua sắm thiết bị tin học và thiết bị phòng học đa năng trang bị cho các trường học”.

– Tại Sơn La: 11 tỷ. Gói thầu lắp đặt “Nâng cấp hệ thống xử lý chất thải y tế Bệnh viện”.

– Tại Tây Ninh: 99 tỷ. Gói thầu thuộc dự án: “Nâng cấp, cải tạo hệ thống xử lý chất thải y tế tại bệnh viện”.

– Tại Đồng Nai: 64 tỷ. Gói thầu “Xây dựng Hệ thống xử lý chất thải y tế cho các Trung tâm y tế, phòng khám”.

– Tại Gia lai: 20 tỷ.

***

Nguyễn Thị Thanh Nhàn đi đâu cũng “nổ” tung trời, rằng AIC Group khai dân trí Việt Nam, mở cánh cửa quốc gia thông minh. Báo chí thổi AIC Group thành doanh nghiệp tiên phong trong việc cung cấp các thiết bị, giải pháp công nghệ phục vụ cho quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử, thành phố thông minh cho các địa phương, đơn vị.

Nhờ vậy, khắp 63 tỉnh thành và các bộ ban ngành trải thảm đón Nguyễn Thị Thanh Nhàn đến xây dựng và bấm nút “đề án thông minh công nghệ 4.0”. Đơn giản nơi nào cũng muốn địa phương, đơn vị mình “thông minh”, không ai muốn “lú”. Cứ thế ngàn tỷ khắp mọi miền tự nguyện vào túi, vì thế chỉ buôn nước bọt, mà Nguyễn Thị Thanh Nhàn tự tin phấn đấu đạt doanh thu 1,2 tỷ USD/ năm.

Nguyễn Thị Thanh Nhàn bấm nút cùng UVTW, Viện trưởng Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Châu Văn Minh
Nguyễn Thị Thanh Nhàn bấm nút cùng Bí thư Trung ương đảng, Giám đốc học viện chính trị quốc gia Nguyễn Xuân Thắng

Không những đầu tư trong kinh tế để kiếm tiền, Nguyễn Thị Thanh Nhàn còn đầu tư cả về… chính trị. Nhàn kết thân với Trần Đại Quang từ thời ông ta mới lên Bộ trưởng Bộ Công an. Họ nồng nàn như anh họ và “em gái mưa”.

Cuối tháng 7/2017, trong chuyến thăm Cộng hoà Belarus, Trần Đại Quang ngất xỉu mấy lần, phải vào bệnh viện Belarus. Căn cứ trên đánh giá lâm sàng, các bác sĩ điều trị đã nghi ngờ ông nhiễm phóng xạ. Về nước, gia đình muốn ông Quang đi Hoa Kỳ chữa trị, song Nguyễn Thị Thanh Nhàn thuyết phục cứ sang Nhật điều trị, mọi vấn đề cứ để cô ta lo liệu. Ngày 21/9/2018, Chủ tịch nước Trần Đại Quang từ giã cõi đời.

Thể chế cộng sản thật hay, làm việc cho quốc gia, lên đến Trưởng ban Nội chính Trung ương đảng như Nguyễn Bá Thanh, mà khi lâm trọng bệnh, cả tổ chức đảng lẫn Ban bảo vệ chăm sóc sức khoẻ Trung ương (BVSKTW) đều vô trách nhiệm, phó mặt cho Vũ “nhôm” cùng một tay bác sĩ vô danh Phạm Trần Xuân Anh tháp tùng đi Mỹ chữa bệnh, đến khi chết Ban BVSKTW cũng không biết rõ bệnh gì.

Lần này cũng vậy, họ cũng để cho gia đình ông Chủ tịch nước và “em gái mưa” Nguyễn Thị Thanh Nhàn muốn làm gì thì làm. Kết quả ông Quang chết, trưởng ban BVSKTW Nguyễn Quốc Triệu nói bệnh của ông Quang do “virus lạ”, thế giới chưa biết, còn Phó ban, giáo sư Phạm Gia Khải, cho rằng “bệnh máu ác tính”.

