NỀN GIÁO DỤC LẤY TÍN NGƯỠNG & ĐẠO ĐỨC LÀM CỐT LÕI

NỀN GIÁO DỤC LẤY TÍN NGƯỠNG & ĐẠO ĐỨC LÀM CỐT LÕI

Bài: Thu Hiền – Hồng Liên.

Trong các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, nếu như Phần Lan coi trọng “công bằng và miễn phí”, nước Đức nhấn mạnh “bình đẳng giữa mọi người”, và Mỹ đề cao “quyền tự do của công dân”, thì giáo dục của người Nhật lại coi đạo đức là cốt lõi, là bài học đầu đời của mỗi người.

Đối với người Nhật, một nền giáo dục tiên tiến phải thực hiện được tiêu chí “mỗi học sinh sẽ trở thành cá nhân hoàn thiện đạo đức”. Do đó, khác với nhiều nước coi giáo dục đạo đức chỉ là một môn học, thì Nhật Bản “dạy người” qua tất cả các môn cũng như trong sinh hoạt hàng ngày.

Ví dụ như giờ ăn trưa của học sinh Nhật Bản không chỉ là để ăn trưa, mà còn là một tiết học về tính tự lập, cách phục vụ bạn bè và lòng biết ơn. Trẻ được phân công mang đồ ăn cho các bạn, mặc đồng phục như một người phục vụ thật sự: Giáo viên sẽ múc thức ăn vào bát, rót sữa vào ly, và trẻ sẽ bưng đến bàn cho từng bạn… Sau đó, những trẻ phục vụ sẽ cùng đứng trước lớp đồng thanh chúc các bạn ăn ngon miệng, còn các bạn sẽ đồng thanh nói cảm ơn.

Trẻ em Nhật không chỉ được tìm hiểu về thế giới tự nhiên, mà quan trọng hơn là học cách yêu thương muôn loài và có ý thức bảo vệ môi trường. Ví dụ như khi gieo hạt trồng cây, các em được hướng dẫn nói những lời tình cảm: “Cây ơi, hãy lớn lên nhé”, “Hãy nở hoa thật đẹp nhé”. Một cách tự nhiên, trẻ em Nhật đã hình thành nhân cách thiện lương, không chỉ quan tâm và yêu thương mọi người xung quanh, mà còn biết nâng niu cả cây cỏ và những đồ vật vô tình.

Có người hỏi, vì sao người Nhật lại coi trọng giáo dục đạo đức đến vậy? Đó là bởi, Nhật Bản là một dân tộc có tín ngưỡng và đức tin, và tín ngưỡng ấy cũng chính là chiếc chìa khoá hướng con người tới các chuẩn mực đạo đức cao.

Gốc rễ của nền giáo dục đạo đức chính là tín ngưỡng và đức tin

Đa số người Nhật theo Thần đạo (Shinto) và đạo Phật. Theo thống kê của Tổng cục văn hóa Nhật Bản vào năm 2006, có 84% người dân Nhật Bản theo Thần đạo và 70% người dân theo đạo Phật, nghĩa là có những người sẽ thực hành theo cả hai đức tin.

Thần đạo là tín ngưỡng chỉ có riêng ở Nhật Bản. Tư tưởng chính của Thần đạo là khuyên con người hướng tới sự trong sáng và tránh làm điều ác. Giết chóc bị coi là điều ác, nên con người không được sát sinh, trừ khi là vì sự sống còn của bản thân. Vậy nên, trước khi ăn người Nhật luôn cảm ơn các sinh linh đã nguyện hy sinh để trở thành thức ăn cho mình. Đây cũng là lý do vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc để nguyên, không thu hoạch. Nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn để lại 5-10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.

Thần Đạo có rất nhiều các vị Thần, có đến 8 triệu Thần, đa phần có liên quan đến thiên nhiên như linh hồn của đất, trời, Mặt Trăng, cây cỏ, hoa lá, núi sông… Ngay cả đá, núi, hay động vật như cáo, gấu và người quá cố đã trở thành linh hồn cũng được xem là Thần. Tất cả mọi vật đều có linh hồn và có tiếng nói của riêng mình. Người Nhật tin rằng con người chẳng qua chỉ là một phần trong thế giới tự nhiên, do đó mà phải yêu thương và tôn trọng muôn loài. Nhưng không chỉ thực vật hay động vật, mà còn cần tôn trọng cả những vật vô tri, bởi kami, tức linh hồn, có thể trú ngụ ở bất cứ nơi đâu.

Ngoài ra Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín của Nho giáo (do Khổng Tử đề xướng). Với những ai sống ở các quốc gia bị ảnh hưởng bởi thuyết vô Thần thì khi nói đến “đức tin” họ sẽ chỉ bật cười, đơn giản bởi vì họ không còn tin nữa, mà không nghĩ rằng bản thân mình đã bị học thuyết vô Thần tẩy não cắt đứt mất mối liên hệ với cội nguồn văn hóa truyền thống, đến mức không còn hiểu tin để làm gì.

Còn tại Nhật Bản thì đức tin đó là tự nhiên và đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người. Người Nhật đã áp dụng đức tin của mình khi đối mặt tất cả những vấn đề trong cuộc sống, kể cả những tình huống hiểm nguy nhất.

Nếu thiếu mất tín ngưỡng và đức tin, con người sẽ mất đi cội rễ của đạo đức. Nếu thay thế tín ngưỡng bằng các học thuyết đấu tranh, con người sẽ xem nhau như thù địch, đối đãi với nhau bằng trái tim lạnh giá, vô tình.

Chỉ khi sống có tín ngưỡng, có đức tin, thì dân tộc ấy mới có chuẩn mực đạo đức làm thước đo, mới có thể phân biệt tốt-xấu, thiện-ác, chính-tà. Chỉ khi có đạo đức, có đức tin, con người mới có thể trở về, tìm lại bản tính ban sơ thuần thiện của mình.

Vì sao người Nhật có thể làm nên nhiều kỳ tích, có thể sinh ra những công dân sống ý thức và giữ gìn phẩm giá của mình? Bí quyết chẳng đâu xa, bởi tất cả chỉ nằm ở điều mà họ vẫn gìn giữ, nhưng chúng ta thì đang dần mai một!

Đó chính là tín ngưỡng và đức tin của mỗi người.

Nguồn: Câu chuyện giáo dục

fb LE KHAC AI

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ngy Thanh

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ngy Thanh

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Dù cùng viết cho tờ Thời Báo nhiều năm, và dù cả hai cũng đã từng chung tay với chủ bút Đỗ Nghi thực hiện đôi việc từ thiện nhỏ, tôi chưa bao giờ có cơ hội được gặp Ngy Thanh (NT) cả. Chỉ đọc ông thôi thì tôi cũng có thể đoán rằng nhân vật này chắc lớn hơn mình cỡ vài ba tuổi, chứ không nhiều. Tuy thế, dường như trên mọi nẻo đường đời, ông đều đi trước tôi vài bước – hơi dài!

Mãi đến 2015, tôi mới lò dò đặt chân đến Đế Thiên – Đế Thích trong khi NT đã tới nơi đây gần chục năm trước lận, và đã thu vào ống kính rất nhiều hình ảnh tuyệt vời của cả Angkor Wat lẫn Angkor Thom.

Vốn là một nhiếp ảnh gia và phóng viên chuyên nghiệp nên NT không chỉ dừng chân ở những nơi có kỳ quan hay thắng cảnh mà còn lang bạt khắp xứ Chùa Tháp, chả sót một xó xỉnh nào. Ông len lỏi vào tận “Thánh Địa Ấu Dâm” và ghi lại những dòng chữ nát lòng về tình cảnh bi phẫn của lắm đứa trẻ thơ:

Svay Pak là làng điếm truyền thống gồm những căn nhà vừa gạch vừa bê tông làm nơi chứa gái bán dâm đến từ Việt Nam, công khai mời chào ‘boom boom’ (làm tình với bé gái) và ‘yum yum’ (khẩu dâm với bé trai) với giá mạt hạng chỉ 5 đô trong những vuông phòng chật hẹp được ngăn ra bằng ván ép xập xệ…

NT cũng đã từng vác máy đến bãi rác Stung Meanchey, nơi được nhật báo The Guardian mô tả là “the world’s most famous rubbish dumps” của thế kỷ XX. Khi tôi tìm đến nơi thì “bãi rác nổi tiếng nhất thế giới” này đã bị dẹp bỏ nhưng hình ảnh của đám trẻ con bần cùng, khốn khổ mà ông đã chụp được tại đây vẫn khiến cho tôi bứt rứt và … ấm ức!

Tưởng bở nên tôi cũng mang máy nhẩy xổ vào một bãi rác khổng lồ khác (cũng ở Phnom Penh) vì muốn được nhìn tận mắt cái thứ “địa ngục trần gian” này. Tới nơi, tôi dặn taxi trở lại đón sau chừng vài tiếng nhưng vừa hăm hở mở cửa xe là đã bị “oẹ” liền. Không khí nồng nặc mùi hôi thối khiến tôi chui vội lại vào bên trong, và ra dấu cho tài xế chạy ngay tức khắc. May mà tôi không có thói quen ăn sáng nên chưa đến nỗi nôn mửa ra xe của người ta.

Rời Miên, tôi băng qua Nam Lào bằng cửa khẩu Stung Treng. Rồi tà tà lội từ Si Phan Don lên Paske, Vientiane, Vang Vieng, Luang Prabang, Luang Namtha, đến tuốt Muang Sing – một thị trấn heo hút ở cực Bắc – giáp giới với Tầu. Sau chuyến đi xuyên suốt này, tôi vội vã kết luận rằng: “Không thấy người Lào không bóp còi xe, và cũng chả gặp ai đi ăn xin cả.”

