Xin tiền không cho, 1 ông ở Sài Gòn giết chết cha ruột

Xin tiền không cho, 1 ông ở Sài Gòn giết chết cha ruột

June 7, 2022

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Chiều 7 Tháng Sáu, Công An ở Sài Gòn đã bắt được nghi can Nguyễn Anh Khoa, 30 tuổi, tại một khách sạn ở quận 10, để điều tra về tội “giết người,” theo báo VNExpress.

Nghi can Nguyễn Anh Khoa đã sát hại cha ruột của mình là Tiến Sĩ NVB, 72 tuổi, giảng viên đại học.

Nghi can Nguyễn Anh Khoa bị công an bắt tại quận 10. (Hình: Nhật Vy/Tuổi Trẻ

Khai với cơ quan điều tra, nghi can Khoa cho biết mẹ mất sớm nên ở với cha là giảng viên kinh tế.

Hơn mười năm trước, ông Khoa được cha cho đi du học ở Singapore. Khi trở về nước, ông Khoa tiếp tục sống với cha tại căn nhà ba tầng ở đường Thích Quảng Đức, phường 5, quận Phú Nhuận.

Trưa 6 Tháng Sáu, ông Khoa xin tiền cha nhưng ông NVB không cho. Tức giận, ông Khoa đánh ông B. tử vong, sau đó lấy chăn đắp lên người, mở máy lạnh và lục lọi khắp nhà tìm lấy tiền, vàng và một số tài sản có giá trị rồi bỏ trốn.

Nghi can Khoa cho rằng “đã gọi điện báo cho người thân về việc giết cha, định ra đầu thú thì bị bắt.”

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, trước đó khoảng 11 giờ cùng ngày, Công An quận Phú Nhuận nhận được trình báo của người thân ông NVB. Họ cho biết, nhiều ngày qua không thể liên lạc được với ông B., gọi cửa không được nên nhờ công an đến kiểm tra, phá khóa.

Tại hiện trường, giới hữu trách phát hiện ông B. đã chết với nhiều vết thương. Ngay sau đó công an giăng dây xung quanh căn nhà của nạn nhân, xem lại camera an ninh, đồng thời tiến hành khám nghiệm các vật dụng trong nhà để điều tra.

Phía bên ngoài, lực lượng công an phường phong tỏa hiện trường, ngăn người dân không được tiếp cận bên trong.

Giảo nghiệm tử thi, công an thấy trên thi thể ông B. có nhiều vết thương, chưa rõ thời điểm tử vong.

Có mặt tại hiện trường, một người dân kể lại: “Cách đây bốn, năm ngày, tôi thấy Khoa chạy xe gắn máy không đội nón bảo hiểm, phóng thật nhanh ra đường.”

Căn nhà nơi xảy ra vụ án. (Hình: Bùi Tư/Pháp Luật TP.HCM)

Theo người dân sống xung quanh nhà nạn nhân, ông B. là giáo sư và hiện đang giảng dạy cho nhiều trường đại học. Thời điểm lực lượng hữu trách phát hiện, thi thể nạn nhân đã trong tình trạng bắt đầu phân huỷ.

Một hàng xóm khác cho biết thêm, trước đây khi ông B. đi dạy, ông con trai thường tụ tập bạn bè về nhà chơi, và thường xuyên ra ngoài nhưng không giao tiếp với những người xung quanh. (Tr.N)

Nhớ lại – Đỗ Duy Ngọc

Nhớ lại

Đỗ Duy Ngọc

7-6-2022

Thời gian trước cách đây một năm là những ngày bắt đầu cơn đại dịch bi thương quét qua thành phố Sài Gòn. Những đau thương, mất mát xuất hiện từ những ngày này. Những biện pháp phong toả, giãn cách rồi giới nghiêm. Những khu vực cách ly kẽm gai, chướng ngoại vật giăng đầy phố và những con hẻm. Những cuộc gom dân vào những khu vực thu dung, F0, F1, F2 nhưng không có biện pháp và hướng điều trị cụ thể. Tất cả xoay như chong chóng từ những chỉ thị đến các quyết định. Người dân sống trong âu lo và khi dính dịch chỉ biết chờ chết. Đỉnh dịch vào cuối tháng 7, tháng 8 và tháng 9. Người chết không kịp thiêu chất đống trong xe lạnh. Khói nghi ngút cháy suốt ngày đêm ở lò thiêu. Trong các bệnh viện và trung tâm thu dung, các bác sĩ và nhân viên y tế đành bất lực nhìn người bệnh lần lượt ra đi. Gia đình người chết nhận những hũ tro cốt. Thành phố trở thành thành phố chết, những tiếng còi hụ của xe cứu thương như tiếng gọi của tử thần. Con số người chết oan ức tức tưởi lên đến hàng chục ngàn. Tiếng khóc bi thương vang tràn các ngõ xóm, các con đường.

Đã qua một năm, cuộc sống đã hồi sinh ở thành phố nhưng những nỗi đau, nỗi mất mát của từng gia đình không thể nào nguôi. Những người đã chết không thể sống lại được, thân xác đã thành tro trong những hũ sành. Người thành phố sống sót qua cơn đại dịch cũng không thể nào quên những tháng ngày hãi hùng đã trải qua. Hậu quả không những ở hàng chục ngàn người đã chết mà còn để lại biết bao di chứng hậu Covid ở hàng triệu người đã từng mắc phải.

Cho đến giờ, sau những biến cố ngồi nhìn lại, đã thấy rõ nguyên nhân của những hậu quả bi đát đó. Đã có lắm sai lầm nguy hại. Đã có những biện pháp chết người. Thế nhưng chẳng có ai dám đứng ra nhận trách nhiệm, chẳng có ai dám mở lời tạ lỗi với những người đã khuất và cả những người sống sót sau cơn đại dịch với những ngày tháng kinh hoàng đã trải qua.

Trong thời gian khủng khiếp đấy lại có lũ người có quyền lực lợi dụng cơ hội cấu kết với nhau để làm giàu. Chúng bàn bạc, chia chác nhau từ những que thử. Chúng ăn chia nhau hàng ngàn tỷ đồng từ những chuyến bay gọi là giải cứu. 2000 chuyến, mỗi chuyến bỏ túi vài tỷ, con số lên đến bao nhiêu? Chúng ban hành lệnh chọc ngoáy bất kể giờ giấc, bất kể ở đâu để thu lợi. Chúng lợi dụng quyền lực để bòn rút ngân sách, hút máu đồng bào. Tội lỗi của chúng không thể xoá bỏ và tha thứ được. Hôm nay đã có vài tên bị nêu danh, bị cảnh cáo, bị khai trừ đảng. Nhưng tội lỗi của chúng không thể chỉ trừng trị từng đó. Phải đưa chúng ra toà án, tịch biên gia sản với cái án thật nặng nề. Dù biết rằng làm thế vẫn chưa hết sự khốn nạn, tàn nhẫn, vô lương của chúng.

Nếu tin vào tâm linh, tin vào thế giới khác chắc hẳn những oan hồn của những người đã chết sẽ có lúc báo oán những kẻ đã khiến họ phải chết oan ức. Và những kẻ vô lương kia sẽ bị đền tội vì những tội ác của chúng.

Một năm đã qua đi, ký ức vẫn còn đọng lại và chắc hẳn thời gian sẽ chẳng bao giờ xoá được những ngày bi thảm của thành phố Sài Gòn. Nhắc lại để nhớ. Nhắc lại để khắc sâu những tội lỗi của lũ người táng tận lương tâm. Nhắc lại để rút ra bài học xử lý những biến cố tránh những lúng túng, những biện pháp duy ý chí sai lầm đưa đến những hậu quả khủng khiếp không lường được.

ĐÁM CƯỚI – Trần Mộng Tú

Chau Nguyen Thi

ĐÁM CƯỚI

(Trần Mộng Tú)

Bà mẹ cô dâu đưa thêm người khách nữa vào bàn cho đủ mười người. Trong bàn đã có bốn cặp vợ chồng và một phụ nữ đi một mình.

Bà tươi cười giới thiệu:

Đây là chị Trang, mẹ đỡ đầu của cô dâu, em xin được đưa chị Trang ngồi đây với các anh chị.

Bà Trang còn khá trẻ, so với những cặp đôi trong bàn, chỉ khoảng ngoài 40, khẽ cúi nhẹ đầu chào mọi người. Mắt bà chợt mở to hốt hoảng khi chạm vào cặp mắt của người phụ nữ ngồi đối diện với mình, người phụ nữ cũng đi một mình. Người này cũng chạc tuổi bà. Cả hai cùng như sững người lại trong một giây rất ngắn, rồi họ cũng nghiêm mặt lại, cười nhẹ như chưa hề biết nhau. Họ ngồi đối mặt nhau nên thỉnh thoảng lại nhìn nhau, rồi lại giả vờ như không nhìn thấy nhau. Người phụ nữ đó được cặp vợ chồng ngồi cạnh gọi là chị Hoa.

Hoa nói trong đầu: Đúng là Trinh rồi, sao bây giờ lại là Trang. Người đàn bà tên Trang đó cũng hơi cau mày lại: người này tên là Hoa à? Hay mình nhìn nhầm. Cũng may họ không ngồi cạnh nhau nên không phải nói chuyện với nhau, nhưng họ lại đối mặt nhau nên khó lòng tránh cặp mắt của nhau. Những người khách cùng bàn nói cười vui vẻ, tiếp thức ăn cho hai người phụ nữ độc thân, cả hai chắc chắn cùng trẻ hơn họ.

Hai người đàn bà trẻ đó thỉnh thoảng vẫn nhìn trộm nhau, thỉnh thoảng bắt gặp ánh mắt nhau, cả hai cùng bối rối, họ như muốn nói với nhau một điều gì nhưng lại không nói được.

Bỗng một ông khách trên bàn đang nói chuyện con cái, chuyện sắp về hưu đổi đề tài, hỏi hai người đàn bà độc thân: Hai chị sang đây từ năm nào?

Bà Trang ngập ngừng: Dạ…dạ từ năm 1985, nói xong bà hạ mi mắt thật thấp xuống, tránh nhìn bà Hoa.