Phạm Minh Chính (lúc còn là Bí thư Quảng Ninh) trong buổi hội kiến Nguyễn Thị Thanh Nhàn

Trước thềm đại hội XIII của Đảng, cái tên Nguyễn Thị Thanh Nhàn được nhắc kèm với một nhân vật được cho là tham gia cuộc đua giành một ghế “tứ trụ” khoá XIII: Uỷ viên BCT, Bí thư Trung ương đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính.

Cũng cần nói thêm, năm 1993 Nguyễn Thị Thanh Nhàn kết hôn, sinh được hai cô con gái. Đa mang và để rãnh tay “ngoại giao”, cô ta ly dị chồng ở quê nhà. Từ đó, đi đâu Nhàn cũng bóng gió nói về các mối quan hệ “nghiêng trời”, cùng dáng dấp những người đàn ông quyền lực trong bóng tối.

Thời còn làm Bí thư tỉnh uỷ Quảng Ninh, người ta thấy ông Chính đi với Nhàn nhiều hơn đi bên vợ. Đề án “Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn 2030” là của Nhàn vẽ ra và Phạm Minh Chính hô hào cả hệ thống chính trị Quảng Ninh phải giúp Nhàn triển khai thực hiện. Trăm tỷ hay ngàn tỷ ở Quảng Ninh đã chảy vào túi Nhàn, câu hỏi dành cho Uỷ ban Kiểm tra Trung ương trả lời.

Những ngày này, hàng trăm đơn thư tố cáo bay về bàn làm việc TBT Nguyễn Phú Trọng, Tiểu ban nhân sự, Tiểu ban An ninh, chính trị nội bộ đại hội XIII vạch trần Nguyễn Thị Thanh Nhàn, cùng các chính trị gia hàng đầu.

Không biết ông Trọng và đảng của mình sẽ xử lý ra sao, nhưng có một điều người dân ở những nơi Nhàn đã đi qua đều cho rằng, những phi vụ lọc lừa kiếm tiền trên sức khỏe của dân, sự hình thành nhân cách và tri thức của học sinh, là kiểu kiếm tiền khốn nạn, tồi tệ và vô đạo nhất.

Những kẻ ngồi trên “đỉnh cao chói lọi” bán rẻ lương tâm, câu kết nhau hút máu nhân dân, làm nghèo đất nước, kéo đất nước đi thụt lùi, sớm muộn gì cũng sẽ trả giá cho tội lỗi của mình.

_______

Mời đọc thêm: Khám xét trụ sở Công ty AIC của bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Ra lệnh bắt chủ tịch Công ty AIC Nguyễn Thị Thanh Nhàn và giám đốc Sở Y tế Đồng Nai (TT). – Khởi tố doanh nhân Nguyễn Thị Thanh Nhàn, bắt Giám đốc Sở Y tế Đồng Nai (TN). – Nữ tiến sĩ Việt Nam giành giải xuất sắc cuộc thi “quốc gia thông minh” tại Anh (LĐ). – Doanh nhân Nguyễn Thị Thanh Nhàn: Một tháng 2 phần thưởng quốc tế lớn (TP).

NGƯỜI MẸ VĨ ĐẠI

Nghệ Lâm Hồng

Con nên nghĩ đến những lúc ấy và không nên tệ với mẹ con, một người mẹ sẵn lòng đi ăn xin để nuôi con và sẵn sàng hi sinh tính mạng để cứu con sống…

Hà Mai Anh

(Tâm hồn cao thượng)

NGƯỜI MẸ VĨ ĐẠI

Thông tin bệnh nhân AIDS chuẩn bị nhập viện sinh con đã khiến cả khoa sản náo loạn. Các y tá đồng thanh nói: “Ai sẽ chịu trách nhiệm trong trường hợp bị lây nhiễm?” Ngay cả một số bác sĩ cũng phản đối: “Nếu bệnh nhân khác bị lây nhiễm qua dụng cụ phẫu thuật và giường chiếu thì phải làm thế nào?” Sau một hồi tranh luận, cuối cùng bệnh nhân cũng được sắp xếp vào chiếc giường số 13, phòng cách ly đặc biệt của khoa sản. Khi trưởng khoa phân công trực ban, không ai muốn nhận vào trong đó. Cuối cùng chỉ còn lại tôi – một y tá vừa tốt nghiệp ba tháng, nơm nớp lo sợ bước vào căn phòng.

