Luật sư Nguyễn Ngọc Bích [1944-2023]

Báo Tiếng Dân

Huy Đức

16-3-2023

Ảnh: Luật sư Nguyễn Ngọc Bích và một trong những học trò của ông, luật sư Ngô Thanh Tùng [ảnh xin từ facebook Tung Ngo]

Chiều qua, khi nghe tin, luật sư Nguyễn Ngọc Bích từ trần, tự nhiên tôi nhớ tới cuộc nói chuyện với ông gần 20 năm trước, rồi, tìm mở kinh thánh, tìm lại bài giảng về Tám Mối Phúc Thật:

“Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa… Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.”

Như rất nhiều trí thức miền Nam khác, ba ngày trước tổng tuyển cử, 26-4-1976, Luật sư Nguyễn Ngọc Bích bị bắt. Ông Bích từng làm cho cơ quan trợ giúp Mỹ USAID trong chương trình “cấp căn cước cho người từ mười sáu tuổi trở lên” và, năm 1972, sau khi tốt nghiệp cử nhân luật, ông nhận được học bổng đi học thêm một năm tại Đại học Harvard, Mỹ. Tháng 4-1975, ông là “chuyên viên đặc nhiệm” cho Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản.

Trước đó, 2-1976, ông Nguyễn Ngọc Bích được mời lên cơ quan công an. Cán bộ hỏi cung đặt vấn đề: “Tại sao 15-4 mới được nhận vào mà Tổng cục đã cho làm chuyên viên đặc nhiệm ngay?”. Làm sao mà ông trả lời được câu hỏi đó.

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích bị giam trong xà lim loại dành cho tử tù suốt một năm và khi bị hỏi cung: “Anh biết gì về kế hoạch hậu chiến; trong đó, anh được giao nhiệm vụ gì?”, ông đoán ra, “Cách mạng nghĩ ông là người do Mỹ cài lại”. Hai năm sau, khi đã được đưa ra phòng giam chung, khi “được” thẩm vấn, luật sư Nguyễn Ngọc Bích nói: “Lưng tôi bị gù thế này làm sao được tuyển làm tình báo!” Khi ấy, những người hỏi cung dường như vô tình nói ra lý do khiến ông bị bắt: “Anh là người do Mỹ đào tạo, anh sẽ chống chúng tôi đến cùng”.

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích bị giam cầm suốt 13 năm, từ 1976 cho đến năm 1988.

Khi được hỏi làm sao mà ông có thể đi qua được những tháng năm oan khuất, luật sư Nguyễn Ngọc Bích nói với tôi, “Kinh thánh. Hằng ngày, tôi đọc đi đọc lại Tám Mối Phúc Thật.”

“Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa…”

Trong hơn 30 năm biết ông, tôi chưa bao giờ thấy ông than phiền, oán trách. Sau khi ra tù, ông chọn ở lại Việt Nam. Và, khi đất nước đổi mới, bằng trí tuệ và kiến thức học được từ các “thế lực thù địch”, ông đã giúp những nhà lãnh đạo ở trong cái thể chế đã bắt bỏ tù mình, giúp các thế hệ luật sư hiểu như thế nào là pháp quyền, như thế nào là kinh tế thị trường, bằng cách nào để dẫn dắt một công ty đúng cách.

Từ hôm qua, rất nhiều luật sư có tiếng từ Bắc chí Nam cùng viết trên Face gọi ông là “THẦY”, dù nhiều người trong số họ chỉ học ông qua những cuốn sách của ông và qua những bài ông viết trên báo chí, chủ yếu trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, từ thập niên 1990s.

Khi cầm bút, dù là những vấn đề mới mẻ, phức tạp ông đều trình bày giản dị và mạch lạc. Khi ngồi với những học trò trẻ tuổi, cho dù vẫn là con người uyên bác ấy, ông trở nên rất ân cần, gần gũi. Chính ông tự phá bỏ khoảng cách trí tuệ và hàng rào thế hệ để những người trẻ tuổi vẫn có thể dễ dàng tiếp cận và học được từ ông.

Cho dù, đóng góp rất nhiều để xây dựng nền tảng pháp luật, luật sư Nguyễn Ngọc Bích luôn tin rằng:

“Nền kinh tế thị trường kiểu gì thì cũng chỉ hoạt động được trên nền tảng đạo đức cá nhân. Mỗi người tự mình phải biết kiềm chế mình. Nền kinh tế của ta đang phát triển nhưng vấn đề đạo đức cá nhân chưa được coi trọng. Muốn có đạo đức thì phải bắt đầu từ giáo dục…”

“Ai có lòng khó khăn, ấy là phúc thật… Ai hiền lành, ấy là phúc thật… Ai khao khát nhân đức trọn lành, ấy là phúc thật… Ai thương xót người, ấy là phúc thật… Ai giữ lòng sạch sẽ, ấy là phúc thật… Ai làm cho người hòa thuận, ấy là phúc thật… Ai chịu khốn nạn vì đạo ngay, ấy là phúc thật…”

Tôi đọc thêm một lần “Tin Mừng” để cố gắng hiểu ông. Giờ đây thì ông đã coi “Nước của Đức Chúa Trời là của mình” rồi.

Sống trong thế giới biết ơn

Xin biết ơn những người khiển trách ta, vì các người giúp ta tăng trưởng định tuệ.

* Xin biết ơn những người làm ta vấp ngã, vì các người khiến năng lực của ta mạnh mẽ hơn.

* Xin biết ơn những người bỏ rơi ta, vì các người đã dạy cho ta biết tự lập.

* Xin biết ơn những người phản bội và đâm sau lưng ta, vì các người đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta.

* Xin biết ơn những người lường gạt ta, vì các người tăng tiến kiến thức cho ta.

* Xin biết ơn những người làm hại ta, vì các người đã tôi luyện tâm trí của ta.

* Xin biết ơn tất cả những người khiến ta được Kiên Định Thành Tựu.

Câu chuyện con lừa.

Một ngày nọ, con lừa của một ông chủ trang trại sảy chân rơi xuống một cái giếng. Lừa kêu la tội nghiệp hàng giờ liền. Người chủ trang trại cố nghĩ xem nên làm gì. Cuối cùng ông quyết định: con lừa đã già, dù sao thì cái giếng cũng cần được lấp lại và không ích lợi gì trong việc cứu con lừa lên cả. Ông nhờ vài người hàng xóm sang giúp mình. Họ xúc đất và đổ vào giếng.

Ngay từ đầu, lừa đã hiểu chuyện gì đang xảy ra và nó kêu la thảm thiết. Nhưng sau đó lừa trở nên im lặng. Sau một vài xẻng đất, ông chủ trang trại nhìn xuống giếng và vô cùng sửng sốt. Mỗi khi bị một xẻng đất đổ lên lưng, lừa lắc mình cho đất rơi xuống và bước chân lên trên. Cứ như vậy, đất đổ xuống, lừa lại bước lên cao hơn. Chỉ một lúc sau mọi người nhìn thấy chú lừa xuất hiện trên miệng giếng và lóc cóc chạy ra ngoài.

Cuộc sống sẽ đổ rất nhiều thứ khó chịu lên người bạn. Hãy xem mỗi vấn đề bạn gặp phải là một hòn đá để bạn bước lên cao hơn. Chúng ta có thể thoát khỏi cái giếng sâu nhất chỉ đơn giản bằng cách đừng bao giờ đầu hàng.

S.T.

Biden phạt hãng dược nâng giá quá mức lạm phát với 27 loại thuốc

Báo Nguoi-viet

March 15, 2023

WASHINGTON, DC (NV) – Chính phủ Biden hôm Thứ Tư, 15 Tháng Ba, thông báo sẽ phạt các hãng dược phẩm tăng giá vượt mức so với tỷ lệ lạm phát đối với 27 loại thuốc, nêu bật ưu tiên nhằm giảm giá thuốc theo toa cho hầu hết người Mỹ, một ưu tiên chính của đảng Dân Chủ, theo Reuters.

Người cao niên đang thụ hưởng Medicare sẽ thấy khoản tiền trả “chia sẻ chi phí” (sharing cost) giảm trung bình từ $2 đến $390 cho mỗi liều thuốc được sử dụng cho các bệnh nhân mắc một số loại ung thư, nhiễm nấm, mụn, thấp khớp, bệnh thận mãn tính và nhiễm trùng đường tiết niệu, cùng các bệnh khác.

Luật Giảm Lạm Phát mà Tổng Thống Biden ký ban hành năm 2022 trừng phạt các hãng dược phẩm tăng giá nhanh hơn mức lạm phát đối với người từ 65 tuổi trở lên đang thụ hưởng chương trình Medicare. (Hình: Mario Tama/Getty Images)

Thông báo trên của Bộ Y Tế được đưa ra trước khi Tổng Thống Joe Biden đọc bài diễn văn theo dự kiến tại Las Vegas, Nevada, vào cuối ngày Thứ Tư nhằm nêu bật những nỗ lực của ông trong việc tìm cách giảm chi phí hằng ngày của người Mỹ trong bối cảnh lạm phát cao hơn mong muốn.

Luật Giảm Lạm Phát, một đạo luật tiêu biểu của Tổng Thống Biden, được ký ban hành vào ngày 16 Tháng Tám, 2022, bao gồm các điều khoản trừng phạt các hãng dược phẩm nếu tăng giá nhanh hơn mức lạm phát đối với người khuyết tật hoặc từ 65 tuổi trở lên đang trong quy chế thụ hưởng chương trình Medicare của chính phủ.

Theo một báo cáo của Bộ Y Tế, sẽ có khoảng 3.4 triệu người thụ hưởng chương trình Medicare tiết kiệm được $234 triệu tiền túi, hoặc trung bình là $70 mỗi người, đối với vaccine vào năm 2021 nếu một điều khoản khác của Luật Giảm Lạm Phát có hiệu lực vào thời điểm đó. Luật quy định các loại vaccine nằm trong Part D, bao gồm vaccine ngừa bệnh zona và uốn ván, miễn phí cho người cao niên kể từ Tháng Giêng năm nay.

Theo bà Chiquita Brooks-LaSure, quản trị viên của trung tâm Centers for Medicare and Medicaid Services, cho biết điều khoản kiểm soát giá thuốc trong luật này là một “áp lực mạnh mẽ” nhằm ngăn cản các công ty dược phẩm tăng giá.

Một báo cáo gần đây của Bộ Y Tế, vào năm 2021, giá của khoảng 1,200 loại thuốc cần toa bác sĩ đã tăng nhanh hơn tốc độ lạm phát.

“Tôi có thể nói rằng đó là một mũi tên bắn hai mục đích, vì nếu các công ty dược phẩm vượt quá mức lạm phát, họ sẽ trả tiền giảm giá cho chính phủ liên bang,” bà Brooks-LaSure nhận xét.

“Nhưng điều quan trọng, mà tôi muốn chú ý là điều khoản của luật khiến các công ty dược phẩm không tăng chi phí, và đó là điều chúng ta muốn thấy trong chương trình giảm giá lạm phát của Medicaid, và giờ đây chi tiết cụ thể trên 29 loại thuốc như thế thậm chí còn mạnh mẽ hơn trong việc hỗ trợ chăm sóc y tế và đời sống của giới cao niên,” bà Brooks-LaSure nhấn mạnh. (MPL) 

CHẢY MÃI, CHẢY ĐẾN THA NHÂN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy!”.