Bà Hoa làm như không nghe thấy câu hỏi, nghiêng đầu sang nói khe khẽ điều gì với bà ngồi bên cạnh mình, không trả lời câu hỏi của ông khách.

Ông khách nhấc ly rượu vang uống khà một cái, quên cả câu mình vừa hỏi, bắt sang chuyện khác..

Khi cô dâu chú rể đi chào bàn cùng cha mẹ thì cả bàn mới biết thêm là ngoài bà Hoa là mẹ đỡ đầu của cô dâu từ Okahoma tới, bà Trang lại là cô ruột của chú rể từ Kansas về. Cặp vợ chồng mới cưới ôm thắm thiết hai người phụ nữ khiến cả hai người đàn bà cùng ứa nước mắt cảm động. Cô dâu nói:

Hôm nay con vui lắm vì cả hơn 20 năm nay mẹ đỡ đầu của con không có chịu đi gặp ai hết.

Chú rể cũng hấp tấp nói theo:

Cả con cũng mừng nữa, cô của con trốn gia đình lâu quá rồi, con phải nói bây giờ tìm được cô rồi, nếu cô không về ăn cưới con thì con không lấy vợ nữa đâu.

Cả bàn ai cũng cười to vì biết anh chàng này nói dối.

Cô dâu chú rể bắt đầu cắt bánh, rồi khai mạc kiêu vũ, những người lớn tuổi khẽ chào nhau, kẻ trước người sau ra về.

Bà Trang và bà Hoa không biết họ có thần giao cách cảm gì mà hai người phụ nữ cùng đi về phía cuối một hành lang khá vắng. Khi họ chạm vào vai nhau cả hai cùng đứng khựng lại, họ nhìn sững vào mắt nhau:

Trinh ơi!

Hân ơi!

Rồi họ ôm choàng nhau cùng khóc nức nở. Cái thảm kịch vượt biên bị hải tặc hãm hiếp cả hai chị em cùng chịu đựng gần 30 năm về trước hiện ra trước mắt họ.

Trinh nói trước.- Khi ra trại và biết mình có mang em đã không tìm về với họ hàng, em đi trốn thật xa ở những nơi không có hoặc có rất ít người Việt. Em nhất định không cho ai biết em là nạn nhân của hải tặc. Em không muốn bị khinh bỉ hay được thương hại. Đứa bé sanh ra thì em bệnh gần chết, phải cho một gia đình không có con. Em yếu đuối quá, tai nạn ngoài sức chịu đựng của em. Con em bây giờ nó hạnh phúc có cả cha lẫn mẹ yêu thương, em xin cha mẹ nuôi nó nói là em đã bệnh chết rồi, để nó được sung sướng, không thắc mắc hay đi tìm. Em không muốn con em lớn lên biết cha nó là một hải tặc, mẹ nó bị hãm hiếp mới sanh ra nó. Em thay tên, đổi chỗ ở rất nhiều lần vì mỗi khi gặp người Việt em lại sợ, chỉ sợ họ biết em đã là nạn nhân hải tặc. Vài ba năm em mới liên lạc với gia đình một lần, nhưng nếu họ muốn thăm em thì em lại thay đổi địa chỉ. Lần này về em tính lại dọn đi nữa, nhưng chưa biết sẽ đi đâu.

Hân quàng tay ôm chặt lấy bờ vai gầy của bạn mà nghe chính thân xác mình đang rung như cái cây bị gió.

Mình cũng thế, mình may mắn không có mang nhưng cũng bị cướp mất sự trong trắng của tuổi xuân trong ký ức kinh hoàng đó. Ngay khi còn ở trong trại tỵ nạn mình đã tránh nhìn những cặp mắt thương hại của đám đàn ông và mình biết chắc rằng không ai trong đám đàn ông này dám yêu mình và những người đàn ông khác sau này chẳng ai muốn lấy mình làm vợ. Người yêu của mình đã bỏ đi sang khu khác trong trại, ngay sau khi mình tỉnh lại, đã dạy cho mình biết lòng dạ hẹp hòi của đàn ông. Nên khi ra trại là mình tách ngay ra khỏi gia đình người bà con mình đi chung và đi thật là xa cộng đồng người Việt. Mình cũng thay tên khi vào quốc tịch, không muốn ai nhận ra mình. Mình biết mình không thể yêu một người đàn ông nào được nữa. Cũng như Trinh, mình về ăn cưới cháu lần này rồi lại sẽ đi biền biệt.

Cả hai nói xong cùng im lặng. Họ như cùng quay ngược thời gian, nhớ lại cuộc hành trình l5 ngày trên biển, con tầu lạc trong mưa bão, sóng gió, nôn mửa. Kẻ chết vứt xuống biển, người sống nằm chồng lên nhau. Rồi hải tặc tới, một đám gần mười tên. Đàn ông trong tầu không có khí giới, lại đã yếu đi sau hơn 10 ngày trên biển, vài người chống lại, bị chém, quăng xuống biển. Tất cả phụ nữ già trẻ đều bị hãm hiếp, không phải chỉ một lần, mà hai ba lần với những tên hải tặc khác nhau. Tiếng thét, tiếng khóc, tiếng sóng hòa vào nhau. Trinh và Hân là hai cô gái ở tuổi mới ngoài hai mươi, làm sao chịu nổi cái định mệnh tàn khốc đó. Đau đớn là Hân lại đi với người tình, anh trốn được vào trong một khoang tầu, khi anh chui ra là lúc hải tặc đã bỏ đi, Hân nằm ngất với những vết thương không biết gọi tên là gì.

Im lặng, hai người đi bên nhau. Định mệnh nào đã thu xếp cho họ gặp lại nhau. Họ đã trốn đám đông, xa lánh cộng đồng hơn 20 năm nay. Họ đã thu mình khuất lấp, thay tên đổi họ, thay đổi chỗ ở luôn luôn, nhưng tối nay vì gia đình, họ gặp lại nhau, quá khứ tất cả bỗng lại quay trở về. Họ biết mình đã là nạn nhân của hải tặc và mãi mãi không bao giờ họ thoát ra được cái ám ảnh đó.

Tiếng nhạc trong đám cưới vọng ra ngoài hành lang nghe lao xao như tiếng sóng va vào thành tàu.Trong bóng tối hành lang hai người đàn bà đứng ôm nhau, im như một bức tượng đá đặt ngoài nghĩa trang.

tmt

Tháng 4 năm 2020

(FB Tigon Le)

Một ông ở Orange County lừa đảo hơn $5 triệu cứu trợ COVID-19

Một ông ở Orange County lừa đảo hơn $5 triệu cứu trợ COVID-19

June 6, 2022

SANTA ANA, California (NV) – Một người đàn ông ở Orange County thừa nhận tội danh lừa đảo tiền cho vay cứu trợ COVID-19 trị giá hơn $5 triệu, theo nhật báo Los Angeles Times.

Hồ sơ Biện Lý Cuộc Liên Bang cho thấy ông Raghaosystem Reddy Budamala (35 tuổi, ở Irvine) bị cáo buộc sử dụng các khoản vay cứu trợ để mua một “bất động sản đầu tư” trị giá $1.2 triệu ở Eagle Rock, một bất động sản trị giá gần $600,000 ở Malibu và một “dinh thự cá nhân” ở Irvine. Nghi can Budamala đã gửi gần $3 triệu vào tài khoản cá nhân.

Ông Raghaosystem Reddy Budamala (35 tuổi, ở Irvine) thừa nhận lừa đảo tiền cho vay cứu trợ COVID-19 trị giá hơn $5 triệu. (Hình minh họa: Mark Wilson/Getty Images)

Theo thỏa thuận nhận tội, nghi can này sẽ nhận một tội danh gian lận ngân hàng và một tội danh rửa tiền, đồng thời bị tịch thu toàn bộ số tiền mà nghi can thu được trong quá trình thực hiện âm mưu.

Trước khi bùng phát dịch COVID-19 vào đầu năm 2020, nghi can Budamala sở hữu ba công ty vỏ bọc: Hayventure LLC, Pioneer LLC và XC International LLC, các nhà chức trách cho biết.

Trong khoảng thời gian từ Tháng Tư, 2020, đến Tháng Ba, 2021, nghi can Budamala đã nộp đơn xin bảy Chương Trình Bảo Vệ Tiền Lương (Paycheck Protection Program) và Các Khoản Cho Vay Do Thảm Họa Kinh Tế COVID-19 (Economic Injury Disaster) gây ra cho các doanh nghiệp.

Các chương trình này đã được giới thiệu trong những tháng sau khi bắt đầu đại dịch để giúp doanh nghiệp và nhân viên sinh tồn qua thời gian dài ngừng hoạt động

Trong các đơn xin, nghi can khai các doanh nghiệp tuyển dụng hàng chục người và có doanh thu hàng triệu đô la. Các ngân hàng đã tài trợ sáu khoản vay với tổng số $5,151,497.

Nghi can sau đó đã nộp đơn xin được bỏ qua một số khoản vay, khai sử dụng số tiền trong mục đích trả lương.

Tuy nhiên, các địa chỉ được liệt kê cho các công ty “không có thật, không tồn tại hoặc là khu dân cư,” các công tố viên cho biết trong thông cáo.

Nghi can Budamala bị bắt vào Tháng Hai khi cố gắng chạy trốn sang Mexico và có thể phải đối mặt với bản án 40 năm tù liên bang. (MPL) 

 THẮP ĐÈN CHO AI

Kẻ Đi Tìm

THẮP ĐÈN CHO AI

Mẹ Têrêsa thành Calcutta kể:

Ở Úc Châu có một người thổ dân (Aborigine) sống trong một hoàn cảnh thật thảm thương. Ông ta đã cao niên rồi. Từ bao năm tháng ông chỉ một thân một mình cô đơn trong túp lều tối tăm xiêu vẹo. Lần đầu tới thăm ông, tôi đề nghị:

– Ðể tôi dọn dẹp nhà và sửa soạn giường chiếu lại cho ông.

Ông ta hờ hững nói:

– Tôi đã quen sống như vậy rồi.

Nhưng tôi bảo ông:

– Tuy vậy, ông sẽ cảm thấy dễ chịu hơn với căn nhà sạch sẽ và ngăn nắp.

