Thể chế độc tài tạo ra nhiều “căn bệnh” xã hội-Song Chi

Báo Tiếng Dân

Song Chi

11-1-2023

Mô hình thể chế độc tài tạo ra rất nhiều “căn bệnh” xã hội, khiến cho cái xã hội ấy, quốc gia ấy khó mà phát triển lành mạnh được. Những “căn bệnh” thường gặp trong mọi xã hội có một thể chế độc tài là bệnh tham nhũng, dối trá, hèn nhát, mất lòng tin vào chính phủ-vào luật pháp-vào con người, là cái Thiện, cái Đẹp, sự tử tế thì ngày càng trở nên hiếm hoi trong khi cái Ác, cái Xấu, sự không tử tế thì tràn lan như cỏ dại và ngày càng trở thành bình thường…

Trong một xã hội như vậy, hầu hết con người sẽ trở nên thờ ơ vô cảm, không quan tâm gì đến cái chung, không quan tâm đến vận mệnh của đất nước, dân tộc, không quan tâm đến chính trị – vì nếu quan tâm, bất bình, lên tiếng thì sẽ gặp rắc rối với chính quyền ngay lập tức và phải trả giá đắt! Người dân, do đó, hầu hết chỉ còn quan tâm tới việc làm thế nào để tồn tại và được yên thân; còn quan chức, chính quyền thì chỉ nghĩ đến quyền lợi của họ, của chế độ, bất chấp quyền lợi, lợi ích đó có mâu thuẫn, có làm hại cho lợi ích của đất nước, dân tộc hay không.

Nhưng với Việt Nam, còn có những “căn bệnh” nặng khác của một nước “nhỏ” về mặt kinh tế, vị thế trên thế giới (mặc dù không “nhỏ” về dân số, diện tích). Đó là bệnh “tự sướng”, “nổ” – Từ quan chức, báo chí truyền thông cho tới doanh nhân, làm thì ít mà “nổ” thì kinh. Thứ hai là chạy theo những giá trị ảo hoặc vật chất bề ngoài mà không chú ý đến những giá trị thực chất–từ danh hiệu, học hàm, dù là Phó Tiến Sĩ, Tiến Sĩ hay Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ sĩ Nhân Dân, Hoa hậu, Hoa khôi, nhà này nhà kia… cho tới cái xe đẹp, cái nhà to, có con cái đi du học ở nước ngoài, làm ở Bộ kia Viện nọ…

Cuộc đời của đa số người Việt phải bỏ ra không ít thời gian để “chạy” trường, “chạy” lớp, “chạy” điểm, “chạy” bằng, chạy tìm chỗ đứng trong xã hội… Mất bao nhiêu năng lượng, thời gian sống, nhưng vẫn không hạnh phúc. Khổ vì không có tự do, dân chủ, vì nhân quyền bị chà đạp đã đành, nhưng còn bao nhiêu cái khổ là do cái xã hội chung quanh và do chính mình tạo ra.

Còn đối với một chính quyền, bệnh “tự sướng”, “nổ”, khiến họ không nhìn thấy những khiếm khuyết nghiêm trọng của chế độ, bệnh chạy theo những thành tích tăng trưởng, kế hoạch, mục tiêu “ảo” mà không xây dựng những nền móng, cơ sở căn bản cho một sự phát triển lành mạnh, lâu dài thì cũng chỉ là “xây nhà từ nóc” mà thôi.

Nhìn nước Nga “nổ” cho lắm, bao nhiêu năm qua thế giới cứ tưởng quân sự, quốc phòng, vũ khí Nga kinh lắm, đến khi xảy ra cuộc chiến Ukraine mới thấy thực lực của Nga thế nào. Trung Quốc cũng thế, mấy chục năm qua thế giới liên tục nói đến sự phát triển thần kỳ của Trung Quốc, chả mấy chốc mà vượt qua Mỹ… nhưng chỉ cần một đại dịch COVID-19 là lộ ra hết từ hệ thống y tế, khả năng chế tạo vaccine, khả năng đối phó, điều trị… còn kém như thế nào; hay khủng hoảng bất động sản, ngân hàng đã bộc lộ những vấn đề nghiêm trọng của nền kinh tế Trung Quốc ra sao.

Việt Nam, sau khi chiến thắng cuộc nội chiến 30 năm nhờ vũ khí, tài lực, vật lực của nước ngoài và cả “ngoại nhân”, đã ngây ngất “tự sướng” đến mức gây ra bao nhiêu chính sách sai lầm về kinh tế, đối nội, sử dụng con người cho đến ngoại giao. Hậu quả là kinh tế tụt dốc, cả nước suýt rớt xuống bờ vực chết đói, phải “đổi… cũ”, và sa vào 2 cuộc chiến biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam làm đất nước suy yếu thêm.

Cứ tưởng bài học đó đã đủ. Nhưng không, gần nửa thế kỷ qua rồi, đảng và nhà nước cộng sản VN vẫn tiếp tục “ngây ngất”, “tự sướng”, tiếp tục “nổ”…, báo chí truyền thông cũng đua nhau “nổ”, đọc những “thành tích tự xưng” về mọi mặt ấy mà cứ tưởng như đang nói về nước nào chứ không phải là Việt Nam!

Những “căn bệnh” ấy sẽ khó mà thay đổi được khi nào còn một mô hình thể chế độc tài kìm hãm sự phát triển của xã hội, đồng thời hủy hoại nhân tính, những điều thiện lương, tốt đẹp trong mỗi con người. Và chỉ khi đó Việt Nam mới có hy vọng phát triển trở thành một quốc gia có thực lực về kinh tế, độc lập tự chủ trong ngoại giao, quốc phòng, đời sống người VN thực sự được tự do, bình an, hạnh phúc.

Tiệc cuối năm bên bờ Vịnh San Francisco

Báo Tiếng Dân

Yên Khê

12-1-2023

Tôi đi theo một người bạn đến dự buổi tiệc tất niên âm lịch Nhâm Dần do Tổng lãnh sự Việt Nam tại San Francisco tổ chức. Tiệc được tổ chức tại một nhà hàng nằm bên bờ Vịnh San Francisco. Nếu thời tiết hôm đó bình thường thì ắt hẳn phong cảnh nhìn ra từ các khung cửa kính lớn rất đẹp, nhưng hôm đó một trận bão lớn đang quần thảo trên miền Bắc California, cây cối oằn lại trong cơn mưa như trút, xa xa lắp lánh ánh đèn hai thành phố lớn San Francisco và Oakland.

Có khoảng trên 200 người tham dự, lắp đầy một không gian khá chật. Đây là những người được xem là những người Việt sống ở miền Bắc California, mà lại thân thiện với chính quyền trong nước, đôi khi họ bị những đồng bào của họ ở Mỹ phản đối, gọi họ là “thân cộng”.

Tôi nghe nói về những người “thân cộng” này đã lâu, đôi khi cũng tiếp xúc với một vài người ngoài đời, nhưng đây là lần đầu tôi gặp cả trăm người như thế này. Vì thế, tôi chú ý quan sát họ.