“Người đàn ông đã cùng tôi ăn tối đã giết anh trai tôi.”  Đó là lời của một phụ nữ xinh đẹp tại một bữa tiệc.  Ruth đã kể về John, người đã sát hại anh cô như thế nào.  John thụ án 18 năm; sau đó, ổn định tại một trang trại, nơi cô gặp anh sau 20 năm vụ án.  Được thôi thúc bởi Chúa Kitô, cô tìm John, nói lời tha thứ.  Nhiều người sẽ không gọi đây là một câu chuyện thành công: John chưa trở lại đạo!  Nhưng tại một bữa tiệc khác, giọng John vỡ ra khi nói: “Kitô hữu là những người duy nhất mà bạn có thể giết con trai họ; họ sẽ biến bạn thành một phần của gia đình họ.  Tôi không biết “Ai đó” trên cao, nhưng chắc chắn, Ngài đang săn lùng tôi!”  Câu chuyện của John còn dang dở; John vẫn chưa tin.  Nhưng như Chúa Kitô đã chết cho bạn, bất kể bạn từ chối hay chấp nhận Ngài, Ruth “tha nợ” cho John mà không cần điều kiện.  Thậm chí, cô còn trở thành bạn của anh!

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cũng nói đến nợ nần!  Người nợ Chúa; người nợ người!  Người tha cho người, nếu muốn Chúa tha cho mình.  Tha thứ, như dòng suối phải chảy, ‘chảy mãi, chảy đến tha nhân!

Bài đọc Đaniel cho thấy con người nợ Chúa thật nhiều!  “Vì tội lỗi, chúng con đã thành dân nhỏ nhất, đã nếm mùi ô nhục trên khắp hoàn cầu.”  Tin Mừng cho thấy, người cũng nặng nợ với người: một người nợ lớn, một người nợ nhỏ; cả hai không trả nổi, nài xin ‘chủ mình’ hoãn lại.  Chủ chạnh thương, tha cho người thứ nhất món nợ cực lớn, nhưng người này không tha cho bạn mình món nợ cực nhỏ.

Và Chúa Giêsu kết luận, “Cha Tôi trên trời cũng xử với các con đúng như thế!”  Điều đó không có nghĩa là Thiên Chúa hẹp hòi đến độ sẽ xét xử người, như ‘người cư xử với người;’ Lời Chúa muốn nói, ai không mở lòng với anh em, không thể mở ra cho Thiên Chúa!  Như vậy, không tha thứ là đánh mất những gì đã nhận được; suối tắc nghẽn, ao tù tanh tưởi.  Vì thế, người nợ lớn đã bất ngờ được tha, nay bất ngờ bị rút lại.  Ai biết tha thứ, người ấy giữ được thứ tha!

Điều Chúa Giêsu đang nói là sự cho đi và nhận lại.  Điều thú vị là, chúng ta thường dễ dàng nghĩ đến việc ‘tha cho người’ hơn là xin ‘tha cho mình.’  Con nợ thứ nhất xem ra chân thành, “Anh sấp mình dưới chân chủ;” thực ra, anh chỉ là một diễn viên giỏi!  Bởi sau khi được xoá khoản nợ khổng lồ, anh bủn xỉn với con nợ cỏn con của anh; thay vì thương xót, “Y tóm lấy, bóp cổ mà nói, ‘Hãy trả nợ cho ta!’” Tại sao?  Bởi lẽ y không động lòng trước tình yêu vô hạn và xót thương của chủ.

Tha thứ, nếu là thật, phải ảnh hưởng đến mọi sự nơi chúng ta.  Nó là một điều gì đó phải ‘xin, cho; nhận và cho lại.’  Như một dòng suối phải chảy, ‘chảy mãi, chảy đến tha nhân.’

Anh Chị em,

“Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy!”  Sai lỗi là việc của người, thứ tha là việc của Trời.  Nếu Chúa Giêsu ra lệnh cho chúng ta phải tha bảy mươi lần bảy, thì làm sao Ngài thoát khỏi việc ‘không vô hạn’ trong sự tha thứ của Ngài?  Ý nghĩa biết bao Thánh Vịnh đáp ca, “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu của Ngài!”  Bao lâu không đi vào quỹ đạo xót thương của Thiên Chúa, bấy lâu chúng ta không thể tha thứ cho người khác.  Không phải tha ‘bảy lần’ nhưng tha ‘vô hạn lần bảy.’

Hãy nhìn lên thập giá, chiêm ngắm trái tim bị đâm thâu của Chúa Kitô, một trái tim khơi mỏ mạch mọi ân sủng thứ tha qua các Bí Tích!  Hãy kết nối, khai thông đời mình vào dòng chảy thần linh ấy và như một dòng suối phải chảy, ‘chảy mãi, chảy đến tha nhân,’ chúng ta trào tràn sức sống, lòng thương xót và sự thứ tha của Thiên Chúa cho anh chị em mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Đấng rửa sạch tội con vốn ‘đỏ hơn son’ bằng Máu Châu Báu của Ngài, cho con biết ném tội của anh chị em con xa thật xa như Chúa đã ném tội lỗi con tận mãi ngàn khơi!”  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim

Chấm dứt ngay chiến tranh và rời đi. Hết!

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Ngọc Chu

15-3-2023

Cựu Phó Thủ tướng Alfred Koch. Nguồn: Форум свободной России

Trận chiến Bakhmut đang rất khốc liệt. Nhưng kết cục toàn cuộc chiến đã được cựu Phó thủ tướng Liên bang Nga Альфред Кох khẳng định trong bài viết ngày 12/3/2023: CHẤM DỨT NGAY CHIẾN TRANH VÀ RỜI ĐI. HẾT!

Một năm mười lăm ngày chiến tranh trôi qua. Không có gì mới xảy ra trên chiến trường trong các ngày đêm vừa qua. Không có gì. Ngoại trừ, bọn chiếm đóng Nga đã đến đất của người khác và giờ đây đang dùng hết sức lực bám lấy những gì không thuộc về chúng. Và thậm chí chúng muốn chiếm đoạt một cái gì đó. Không có tội ác nào mà chúng chưa phạm phải. Chúng đã tiêu rất nhiều tiền, đóng vào quan tài hàng trăm nghìn người mình và người khác. Chúng đã tiêu diệt tương lai đất nước mình và danh tiếng của nhân dân mình.

Và được gì đổi lại? Không có gì. Không có gì ngoài sự căm ghét và khinh miệt của loài người. Những lãnh thổ chiếm hữu lố bịch mà họ dùng để an ủi cư dân của họ không thể gây ấn tượng ngay cả đối với một kẻ ngu ngốc bệnh tật. Đó là đống đổ nát hoàn toàn, hàng đống thiết bị hỏng, và những bãi mìn bất tận, mà để rà phá hết chúng cần đến nhiều thập kỷ. Nhưng ngay cả những chiếm hữu này cũng không thể được đưa vào thành tài sản. Cần phải bảo vệ chúng với cái giá mất mát to lớn, bởi vì, không ai trên thế giới công nhận quyền của họ đối với những vùng đất này, và họ được thông báo rõ ràng rằng, chiến tranh sẽ còn tiếp tục chừng nào họ còn chưa đi khỏi nơi đó.

Bây giờ tất cả đều hiểu rõ rằng họ sẽ phải đối mặt với hàng thập kỷ bị cô lập và khinh miệt. Rằng cuộc sống của cả một thế hệ người Nga đã bị ném vào nhà vệ sinh và giờ đây nó biến thành một cuộc sinh tồn buồn tẻ cùng sự ghen tị bất lực đối với tất cả nhân loại còn lại. Rằng họ sẽ phải trả giá đầy đủ cho sự kiêu ngạo và tự phụ hoang dã mà họ đã tự mua vui cho mình trong suốt những năm trước.

Họ đã không còn nghĩ đến chiến thắng nào nữa. Họ đang điên cuồng tìm cách để bảo toàn hiện trạng đang nhìn thấy. Họ cần tự an ủi mình với ít nhất một trận hòa. Tâm lý của họ sẽ không chịu đựng nổi sự thất bại. Nhưng họ sẽ phải uống chén đắng của thất bại đến tận đáy. Và họ sẽ cần rút ra kết luận từ những gì họ đã làm và họ đã kết thúc ở đâu.

Nga, Nga…. Người đã làm gì với chính mình… Chúa ơi… Làm thế nào các anh, những người đồng bào cũ của tôi, chịu đựng được sức nặng của mọi tội ác của các anh khi quy mô tội ác mà các anh đã gây ra cuối cùng bắt đầu chạm đến chính các anh… Các anh đã làm hỏng mọi thứ. Cuộc sống của chính mình, cuộc sống của con mình. Sự tôn trọng của thế giới còn lại. Tương lai của mình. Tất cả của cải mà Chúa ban cho các anh, các anh đã tiêu vào việc giết chóc và hủy diệt. Không có gì dùng để cải thiện cuộc sống của các anh. Làm cho nó đẹp hơn, ý nghĩa hơn, thú vị hơn. KHÔNG. Tất cả mọi thứ đã được phụng sự cho ý tưởng trả thù và bành trướng.

Mong muốn thoát khỏi sự giám hộ áp sát của phương Tây với những khiếu nại bất tận về nhân quyền, các anh đã quyết định, rằng có thể bơi lội tự do. Nhưng sự thật đáng buồn nằm ở chỗ, tách xa phương Tây, các anh đã bơi vào nanh vuốt của Trung Quốc. Và phía trước đang đợi chờ các anh sự sực hiểu: thế nào là tù nhân của họ. Nga quá nhỏ để đóng một vai trò độc lập. Nó không thể là trung tâm quyền lực. Và người Nga sẽ phải phát hiện điều khám phá đáng buồn này.

Bốn mươi lăm năm tôi sống ở Nga chắc chắn ở một mức độ lớn đã hình thành tôi như một nhân cách. Trong những năm này đã có rất nhiều điều tốt đẹp. Thậm chí, có lẽ, nhiều hơn so với điều xấu. Và để biết ơn vì điều này, tôi muốn nói với những người Nga rằng tôi vẫn yêu các anh. Và tôi thương hại các anh.

Và tôi xin các anh: hãy nghe tôi, chứ không phải Putin. Vì Chúa, hãy lắng nghe những gì tôi sắp nói với các anh. Nga là một quốc gia không lớn, phát triển trung bình với cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế cổ xưa. Người dân ở Nga nói chung có trình độ học vấn tồi và, ngoại trừ một số trường hợp hiếm hoi, chuyên nghiệp thấp.

Chịu sự áp bức khủng khiếp của cường quyền trong hơn một trăm năm (với những khoảng thời gian gián đoạn ngắn), người dân Nga đã hình thành một tâm lý độc đáo, cốt lõi của nó là hai câu tục ngữ: “Matxcova không tin vào nước mắt” và “Hôm nay bạn chết, còn Tôi chết vào ngày mai.” Con người hoàn toàn bị tước đoạt sự đồng cảm và mối liên hệ máu mủ. Lòng trắc ẩn và lòng thương xót (ngay cả đối với con cái và cha mẹ của mình) đối với họ dường như là sự hèn nhát không thể tha thứ. Còn lòng thương hại và sự tha thứ – là dấu hiệu của chứng trí nhớ yếu.

Một nhân dân như vậy – không tồn tại. Chỉ có những câu thần chú tuyên truyền về sự vĩ đại và vinh quang mà trên thực tế đã không có từ lâu. Nói một cách hình tượng, nhân dân đã chết trong các nông trại kiểu Stalin thậm chí còn nhiều hơn trong chiến tranh. Tất cả mọi thứ mà giai cấp thống trị của Putin, từ bản thân ông ta cho đến thành viên cuối cùng của FSB – đó là rác thải của nhân loại. Chỉ là rác và chất tẩy. Lợn hoặc cừu cũng có thể quản trị đất nước với cùng một thành công như vậy.