Sau cùng ông ta bằng lòng để tôi dọn dẹp lại nhà cửa cho ông. Trong khi quét dọn tôi thấy một cái đèn cũ, đẹp nhưng phủ đầy bụi bẩn.

Tôi hỏi ông:

– Có bao giờ ông thắp đèn này không?

Ông ta trả lời với giọng chán ngán:

– Nhưng thắp đèn cho ai? Có ai bước chân vào nhà này bao giờ đâu. Tôi sống ở đây đã lâu rồi mà chẳng hề trông thấy một ai cả.

Tôi hỏi ông:

– Nếu như các nữ tu đến thăm ông thường xuyên, ông có bằng lòng thắp đèn lên không?

Ông vui vẻ đáp:

– Dĩ nhiên rồi.

Từ hôm đó, các nữ tu của chúng tôi quyết định mỗi chiều sẽ ghé qua nhà ông. Cũng từ đó, ông ta bắt đầu thắp đèn và dọn dẹp căn lều cho sạch sẽ hơn.

Ông còn sống thêm hai năm nữa, Trước khi chết ông nhờ các nữ tu nhắn tin cho tôi, ông nói:

– XIN NHẮN VỚI MẸ TÊRÊSA BẠN TÔI RẰNG, NGỌN ĐÈN MÀ MẸ ĐÃ THẮP LÊN TRONG ĐỜI TÔI VẪN CÒN CHIẾU SÁNG. ÐÓ CHỈ LÀ MỘT VIỆC NHỎ, NHƯNG TRONG BÓNG TỐI CÔ ĐƠN CỦA ĐỜI TÔI, MỘT TIA SÁNG ĐÃ CHIẾU LÊN VÀ VẪN CÒN TIẾP TỤC SÁNG MÃI.

—-

Lời Chúa hôm nay mô tả cho chúng ta thấy: “CHÍNH ANH EM LÀ ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN… Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”

Mỗi chúng ta cũng được mời gọi tỏa chiếu ánh sáng của Thiên Chúa nơi cuộc sống mình, qua những cử chỉ yêu thương, qua những lời nói dịu dàng, qua đôi tay phục vụ tha nhân.

Lạy Chúa, xin ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa thôi thúc tâm hồn chúng con, để chúng con bước ra khỏi sự ích kỷ, hẹp hòi nơi bản thân mình, mà hướng đến người khác. Amen. 

‘Gian dâm’ với bà có chồng, một ông ở Thái Nguyên rớt lầu chết khi tẩu thoát

‘Gian dâm’ với bà có chồng, một ông ở Thái Nguyên rớt lầu chết khi tẩu thoát

June 5, 2022

THÁI NGUYÊN, Việt Nam (NV) – Khác với nhiều vụ rơi lầu do trầm cảm hoặc nợ nần, vụ rơi lầu chung cư của một ông ở phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, khiến nhiều người bàn tán về nguyên nhân.

Theo báo Zing hôm 5 Tháng Sáu, một ông chưa rõ danh tánh đã tử vong sau khi dùng dây định trèo từ tầng 11 xuống tầng 10 chung cư Tiến Bộ TBCO Riverside, nhưng bị tuột tay rơi xuống mái tôn ở tầng trệt.

Lỗ thủng trên mái tôn do người đàn ông rơi từ tầng 11 xuống. (Hình: Người Lao Động)

Sau khi tìm thấy chiếc dây nối từ tầng 11 xuống tầng 10 và khám nghiệm hiện trường, nhà chức trách cho biết ông này có “quan hệ ngoài luồng,” với một phụ nữ sống tại căn hộ ở tầng 11. Vào buổi trưa, chồng người phụ nữ về nhà nên ông dùng dây trèo từ tầng 11 xuống để tẩu thoát và xảy ra sự việc.

Tờ Người Lao Động hé lộ, nạn nhân 28 tuổi, nhưng không cho biết ông này còn độc thân hay có vợ.

Đề cập về lý do khiến người đàn ông rơi lầu tử vong do “quan hệ ngoài luồng,” báo này trích lời một giới chức ẩn danh của địa phương nói: “Tuy nhiên, hiện vẫn còn đợi phía cơ quan công an kết luận.”

Trước vụ này, các vụ án mạng do nghi ngờ chồng hoặc vợ ngoại tình diễn ra thường xuyên tại Việt Nam.

Theo tờ Pháp Luật TP.HCM hôm 31 Tháng Năm, ông Lê Tấn Triều, 49 tuổi, ở tỉnh Vĩnh Long, vừa bị tòa án phúc thẩm ở Sài Gòn tuyên phạt 19 năm tù về tội “giết người” do nghi vợ ngoại tình.

Báo này dẫn cáo trạng cho biết hồi Tháng Mười Một, 2020, do nghi ngờ vợ mình có quan hệ tình cảm với ông L. nên ông Triều gọi điện thoại hẹn gặp ông này tại khu vực vòng xoay thuộc phường Tân Ngãi, thành phố Vĩnh Long.

Ông Triều gọi con trai và hai người bạn đi theo cầm dao, cây sắt và dặn những người này “đâm chết nó.”

Khi hai bên gặp nhau thì xảy ra đánh nhau. Ông Triều đâm nhiều nhát vào người ông L., ba người còn lại cũng tham gia “đánh phụ.”

Khu chung cư nơi người đàn ông rơi lầu thiệt mạng. (Hình: Người Lao Động)

Ông L. sau đó được đưa đi cấp cứu nhưng tử vong do “choáng mất máu cấp” vết thương thủng tim.

Ngoài án tù cho ông Triều, ba bị cáo trong vụ này bị tòa tuyên phạt từ tám đến 13 năm tù giam. (N.H.K) [đ.d.]

 CUỘC SỐNG QUANH TA

Chau Nguyen Thi

 CUỘC SỐNG QUANH TA

Bài: Nga Thi Bich Nguyen

  • Thấy trộm không dám bắt, thấy cướp không dám kêu;
  • Thấy người tai nạn không dám cứu vì sợ bị hiểu lầm bị đánh và phiền phức khi đưa vào viện;
  • Thấy bất công không dám lên tiếng, thấy oan khiên không dám bênh vực;
  • Không dám tin vào sự thật, chính nghĩa, tình yêu thương;
  • Không dám tin vào các giá trị cốt lõi;
  • Không phân biệt được đúng sai;
  • Không xác định được phải trái; phỉ báng hành động chính trực là ngu ngốc, coi trọng sự tồn tại hơn sống có ý nghĩa;
  • Tôn vinh những hào nhoáng phô trương, khinh bỉ tri thức, sống dối trá với chính bản thân, lừa dối cảm xúc, học đòi văn minh thể hiện theo cách nửa mùa…

Viết chưa hết đã thấy hãi hùng cứ như đang tả về một tầng địa ngục nào đó.

Đâu có. Chỉ là tả thực về cuộc sống quanh ta.

Mời viết thêm…

S.T.

THỪA DANH HIỆU- THIẾU DANH DỰ

THỪA DANH HIỆU- THIẾU DANH DỰ

“Lịch sử của Việt Nam lẫn nhân loại ngàn năm qua, những bậc vĩ nhân nào có ai khoác trên mình học hàm, học vị, danh hiệu này kia. Họ được tôn thờ và tưởng nhớ nhờ những tư tưởng vĩ đại, những trước tác bất hủ, những chiến công oanh liệt, vạch đường soi sáng cho dân tộc. Trong khi hình thức “Nghệ sĩ ưu tú”, “Nghệ sĩ nhân dân” thực tế cũng chỉ sử dụng ở vài ba quốc gia, giữa thời đại mà mọi đánh giá về thành tựu, hiệu ứng/hiệu quả nghệ thuật đang có quá nhiều thay đổi mang tính toàn cầu, hiện đại.

Ra thế giới, người ta chỉ cần biết anh viết gì, vẽ gì, hiệu ứng phổ quát ra sao, độ tương tác thế nào với đông đảo người tiếp nhận, chứ ai cần biết danh hiệu anh là gì? Nhưng trong nhà mình, năm nào cũng thấy eo sèo cãi cọ về xét danh hiệu với xin “đặc cách” giải thưởng. Để rồi với không ít người, danh hiệu chỉ có tác dụng làm dài thêm trong diễn văn giới thiệu và trên bia mộ.

David Bowie (1947-2016), người Anh, một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại, người được đặt tên cho một tiểu hành tinh gần sao Hỏa, lúc sinh thời đã từ chối nhận tước hiệu Hiệp sĩ của Nữ hoàng Anh. “Tôi thực sự không biết nó để làm gì. Đó không phải là thứ mà tôi đã dành cả đời để làm việc”.

Một người Anh vĩ đại khác là Stephen Hawking cũng đã nói không với tước hiệu danh giá của Hoàng gia.

David Bowie hay Stephen Hawking từ chối phong tước Hiệp sĩ, thì nhân loại vẫn mãi ghi ơn công trình sáng tạo, khoa học của những con người ấy. Có hay không có một chữ “Sir” trước họ tên thì họ vẫn là những hiệp sĩ cao quý và đích thực.

Danh dự của người sáng tạo chính là những tác phẩm, công trình thực sự góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội, bồi đắp nhân văn, mang lại lợi ích lớn lao cho nhân dân. Bao giờ những nghệ sĩ, người lao động sáng tạo của chúng ta mới giảm bớt sự ham muốn cồng kềnh mang vác những danh hiệu, cả trong tư tưởng lẫn ngoài đời, để hiểu rằng “thừa” danh hiệu nhiều khi sẽ dễ dẫn tới thiếu danh dự?”

Trần Tuấn

Đứa con trai lưu lạc của một Bác sĩ Quân Y hy sinh trận Phước Long 12/12/74…-TRUYỆN NGẮN

Van Pham

TRUYỆN NGẮN

Câu chuyện có thât, nhưng được tiểu thuyết hóa cho thêm phần hấp dẫn…

****

Đứa con trai lưu lạc của một Bác sĩ Quân Y hy sinh trận Phước Long 12/12/74…

Bác sĩ Nguyễn Vũ Thanh Sơn, chạy vội lên cầu thang, nhảy từng ba bậc một để lên lầu 4. Không dùng thang máy vì phải đợi quá lâu, bác sĩ Sơn vừa chạy vừa nói vào điện thoại cầm tay, ra lệnh cho y tá chích thuốc giải cơn động kinh ngay cho người bệnh nhân nằm trong phòng 412.