Vừa vào tới phòng, người mẹ sắp sinh mỉm cười với tôi. Tôi cứ nghĩ rằng những phụ nữ mắc loại bệnh này hẳn sẽ phấn son trang điểm lòe loẹt. Nhưng không phải vậy, cô cũng như những người phụ nữ bình thường khác, khuôn mặt hiền từ, mái tóc dài ngang vai, chân đi đôi giày búp bê…

“Cảm ơn cô!” Một giọng nói trong veo và nhẹ nhàng, cô là một phụ nữ bình thường nhưng lại mắc căn bệnh không hề bình thường chút nào.

Thì ra người mẹ trẻ tại giường số 13 này là một cô giáo trung học phổ thông. Một hôm trên đường từ trường về nhà, cô bị tai nạn xe hơi. Vì mất quá nhiều máu nên cô phải truyền máu gấp và không may bị nhiễm HIV. Đến tận khi cô đi khám thai, bác sĩ mới phát hiện cô đã mắc phải căn bệnh thế kỷ. Cuộc đời cô đã bước sang một ngã rẽ mới, ảm đạm và mờ mịt với kết cục buồn phía trước. Đáng thương nhất là đứa bé trong bụng, nguy cơ bị lây nhiễm cũng rất cao, xác suất không dưới 20% đến 40%. Người mẹ không còn hệ thống miễn dịch, vì thế các biến chứng trong quá trình sinh là vô cùng nguy hiểm.

Khi chồng cô đến đã khiến cho cả khoa một phen kinh ngạc. Chồng của một phụ nữ bị AIDS thì trông thế nào nhỉ? Khác xa với tưởng tượng của chúng tôi, chồng cô là một nhân viên văn phòng giỏi máy tính, đeo kính cận, cao ráo, lịch sự, và có phong thái rất đĩnh đạc.

“Anh à, anh đoán xem con chúng ta sẽ giống em hay giống anh hơn?” Tôi đang trải ga giường, nghe thấy những câu nói nhỏ nhẹ nỉ non của đôi vợ chồng trẻ thì sống mũi cay cay, nước mắt bắt đầu rơm rớm. Thì ra họ là một gia đình hạnh phúc. “Tất nhiên là giống anh rồi, nếu là con gái thì mới giống em chứ!” Cô vợ nghe vậy còn phụng phịu làm nũng ra điều không chịu. Khi tôi bước ra khỏi phòng bệnh, nước mắt tôi chảy dài, trái tim tôi chua xót vô cùng.

Hàng ngày cô ấy phải uống nhiều loại thuốc khác nhau để kiểm soát lượng virus HIV, hầu như ngày nào cũng phải lấy máu và truyền dịch. Hai cánh tay đầy đặn, nõn nà nay đã chi chít những vết kim tiêm. Tôi là y tá mới ra trường, vốn sống còn ít ỏi lại khá “nhát gan”. Nhất là những lúc lấy máu, tôi vẫn thường làm cô ấy đau đến chảy nước mắt, nhưng cô chưa bao giờ nổi cáu với tôi, chỉ âm thầm cắn răng chịu đựng, thỉnh thoảng còn mỉm cười nói ‘không sao’.

Chỉ vài ngày sau khi cô nhập viện, tôi dần dần rất thích cô ấy.

Tuy còn vài ngày nữa mới đến ngày sinh, nhưng cả khoa đã chuẩn bị sẵn sàng. Cô năm nay đã 31 tuổi lại mang trong mình căn bệnh AIDS, nên bệnh viện cả trên lẫn dưới đều trong trạng thái đề phòng cao độ.

Nhưng bản thân cô lại rất bình tĩnh, hàng ngày đều đọc sách và nghe nhạc, còn viết thư tình hoặc vẽ tranh tặng con yêu.