Hãy nhìn vào khuôn mặt của những kẻ thiểu năng này: Patrushev và Gerasimov. Lẽ nào có thể có những nghi ngờ nào đó thuộc về bổn phận của họ? Với một nền kinh tế như vậy, với nhân dân như vậy và với tầng lớp ưu tú như vậy, nước Nga sẽ không bao giờ có thể tương xứng với hình ảnh mà nó tự vẽ ra cho mình. Không có lực, sức mạnh và sự vĩ đại – không. Vâng, và chưa bao giờ có. Đây đơn giản chỉ là rối loạn tâm thần hàng loạt. Một bệnh lý tàn khốc gây ra bởi nhiều năm tuyên truyền.

Vì những điều nêu trên, các anh sẽ không bao giờ thắng cuộc chiến này. Tin tôi đi. Tôi hoàn toàn chân thành mong điều tốt cho các anh. Hãy chấm dứt nó ngay và rời đi. Hết. Cả quân đội và những thường dân tự coi mình là người Nga. Bằng cách này các anh giữ lại được mạng sống. Của mình và của những người khác. Ra đi, các anh sẽ thôi gánh nặng những tội lỗi vốn đã không thể chịu đựng nổi của mình.

Các anh nghĩ rằng tôi đủ ngây thơ để mong đợi các anh lắng nghe tôi? KHÔNG. Không một chút nào. Tôi viết bài này chỉ để giải tỏa lương tâm của mình. Bởi vì tôi biết những gì sẽ tiếp theo. Và vì vậy tôi coi đó là nghĩa vụ của tôi phải cảnh báo các anh. Dù biết rõ rằng không ai nghe tôi.

Và sau đó sẽ là thất bại khủng khiếp cho quân đội Nga. Và một số lượng khổng lồ quan tài sẽ đến nước Nga. Và kinh tế bị huỷ hoại. Và bị cô lập hoàn toàn. Và những góa phụ và người tàn tật sẽ tràn ngập đường phố các thành phố Nga. Và thậm chí có thể Nga sẽ biến mất khỏi bản đồ thế giới. Còn Ukraine và chúng tôi sẽ cùng nhau ăn mừng chiến thắng. Bởi vì chiến thắng là không thể tránh khỏi. Bởi vì chiến thắng sẽ thuộc về chúng tôi. Bởi vì việc làm của chúng tôi là chính nghĩa và do đó kẻ thù sẽ bị đánh bại. Vinh quang cho Ukraine!

_______

Nguyên bản tiếng Nga: https://mayday.rocks/nemedlenno-prekratite-vojnu-i-uhodite-vse

Альфред Кох: Миновал один год и пятнадцать дней войны. Ничего нового за прошедшие сутки на фронте не случилось. Ничего. Кроме того, что русские оккупанты пришли на чужую землю и теперь изо всех сил цепляются за то, что им не принадлежит. И даже хотят еще что-то захватить. Нет такого преступления, которого они еще не совершили. Они потратили уйму денег, угробили сотни тысяч своих и чужих людей. Они уничтожили будущее своей страны и репутацию своего народа.

И что взамен? Ничего. Ничего кроме ненависти и презрения человечества. Те смехотворные территориальные приобретения, которыми они утешают своих обывателей — не могут впечатлить даже клинического идиота. Это полные руины, груды битой техники и бесконечные минные поля, на разминирование которых нужно теперь потратить десятилетия. Но и эти приобретения нельзя положить себе в актив. Их нужно защищать ценой огромных потерь потому, что никто в мире не признает их право на эти землю и им четко было сказано, что война будет продолжаться до тех пор, пока они не уйдут оттуда.

Теперь уже всем понятно, что им предстоят десятилетия изоляции и презрения. Что жизнь целого поколения россиян спущена в сортир и теперь она превратится в унылое выживание и бессильную зависть ко всему остальному человечеству. Что им сполна придется заплатить за свою спесь и дикое самомнение, которым они тешили себя все предыдущие годы.

Они уже не помышляют ни о какой победе. Они лихорадочно ищут возможности сохранить видимость статус кво. Им нужно успокоить себя хотя бы ничьей. Поражения их психика не выдержит. Но им придется испить горькую чашу поражения до дна. И им нужно будет сделать выводы из того, что они натворили и где они оказались.

Россия, Россия…. Что ты с собой сделала… Боже мой… Как вы, мои бывшие сограждане, выдержите тяжесть всех своих преступлений, когда масштаб совершенного вами зла начнет до вас, наконец, доходить… Вы просрали все. Свою жизнь, жизнь своих детей. Уважение остального мира. Свое будущее. Все то богатство, которым вас наделил Господь, вы потратили на убийства и разрушения. И ничего — на то, чтобы улучшить свою жизнь. Сделать ее красивее, осмысленнее, интереснее. Нет. Все было посвящено идее реванша и экспансии.

Желая уйти от назойливой опеки Запада с его бесконечными претензиями по поводу прав человека, вы решили, что возможно свободное плавание. Но грустная правда состоит в том, что оттолкнувшись от Запада, вы приплыли в лапы Китая. И вам еще предстоит узнать каково это: оказаться в его плену. Россия слишком мала, чтобы играть самостоятельную роль. Она не может быть центром силы. И это печальное открытие россиянам еще только предстоит сделать.

Сорок пять лет, которые я прожил в России безусловно в значительной степени сформировали меня как личность. В этих годах было много хорошего. Даже, наверное, больше, чем плохого. И в благодарность за это, я хотел бы вам сказать россиянам, что по-прежнему люблю вас. И жалею вас.

И прошу вас: послушайте меня, а не Путина. Ради всего святого: послушайте, что я вам скажу. Россия — это небольшая, среднеразвитая страна с плохой инфраструктурой и архаичной экономикой. Народ в России в основном плохо образован и, за редким исключением, низко квалифицирован.

Подвергаясь (с небольшими перерывами) больше ста лет чудовищному гнету власти, российский народ сформировал уникальную ментальность, стержнем которой стали две пословицы: “Москва слезам не верит” и “Умри ты сегодня, а я — завтра”. Люди начисто лишены эмпатии и кровных уз. Сострадание и милосердие (даже к своим детям и родителям) кажутся им непростительным малодушием. А жалость и прощение — признаком слабоумия.

Народа, как такового — не существует. Есть лишь пропагандистские заклинания о величии и славе того, чего в реальности уже давно нет. Образно говоря, народ умер в сталинском колхозе даже в большей степени, чем на войне. Все что представляет из себя путинский правящий класс, от него самого, до последнего фээсбэшника — это отходы человечества. Просто мусор и помои. С таким же успехом страной могли бы управлять свиньи или бараны.

Посмотрите же на лица этих олигофренов: Патрушева и Герасимова. Разве могут быть на их счет какие-то сомнения? Располагая такой экономикой, таким народом и такой элитой Россия никогда не сможет соответствовать тому образу, который она сама себе про себя нарисовала. Никакой мощи, силы и величия — нет. Да и не было никогда. Это просто массовый психоз. Жестокая патология, вызванная многолетней пропагандой.

В связи с вышесказанным, вы никогда не выиграете в этой войне. Поверьте мне. Я совершенно искренне желаю вам добра. Немедленно прекратите ее и уходите. Все. И военные, и те из гражданских, кто считает себя россиянами. Этим вы спасете жизни. И свои и чужие. Уйдя, вы перестанете утяжелять свои и так уже неподъемные грехи.

Вы думаете, я настолько наивен, чтобы рассчитывать на то, что вы меня послушаетесь? Нет. Нисколько. Я этот пост пишу лишь для того, чтобы очистить свою совесть. Потому, что я знаю, что будет дальше. И поэтому считаю своим долгом вас предупредить. Даже прекрасно понимая, что никто меня не слышит.

А дальше будет страшное поражение российской армии. И огромное количество гробов, которые пойдут в Россию. И экономическая разруха. И полная изоляция. И вдовы и инвалиды заполонят улицы российских городов. И может быть даже Россия исчезнет с карты мира. А Украина и мы вместе с ней будем праздновать победу. Потому, что она неизбежна. Потому, что она будет за нами. Потому, что наше дело правое и поэтому враг будет разбит. Слава Украине!

NGƯỜI TÙ ĐẶC BIỆT CỦA TRẠI TÙ SUỐI MÁU: TỶ PHÚ NGUYỄN ĐÌNH QUÁT

Quảng Ngãi Nghĩa Thục

Tỷ phú Nguyễn Đình Quát là nhân vật nổi tiếng trong kinh doanh và chính trị tại miền Nam Việt Nam khoảng đầu thập niên 1960. Thời Đệ II VNCH không nghe thấy tên ông, nhưng sau 30-4-1975, ông vẫn bị VC bắt vào tù… cải tạo bởi quá khứ “bóc lột” nhân dân và… chống Cộng của ông.

Thật sự cựu Tỷ phú Nguyễn Đình Quát ở tù Chí Hòa, chứ không ở tù Suối Máu, nhưng vài tháng gần cuối năm 1980, không rõ lý do gì VC chuyển ông về nằm Trạm Xá trại Suối Máu cùng gần một chục người khác, trong đó có Nhạc sĩ Đại tá Nguyễn Văn Đông. Tôi hân hạnh gặp ông Nguyễn Đình Quát tại đây một thời gian tạm đủ để nghe ông kể chuyện đời và thấy cách sống của ông trong hoàn cảnh của một kẻ sa cơ mà vẫn giữ tròn tiết tháo!

Cựu Tỷ phú Nguyễn Đình Quát sinh trưởng ở Quảng Bình, có nhân dạng như cố TT/VNCH Ngô Đình Diệm, nhưng xuất thân từ gia đình nghèo khó. Năm 1935, ở độ tuổi thanh niên ông cùng với một người bạn đồng trang lứa rủ nhau mua vé xe lửa vào Saigon tìm đường mưu sinh. Nguyễn Tất Thành (tục danh của Hồ Chí Minh) cũng cùng hoàn cảnh nhưng dùng ngụy danh viết sách lếu láo tự đề cao (đồng nghĩa… tự sướng) rằng “Bác Hồ thời thanh niên vào Saigon tìm đường… cứu nước”, thật ra đến Saigon anh ta làm bồi trên chiếc tàu viễn dương của Tây!

Đặt chân chốn Saigon phồn hoa đô hội, hai chàng thanh niên người Quảng Bình như lạc vào mê hồn trận, không biết cách nào để đùm bọc nhau nên đành chia tay để mà sống, thay vì… đoàn kết sẽ dễ chết! Anh bạn đi đường anh bạn, Nguyễn Đình Quát quyết định phiêu lưu ra… Cap Saint Jacque (tức Vũng Tàu) không có chủ đích gì rõ ràng là ngoạn cảnh hay tìm việc làm. Nhưng lần đầu tiên ra biển Vũng Tàu lại là lần quyết định cuộc đời của ông một cách kỳ lạ.

Vừa đến Vũng Tàu, anh thanh niên Nguyễn Đình Quát đi ngay ra bãi trước, lang thang ngắm cảnh mà không để ý, suýt chạm phải một phụ nữ Pháp hãy còn trẻ đang dắt tay một đứa bé gái. Anh vội xin lỗi và buột miệng khen đứa bé gái “ Elle est très belle fille”.