Chàng mở cửa phòng bước vào, cô y tá người Phi Luật Tân, nhỏ nhắn dễ thương như phần lớn những y tá gốc người Phi làm việc tại bệnh viện của đại học y khoa Irvine này, cười trấn an chàng:

– Êm rồi! Lúc nãy ông ta làm dữ quá!

Chàng gật đầu tiến đến gần giường người bệnh, lấy hồ sơ đọc. Ông Lê Hoàng Sử, 62 tuổi, ung thư chính gốc tại gan, đã chạy lan sang phổi và não bộ, bắt đầu lên những cơn động kinh thưòng xuyên và nhập viện được 3 ngày nay. Chàng thuộc nhóm bác sĩ chuyên môn về ung thư của đại học UCI,hôm nay là ngày trực của chàng, phải trông coi hơn chục người bệnh của khu ung thư nằm tại lầu 4 này. Sơn nhìn người bệnh. Mắt ông ta nhắm lại, tay chân duỗi ra, đang ở trạng thái của người bị kinh giật vừa chấm dứt.

Người bệnh trông đầy quen thuộc, như thể chàng đã gặp nhiều lần nhưng không nhớ đích xác. Sơn cố ngẫm nghĩ. Tại sao ông ta trông quen quá vậy? Chàng gặp ở đâu? Lúc nào? Sơn lắc đầu. Không thể nhớ được. Chàng hỏi người y tá về những kết quả thử nghiệm máu mới nhất. Cô y tá ra khỏi phòng để dùng máy in ra kết quả gửi lên từ phòng thí nghiệm. Trước khi ra cô ta quay đầu lại hỏi:

– Bác sĩ cần gì khác nữa không?

Sơn lắc đầu. Chàng nhìn lại người bệnh. Bỗng dưng ông ta mở mắt ra, nhìn dáo dác một lúc rồi dán mắt vào Sơn.

Tiếng rú từ người bệnh làm chàng giật nảy người, cô y tá vừa bước ra ngoài chạy vội trở lại đến giường bệnh. Ông Sử nhỏm phắt người lên, hai tay chắp lại, vái chàng lia lịa như tế sao:

– Ông Thày! Ông Thày! Em, Sử đây ông thày ơi! Ông Thày đừng bắt em tội nghiệp!

Cô y tá tiến lại, định đè ngưòi bệnh xuống và chích thêm một liều thuốc giải động kinh nữa. Nhưng Sơn ngăn lại. Chàng biết người bệnh lên cơn mê sảng, ảo giác tưởng chàng là ai khác. Chàng nắm lấy tay người bệnh, nói tiếng Việt:

– Không sao đâu bác! Tôi là bác sĩ Sơn. Bác thấy trong người ra sao?

Ông Sử tiếp tục lắp bắp:

– Ông Thày ơi! Em không dám trái lời ông thày đâu. Em vẫn theo dõi con ông thày mà!

Sơn nhìn lại người bệnh. Câu nói của ông Sử như khêu gợi trí nhớ Sơn, làm chàng đột nhiên nhận ra người đàn ông trước mặt. Chàng đã gặp người này nhiều lần, từ gần hai mươi năm nay. Ông ta đã có mặt trong tất cả những ngày trọng đại của chàng.

Ngày chàng học xong trung học, trong buổi ra trường, Sơn là thủ khoa valedictorian, chàng đứng trên bục để đọc diễn văn, người đàn ông này đã ngồi ngay hàng ghế đầu, nhìn chàng chăm chăm. Sơn thấy lạ, nhưng đoán ông ta là phụ huynh của bạn học cùng lớp.

Ngày chàng học xong đại học, sau 4 năm tiền y khoa, khi mặc mũ áo chụp hình với gia đình, chàng thấy ông ta lẩn quẩn đứng bên, nhìn chàng chăm chú. Nhưng cũng chỉ nghĩ là người nhà của các bạn khác đang chụp hình bên cạnh.

Ngày chàng được nhận vào đại học y khoa University of California ở Irvine này, gia đình Sơn ăn mừng ở tiệm ăn, chàng cũng thấy ông ta ngồi bàn bên cạnh. Buổi lễ mặc áo trắng của năm thứ nhất, white coat ceremony, chàng cũng thấy người này ngồi hàng ghế đầu.

Ngày Sơn ra trường với mảnh bằng bác sĩ, cũng có mặt ông ta. Bây giờ Sơn đã quả quyết. Người bệnh nhân đang lên cơn mê sảng trước mặt chàng, đã theo dõi chàng từ gần hai mươi năm nay.

Nhưng tại sao? Và chàng còn nhớ lại nhiều điều khác. Sơn được nhiều học bổng của các tổ chức người Việt ở Quận Cam này, phòng thương mại, hội bảo vệ văn hóa, hội các thương gia… Chàng thấy tên Lê Hoàng Sử khá quen, hình như ông ta đã là chủ tịch của nhiều hội của người Việt tại Quận Cam này nhiều năm qua. Có thể nào những học bổng dành cho chàng đó là do chính ông Lê Hoàng Sử này? Rồi nhiều lần chàng đã ngạc nhiên khi thấy tiền học phí đã được ai trả hết, có hỏi văn phòng tài chánh của trường cũng không biết, chỉ thấy là account của chàng về học phí đã được chuyển tiền bằng điện tử để thanh toán, không biết ai là người gửi.

Người bệnh chợt im lặng, nằm xuống lại. Một lúc sau, ông ta mở mắt r. Lần này cặp mắt đã tinh anh, nhận biết khung cảnh chung quanh, như một người đã tỉnh táo sau cơn mê sảng. Ông ta nhìn thấy Sơn và cất tiếng:

– Chào bác sĩ Sơn! Tôi mừng thấy ông làm việc ngày hôm nay. Tôi có nhiều điều cần nói với bác sĩ. Ông Sử đã lấy lại phong thái của một người giàu có, được mọi người kính nể. Sơn bây giờ nhớ lại đã nghe nhiều người nói. Ông Lê Hoàng Sử là một trong những người Việt thành công và giàu nhất tại Quận Cam này, chủ nhân ông của một khu shopping lớn trên đường Bolsa, cũng như có nhiều khu apartments cho thuê ở Garden Grove. Ông Sử thở dài:

– Tôi biết tôi không còn sống được bao lâu nữa. Bác sĩ biết rõ hơn tôi. Tôi đã yêu cầu để đổi ngày trực của bác sĩ sang hôm nay. Vì tôi không biết có còn đến được ngày mai nữa hay không!

Sơn nhìn lại hồ sơ bệnh lý. Hình CAT scan cho thấy ông Sử đã có ung thư chạy đầy trong phổi, trong xương. Trên não bộ đã có 4 chấm lớn trong thùy thái dương, không lạ gì ông ta bị động kinh và mê sảng nhiều. Nhưng bây giờ chàng thấy ông Sử tỉnh táo và sáng suốt như một người bình thường, không chút bệnh tật. Ông Sử tiếp tục:

– Bác sĩ ngồi xuống đi! Điều tôi cần nói với bác sĩ tôi phải kể hết và sẽ gây ra nhiều bất ngờ. Tôi muốn bác sĩ bình tĩnh!

Sơn mỉm cười. Chàng có nhiều người bệnh lạ thường, nhưng không ai như ông này. Vừa dứt cơn động kinh, mê sảng, lại khuyên chàng phải bình tĩnh. Sơn kéo ghế ngồi. Ông Sử bắt đầu:

– Cha của bác sĩ là bác sĩ Phan Kim Trấn, tử trận tại bệnh viện tiểu khu Phước Long ở Việt Nam ngày 6 tháng 1 năm 1975. Tôi là y tá của bác sỉ Trấn.

Sơn lặng người. Chàng không tin ở tai mình. Ông Sử nói bằng một giọng trịnh trọng, thành khẩn. Như một người tin mình đang ở trong giây phút thiêng liêng nhất, để trút lộ một bí ẩn đã đeo đuổi hàng mấy chục năm qua, đã chờ đợi hơn nửa đời người để được giải thoát khỏi một gánh nặng, canh cánh bên mình. Ông Sử im lặng. Sơn cũng không nói.

Nhưng trong đầu óc chàng hàng trăm ngàn ý nghĩ khác nhau vùn vụt hiện đến. Những thắc mắc, nghi ngờ từ khi còn thơ ấu, những câu hỏi phải dấu kín không dám hở môi để hỏi ai. Tại sao chàng cao lớn như vậy, trong khi mấy em đều thấp nhỏ. Khuôn mặt chàng cũng khác hẳn hai người em trai. Dáng điệu cũng như tính tình của chàng cách biệt quá nhiều với những người em khác. Không ai nói ra nhưng Sơn biết. Chàng xin ra ngoài ở riêng rất sớm và gia đình chàng vẫn vui vẻ, hòa thuận. Nhưng những câu hỏi vẫn nằm đó, chưa bao giờ được trả lời. Cho đến ngày hôm nay.

Ông Sử nhìn chàng, như để thăm dò phản ứng. Rồi ông nói tiếp:

– Tôi xin phép để gọi bác sĩ là cháu. Vì lúc nào tôi cũng nghĩ tôi là em của bác sĩ Trấn, đã từ hơn 35 năm nay! Bác sĩ Phan Kim Trấn ra trường về làm việc tại bệnh viện tiểu khu của tỉnh Phước Long đầu năm 1974, lúc đó chú đã là y tá làm việc tại bệnh viện này được hơn một năm. Chú được bác sĩ Trấn nhận làm y tá thân cận. Tiếng Việt hồi đó hay gọi là đệ tử, hay còn gọi là “tà lọt”, những chữ này chắc cháu không nghe đến, tuy chú biết cháu giỏi tiếng Việt. Cháu chỉ cần biết là bác sĩ Trấn rất thương chú, cũng như chú kính trọng và sẵn sàng xả thân để làm mọi chuyện cho bác sĩ Trấn, không quản ngại bất cứ điều gì.