Nói vừa dứt câu thì tôi lại tình cờ nhìn được bức hình cha con một người ăn mày, đang băng qua đường (giữa thủ đô Vạn Tượng) của NT trên trang mạng Trekearth – nơi tụ tập của nhiều nhiếp ảnh gia quốc tế!

Hóa ra, NT cũng đã đến Lào từ lâu và đôi mắt nhà nghề của ông chả bỏ sót một hình ảnh thương tâm nào cả. Phải công nhận là “thằng chả” rất chịu đi, và luôn luôn lên đường rất sớm, kể cả khi lao vào … chỗ chết!

Mãi đến ngày 10 tháng 10 năm 1972, tôi mới lò dò đến Trung Tâm Xã Hội Sài Gòn để trình diện nhập ngũ nhưng binh nhất NT và hạ sỹ Đoàn Kế Tường (với vai trò là phóng viên cho quân đội và ký giả chiến trường) đã có mặt giữa Mùa Hè Đỏ Lửa rồi:

“Phái viên Ngy Thanh và Đoàn Kế Tường của Sóng Thần cho hay họ đã vượt sông Mỹ Chánh để tới một đoạn đường dài 10 cây số Đông Nam Quảng Trị gọi là ‘đoạn đường máu’, nơi đây còn hàng trăm xác quân xa chở đồng bào Quảng Trị di tản trong ngày 1-5, cháy xém nằm la liệt, bên cạnh còn thấy những xác của đồng bào bị lính BV pháo kích chết cách đây hơn 2 tháng. Những xác nầy nay đã rữa thối, chỉ còn trơ xương.”  (“Xác Dân Tỵ Nạn Trơ Xương Nằm Dài 2 CS Trên Quốc Lộ I.” Sóng Thần 02 July 1972).

Trong tác phẩm mới vừa xuất bản, NT cho biết thêm đôi ba chi tiết về biến cố hãi hùng này:

“Với các bản tin như trên và tương tự, cùng với hình ảnh chúng tôi gửi về toà báo hằng ngày, ban chủ biên đã bàn bạc, thảo luận ngay chương trình ‘Thác Một Nấm Mồ’ cho các nạn nhân bị giết bởi bom đạn trên Đại Lộ Kinh Hoàng, bằng cách lạc quyên từ độc giả của tờ báo …

Kết cuộc lại, năm 1972 anh chị em báo Sóng Thần chúng tôi đã đến, đã thấy, đã vận động những người hảo tâm đóng góp, để tìm gặp và thu lượm được trong các đợt hốt xác, mang về trường tiểu học Mỹ Chánh tẩm liệm và mai táng ở nghĩa trang Đồng Bào Chiến Nạn Quảng Trị 1.841 thi thể, từ tháng 8/1972 đến tháng 1/1973. Những tưởng thế là xong việc. Nhưng ngày 22/06/2016, chúng tôi đi tìm để vận động nâng cấp, mới biết nghĩa trang đã bị xóa sổ”. (Ngy Thanh. Đại Lộ Kinh Hoàng. San Jose: Nhân Ảnh, 2022.)

Từ 1972 đến 2016 là một khoảng thời gian không ngắn. Trong gần nửa thế kỷ, NT đã tận tụy làm trọn nhiệm vụ của một công dân, đối với đồng bào cũng như đồng đội. Cuộc đời của cá nhân ông, nếu chỉ kể đến đây (tưởng) cũng đã đủ dài, và đủ đẹp rồi, nhưng chuyện về Đại Lộ Kinh Hoàng thì e còn thiếu.

Năm 2008, nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân cho ra đời một cuốn nhật ký chiến tranh (Mùa Hè Cháy) của Đại Tá Nguyễn Quý Hải. Ông chính là vị sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn 2, trung đoàn 38 Pháo Binh Bông Lau – đơn vị đã nã pháo vào đám đông thường dân và binh lính miền Nam trên Đại Lộ Kinh Hoàng – hồi năm 1972. 

Tuy thế, trong tác phẩm này, tác giả chỉ ghi lại sự kiện trên bằng một câu văn ngắn: “Dọc đường số 1 hàng trăm xe ngổn ngang, địch bỏ chạy. Máy bay địch thâm độc thả bom vào những đoàn xe để phi tang, bất kể lính của chúng bị thương còn ngổn ngang. Xe cháy nghi ngút.”

Thế mới biết xóa sổ một cái nghĩa trang với hàng ngàn xác người chỉ là chuyện nhỏ, rất nhỏ, đối với người cộng sản VN. Họ còn có thể xóa sạch mọi tội ác đã gây ra bằng một thủ thuật rất quen thuộc, và vô cùng giản dị (gắp lửa bỏ tay người) cứ đổ vấy hết cho Mỹ/Ngụy là xong!

Là người lính và là nhân chứng hiếm hoi có mặt trên Đại Lộ Kinh Hoàng, NT đã đặt nghi vấn:

“Thứ nhất, hố bom do máy bay thả xuống và hố đạn pháo binh sau khi bị kích hỏa, tôi nghĩ là không thể trộn lẫn với nhau… Là người đi suốt chiều dài tử lộ từ sông Bến Đá đến sông Nhung, tôi khẳng định với người anh hùng Bông Lau rằng, trên mặt đường nhựa ấy, chỉ có xác chết và xác xe, không có một hố bom, dù là loại bom nhỏ nhất.”

Không chỉ “khẳng định” suông như thế, NT còn biên soạn cả một tác phẩm (Đại Lộ Kinh Hoàng) gần năm trăm trang đầy ắp dữ kiện, hình ảnh, tài liệu, chứng từ … Ông cũng đã thư từ với Đại Tá Nguyễn Quý Hải, và nhận được hồi đáp (vào hôm 17 tháng 5 năm 2019) như sau:

“Trong đoạn nhật ký của tôi bạn trích ở trên, rõ ràng tôi viết chưa chuẩn vì tôi không trực tiếp nhìn thấy, chỉ là nghe các quan sát viên nói lại rồi suy diễn… trong lần tái bản tới tôi sẽ bỏ đoạn: ‘Dọc đường số 1 hàng trăm xe ngổn ngang, địch bỏ chạy. Máy bay địch thâm độc thả bom vào những đoàn xe để phi tang, bất kể lính của chúng bị thương còn ngổn ngang. Xe cháy nghi ngút.” (S.đ.d. tr. 351).

Thật là giản dị, dễ dàng, lẹ làng, gọn gàng hết sức!

Ông Quý Hải (nói riêng) và những người CSVN (nói chung) xem chừng khó mà hiểu được điều giản dị này: “Chỉ cần làm chết một người khi người ấy không vũ khí phòng thân … cũng đủ để trở thành tội ác.” Câu văn thượng dẫn được viết vào ngày 2 tháng 6 năm 2022, đây là dòng chữ cuối cùng mà NT đã dùng để làm kết cho tác phẩm (Đại Lộ Kinh Hoàng) mới nhất của ông.

Lòng tốt hiếm có của 3 sinh viên Mỹ

Lê Hoàng Nam

Lòng tốt hiếm có của 3 sinh viên Mỹ

Ba sinh viên tại Mỹ đã rất may mắn khi mua lại chiếc ghế sofa cũ với giá 20 đô la từ một cửa hàng từ thiện. Thật không ngờ là họ đã phát hiện ra 41 nghìn đô được giấu bên trong chiếc ghế cũ này. Tuy nhiên, cả 3 người sau đó lại có một quyết định không ngờ khiến nhiều người ngưỡng mộ.

Không phải mua vé số, cũng không tham gia một trò chơi may mắn nào, ba sinh viên này đã “nhận” được 41 nghìn đô la (tương đương 900 triệu đồng) khi mua về một món đồ cũ.

Được biết, ba sinh viên này cùng thuê một căn hộ sống cùng nhau ở thành phố New York (Mĩ). Và chiếc ghế sofa cũ với giá 20 đô la được mua tại cửa hàng từ thiện, đã vô tình mang đến cho họ số tiền khá lớn, khiến cả ba người đều không thể tin vào sự thật này.

Ban đầu, họ phát hiện ra 700 đô la từ chiếc ghế sofa, nhưng vì nghi ngờ nó có thể sẽ chứa một kho báu lớn hơn thế, nên ba sinh viên này đã tiếp tục tìm kiếm. Quả không sai khi họ đã tìm thấy 41 nghìn đô ngay sau đó. Lúc ấy, cả ba sinh viên đều không thể kìm nén sự bất ngờ và vui mừng.

Thế nhưng, sau vài phút lấy lại bình tĩnh, họ bắt đầu nghĩ đến việc sẽ làm gì với số tiền lớn này. Với một số tiền được xem là từ trên trời rơi xuống, và không phải do trộm cắp có được, cả ba người đã nghĩ đến chuyện tiêu số tiền này vào những thứ mình thích.

Tuy nhiên, chiếc phong bì có ghi tên phía ngoài đã thức tỉnh họ rằng đây không phải là số tiền có thể lấy đi tùy tiện, và nó cần được trở về tay chủ nhân của mình. Vậy nên, cả ba người đã quyết định đem câu chuyện này kể cho ba mẹ mình để nhờ người lớn tư vấn cách xử lí tốt nhất. Và ba mẹ đã cho họ lời khuyên rằng nên giữ im lặng, và đi tìm người chủ của số tiền.

Cuối cùng, họ cũng biết được số tiền này là của một bà lão. Và đây là số tiền mà người chồng quá cố của bà đã để lại cho vợ mình. Nhưng thật không may, trong thời gian bà buộc phải nhập viện để thực hiện ca phẫu thuật, thì các con bà lại mang chiếc sofa cũ bán đi để thay vào một chiếc khác mới hơn.

Bà đã rất vui mừng khi nhận lại được số tiền tưởng chừng như không cách nào có thể tìm lại được nữa. Với bà, đây chính là một sự may mắn thật đặc biệt. Và bà đã hậu tạ ba bạn trẻ tốt bụng bằng một bữa tối cùng 3000 đô la thay cho lời cảm ơn.

Tiền là thứ khiến người ta có thể dễ bị làm mờ mắt và nổi lòng tham. Nhưng không phải vì thế mà nó có thể điều khiển nhân cách của một con người. Ba bạn sinh viên trong câu chuyện này chính là những tấm gương sáng về lòng trung thực và dũng cảm vượt qua những lợi ích cá nhân để nghĩ về người khác.

hoalyly@ sưu tầm

www.gotacoffee.vn share từ FB Chau Nguyen

4 người chết trong vụ ông bị đuổi nhà ở Houston nổi lửa, bắn hàng xóm

4 người chết trong vụ ông bị đuổi nhà ở Houston nổi lửa, bắn hàng xóm

August 28, 2022

HOUSTON, Texas (NV) – Cảnh sát cho hay một người thuê nhà lâu năm đã đốt lửa ở mấy nơi quanh căn nhà có nhiều phòng cho thuê ở vùng Tây Nam Houston, rồi bắn vào hàng xóm khi họ tháo chạy ra ngoài, làm thiệt mạng ba người trước khi bị cảnh sát bắn chết, theo bản tin của tờ báo địa phương Houston Chronicle.

Giới hữu trách nói rằng hung thủ là một người đàn ông ngoài 40 tuổi, chờ sẵn vào lúc 1 giờ sáng ở khu nhà số 8000 đường Dunlap, trong lúc người sống trong các căn phòng cho thuê tại căn nhà một tầng này hoảng hốt chạy ra khỏi nhà khi thấy lửa cháy.

Khu vực xảy ra vụ nổ súng. (Hình: Google View)

Các lính cứu hỏa thuộc Sở Cứu Hỏa Houston khi đến nơi đã phải tìm nơi ẩn nấp vì có tiếng súng. Cảnh sát nhìn thấy hung thủ, mặc đồ toàn đen, tay cầm khẩu shotgun, đã bắn chết người này.

Hai nạn nhân, tuổi ngoài 60, chết tại hiện trường và một nạn nhân khác, tuổi ngoài 40, chết tại bệnh viện. Một người khác được đưa vào bệnh viện do trúng đạn vào tay.

Một người hàng xóm, ông Robin Ahrens đang chuẩn bị đi làm thì nghe thấy tiếng nổ mà lúc đầu ông cứ nghĩ là tiếng pháo.

Ông Ahrens nói “Tôi thật may mắn là đã không bước ra ngoài, nếu không thì cũng bị ông ta bắn rồi.”

Nhân viên sở cứu hỏa Houston đến hiện trường một vụ cháy. (Hình minh họa: Mark Felix/AFP via GettyImages)

Ông Ahrens, người ở nơi này từ 15 năm qua, nói rằng khu vực thường yên tĩnh và chưa hề có vụ nổ súng như thế này.

Theo ông Ahrens, hung thủ bị ung thư ruột, không trả được tiền nhà và cũng không có việc làm. Người này mới đây được thông báo là bị đuổi nhà.

Ông Ahrens nói rằng “Chắc có điều gì đó xảy ra trong vài ngày qua, đến mức mà ông ta trở nên bất cần, để có hành động này.”

Sau vụ nổ súng, người sống nơi đây vẫn trong tình trạng hốt hoảng, hoang mang, nhặt nhạnh đồ đạc bị cháy, hỏi thăm hàng xóm và cũng phải tìm kiếm các con thú cưng biến mất trong cơn hỗn loạn. (V.Giang)

Thánh Augustine (354-430)

28 Tháng Tám
Thánh Augustine (354-430)

Là Kitô Hữu lúc 33 tuổi, làm linh mục lúc 36 tuổi, được tấn phong giám mục lúc 41 tuổi: ai ai cũng quen thuộc với tiểu sử tóm lược của Thánh Augustine Hippo, một tội-nhân-trở-thành-thánh-nhân. Nhưng có thực sự biết về cuộc đời thánh nhân thì điều đó mới có giá trị.

Dù khi xa cách Thiên Chúa hay hướng về Thiên Chúa, đời sống của ngài mau chóng đạt đến mức độ mãnh liệt. Nước mắt của mẹ ngài, những lời huấn đức của Thánh Ambrôsiô và, trên hết mọi sự, chính Thiên Chúa nói với ngài qua Kinh Thánh đã thay đổi tính đam mê thế gian của Augustine thành một cuộc đời đầy bác ái.

Từng đắm chìm trong sự cao ngạo về cuộc đời mình trong thời niên thiếu và từng say sưa cặn bã cay đắng của cuộc đời, nên người ta không ngạc nhiên khi thấy Augustine, khi quay trở về, ngài đã phải chống trả với sự tấn công của ma quỷ bằng sự thánh thiện quyết liệt. Thời đại của ngài thực sự sa sút — về chính trị, xã hội và luân lý. Người ta vừa sợ và vừa mến ngài, giống như Thầy Giêsu. Ngài bị chỉ trích không bao giờ cùng: là bản tính khắt khe của loài người.

Cuộc đời ngài, do thiên ý, ngài đã chu toàn nhiệm vụ của một ngôn sứ. Như ngôn sứ Giêrêmia và các vị đại ngôn sứ khác, ngài bị bó buộc nhưng không thể giữ im lặng. “Tôi tự nhủ, tôi sẽ không nhắc đến Người, tôi sẽ không nhân danh Người mà lên tiếng nữa. Nhưng rồi như lửa bừng cháy trong tim, giam hãm thân thể tôi; và tôi cầm hãm không nổi, chịu đựng không thấu” (Giêrêmia 20:9).

Lời Bàn

Trong thời đại chúng ta, Thánh Augustine vẫn còn được xưng tụng và vẫn còn bị kết án. Ngài là vị ngôn sứ của thời đại ngày nay, thúc giục chúng ta phải từ bỏ khuynh hướng thoát ly thực tế và can đảm đối diện với trách nhiệm và phẩm giá của mỗi một người.

Lời Trích

“Thật quá trễ để con yêu mến Ngài, ôi Ðấng Tuyệt Mỹ của ngày xa xưa ấy, nhưng mới lạ hơn bao giờ hết! Thật quá muộn để con yêu mến Ngài! Và đây, Ngài ở bên trong, con ở bên ngoài, và con đi tìm Ngài; con bị méo mó, đắm chìm trong những hình dáng đẹp đẽ mà Ngài đã dựng nên. Ngài ở với con, nhưng con không ở với Ngài. Nhiều thứ đã giữ con xa Ngài – những thứ mà nếu chúng không ở trong Ngài, thì chẳng là gì cả. Ngài kêu lớn và gào thét vào sự ngơ điếc của con. Ngài lấp lánh và chiếu sáng vào sự mù quáng của con. Ngài thở hương thơm và con bị lôi cuốn – và con khao khát Ngài. Con đã nếm thử, và con đói khát. Ngài chạm đến con, và con đã bừng cháy vì sự bình an của Ngài” (Tự Thú của Thánh Augustine).

Trích từ NguoiTinHuu.com

Tướng Giáp, Nhạc Phi … Tần Cối

Chiếm 5,5ha đất lúa Bắc bộ, lăng vua cộng sản Trần Đại Quang hoành tráng xa hoa hơn mọi lăng vua suốt 4.000 năm lịch sử dân tộc.

—-

* Mời đọc thêm:

THỨ NĂM, 10 THÁNG 10, 2013

Tướng Giáp, Nhạc Phi … Tần Cối

* VÕ VĂN TẠO

Nhân đọc bài “Tôi trung” của Huỳnh Ngọc Chênh trên blog của anh, nhất là câu kết cuối bài: “Hôm nay thì ông (tướng Giáp) vĩnh viễn ra đi, để lại đàng sau một hệ thống. Cái hệ thống mà ông là bậc khai quốc công thần, ông là vị tôi trung hiếm có. Một hàng người dài bất tận xếp hàng chờ vào viếng ông với sự thành kính tận đáy lòng. Những người ấy mến mộ công trạng của ông và cũng có thể kèm thêm lòng thương cảm vì những gì ông phải chịu đến cuối đời. Ông như một Nhạc Phi.

Nhà nước cũng quyết định làm quốc tang trọng thể cho ông. Tôi chợt thấy khó hiểu, tại sao cả Nhạc Phi lẫn Tần Cối đều được hệ thống vinh danh như nhau?”, tự nhiên thấy phải có đôi lời.

Trong lịch sử Trung Hoa, câu chuyện Nhạc Phi – Tần Cối nhà Nam Tống rất đặc biệt, đã thành điển tích.

Nhạc Phi (1103-1142) là đại danh tướng văn võ song toàn, đánh 26 trận, toàn thắng giặc Kim xâm lấn, trong bối cảnh phái chủ hòa lấn át triều đình, Tống Cao Tông bạc nhược. Ganh ghét, Thừa tướng bán nước Tần Cối đặt điều ly gián các trung thần, gièm pha vu khống Nhạc Phi, khiến Tống Cao Tông ngờ vực, bãi chức và triệu cha con Nhạc Phi về kinh, tống ngục. Nguyên soái Hàn Thế Trung đòi Tần Cối trưng ra chứng cứ khép tội Nhạc Phi. Tần Cối phán: “Mạc tu hữu!” (Cần gì có!). Thấy thả ra cũng gay, theo mưu vợ là Vương Thị xúi giục, Tần Cối bí mật ra tay hạ độc, bức tử cha con Nhạc Phi. Án oan lòa nhật nguyệt. Hậu thế có người cho rằng, uy danh và thế lực Nhạc Phi quá lớn, Tống Cao Tông mượn tay Tần Cối sát hại, đề phòng nguy cơ bị đoạt ngôi(?).

Hiếu Tông (1163-1189) lên ngôi, minh oan, cải táng Nhạc Phi tại đất Ngạc, lập miếu thờ, phong tước hiệu “Trung liệt”. Năm 1211 (đời Ninh Tông), truy phong tước hiệu Ngạc Vương. Từ đó, chữ “mạc tu hữu” gắn với tên Nhạc Phi, đi vào tiếng Trung như sự buộc tội vô căn cứ.

Người Trung Hoa đến nay vẫn tôn kính Nhạc Phi như anh hùng dân tộc, bậc sĩ phu dũng liệt trung thần.

*

Trong chuyến thăm thú Hàng Châu – tiên cảnh nơi hạ giới Trung Hoa, người viết bài này có dịp thăm cụm di tích miếu thờ và lăng cha con Nhạc Phi bên bờ Tây Hà – lầu son gác tía thấp thoáng rèm liễu rủ. Bên ngoài ngôi miếu hoành tráng thờ Nhạc Phi là tượng vợ chồng Tần Cối đúc bằng gang, tay bị còng sau lưng, quỳ trong cũi sắt, hướng về phía ngôi mộ tròn lớn xanh cỏ của Nhạc Phi. Hướng dẫn viên giải thích, trước đây người ta đúc đôi tượng này để đây cho bách tính đến viếng Nhạc Phi xong, ra khạc nhổ lên đầu vợ chồng Tần Cối. Nay để giữ vệ sinh, xin du khách đừng khạc nhổ. Nhiều du khách trong đoàn không nén được cảm xúc khinh tởm, vẫn chúm miệng phun, xì mũi (khô) phì phì. Người Hoa đời sau nguyền rủa, tin rằng món quẩy (cặp bột quấn lấy nhau, chiên dầu) là tượng trưng vợ chồng Tần Cối bị trói vào nhau, ném vạc dầu.

Ra khỏi cụm di tích, cứ mải miết với ý nghĩ, người Trung Hoa cư xử với vợ chồng Tần Cối như thế, có lẽ lại hay. Vinh danh người có công có đức, phải đi liền với lên án, nguyền rủa kẻ có tội. May ra hậu thế lấy đó làm gương, chùn bàn tay tội ác. Lại nghĩ chuyện Liên Xô cũ, không biết bây giờ hết thời cộng sản, Nga và những quốc gia thuộc Liên Xô cũ có còn giữ cái lệ phân biệt đối xử như trước? Theo đó, cứ dịp kỷ niệm ngày chiến thắng Phát xít Đức, mọi người đều được nhà nước cấp tiền ăn mừng, trừ dân chúng các thành phố từng đầu hàng. Lưu học sinh nước ngoài tại các thành phố này cũng “vạ lây”. Nhục, vinh còn nhắc đến mai sau.

*

Trở lại chuyện tướng Giáp, Huỳnh Ngọc Chênh thắc mắc: “Tại sao cả Nhạc Phi lẫn Tần Cối đều được hệ thống vinh danh như nhau?”. Điều trớ trêu ấy, có lẽ mai sau mới sửa sai, nhưng có mấy quan trọng? Hàng vạn người tự tấm lòng thôi thúc, cứ đội nắng, dầm sương không dứt cả tuần nay trước tư dinh tướng Giáp; và câu chuyện mộ phần kẻ đầu têu hãm hại ông ở Nghĩa trang Mai Dịch bị liên tục ném phân, phải âm thầm cất bốc dời đi… mới là chuyện. Dân ta chẳng có câu: “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”?

Cao hơn, chuyện đời có “minh trung”, lại có “ngu trung”. Với hàng thức giả, dám liều thân phất cờ đại nghĩa, diệt lũ sâu dân mọt nước, cứu dân khỏi vòng tai họa, mới thật là bậc anh hùng, đại nhân, đại trí, đại dũng, chói danh muôn thuở. Vạn nhất, việc lớn bất thành như Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thái Học… người đời đâu dễ quên?

V.V.T.

CHỌN CHỖ CUỐI-TGM Giuse Vũ Văn Thiên

CHỌN CHỖ CUỐI

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Sống khiêm tốn là một lời khuyên thường thấy trong kho tàng văn hoá Đông cũng như Tây, kim cũng như cổ.  Sống giữa trời đất mênh mông, con người thật nhỏ bé, cần phải thành thật nhận ra sự nhỏ bé ấy.  “Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút cũng là thừa” – người xưa nói thế.  Cuộc đời chính là sự tôi luyện để biết học khiêm tốn và tránh xa tự kiêu.  Chỉ một chút tự kiêu cũng có thể làm người ta danh bại thân liệt đổ vỡ sự nghiệp không thể cứu vãn.  Lão Tử lấy hình ảnh nước để nói về sự khiêm tốn: “Bậc trọn lành giống như nước.  Nước khéo làm ích cho muôn loài mà không tranh giành, ở chỗ mọi người đều ghét, cho nền gần Đạo” (Đạo Đức Kinh, chương 8).  Bậc thánh nhân cũng phải như vậy, phải sống cuộc đời khiêm cung từ tốn, quên mình vì người, không tự cao tự đại, có như thế mới gần Đạo gần Trời. 

Sống khiêm tốn cũng là chủ đề chính của các bài đọc Lời Chúa hôm nay, dù mỗi bài đọc khai thác đề tài này ở một góc nhìn khác nhau.  Sách Huấn Ca của người Do Thái là một cuốn sách thuộc thể loại “văn chương khôn ngoan.”  Nội dung sách này cũng tựa như những ca dao tục ngữ của người Việt chúng ta.  Điều khác biệt ở chỗ đây là Sách Thánh, tức là được Thần Linh Chúa soi sáng cho các tác giả viết ra.  Tác giả vừa như một bậc thầy khôn ngoan giáo huấn, vừa như một người cha nhẹ nhàng khuyên răn, với mục đích giúp con cái nên người.  Những lời khuyên chân tình này sẽ đi cùng với các con trải dài suốt năm tháng, để góp phần hình thành nhân cách và giúp con nên người hoàn thiện.  “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ.”  Lời khuyên này sẽ được nhắc lại trong giáo huấn của Chúa Giêsu: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em.  Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mt 20, 27).  Nét độc đáo được nêu trong sách Huấn Ca, là “Thiên Chúa được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường.”  Hãy chiêm ngưỡng Chúa Giêsu, Người là Thiên Chúa cao sang đã hạ mình sống thân phận con người như chúng ta, và Thiên Chúa đã được tôn vinh qua sự khiêm nhường, nhất là qua cuộc khổ nạn và phục sinh vinh quang của Người.  Khi sống khiêm nhường, chúng ta nên giống Chúa Giêsu, để rồi nhờ Người mà đến cùng Chúa Cha.  Thiên Chúa được nhận biết, được yêu mến và được tôn vinh qua sự khiêm nhường của chúng ta là những con cái của Ngài. 

Khiêm nhường là gì?  Thánh Tôma Aquinô trả lời: “Đó là một nhân đức đặc biệt, hệ tại ở sự tuân phục của con người đối với Thiên Chúa, và vì Thiên Chúa, hạ mình vâng phục những người khác.”  Theo Thánh Tôma, cách đối xử với tha nhân chỉ được gọi là khiêm nhường đích thực, khi nó được thực hiện “vì Thiên Chúa.” 

Trong truyền thống Kinh Thánh, người khiêm nhường cũng là người khó nghèo và là người công chính.  Họ luôn tín thác cậy trông nơi Thiên Chúa.  Tác giả Thánh vịnh 67 đã diễn tả niềm vui và hạnh phúc của người công chính (Đáp Ca). Họ là những người được Chúa chúc phúc và nâng đỡ chở che. Cuộc đời họ sẽ luôn thư thái và an bình. Họ sẽ dễ dàng vượt qua những gian nan thử thách, vì có Chúa luôn ở cùng. 

Thánh Luca đã kể lại sự việc Chúa Giêsu đi dự tiệc.  Nhân dịp này, Chúa giáo huấn các tông đồ về sự khiêm nhường.  Trong xã hội Việt Nam, xưa cũng như nay, chỗ ngồi dự tiệc còn quan trọng hơn cả thực phẩm trên bàn tiệc, vì nó khẳng định vị thế của người được mời.  Thực ra, Chúa dùng hình ảnh chỗ ngồi trong bữa tiệc để giáo huấn chúng ta về sự khiêm nhường trong cuộc sống.  Trong thực tế, đôi khi chúng ta giả bộ khiêm nhường, mà chưa chắc đã thực tâm sống nhân đức ấy. 

Trong phần cuối của bài Tin Mừng, Chúa Giêsu còn dẫn chúng ta đi xa hơn, với lời mời gọi thực thi bác ái và quan tâm đến những người bất hạnh, những người bị lãng quên.  Những của cải làm phúc cho người nghèo sẽ không bị rơi vào quên lãng, nhưng được Thiên Chúa ghi nhận và Ngài sẽ thưởng công cho người nào rộng rãi đối với tha nhân.

Khuynh hướng tự nhiên nơi con người bao giờ cũng muốn thể hiện mình.  Ngày nay, nhiều người khoe khoang học thức và bằng cấp (nhiều khi lại là bằng cấp mua!).  Thực tế, “con người không giá trị ở cái mình có, nhưng giá trị ở điều mình là” (ngạn ngữ Pháp).  Giá trị đích thực không ở bằng cấp, nhưng là ở con người có kiến thức và biết sử dụng kiến thức đi liền với bằng cấp ấy.  Khiêm tốn bao nhiêu cũng không đủ, tức là còn phải khiêm tốn suốt đời.  Cũng vậy, người tín hữu không bao giờ tự cho là đã đạt được sự hoàn hảo nơi bản thân, nhưng còn phải gắng sức phấn đấu để đạt tới mức “hoàn hảo như Cha trên trời” như Chúa Giêsu mời gọi. 

Ông John Wooden (1910-2020), huấn luyện viên nổi tiếng môn bóng rổ người Mỹ, đã viết như sau: 

Tài năng do Chúa Trời cho, hãy khiêm tốn.
Danh tiếng do người khác cho, hãy biết ơn.
Tính tự phụ do tự ta cho, hãy cẩn thận
 

“Chọn chỗ cuối” là một cách nói gợi hình, không chỉ là một vị trí hoặc một không gian, nhưng đúng hơn là một thái độ sống trong cuộc đời.  Một cách thiết thực, chọn chỗ cuối là biết thu mình lại để Chúa được tôn vinh, và cũng giúp anh chị em được hạnh phúc.  Xin Mẹ Maria giúp chúng ta biết sống khiêm tốn, để có thể thân thưa với Chúa lời “xin vâng” như Mẹ. 

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Vụ Phạm Đoan Trang – xin chia buồn trước với Đảng Cộng sản Việt Nam!

Vụ Phạm Đoan Trang – xin chia buồn trước với Đảng Cộng sản Việt Nam!

Hà Sĩ Phu

Tiếp xúc với Phạm Đoan Trang tôi thấy cô chỉ là cô gái hiền thục, vui tươi, yêu đời, không hề thấy dấu hiệu của sự đa mưu túc kế hay tính mãnh liệt của một người làm chính trị, nhất là lúc cô say sưa gảy đàn guitare đệm hát. Nhưng những việc làm thông minh và tài năng, xuất phát từ cái Tâm trong sáng và chính trực như viết cuốn Chính trị Bình dân hay tóm tắt hồ sơ Vụ thảm sát Đồng Tâm bằng song ngữ Anh Việt… thì hiệu quả lại rất “chính trị”, khiến cho các nhà chính trị chân chính phải nể phục và kẻ chính trị tà tâm phải hoảng sợ. Vì thế mà cô đã phải chịu cái án 9 năm tù…, bị cắt đứt hoàn toàn tuổi thanh xuân của một đời phụ nữ.

Còn nhớ, trong đồn Công an, khi một cậu công an buông lời thóa mạ “Con đĩ vừa xấu lại vừa vô duyên, tao chỉ muốn đái vào mặt”, nói xong toan bỏ đi liền bị Đoan Trang quát lại “Thằng kia quay lại, đứng lên bàn này đái cho bà xem!”. Cậu công an xấu hổ bỏ đi. Phản ứng xuất thần của một cô gái hiền lành chưa chồng quá bất ngờ, chỉ vì trong máu Đoan Trang đã có sẵn cái gien của Bà Trưng Bà Triệu! “Quân tử kiến cơ nhi tác”, bản lĩnh đã cừ khôi thì gặp tình huống nhất định sẽ bật ra hành động cừ khôi.

Chỉ lên tiếng nói, không cần cầm đầu một cuộc biểu tình hay một tổ chức chống đối, mà cô dám tin cả một triều đại độc tài, vũ trang đông đặc như quân Nguyên, nhất định rồi sẽ phải sụp đổ nên cô mới quyết chống nó.

Xử phúc thẩm, cô bị y án tù 9 năm! LS Trịnh Vĩnh Phúc đã nói: “Nếu nỗ lực bào chữa của các luật sư, sự lên tiếng của nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế chưa làm thay đổi được quan điểm của quý vị, thì cứ kết án cô ấy. Lịch sử sẽ xóa án cho cô ấy!”.

Lịch sử của Dân tộc tử tế này chẳng những sẽ xóa án cho cô ấy, mà sẽ còn vinh danh. Bà Trưng Bà Triệu là những Anh thư trong sự nghiệp chống ngoại xâm. Phạm Đoan Trang vừa dâng cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp chống ngoại xâm lại vừa nâng cao Dân trí để đất nước thoát khỏi nạn độc tài cố hữu, thì có phần còn khó khăn hơn.

Lịch sử sẽ đi nhanh chậm ra sao chưa thể tiên đoán, nhưng triều đại nào rồi cũng qua đi, nếu nước Việt ta còn thì những Anh hùng cứu quốc quý hóa của giai đoạn này nhất định sẽ phải được vinh danh. Tôi tưởng tượng, nếu bên cạnh phố Bà Triệu, đại lộ Hai Bà Trưng ở Hà Nội mà rồi cũng sẽ có một con phố hay một Đại lộ Phạm Đoan Trang thì sao? Lúc ấy những hậu duệ của tàn dư Cộng sản sẽ lấy làm tiếc rằng tiền bối của họ đã vội vã đang tâm hành hạ một Anh hùng nữ lưu, mà nếu khôn ngoan hơn một chút thì họ đã có thể tránh được điều nhục nhã ấy trước Lịch sử.

Hành hạ một người rất tử tế, rất vinh quang của đất nước, lại đã được nhiều tổ chức quốc tế vinh danh, chỉ để giữ yên cái ghế cai trị của mình thì họ đã LỖ VỐN, vì chẳng những không đạt mục đích mà còn mang tiếng xấu đáng hổ thẹn đến muôn đời.

H.S.P. (25/8/2022)

Tác giả gửi BVN.

Bi Kịch Bởi Một Chữ Tiền-Truyện ngắn

Van Pham

 GÓC SUY GẪM – Truyện ngắn phỏng dịch từ truyện ngoại quốc

Bi Kịch Bởi Một Chữ Tiền

Một người phụ nữ 28 tuổi làm việc cho một công ty ở thành phố, chồng cô và đứa con trai 10 tuổi ở quê nhà, cô hàng ngày đều đến công ty làm việc rất chăm chỉ để kiếm tiền gửi về cho gia đình.

Nhưng một ngày nọ bỗng xảy ra biến cố. Giám đốc công ty để mắt đến vẻ đẹp của cô. Ông ta đã nghĩ đủ mọi cách để theo đuổi, cũng nói với cô rằng, dẫu cho cô đã kết hôn và có con đi nữa, ông ta cũng vẫn một lòng yêu cô.

Lúc vừa mới bắt đầu, cô đã thẳng thừng cự tuyệt những lời đường mật. Về sau, ông giám đốc đó luôn tặng hoa và thường xuyên dẫn cô đi ăn. Còn hứa rằng ông sẽ ly dị vợ của mình để có thể được chung sống với cô. Cô đã tin, nhưng vẫn không từ bỏ được người chồng và đứa con của mình. Cô thường mang rất nhiều tiền về nhà.

Và chồng cô đã bắt đầu nảy sinh nghi ngờ, anh thường hay âm thầm theo dõi cô. Ngày kia, khi anh đến trước cửa phòng công ty thì nhìn thấy vợ mình đang nằm trong vòng tay của người đàn ông khác.

Đến một ngày cô đã xao động và quyết định bỏ rơi người chồng và đứa con. Anh đã tìm đến công ty để hỏi cho rõ ràng mọi chuyện. Nhưng cô im lặng, không nói một lời. Ông giám đốc kia nói: “Anh có thể cho cô ấy cái gì, anh chẳng cho được cô ấy cái gì cả, nhưng tôi thì lại hoàn toàn có thể. Cái tôi có chính là tiền”. Khi anh nghe xong, không nói được lời nào, liền lặng lẽ bỏ về.

Anh trở về ngôi nhà cũ. Cũng từ ngày hôm đó, cô không gọi điện về nhà hỏi thăm, và cũng không gửi tiền về nhà nữa. Đứa con trai còn nhỏ, thực sự không hiểu được tại sao mẹ không về nhà nữa. Rồi một ngày, đứa con trai hỏi ba nó:

– “Sao mẹ không gọi điện thoại về nhà nữa”.

Anh nói với con rằng mẹ sẽ không bao giờ trở về nữa, bây giờ cô đang sống một cuộc sống giàu sang, hạnh phúc với một người đàn ông giàu có khác rồi. Đứa con nghe xong nghĩ rằng anh đang gạt nó, bởi vì mẹ rất thương yêu nó, tình cảm hai mẹ con rất tốt kia mà.

Câu chuyện này chẳng mấy chốc đã đồn ầm lên, mọi người trong làng đều biết hết cả. Thằng bé đến trường cũng bị bạn bè trong trường chọc phá. Nó tức giận không thèm đến trường nữa, mà cầm bức ảnh chụp gia đình và 350 đồng của ba nó đi mất…

Nó mới 10 tuổi, cái tuổi qúa nhỏ để tìm mẹ giữa phố phường bao la đặc kín người qua lại. Nó muốn đích thân đi gặp mẹ để hỏi rằng có phải mẹ nó không còn cần nó nữa không. Dốc hết tâm tư, quyết đi tìm mẹ. Nó ra bến xe, đưa ra mảnh giấy có ghi địa chỉ của mẹ cho nhân viên bán vé xem, bảo vệ trạm xe đã đưa nó lên xe. Xe đưa nó lên thành phố nhưng thực sự nó không biết đến đâu để tìm.

Nó cầm mảnh giấy hỏi hêt người này đến người kia. Cuối cùn nó gặp một chú cảnh sát giao thông. Chú Cảnh sát giao thông đưa nó lên xe tắc-xi. Chiếc xe đã chở nó đến trước cổng công ty của mẹ nó. Thằng bé ngồi ở bên ngoài đợi mẹ tan ca.

Năm giờ rưỡi chiều, nó đã nhìn thấy mẹ, nhưng bên cạnh còn có một người khác nữa, nó liền chạy đến, gọi một tiếng “mẹ ơi!”

Mẹ nó lặng người đi vì sự xuất hiện bất ngờ của nó nên không nói lên lời. Đứa con tan nát cõi lòng, thất vọng tràn trề đối với mẹ…

Nó liền hỏi người đàn ông bên cạnh mẹ nó là ai. Ông giám đốc đó liền nói thẳng rằng ông là chồng của cô. Lúc đó, thằng bé vừa khóc òa lên vừa nói: “Tôi không có người mẹ như bà!”. Nói xong, liền cắm đầu cắm cổ bỏ chạy. Nó đau đớn, tuyệt vọng cứ nhắm mắt mà chạy qua một ngã tư đường, bỗng có một chiếc xe đang chạy như bay lao đến tông nó văng xa mấy mét, tài xế sợ quá, vội vã chạy xuống xe xem.

Kết quả nhìn thấy là một đứa bé, máu từ trong miệng nôn ra. Mọi người chung quanh đều chạy đến xem, có người tốt bụng liền gọi 119. Người tài xế cũng đã gọi cho cảnh sát. Xe cấp cứu đến nơi liền ôm nó lên xe. Trên xe nó cố dốc hết sức xin hỏi mượn điện thoại của bác sĩ. Nó gọi vào số của ba nó rồi gắng sức nói với ba rằng:

“Ba, kiếp sau con vẫn sẽ là con trai của ba. Nhưng con không cần người mẹ đó nữa”.

Khi ba nó chạy đến nơi thì nó đã nằm trong bệnh viện rồi. Ba nó chạy đến trước cửa bệnh viện, vừa trông thấy đứa con của mình chân anh khụy xuống, mềm nhũn hẳn ra, khó khăn lắm mới bò được đến bên cạnh giường đứa con đang nằm, anh đưa tay vuốt ve đầu của nó. Lúc đó, tất cả y tá trong bệnh viện đều khóc chảy nước mắt, cảnh sát đứng bên ngoài cửa mắt cũng ngấn lệ.

Khi anh muốn ôm con về nhà. Mẹ thằng bé đã đến. Nhưng anh không nói câu nào cả, vừa ôm lấy đứa con vừa lẩm bẩm một mình mà đi.

Mẹ nó khóc lóc thảm thiết, nói rằng:

– “Mẹ sai rồi…….mẹ sai rồi…..”

Ba nó nói:

– “Cô không sai. Chỉ là tôi vô dụng. Chúc cô hạnh phúc!”

Nói xong liền bỏ đi. Anh ôm đứa con về ngôi nhà cũ. Mọi người trong làng đều đã nghe tini, nên kéo đến xem. Khi mọi người trong làng thấy anh ôm thi thể của đứa con trai, mọi người đều không cầm nước mắt. Ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại đều khóc rất thương tâm. Khi mọi người còn đang chìm trong nỗi đau đớn cùng cực, mẹ của thằng bé đã trở về.

Người trong làng đều dùng ánh mắt khinh bỉ để nhìn cô. Ông ngoại thằng bé vừa nhìn thấy, liền đi sang đánh cô một bạt tai, nói:

– “Tao không có đứa con gái như mày”. Còn mắng cô không biết xấu hổ, là đồ hạ tiện, vì tiền mà chồng con cũng không cần.

Cô vẫn nhất quyết muốn nhìn đứa con trai mình lần cuối, nhưng không ai cho cô vào xem. Hết thảy mọi người đều ra sức xua đuổi cô. Ngay đến cha mẹ vốn là người thương yêu cô nhất cũng đuổi cô đi.

Khi cô xoay người đi, đứa em trai ruột của cô chạy đến trước mặt cô, nói: “Sao tôi lại có người chị không biết xấu hổ đến như vậy, thật khiến cho cả nhà chúng tôi cảm thấy vô cùng nhục nhã”. Mỗi một câu, tựa như một nhát dao đâm thẳng vào tim, cô vừa khóc vừa đi khỏi đó.

Trở về công ty để tìm người đàn ông đó, nhưng… Khi cô đến cổng công ty, bảo vệ liền ngăn cô lại, nói cô đã bị đuổi việc rồi, không cần phải đến công ty nữa. Lúc đó, cô đã hiểu. Gọi điện thoại của người đàn ông đó đều là khóa máy. Cô đã biết người đàn ông đó chỉ là đùa cợt với cô, cô liền ở trước cổng công ty đợi ông ta đi ra.

Giờ tan ca đã đến, nhìn thấy người đàn ông mà cô đã từng tin tưởng xuất hiện. Cô bước đến, hỏi: “Anh không còn yêu em nữa sao?”. Người đàn ông đó trả lời: “Tôi không thể ly hôn với vợ tôi được, đây là 100 vạn, cô đi đi, từ giờ trở đi đừng đến làm phiền tôi nữa”. Cô đau đớn ngồi bệt xuống đất, ông ta không thèm nhìn cô một cái liền lái xe bỏ đi.

Cô một mình bước đi trên đường như người mất hồn, nghĩ đến người chồng trước đây luôn đối xử tốt với cô, liền cầm điện thoại gọi điện cho anh, chồng cô nghe tiếng của cô liền hỏi có chuyện gì. Cô nói ông giám đốc đó chỉ đùa giỡn với cô, dối gạt cô. Chồng cô nghe xong, không nói gì cả. Cô biết rằng chồng cô sẽ không tha thứ cho cô. Bảo anh hãy tìm một người phụ nữ khác, mong anh sẽ sống vui vẻ, hạnh phúc, nói xong liền cúp máy.

Nhưng cô lại không hề biết rằng chồng cô đã khóc. Kỳ thực anh vẫn rất yêu cô. Cô tự mình đi mua một lọ thuốc bỏ vào trong bình nước uống, rồi đi tìm người đàn ông đó nói,

– “Ông không chịu trách nhiệm thì tôi sẽ tự sát.”. Cô đã uống, uống hết tất cả. Một lát sau, cô từ từ ngã xuống mặt đất, miệng sùi bọt trắng, bảo vệ vội vàng gọi cho 120 nhưng đã muộn mất rồi. Cảnh sát gọi anh đến nhận thi thể. Anh nhận thi thể về nhà. Anh chôn cô cùng với cậu con trai.

Anh đã mất đi người vợ và đứa con trai mà mình thương yêu nhất

Anh ngồi trước mộ cô và con 5 ngày 5 đêm, mãi đến ngày thứ 6, anh cảm thấy đầu óc choáng váng, rồi ngã lăn xuống đất. Khi tỉnh lại, thấy mình đang ở trên giường. Anh ngồi dậy, một mình chạy ra ngoài. Anh đi tìm ông giám đốc đó để tính sổ, anh thủ sẵn một con dao đợi ông ta ở bãi đậu xe. Đợi suốt mấy tiếng đồng hồ, cuối cùng ông ta đã đến lấy xe. Khi nhìn thấy anh, ông ta vô cùng hoảng sợ, hỏi anh muốn gì. Anh cầm con dao ra, chém 3 nhát vào cánh tay của ông ta, nói:

– “Ba nhát dao này chính là thay cho một nhà ba người chúng tôi”.

Lúc này, cảnh sát đã đến nơi. Thì ra lúc anh đến đây, anh đã gọi điện cho cảnh sát rồi. Khi cảnh sát chuẩn bị bắt, anh tự sát bằng cách cầm con dao đâm liên tiếp 7 nhát vào người mình. Anh nói với ông ta rằng: “Tôi không có tiền, nhưng tôi rất yêu cô ấy. Tôi sẽ mãi ở bên cạnh cô ấy. Tôi bằng lòng chết vì cô ấy. Ông có thể làm được không”.

Khi thi thể anh được đưa về quê nhà, người dân trong làng đều đứng đợi trước cổng làng, Vào thời khắc cảnh sát bàn giao thi thể anh cho người nhà, mọi người trong làng đều chảy nước mắt xót thương cho anh, cho gia đình anh. Còn cha mẹ anh khóc đến chết đi sống lại.

Ngày hôm sau, thi thể của anh được chôn cất, ngày hôm đó dường như ông trời cũng đang khóc vì anh. Trời đã mưa rất to. Nhưng mọi người trong làng không thiếu một người, tất cả đều dầm mưa để đưa tiễn anh. Tấm hình của anh được một người cháu ôm đi trước linh cữu. Đoàn người hướng về nghĩa trang.

Ba ngôi mộ chồng, vợ & con cùng được chôn bên cạnh nhau. Sự việc đã làm xôn xao dư luận khắp tỉnh và đến tai vợ ông giám đốc. Bà liền ly hôn với ông ta. Người đàn ông đó đã lãnh nhận hậu qủa việc mình làm. Công việc bị mất, gia đình tan vỡ…..

Tất cả đau thương đều bắt nguồn bởi một chữ “tiền”.

Thông điệp câu chuyện: “Làm người phải sống đúng với lương tri, đạo đức của một con người”. Tiền có thể từ từ mà kiếm, có tiền bạn có thể ăn ngon, mặc đẹp, có đời sống sung túc. Không có tiền, thì ăn không được ngon, mặc cũng không được đẹp. Nhưng quan trọng nhất vẫn là vui vẻ, hạnh phúc.

Tiền có thể mua được căn nhà, nhưng không mua được “ tổ ấm” !

Câu chuyện phỏng dịch từ cmoney.tw

 Thánh Monica (322-387)-Cha Vương

 Thánh Monica (322-387)

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay 27/8 Giáo Hội mừng kính Thánh Monica (322-387), người mẹ gương mẫu, đạo đức, và thánh thiện. Ngài là quan thầy của giới hiền mẫu đó. Chúc mừng, chúc mừng!

Cha Vương

Thứ 7: 27/8/2022

Thánh Monica sinh năm 322 tại Tagaste (Souk Ahrus), nước Algeria. Thuộc dòng dõi Berber nên tên Ngài là Berber. Những gì chúng ta biết được về thánh nữ đều nhờ các bút tích của con Ngài, nhất là cuốn IX bộ “tự thuật” (confessions). Cuộc đời và gương sáng của thánh nhân cho chúng ta thấy rằng: ngài đã “làm những chuyện bình thường cách phi thường”. Tại sao vậy? Sau đây là những gương sáng:

(1) Là chu toàn bổn phận. Chu toàn bổn phận cách trung thành, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác thì quả là anh hùng. Ngài đã hoàn thành sứ mạng Chúa trao trong ơn gọi làm vợ và làm mẹ. Làm vợ, thánh nhân đã hết lòng quý trọng, yêu thương và trung thủy với chồng. Làm mẹ, thánh nhân hết mực yêu thương, hy sinh cho con cái. Tận tụy giáo dưỡng con cái nên người. Khi không được như ý của mình, ngài vẫn không bỏ cuộc. Thánh nhân đã cầu nguyện và hy sinh liên lỷ cho con. Nhờ đó mà ngài đã cải hóa được Augustinô trở về với Chúa và phục vụ Giáo Hội.

(2) Là cảm hóa bằng gương sáng. Khi bị ngược đãi bởi mẹ chồng và chồng, thánh nhân đã nêu cao gương khiêm nhường, yêu thương và tha thứ. Sẵn lòng thông cảm cho tính khí của mẹ và chồng. Yêu thương, phục vụ, khiêm nhường và tha thứ là lựa chọn của thánh nhân trong những lúc khó khăn và gặp chuyện chẳng lành.

(3) Là mẫu gương cầu nguyện và hy sinh. Thánh nhân đã kết hợp với Chúa cách liên lỷ và hoàn toàn phó thác nơi Ngài. Cuộc đời của ngài với những biến cố vui buồn, thành công hay thất bại đều kết hợp với Chúa. Ngài luôn phó thác mọi sự trong sự an bài của Thiên Chúa.

(4) Là sự kiên trì và trung thành. Kiên trì trong cầu nguyện. Trung thành trong niềm tin, dù nhiều khi phải quặn đau.

Quả thật, cả cuộc đời của thánh nhân đã để lại cho chúng ta gương sáng tuyệt vời nơi những người vợ, người mẹ và cho hết mọi người.

Mời bạn hãy chọn một gương sáng của Thánh Monica và đem vào thực hành trong cuộc sống, hãy đặt hết niềm tin và hy vọng vào sức mạnh biến đổi của Chúa nhé. Đừng bỏ cuộc!

From: Đỗ Dzũng

R Ơ M – Quyên Di

Quyên Di

R Ơ M

Do một tình cảm đơn sơ, thuần khiết lúc ấu thơ, tôi rất thích rơm.

Trong những năm tuổi nhỏ được ở thôn quê, tôi thấy rơm và thích rơm một cách tự nhiên, không tìm biết lý do. Tôi thích rơm như cậu bé khác thích cái kèn làm bằng lá tre, như cô bé nọ thích con búp bê làm bằng những sợi len xanh đỏ kết lại. Tôi thích rơm, cái thích đơn thuần giản dị. Có lẽ đó là bản chất của tôi, bởi vì khi đã lớn lên, tình yêu của tôi cũng là một tình yêu giản dị. Tôi yêu vì yêu, không hỏi lý do, không cần biện bạch.

Sau ngày mùa, khi những bông lúa vàng trĩu đã được nhà nông cắt đem về kho lẫm, cánh đồng chỉ còn trơ lại rơm và rạ. Thân lúa xanh tốt ngày nào dẫn chất bổ dưỡng lên làm căng phồng những hạt lúa thơm ngát hương đồng nội, nay trở thành những cọng rơm khô vàng, rỗng và nhẹ. Tôi thích cái màu vàng ấy. Nó tươi và óng ánh như có tráng một lớp men. Màu vàng của rơm rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời, làm cho cánh đồng sau mùa gặt có một nét đẹp riêng, mà trí óc non nớt của tôi chỉ có thể cảm nhận mà không biết tìm cách mô tả cho trọn vẹn được.

Thế rồi rơm cũng được người ta đem về như một thứ phó sản của vụ mùa. Lúa vì quý nên được cất vào bồ. Rơm không quý nên chỉ được đánh đống thành từng đụn ở ngoài sân, dưới gốc những cây cau, hoặc cũng nhiều khi được dùng để phủ kín những bồ lúa của nhà nông.

Những ngày mùa đông giá rét, khi cánh đồng cỏ trơ trụi phô ra mặt đất nâu cứng nứt nẻ, trâu bò ở trong chuồng cũng run lên vì lạnh, mẹ tôi và người nhà đem rơm ra cho trâu, bò ăn. Món ăn không ngon như những ngọn cỏ xanh mượt nõn nà ngoài đồng, nhưng cũng đủ làm cho trâu, bò no lòng và ấm áp.

Riêng tôi, những ngày mùa đông giá rét ấy, lại càng thấy gần rơm và thích rơm. Đang khi những ngọn gió rét buốt chạy đuổi nhau ngoài đồng hoặc tinh nghịch chui vào những mái nhà làm tốc lên lớp cỏ tranh; đang khi những chú chim sẻ trốn thật kín trong các ống nứa ống tre, tránh cái lạnh tê buốt cắt da, thì tôi thu mình nằm gọn trong ổ rơm mà mẹ tôi đã dọn sẵn ở góc nhà. Hơi ấm tự nhiên, thơm mùi lúa chín và cánh đồng còn vương vấn, toả ra thật dễ chịu. Tôi nằm lim dim trong trạng thái nửa thức nửa ngủ, để cho trí tượng tưởng miên man. Tôi thấy như được nằm gọn trong bàn tay từ ái của đất trời. Tình yêu của đất trời nồng nàn và bát ngát, ôm ấp và sưởi ấm con người, nhưng cũng giản dị mộc mạc như cánh đồng, ngọn cỏ, sợi rơm, tiếng chim hót, làn gió nhẹ hay ánh nắng chiều. Dù chỉ là một chú bé con, nhưng tôi cũng cảm nhận được niềm hạnh phúc được làm người và được sống trên cái trái đất dễ thương, đẹp đẽ này. Về sau khi lớn, tôi đã nằm trên những chiếc giường tân tiến và tiện nghi, nhưng chưa một lần nào tôi tìm lại được cái cảm giác ấm áp, an toàn và hạnh phúc như khi nằm trên cái ổ rơm của ngày xưa còn bé.

Nằm trong ổ rơm chán, tôi ngồi dậy, co ro đi xuống bếp xem chị tôi thổi lửa nấu cơm. Chị cho rơm vào trong bếp làm mồi, ngọn lửa bùng lên rực rỡ, rồi tàn đần. Lửa rơm rất mau tàn. Nhưng ngọn lửa ấy đã bắt qua những cục than đen bóng. Chị kê cái ống thổi lửa vào bếp, chụm môi thổi. Làn hơi của chị làm cho những cục than dần dần hồng lên, cho đến lúc những cục than đen biến thành những cục than hồng rực rỡ. Hai má của chị tôi khi ấy cũng hồng, làm cho khuôn mặt thiếu nữ đương xuân của chị thêm tươi đẹp và duyên dáng…

Xem vậy mà rơm còn được dùng vào nhiều việc khác. Bạn có bao giờ thưởng thức món chân giò nấu măng chưa? Trước khi cho vào nồi nấu, người ta thui cái chân giò trong đống rơm cháy đỏ, mùi thơm trong khói lan tỏa khắp xóm. Mẹ tôi bảo chân giò không thui bằng rơm thì sẽ không thơm như vậy. Tôi kể chuyện này nghe có vẻ “phàm phu” quá phải không? Nhưng đó là một trong những niềm vui tuổi nhỏ của tôi.

Có khi rơm còn được ở… trên đầu người ta nữa. Ở trên đầu không giống như kiểu “trên đầu những rạ cùng rơm, chồng yêu chồng bảo hoa thơm cài đầu” đâu, mà là ở trên đầu mặt cách thật nghiêm chỉnh. Năm ấy bác tôi mất, cả họ để tang. Ngày đi đưa đám, tôi thấy các chị con bác mặc áo sô đội mấn trắng; các anh tôi cũng mặc áo sô chít khăn tang trắng. Anh con cả của bác thì mặc áo tang, và đội trên đầu một vành rơm, chống gậy đi giật lùi trước quan tài. Mẹ tôi giải thích cho tôi biết bác mất là chuyện đau buồn cho gia đình, không còn ai vui thích trong việc trang điểm lộng lẫy, áo quần bảnh bao nữa. Mặc áo sô, đội vành rơm để biểu lộ ra bên ngoài nỗi đau buồn bên trong. Như thế, dù được ở trên đầu người ta, rơm cũng vẫn bị xem như là một vật tầm thường, xấu xí.