Một hôm tôi đánh bạo hỏi, tại sao cô lại sinh đứa bé ra, rằng cô có biết nguy cơ lây nhiễm là rất cao? Cô vừa mỉm cười vừa trả lời tôi: “Con tôi đã đến với tôi, đó là duyên nợ, hơn nữa tôi không có quyền cướp đi sinh mệnh của bất kì ai.” Tôi do dự, nhưng vẫn quyết đinh hỏi: “Nếu cháu bị nhiễm HIV thì sao?” Cô ấy im lặng một lúc, sau đó tiếp tục nói: “Nếu không thử thì con tôi sẽ không có cơ hội sống nào.” Tâm trạng tôi vừa buồn vừa xót xa, không khí trong căn phòng trở nên ngột ngạt.

Khi tôi chuẩn bị ra ngoài, cô đã nhẹ nhàng nắm lấy tay tôi, đôi mắt rưng rưng và nói:“Tôi muốn nhờ cô một việc, khi tôi sinh con dù có xảy ra chuyện gì, chồng tôi nhất định sẽ cứu lấy tôi. Nhưng tình trạng của tôi cô cũng biết rồi đó, vì thế nếu thực sự xảy ra chuyện xấu, xin hãy cứu lấy con tôi.” Tôi cảm động ôm cô và khóc, cô đúng là một người mẹ thực sự.

Dưới ánh đèn huỳnh quang nhạt màu, cô nằm yên lặng trên bàn mổ, thân dưới không ngừng chảy máu, nước ối vẩn đục đã ộc ra. Điều này có nghĩa là thai nhi đang lâm vào tình trạng nguy hiểm vì thiếu oxy. Thể chất của cô vô cùng đặc thù, không hề có phản ứng với thuốc tê, chỉ có thể chọn mổ sống để lấy thai nhi ra và chấp nhận hy sinh người mẹ. Hai là tiêm thuốc gây mê, nhưng đợi khi thuốc có tác dụng thì em bé trong bụng đã bị ngạt thở hoặc bị sốc vì liều gây mê quá cao, nhưng chỉ như vậy mới có hy vọng cứu được người mẹ. Cả hai trường hợp đều khiến bệnh viện và gia đình lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan.

Cô nắm chặt tay tôi, đôi mắt nhìn tôi như van nài, giọng nói yếu ớt nhưng rất kiên quyết: “Cứu lấy con tôi, nhanh cứu lấy con tôi, không cần phải quan tâm đến tôi…!”Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến cái nhìn tuyệt vọng đến vậy, trong một căn phòng cũng tuyệt vọng như thế. Một người phụ nữ không thể gây tê, cũng không thể gây mê khi mổ đẻ, bao nhiêu bác sĩ đứng đó đều bất lực.

Con dao phẫu thuật nhanh chóng được đưa xuống bụng dưới, lớp da, lớp mỡ, lớp cơ, niêm mạc rồi tử cung… Người mẹ co giật từng cơn, toàn thân giãy giụa, quằn quại, mắt trợn ngược, khuôn mặt biến dạng vì đau đớn, miệng cắn chặt chiếc khăn trắng và rên lên từng cơn xé lòng. Tôi không thể chịu nổi khi chứng kiến những giọt nước mắt của cô rơi xuống lã chã. Và tôi biết, đó không chỉ là đau đớn mà còn là tình yêu của người mẹ. Đến tận hôm nay tôi mới hiểu vì sao làm con phải hiếu thảo với cha mẹ. Bởi mỗi đứa con chào đời là biết bao nhiêu đau đớn, biết bao nhiêu nhọc nhằn, thậm chí là hy sinh cả tính mạng của mẹ.