Người phụ nữ Pháp rất vui và ngạc nhiên nghe giọng nói tiếng Pháp rất chuẩn của anh thanh niên Việt Nam, bèn hỏi và trả lời anh vài điều nữa. Qua cuộc đối đáp, anh Quát mới vỡ lẽ mình vừa chạm mặt một phu nhân của viên Thiếu tá Quân Trấn Trưởng Vũng Tàu và rất sung sướng nhận lời bà, vào ngày hôm sau giã từ nhà trọ, đến nhà bà Thiếu tá phu nhân làm gia sư cho đứa bé gái chính là con của bà!

Nhưng không đầy một tháng sau, anh Quát được lịnh viên Thiếu tá Pháp phải rời khỏi Vũng Tàu trong vòng… 24 giờ mà sau đó theo tiết lộ của bà Thiếu tá phu nhân vì… ghen bóng ghen gió và đồng thời không muốn chứa một thanh niên bản xứ lạ mặt ngay trong nhà, suốt ngày gần gũi vợ đẹp con ngoan của mình! May cho anh, bà nầy động lòng trắc ẩn viết một thư tay, giới thiệu anh Quát với một người bạn Pháp đang làm Trưởng Công Trường Xây Dựng bên núi Nhỏ Vũng Tàu.

Tại đây, anh Quát được thâu nhận làm công nhân, rồi nhờ tiếng Pháp khá giỏi của anh, cộng với bản chất thông minh, cần mẫn, anh vừa làm vừa học nghề xây dựng. Anh Quát leo dần lên nấc thang nghề nghiệp, mấy năm sau anh trở thành nhà thầu khoán, mở đầu sự nghiệp tại Saigon, rồi lan ra khắp Đông Dương lúc đó là thuộc địa của Pháp.  Đến năm 1942, anh Quát giờ là ông Triệu phú Nguyễn Đình Quát, dần dần là Tỷ phú vào những năm đầu của nền Đệ I VNCH. Ông tham gia chính trường:

1/ Vào Quốc Hội, ông Nguyễn Đình Quát từng lãnh đạo Phái Đoàn Quốc Hội VNCH công du Anh Quốc, được Nữ Hoàng Anh tiếp đón trọng thể.

2/ Ứng cử chức vụ Tổng Thống VNCH ngày 9-4-1961 gồm 3 liên danh:

. Ngô Đình Diệm/Nguyễn Ngọc Thơ,

. Nguyễn Đình Quát/Nguyễn Thành Phương,

. Hồ Nhựt Tân/ Nguyễn Thế Truyền.

Sau 30-4-1975, ông Quát bị VC bắt đi tù… “cải tạo” vì quá khứ tỷ phú và… “ngụy quyền”. Ông từ chối sự bảo lãnh có điều kiện của các thân nhân ruột thịt đang là cán bộ cao cấp trong guồng máy nhà nước CS Hà Nội. Họ ra điều kiện ông phải viết bản “nhận có tội với nhân dân để xin cách mạng khoan hồng”! Ông thà vào tù, bỏ lại sản nghiệp, trong đó có một tòa nhà đồ sộ 27 phòng ở đường Trương Minh Giảng. Việt Cộng giam ông tại Khám Chí Hòa và vì ông bịnh (!?), nên chúng đưa ông đến Trạm Xá của Trại Suối Máu.

Dù đang ở tù, nhưng vốn giầu có, ba bà vợ (trong đó có bà thứ ba ở bên Tây) chăm sóc ông đầy đủ bằng mấy gánh đồ thăm nuôi nặng kình kịch được bạn tù phụ giúp mang vào cho ông. Các bạn tù tha hồ tiếp sức ông tiêu thụ những món ngon, bổ béo dành cho người tù gốc… tỷ phú.

Một hôm, ông ra phía sau Trạm Xá chợt thấy một bầy vịt của cán bộ VC mập tròn, lông trắng phau. Ông nhờ anh Cựu Thiếu tá Dương X. (hiện ở Seattle) mua giùm và làm thịt cho ông ăn bất kể ông vừa chứng kiến tận mắt bầy vịt đó đang rỉa những con… giòi trắng hếu mà anh tù chăn vịt vừa vớt lên từ thùng phân, rửa sạch và còn cựa quậy! Ông chỉ gắp vài miếng thịt vịt tượng trưng, còn lại đãi hết cho anh em.

Một hôm, anh em bỗng dưng nghe ông ngâm Truyện Kiều của Nguyễn Du từng đoạn này sang đoạn kia. Nghĩ rằng ông có trí nhớ rất tốt, anh em bày ra trò đọc thơ Kiều để thử tài. Một anh đọc một đoạn thơ Kiều tự chọn, ông liền đọc đoạn trước và đoạn sau, cứ như thế tới lượt anh em khác. Cuối cùng, anh em cũng vô cùng ngạc nhiên bái phục một nhà kinh doanh Tỷ phú như ông Nguyễn Đình Quát lại thuộc vanh vách toàn bộ Truyện Kiều gồm trên ba ngàn câu đến như thế!

Độ hai năm sau khi tôi ra trại về nhà thì nghe tin cựu Tỷ phú Nguyễn Đình Quát đã từ trần tại Bịnh Viện Đồng Nai (Biên Hòa) do mắc chứng bịnh nặng gì đó từ Trạm Xá Suối Máu chuyển sang. Bịnh viện Đồng Nai không nhận kịp thời thuốc men và phương tiện chữa trị tối tân của thân nhân ông từ bên Pháp gởi về, nên đành bó tay.

Một số ít anh em cựu tù Suối Máu biết đến cựu Tỷ phú Nguyễn Đình Quát và với lòng ngưỡng mộ một kẻ sĩ thà vào tù để chịu khổ và chết, cương quyết không ký tên cái gọi là “bản nhận tội” của VC áp đặt như là một điều kiện làm sỉ nhục ông nói riêng và các kẻ sĩ VNCH nói chung! Tự hào thay một cựu tù Suối Máu Nguyễn Đình Quát giữ vững tiết tháo cho đến cuối đời mình.

Người H.O. Già.

HIỆN TƯỢNG SÁM HỐI CỦA NHỮNG THẰNG NGƯỜI CÓ ĐUÔI!

Quảng Ngãi Nghĩa Thục

NGUYỄN THIẾU NHẪN

 

Trong bài “Hiện tượng sám hối”, Mặc Lâm, biên tập viên đài RFA đã phỏng vấn nhà văn, nhà phê bình Trần Mạnh Hảo về hiện tượng những lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam lên tiếng phủ nhận những gì mà họ theo đuổi trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

 

Theo nhà văn Trần Mạnh Hảo thì: “Ông Phó Thủ Tướng Trần Phương là một người cũng đã tận tụy đi theo cách mạng. Làm đến Phó Thủ Tướng nhưng khi các ông ngồi lại để góp ý cho đảng thì ông ấy nói rằng cuộc đời trong mỗi cá nhân để vượt qua những sự kiện quan trọng trong đời mà cứ phải nói dối người thân, nói dối gia đình, nói dối mọi người đến mấy lần thì đến khi về già đã thấy ngượng, thấy xấu hổ lắm. Nhưng Đảng Cộng Sản của chúng ta từ khi sinh ra đến giờ toàn nói dối mà không biết tại sao đảng không biết ngượng, không biết xấu hổ,không biết sám hối”.

 

Thực ra, không phải tới bây giờ mới có những nhận xét “động trời” này! Những chuyện “Đảng CSVN” nói dối không biết ngượng miệng đã xảy ra từ thời con trăn miền Bắc chưa nuốt trọn con nai miền Nam rồi bị bội thực “xã hội chủ nghĩa theo định hướng kinh tế thị trường” cho tới nay.
Trước ông Phó Thủ Tướng Trần Phương rất lâu, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, người cộng sản gạo cội, con cưng một thời của Đảng CSVN đã phải nhận xét rằng người Cộng Sản bị phân đôi:

 

“Ngồi với nhau thì trao đổi chân thật, thì nói một đàng; mà khi họp lại bàn bạc, viết lên báo chí thì lại nói một nẻo. Trong mỗi người Cộng Sản có hai con người: con người thật và con người giả. Làm sao có thể xây dựng một xã hội mới với những con người giả. Làm sao có thể xây dựng một cái gì tốt đẹp và bền vững trên một nền tảng giả?”

 

Nhận xét của “ông bác sĩ cộng sản” Nguyễn Khắc Viện đem áp dụng vào “ông nhà thơ cộng sản” Tố Hữu thì không sai một chút nào: Chính ông ta đã là người đã làm cho bao nhiêu cuộc đời của những văn nghệ sĩ dính líu vào vụ Nhân văn – Giai phẩm bị “rạn vỡ. bị ruồng bỏ và bị lưu đày”; nhưng về cuối đời thì ông ta lại nói những lời “nhân nghĩa bà Tú Đễ” khiến ai nghe cũng muốn ứa gan và khinh bỉ về chuyện nói láo trắng trợn không biết ngượng của một kẻ đã từng “hét ra lửa, mửa ra khói” đối với những trí thức và văn nghệ sĩ hàng đầu miền Bắc.

 

Không ai tố cáo chồng chính xác bằng vợ. Người cộng sản tố cáo người cộng sản thì chắc chắn phải là sự thật. Ông Bùi Quang Triết, tức cố nhà văn Xuân Vũ là người miền Nam tập kết ra Bắc, sau khi thấy rõ mặt thật của thiên đường xã hội chủ nghĩa do “Bác” Hồ xây dựng, nhà văn bèn “tung cánh chim tìm về tổ ấm”. Ông nhà văn “chiêu hồi” Xuân Vũ khi định cư tại Hoa Kỳ đã viết về những nạn nhân của nhà thơ Tố Hữu, người đã từng làm Phó Thủ Tướng của nước Cộng Hoà Xã Nghĩa Việt Nam như sau:
“… Ai cũng biết ở miền Bắc có hai nhà trí thức lớn nhất dân tộc Việt Nam: Đó là cụ Nguyễn Mạnh Tường và cụ Trần Đức Thảo. Cụ Nguyễn được phép sang Paris chơi vài tháng đâu hồi 92 thì phải. Về Hà Nội cụ viết cuốn “Kẻ bị khai trừ”. Người ta hỏi, cụ không sợ bị tù à? Cụ bảo tôi 82 tuổi rồi còn sợ gì?

 

Cụ Trần cũng được Hà Nội cho sang Paris công tác (gì đó không hiểu – vận động trí thức Pháp và trí thức nước ta chăng?). Ở đây cụ đã nói chuyện trước nhiều loại thính giả. Trong một cuộc nói chuyện cụ bảo: “Chính Mác sai!” Người ta hỏi tại sao?

 

Cụ bảo: “Mác lấy các điểm trong duy tâm luận của Hégel (không phải Angels) ra làm duy vật biện chứng. Duy tâm áp dụng trên trời dù có sai cũng chẳng hại ai, còn duy vật đem ra dùng trên mặt đất sẽ làm chết người. (Mà chết người thật! Chết hàng trăm triệu người chớ không ít). Chỉ vài hôm sau, cụ qua đời.

 

Ai cũng biết Nhóm Nhân văn – Giai phẩm gồm toàn văn nghệ sĩ ưu tú của dân tộc đi kháng chiến 9 năm trở về Hà Nội, hãy còn chân ướt chân ráo đã quay ra chống Đảng quyết liệt: Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt.

 

Phần lớn là đảng viên. Thế có lạ không?

Tại sao họ không yêu Đảng của họ nữa? Hỏi tức là trả lời vậy.
Nhạc sĩ Văn Cao vừa mới qua đời. Trước khi nhắm mắt, ông nói: “Bây giờ tôi không còn sợ gì nữa. Tôi cứ nói…. Tố Hữu đã ‘phạt’ tôi 30 năm không sáng tác được gì”.

 

Đau đớn cho ông là năm 1994, trong một buổi lễ phát phần thưởng về âm nhạc, ông được xếp hạng 13 (gần hạng bét) đáng lẽ phải là hạng nhất, không có hạng 2 đến hạng 10.

 

Trên đây tôi vừa liệt kê một vài trường hợp trí thức văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa chống Đảng, thà chịu khổ nhục nhận “hình phạt đày ải” của đảng Cộng sản, chớ không thay đổi thái độ với nó kể từ khi họ bắt đầu “ghét” Đảng. Nhìn kỹ lại không thấy ai nói “ghét” thành “yêu” đối với CS bao giờ. Những người trước kia yêu, nay cũng ghét Đảng.

 

Khi đọc những bài tường thuật về các buổi nói chuyện của cụ Trần Đức Thảo ở Paris, tôi mới thấy não lòng. Một triết gia độc nhất của Việt Nam được người ngoại quốc kính nể trên thế giới lại không được dùng đúng chỗ ở chính quê hương mình.

 

Phải biết rằng chính cụ cũng mê Mác-xít khi còn ở Paris nên cụ đã xin về Việt Nam để phục vụ đất nước trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, xây dựng thiên đàng. Về đến nơi thì than ôi! Thiên đàng đâu không thấy chỉ thấy tang thương địa ngục. Nhiều người đứng ở ngoài xã hội chủ nghĩa cứ tưởng nó là thiên đường.

 

Nhưng khi nhảy vào sống với nó rồi mới biết mặt mũi nó mồm ngang, miệng dọc ra sao. Chừng đó có muốn thối lui cũng không được. Phải dũng cảm ghê gớm mới dứt nổi “đường tơ”. Nếu Mác bảo tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc con người thì Mác-xít chính là thuốc độc giết chết con người. Và tác hại vô cùng cho dân tộc nào cưu mang nó. Picasso về già mới trả thẻ đảng. Howard Fast cũng xin ra đảng lúc gần đất xa trời. Phải khó khăn lắm mới nhận ra được mặt thật của nó. Chẳng thế mà dân Liên Xô bị bịp trên 70 năm?

 

Tôi cũng đã sống 10 năm trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tôi không có lý luận như cụ Trần, nhưng bằng cảm tính nảy ra trong sinh hoạt hàng ngày, trước tiên tôi thấy chủ nghĩa Mác nó kỳ cục. Nếu biết trước nó như thế này thì không ai đi đánh Tây làm gì. Bởi vì như Nguyễn Chí Thiện nói (đại ý):
“So với Đảng thì móng vuốt Thực dân êm dịu gấp 10 lần!”

 

Nhưng đã lỡ nhúng chàm rồi, có nhiều người đành cam chịu, không nói ra, để cho những người hậu tiến mắc lầm như mình. Dại rồi nên ngừa cho người khác đừng dại như mình.

 

… Người Cộng Sản hễ nói là nói láo. Nhưng trước đây vẫn có nhiều người tin. Tin rằng chính sách hợp tác xã, tổ chức quốc doanh đều tuyệt vời, tin rằng Liên Xô là số dách. Nay thì dân chúng đã thấy rõ giữa miền Bắc và miền Nam ai hơn ai, giữa Liên Xô và Hoa Kỳ ai đi trước ai (những 50 năm).
Tất cả nhân loại đều đã bừng mắt trước một sự thực vô cùng rõ rệt: chủ nghĩa

 

Cộng sản chỉ là một sự ngu xuẩn và chính những kẻ theo đuổi nó gần 1 thế kỷ nay cũng không hiểu nó là cái gì…”
*
Nhà thơ cộng sản Tố Hữu đã chết!

 

Nhà văn Xuân Vũ “tay trót nhúng chàm” theo cộng sản – như lời tự thú của ông, sau đó đã từ bỏ thiên đường cộng sản, đã chết!

 

Những người trong nhóm Nhân Văn – Giai phẩm mà cuộc đời của họ đã bị ông Tố Hữu làm cho “rạn vỡ, bị ruồng bỏ và bị lưu đày” cũng đã chết!
Bi thảm nhất là cái chết của ông Nguyễn Hữu Đang, kẻ đã dựng lễ đài để ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn. Cả cuộc đời của ông đã bị trù dập đến tận cùng bằng số: “nhà” của ông là một lõm sâu bằng thân mình ông cạnh một khóm tre làng, cứ như là một huyệt mộ của ông ngay khi còn sống. Sinh kế của ông là mỗi ngày đi nhặt các bao thuốc để đổi cóc, nhái từ bọn trẻ con trong làng. Và ông đã sống như thế cho đến khi nhắm mắt lìa đời.
Viết đến đây tôi cảm thấy tim mình đau nhói.

 

“Tôi không biết khóc bao giờ
Mà sao giọt lệ ấm bờ mi thâm?

– nói theo cách nói của một nhà thơ nào mà tôi đã quên tên.
Những người trí thức, những văn nghệ sĩ của chế độ, đã góp phần xây dựng chế độ ngay từ đầu mà còn bị ruồng bỏ, bị trừng phạt thê thảm, khủng khiếp đến như thế thì còn nói gì đến những người đã từng đối đầu với chế độ!
*

 

Hình như nói dối là cái “gen” di truyền từ ông Hồ Chí Minh đến các lãnh tụ thừa kế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Người thừa kế xuất sắc cái “gen” nói dối di truyền của “Bác” Hồ là nhà thơ Tố Hữu – nói dối không biết ngượng miệng, nói dối không chớp mắt, nói dối cứ như thiệt!

 

Cái “gen” nói dối của “Bác” Hồ, của cố Phó Thủ Tướng Tố Hữu đang di truyền qua thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chủ tỊch nước Trương Tấn Sang và tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

 

Ông nói chống tham nhũng thì lại là Vua Tham Nhũng!

 

Ông thì tuyên bố “trừ sâu trong nồi canh”; nhưng chắc chắn là sẽ có hàng trăm bầy sâu do ông ta… đẻ ra vì ông ta là Vua Sâu Bọ!

 

Và ông Tổng bí thư Mạc Phú Trọng thì lúc nào cũng lăm le tự trói tay, trói chân quỳ lết đem giang san gấm vóc của tổ tiên đem dâng cho giặc phương Bắc để giữ vững ngai vàng!

 

Tài liệu tham khảo:
– “Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ”, tiểu luận của Nguyễn Việt Nữ.
– “Thằng Người Có Đuôi” một truyện ngắn viết về Trường Chinh (?) cố Tổng Bí Thư CSVN của nhà văn Thế Giang.

NGUYỄN THIẾU NHẪN

Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. (Mt 5:17)

Một ngày tràn đầy hồng ân và ân sủng của Chúa nhé bạn.

Cha Vương

Thứ 4: 15/03/2023

TIN MỪNG: Ông Mô-sê nói với dân rằng: “Giờ đây, hỡi Ít-ra-en, hãy nghe những thánh chỉ và quyết định tôi dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành. Như vậy anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà ĐỨC CHÚA, THIÊN CHÚA của cha ông anh em, ban cho anh em. (Đnl 4:1)

SUY NIỆM: Có những người cho rằng đạo Công Giáo khó khăn và khắt khe quá, làm cái gì cũng phải theo luật: luật tự nhiên, luật Thiên Chúa, luật luân lý, luật Giáo Hội, luật phụng vụ, luật giáo xứ, v.v. Nếu nhìn vào những khía cạnh của luật không thì có vẻ nặng nề và phiền phức đấy. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI nói rằng: “Thiên Chúa đã nắm lịch sử trong tay, Người giữ tôi trên tay, nhưng Người cũng để tôi tự do, để tôi tự mình trở nên một kẻ yêu hay chối từ tình yêu.”

Bạn là một thụ tạo của Thiên Chúa. Tuy rằng Chúa ban cho bạn món quà tự do. Tự do ở đây không phải là muốn làm gì thì làm nhưng mà là tự do để sống trong một “khuôn khổ” để được tự do và hạnh phúc—yêu mến Chúa và tha nhân.

Lề luật là phương tiện chứ không phải là mục đích. Nó giúp con người sống bác ái, quảng đại, xả kỷ đối với nhau. Chính vì thế, càng yêu thương, chúng ta càng chu toàn lề luật. Vì lề luật là để phục vụ con người, chứ không phải con người nô lệ lề luật.

Nhưng, cuộc sống không phải ai cũng hiểu được như vậy, có những người đã dùng lề luật để đàn áp con người, có những người luôn dùng lề luật làm thước đo cho người khác, họ quên rằng lề luật trên hết mọi lề luật là YÊU THƯƠNG…

Mình để ý có nhiều người rơi vào tình trạng nệ luật: giữ luật để được người khác khen, để cho người lớn khen thưởng. Hoặc có những người giữ luật vì sợ bị phạt, sợ bị khiển trách v.v…Thái độ giữ luật này vẫn còn non nớt lắm. Chúa không muốn bạn giữ luật như thế mà Ngài muốn bạn trưởng thành, vững chắc và giữ luật vì tình yêu, chứ không giữ luật không ý thức, máy móc, không trưởng thành vì sợ hãi, vì sợ khiển trách, không được khen thưởng vv…

LẮNG NGHE: Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. (Mt 5:17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin cho con biết tuân giữ lề luật một cách trưởng thành vì lòng yêu mến Chúa chứ không phải vì sợ phạt, sợ bị khiển trách để được vào miền đất hứa mà Chúa đã hứa ban cho những ai lắng nghe và thực hành luật Chúa.

THỰC HÀNH: Hãy sống và thực hành luật yêu thương nhé.

Luật Yêu Thương – Mai Thảo,Thanh Sử 

From: Đỗ Dzũng

Trần Trung Đạo: Việt Nam buồn lắm em ơi

Diễn Đàn Thế Kỷ

Nhạc phẩm Tình Bơ Vơ của Lam Phương được sáng tác trước năm 1975. (Hình Tài liệu)

Chuyện ca sĩ Tuấn Ngọc sửa lời nhạc của Tình Bơ Vơ qua rồi. Chắc hôm nay ông đang hối hận trong lòng. Trước ông đã có nhiều ca sĩ cùng thời với ông hát bài này trong nước nhưng họ không sửa lời. Âu đó cũng là một bài học cho ông.

Hát sai lời hay sửa lời không phải chỉ xảy ra lần đầu. Nhiều ca sĩ vô tình hát sai nhưng cũng có ca sĩ cố tình hát sai. Ca sĩ Khánh Ly trong bài Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn thu lần đầu năm 1979 đã sửa “đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly” thành “đâu rộn ràng giọng hát Thái Thanh” để bày tỏ sự kính trọng dành cho ca sĩ đàn chị của mình. Đó là một cách sửa lời đáng quý.

Nhưng trường hợp của ca sĩ Tuấn Ngọc thì khác. Trong video, rõ ràng ông đã cố tình sửa hai chữ quan trọng nhất trong bản nhạc từ “Việt Nam” sang “Chiều nay”.

Ca sĩ Tuấn Ngọc nhìn vào bản nhạc để ngay trước mặt và còn đeo kính lão nữa. Dù sao, để công bằng cho ca sĩ Tuấn Ngọc, người viết ‘google’ câu “chiều nay buồn lắm em ơi“ nhiều lần để biết đâu ai đó đã sửa trước và ông gặp vận xui nên đã dùng bản sai đó. Nhưng không có. Ông cố tình hát “Chiều nay buồn lắm em ơi”.

Sửa những chữ khác không sao nhưng thay chữ “Việt Nam” bằng “Chiều nay” thì khác. Dư luận khắt khe, có khi nặng lời không cần thiết nhưng họ không có lý do riêng gì để thù hằn ca sĩ Tuấn Ngọc mà chỉ ghét thế lực mà họ nghĩ ca sĩ Tuấn Ngọc vừa thỏa hiệp. Dù ghét bao nhiêu cũng không nên mạt sát vì mạt sát là hành động của những người tuyệt vọng.

Do đó, trong chiều sâu và thực chất của vấn đề, sự phẫn nộ vừa qua không phải là phẫn nộ giữa người dân với ca sĩ Tuấn Ngọc mà giữa người dân với đảng Cộng sản. Những người phê bình ca sĩ Tuấn Ngọc nghĩ rằng ông “mặc áo giấy” để làm vừa lòng “ma”. Phê bình ca sĩ Tuấn Ngọc là một cách phê bình đảng mà không sợ bị tù.

Người viết cũng không nhắm vào cá nhân ca sĩ Tuấn Ngọc mà chỉ mượn câu chuyện thời sự có liên quan đến ông để viết về một quan tâm lớn hơn, đó là tính thỏa hiệp.

Khái niệm thỏa hiệp (compromise) được dùng trong mọi lãnh vực để chỉ một sự nhân nhượng giữa hai bên tranh chấp mong đạt đến một điểm có thể cùng chấp nhận. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp thỏa hiệp chỉ có tính đơn phương, một chiều, tự khuất phục, tự hạ thấp giá trị của mình để lấy lòng người khác, thế lực khác.

Nhạc sĩ Vũ Thành An biện hộ cho ca sĩ Tuấn Ngọc: “Các bài hát cũ được truyền từ người nọ qua người kia, không có nguyên bản, không tham khảo Nhạc Sĩ nên sai lời là phổ biến. Ca Sĩ khi hát thường tìm lời trên Internet. Những gì trên Internet cũng là sao chép lại.”

Lời biện hộ này không đủ tính thuyết phục. Ít thuộc nhạc và chưa từng hát Tình Bơ Vơ như người viết bài này mà còn biết trong nhạc phẩm đó có câu “Việt Nam buồn lắm em ơi” nói chi là một ca sĩ đã hơn nửa thế kỷ sống bằng nghề ca hát. Ông có thể chưa hát nhưng hẳn đã nghe đồng nghiệp hát không phải một lần mà nhiều lần.

Một bản nhạc, một bài thơ hay một bài văn đều có tâm hồn và tâm hồn được thể hiện bằng những câu nổi bật làm người đọc sẽ nhớ lâu. Trong nhạc phẩm Tình Bơ Vơ câu nổi bật là “Việt Nam buồn lắm em ơi”.

Nhạc sĩ nổi tiếng ở miền Bắc là Phú Quang từng bị trù dập suốt 10 năm chỉ vì câu “đâu phải bởi mùa thu” nhưng ông nhất định không thay lời bài hát mà còn chửi đám tuyên huấn là “ấu trĩ”. Nhạc sĩ Phú Quang không thỏa hiệp và đã thắng.

Các nghệ sĩ Lộc Vàng, Phan Thắng Toán và Văn Thành bị kết án 10 năm tù chỉ vì hát những bản tình ca, đa số là về mùa thu, của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, nhưng không ai đọc chuyện các anh sửa lời bài hát dù đang sống trong xích xiềng sắt máu của chế độ Cộng sản thập niên 1960. Ba nghệ sĩ trong nhóm Lộc Vàng không thỏa hiệp và bước ra khỏi nhà tù như những người chiến thắng.

Một ngày khi chế độ Cộng sản ra đi, âm nhạc là lãnh vực được thay đổi nhanh chóng và dễ dàng nhất. Ngay hôm nay trên đường phố Sài Gòn, trong những quán nhạc, những quán cà phê đều hát nhạc Việt Nam Cộng Hòa và đặc biệt là nhạc lính Việt Nam Cộng Hòa. Bên cạnh những Tình Ca, Hướng Về Hà Nội, các nhạc phẩm Những Rừng Lá Thấp, Anh Không Chết Đâu Em, Trăng Tàn Trên Hè Phố v.v… đang được hát. Nhạc Việt Nam Cộng Hòa là một phần trong đời sống tinh thần của người dân thuộc nhiều thế hệ khắp ba miền. Các em, các cháu có thể chưa hiểu hết nội dung nhưng chắc chắn biết Việt Nam đã từng có một thời tự do và đáng yêu như thế.

Có lẽ hôm nay ca sĩ Tuấn Ngọc đang tự trách phải chi mình cứ giữ nguyên và hát một cách tự nhiên. Nhưng giấu đi hai chữ “Việt Nam” làm cho vấn đề không chỉ trở nên trầm trọng mà còn xúc phạm đến mọi người Việt Nam có ý thức và tình cảm dân tộc.

“Việt Nam” hai tiếng rất thiêng liêng nhưng cũng đầy đau thương và nhức nhối.

Tiếng súng đã ngưng 47 năm nhưng mỗi người Việt trong cũng như ngoài nước, ở mức độ khác nhau, đều còn mang trong tâm hồn một vết thương chưa lành nằm phía dưới làn da mỏng. Họ sống có vẻ bình thường nhưng một hạt muối, một mũi kim, một cơn gió mạnh có thể sẽ làm vết thương đang mưng mủ vỡ ra.

“Việt Nam buồn lắm em ơi” không chỉ là câu nhạc của nhạc sĩ Lam Phương mà cả một khung trời, một tâm cảm của con người và một vấn nạn chưa giải quyết xong của đất nước.

Những kẻ làm cho “Việt Nam buồn lắm em ơi” đang sống trong các biệt thự cao sang, khi chết được chôn trong các nghĩa trang rộng 55 ngàn mét vuông như trường hợp Trần Đại Quang, con cái họ học trung học tư ở Mỹ, học đại học tư ở Mỹ, mua nhà giá hàng triệu dollar bằng tiền mặt ở Mỹ. Tiền đâu nếu không phải tham nhũng từ mồ hôi, nước mắt và cả máu của đại đa số người dân bị trị.

Sau 47 năm nhưng cuộc chiến vẫn chưa tàn. Các thành phần dân tộc chống độc tài đảng trị cũng đang một lớn dần. Họ không còn cô đơn, lẻ loi, đơn độc như những ngày sau 1975 ở nhà thờ Vinh Sơn, Sài Gòn hay ở chùa Dược Sư, Cần Thơ. Sức mạnh của người dân không thua kém gì sức mạnh của đảng. Họ tận dụng mọi thành quả của cuộc cách mạng tin học và khai thác mọi kẻ hở của bộ máy cai trị để chống lại bạo quyền. Dĩ nhiên trong đó có việc chống lại những kẻ a dua, toa rập và thỏa hiệp với bạo quyền.

Đảng có nhà tù nhưng người dân có lương tri. Đảng có bộ máy tuyên truyền lừa bịp nhưng người dân có sự thật. Cuộc đấu tranh giữa công lý và bạo lực rất cam go và có thể còn kéo dài khá lâu nhưng đảng cũng biết không nhà tù nào đủ lớn để nhốt hết được lương tri.

Nhà tù Cộng sản có giới hạn không gian trong khi lương tri là cả một dòng sông lịch sử dài mang tâm hồn Việt Nam bao la bát ngát chảy qua nhiều thế hệ. Dòng sông đó vẫn chảy và vẫn đang bồi đắp phù sa khát vọng tự do dân chủ cho hôm nay và mai sau.

Sau 30 tháng 4, 1975, khi chủ trương đốt sách, đảng nghĩ chỉ cần nửa thế kỷ khi các thế hệ chiến tranh qua đời hết sẽ không còn ai nhắc đến Việt Nam Cộng Hòa, nhắc đến sách vở, âm nhạc, thơ ca được sáng tác trước 1975.

Nửa thế kỷ sắp qua nhưng Việt Nam Cộng Hòa không chỉ được nhắc nhở mà đang sống hào hùng trong giáo dục, văn học, âm nhạc, thi ca và lý luận chính trị. Sự thật như ánh sáng mặt trời có thể nhất thời bị che khuất bởi đám mây đen nhưng không mất. Tần Thủy Hoàng, Stalin, Hitler đều đốt sách nhưng cũng đều không che giấu được tội ác của mình.

Chế độ Cộng sản tại Việt Nam chỉ là một chế độ tạm thời. Cơn bão sẽ qua đi và những ngọn lúa Việt Nam sẽ đứng dậy. Wojciech Jaruzelski của Ba Lan biết điều đó. Janos Jozsef Kadar của Hungary biết điều đó. Họ là những hung thần của một thời chuyên chính vô sản nhưng cuối cùng đã phải đầu hàng trước lương tri của dân tộc họ và của loài người yêu chuộng tự do. Việt Nam rồi cũng thế.

“Việt Nam buồn lắm em ơi” là sự thật hôm nay.

Tùy theo tầm hiểu biết và nhận thức của mỗi người, một chị bán hàng rong hay một nhà nghiên cứu chính trị chiến lược dù không nói ra nhưng đều công nhận “Việt Nam buồn lắm em ơi”.

Thân phận Việt Nam trong lòng một chị bán hàng rong và một nhà nghiên cứu có một điểm băn khoăn giống nhau là không biết ngày mai sẽ ra sao. Ngày mai gia đình chị sẽ ra sao. Ngày mai đất nước anh sẽ ra sao. Ngày mai dân tộc chúng ta sẽ ra sao.

Nhà nghiên cứu nhìn sang Cambodia, nhìn sang Philippines, nhìn sang Đài Loan, nhìn ra những dàn hỏa tiễn đặt trên bảy căn cứ quân sự dưới dạng “đảo nhân tạo” của Trung Cộng trên Biển Đông đang chĩa vào Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn và lo cho tương lai dân tộc sẽ về đâu. Việt Nam như con ếch “ổn định” trong nồi nước nóng của Tập Cận Bình đang đun. Lửa mỗi ngày một bốc cao hơn. Nước mỗi ngày một nóng hơn. Với tình cảnh này, sớm hay muộn, nếu không tìm cách nhảy ra, ếch Việt Nam cô đơn sẽ bị luộc chết trong nồi Đại Hán.

Chị bán hàng rong cũng thế. Chị nhìn đàn con ốm yếu, nhìn bếp lửa tối âm u, nhìn căn nhà tôn dột nát và lo cho gia đình mình, các con rồi sẽ ra sao. Chúng có cơ hội đến trường như bao nhiêu đứa trẻ khác hay không. Cho dù đủ sức học thì tiền đâu để đóng học phí, để ăn, để sống cho tới khi ra trường. Mùa đông nào cũng lạnh nhưng con nhà nghèo sẽ lạnh hơn và đêm nhà nghèo sẽ dài hơn.

Phân tích từ phạm vi quốc tế cho đến gia đình để thấy Việt Nam cần thay đổi tận căn bản và cần sự góp sức của mọi người còn quan tâm đến vận nước. Thỏa hiệp với chế độ là phản bội lợi ích của đại đa số người dân Việt Nam.

Dòng văn minh nhân loại đã chảy qua những sa mạc ở Bắc Phi và Trung Đông như Tunisia, Libya, Ai Cập v.v.. và Mùa Xuân Arab (The Arab Spring) đang có ảnh hưởng tích cực tới Việt Nam. Các cuộc cách mạng dân chủ Arab là những cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử loài người được hướng dẫn bằng cách mạng tin học. Trong cuộc cách mạng xã hội lần này, không cần ai phải “xếp bút nghiên”, không cần ai phải “biệt kinh kỳ”. Cuộc tranh đấu để bào mòn chế độ, cô lập chế độ và loại bỏ chế độ đang diễn ra ngay trước mắt mọi người dưới nhiều hình thức.

Vô số việc cần làm và nên làm. Một nhóm bạn mang tình thương đến cho các cháu mồ côi, một nhóm bạn khác quyên góp từng áo mùa đông cho các cháu vùng cao, một nhóm bạn mở trường dạy chữ, mỗi người một việc, đơn giản nhưng tràn đầy ý nghĩa. Một khi nhận thức được nâng cao, tình thương được lan tỏa rộng, hận thù và nghi kỵ sẽ tan dần đi như khói như sương.

Đảng đang ở trong thế thủ chỉ còn trông cậy vào nhà tù và bộ máy tuyên truyền đang mất dần tác dụng. Các thành phần dân tộc chống thỏa hiệp với chế độ có mặt ở khắp nơi và đang thắng thế.

“Việt Nam buồn lắm em ơi” nên Việt Nam phải thay đổi để sống còn với thời đại. Mỗi người trong điều kiện và khả năng của mình nên thuận theo đà phát triển của văn minh để góp phần làm thay đổi xã hội Việt Nam thay vì thỏa hiệp với giới cầm quyền để kéo dài chế độ độc tài đảng trị.

Về nước sống dưới sự cai trị của đảng Cộng sản là thỏa hiệp với chế độ dù người đó là ai và nhân danh bất cứ lý do gì. Nhưng trong khi sống và hành nghề trong lòng chế độ cũng nên đặt ra cho chính mình một lằn đỏ tránh vượt qua. Lằn đỏ đó chính là tư cách và trách nhiệm của một người Việt Nam đối với tương lai dân tộc và các thế hệ đi sau.

Trần Trung Đạo

CHA STEFAN GẶP MA và CUỘC DÕI TÌM TIỂU SỬ NGƯỜI KHUẤT MẶT

LM Stefan Starzynski, gp Arlington tiểu bang Virginia.

Một đêm nọ, tôi đang nằm ngủ trên giường trong phòng riêng, tôi còn đang ở trạng thái mơ mơ màng màng, nửa thức nửa ngủ. Rồi tôi nhìn qua phía phải của mình, tôi thấy một người đàn ông, thân thể không có vẻ như của người, không có da thịt thể lý rõ ràng như của chúng ta. Tuy thế, người đó là đàn ông, đầu hói, khuôn mặt gầy gò, ông mặc áo chùng của linh mục với hàng nút áo dài đến cuối hàng. Trông ngài giống như một linh mục đã sống cách nay một trăm năm vậy và khá hiền từ không có gì đáng sợ cả. Thế rồi, tôi chìm vào giấc ngủ sau đó.

Đến sáng hôm sau, thức dậy đi điểm tâm, trong phòng ăn, tôi nói với Mẹ mình, tôi đã thấy có một con ma trong phòng ngủ. Tôi tả hình dáng Ma từ ký ức của mình, hình ảnh rất rõ ràng của Ngài, như trên giấy trắng mực đen vậy, cho dù chỉ được gặp Ma trong một khoảnh khắc ngắn. Tôi nhớ tỏ tường cung cách nhân từ của Ngài, chỉ tiếc một điều, tôi không biết Ngài là ai!

Thấm thoát hai năm qua, tôi vẫn không biết người đàn ông Ma đó là ai cả, cho đến một ngày nọ, có một người quen đi lễ ở Vương Cung Thánh Đường, đền Đức Mẹ Vinh Thắng ở Lackawana, Nữu Ước.

Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Vinh Thắng do Cha Baker tổ chức xây cất năm 1921

Khi bà quen về nhà, bà mang theo một ảnh và đưa khoe, bà cho tôi xem một ảnh của Cha Nelson Baker, tôi nhận ra Ngài ngay lập tức, Cha Baker rất thánh thiện và là ân nhân tận tụy của vô số người nghèo, cô nhi, quả phụ. Cơ sở từ thiện của Ngài đã đón nhận rất nhiều em trai tứ chiếng, bụi đời và em gái có chửa, chính Ngài là người đàn ông Ma đã hiện ra với tôi.

Bài toán Ma, tôi đã giải được câu đầu rồi, còn câu hỏi thứ hai quan trọng hơn nhiều, Ngài muốn tôi làm gì, tôi thầm thì, Ngài định trăn trối cho con một hoài bão gì đây? Khi đi tìm con, Ngài có nhìn sai người không vậy? Tôi nhớ lại hồi đó, khi còn là một đứa trẻ nhỏ, trong một lần nói chuyện với cô tôi khi bà về thăm chúng tôi tại nhà, Cô là một nữ tu, Sơ mục vụ ở thành phố Buffalo, tôi được nghe Sơ kể về Cha Baker, rồi sơ chỉ tay về hướng driveway ở phía cuối đường xe đi, nơi có một căn nhà, “đó chính là nhà của Cha Baker.” Cho tới giờ phút đó, căn nhà là điều duy nhất tôi được biết về đời tư của Cha Baker!

Tôi tiếp tục tìm hiểu về Cha Baker, theo Thời Báo Buffalo, trong thời gian mục vụ, cộng đoàn phục vụ của Ngài đã nuôi người nghèo, họ đã cung cấp tới 50 triệu bữa ăn.

Trong giai đoạn đại khủng hoảng kinh tế (1930) Ngài và các thành viên phục vụ đã trao tặng hơn một triệu bữa ăn một năm, cung cấp quần áo ấm cho nửa triệu người.

Cơ quan từ thiện của Ngài chăm sóc y tế cho 250 ngàn người, cộng thêm việc cung cấp thuốc men cho 200 ngàn người nữa.

Có trên 300 ngàn người từ đàn ông, đàn bà, đến thanh niên, trẻ em đã được huấn luyện nghề nghiệp ở một chừng mực nào đó thông qua các cơ sở thiện nguyện của Ngài. Có 100 ngàn các em trai được huấn luyện tay nghề kỹ thuật chuyên môn.

Nhà cho Mẹ đơn thân và em bé sơ sinh, ảnh trích từ Wikipedia

600 các em gái chửa hoang trong cơn tuyệt vọng, đau khổ đã đến gõ cửa cơ quan của Cha Baker và được cứu vớt. 6000 trẻ sơ sinh bị vứt bỏ được cứu và có một mái nhà nương thân tại cơ sở từ thiện của Ngài.

Thể rồi Ngài mất vào năm 1936, đường phố Lackawanna bỗng dưng tràn ngập người là người, họ cùng nhau đi tham dự đám tang của Cha Baker, tạo nên một đám đông gần nửa triệu người.

Càng tìm hiểu về Ngài bao nhiêu, tôi càng say mê đời sống và công việc quá vị tha của Cha, thứ công việc tàm lam chả ai muốn dấy vào nhưng lại được Chúa ban ơn một cách nhiệm mầu. Vì yêu người cùng khổ, Cha nhìn ra nhu cầu to lớn quá mức của xã hội, nhất là các trẻ nam bụi đời, các trẻ gái chửa ngoài hôn nhân (vốn là điều bị khinh bỉ và cấm kỵ, bị ruồng bỏ vào thời đó). Chúa đã dùng một người để ảnh hưởng, tạo nên sự biến đổi tốt đẹp cho biết bao nhiêu cuộc đời, hàng triệu, triệu người.

Thật là một con người vĩ đại, sau khi tìm hiểu về lai lịch của Cha Baker. Tôi cảm thấy một sự thúc đẩy, tôi cần phải đến Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vinh Thắng, nơi có hầm mộ của Ngài để tĩnh tâm vì Cha Baker đang kêu gọi tôi, dường như Ngài muốn tôi tiếp nối công việc của Ngài.

Tôi đã cầu nguyện trước mộ Cha Baker trong tám tiếng đồng thời tôi được chứng kiến đức tin tốt đẹp của những người đến viếng mộ (Cha Baker chưa được tôn phong chân phước, hay hiển thánh). Trong khi cầu nguyện, tôi nài xin Cha Thánh cho tôi một dấu chỉ, đó là được sở hữu các thánh tính của Cha và… Ngài nhận lời tôi xin. Ngay sau đó, tôi tình cờ gặp một bà cụ, là thợ may ngày xưa của Cha, bà còn giữ được nguyên một bộ áo chùng linh mục của Cha Baker. Bà liền lộng kiếng 7 mảnh nhỏ vải và đem tặng cho tôi.

Rời Vương Cung Thánh Đường, tôi đến phi trường Buffalo để bay về nhà, ngày 6, tháng 6, năm 2008. Trong lúc nhàn rỗi, chờ chuyến bay, tôi lân la chuyện trò với người ngồi bên cạnh, bà ta tên là Debbie, một ca sĩ chuyên nghiệp vừa kết thúc cuộc lưu diễn, sô diễn ở Toronto, Gia Nã Đại. Không may là bà bị một thể ung thư lạ và được bác sĩ cho biết rằng bà chỉ còn vài tháng nữa để sống mà thôi. Ông chồng liền khuyến khích bà hãy làm tất cả những gì mình muốn trước khi từ giả cõi đời. Còn đang tràn đầy thần khí, tôi kể lại cho bà Debbie về chuyến đi của mình, cuộc thăm viếng mộ và di ảnh của Cha Baker. Rồi tôi đặt tay cầu nguyện cho bà ta nhờ Cha Baker dâng lên lời chuyển cầu của Ngài trước Chúa. Sau đó, chúng tôi ra đi. Tôi chả còn nghĩ ngợi nhiều về cuộc gặp gỡ ở phi trường, rồi ngày nọ, một giáo dân đến báo cho tôi biết rằng Người Đàn Bà mà tôi cầu nguyện cho ở phi trường đã được ơn chữa lành. Hai ngày sau, Debbie điện thoại cho tôi, bà cho biết căn bệnh ung thư, Metastasis melanoma (Ung thư hắc tố đã di căn), giai đoạn 4 (giai đoạn sau cùng của bệnh) coi như đã bị phán quyết tử hình rồi. Loại Ung thư này hung hiểm, nó đứng thứ hai về mức độ hung hiểm, chỉ sau bệnh ung thư tuyến tụy. Tôi liền nhờ bà thu thập dữ liệu y khoa để góp vào hồ sơ phong thánh cho Cha Baker.

Ngày nay Cha Stefan tiếp tục phục vụ trong cơ sở thiện nguyện có tên là “Paul Stefan Homes”, cơ sở chuyên phò sự sống, cứu vớt Mẹ bầu, Thai Nhi.

Cha là thành viên tích cực của ủy ban phò sự sống của Giáo Phận Virginia.

Một số hình ảnh của Mẹ đơn thân và con sơ sinh

Bà Evenly, người đồng sáng lập cơ sở “Paul Stefan Homes” nói, “Lòng tận tụy và đức tin của Cha Stefan Starzynski đã ảnh hưởng đến cách chúng ta sống cuộc sống của mình ngày nay. Sau sáu năm kể từ khi mở cửa cho Paul Stefan Homes, hơn 150 phụ nữ và trẻ sơ sinh đã có cơ hội cải thiện cuộc sống của họ. Chúng tôi kết hợp những lời cầu nguyện của chúng tôi với Cha Stefan, hy vọng rằng chúng ta sẽ chấm dứt nạn phá thai và chúng ta tiếp tục hỗ trợ phụ nữ một cách yêu thương bằng cách thiết lập những mái ấm khác ở mọi khu vực trên khắp đất nước (Hoa Kỳ).”

Cha Stefan còn có một nhiệm vụ quan trọng khác, lo giờ sau hết cho toàn thể bệnh nhân của nhà thương Inova Fairfax, tiểu bang Virginia. Trong đợt dịch Covid vừa qua, Cha được đặc quyền đi vào tất cả các phòng bệnh, (lạ quá Bác Sĩ cũng tin Cha được đặc ân miễn nhiễm khỏi Virus hay sao?)

Quả thực, Cha không hề bị Covid vật ngã, hơn thế nữa, Virus COVID không hề có chút ảnh hưởng nào trên thể lý của Cha ít nhất là cho tới ngày tháng này, 03/2023.

Bệnh nhân Covid được Cha lần chuỗi Lòng Thương Xót và cảm thấy được sự an ủi vô bờ bến vì vào cao điểm của COVID Cha là người duy nhất mà họ được gặp mặt trong tình trạng cô lập với thế giới bên ngoài. Đó là chưa kể lời cầu nguyện của Cha thường mang lại ơn chữa lành cho mọi bệnh nhân bất kể họ đang bị bệnh nan y gì. Lời cầu nguyện linh ứng của một Linh Mục tốt lành.

Phan Sinh Trần lược dịch

Tương quan giữa các khái niệm chính quyền, XHDS, Luật Hình sự và Dân sự trong một nền dân chủ

Báo Tiếng Dân

Đào Tăng Dực

14-3-2023

Tương quan giữa các khái niệm chính quyền (the state), xã hội dân sự (civil society), luật hình sự (criminal law) và luật dân sự (civil law) trong một nền dân chủ chân chính

Vào ngày 24 tháng 2 vừa qua, dư luận VN xôn xao vì nhà báo và luật sư Đặng Thị Hàn Ni vừa bị Công an TP.HCM khởi tố, bắt tạm giam, chiếu theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự, cùng với bà Nguyễn Phương Hằng. Bà Nguyễn Phương Hằng (Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đại Nam) bị bắt vì sử dụng mạng xã hội để livestream xâm phạm bí mật đời tư, ảnh hưởng uy tín, danh dự cũng chiếu theo điều 331 nêu trên.

Tại sao dư luận trong và ngoài nước lại xôn xao như vậy?

Trước khi trả lời câu hỏi nêu trên, chúng ta cần duyệt lại sự kiện tổng quát liên hệ đến vụ việc. Đó là hai nhân vật này này tố cáo trước công luận là người này lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền lợi và danh dự của người kia. Cụ thể, tháng 9.2021, bà Đặng Thị Hàn Ni thường xuyên bị bà Nguyễn Phương Hằng nhắc đến trong các livestream trên mạng. Sau đó, bà Hàn Ni làm đơn tố giác bà Nguyễn Phương Hằng vu khống, làm nhục và lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của bà.

Điều 331 BLHS của CHXHCNVN quy định rõ rệt như sau:

“1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Như thế chiếu theo nội dung của điều 331, công an CSVN hoàn toàn có thẩm quyền khởi tố cả 2 bà dưới luật hình sự vì điều khoản này không giới hạn nơi lợi ích của nhà nước tức chính quyền (the state) mà còn nới rộng đến phạm vị lợi ích của những tổ chức hoặc cá nhân thuộc phạm vi xã hội dân sự nữa (civil society).

Tuy điều 331 minh thị cho phép công an CSVN truy tố các hữu thể pháp lý cá thể, tuy nhiên dư luận vẫn rất dao động và xôn xao là vì:

  1. Trong thế giới dân chủ và văn minh ngày hôm nay, luật pháp phổ thông trên thế giới luôn tuân thủ một nguyên tắc quan trọng. Đó là:

– Phạm vi của luật dân sự là giải quyết những tranh chấp quyền lợi giữa các cá nhân và thực thể pháp lý khác nhau.

– Trong khi đó phạm vi của luật hình sự là công an hoặc cơ quan công tố, đại diện cho chính quyền khởi tố cá nhân hay những công ty nhân danh quyền lực của nhà nước.

Hệ lụy của nguyên tắc này là những sự tranh chấp cá nhân như trường hợp của Hàn Ni và Nguyễn Phương Hằng thuộc phạm vi luật dân sự, chính quyền không cần can thiệp vào và không nên can thiệp vào.

  1. Tuy là một chế độ độc tài đảng trị và tuy Điều 331 cho phép, nhưng từ trước đến nay, công an CSVN vì ý thức quy luật này, nên chưa sử dụng triệt để quyền lực mà BLHS cho phép họ.
  2. Nhưng trong vụ án Phương Hằng và Hàn Ni thì công an CSVN đã phá lệ, xé rào, áp dụng triệt để quyền lực của Điều 331, rút cục gây ra hoang mang cũng như xôn xao trong xã hội.
  3. Với sự đột phá về hình sự này, thì Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới được quốc tế nhắc nhở đến vì trong quốc gia lạ lùng này, một bộ trưởng công an như Tô Lâm và các công an thuộc hạ của ông có toàn quyền hình sự can thiệp vào đời tư của từng cá nhân, truy tố cả những vợ chồng, anh chị em, cha mẹ con cái, hàng xóm láng giềng nếu những người này có những tranh chấp lẫn nhau, theo tinh thần của Điều 331 BLHS hiện hành.

Câu hỏi chúng ta phải đặt ra là tại sao đảng CSVN lại ngang nhiên vượt lên trên những nguyên tắc luật pháp phổ thông trên thế giới và luật hóa Điều 331 BLHS, xóa tan biên giới giữa 2 khái niệm luật hình sự và luật dân sự như thế?

Câu trả lời là:

Trước hết, có rất nhiều lý do tiềm tàng trong một trật tự xã hội độc tài, từ Phát Xít đến Cộng Sản. Tuy nhiên, lý do quan trọng nhất nằm nơi Điều 4 Hiến pháp 2013.

Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam… lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Nhà nước ở đây là Chính Quyền và Xã hội ở đây có nghĩa là xã hội dân sự.

Một khi cả nhà nước tức chính quyền lẫn xã hội dân sự, theo hiến pháp, phải chấp nhận sự lãnh đạo duy nhất của một lực lượng chính trị, thì biên giới giữa hai thực thể này không còn hiện hữu. Chỉ còn đảng CSVN là toàn năng. Sự độc lập và tương nhượng, tương kính giữa hai khái niệm nhà nước và xã hội dân sự hầu đưa đến một trật tự chính trị dân chủ nghiêm chỉnh không còn nữa, mọi quyền tự do của con người cá thể đều bị nhá nước tước đoạt. Dĩ nhiên biện giới giữa các khái niệm luật hình sự và luật dân sự cũng vì vậy bị xóa tan và công an CSVN, nhân danh nhà nước, có thể truy tố dưới luật hình sự, không những Hàn Ni và Phương Hằng, mà bất cứ những công dân cá thể hoặc hữu thể pháp lý nào tranh chấp lẫn nhau trong xã hội dân sự đều có thể bị công an truy tố theo bộ luật hình sự.

Yếu tố thứ hai là quyền lực ngày càng lớn mạnh của Tô lâm, hầu như không thể kiểm soát được:

Ngoài Điều 4 Hiến pháp nêu trên, một lý do nữa để giải thích hiện tượng nêu trên là quyền lực ngày càng lớn mạnh của Bộ trưởng Công an Tô Lâm. Quyền lực lớn nhất hiện nay không nằm nơi TBT Nguyễn Phú Trọng, tân CTN Võ Văn Thưởng, TT Phạm Minh Chính hay CTQH Vương Đình Huệ mà nằm nơi Bộ trưởng Công an Tô Lâm.

Tô Lâm là nhân vật quyền lực nhất tại Việt Nam. Hơn ai hết ông ý thức được rằng các quốc gia độc tài chắc chắn sẽ chuyển hóa dân chủ. Giai đoạn chuyển tiếp theo 2 khuynh hướng. Một là chuyển hóa theo mô hình công an trị như tại Nga Sô với Putin vốn là trùm KGB và phe phái nắm quyền. Hai là theo mô hình chuyển tiếp như tại Balan với tướng Jaruzelski trong một chính quyền quân sự chuyển tiếp. Tức chuyển hóa theo mô hình quân sự. Tô Lâm luôn có mộng trở thành một Putin của Việt Nam và muốn chuyển hóa theo mô hình công an trị.

Sự truy tố cả Hàn Ni lẫn Nguyễn Phương Hằng là một dấu hiệu cho thấy quyền lực không giới hạn của công an trong hệ thống chính trị Việt Nam, nhất là sau khi các nhân vật chóp bu như Cựu CTN Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng thường trực Phạm Bình Minh, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và nhiều nhân vật quan trọng khác trong đảng và chính quyền bị thanh trừng. Trên nguyên tắc là bị Nguyễn Phú Trọng thanh trừng, nhưng trên thực tế là bị Tô Lâm thanh trừng.

Sau cùng, là Tô Lâm ý thức được nhu cầu duy trì tính chính danh của Điều 331 hầu tiếp tục đàn áp nhân quyền:

Trong quá khứ Tô Lâm thường sử dụng Điều 331 BLHS hầu khởi tố và giam giữ các tù nhân lương tâm và tù nhân chính trị. Các cơ quan Phi Chính Phủ (NGO) thông thường kêu gọi CSVN hủy bỏ điều luật này vì tác động của nó đối với tù nhân lương tâm và tù nhân chính trị. (Theo một nhân vật bất đồng chính kiến trong nước mà tôi tạm giấu tên) thì Âm mưu thâm độc của Tô Lâm khi sử dụng Điều 331 BLHS một cách bừa bãi vô giới hạn, nới rộng phạm vi Điều 331 bao gồm luôn những cá nhân sống nhờ chế độ như Hàn Ni và Nguyễn Phương Hằng, là để biện minh cho tính chính danh của Điều 331, qua lập luận rằng điều luật hình sự này áp dụng cho mọi công dân cá thể, không chỉ phải dùng riêng để đàn áp giới bất đồng chính kiến.

Câu hỏi cuối cùng là chúng ta phải làm gì?

Để trả lời thì chúng ta phải ý thức sâu sắc rằng trật tự chính trị Mác Lê cũng như các chế độ độc tài Phát Xít đều là những tà thuyết nguy hiểm cho các dân tộc liên hệ, trong đó có Việt Nam.

Trách nhiệm của chúng ta là phải đạp đổ độc tài, xây dựng một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính trong đó, biên giới gữa Chính Quyền và xã hội dân sự bên này cũng như biên giới giữa luật hình sự và luật dân sự bên kia, được tôn vinh triệt để.

Một khi tương quan nghiêm chỉnh giữa các khái niệm nền tảng trong xã hội như chính quyền, xã hội dân sự, luật hình sự và luật dân sự được long trọng khắc ghi trong hiến pháp, và những định chế bảo vệ hiến pháp nghiêm minh được thành lập, thì kỷ nguyên dân chủ chân chính sẽ bình minh trên tổ quốc Việt Nam.