Đa số họ là những người trung niên, thuộc lớp U60. Điều này xóa đi một mặc định của tôi lâu nay, là những người “thân cộng” chắc già lắm rồi. Họ có vẻ thoải mái trong sắc diện của những người khá thành công, cho đến rất thành công trong xã hội Mỹ. Họ không phải là những nhân vật nổi lên từ thời chống chiến tranh Việt Nam như Vũ Đức Vượng, Nguyễn Công Chánh, Ngô Vĩnh Long… Họ đến Mỹ sau năm 1975, từng là thuyền nhân, hay muộn hơn nữa là sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình, thậm chí … HO (con cháu của những công chức, sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng hòa, bị cầm tù sau năm 1975).

Đặc biệt trong só khách mời hôm đó có khá đông người đến từ Oakland, và có vẻ như họ là những người Việt gốc Hoa. Oakland vốn là nơi tập trung nhiều người Việt gốc Hoa từ miền Nam Việt Nam, ra đi trong cái gọi là bán chính thức bằng đường biển (trả tiền cho các quan chức Việt Nam nhắm mắt làm ngơ cho họ vượt biển). Tại một bàn tiệc, tôi nghe họ nói tiếng Quảng Đông với nhau. Người bạn tôi cho biết, những người đó là những người Việt gốc Hoa, đến từ Hải Phòng. Có một bàn dành riêng cho một nhóm đến bảy người, của một doanh nhân khá nổi tiếng, là người Mỹ gốc Việt-Hoa.

Ảnh: Một cảnh trong buổi tiệc khi Tổng lãnh sự Hoàng Anh Tuấn phát biểu. Nguồn: Yên Khê

Những thực khách hôm đó khá thân thiện và cởi mở, nhưng có một điều tôi thấy lạ là có khá đông người đem theo rượu riêng, mà tôi nghĩ là rượu đắt tiền, để uống với nhau, họ đem đi mời các bàn bên cạnh. Tôi có cảm tưởng là buổi tiệc do ông lãnh sự mời, cũng là dịp để họ gặp gỡ, bù khú với nhau.

Nhân vật quan trọng nhất hôm đó, dĩ nhiên là ông chủ tiệc, ngài tân Tổng lãnh sự Việt Nam tại San Francisco, ông Hoàng Anh Tuấn. Ông Tuấn có dáng người nho nhã, nhưng hơi tiều tụy, gợi nhớ những nho sĩ ngày xưa ở miền Bắc Việt Nam, nghèo nhưng hiếu học. Nghe nói ông Tuấn tốt nghiệp từ một trường đại học lừng danh của nước Mỹ cả chục năm trước.

Ông Tuấn khai tiệc bằng một bài nói khá ngắn, trong đó ông nói đến những thành tựu của Việt Nam trong năm khó khăn vừa qua, ông cám ơn đồng bào ở Mỹ, ông nói đến tương lai sáng sủa của quan hệ Việt-Mỹ … Nhưng ông Tuấn không nhắc gì đến cơn bão chính trị làm nghiêng ngả Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa qua, với hơn 40 người bị bắt trong vụ bê bối “chuyến bay giải cứu”, trong đó các quan chức ngoại giao, công an, hàng không, ăn cánh nhau, nâng giá vé máy bay đưa người gốc Việt về Việt Nam hồi đầu năm 2020, khi dịch Covid mới bùng phát.

Dĩ nhiên ai lại nhắc chuyện không vui trong một bữa tiệc cuối năm, chủ tiệc không thích, mà có lẽ khách cũng không quan tâm lắm. Ông Tuấn cũng không nhắc gì đến … “đảng và nhà nước”, cụm từ không thể thiếu đối với các quan chức trong nước, mà trong phòng tiệc cũng không thấy treo cờ đỏ, chỉ có một chiếc quốc huy ở phông nền.

Ảnh: Tổng lãnh sự Hoàng Anh Tuấn phát biểu. Nguồn: Yên Khê

Các món ăn khá ngon, đại khái là thực đơn thường thấy ở những nhà hàng Á châu trong vùng Vịnh San Francisco. Món khai vị lại là một chiếc bánh chưng khá lớn cho mỗi bàn, có lẽ được chủ tiệc thêm vào cho phù hợp với không khí tất niên ngày Tết Việt Nam, nhưng không có dưa kiệu lẫn dưa món, thế nên nó hơi khan khan thiếu thiếu.

Khoảng hơn nửa buổi tiệc thì tôi ra về, người bạn thì vẫn ở lại. Bên ngoài gió đã ngưng, chỉ còn mưa nhưng không nặng hạt. Về chỗ trọ, tôi mở máy tính lên để soát những email cuối ngày, mà trong đầu vẫn còn lẩn quẩn cái ý nghĩ bánh chưng mà thiếu dưa kiệu dưa món, khan khan thiếu thiếu, thì gặp một email forward từ một người bạn. Trong email đó, tác giả dẫn lại một bài viết trên báo Người Việt, nói là Tết Quý Mão năm nay, tại trung tâm Garden Grove của người Việt ở miền Nam California sẽ có tổ chức một … đường hoa, theo kiểu đường hoa Nguyễn Huệ ở Sài Gòn.

Tác giả email “đề cao cảnh giác” là không thấy nói gì về cờ vàng ba sọc đỏ cả (cờ của Việt Nam Cộng hòa ngày xưa), tác giả nghi ngờ rằng, những người tổ chức “đường hoa”, là… Việt cộng, cho nên không đề cập gì đến cờ vàng.

Tôi chợt nhớ lại quang cảnh buổi tiệc ở San Francisco, cũng không thấy cờ đỏ trong buổi tiệc tất niên của những người… Việt Cộng, và tôi tự hỏi rằng liệu tác giả email đầy tinh thần chống Cộng ấy có biết đến bữa tiệc mà tôi tham dự không!

Tại sao khi nhận lãnh bí tích, cần có lòng tin trước?-Cha Vương

Chuẩn bị đuổi con hổ đi chưa? Nếu ai cần một tí thông minh và nhanh nhẹn thì chuẩn bị mở cửa toang ra để cho con mèo nó vào nhé. Chúc một ngày an lành.

Cha Vương

Thứ 4: 11/01/2023

GIÁO LÝ: Tại sao khi nhận lãnh bí tích, cần có lòng tin trước? Vì bí tích không phải là ảo thuật. Bí tích chỉ sinh hiệu quả khi người ta hiểu biết và lãnh nhận với đức tin. Các bí tích không chỉ đòi có đức tin mà nó còn gia tăng và diễn tả đức tin nữa. (YouCat, số 177)

SUY NIỆM:

 Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ bằng việc rao giảng Tin Mừng, làm phép Rửa cho họ, nghĩa là trước hết khơi dậy đức tin cho họ rồi sau mới rửa tội. Như thế chúng ta nhận 2 điều từ Hội thánh: đức tin và bí tích. Ngày nay, người ta không trở thành Kitô hữu bằng cách chỉ nhận một lễ nghi hoặc chỉ ghi tên vào sổ, nhưng là bằng đón nhận đức tin chân thật. Chúng ta nhận được đức tin chân chính này từ Hội thánh. Hội thánh lo bảo đảm đức tin đó. Bởi vì đức tin của Hội thánh được diễn tả trong phụng vụ, nên không một nghi lễ bí tích nào được thay đổi hoặc làm khác đi theo sở thích của một người hay của một cộng đoàn nào. (YouCat, số 177 t.t.)

❦ `Cũng như một cây nến được thắp sáng nhờ lửa của cây nến khác, thì đức tin cũng được thắp sáng nhờ đức tin. (Romano Guardini)

LẮNG NGHE: Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám. (Dt 1:1-2)

CẦU NGUYỆN:  Lạy Chúa, đức tin là “cửa” mở ra, đưa con đi vào đời sống kết hiệp thân tình với Thiên Chúa và bước vào Hội Thánh của Người, xin giúp con sống đức tin bằng sự chuyên cần cử hành và lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải để được thông phần vào đời sống vĩnh cửu mai sau.

THỰC HÀNH: Cố gắng tham dự thánh Lễ thường xuyên hơn.

From: Đỗ Dzũng

Hồng Y George Pell đã qua đời (Vietcatholic News)

Đức Hồng Y George Pell, một thời là tổng trưởng Bộ Kinh Tế Tòa Thánh, người đã bị biệt giam 404 ngày tại quê hương Úc Châu vì những lời cáo gian trước khi bản án của ngài được đồng thanh hủy bỏ, đã qua đời hôm Thứ Ba tại Rôma, thọ 81 tuổi.

Đức Tổng Giám Mục Peter Comensoli, người kế nhiệm Đức Hồng Y Pell làm tổng giám mục Melbourne, cho biết ngài bị biến chứng tim nghiêm trọng sau ca phẫu thuật hông. Đức Hồng Y Pell đã đến Rôma để tham dự tang lễ của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI vào tuần trước.

“Tin tức này đến như một cú sốc lớn đối với tất cả chúng ta,” Đức Tổng Giám Mục Sydney Anthony Fisher cho biết trong một tuyên bố trên Facebook. “Xin hãy cầu nguyện cho linh hồn của Đức Hồng Y Pell được yên nghỉ, xin sự an ủi cho gia đình của ngài cũng như cho tất cả những người yêu mến ngài và đang đau buồn trước sự qua đi của ngài vào lúc này.”

Đức Hồng Y Pell, nguyên tổng giám mục của Melbourne và Sydney, đã trở thành nhân vật cấp cao thứ ba tại Vatican sau khi Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm ngài vào năm 2014 để cải tổ nền tài chính của Vatican với tư cách là tổng trưởng Kinh Tế đầu tiên của Tòa thánh.

Ngài đã trải qua ba năm với tư cách là người đứng đầu Bộ Kinh tế mới được thành lập, nơi ngài cố gắng áp đặt các tiêu chuẩn ngân sách, kế toán và minh bạch quốc tế.

Nhưng Đức Hồng Y Pell đã trở lại Úc vào năm 2017 trong một nỗ lực để thanh minh những lời cáo gian liên quan đến thời gian khi ngài là tổng giám mục Melbourne.

Ban đầu, bồi thẩm đoàn của Tòa án Quận của tiểu bang Victoria đã kết tội ngài quấy rối tình dục hai cậu bé hợp xướng 13 tuổi tại Nhà thờ St. Patrick vào cuối những năm 1990 ngay sau khi ngài trở thành tổng giám mục của Melbourne. Đức Hồng Y Pell đã bị biệt giam 404 ngày trước khi toàn thể tòa án cấp cao nhất nước Úc đồng thanh hủy bỏ bản án của ngài vào năm 2020.

Trong thời gian trong tù, Đức Hồng Y Pell đã giữ một cuốn nhật ký ghi lại mọi thứ từ những lời cầu nguyện và các bài đọc Kinh thánh cho đến những cuộc trò chuyện của ngài với các giáo sĩ đến thăm và cai ngục. Cuốn nhật ký đã trở thành một bộ ba, “Nhật ký trong tù”

Trong cuốn nhật ký, Đức Hồng Y Pell đã suy tư về bản chất của đau khổ, triều đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha Phanxicô và những tủi nhục khi bị biệt giam khi ngài chiến đấu để minh oan cho một tội ác mà ngài khẳng định mình không bao giờ phạm phải.

Sau khi Đức Hồng Y Pell trở lại Rôma sau khi ra tù, ngài đã có một cuộc tiếp kiến riêng được công bố rộng rãi với Đức Phanxicô.

“Chính Đức Hồng Y Pell là người vạch ra cách chúng ta có thể tiến lên. Ngài là một người đàn ông tuyệt vời và chúng ta nợ ngài rất nhiều,” Đức Thánh Cha Phanxicô nói vào tháng trước.

Đức Hồng Y Pell sinh ngày 8 tháng 6 năm 1941, là con cả trong một gia đình có ba người con của một nhà vô địch quyền anh hạng nặng và cũng là một quan chức tên là George Pell, một người Anh giáo. Mẹ anh, Margaret Lillian (nhủ danh Burke) xuất thân từ một gia đình Công Giáo Ái Nhĩ Lan.

Ngài lớn lên ở thị trấn Ballarat thuộc vùng Victoria. Cao 193 cm (6 foot, 4 inch), ngài là một Cầu thủ bóng đá theo luật Úc tài năng. Ngài đã được đề nghị một hợp đồng bóng đá chuyên nghiệp để chơi cho đội Richmond nhưng thay vào đó ngài đã chọn vào một trường dòng.

Khi ở Melbourne, ngài đã thành lập Melbourne Response, một giao thức đầu tiên trên thế giới để điều tra các khiếu nại về lạm dụng tình dục của hàng giáo sĩ và bồi thường cho các nạn nhân.

Sau khi được minh oan, Pell phân chia thời gian của mình giữa Sydney và Rôma, nơi ngài tham gia vào cuộc sống điển hình của một Hồng Y đã nghỉ hưu, tham dự các sự kiện và lễ phụng vụ của Vatican.

“Tôi đã trở nên rất Ý,” Đức Hồng Y Pell nói với một du khách trong thời gian tạm lắng của đại dịch coronavirus, mà ngài đã trải qua ở Rôma.

Một Thánh lễ cầu nguyện cho ngài sẽ được cử hành ở Rôma, nhưng có lẽ Đức Hồng Y sẽ được chôn cất ở Sydney.

Source:APCardinal Pell, whose convictions were overturned, dies at 81

© 2023 – VietCatholic News – Designed by VietCatholic News

From: Phan Sinh Trần

Tình huynh đệ bao nhiêu thì phù hợp?

Báo Tiếng Dân

FAZ

Tác giả: Tjerk Brühwiller, từ Brazil

Vũ Ngọc Chi chuyển Ngữ

7-1-2023

Nhờ Lula da Silva, người ta có thể xuất hiện một lần nữa bên cạnh tổng thống Brazil. Nhưng châu Âu không thể trông đợi ở Brazil trong mọi vấn đề.

Phe Tả ăn mừng. Luiz Inácio Lula da Silva trở lại nắm quyền, trở thành tổng thống lần thứ ba của Brazil. Rất đông người đến Brazil dịp lễ nhậm chức vào ngày đầu năm mới. Hơn năm mươi phái đoàn từ nước ngoài đã đến để chúc mừng ông. Tổng thống Liên bang Đức Frank-Walter Steinmeier là một trong những người đứng đầu một nước có mặt. Ông ta cảm thấy thoải mái ở Brazil, khi gặp lại người bạn cũ để trò chuyện riêng, rất vui vì “sự trở lại của Brazil trên sân khấu thế giới” và thể hiện mình qua một cái ôm huynh đệ với Lula.

Tổng thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva (trái) và Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier. Nguồn: FAZ

Đó là cách bạn nên làm điều đó ở Brazil. Dù sao niềm vui về việc thay đổi chính phủ là điều dễ hiểu, cũng bởi vì chính phủ mới rõ ràng có nhiều điểm tương đồng hơn với Đức trong chủ đề quan trọng là việc bảo vệ khí hậu. Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Đức thậm chí còn cung cấp 35 triệu euro để bảo vệ rừng nhiệt đới.

Hầu như không có một người Đức nào muốn đến gặp Bolsonaro

Có rất nhiều việc cần làm nhưng đã bỏ lỡ trong mối quan hệ với nền kinh tế lớn nhất của châu Mỹ Latin. Trong bốn năm qua, hầu như không có một chính trị gia Đức nào đặt chân đến nước này. Việc tiếp cận với người tiền nhiệm của Lula da Silva, cựu tổng thống Jair Bolsonaro có thể làm giảm uy tín của mình. Bolsonaro làm cho Brazil bị cô lập, không chỉ trong vấn đề khí hậu đã trở nên rất quan trọng đối với người châu Âu. Năm ngoái, ông ta cũng làm nhiều người ngán ngẩm khi đến thăm tổng thống Nga Vladimir Putin vài ngày trước cuộc tấn công vào Ukraine. Không giống như tổng thống Pháp Emmanuel Macron và thủ tướng Olaf Scholz, những người Putin giữ một khoảng cách xa, tổng thống Brazil được phép ngồi chung một bàn nhỏ [với Putin].

Bolsonaro gây ra rất nhiều lý do để bị chỉ trích. Tuy nhiên, có thể đặt câu hỏi, liệu mọi người có nên tiếp đón Lula da Silva một cách nhiệt tình mà không phê phán như Steinmeier đã làm ở Brazil hay không. Bởi vì có những chủ đề quan trọng khác ngoài biến đổi khí hậu. Ví dụ về Ukraine: Châu Âu không nên có bất kỳ hy vọng nào để tìm một đồng minh trong chính phủ Brazil mới cho sự hỗ trợ Ukraine trong cuộc chiến này. Chính sách đối ngoại của Brazil luôn trung lập. Dưới nhiệm kỳ của Lula, nó có thể trở nên trung lập hơn điều mà châu Âu mong đợi.

Vào tháng Năm, ông đã nói rõ những gì ông nghĩ về cuộc chiến đó trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí “Time” của Mỹ: “Anh chàng này cũng có lỗi trong cuộc chiến như Putin”, Lula da Silva nói về Tổng thống Ukraine Wolodymyr Zelensky. Nếu anh ta không muốn chiến tranh, anh ta sẽ cố gắng đàm phán. Điều đó nghe có vẻ giống như lời nói của Steinmeier chỉ trích “những hành động và lời nói khiêu khích chiến tranh (Säbelrasseln und Kriegsgeheul )” của NATO đối với Nga (1), khi ông còn là bộ trưởng ngoại giao.

Cánh Tả Mỹ Latin có ác cảm với Hoa Kỳ

Lula da Silva sẽ không nói gì chống lại Putin. Thái độ này phản ánh chủ nghĩa chống người Mỹ nằm trong tim của cánh Tả Mỹ Latin, ngay cả phần lớn Đảng Công nhân của Lula da Silva. Họ là một trong những người chúc mừng đầu tiên sau khi nhà độc tài Nicaragua Daniel Ortega bắt giữ khoảng ba mươi nhà lãnh đạo phe đối lập vào năm ngoái và sau đó được bầu lại. Nhà độc tài Venezuela Nicolás Maduro cũng là một trong những người được Lula da Silva xem như là bạn. Maduro thậm chí còn được mời đến dự lễ nhậm chức, nhưng không đến. Lula da Silva sẽ ôm ông ta chân tình như Steinmeier.

Là bạn của Lula, rõ ràng Steinmeier đã không nói về những tình bạn khó xử khác này. Nhưng đúng ra là bạn bè thì nên thảo luận về các chủ đề nhạy cảm. Một trong những chủ đề này là tham nhũng. Vào ngày đầu năm mới ở Brazil, nó không được nhắc đến trong buổi lễ nhậm chức dù chỉ một lời. Có lẽ là muốn giữ kẽ với phía chủ nhà. Những thành công của Lula trong triều đại của ông từ năm 2003 đến 2011 không thể không được công nhận. Nhưng không thể phủ nhận vụ bê bối tham nhũng khổng lồ trong thời gian ông ta nắm quyền. Không có bằng chứng rõ ràng chống lại Lula da Silva. Quá trình đưa ông ta vào tù là không minh bạch và sau đó bị hủy bỏ. Nhưng vụ bê bối không phải là một hư cấu. Nó xảy ra trước mắt Lula.

Lula đã bảo tồn được hình ảnh tốt đẹp của mình, đặc biệt là ở châu Âu. Trong đó, ông ta vẫn là nạn nhân, người dành được công lý qua việc tái thắng cử. Ở Brazil nói riêng, người ta có thể thấy vấn đề nghiêm trọng hơn. Không phải ngẫu nhiên mà gần một nửa số cử tri đã chọn Bolsonaro. Bạn không nên quên họ, cũng như người Ukraine, Nicaraguans và Venezolans,  trước khi rơi vào tình trạng hứng khởi một cách mù quáng trước sự trở lại của Lula.

Tjerk Brühwiller:Đặc phái viên về châu Mỹ Latinh với trụ sở ở São Paulo.

(1) Vào đầu tháng 6 năm 2016, NATO tập trận gần biên giới Nga. Điều này đã bị Steinmeier (lúc đó là bộ trưởng Ngoại giao Đức) chỉ trích. Ông kêu gọi thêm nhiều đối thoại và hợp tác với Nga. Xem thêm: “Säbelrasseln und Kriegsgeheul”

Những điều khác biệt…- Lm. Anmai, CSsR

Những điều khác biệt…

Những điều lạ trong Thánh Lễ an táng Đức Benedicto XVI:
– Thánh Lễ an táng của Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI không hề thấy băng rôn

Ở Việt Nam thì băng rôn to đùng và cờ phướng treo đầy nhà thờ. Có khi treo từ đầu đường.