Cuối cùng, thai nhi đỏ hỏn cũng được đưa ra và khóc lên tiếng khóc yếu ớt đầu đời. Người mẹ vừa ngất lịm đi, đột nhiên nghe thấy tiếng khóc của con nên cô cố gắng hé mở đôi mắt liếc nhìn về phía con yêu, nhưng rồi mí mắt sưng húp nặng trịch lại vội vã cụp lại. Tôi vội vàng tháo đai cố định ở chân và tay cho cô, vì gồng mình vật lộn với cơn đau, cổ tay cổ chân cô đều rớm máu. Hai mắt tôi đẫm lệ, trái tim tôi cũng như thắt lại…

Thật khó để tin rằng đây là một người mẹ AIDS, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng nhìn thấy con trai của mình. Đôi mắt cô nhắm lại và sẽ không bao giờ còn mở ra được nữa. Cô bị nhiễm trùng nặng và không thể cầm được máu nên đã mãi mãi ra đi.

May mắn là em bé âm tính với virus HIV. Tôi tin rằng ở trên cao kia, cô cũng đang mỉm cười mãn nguyện.

Khi làm vệ sinh phòng bệnh, tôi đã tìm thấy một lá thư dưới gối của cô, bên trong còn vẽ một bức tranh ông mặt trời, bên dưới mặt trời là một đôi tay nhỏ. Cô viết cho con trai rằng: “Con yêu, cuộc sống giống như mặt trời, hôm nay lặn xuống ngày mai nhất định sẽ lại lên.” Tôi không thể ngăn những giọt nước mắt, cuộc sống thật quá mong manh và cũng thật mạnh mẽ. Người mẹ nào mà chẳng thương con? Vậy cớ sao chúng ta lại phải phân biệt đối xử?

Cuối cùng tôi đã hiểu, cô cũng như những người mẹ bình thường khác, dũng cảm để giành lấy sự sống cho con.

Khi đứa bé được xuất viện, cháu nằm yên bình trong vòng tay cha. Ban đầu đứa trẻ khóc rất to, giống như biết mẹ nó sẽ không bao giờ còn quay về nữa. Nhưng nó chợt ngừng khóc khi tôi đặt bức thư lên ngực. Dường như trong lòng bé cũng đang mỉm cười khi nhận lấy cuộc sống vĩnh cửu này. Mai này lớn lên em sẽ biết rằng, mẹ của em là người mẹ vĩ đại nhất trên đời.

Sưu tầm

Thánh A-tha-na-xi-ô (296? – 373), Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh

Thánh A-tha-na-xi-ô (296? – 373), Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh

Sáng Thứ 2 thế nào rồi hả? Đừng có ngáp ngủ nhé. Nếu có ngáp thì hãy thốt lên: “Lạy Chúa xin giúp con…” Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh A-tha-na-xi-ô (296? – 373), Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy. Xin Chúa chúc lành cho bạn và gia đình hôm nay và mãi mãi.

Cha Vương 

Cuộc đời Thánh A-tha-na-xi-ô đầy bôn ba vì tận tụy phục vụ Giáo Hội. Ngài là quán quân bảo vệ đức tin đối với sự lan tràn của lạc thuyết Arian. Sự nhiệt huyết của ngài được thể hiện trong các trước tác giúp ngài xứng đáng là Tiến Sĩ Hội Thánh.

    Sinh trong một gia đình Kitô Giáo ở Alexandria khoảng vào năm 295 và được giáo dục kinh điển, A-tha-na-xi-ô gia nhập hàng giáo sĩ và là thư ký cho Ðức Alexander, Giám Mục của Alexandria, và sau đó chính ngài được nâng lên hàng giám mục. Vị tiền nhiệm của ngài, Ðức Alexander, từng là người lớn tiếng chỉ trích một phong trào mới đang bành trướng ở Ðông Phương thời bấy giờ, đó là lạc thuyết Arian, họ khước từ thiên tính của Ðức Kitô và không coi Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa.

    Khi Ðức A-tha-na-xi-ô đảm nhận vai trò Giám Mục của Alexandria, ngài tiếp tục chống với lạc thuyết Arian. Lúc đầu, cuộc chiến dường như dễ dàng để chiến thắng và lạc thuyết Arian sẽ bị kết án. Nhưng thực tế thì trái ngược. Công Ðồng Tyre đã được triệu tập và vì một vài lý do không rõ ràng, Hoàng Ðế Constantine đã trục xuất Ðức A-tha-na-xi-ô đến miền bắc nước Gaul. Ðây là chuyến đi đầu tiên trong một chuỗi hành trình và lưu đầy có nét phảng phất như cuộc đời Thánh Phaolô.