Từ khi rời quê lên thành phố, rồi trối nổi theo những chuyển biến của lịch sử, cuối cùng thành một gã bỏ lại quê hương, tôi không còn dịp nào được gần gũi với rơm nữa. Nhưng mỗi khi tìm lại tuổi ấu thơ trong cơn mơ hay trong những lúc thả hồn theo kỷ niệm thiếu thời, tôi lại thấy rơm. Những sợi rơm vàng óng, nồng nàn mùi thơm hoang dã và hương lúa ngạt ngào như quấn lấy thân tôi. Hình như rơm muốn che chở cho tôi, ấp ủ lấy tôi để truyền cho tôi sự ấm áp và tình thân. Bây giờ đã lớn, nên tôi biết phân tích tình cảm của tôi để thấy rằng chính cái giản dị của rơm tạo nên một vẻ quyến rũ và làm tôi tưởng nhớ mãi, cho dù bao nhiêu hình ảnh khác của quá khứ hầu như đã tan biến trong tôi. Tôi cũng cảm nghiệm rằng tình yêu đơn sơ giản dị chính là thứ tình yêu đẹp nhất và lôi cuốn nhất.

Dịp lễ Giáng Sinh năm ngoái, tự nhiên tôi được một người bạn nhắc cho những hình ảnh về rơm, và qua bạn, tôi học được những bài học của rơm. Bạn tôi hiền như một con chim sẻ, ngây thơ như bồ câu, dễ thương như thỏ, nhưng đôi khi cũng biết tự phòng thủ như một con nhím. Và một điều chắc chắn là bạn có đời sống nội tâm thật sâu thẳm, sâu như lòng giếng nhìn không thấy đáy.

Bạn tôi sống trong một cộng đồng. Cộng đồng này có một tục lệ dễ thương lắm, cứ vào dịp Giáng sinh, mọi người bắt thăm để nói về một vật gì đó có liên quan đến máng cỏ. Bạn tôi bắt được lá thăm yêu cầu nói về rơm. Và sau dịp trình bày ấy, bạn đã nói lại cho tôi nghe những gì bạn nghĩ về rơm.

Bạn nói rằng bạn cũng đã nghĩ đến sự tầm thường của rơm, tầm thường đến độ khi đề cập đến những gì thấp kém, vô dụng, người ta gọi đó là những thứ “rơm rác.” Nhưng dù tầm thường đến thế nào đi nữa, rơm cũng không thật sự vô dụng đâu. Rơm sẵn lòng làm những công việc tầm thường nhất, khi mà người ta không có phương tiện để làm cho khá hơn. Nếu có chăn êm nệm ấm, chắc người ta không nghĩ đến chuyện nằm ổ rơm. Nhưng khi không có chăn êm nệm ấm, ổ rơm đã là nơi sưởi ấm con người trong những ngày tháng mùa Đông. Nếu có cỏ non thơm ngọt, người ta đã không nghĩ đến chuyện nuôi trâu bò bằng rơm. Nhưng khi chẳng còn cỏ non, rơm đã trở thành món ăn cho trâu bò no bụng. Không biết rằng người ta có ai hiền lành và có tinh thần phục vụ như rơm, sẵn lòng làm cho người khác những việc mà “không còn biết chạy vào đâu nữa người ta mới nhờ đến mình.”

Bạn nóị rằng khi đề cập đến lửa rơm, ai cũng có vẻ xem thường. Nhưng bạn nhìn lửa rơm ở một khía cạnh khác, và bạn thấy lửa rơm đáng quý lắm. Đáng quý vì lửa rơm mang ý nghĩa của sự hy sinh và khiêm tốn. Truớc khi có lửa củi, lửa than, người ta phải có lửa rơm. Lửa rơm tàn nhanh lắm, nhưng nếu không có lửa rơm, làm sao củi, than bén lửa? Và khi bếp đã cháy hồng, rơm chỉ còn là một nắm tro, không ai biết đến rơm nữa, người ta chỉ trầm trồ ngắm nghía những thanh củi, hòn than cháy hồng rực rỡ. Chẳng biết có mấy ai dám hy sinh và khiêm tốn như rơm, khởi đầu công việc, nhưng sau đó âm thầm lui đi và nhường lại vinh quang cho người khác?

Bạn nói đến một điều mà tôi chưa bao giờ nghĩ tới. Đó là sự trống rỗng của rơm. Trong lòng cọng rơm không chứa gì. Chính cái trống rỗng ấy làm cho rơm trở nên hữu ích. Bạn kể cho tôi nghe ngày xưa khi chưa có những địa bàn tối tân như ngày nay, người Trung Hoa đã xỏ kim nam châm vào trong một cọng rơm và thả xuống mặt nước yên lặng. Cọng rơm sẽ chỉ cho người ta biết hướng Nam hướng Bắc. Từ hình ảnh ấy, bạn nói cho tôi nghe cái cần thiết của sự trống rỗng. Hầu như ít có người biết tự làm trống mình. Tâm trí người ta thường chất chứa nhiều thứ lắm: tham vọng, mưu tính, hận thù, tranh chấp, thiên kiến… Những thứ ấy làm cho đầu óc và trái tim người ta chật chội, từ đó khó có những nhận định chính xác. Khi không có được nhận định chính xác, người ta không thể tự hướng dẫn mình và hướng dẫn người khác. Cọng rơm mà đặc thì không thể dùng để xỏ kim nam châm vào, để chỉ cho người ta biết hướng Bắc, Nam.

*

Bạn còn nói với tôi về sự đáng yêu trong cái tầm thường của rơm. Chúa Hài Nhi yêu sự khiêm hạ nên khi giáng thế Ngài đã chọn một hang đá nghèo hèn lạnh lẽo, và ngự trên một máng đựng cỏ, rơm. Vinh dự thay cho rơm, thụ tạo tầm thường “rơm rác” của trái đất, lại là vật đầu tiên được đụng chạm đến Thánh Thể Hài Nhi. Đâu còn vinh dự nào sánh bằng?

Và tôi thấy thích rơm hơn nữa. Tôi muốn giống rơm. Vì thế, tôi đã cầu nguyện với Chúa rằng: “Lạy Chúa, xin cho con biết hiền lành, khiêm tốn như một cọng rơm, để con được gần Chúa và được Chúa yêu. Xin cho trái tim con trống rỗng như một cọng rơm, để tình Chúa đổ xuống ngập tràn con tim ấy.”

Quyên Di

Các Giám mục có thể hành động và dạy dỗ những điều ngược với Giáo hoàng, còn Giáo hoàng có thể làm như vậy với các Giám mục không?-Cha Vương

Các Giám mục có thể hành động và dạy dỗ những điều ngược với Giáo hoàng, còn Giáo hoàng có thể làm như vậy với các Giám mục không?

Lại đến Thứ 6 nữa rồi, thời gian sao mà qua mau quá hả? Những calo (calories) của đồ ăn tuần trước chưa đốt hết mà bây giờ lại nghĩ tới những món mới để thư giãn và enjoy… Giản tiện thôi nhé. Chúc một ngày thật nhẹ nhõm và bình an trong tình yêu Chúa.

Cha Vương

Thứ 6: 26/08/2022

GIÁO LÝ: Các Giám mục có thể hành động và dạy dỗ những điều ngược với Giáo hoàng, còn Giáo hoàng có thể làm như vậy với các Giám mục không? Các Giám mục chỉ có thể hành động và dạy dỗ trong sự hiệp nhất với Đức Giáo hoàng, chứ không trái ngược. Về phần Đức Giáo hoàng, trong một số trường hợp cụ thể, có thể đưa ra những quyết định không có sự đồng ý của các Giám mục. (YouCat, số 142)

SUY NIỆM: Tuy nhiên Đức Giáo hoàng bị ràng buộc trong các quyết định về đức tin của Hội thánh “Những gì mà ở mọi thời, mọi nơi, và luôn được mọi người tin” (thánh Vincent Lérins) đều là cảm thức chung của Hội thánh bởi vì trong phạm vi đức tin, sự xác tín của các Kitô hữu đều được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần.

❦ Giám mục—người kế vị các tông đồ. Ngài điều khiển một giáo phận (Hội thánh địa phương). Vì là thành viên của Giám mục đoàn và ở dưới quyền trách nhiệm của Đức Giáo hoàng, ngài mang trách nhiệm với tất cả Hội thánh. Linh mục cộng tác viên của Giám mục để loan báo Tin Mừng và cử hành các bí tích. Linh mục thi hành nhiệm vụ trong Hội thánh trong hiệp nhất với các linh mục khác, dưới sự điều khiển của Giám mục. (YouCat, số 142 t.t.)

LẮNG NGHE: Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình. (Cv 20:28)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin cho con một tình yêu vâng phục để bước theo chân Chúa dưới sự điều khiển của Giám mục là người có trọng trách chăm sóc cho phần rỗi của đoàn chiên.

THỰC HÀNH: Bạn có biết tên Giám mục địa phương của bạn là gì không? Nếu không thì bạn hãy để ý lắng nghe trong mỗi Thánh Lễ, vị Linh mục đều nêu tên cầu nguyện cho ngài đó. Mời bạn đọc 10 Kinh Kính Mừng cầu nguyện cho vị Giám mục của bạn nhé.

From: Đỗ Dzũng