– Trước Thánh Lễ an táng của Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI không nghe ghi lại những công trạng mà Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI  đã làm.
Ở Việt Nam thì nghe đọc cũng khá dài về cuộc đời của (cha, đức cha) quá cố rằng thì là đã làm … đã …

– Trước Lễ an táng Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI cũng không đọc điện thư chia buồn của đấng này đấng kia.

Ở Việt Nam thì sẽ nghe điện thư chia buồn của đấng này đấng nọ.
– Quan tài của Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI  cực kỳ đơn giản, không hề có hoa văn gì.

Quan tài Việt Nam thì hoa văn có mà đầy.

– Quan tài của Đức Benedicto XVI đặt dưới nền đất và hoàn toàn không có 1 lẵng hoa nào.

Quan tài ở Việt Nam thì phải đặt trên cao và xung quanh là biết bao nhiêu vòng hoa cùng lẵng hoa của đại gia, của nhiều người.

– Bàn thờ chính của Thánh Lễ an táng Đức Benedicto XVI dường như ta thấy chỉ có 1 giỏ hoa.

Ở Việt Nam thì Thánh Lễ nào cũng thế, càng lễ to thì hoa đèn lỉnh kỉnh và lủ khủ. Hoa có khi trang trí lấp luôn cả cái bàn thờ.

– Bục đọc sách của Thánh Lễ an táng Đức Benedicto XVI cũng cực kỳ đơn giản, không hề có hoa hòe gì cả.

Ở Việt Nam thì bục giảng và đọc sách ta thấy chưng đầy hoa.

– Nhìn chén Lễ trong an táng Đức Benedicto XVI  cũng thấy lạ ! Cực kỳ đơn sơ

Ở Việt Nam thì thánh lễ an táng thì phải chén lễ cao, to và đẹp.

– Dẫn vào Thánh Lễ, Đức Thánh Cha Phanxicô không nói lời nào về Đức Benedicto XVI. Sau khi làm dấu Thánh Giá, Ngài mời cộng đoàn đọc kinh cáo mình ngay.

Chuyện này dường như không thấy ở Việt Nam. Việt Nam vẫn có thói quen là ca  tụng công đức người quá cố, dông dai những đóng góp hay công trình người quá cố  (Cha, Sơ, Đức Cha … đại gia) đã làm khi còn sống.

– Trong bài giảng, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng không nói lời nào về Đức Benedicto XVI. Đức Thánh Cha Phanxicô không hề nói về gương sáng của Đức Benedicto XVI cũng như những gì Đức Benedict XVI đã làm.

Chuyện này dường như cũng không thấy trong bài giảng an táng nào ở Việt Nam. Càng cao trọng, càng đóng góp hay càng chức vụ thì bài giảng sẽ không quên liệt kê các công đức, các việc người quá cố đã làm

– Lễ an táng của Đức Benedicto XVI không có đại diện cám ơn sau Thánh Lễ cũng như không thấy linh tông huyết tộc nào để tang đứng vây quanh quan tài.

Ở Việt Nam thì như biểu dương lực lượng đứng quanh quan tài cùng lời cảm ơn rất xúc động

Xem chừng ra Roma khác Việt Nam và Việt Nam khác Roma một trời một vực.

Vài suy nghĩ sau khi tham dự Thánh Lễ an táng của  Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI

Lm. Anmai, CSsR

From: Do Tan Hung&NguyenKimBang

Tường thuật Thánh lễ an táng Đức cố Giáo Hoàng Biển Đức XVI, ngày 5/1/2023

CÁC CÔNG THỨC TRONG KINH THÁNH VỀ THA THỨ

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Không có gì quan trọng cho bằng tha thứ.  Tha thứ là chìa khóa mở ra cho hạnh phúc và là mệnh lệnh thiêng liêng quan trọng nhất cuộc đời chúng ta.  Chúng ta cần tha thứ, cần làm hòa với những tổn thương và bất công mình đã chịu để khỏi phải chết trong giận dữ và cay đắng.  Trước khi chết, chúng ta cần tha thứ, tha thứ cho người khác, cho bản thân, cho Chúa, vì mọi sự xảy ra trong cuộc đời chúng ta.

Nhưng không dễ để tha thứ, thật sự nhiều lúc không thể tha thứ nổi.  Cần phải nói rõ như thế, vì ngày nay, nhiều tác phẩm đủ thể loại, với ý định tốt, đem lại ấn tượng tha thứ chỉ là vấn đề có sẵn sàng và có bỏ qua hay không.  Cứ buông bỏ và đi tiếp!

Nhưng chúng ta đều biết, đâu có dễ như vậy!  Những vết thương hằn lên tâm hồn thì cần thời gian, có khi là một thời gian rất dài để chữa lành, và tiến trình đó vô cùng chậm rãi, một việc mà chúng ta không thể đi nhanh được.  Thật sự, chấn thương từ vết thương cảm xúc thường tác động lên sức khỏe thể xác chúng ta.  Chữa lành cần có thời gian.

Khi nhìn vào vấn đề chữa lành và tha thứ, chúng ta có một thấu suốt đầy giá trị nhưng lại lãng quên từ lâu linh đạo về ngày sa-bát trong Do Thái giáo và Kitô giáo.  Giữ ngày sa-bát không phải chỉ tôn vinh một ngày nhất định trong tuần, đó là một công thức của tha thứ.  Cách nó tiến hành như sau.

Thần học và linh đạo về ngày sa-bát dạy chúng ta, Thiên Chúa tạo dựng thế giới trong sáu ngày và ngày thứ bảy là ngày sa-bát, ngày Ngài nghỉ ngơi.  Hơn nữa, không chỉ Thiên Chúa nghỉ ngơi ngày sa-bát mà Ngài còn tuyên bố đó là ngày nghỉ ngơi cho tất cả mọi người đến muôn đời, và như thế, Thiên

Chúa tạo một nhịp điệu nhất định cho cuộc sống chúng ta.  Nhịp điệu đó phải như thế này:

  • Làm việc sáu ngày, nghỉ một ngày.
  • Làm việc 49 (bảy lần bảy) năm, thì có năm đại xá, cả thế giới trải qua kỳ sa-bát.
  • Làm việc bảy năm, nghỉ một năm (kỳ nghỉ sa-bát).
  • Làm việc cả đời, rồi nghỉ kỳ sá-bat vĩnh hằng.

Nhịp điệu đó cũng nên áp dụng cho cách chúng ta tha thứ:

  • Chúng ta có thể giữ ác cảm nhỏ trong bảy ngày, nhưng rồi chúng ta phải buông bỏ nó.
  • Chúng ta có thể giữ ác cảm lớn trong bảy năm, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.  (Mức hạn định dựa trên điều này).
  • Chúng ta có thể giữ một vết thương khủng khiếp khắc sâu vào tâm hồn trong 49 năm, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.
  • Chúng ta có thể giữ một vết thương làm cho tâm hồn chúng ta tan vỡ cho đến chết, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.

Điều này nêu bật một chuyện vốn thường không xuất hiện trong giới tâm linh và trị liệu thời nay, đó là: chúng ta cần thời gian để có thể tha thứ, và thời gian đó tùy thuộc vào mức độ của vết thương.  Ví dụ như:

  • Khi bị đồng nghiệp xem thường trong cuộc họp, chúng ta cần chút thời gian để bực mình cho sự bất công này, nhưng thường thì một vài ngày là đủ để chúng ta hướng về phía trước và có thể buông bỏ nó.
  • Khi chúng ta bị đuổi việc một cách lạnh lùng bất công thì bảy ngày hay bảy tuần thường không đủ để chúng ta buông bỏ và tha thứ chuyện này.  Có lẽ bảy năm thì thực tế hơn.  (Xin lưu ý “mức hạn định” phỏng theo thấu suốt Kinh Thánh này).
  • Có những chấn thương chúng ta chịu đựng để lại vết thương sâu sắc hơn cả do bị đuổi việc bất công.

Có những vết thương chúng ta chịu do bị lạm dụng, thờ ơ, do nhiều năm cam chịu bất công, và chúng cần hơn bảy năm để chữa lành.  Có thể phải mất đến 49 năm, nửa thế kỷ, để làm hòa với những chuyện chúng ta bị bắt nạt khi còn nhỏ, hoặc bị lạm dụng về cảm xúc, tình dục khi còn niên thiếu.

  • Có những vết thương quá sâu sắc đễn nỗi phải đến giờ hấp hối, chúng ta mới chỉ có thể làm hòa với sự thật là chúng đã xảy ra với mình, buông bỏ chúng và tha thứ cho người hoặc nhiều người đã gây ra chúng.
  • Cuối cùng, có những vết thương quá sức sâu đậm, quá sức hủy hoại, quá sức đau đớn đễn nỗi chúng ta không thể xử lý trong đời này.  Với chúng, may thay, chúng ta còn có cái ôm chữa lành nhân từ của Thiên Chúa sau khi chết.

Năng lực tha thứ dựa vào ân sủng hơn là ý chí.  Phạm lỗi lầm là thuộc tính con người, nhưng tha thứ là thuộc tính thần thánh.  Câu đơn giản này chứa đựng một sự thật thâm sâu hơn những gì chúng ta nắm bắt thoáng qua.  Điều làm cho tha thứ trở nên khó khăn và nhiều lúc bất khả thi, không phải chủ yếu do cái tôi của chúng ta bị bầm dập và tổn thương quá đỗi.  Đúng hơn, khó khăn thực sự chính là việc một vết thương của tâm hồn cũng như vết thương của thể xác, nó làm chúng ta suy yếu.

Điều này đặc biệt đúng với những chấn thương in sâu vào tâm hồn và làm tan nát tâm hồn, cần đến 49 năm hay cả đời để chữa lành, hoặc có lúc không thể chữa lành trong đời này.  Những vết thương như thế làm chúng ta cạn kiệt sức mạnh, nhất là khi đối diện với người đã gây cho chúng ta, làm chúng ta rất khó để tha thứ.

Chúng ta cần một linh đạo sa-bát để giúp đỡ cho mình.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

Bí tích nào chỉ được lãnh một lần trong đời?

Chúc bạn và gia quyến một ngày bình yên và tốt đẹp. Hôm nay Giáo Hội bắt đầu tuần thứ nhất của mùa Thường Niên, mời bạn tiếp tục suy niệm những bài Giáo Lý căn bản để sống mạnh mẽ trong đức tin của mình mỗi ngày nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 10/01/2023

GIÁO LÝ:  Bí tích nào chỉ được lãnh một lần trong đời? Đó là 3 bí tích Rửa tội, Thêm sức, Truyền chức thánh. Những bí tích này in dấu không thể xóa nhòa vào linh hồn người lãnh. Rửa tội và Thêm sức làm ta nên con Chúa và nên giống Chúa Kitô một lần là đủ. Truyền chức thánh để lại dấu ấn không thể xóa nhòa nơi người nhận lãnh. (YouCat, số 176)

SUY NIỆM: Cũng như ta đã là con cái của cha mẹ thì là mãi mãi chứ không phải chỉ đôi khi hoặc một chút thôi, cũng thế khi được Rửa tội và Thêm sức, ta là người con của Chúa mãi mãi giống như Chúa Kitô và là chi thể của Hội thánh Người. Trường hợp bí tích Truyền chức thánh cũng vậy, đó không phải là công việc ta làm cho đến khi nghỉ hưu, mà đó là một ân sủng ta lãnh nhận không thể hủy bỏ được. Vì Thiên Chúa là Đấng trung tín, nên hiệu quả các bí tích mà Kitô hữu đã lãnh nhận như để đáp lại ơn Chúa mời gọi, như là ơn gọi, và như ơn gìn giữ của Chúa. Vì thế, chỉ được lãnh các bí tích này một lần mà thôi. (YouCat, số 176 t.t.)

LẮNG NGHE: Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới. Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Đấng cứu độ chúng ta. Như vậy, một khi nên công chính nhờ ân sủng của Đức Ki-tô, chúng ta được thừa hưởng sự sống đời đời, như chúng ta vẫn hy vọng. (Tt 3:5-7)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, ôi thật diễm phúc cho con không những được làm con của Chúa mà còn có Chúa là sức mạnh thiêng liêng để giúp con không bị gục ngã dưới sức nặng của khổ nhọc, của tuyệt vọng và buồn phiền, xin mãi ở bên con Chúa ơi.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Tin Kính.

From: Đỗ Dzũng

Một Bà Bình Khác – Tưởng Năng Tiến

Tưởng Năng Tiến

December 22nd, 2022

Báo Trẻ online

Thỉnh thoảng, giới truyền thông trong nước lại hốt hoảng loan tin:

– Khắp nơi dư cấp phó !

Hoặc:

– Dư thừa cấp phó khắp nơi!

Tuy được báo động đều đều như thế nhưng tình trạng “lạm phát cấp phó vẫn cứ diễn ra ở nhiều sở, phòng, ngành, tại không ít địa phương” –  theo như lời than phiền của phóng viên báo Lao Động.

Tình trạng này được ông Dương Văn Thống, Phó Bí Thư Tỉnh Yên Bái, lý giải như sau: “Anh em phân công nhau không được, hạ xuống không được. Người Việt Nam chúng ta là thế.” Thảo nào mà nước CHXHCNVN, đã từng có đến 17 ông Phó Thủ Tướng và năm/sáu bà (hay ông) Phó Chủ Tịch Nước cùng tại vị.

Vấn đề – chả qua – là vì “ghế ít đít nhiều” nên lắm đồng chí lãnh đạo đành phải ngồi ghế phó, thế thôi. Tuy thế, chả nghe vị nào lên tiếng phiền hà gì ráo và tất cả (ngó bộ) đều muốn ngồi luôn – dù chỉ là ghế súp.

“Với đám con cháu, cụ Tôn bảo: ‘Tụi bay đừng có kêu tao bằng phó chủ tịch nước, nghe ngứa cái con ráy lắm! Người ta đặt đâu tao ngồi đó, chớ tao không màng cái chức chi hết’. Ngoài việc dự các nghi lễ long trọng bắt buộc phải có mặt cụ, cụ không làm việc gì khác ngoài một việc cụ thích thú hơn cả là sửa xe đạp. Làm phó chủ tịch nước, ông thợ máy ngày trước buồn tay buồn chân.

Hết xe đạp hỏng cho cụ chữa, anh em bộ đội bảo vệ và nhân viên phục vụ phải lấy xe của người nhà mang vào cho cụ kẻo ngồi không cụ buồn. Thương cụ quá, đôi khi họ còn làm cho xe trục trặc đi để dắt đến nhờ cụ sửa giùm. Một người bạn tôi quen thân với cụ Tôn, cha anh trước kia là đàn em cụ, kể rằng một hôm anh đến thăm cụ, vào thời gian Nghị quyết 9, thì cụ dắt anh vào phòng riêng thì thào:

‘Mầy có thấy lính kín theo mầy tới đây không mầy?’ Anh ngạc nhiên quá. Tưởng anh lo lắng cho cụ, cụ mỉm cười hiền hậu:‘Là tao lo cho tụi bây, chớ tao hổng lo cho tao. Trong nhà tao nè, lính kín hổng có thiếu.”  (Vũ Thư Hiên. Đêm Giữa Ban Ngày. Văn Nghệ. Westminster, CA: 1997).

Tuy “nghe ngứa con ráy lắm,” và đôi khi cũng cảm thấy (đôi chút) ngượng ngập vì chức vụ hữu danh vô thực nhưng bác Tôn vẫn cứ ngồi im re ở cái ghế Phó Chủ Tịch Nước từ 1960 cho đến mãi 1969 lận!

Bác Bằng cũng thế :

“Ông tiếp mẹ tôi trên gác ngôi nhà có công an canh gác, nói những lời an ủi vô thưởng vô phạt. Tiễn mẹ tôi xuống nhà, khi đã ra đến vườn rồi, tin chắc không còn bị nghe trộm nữa rồi, ông mới hứa sẽ đặt vấn đề ra trước Trung ương để Trung ương xem xét …

Lời hứa của ông chẳng bao giờ được thực hiện. Ðịa vị cao sang và nỗi sợ hãi trước Lê Ðức Thọ đã làm tâm hồn người chiến sĩ cách mạng nổi tiếng năm xưa tê liệt. Mẹ tôi kể rằng trong những lần bà tới gặp Nguyễn Lương Bằng, bà thấy ông biết nhà ông bị gài rệp.” (Vũ T. H. s.đ.d. tr. 361).

Ấy vậy chớ người Anh Cả Cách Mạng cũng vẫn yên vị với cái chức danh Phó Chủ Tịch Nước đúng mười năm chẵn, dù biết rằng cái ghế này có rệp.

Thế mới biết lợi danh – hay người xưa còn gọi là cái bả vinh hoa – luôn là miếng mồi hấp dẫn đối với chúng sinh, bất kể thời nào, và bất phân giới tính. Bà Bình cũng ngồi êm ru ở cái ghế PCT, dù chỉ ngồi chơi/xơi nước (đâu) cũng cỡ chục năm – chớ đâu có ít!

Theo Wikipedia Hà Nội: “Nguyễn Thị Bình (sinh năm 1927) là một nữ chính trị gia người Việt Nam. Bà nổi tiếng trên thế giới khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hòa bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973. Bà là một trong những người đại diện các bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định…

Năm 1992, tại kỳ họp Quốc hội khóa IX, bà được bầu làm Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và giữ chức vụ này liên tục trong 10 năm (1992-2002). Bà là người phụ nữ Việt Nam thứ hai giữ chức vụ phó nguyên thủ và là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên giữ chức vụ Phó chủ tịch nước. Năm 2001, Chủ tịch nước Trần Đức Lương trao tặng cho bà Huân chương Hồ Chí Minh để ghi nhận những công lao to lớn của bà đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Mọi huân chương đều có mặt trái của nó. Cái mặt trái Huân Chương Hồ Chí Minh của bà Nguyễn Thị Bình là tính mạng và cuộc sống khốn cùng của vô số những người phụ nữ Việt Nam khác:

“Họ là những cô gái thời chiến, những thiếu nữ tình nguyện đầu quân vào một trong những đội nữ binh lớn nhất mà bất cứ nước nào đã từng đưa ra một chiến trường tân tiến … Khi hòa bình trở lại, họ mong sẽ tìm được một tấm chồng xứng đáng và sinh con đẻ cái.

Ðối với nhiều người trong số họ, giấc mơ đó đã không thành. Trở về sau khi cuộc chiến chấm dứt năm 1975, họ đã bị coi như thiếu hấp dẫn, vì bị tàn phá bởi bệnh hoạn, thiếu ăn và những cực khổ khác mà họ đã phải chịu đựng trong rừng...

Họ nói về chuyện trở về nhà với đời sống khó khăn hơn là đời sống mà họ đã rời bỏ. Sự cay đắng dai dẳng vì trong suốt bao nhiêu năm họ đã là những chiến sĩ bị bỏ quên trong một cuộc chiến tranh mà những người đàn ông chiến đấu – chứ không phải phụ nữ – đã trở thành anh hùng.

Tôi đã tưởng cuộc đời tôi sau chiến tranh sẽ giản dị và hạnh phúc,’ theo lời Nguyễn Thị Bình, cân được 85 pounds khi trở về nhà. ‘Nhưng tôi đã để cho người bạn trai của tôi ra đi. Tôi đã nói với anh ấy rằng với những chứng bệnh của tôi, với một chân bị thương của tôi, tôi sẽ là một gánh nặng cho anh ấy.’

Bà Bình đã sống một mình suốt 17 năm, một hình thức lưu vong trong một xã hội nặng về gia đình trong đó những phụ nữ hiếm muộn và những cặp vợ chồng không con là những đối tượng để thương hại. Thế rồi, trước sự thúc giục của những cựu đồng chí trong một đoàn phụ nữ – đoàn 559 – bà Bình đã ‘lấy một người chồng qua đêm’ và sinh được một đứa con gái.” (David Lamb. “Vietnam’s Women of War.” Los Angeles Times 10 Jan. 2003. Bản dịch Nguyễn Nhật. Talawas 17/07/2003).

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho BBC (vào hôm 13 tháng 10 năm 2008) về số phận Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam sau 1975, nguyên Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình nói “tổ chức này khi ấy đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử” và “khẳng định” rằng “tôi không có sai lầm gì hết. Con đường mình đi hoàn toàn đúng.”

Nếu sau chiến tranh mà bà Bình này cũng trở thành một phụ nữ 4 không: không nhà, không cấp dưỡng, không con, không chồng (hoặc chỉ là một người chồng qua đêm, y như bà Bình kia) thì khán thính giả của BBC – không chừng – đã được nghe đôi lời nói (khác) chân thành và tử tế hơn!

TNT

Ủy viên trung ương rụng như sung trong năm con Hổ

SỐNG, HỌC TẬP LÀM THE0 TẤM GƯƠNG ĐĐ hcm!