    Khi Constantine từ trần, người con trai kế vị đã phục hồi quyền giám mục của Ðức A-tha-na-xi-ô. Nhưng chỉ được có một năm, ngài lại bị truất phế vì sự liên hiệp của các giám mục theo phe Arian. Ðức A-tha-na-xi-ô đã đệ đơn lên Rôma, và Ðức Giáo Hoàng Julius I đã triệu tập một công đồng để duyệt qua vấn đề và các khó khăn liên hệ.

    Trong bốn mươi sáu năm làm giám mục, ngài đã phải lưu đầy mười bảy năm chỉ vì bảo vệ tín điều về thiên tính của Ðức Kitô. Trong một thời gian, ngài được an hưởng 10 năm tương đối bình an để đọc sách, viết lách và cổ võ lý tưởng của đời sống đan viện mà ngài hết lòng tận tụy.

    Các văn bản và giáo lý của ngài hầu hết là các bài bút chiến, trực tiếp chống lại mọi góc cạnh của lạc thuyết Arian. Trong các văn bản của ngài về đời sống khổ hạnh, cuốn Ðời Sống Thánh Anthony được nhiều người biết đến và góp phần lớn trong việc thiết lập đời sống đan viện trên khắp thế giới Kitô Giáo Tây Phương.

    Sau một cuộc đời đức hạnh và chịu đau khổ gian nan nhưng vẫn trung kiên với Đức Tin Công giáo. Ngài là một vĩ nhân của thời đại đã an nghĩ đời đời trong Chúa vào ngày 2 tháng 5 năm 373. Thánh tích của ngài hiện còn ở San Croce, Venice, nước Ý.

    Thánh A-tha-na-xi-ô được tuyên dương là Tiến sĩ của Hội Thánh do Đức Giáo Hoàng Pius V năm 1568.

LỜI BÀN: Khi là Giám Mục của Alexandria, Thánh A-tha-na-xi-ô đã phải đau khổ nhiều vì những thử thách. Ngài được Chúa kiên cường để chống lại một điều tưởng như không thể nào vượt qua được vào lúc bấy giờ. Thánh A-tha-na-xi-ô đã sống trọn vẹn trách nhiệm của một vị giám mục. Ngài bảo vệ đức tin chân chính cho đàn chiên, bất kể giá phải trả. Trong thế giới ngày nay, chúng ta cũng được mời gọi để giữ vững đức tin chân chính với bất cứ giá nào.

 LỜI TRÍCH: Những khó nhọc mà Thánh A-tha-na-xi-ô đã phải đau khổ trong khi lưu đầy – trốn tránh, bỏ chạy từ nơi này sang nơi khác – nhắc nhở chúng ta về những gì mà Thánh Phaolô đã đề cập đến trong cuộc đời ngài: “Trong nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, ở sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em; trong vất vả mệt nhọc, qua những đêm không ngủ, qua sự đói khát, thường xuyên phải nhịn ăn uống, qua sự lạnh lẽo và trần truồng. Ngoài những điều này, tôi còn bị ray rứt hằng ngày vì sự ưu tư lo cho tất cả các giáo hội” (2 Corinthians 11:26-28). (Nguồn: Người Tín Hữu online)

Bạn đã và đang làm gì để giữ vững đức tin? Cái giá bạn phải trả là gì?

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã cho thánh giám mục A-tha-na-xi-ô được can đảm đứng lên bênh vực niềm tin của Giáo Hội về thần tính của Đức Ki-tô, Con Một Chúa. Xin nhậm lời thánh nhân chuyển cầu mà ban cho chúng con biết nghe lời người giảng dạy, để ngày càng hiểu biết và yêu mến Chúa hơn. Chúng con cầu xin… (Lời nguyện trong kinh Thần Vụ)

From Do Dzung