Chú không biết cháu có tìm hiểu nhiều về Việt Nam hay không, tuy chú vẫn theo dõi cháu và biết hết những sở thích cũng như những học hỏicủa cháu. Nhưng cuộc chiến ở Việt Nam đầu năm 1975 khốc liệt vô cùng và tỉnh Phước Long, nơi ba cháu và chú làm việc đã chịu tai họa nặng nề nhất trong các trận đánh của miền Nam lúc đó. Ngày cháu sinh ra đời, mẹ cháu đánh điện tín lên báo tin sinh cháu, ba cháu mừng vô cùng. Nhưng ba cháu không thể về thăm được. Vì tỉnh Phước Long lúc đó đã bị bao vây bốn phía, con đường duy nhất để về là bằng máy bay, ngoài ra là kẹt hết.

Hôm đó cũng là ngày người bạn thân của ba cháu, là phi công chở đồ tiếp tế cho tiểu khu bay chuyến bay chót đến Phước Long. Người bạn ba cháu khuyên ba cháu về cùng với ông ta nhưng ba cháu không chịu. Ba cháu bắt chú đi cùng với người bạn và ba cháu ra phố để làm chuyện này.

Ông Sử im lặng một lúc. Rồi tháo vòng dây đeo cổ bằng vàng, có xỏ một miếng ngọc xanh biếc hình chiếc lá, chạm trổ cực kỳ tinh vi. Ông Sử ngắm nghía một lúc và thở dài:

– Ba cháu lúc nào cũng đeo hai miếng ngọc bích này, nói là bùa hộ mệnh. Hai miếng ngọc này giống hệt nhau, ba cháu bắt chú đi theo ra tiệm kim hoàn và mua một dây đeo cổ khác để làm thành hai vòng dây đeo, mỗi vòng dây xỏ một miếng ngọc bích này. Ba cháu giữ một vòng, còn vòng kia đưa cho chú. Ba cháu nói:

– Sử! Mày về đưa chiếc vòng này cho vợ tao, để khi nào con tao lớn cho nó đeo. Tao đã nói chỉ huy trưởng ký giấy phép cho mày về Sài Gòn, giấy phép đây. Mày đi theo anh Kha bay về Sài Gòn để lo cho vợ con tao. Chú khóc như mưa. Vì chú biết rằng ở lại Phước Long là chết. Ba cháu vì nghĩa vụ, không chịu về. Nhưng đã lấy giấy phép cho chú để về cùng với đại úy Kha, bay chuyến chót về Sài Gòn. Để lo cho mẹ cháu và cháu. Vì ba cháu đã linh cảm biết mình không qua được trận đánh này!

Ông Sử ngậm ngùi, mắt nhắm lại. Như hồi tưởng lại những hình ảnh cũ, đã hơn 35 năm, nhưng lúc nào cũng hiển hiện như ngày hôm qua. Ông nhìn Sơn, ngập ngừng:

– Chắc cháu đang tự hỏi tại sao đến bây giờ chú mới nói chuyện này. Và sao chú giữ vòng dây đeo cổ này từ đó đến nay?

Ông cúi đầu xuống, như kẻ ăn trộm bị bắt quả tang. Nhục nhã, tự khinh mình.

– Chú đeo miếng ngọc bích này vào cổ. Và chú không muốn rời nó ra nữa! Ngay đêm hôm sau khi chú về tới Sài Gòn, Phước Long thất thủ và chú nghe tin ba cháu chết trong đêm đó. Chú nhiều lần đến nhà cháu để giữ lời với ba cháu, nhưng nửa đường chú đều quay về. Vì chú tự nhiên có ý nghĩ, miếng ngọc bích này đã cứu mạng chú, nó mang lại cho chú sự may mắn quá lớn. Rời nó ra là chú sẽ chết. Và chú đã phản bội lời hứa với cha cháu. Chú đã giữ miếng ngọc này, đến ngày hôm nay. Chú là kẻ cắp, chú là một kẻ khốn nạn!

Nhưng miếng ngọc này đã cho chú những may mắn lạ thường. Từ khi sang Hoa Kỳ đến nay, tuy chú ít học nhưng làm cái gì cũng thành công. Chú tạo được tài sản rất lớn ở đây, tất cả là nhờ chú đeo miếng ngọc ba cháu đưa cho chú, để trao lại cho cháu!Chú lúc nào cũng bị cắn rứt về sự phản bội ba cháu. Và chú đã kiếm ra tông tích gia đình cháu từ hơn hai mươi năm nay, để theo dõi cháu, đỡ đần cho cháu. Cháu bây giờ đã thành công, làm bác sĩ như ba cháu, chú cũng đỡ ân hận phần nào. Nhưng bây giờ chú không còn sống được bao lâu nữa, vật xưa phải hoàn lại cố chủ, miếng ngọc này là của cháu, chú xin trả lại cho cháu.

Ông Sử trao chiếc vòng dây đeo cổ xỏ miếng ngọc bích hình chiếc lá cho Sơn. Và ông rút trong túi áo ra một miếng giấy nhỏ. Ông nói:

– Chú không biết đây là điềm gì! Nhưng tuần trước, lúc chú còn đi lại được, chú ra ngoài Phước Lộc Thọ và tình cờ chú gặp lại đại úy Kha. Ông nói muốn tìm tin tức cháu. Chú không nói gì nhưng có ghi số điện thoại của ông để liên lạc sau. Cháu gọi cho ông ta!

Ông Sử như đã quá mệt, thở dốc một hồi rồi nhắm mắt lại. Sơn nhìn ông ta, cảm xúc tràn đầy trong lòng. Chàng không biết nói gì, hỏi gì hơn. Tất cả đến quá đột ngột, chàng cần thời gian để lãnh hội và tìm hiểu. Sơn đeo chiếc vòng dây vào cổ. Miếng ngọc bích mát rượi trên ngực chàng, bỗng dưng đem lại cho chàng một cảm giác lạ lùng chưa bao giờ thấy. Như một sự an bình, như một sự trở về. Nhưng đồng thời vẫn có một thôi thúc nào đó, đòi hỏi sự tìm kiếm.

Như nửa phần vẫn thao thức để tìm nửa phần còn lại. Sơn không hiểu nữa. Và chàng cố gạt mọi ý nghĩ để trở lại với công việc, với những người bệnh nhân đang chờ chàng để được săn sóc, để được hồi phục. Chàng phải quên chuyện riêng bây giờ để thi hành nghĩa vụ của chàng trước đã. Như bác sĩ Phan Kim Trấn 35 năm về trước. Sơn vẫn chưa thể nghĩ đến hình ảnh của người bác sĩ này như cha mình được. Chàng cần thêm thời gian.

****

Sơn bước vào khu Phước Lộc Thọ. Chàng thấy ngay ông Kha ngồi uống bia một mình bên chiếc bàn nhỏ. Qua điện thoại, ông ta đã dặn chàng:

– Tôi sẽ đội một chiếc mũ nâu, quấn khăn cổ màu nâu, ngồi ở quán ăn nhỏ đầu tiên cạnh đường đi, đối diện với tiệm sách. Đúng một tiếng đồng hồ nữa, tôi sẽ đợi cháu ở đó nhé!

Ông Kha đã sửng sốt bên kia đầu dây khi Sơn gọi, nói chàng muốn biết thêm về bác sĩ Phan Kim Trấn. Chàng không nói gì nhiều hơn. Nhưng chừng như ông Kha đã linh cảm được, và muốn gặp chàng ngay tại khu Phước Lộc Thọ này. Ông Kha đứng lên khi thấy Sơn bước vào. Phản ứng của ông y hệt như ông Sử, khi gọi chàng là ông Thày trong cơn mê sảng. Ông Kha sững sờ, ôm chầm lấy chàng, nghẹn ngào:

– Trấn! Đúng là mày đây rồi Trấn ơi!

Vòng tay ông ôm siết làm Sơn gần ngộp thở. Chàng khẽ nới tay ông ra và giơ tay ra bắt tay ông Kha:

– Cháu là Nguyễn Vũ Thanh Sơn. Bác Kha phải không ạ!

Ông Kha như đã tỉnh trí. Ông ngắm nghía Sơn một lúc rồi nói:

– Cháu giống bố cháu như hệt! Không khác một điểm nào cả! Bác không cần phải hỏi gì nữa, ai nhìn thấy cháu cũng biết cháu là con của bác sĩ Phan Kim Trấn rồi!

Ông kéo ghế cho Sơn ngồi:

– Cháu ngồi xuống đây đi. Đúng là lòng trời run rủi! Bác về đây ở vùng này đã ba năm, lúc nào cũng ìm tin tức gia đình cháu. Ai ngờ đâu cháu ở ngay đây. Lại là bác sĩ nữa. Như bố cháu ngày xưa. Ông Trời có mắt thật!

Ông gọi món ăn. Bảo chàng còn bao nhiêu chuyện để nói, phải ăn chút ít để nghe ông kể!

– Bác là bạn thân của ba cháu từ khi còn nhỏ, ở cùng chung xóm. Gia đình ba cháu ngày xưa nghèo lắm. Ông nội cháu từ Bắc di cư vào Nam, làm ăn rất khó khăn, rất chật vật. Bà nội cháu mất sớm, chỉ còn mình ông nội cháu nuôi ba cháu ăn học. Cháu không thể tưởng tượng công lao cực khổ của ông nội cháu lúc đó. Ông cháu đạp xích lô ban ngày, đến chiều về lại còn phải đạp xe ba bánh để đem bán những gạch vụn cho những ai xây cất nhà cửa, tiếng Việt gọi là xà bần, chữ này chắc cháu chưa nghe bao giờ, nhưng không sao.

Cháu nói và hiểu tiếng Việt như thế này đã là giỏi lắm rồi.Ba cháu học rất giỏi, nhà nghèo và cực khổ như vậy nhưng vẫn cố gắng để thi đậu vào trường Y Khoa ở Sài Gòn. Bác cùng học lúc nhỏ chung với ba cháu, không hiểu ba cháu lấy thời giờ ở đâu để học. Vì ba cháu sau khi tan trường về vẫn phụ với ông nội cháu để đạp xe ba bánh, thu nhặt từng miếng gạch vụn để đem bán. Nhà cháu có cái ao rau muống nhỏ, cuối tuần ông nội và ba cháu phải cắt rau, bó từng bó rồi mang ra chợ bán để kiếm thêm tiền.