Ủy viên trung ương rụng như sung trong năm con Hổ

Báo Quyền Được Biết

Hai con giòi trong 4 triệu con giòi đảng viên đảng csVN – nguồn Inetrnet

Nguyễn Hùng
  VOA Blog

Đại dịch Covid đã tạo ra nhưng con cò béo trong vụ nâng khống giá các bộ thử trong vụ Việt Á và tham nhũng lan tràn khiến nhiều đại sứ mất chức và thậm chí bị bắt giam trong vụ “bay giải cứu”. Nhưng vì sao có những con cò đó?

Với hai uỷ viên trung ương, còn gọi là trung uỷ, Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam bị rụng đúng ngày gần hết năm 2022, cả thảy tám trung uỷ đã bị cho ra khỏi cơ quan ra quyết định đầy quyền lực của Đảng Cộng sản.

Ông Minh và ông Đam mất mọi chức vụ và phải về hưu theo quyết định của một cuộc họp “bất thường” của Ban chấp hành Trung ương Đảng mà thông cáo được truyền thông công bố rộng rãi.

Vị trí phó thủ tướng của hai ông cựu trung uỷ đã được Quốc hội bãi miễn hôm 5/1 và cùng ngày đã có hai nhân vật lên thay.

Tôi gặp ông Đam hồi cuối thập niên 90 lúc còn làm báo ở Việt Nam và khi đó ông mới là chuyên viên ASEAN ở Văn phòng Chính phủ. Từ lúc đó ông đã nói với tôi ông có nhà cho thuê để trang trải chi phí trong cuộc sống và có thể tập trung vào lo chuyện quốc gia. Vậy mà quốc gia giờ chẳng còn muốn ông lo chuyện gì nữa và quyết định cho ông nghỉ hưu ở tuổi 59. Đương nhiên người ta nói bởi vì ông Đam muốn thế. Cả ông Minh cũng vậy. Người ta nói ông có “nguyện vọng cá nhân” rời khỏi Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương và ghế phó thủ tướng. Vải thưa nào che được mắt thánh của nhân dân! Ai không biết hai vụ lùm xùm Việt Á và bay giải cứu.

Hai ông Minh và Đam mất vị trí trung uỷ muộn tới mức danh sách những người bị loại khỏi Ban chấp hành Trung ương trong năm 2022 của trang tin VnExpress không có tên hai nhân vật bị thất sủng mới nhất này. Bài tổng kết hôm 21/12 của VnExpress chỉ nêu có sáu người. Thế mà họ đã bảo nhiều gấp rưỡi số người bị đẩy ra khỏi trung ương của cả nhiệm kỳ năm năm của Đại hội 12. Trong khi đó nhiệm kỳ của Đại hội 13 còn tới tận đầu năm 2026. Liệu còn bao nhiêu trung uỷ nữa bị cho vào chiếc lò không bao giờ thiếu củi trong ba năm tới?

Sáu nhân vật khác bị đá ra khỏi cơ quan quyền lực của Đảng Cộng sản vì vụ Việt Á bao gồm:

  1. Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long
  2. Chủ tịch UBND TP Hà Nội, nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh
  3. Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương Phạm Xuân Thăng
  4. Phó ban Kinh tế Trung ương, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong
  5. Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên Huỳnh Tấn Việt
  6. Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Bùi Nhật Quang

Ba nhân vật đầu tiên trong danh sách sáu người cũng đã bị khởi tố và bắt giam.

VnExpress nói một trung uỷ khác bị phế truất trong năm 2021, đó là Bí thư Bình Dương Trần Văn Nam. Như vậy cả thảy đã có chín uỷ viên trung ương bị loại khỏi nhóm 200 đảng viên đầu bảng của đảng.

Đại dịch Covid đã tạo ra nhưng con cò béo trong vụ nâng khống giá các bộ thử trong vụ Việt Á và tham nhũng lan tràn khiến nhiều đại sứ mất chức và thậm chí bị bắt giam trong vụ “bay giải cứu”. Nhưng vì sao có những con cò đó? Tại vì nước đục béo cò. Chiếc lò có thể quay được nhiều cò nhưng chẳng bao giờ làm được nước trong. Đảng luôn hô hào “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” nhưng với báo chí luôn của Đảng thì dân biết gì mà bàn. Có bàn cũng chẳng báo Đảng nào dám đăng. Còn chuyện dân kiểm tra? Dân nào muốn tan cửa nát nhà và mất cả mạng như đảng viên lão thành Lê Đình Kình ở Đồng Tâm những ngày này hai năm về trước.

Thành trì của nỗi sợ người Việt trong nước

Lmdc Viet Nam

Không biết/không nghe/không thấy, không dám nói…

* Thành trì của nỗi sợ người Việt trong nước.

Càng ngày càng thấy nhiều biểu hiện của nỗi sợ trong những người Việt Nam chúng ta trong nước.

– tố cáo sai phạm của công chức thì sợ chính quyền hoạnh họe nhũng nhiễu,

– thấy trộm cướp không dám la lên vì sợ giang hồ trả thù,

– thấy đồng nghiệp gian dối không dám nhắc nhở vì sợ ném đá giấu tay,

– thấy sếp phạm pháp không dám tố cáo vì sợ đuổi việc,

– thấy hàng xóm ném rác ra đường thì im lặng đóng cửa vì sợ họ chuyển sang ném rác vào nhà mình…

Ngoài ra nếu:

– Tố cáo Lãnh đạo tham nhũng, sẽ bị ghép tội “nói xấu lãnh đạo” .

– Phê bình sai trái của nhà cầm quyền, sẽ bị bỏ tù vì tội “lợi dùng quyền tự do dân chủ…”

* Đồng bào trong nước hiên nay, sợ nhiều thứ và quen với nỗi sợ đến nỗi thấy một người không biết sợ những điều đó thì ngạc nhiên, thán phục, đồng thời cũng… lo sợ cho họ vô cùng.

Nỗi sợ xây lên một thành trì cao ngất, dần dần nhốt người dân VN vào thứ quan niệm sống hèn đớn và tồi tàn: chỉ biết được việc cho chính mình, nhắm mắt bịt tai trước những thứ chướng tai gai mắt trong xã hội, không biết/không nghe/không thấy bất cứ điều gì nếu không trực tiếp liên quan đến mình.

Ai làm ngược lại thường bị chế giễu là bao đồng, ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng

Có những bà mẹ hết sức khuyên con hãy sống như thế. Thế mới là khôn!

Nhưng… khó trách người dân, vì thực tế xã hội Việt Nam ngày nay chứng minh điều đó.

Người dân có thể làm gì hơn là bo bo bảo vệ chính mình khi chính quyền không đủ sức bảo vệ họ?

Đặc biệt, khi chính quyền chính là cái máy xay hung hãn nghiền nát tiền bạc, công sức và ý chí của người dân, thông qua tham nhũng, trục lợi, nhóm lợi ích… năm sau cao hơn năm trước?

Đấu tranh rồi nếu bị “trâu đánh” thì “tránh đâu”?

– Thôi, hèn nhưng an toàn còn hơn anh hùng mà vắn số.

TL – RFA (BL Trương Mộc Lan)