Nhà nghèo như vậy, cực khổ đủ đường như vậy, mà ba cháu vẫn cố gắng để học thành tài, để ra bác sĩ là chuyện phi thường. Bác không thể tưởng tượng nổi là ý chí con người mạnh đến chừng đó. Ông nội cháu hãnh diện biết bao khi con mình ra được bác sĩ, đó là niềm an ủi duy nhất của ông nội cháu. Vì lúc dó ông nội cháu sức khỏe đã suy kém lắm rồi. Bao nhiêu năm lao lực, làm sao còn giữ được mạnh khỏe như trước nữa. Vì thế mà khi ba cháu chết…

Ông Kha không nói nữa. Những cảm xúc làm ông nghẹn lời. Một lúc sau ông mới nói tiếp:

– Bác lại nhảy đoạn rồi. Cháu nói đã nghe anh Sử kể về ngày cuối ở Phước Long rồi phải không? Để bác nói thêm vài chi tiết nữa. Khi ba cháu, bác và y tá Sử của ba cháu ra phố, đúng như anh Sử đã kể cho cháu, bác khuyên ba cháu bỏ nhiệm sở để về Sài Gòn. Vì bác là phi công bay tiếp tế chuyến chót lên tỉnh, bác có vào họp các sĩ quan lúc đó, mới biết rõ là tình hình nguy ngập đến cực độ. Việt Cộng đã bao vây toàn thể tỉnh lỵ, cả hai sư đoàn sửa soạn để tấn công trong nay mai.

Trong khi đó bên phía mình, thiếu đạn, thiếu xăng. Phi cơ có sẵn nhưng không đủ xăng để bay oanh tạc. Đạn trọng pháo đã hết sạch, không thể bắn lại được. Binh lính bỏ đơn vị vì súng đạn không đủ để bắn. Bác biết rõ nên nói với ba cháu. Đây là cơ hội chót để thoát thân. Nhưng ba cháu trả lời là cả bệnh viện bây giờ chỉ còn hai bác sĩ, làm việc không xuể. Ngoài thương binh về mỗi lúc mỗi nhiều, còn mấy sản phụ đẻ khó các cô mụ đỡ không nổi, cần có ba cháu đỡ đẻ bằng forceps, sắp sinh trong đêm nay. Nếu ba cháu bỏ về sẽ có nhiều người chết vì không được săn sóc.

Nghe bác nói ông nội cháu bây giờ bệnh hoạn lắm, ba cháu gửi bác trụ sinh và mấy chai nước biển để đem về cho ông cụ. Cháu thấy ba cháu khổ sở không? Biết cháu sinh ra đời mà không về được. Biết cha mình ốm đau, mà không thể về để săn sóc. Vì nghĩa vụ phải ở lại, vì nghĩ đến các thương binh, các bệnh nhân không được chữa trị. Ba cháu ở lại dù biết là đầy hiểm nguy, cái chết đến như không.

Cũng như một người bạn bác sĩ khác đồng khóa của ba cháu, đang ở Sài Gòn nhưng hạn đi phép hết đã trở lại Phước Long trong ngày hôm đó để làm việc lại, dù biết là đi vào chốn của tử thần. Ba cháu chết trong đêm Việt Cộng pháo kích tấn công, nhưng không ai biết được mồ chôn của ba cháu nơi đâu. Bác nghe nói lại là sau đó, Việt Cộng cho chôn tập thể, khó tìm ra dấu tích. Ông nội cháu nghe tin Phước Long mất và con mình chết, đã gần như điên cuồng. Ông nội cháu nhất định không tin là ba cháu đã mất, nói là chưa có xác, vẫn còn hy vọng sống. Bác thương ông nội cháu và ba cháu lắm vì ở cùng xóm bao nhiêu năm, nhưng bác cũng không biết làm gì hơn.

Tôi nghiệp ông nội cháu. Cả đời hy sinh lo cho con ăn học, nghèo khổ đến như vậy, nuôi con ra được bác sĩ, rồi chỉ mấy tháng sau, con đã tử trận vì cuộc chiến. Ông nội cháu không đầy một năm cũng qua đời vì quá đau khổ trước cái chết của ba cháu.

Ngày hôm nay bác gặp được cháu là một điềm kỳ lạ. Hôm trước khi thấy anh y tá Sử của ba cháu, bác nhận ra được vì anh ta đeo chiếc vòng dây đeo cổ với miếng ngọc bích này. Cháu bây giờ đeo nó là anh ta đã ăn năn trao lại cho cháu. Bác nghĩ mọi sự đều có cơ duyên cả. Việc anh Sử sắp chết trao lại miếng ngọc này cho cháu, việc bác đang đi tìm cháu, rồi gặp được anh Sử và sau cùng gặp được cháu.

Vì chỉ cách đây hơn một tuần, bác được tin lớp học y khoa chung với ba cháu đang tìm cách để tìm ra hài cốt của ba cháu ở Phước Long và xây mộ phần cho ba cháu để tưởng niệm và vinh danh người bạn đồng môn duy nhất đã tử trận trong cuộc chiến ở Việt Nam. Phải có sự xui khiến gì để lớp học y khoa ra trường năm 1973 với ba cháu có ý định tìm hài cốt của ba cháu và xây mộ phần. Phải có sự trùng hợp nào kỳ diệu để một người bác sĩ trong nhóm đó quen với bác và hỏi thăm về tin tức gia đình của cháu và sau cùng bác tìm được cháu.

****

Sơn tiến về phía căn nhà lợp mái tôn. Chàng được cho biết nơi đây đang chứa những bộ xương khai quật từ tuần trước, trong đó có thể có bộ xương của ba chàng. Sơn đã bay về Việt Nam sau khi gặp ông Kha và về đến Sài Gòn ngày hôm trước. Chàng liên lạc với nhóm bác sĩ đồng môn với ba chàng và được cho biết mồ chôn tập thể tại Phước Long sau trận đánh 35 năm về trước đã được tìm ra. Nhóm bác sĩ ra trường năm 1973 đã tổ chức và cử người về cùng với mấy bác sĩ đồng môn còn ở lại Việt Nam, ra tận Phước Long để tìm manh mối về mồ chôn.

Một người lính cũ trước kia đào mồ chôn tập thể cho những người chết tại bệnh viện tiểu khu đã dẫn họ đến địa điểm này. Sau khi được giấy phép khai quật, 12 bộ xương đã được đưa đến căn nhà lợp mái tôn này để được khảo nghiệm và xác định, chờ đợi thân nhân đến nhận. Nếu không có thân nhân, những bộ xương còn lại sẽ được chôn cất riêng rẽ và làm mộ bia cho từng người, duới danh nghĩa chiến sĩ vô danh. Các phí tổn đều do nhóm bác sĩ ra trường năm 1973 đảm nhận.

Sơn mở cửa bước vào. Các bác sĩ đồng môn với ba chàng đang đứng nhìn từng bộ xương một. Làm sao biết được bộ nào là bác sĩ Phan Kim Trấn của 35 năm về trước? Một bác sĩ vui mừng nói với chàng:

– Cháu Sơn đến rồi! Chúng ta có thể thử DNA cho từng bộ xương. Bộ nào có DNA phù hợp với cháu Sơn là của Trấn thôi. Nhưng có điều phải thử cả 12 bộ. Sơn bắt tay từng người bác sĩ và cảm ơn họ. Những người bạn đồng môn của ba chàng đã khổ công để tìm cho ra hài cốt của ba chàng, tìm được tung tích của chàng, để xác định chắc chắn đâu là bộ xương của ngườ bạn đồng môn thân thiết đã mấy chục năm về trước.

Để cho trọn tình trọn nghĩa của những người bạn cùng học chung dưới mái trường năm xưa. Sơn đi qua từng chiếc bàn, mỗi bàn chứa một bộ xương. Chàng dừng lại tại mỗi bàn. Nhưng sự gì đã thôi thúc để chàng sau cùng tiến đến bàn cuối cùng, chứa bộ xương của một người lúc sinh tiền phải là cao lớn. Chàng cúi xuống nhìn rất lâu. Và những cảm xúc chợt ùa đến. Chàng nghĩ đến người cha không bao giờ biết mặt, người cha đã không được nhìn thấy con mình, dù chỉ một lần. Chàng nghĩ đến người ông chàng không bao giờ biết đến, điên cuồng vì cái chết của con.

Chàng nghĩ đến hai thế hệ trước chàng, đau khổ và thê thảm suốt cả cuộc đời. Đã hy sinh tất cả. Và không được lại điều gì. Chỉ bây giờ 35 năm sau mới thấy được thế hệ thứ ba là chàng, đang đứng trước mặt đây. Có phải bộ xương này là của ba chàng? Và Sơn đứng đó, những giọt lệ lan trên má, lúc đầu chậm nhưng càng lúc càng chảy đầm đìa, tuôn tràn, như không thể ngưng lại được.

Những giọt nước mắt nóng rơi xuống từng giọt, từng giọt trên bộ xương. Những giọt nước mắt đó, như được hướng dẫn, rơi vào một điểm gồ lên trên xương chẩm của lồng ngực. Và bùn đất tích tụ bao nhiêu năm trên điểm gồ này tan dần để lộ ra một màu xanh kỳ lạ. Ánh nắng lọt từ khe mái tôn chiếu thẳng vào điểm gồ làm màu xanh càng lúc càng bừng lên. Bùn đất bây giờ đã tan hết để lộ rõ ràng miếng ngọc bích màu xanh, nằm ngay trên xương lồng ngực.

Sơn vội vàng kéo vòng dây đeo cổ của chàng ra ngoài áo. Ánh nắng chiếu vào miếng ngọc bích trên bộ xương như nhảy múa và phản chiếu lại vào miếng ngọc trên ngực chàng. Sơn đứng sững người. Màu xanh của hai viên ngọc như quyện lấy chàng, như ve vuốt chàng, mềm dịu, âu yếm, chập chờn trên gò má chàng, trên sống mũi, trên miệng, trên môi chàng.

Như muốn nhận biết đây là người con trai yêu quý, người con chưa bao giờ biết mặt, sau hơn 35 năm đã đến đây, để nhận biết người cha của mình, để biết đâu đã là nguồn sống của mình. Và sau cùng đã đến để giải thoát cho oan hồn của người cha, từ bao lâu nay chỉ chờ đợi giây phút này.

Khi những giọt lệ của người con trai dấu yêu đã xóa bỏ những hờn oán, những phẫn nộ không nguôi, những uất ức triền miên và những thành trì trói buộc, để được siêu thăng về nơi chốn của vô cùng và của mãi mãi.

NĐP

XÂY DỰNG LÒNG TIN

Kẻ Đi Tìm

XÂY DỰNG LÒNG TIN

Xây dựng lòng tin cần rất nhiều thời gian, công sức, thế nhưng chỉ trong vài giây ngắn ngủi thiếu cẩn trọng bạn có thể đánh mất nó ngay lập tức.

Dù chúng ta là ai, chúng ta đang làm trong ngành nghề gì, ở vị trí nào thì việc chiếm được cảm tình, lòng tin của người khác là một điều nên làm và nên có. Chưa hẳn là việc xây dựng được lòng tin của mọi người dành cho chúng ta thì sẽ làm cho ta thành công, nhưng chắc chắn rằng, bản thân chúng ta sẽ cảm nhận rõ nhất những cái được từ việc một ai đó tin tưởng mình. Đó là sự yêu quý, sự tôn trọng, những cái nhìn chứa đầy những niềm tin,…. mà chỉ khi nhận được sự tin tưởng, chúng ta mới cảm nhận được.

Chẳng phải những yếu tố ấy chính là nền tảng cho mọi mối quan hệ hay sao? Và chẳng phải chiếm được cảm tình, lòng tin của người khác tức là đã chiếm được 50% của sự thành công rồi hay sao?

Từ xa xưa đến nay, liệu có ai đạt được thành công rực rỡ mà bản thân họ lại là người không trung thực, ích kỷ, kiêu ngạo… Hay chúng ta vẫn thường thấy những bậc hiền tài, những vị doanh nhân thành đạt là những người luôn đối xử tốt với mọi người, luôn giữ thái độ ôn hòa, thân mật, xây dựng thành công từ chính sự nỗ lực của bản thân và không ngừng giúp đỡ mọi người…

Vậy làm thế nào để lấy được lòng tin từ người khác? Làm sao để biến nó thành cơ hội tạo dựng thành công? Có thể đây sẽ là một vài gợi ý hữu ích:

Thứ nhất, phải nuôi dạy, tu dưỡng chính bản thân mình

Đừng bao giờ nuông chiều bản thân, hãy dạy cho chính chúng ta trở thành một người tử tế. Từ ánh mắt, cử chỉ, hành động phải đáng tin cậy, khi làm việc phải có lòng tin, khi giao tiếp với mọi người thì cần phải chân thật.

Tuyệt đối đừng thể hiện những hành động giả dối để che đậy bản chất bên trong với hy vọng sẽ chẳng ai phát hiện ra, không đâu, không có gì là bí mật mãi mãi cả. Vì vậy, hãy chân thành, thành thật ngay từ đầu trong mọi mối quan hệ. Đó chính là điều kiện cần để chiếm được lòng tin, xây dựng thiện cảm đối với mọi người.

Thứ hai, hãy để hành động thay lời nói

Muốn nhận được sự công nhận từ mọi người là mình thực sự có tài, thì điều cốt lõi là đừng chỉ biết ba hoa về thành tích của bản thân, mà hãy làm việc thật chăm chỉ, hãy tạo ra những thành công nhất định để không ai có thể nghi ngờ về điều ấy.

Ghi nhớ rằng, hãy tận dụng những gì mà mình giỏi, mình thực sự có thế mạnh để phát huy, như vậy bạn sẽ nhận được sự ghi nhận cao hơn. Tất nhiên, trong quá trình bạn cố gắng làm việc ấy, mọi người đều có thể nhìn thấy khả năng , năng lực, kiến thức, kỹ năng của bạn đang ở đâu và có thể tiến xa hơn nữa không. Bạn có thể không phải quá giỏi giang để làm một lãnh đạo ngay lập tức, nhưng hãy là một nhân viên cần cù, chịu khó, nghiêm túc trong công việc, biết phấn đấu vì tương lai, cộng thêm sự khiêm tốn thì ắt hẳn, việc xây dựng lòng tin sẽ rất dễ dàng.

Thứ ba, khi đã có một vị trí nhất định, xây dựng được sự tin tưởng nhất định nào đó, đừng trở nên chủ quan và tự kiêu

Nhất định phải tiếp tục cố gắng hơn nữa, lòng tin của mọi người dành cho bạn, bạn đã mất bao nhiêu sự nỗ lực, vậy nên đừng để dễ dàng bị đánh mất bởi một vài những sai lầm không đáng có. Có thể chúng ta có những thói xấu nhất định, không ai là hoàn hảo cả, nhưng đừng nuông chiều để những thói xấu ấy hủy hoại cả sự nghiệp của bản thân.

Những người bạn bè, đồng nghiệp, đối tác sẽ không thể tiếp tục tin tưởng cho dù bạn có biện minh thế nào đi chăng nữa. Cho nên hãy dùng khả năng nỗ lực bền bỉ để làm việc, dùng sự chân thành làm nền tảng cho mọi mối quan hệ, đặc biệt là luôn tự hoàn thiện bản thân mình nhé!

Lòng tin là một thứ khó tìm nhất, nhưng cũng là thứ dễ mất nhất. Đó là lý do vì sao vài người có ý chí tiến thủ lớn lao lại thành công hơn những người có tài năng vượt trội. Hãy luôn ghi nhớ những điều này, cuộc sống của bạn sẽ tốt đẹp hơn rất nhiều.

St

Trở về quê cũ – TẠP GHI HUY PHƯƠNG….

Van Pham

TẠP GHI HUY PHƯƠNG….

Trở về quê cũ

Hạ Tri Chương, thi sĩ đời Thịnh Đường, xa quê từ nhỏ, lúc trở về đã già, tuy còn giữ giọng nói quê nhà, nhưng lũ trẻ thấy người lạ, bèn hỏi “Khách ở phương nào đến đây?” (Khách tòng hà xứ lai?)

Đối với chúng ta, xa quê gần bốn mươi lăm năm, gần nửa thế kỷ, tính theo đời sống của một con người, thì thời gian này cũng là quá nửa đời người.

Lúc bỏ nước ra đi, dù có hai mươi ba mươi, thì nay trở về cũng đã là một ông già bảy, tám mươi tuổi, tóc đã bạc, trí nhớ không còn minh mẫn như xưa.

Gặp lũ trẻ trong nước ngày nay, dù là ở trên con đường quê hay trong quán cà phê phố thị, cũng không ai đặt câu hỏi: “Khách ở phương nào đến đây?” Vì, lớn lên chúng biết và có nhiều kinh nghiệm về những người tuồng như xa lạ trở về.

Những ông già lạ mặt trở về lối xóm được biết là những “Việt kiều” không cần phải hỏi, nên nếu còn sống, ông Bùi Bảo Trúc có “tưởng tượng mai về khu Ngã Sáu” thì người ta cũng biết ông là ai. Chỉ tiếc rằng: “Tiếng quê nghe vẫn đầy âm cũ, mà cũng lạ tai câu trẻ thơ,” vì ngôn ngữ đã khác hẳn xưa rồi!

Tôi có một cô bạn, hồi hương sau nhiều năm xa xứ, đi một chuyến từ Sài Gòn ra Hà Nội. Để tránh mua cái vé xe lửa giá cao Việt Kiều, cô mượn cái “Chứng Minh Nhân Dân” của người nhà bản địa để mua vé “công dân XHCN,” tiết kiệm được mấy chục đồng.

Lên xe lửa, khi người soát vé xem vé, bấm vé cho cô xong, lúc nhận lại tấm vé, cô buột miệng nói hai tiếng: “Cám Ơn.” Soát vé chứ có cho chác, biếu xén gì đâu mà phải cám ơn. Cái này mới mệt, người trong nước đã quên mất hai chữ “cám ơn” lâu rồi. Vậy đây là người ở đâu mới lại?

Người soát vé bèn cười hỏi: “Khách ở phương nào đến đây?” Thôi đúng đây là Việt Kiều hồi hương, phải mua vé khác giá cao hơn, chịu khó đóng thêm mấy chục đồng, chưa phạt cô cái tội gian dối là may rồi!

Ra Hà Nội, cô Việt kiều đói bụng vào quán ăn, cũng còn mang cái giọng “đi xa mới trở về,” cô nói với người bán hàng: “Cho tôi bát bún!” “Hương âm vô cải” nhưng nội dung thì đã thay đổi rồi!

Cô được câu trả lời như tát vào mặt: “Ở đây có bún bán, chứ chẳng có bún cho!”

Lạ đường hỏi thăm, thì được câu trả lời là “Đéo biết!”

Những Hạ Tri Chương thời nay dù đã luống tuổi, tóc đã bạc hồi hương, bỡ ngỡ như thấy mình trẻ lại khoảng năm mươi tuổi khi nghe một thằng oắt con hay một cô gái đáng tuổi cháu ngoại, gọi khách bằng tiếng “mình,” nghe qua có vẻ ngọt ngào thân thiện, nhưng quả là suồng sã. Tiếng đại danh từ “mình” bây giờ vừa nói về ngôi số một, như một người tự giới thiệu trên mục “tìm bạn tri âm” của một tờ báo: “Mình năm nay ba mươi tuổi, tốt nghiệp Đại Học…” mà cũng là ngôi thứ hai “mình ơi” như gọi một người yêu dấu!

Như một mục trên tở báo Phổ Thông của Nguyễn Vỹ ngày xưa.

Người đi xa về, được nghe tiếng “mình” trong ngôi thứ hai này, được hỏi, sau khi kéo ghế ngồi xuống trong một nhà hàng: “Mình ăn gì?” Hay là thân mật hơn như trong gia đình: “Nhà mình có mấy người?”

Ông Hạ Tri Chương nhìn kỹ mặt người đối thoại, không hề thấy quen biết, cũng chẳng phải là bà vợ già của mình đang ở một nơi xa quê hương, thế thì vì sao lũ trẻ, chúng gọi ta bằng “mình?”

Chữ nghĩa bây giờ loạn xạ, mà âm thanh thì xa lạ, nghe chất chua hơn là vị ngọt, chẳng còn phong cách như của Hà Nội một thời. Có lẽ người đi mang theo quê hương, nên lúc trở lại nhà, vẫn giữ giọng nói ấy, chữ nghĩa ấy, phong cách nho nhã, trong sáng ấy, đã bao năm “hương âm vô cải” (tiếng quê vẫn thế).

Người đi xa trở về quê cũ, nói cũng không ai hiểu, mà cũng chẳng hiểu gì ai nói, ngẩn ngơ đoán chừng. Không lẽ cùng quê hương với nhau mà phải cần đến người thông dịch.

“Ôi, chốn quê hương đẹp hơn cả!” Ông già, bà cụ nào mà không nhớ câu nói ấy trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư của một thời niên thiếu. Ai mà không biết chuyện vào mùa Thu, khi cây thay lá, cũng là lúc những con cá hồi trưởng thành, sau một quãng thời gian vùng vẫy ngoài biển lớn, ngược dòng nước để trở về với cội nguồn. Mới đây, nhiều người cũng đã từng nghe câu: “Nếu đi hết biển, con sẽ trở về làng xưa!”

Thế nào chúng ta cũng phải trở về, nhưng không phải là hôm nay!

Trở về khi bạn bè, thân quyến đã không còn ai. Trở về không còn ai là tri kỷ. Trở về khi đất trời trống vắng người xưa, mà những người mới không quen, lũ trẻ thì ngu ngơ xem chúng ta là người lạ lạc loài trên đất mình ngày cũ, hỏi: “Khách tòng hà xứ lai?” (Ông ở xứ nào tới vậy?)

Đó cũng là tâm trạng u hoài, xót xa của Trần Tử Ngang trong “Đăng U Châu đài ca.”

“Ngoảnh lại trước, người xưa vắng vẻ

Trông về sau, quạnh quẽ người sau

Ngẫm hay trời đất dài lâu

Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan.”

(Bài Ca Trên Đài U Châu *Trần Tử Ngang – Trần Trọng San dịch.)

Trở về chốn cũ để ngậm ngùi.

“Ngước mắt trông lên trời cũng lạ

Nhà ai đây, chứ phải nhà tôi!”

(Trở Về Quê Cũ – Nguyễn Bính)

NÓI CHUYỆN VỚI SIMON KYRÊNÊ: NGƯỜI VÁC ĐỠ THÁNH GIÁ CHÚA

 NÓI CHUYỆN VỚI SIMON KYRÊNÊ: NGƯỜI VÁC ĐỠ THÁNH GIÁ CHÚA
 
     Trên đường từ Jerusalem trở về quê nhà Galilê, bước đi trên con đường mòn ngang qua làng quê xứ Kyrênê, tôi tình cờ gặp lại Simon khi anh đi ra đồng làm việc.
   Tôi thán phục lòng can đảm của Simon, anh không biết Giêsu, chưa một lần gặp gỡ Giêsu, chỉ nghe người ta nói về Giêsu, vậy mà anh không một chút sợ hãi, anh chạy lại vác đỡ thập giá cho thầy Giêsu của tôi, anh đi bên Giêsu, giúp Giêsu vác thập giá bước đi đến đỉnh đồi Golgotha (Ga.23:26).

Tôi chạy lại hỏi thăm anh, cầm tay anh tôi nói:
 *Simon, anh có khoẻ không?  Cám ơn anh đã vác đỡ thập giá cho thầy Giêsu của tôi.  Sao anh can đảm thế?  Anh không sợ hãi tí nào sao?

Tôi sợ hãi nhiều lắm chứ.  Hôm ấy tôi tình cờ đi làm về ngang qua đó, lính nhìn thấy tôi, chúng bắt tôi vác đỡ thập giá cho Giêsu thì tôi vác, can đảm gì đâu anh!  Không nghe lời chúng, chúng đánh chết chứ giỡn chơi sao!  Nhưng có một điều tôi phải nói với anh:

 “Khi vác đỡ thập giá cho Giêsu, tôi đi bên cạnh Ngài, Ngài ở bên cạnh tôi, Ngài nhìn tôi, tôi nhìn Ngài, bốn mắt nhìn nhau, ánh mắt ấy đã cảm hóa lòng tôi, cái nhìn ấy đã biến đổi đời tôi…  Tôi không còn sợ hãi như trước nữa.  Tôi nhận ra rằng: “Vác đỡ thập giá cho Giêsu là niềm vui, là vinh dự và là hãnh diện cho cuộc đời mình…  Vì tôi được tham dự vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa.”
 
Simon Kyrênê ơi!  Cám ơn anh về cuộc gặp gỡ thân thương hôm nay.  Cám ơn tâm tình chia sẻ của anh đã nói với tôi, đã làm tôi phải suy đi nghĩ lại về mối liên hệ của tôi với Giêsu, về mối tình của tôi với Ngài.
 
***
Bạn thân mến!  Tâm tình chia sẻ của Simon Kyrênê đã đánh động lòng tôi.  Lời nói của Simon cứ vang vọng trong tôi luôn mãi:
 
1)- “Ở bên cạnh Giêsu, Ngài đã cảm hóa lòng tôi, Ngài đã biến đổi đời tôi.”  Đó là tâm tình của Simon với Giêsu.  Còn tâm tình của tôi với Ngài thì ra sao?
Giêsu ơi!  Phải chăng được cảm hóa và biến đổi là dấu chỉ Ngài hiện diện bên con?  Vậy mỗi khi con không được biến đổi để yêu thương nhiều hơn, con không được cảm hóa để tha thứ nhiều hơn…  Thì đó cũng là dấu chỉ con không có Ngài ở ngay bên, con không có Ngài hiện diện trong lòng con.
   Nếu con không được Ngài cảm hóa và biến đổi, thì cho dù con có tham dự thánh lễ hằng ngày, con có rước lễ thường xuyên, Giêsu và con vẫn nghìn trùng xa cách.  Con và Giêsu vẫn là hai thế giới cách xa và riêng biệt.
 
Thật nguy hiểm biết bao nếu con không nhận biết mình đang sống xa Ngài.  Thật buồn biết mấy nếu con không nhận ra con người thật, khuôn mặt thật của chính mình.  Những đẩy đưa cám dỗ và khen tặng, những tự cao và tự mãn nổi lên trong lòng, những hình thức rộn ràng bề ngoài…  Tất cả đã làm con lầm tưởng rằng con đang có Giêsu, con đang có Ngài ngay bên, nhưng thật sự là con đang xa Ngài.  Lòng con không có chỗ trống để Ngài đến cư ngụ.  Tim con khép lại, không chấp nhận, không để cho Ngài đi vào để cảm hóa và biến đổi.
 
2)- “Vác đỡ thập giá cho Giêsu là niềm vui, là vinh dự và hãnh diện.”  Simon tâm sự như vậy đó.  Vác thập giá của chính mình đã khó khăn vất vả.  Vác thập giá cho người không quen không biết, như Simon vác đỡ cho Giêsu, thì lại càng vất vả khó khăn hơn.  Làm sao lại coi đó là niềm vui, nìềm vinh dự được?  Phải chăng chỉ có tình yêu mới giúp tôi coi đó là niềm vui: Tình Yêu càng lớn thì niềm vui càng nhiều…. Và phải chăng lòng tôn kính đặt để nơi người quyền cao chức trọng, mới giúp tôi coi đó là niềm vinh dự hãnh diện: Niềm tôn kính càng cao thì niềm vinh dự hãnh diện càng lớn.
 
Giêsu ơi!  Tình yêu nào con dành cho Ngài hôm nay?  Lòng tôn kính nào con đặt vào Giêsu trong lúc này?  Vì Giêsu, thập giá nào con chấp nhận để vác trên vai con hôm nay?

    *Phải chăng những chê trách hiểu lầm, những ghen ghét đố kỵ con gặp phải trong đời sống phục vụ…  Đó chính là thập giá mà Ngài mời gọi con ôm lấy và vác đi?

   *Phải chăng những khó khăn vất vả trong cuộc sống, những bệnh tật yếu đau, những đam mê yếu đuối con người mà con đang chiến đấu để vượt qua…  Cũng chính là thập giá mà Ngài mời gọi con vác đi trên đường đời?
 
3)- “Vác đỡ thập giá cho Giêsu là được tham dự vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa.”  Đó là lời tâm tình chia sẻ của Simon Kyrêné.  Giêsu đến trong thế gian để thực thi “công trình cứu chuộc” của Thiên Chúa.  Ngài đến để mang tình yêu thương tha thứ cho muôn người.  Ngài đến để cứu chuộc nhân trần, để chết thay cho người mình yêu, để mang người mình yêu trở về với Nguồn Cội, trở về với Đấng Yêu Thương Ngàn Đời.
 
   Giêsu ơi!  Mỗi khi con sống yêu thương tha thứ hôm nay, cũng là lúc con làm vơi bớt những đau thương tủi nhục của Ngài trên đường thánh giá năm xưa.  Phải chăng đó cũng là lúc con được tham dự vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa?

   Mỗi khi con mang được người thân quen bạn bè về với Giêsu, mỗi khi con giúp họ đi vào trong tình thân mật với Ngài, cũng là lúc con lau khô những giọt máu đào Ngài đã đổ ra trên thập giá năm xưa.  Phải chăng đó cũng chính là lúc con được tham dự vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa?
    Giêsu ơi, giống như Simon Kyrênê năm xưa….Xin cảm hóa và biến đổi lòng con, để con luôn có Ngài ngay bên, vì Ngài là hạnh phúc và là cùng đích của đời con.  Amen!
 

Linh Xuân Thôn

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen