Hàng trăm nghi phạm gián điệp Nga bị vạch mặt trước khi Nga bắt phóng viên Mỹ

Bài viết của Dan De Luce và Ken Dilanian và Michael Kosnar •

 Trước khi bắt giữ một phóng viên của tờ Wall Street Journal hôm thứ Năm, Nga đã trải qua một loạt thất bại đáng xấu hổ trong các hoạt động tình báo nước ngoài, với hàng trăm người bị tình nghi là gián điệp Nga bị trục xuất hoặc bị buộc tội làm gián điệp ở các nước phương Tây. Ba Lan đã bắt giữ 9 người Nga trong tháng này, cáo buộc họ âm mưu phá hoại các tuyến đường sắt chở hàng viện trợ quân sự của phương Tây tới Ukraine. Tuần trước, các nhà chức trách Hoa Kỳ đã vạch mặt một điệp viên Nga bị cáo buộc, người này đóng giả là một sinh viên tốt nghiệp người Brazil tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp Johns Hopkins và người mà các công tố viên cho biết đã cố gắng xin việc tại Tòa án Hình sự Quốc tế ở The Hague.

Sergey Vladimirovich Cherkasov upon entry to Brazil. (U.S. Justice Department)

Thụy Điển, Na Uy và Đức cho biết họ đã phát hiện và phá vỡ âm mưu gián điệp của Nga trong những tháng gần đây, và các quan chức ở Hy Lạp nói với các hãng tin rằng chủ một cửa hàng dệt kim ở Athens thực sự là một gián điệp Nga bị tình nghi.Người đứng đầu cơ quan tình báo nước ngoài MI6 của Anh cho biết khoảng một nửa số điệp viên của Nga làm việc dưới vỏ bọc ngoại giao ở châu Âu đã bị trục xuất trong vòng sáu tháng sau cuộc xâm lược Ukraine vào tháng 2 năm 2022

FBI và CIA đã giúp các nước đồng minh bắt giữ một số lượng lớn bất thường các điệp viên Nga kể từ khi chiến tranh bắt đầu, một cựu quan chức phản gián cấp cao của Hoa Kỳ quen thuộc với vấn đề này cho biết. Các vụ bắt giữ nhắm vào những người Nga hoạt động như những người “bất hợp pháp” với tên và hộ chiếu hư cấu, không giống như các điệp viên Nga được đưa vào các đại sứ quán, những người được hưởng sự bảo vệ của pháp luật.

Nguồn: Hundreds of suspected Russian spies were umasked before Russia arrested a U.S. reporter

Chuyện đáng suy gẫm

CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT

Bố đang sửa xe, con trai cầm mảng đá vẽ lên vỏ xe. Bố nhìn thấy, giận quá, văng cái kìm sắt đánh vào tay con. Con phải nhập viện, gãy xương ngón tay. Con nhẹ nhàng nói với bố:
– Bố ơi, sẽ nhanh khỏi thôi, bố đừng lo nhé.
Bố cảm thấy vô cùng ân hận, đùng đùng chạy về nhà định đập nát xe ô tô của mình. Đập vào mắt bố là dòng chữ mà lúc nãy con đang viết dở: “Bố ơi, con yêu bố!”

Lời bàn:

Có rất nhiều việc nếu ta nghĩ kỹ hơn một chút rồi mới quyết định thì sẽ tốt hơn nhiều.

CÂU CHUYỆN THỨ HAI

Trên thảo nguyên có hai mẹ con nhà sư tử. Sư tử con hỏi mẹ:
– Mẹ ơi, hạnh phúc ở đâu?
Mẹ bảo:
– Hạnh phúc ở đuôi con đấy.
Sư tử con ngây ngô cứ gắng sức đuổi theo đuôi mình, mà mãi không thể bắt được.
Sư tử mẹ nhìn con cười hiền hậu nói:
– Ngốc ạ, không cần phải đuổi theo hạnh phúc. Chỉ cần con ngẩng cao đầu hướng về phía trước, thì hạnh phúc sẽ mãi mãi đuổi theo con.

Lời bàn:

Nhiều khi ta không phải cố gắng đuổi theo thứ gì đó, cứ ngẩng cao đầu mà bước tiếp, thành công và hạnh phúc sẽ đuổi theo.

CHUYỆN THỨ BA

Con không nuôi được mẹ già, định cõng mẹ lên núi để mẹ lại đó. Buổi chiều tối, con nói với mẹ sẽ đưa mẹ lên núi dạo chơi. Mẹ phấn khởi trèo lên lưng con. Cả đường con chỉ nghĩ đến việc sẽ trèo lên thật cao rồi bỏ mẹ ở đó. Đến khi phát hiện ra mẹ đang âm thầm rắc hạt đậu xuống đường, con đã rất tức giận quát:
– Mẹ rắc hạt đậu làm gì hả?
Cuối cùng, mẹ đã trả lời một câu khiến đứa con khóc đẫm nước mắt:
– Con ngốc của mẹ, mẹ sợ tý nữa con đi về một mình sẽ bị lạc đường.

Lời bàn:

Mẹ hiền không bao giờ từ bỏ ta mà luôn tha thứ cho ta

Phan Sinh Trần

Biên khảo : Không quên biến cố 1 tháng 11 – 1963 tại Nam Việt Nam ?

Nguồn: Batkhuat.net

Phan Đức Minh

Thời gian gần đây, có rất nhiều bài viết xuất hiện trên các trang mạng , trên các điện báo, báo in của người Việt định cư khắp nơi trên thế giới , nói về nhân vật lịch sử Ngô Đình Diệm , về biến cố ngày 1 tháng 11 – 1963 tại Nam Việt Nam. Rồi những buổi Lễ tưởng niệm nhân vật lịch sử này được tổ chức ở nhiều nơi có Cộng Đồng người Việt. Lại có cả những nhóm người đến viếng thăm ngôi mộ của nhân vật Ngô Đình Diệm tại Việt Nam rất long trọng…Một số bạn trẻ trưởng thành nơi hải ngoại liên lạc bằng điện thư hoặc gặp chúng tôi, hỏi về chuyện “Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ ông Ngô Đình Diệm, ngày 1 tháng 11 – 1963 ở Việt Nam ? “xem ý kiến ra sao.

Tất nhiên là người viết chỉ có thể nói sơ qua và hẹn gặp nhau trên trang báo này để có thể bàn luận với nhau nhiều hơn. Vì vậy cho nên bài viết này được đưa ra, mong trả lời các bạn trẻ đó, đồng thời đóng góp chút ít vào công việc làm sáng tỏ một vấn đề lịch sử quan trọng, có ảnh hưởng lớn lao đến sự…mất còn, sụp đổ của Nam Việt Nam sau đó, cũng như ảnh hưởng đen tối của nó còn kéo dài cho tới bây giờ. Muốn tìm hiểu kỹ lưỡng, sâu xa hơn, tất nhiên là chúng ta phải tìm đọc những cuốn sách đáng tin cậy về chuyện này…

Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Tình hình trước khi xẩy ra cuộc Đảo Chánh:

Những tháng giữa năm 1960, Ông Diệm với tư cách Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, đi thăm các Bộ Tư lệnh Quân Khu I – 2 – 3 – 4 và Quân Khu Thủ Đô để nói chuyện với các Sĩ Quan trong quân đội, các Quân Binh Chủng về một vấn đề vô cùng quan trọng là: chính quyền Mỹ lúc đó muốn đổ quân tác chiến ( Combatant forces ) vào lãnh thổ Nam Việt Nam để đảm nhiệm vai trò chủ yếu trong công cuộc chiến đấu chống cộng sản trên chiến trường này, tất nhiên là theo chủ trương, chính sách của Hoa Kỳ… Tại Hội trường Bộ Tư lệnh Quân Khu I, Đà Nẵng, trước mặt rất đông Sĩ Quan: cấp Tướng, cấp Tá và cấp Úy, Ông Diệm đã nói rõ ý chí cuả Ông là nhất định không chấp nhận cho chính phủ Mỹ đổ quân tác chiến vào Nam Việt Nam, mà chỉ chấp nhận vai trò cuả người Mỹ trong nhiệm vụ cố vấn và huấn luyện cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà. Ông nói “Chúng ta cần có sự cố vấn và huấn luyện cuả người Mỹ, chúng ta cần có sự viện trợ quân sự, kinh tế cuả người Mỹ, nhưng chúng ta không cần và nhất định không chấp nhận để cho người Mỹ chiến đấu thay thế cho chúng ta trong công cuộc bảo vệ Quê Hương, Đất Nước này. Chúng ta đang phải đương đầu với với một cuộc chiến tranh ý thức hệ (ideological war) giữa chủ thuyết “ Quốc Gia-Dân Tộc “ tự do, dân chủ của chúng ta và “ học thuyết ảo tưởng – Utopian doctrine “ của cộng sản, xây dựng trên nền tảng tuyên truyền, lừa bịp có hệ thống, có khả năng lôi cuốn đông đảo quần chúng vào một cuộc chiến tranh nhân dân, trường kỳ kháng chiến, để tiến tới một thiên đường không bao giờ có thực . ..

Cuộc chiến đấu này không thể đơn thuần giải quyết bằng sức mạnh cuả vũ khí chiến tranh, nhất là bằng một đạo quân viễn chinh từ một quốc gia khác kéo đến. Nếu người Mỹ làm việc đó, chúng ta sẽ mất hết chính nghiã, mất sự hậu thuẫn cuả nhân dân, tôi sẽ trở thành Tổng Thống bù nhìn và anh em, các Sĩ Quan đang có mặt tại đây, sẽ chỉ còn là những kẻ đánh thuê cho ngoại quốc…

“ Ông nói thật nhiều, với tất cả tấm lòng và trái tim cuả Ông. Rồi ông kêu gọi tất cả các Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đã từng nêu cao tinh thần anh dũng, can đảm trên mọi chiến truờng khắp các Vùng Chiến Thuật ( tactical areas ), hãy cùng Ông bằng mọi giá, giữ vững lập trường, đi đúng đường lối lãnh đạo chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc mà ông đã vạch ra và quyết tâm theo đuổi, bất chấp mọi sức ép bất cứ từ đâu đến ! Những cánh tay giơ lên, những tiếng hô vang làm rung chuyển cả Hội Trường Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, Quân Khu I “Quyết tâm ủng hộ Tổng Thống ! Quyết tâm giữ vững lập truờng chiến đấu cuả Tổng Thống để bảo vệ Tổ Quốc !”

Tôi lúc đó chỉ là một Chuẩn Uý hiện dịch, nhưng với cái vốn kinh nghiệm gần 7 năm kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ, 2 lần bị Tây bắt nhốt vào tù, rồi hơn 6 năm trong hàng ngũ quân đội Việt Nam Cộng Hòa, chống cộng sản, tôi cũng đủ trí khôn để thông cảm với những khó khăn, nguy hiểm đang đợi chờ Ông Diệm, vị Tổng Thổng đầu tiên cuả nền Cộng Hoà non trẻ tại Nam Việt Nam.

Tôi nhìn các Sĩ Quan đàn anh đứng chung quanh, hình như ai nấy đều linh cảm thấy có một cái gì nặng nề, nguy hiểm đang đợi chờ vị Tổng Thống khả kính và can đảm cuả mình. Phải thành thực mà công nhận rằng: vào thời gian đó, dưới sự lãnh đạo cuả Ông Diệm, Quân Đội ra Quân Đội, Tướng Tá ra Tướng Tá, Sĩ Quan ra Sĩ Quan, chớ không có như tình trạng cuả những thời gian sau này, sau khi Ông Diệm không còn nưã..

Lúc đó, tôi không phải là người công giáo như Ông Diệm, mà trong cương vị một quân nhân hiện dịch thuần tuý, từng quyết tâm từ bỏ hàng ngũ cộng sản, tìm đến hàng ngũ quốc gia để chống lại cộng sản, lúc này chỉ nghĩ đến quân đội, đến việc chống cộng, nhưng cũng thấy như mắt mình nhoà đi…

Tôi cầu xin Ơn Trên phù hộ, che chở cho Ông, cũng như cho Đất Nước này…

* Ngày 19-6-1960: Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, Elbridge Durbrow, gửi cho ngoại trưởng Mỹ, Christian Herter ở Hoa Thịnh Đốn 1 điện văn mật, thông báo tình hình Sài Gòn: Có thể có 1 cuộc đảo chánh nhằm lật đổ chính quyền cuả Ông Diệm, trong khi đó ở nông thôn, hoạt động cuả cộng sản gia tăng mạnh mẽ…

Phần cuối, bản văn kết thúc “ Nếu thế đứng cuả Ông Diệm tiếp tục giảm sút, không còn phù hợp với tình thế chính trị, tâm lý, kinh tế và an ninh tại đây nưã thì có thể là điều mà chính phủ Hoa Kỳ nên tính đến những phương cách khác để hành động và thay thế người lãnh đạo hầu đạt đến những mục tiêu cuả chúng ta… ( If Diem’s position in the country continues to deteriorate as result failure adopt proper political, psychological, economic and security measures, it may become necessary for US Government to begin consideration for alternative courses of action and leaders in order to achieve our objectives…). *

Ngày 11 – 12 tháng 11-1960 : Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Lữ Đoàn nhẩy dù và Trung Tá Vương Văn Đông chỉ huy một lực lượng quân sự gồm vài Tiểu Đoàn nhẩy dù và 1 đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến, bao vây dinh Tổng Thống để làm một cuộc đảo chánh với lý do được công bố trên đài phát thanh Sài Gòn đã bị quân đảo chánh chiếm giữ “…Ông Diệm đã tỏ ra không đủ khả năng cứu đất nước khỏi họa cộng sản cũng như bảo vệ sự đoàn kết quốc gia… – Diem has shown himself incapable of saving the country from Communism and protecting national unity…”

Biết rằng cuộc âm mưu đảo chánh này không do những nhân vật chính trị có danh tiếng, không có hậu thuẫn chính trị thực sự cuả dân chúng, không có sự tham gia cuả các Tướng Lãnh cũng như đông đảo lực lượng quân đội dưới quyền, cho nên ông Diệm tạo thế trì hoãn, thoái thác nhượng bộ trước sự đòi hỏi cuả phe đảo chánh là từ – Đại tá Nguyễn Chánh Thi – bỏ chính quyền và đợi cho các lực lượng quân đội, hầu hết vẫn còn trung thành với ông, cùng ông theo đuổi đường lối chống cộng đã vạch ra, từ các nơi kéo về dẹp loạn. Cuộc đảo chánh bất thành vì quá non kém về tổ chức, lãnh đạo, cũng như đường lối chinh trị và quân sự. Tuy nhiên cuộc đảo chánh bất thành này đã đem lại cho chính quyền cuả Ông Diệm những bài học quan trọng :

A.- Cộng sản ngày càng tích cực tung cán bộ vào thành phố khai thác những mâu thuẫn, bất đồng giưã chính quyền và các nhân vật, các nhóm chống đối tại thành thị. Những mâu thuẫn này tất nhiên phải có trong hoàn cảnh miền Nam Việt Nam đang phải thực hiện một xã hội tương đối tự do, dân chủ, phồn thịnh ( hơn hẳn miền Bắc ). Có tự do, dân chủ khá nhiều cho nên các lực lượng, nhóm người chống đối này khác mới có hoàn cảnh, điều kiện mà hoạt động chống chính quyền, chớ còn như tình trạng Việt Nam hôm nay, dưới chế độ cộng sản, thì chính quyền thấy chống đối bằng bạo lực, là lập tức dùng công an, quân đội bằng võ lực tiêu diệt ngay, còn chi nữa mà chống đối. Chính quyền miền Nam lúc đó, cùng một lúc phải đối phó với hoàn cảnh đất nước như thế, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lăng, phá hoại toàn diện cuả cộng sản Hà Nội, được chỉ đạo và yểm trợ từ Mạc-Tư-Khoa cũng như từ Bắc Kinh, theo “Đường lối cách mạng vô sản toàn cầu cuả Đệ Tam Quốc tế – Global Proletarian Revolution Policy of the Third International ”.

B.- Thi hành 1 đường lối vô cùng khó khăn khả dĩ đáp ứng được nhu cầu cuả tình thế : Giữ vững chính quyền đang bị âm mưu khuynh đảo từ bên ngoài do bọn tài phiệt quốc tế ( International Financial Oligarchy ), ở bên trong thì do cộng sản chỉ đạo. Ngay trong nội bộ hàng ngũ quốc gia cũng có những phần tử ham danh, hám lợi cũng như 3 quyền lực, đang lợi dụng không khí tự do, dân chủ của xã hội miền Nam, nhất là truyền thông, báo chí , tạo ra hay chờ đợi thời cơ để hành động.

C.- Giữ vững tinh thần kỷ luật và lòng trung thành cuả quân đội, là sức mạnh bảo vệ chính quyền, chế độ, đồng thời giữ vững sự đoàn kết các tôn giáo là sức mạnh hậu thuẫn cuả nhân dân, nhưng cả hai: Quân Đội và Tôn giáo lại là những mục tiêu quan trọng nhất mà cả 3 lực lượng chống phá nói trên ( Tài phiệt quốc tế, cộng sản và các nhóm chống đối trong nước ) đang quyết tâm nhắm vào để tạo ra một động lực làm nổ bùng một cuộc đảo chánh khác, có tầm vóc quy mô, có tổ chức tinh vi và …” cao cấp “ hơn cuộc đảo chánh đã thất bại một cách dễ dàng ngày 11 tháng 11 năm 1960.

* Ngày 20-12-1960 , để đánh lưà dư luận quốc tế, để thu hút các nhóm chống đối và lôi kéo nhân dân Miền Nam, cộng sản Hà Nội tuyên bố chính thức cho ra mắt công khai Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tại 1 Chiến Khu ( Strategic war zone) cuả cộng sản tại phiá đông miền Nam Việt Nam, thành phần bao gồm chừng 100 nhân vật nói là đại diện cho các nhóm chính trị đối lập với chính quyền, đại diện cho các tôn giáo có mặt tại Nam Việt Nam, các lực lượng vũ trang còn sót lại sau khi bị quân chính phủ đánh tan trong các chiến dịch hành quân tại miền Tây trước đó ít năm.

Mặt trận này thực sự đặt dưới quyền lãnh đạo cuả một cán bộ cao cấp cuả Hà Nội, thuộc Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng.

* Ngày 1 tháng 4-1961: Cộng sản tung một Tiểu Đoàn chủ lực quân, có du kích địa phương tăng cường, gồm hơn 400 quân, tấn công thử sức vào 1 ngôi làng chiến đấu kiểu mẫu cuả “Quốc sách ấp chiến lược – National policy of Strategic Hamlets ” thuộc Tỉnh Kiến Hoà, nhưng bị quân đội Cộng Hoà đánh tan và bị thiệt hại nặng nề. Hai ngày sau, cộng sản thử sức lần nưã bằng cách tấn công vũ bão và bất ngờ vào khu vực Bến Cát, phiá Bắc Sài Gòn, nhưng hơn 100 quân cộng sản bị quân Cộng Hoà tiêu diệt, bỏ xác tại trận. Cộng sản buộc phải đổi hướng, tập trung nỗ lực vào những hoạt động võ trang phá hoại tại các thành phố, tung cán bộ len lỏi vào trong các tầng lớp nhân dân, hàng ngũ tôn giáo nào có đông đảo quần chúng ( nhưng hàng ngũ thiếu huấn luyện, tổ chức không chặt chẽ ) để tìm cơ hội gây xáo trộn chính trị tại các thị trấn, nơi tập trung đông đảo dân cư, làm suy yếu chính quyền Miền Nam thay vì nôn nóng giành chiến thắng quân sự để hỗ trợ cho các hoạt động chính trị và ngoại giao.

* Ngày 12-5-1961: Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson, trong cuộc viếng thăm Á Châu, đã gặp Tổng Thống Diệm tại Sàigòn. Ông Johnson ca tụng Tổng Thống Diệm là một Churchill cuả Á Châu và nói, “Đối với thế đứng cuả Hoa Kỳ tại Á Châu, Tổng Thống Diệm là nhân vật, là người bạn không thể thiếu được.” Tuy nhiên, khi trở về Mỹ, ông Johnson lại báo cáo cho Tổng Thống Kennedy cũng như cho các nhân vật chính trị cao cấp biết rằng: Ông Diệm vẫn giữ vững lập trường không có quân chiến đấu cuả Hoa Kỳ tại Việt Nam, trừ phi cộng sản Hà Nội xua quân tràn qua vĩ tuyến 17 một cách đại quy mô như cộng sản Bắc Hàn đã xua quân tràn qua vĩ tuyến 38 hồi 1950 …. Vice President Lyndon B. Johnson meets Mr. Ngo . Dinh Nhu at Gia Long Palace, Saigon 12-5-1961 Do lập trường cương quyết Bảo vệ Chủ quyền Quốc gia, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã luôn luôn kiên trì tranh đấu cho sự Độc lập Dân tộc dù phải chấp nhận những khó khăn.

Ngày 09.05.1961, ông Diệm đã bày tỏ với Phó Tổng Thống Mỹ Johnson đang viếng thăm chính thức Việt Nam rằng : chính phủ Việt Nam rất biết ơn sự viện trợ quân sự và cố vấn Mỹ, nhưng về việc gửi Quân đội tác chiến Hoa kỳ đến Việt Nam, ông cương quyết từ chối : Nếu quý vị mang Quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi ? Với người Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân đội Viễn chinh Pháp còn ghi sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của Quân đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ tin những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp trực tiếp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghĩa.

Tháng 11.1961, Đại sứ Frederick Nolting được yêu cầu từ tòa Bạch ốc gặp Tổng Thống Diệm về vấn đề quân chiến đấu Mỹ ( được 4 xem như ‘chia sẽ trách nhiệm ). Ông Diệm trả lời : « Chắc ông Đại sứ cũng hiểu, những đề nghị ấy đụng chạm tới vấn đề trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam. Việt Nam không muốn là một nước bị bảo hộ ( Vietnam does not want to be a protectorate) ».

* Ngày 18-9-1961: Cộng sản bất thần mở trận đánh lớn cấp Trung Đoàn ( Regiment ), tung 1,500 quân bao vây và đành chiếm Tỉnh Lỵ Phước Vinh, sau khi đã mở chiến dịch gồm 41 trận đánh lớn nhỏ trên khắp lãnh thổ Miền Nam để áp đảo và chia sẻ lực lượng đối phương. Sau đó 3 tuần lễ, tại diễn đàn Quốc Hội, Tổng Thống Diệm chính thức tuyên bố với quốc dân và thế giới là Việt Cộng, với sự chỉ đạo và yểm trợ cuả cộng sản quốc tế đã chính thức biến cuộc chiến tranh du kích trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà thành một thứ chiến tranh xâm lăng quy mô thực sự, có sự tham chiến cuả quân chính quy cộng sản Bắc Việt, được trang bị tối tân, hùng hậu với đầy đủ pháo binh cỡ nặng, xe tăng, thiết giáp… Bọn tài phiệt quốc tế, buôn bán chiến tranh, càng thêm cơ hội để tung tiền và thủ đoạn để đưa đám “ Lobbyists ” vào các hành lang, ngõ ngách cuả Quốc Hội, hệ thống truyền thông Hoa Kỳ, dọn đường cho một kế hoạch ào ạt đổ quân tác chiến cuả Mỹ và lôi kéo một số đơn vị quân đội Đồng Minh vào chiến trường Nam Việt Nam. Chậm chân là thiệt hại cả… núi đô la chớ không phải chuyện đuà. Nhưng, lại tiếng nhưng ở chỗ này ! Nhưng Ông Diệm nhất định không chấp nhận cho quân đội tác chiến cuả Mỹ chiến đấu tại Nam Việt Nam. Còn Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy thì cũng không hăng hái, thiết tha cho lắm với việc đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào chiến trường Miền Nam trong hoàn cảnh lúc này, không như lúc cộng sản Bắc Hàn xua quân cấp Quân Đoàn ( Army Corps ) tràn qua vĩ tuyến 38 hồi năm 1950…

Ông Kennedy vẫn trung thành với “ Đường lối ngăn chặn – Containment Policy ” để chống lại sự bành trướng cuả phong trào cộng sản trên thế giới từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, bằng những phương cách ít tốn sinh mạng người Mỹ nhất, trừ trường hợp nền an ninh cuả Mỹ bị đe dọa trực tiếp, nghiã là ông Kennedy chỉ chấp nhận hy sinh nhân mạng cuả Mỹ trong “ Trường hợp tối cần thiết – In case of absolute necessity ”. Thế thì “chúng nó ” bắt buộc phải loại trừ Ông Diệm khỏi ngôi vị lãnh đạo Nam Việt Nam trước đã, và sau đó bất cứ kẻ nào làm ngăn trở việc đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào Nam Việt Nam cũng đều bị “chúng nó” xoá sổ hết ( kể luôn cả Tổng Thống Mỹ ).

* Ngày 2-1-1963: Tại Ấp Bắc, cách Sài Gòn 40 dậm về phiá Đông Nam, gần 2 Trung Đoàn ( 2,500 quân ) thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, trang bị vũ khí tự động, có xe tăng, thiết vận xa, pháo binh và không quân ( cả khu trục cơ lẫn trực thăng ) yểm trợ, mở cuộc hành quân bao vây, tiêu diệt 1 lực lượng cộng sản gồm chừng I Tiểu Đoàn ( battalion ) hơn 300 quân chủ lực địa phương, với hoả lực yếu kém hơn rất nhiều, lại không có xe tăng cũng như không quân, pháo binh yểm trợ. Kết quả thật là đau buồn: Cộng quân lợi dụng đêm tối, thoát khỏi vòng vây gần như toàn vẹn chủ lực, sau khi đã gây cho quân chính phủ những tổn thất đáng kể. Thật là một cơ hội bằng vàng để bọn tài phiệt quốc tế dùng ảnh hưởng, sức mạnh cuả đồng đô la mà lái các cơ quan truyền thông, hướng dẫn dư luận, gây áp lực tại Hoa Kỳ, từ Quốc Hội cho đến chính phủ phải bằng mọi giá đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào Việt Nam ngay lập tức. Nếu không, “ Tiền đồn chống cộng – Advanced Post resisting the communists “ cuả Mỹ tại Á Châu sẽ xụp đổ và Chính sách ngăn chặn cộng sản cuả Mỹ trên thế giới sẽ thất bại và… nền anh ninh cuả chính nước Mỹ cũng sẽ bị lâm nguy… Chúng đem câu nói cuả Lenin, Sư Tổ cuả cách mạng vô sản 1917 tại Nga, người đã mở đường cho phong trào cộng sản thế giới bùng ra hết cách ngăn cản sau thế chiến thứ 2, mà dọa cả nước Mỹ “ Trước hết, chúng ta hãy chiếm giữ Đông Âu, rồi nắm lấy khối quần chúng khổng lồ ở Á Châu, sau đó bao vây Hoa Kỳ là thành lũy cuối cùng cuả chủ nghiã tư bản. Chúng ta khỏi phải đánh đấm chi cả, Hoa Kỳ cũng sẽ rơi vào tay chúng ta như một trái cây đã chín rưã – First, we will take eastern Europe, then the masses of Asia, then we will encircle the United States which will be the last – Nổ ra cuộc đấu tranh ở Huế – 5 bastion of Capitalism. We will not have to attack, it will fall into our hands like an overipe fruit.” ( The Death of A Nation – John A. Stormer – The Liberty Bell Press – Florissant Missouri, July 1978, Page 14 ).

* Ngày 8-5-1963: Bùng nổ vụ rối loạn, chống đối ở Cố Đô Huế, giưã hàng chục ngàn tín đồ Phật Giáo với nhân viên chính quyền địa phương và các lực lượng an ninh. Tổng Thống Diệm tuyên bố trên đài phát thanh quốc gia là vụ này có bàn tay cuả cộng sản nhúng vào, gây thêm tình trạng khó khăn cho địa phương, tạo thêm sự mâu thuẫn trầm trọng giưã chính phủ và 1 tôn giáo lớn trong nước. Cuộc rối loạn ngày càng gay go, dữ dội, quyết liệt và khi 1 trái lựu đạn nổ tung trong khu vực đài phát thanh Huế,gây thương vong cho một số người biểu tình chống đối thì tình trạng biến sang hình thức “ Một Tôn giáo lớn, đông đảo nhất trong nước chống lại một hệ thống chính quyền được lãnh đạo bởi 1 Tổng Thống và các nhân vật cao cấp, trọng yếu, đa số là người thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã.”

Trái lựu đạn nổ tung đó sau này được biết là do CIA cài đặt người, nhân lúc hỗn loạn, đã ra tay, cho nổ bùng đúng lúc để châm ngòi cho cuộc biểu tình chống đối từ Huế và sẽ lan ra khắp nơi, sau cùng là ngay tại Thủ Đô Sài Gòn, trung tâm quyền lực của Việt Nam Cộng Hòa.

Phía chính phủ thì lên tiếng : Tổng Thống Diệm sử dụng người theo nguyên tắc thông thường của các nhà lãnh đạo là căn cứ vào tài năng, đức độ, sự tin cậy, thích hợp cho công việc và lợi ích quốc gia, chớ không phải vì kỳ thị tôn giáo, không kỳ thị Phật Giáo như một số người buộc tội, gán ghép Cho ông Diệm. Ở điểm này, những người hiểu biết thì cho thấy rằng : Trong hàng ngũ Tướng lãnh của quân đội lúc đó, thử tìm coi có những ai là cùng tôn giáo với ông Diệm ?

Trong hàng ngũ các Bộ Trưởng trong chính quyền Ngô Đình Diệm lúc đó, ngoại trừ ông Trần Trung Dung, Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống ra, còn có ai là người công giáo như ông Diệm ? Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, được ông Diệm tin cậy, quý trọng, là người miền Nam, thì khác tôn giáo với ông Diệm, là Phật Tử rõ ràng…

Nói một cách rõ ràng thì dưới đây là những Phật Tử được ông Diệm chọn đứng cùng hàng ngũ, phục vụ Đất Nước với ông : – Ông Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng Thống. – Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng. – Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trấn Sài Gòn- Gia Định. – Ông Vũ Văn Mẫu, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao. – Ông Quách Tòng Đức, Đổng Lý Văn Phòng. – Ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng phủ Tổng Thống, kiêm Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng. – Ông Đoàn Văn Thêm, Phó Đổng Lý Văn Phòng. – Ôn Võ Văn Hải, Chánh Võ Phòng. – Ông Nguyễn Thành Cung, Tổng Thư Ký. – Ông Trần Sử, Bí Thư… Tất cả đều là Phật tử.

* * Toàn thể Bộ Tham Mưu của Tổng Thống đều là Phật Tử. * Trong số 18 Tổng Bộ Trưởng, chỉ có 5 người là Công giáo, còn 13 là Phật Tử.. * Bên quân đội, tổng số 19 tướng lãnh có quyền hành nhất, thì đã có 16 tướng là Phật tử, chỉ có 3 là công giáo… Nghĩa là đại đa số những nhân vật, những người nắm giữ và điều hành bộ máy chính quyền thời Ngô Đình Diệm đểu là Phật tử. Đó là chưa kể chính quyền Ngô Đình Diệm đã giúp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thời đó xây dựng nhiều Chùa – Chùa Xá Lợi ở đường Bà Huyện Thanh Quan, Sài Gòn – ( trong đó có chùa Xá Lợi, chùa Vĩnh Nghiêm …),giúp nhiều sư tăng ra nước ngoài ( nhất là ở Pháp, ở Mỹ … ) học hành đậu đạt bằng cấp cao ( kể cả Tiến Sĩ ) để trở về phục vụ hiệu quả hơn, mở mang các cơ sở giáo dục đào tạo thế hệ trẻ đủ khả năng phục vụ quốc gia, xã hội theo đường lối của tôn giáo mình .

thichtriquang-1967-13

Vậy, cái chuyện…kỳ thị Phật Giáo chỉ là chiến thuật khởi đầu ( starting tactic ) để mở màn kế hoạch huy động cho được khối dân chúng đông đảo, thực hiện chương trình đảo chánh lật đổ ông Diệm. Điều đó cũng đồng thời đánh trúng tâm lý ganh ghét của một số người không phải là ít, khi thấy sự phát triển mạnh mẽ, có hệ thống, có tổ chức của Giáo Hội công giáo tại miền Nam vào thời điểm đó, sau sự thành công rõ ràng của chính quyền Ngô Đình Diệm trong chương trình định cư cả triệu đồng 6 bào miền Bắc trốn chạy cộng sản, tìm đường vào Nam, mà trong đó phần đông là đồng bào công giáo. Chỉ riêng đồng bào công giáo của vùng Bùi Chu, Phát Diệm rời bỏ Bắc vào Nam cũng đã đông đảo biết bao nhiêu rồi… Sau này, nhiều người lại còn hỏi : bao nhiêu năm nay, Cộng sản Việt Nam đàn áp tôn giáo, kìm kẹp kẻ đối lập, áp bức dân chúng gấp… bao nhiêu lần Ông Diệm, mà sao dân chúng chẳng thấy những phe này, nhóm nọ biểu tình, chống đối, nổi loạn để lật đổ chính quyền cộng sản chi cả. Chỉ thấy gần đây mới có những nhân vật nam nữ đấu tranh ôn hòa cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền ở Việt Nam, đang bị cộng sản – Chùa Vĩnh-Nghiêm ở đường Công Lý – hành hạ, bắt nhốt trong tù mà thôi. ..

Gần đây nhất, vụ cá chết, biển độc, do công ty nước ngoài Formosa ở Hà Tĩnh gây ra thảm họa cho hàng triệu dân các Tỉnh miền Trung, đã thúc đẩy dân chúng đứng lên biểu tình ôn hòa đòi hỏi chính quyền, nhà nước cộng sản phải đứng ra giải quyết, bảo vệ dân, bảo vệ môi trường. Việc biểu tình đấu tranh ngày càng bùng lên với tầm cỡ lớn lao, lan rộng khắp nước, cả ở Hà Nội, Hải Phòng, vào các thành phố trong Nam, trong đó có Sài Gòn.Vậy mà chẳng thấy tổ chức, lực lượng nào đứng lên đấu tranh như những hồi chống ông Diệm hồi 1963, và chống Việt Nam Cộng Hòa ở Huế, Đà Nẵng hồi 1966, mà lúc này chỉ thấy có Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, vị lãnh đạo của Giáo Phận Vinh, đứng về phía dân chúng trong vùng, để cho các Linh mục công giáo của ngài cùng đứng với dân oan, dân khổ để đấu tranh, chỉ thấy Linh Mục Đặng Hữu Nam dẫn giáo dân đi kiện Formosa dù bị công an, cảnh sát cơ động ngăn cản, đe dọa, nhưng Linh mục Nam và giáo dân của ông cương quyết không bỏ cuộc. Người ta chỉ thấy Linh mục Trần Đình Lai hướng dẫn hàng chục ngàn giáo dân khắp vùng đứng lên biểu tình, bao vây, đuổi Formosa đi khỏi, Khí thế dũng mãnh đến độ công an, bộ đội bỏ chạy tán loạn, giáo dân trèo cả lên tường thành khu vực Formosa đã bị kiểm soát, nhưng tuyệt nhiên không bạo động, đốt phá, tạo thêm sức mạnh cho toàn dân Việt Nam sẵn sàng cho những bước đấu tranh kế tiếp.

Như vậy, người ta có thể hiểu : ở Nam Việt Nam, hồi đó người dân có quyền tự do, dân chủ khá rộng rãi cho nên việc biểu tình chống đối chính – Dân Hà Tĩnh biểu tình, Formosa…thất thủ – chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của của cơ quan “ Tình Báo, Gián Điệp của nước bạn đồng minh khổng lồ “ , được Thành Ủy cộng sản ở Huế phối hợp hành động, nắm lấy thời cơ, thúc đẩy dân chúng, dựa vào thế lực tôn giáo, mua chuộc Tướng lãnh quân đội, huy động dân chúng, đưa cán bộ, tranh thủ thời cơ, đẩy cuộc đấu tranh chống chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa vào một thế thuận lợi để giật xập chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền đang làm cho mọi hoạt động của cộng sản lâm vào tình trạng điêu đứng, khó khăn, bế tắc… về đủ mọi phương diện : chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa. Rõ ràng nhất là cộng sản sợ hãi chính sách tố cộng, chiêu hồi đã lôi kéo quá nhiều cán binh Việt cộng, có cả trung và cao cấp, quay trở về đầu thú, tiết lộ rất nhiều thông tin quan trọng. Cộng sản rất sợ quốc sách ấp chiến lược, bình định nông thôn của ông Ngô Đình Nhu… làm tê liệt khả năng của cộng sản trong chiến lược “ nắm vững nông thôn, bao vây và tiêu diệt thành thị “ trong lúc cả hai phía cộng sản cũng như Việt Nam Cộng Hòa đều biết rõ : phía nào nắm vững được nông thôn, bên đó sẽ thắng trong cuộc chiến tranh trường kỳ, phức tạp …trên chiến trường Việt Nam lúc này.

Sự rối loạn càng bùng lên dữ đội và lan mạnh tới các thành phố lớn rồi di chuyển trung tâm đấu tranh chống chính phủ về ngay tại Thủ Đô Sài Gòn, nơi tập trung các cơ quan quyền lực quốc gia, các Toà Đại Sứ ngoại quốc, cũng như các cơ sở truyền thông – Thượng Toạ Thích Trí Quang – 7 quốc tế.

Tại đây, Thượng Toạ Thích Trí Quang, một trong những vị lãnh đạo cao cấp Phật Giáo lúc đó, gốc người Bắc Việt, 2 lần bị Pháp bắt vì tình nghi có liên lạc hoạt động với cộng sản, người được dư luận trong và ngoài nước coi là một nhân vật tôn giáo đặc biệt, có tài tổ chức, lãnh đạo quần chúng trong các hoạt động đấu tranh chính trị… đứng ra phát động và lãnh đạo cuộc đấu tranh cuả dân chúng. Thượng Toạ thông báo cho phiá Mỹ biết là người Mỹ phải chịu trách nhiệm về những hoạt động cuả chính quyền Sài Gòn do Mỹ ủng hộ… ( Thich Tri Quang, a politically sophisticated monk of North Vietnamese origin, twice arrested by French on suspicion of Vietminh connections, stirs the people against Diem and informs US officials, whom he holds responsible for Diem because of US support…).

* Ngày 7- 6 -1963: Bà Ngô Đình Nhu lên tiếng tố cáo trước dư luận là người Mỹ đã cố tình nhúng tay vào, tạo nên vụ biến động này và thúc đẩy cho ngày một thêm trầm trọng, phức tạp thêm, nhằm khuynh đảo chính quyền cuả Tổng Thống Diệm vì Tổng Thống Diệm cương quyết không chấp nhận chính sách can thiệp chính trị và quân sự cuả người Mỹ, là chính sách đi ngược lại ý nguyện và quyền lợi cuả dân chúng Nam Việt Nam.

* Ngày 11-6-1963: Thượng Toạ Thích Quảng Đức “ tự thiêu “ ngay tại trung tâm thủ đô Sài Gòn, để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo cuả chính phủ. Theo nghĩa thông thường, “ tự thiêu “ là tự mình thiêu đốt mình cho một lý do, mục đích chi đó.Vụ tự thiêu của Thượng Tọa Quảng Đức nói ở đây, thì sự việc lại khác hẳn : …

Sau khi cầm bình săng tưới vào người Thượng Tọa Thích Quảng Đức đang ngồi bất động, tên cộng sản nằm vùng, mặc áo nhà sư, Nguyễn Công Hoan ( Huỳnh Văn Thạnh ) còn cẫn thận rãi thêm một đường săng từ chỗ Thương Tọa Quảng Đức đang ngồi, đi về phía sau, để hắn có thể đứng từ xa mà châm lửa ! Vậy mà toàn bộ sách báo cộng sản và phe phái chống đối đều viết rằng “Hoà Thượng Thích Quảng Đức TỰ tẩm xăng ”!!! Rồi ngay sau đó, cũng không phải do Thượng Tọa Thích Quảng Đức “TỰ bật quẹt Zippo để tự thiêu” như chúng rêu rao, mà là Thượng Toạ vẫn đang chấp hai tay trên ngực trong thế ngồi bất động ! Trước và sau khi ngọn lửa bùng lên, Thượng Toạ vẫn đang chấp tay trên ngực, còn ngọn lửa thì cháy từ phía sau, chạy tới rồi táp vào người Thượng Toạ để bùng lên ngọn lửa “tự thiêu”! Hòa thượng Thích Quảng Đức đã bị bức tử, đã bị… đốt chết bởi sự liên kết thực hiện giữa cộng sản và phe nhóm chống đối lúc đó… nhằm khích động cuộc nổi loạn của dân chúng đúng theo kế hoạch của CIA và cộng sản… Dư luận dân chúng trong nước và thế giới bị xúc động mạnh. Báo chí trong và ngoài nước, các cơ quan truyền thông khác, nhất là tại Mỹ ( đã bị lâm trận hoả mù cuả bọn – Thượng tọa Quảng Đức…bị thiêu – Lobbyists nói ở trên ) khai thác tối đa vụ này theo chiều hướng “ Phải thay thế ngay người lãnh đạo chính quyền Nam Việt Nam”. Thay thế bằng nhân vật nào ? – Các cơ quan truyền thông Mỹ không nói rõ, nhưng chỉ hướng dẫn dư luận là : loại bỏ Ông Diệm khỏi ngôi vị lãnh đạo chính quyền là được rồi…

Đang cơn dầu sôi lưả bỏng như thế thì vì tức giận người Mỹ và lực lượng đấu tranh nên đã nóng giận, mất sự khôn ngoan, bình tĩnh cần thiết trước tình thế bất lợi cho chính phủ., bà Nhu lên tiếng mạt sát, thoá mạ cuộc tự thiêu cuả Thượng Toạ Quảng Đức. Thật là “Lửa đã đỏ lại đổ thêm dầu ”. Điều này làm cho dư luận dân chúng thêm phẫn nộ, lợi thế nghiêng hẳn về phiá lực lượng đấu tranh chống chính phủ.

* Ngày 27- 6- 1963: Thấy tình hình Sài Gòn rối loạn, khó gỡ được ra, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy bổ nhiệm Ông Henry Cabot Lodge, thuộc Đảng Cộng Hoà, sang Sài Gòn giữ chức vụ Đại Sứ Hoa Kỳ, thay thế cho Đại Sứ Nolting, người đang tỏ ra bất lực trong việc gỡ rối cho tình hình Sài Gòn theo chiều hướng có lợi cho chính sách cuả Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.

Thực tâm Tổng Thống Kennedy là chỉ gỡ rối sao cho êm đẹp, thuận lợi cho đường lối, chính sách cuả Hoa Kỳ, cuả Ông Kennedy, chớ Ông Kennedy lúc này không hề nghĩ đến việc lật đổ Ông Diệm, nhất là không bao giờ nghĩ đến việc phải giết Ông Diệm. Ông Cabot Lodge ( đảng Cộng Hòa ) được giới chính trị và truyền thông Hoa Kỳ coi là “ Một con cáo già chính trị ” và đồng thời là một “ Chuyên viên đảo chánh ”, hiện đang theo đuổi một chính sách mang tính cách “Diều hâu ” khác hẳn với Ông Kennedy ( đảng Dân Chủ ) về vấn đề Việt 8 Nam. Một Cabot Lodge, cáo già chính trị, chuyên viên đảo chánh, không cùng 1 Đảng với Ông Kennedy. Cabot Lodge thuộc Đảng Cộng Hòa, có nhiều liên hệ với quyền lợi cuả bọn tài phiệt buôn bán chiến tranh, mà sang làm Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn thì tình hình sẽ ra sao ?

Cabot Lodge được cử sang Sài Gòn với nhiệm vụ “gỡ rối – Untangling ” tình hình, nhưng Cabot Lodge lại quyết định chọn “ phương cách gỡ rối ” bằng một “Cuộc đảo chánh – Coup d’état ” êm ái, nhẹ nhàng, không chọc giận Ông Kennedy, sinh trưởng trong 1 gia đình theo đạo Thiên Chuá, nghiã là chỉ cần đẩy Ông Diệm ra khỏi ngôi vị lãnh đạo chính quyền Nam Việt Nam, đưa Ông Diệm đi sống lưu vong ở một quốc gia nào đó nằm trong “ Quỹ đạo chính trị – Political circle ” cuả Hoa Kỳ, như Đài Loan, Thái Lan chẳng hạn là đủ rồi. Sau đó, Cabot Lodge sẽ dựng lên một thứ chính quyền mới hoàn toàn biết vâng phục theo ý muốn cuả Hoa Kỳ, hay đúng ra trong lúc này, là ý muốn cuả “Giới tài phiệt – Financial Oligarchy ” cuả Mỹ đang tính chuyện kiếm lời thật lớn lao trong cuộc chiến tranh đang xẩy ra trên đất nước Việt nam nhỏ bé nhưng đầy đau khổ, máu xương và nước mắt này… Đó ! Câu trả lời cho cái đầu đề cuả bài viết này “Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ Ông Ngô Đình Diệm ? ” tưởng đã đủ rõ ràng, khả dĩ góp phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ 1 trang lịch sử cận đại cuả một đất nước, một dân tộc anh hùng, nhưng quá bé nhỏ trước nanh vuốt cuả …những thế lực khổng lồ, hung bạo nên đành phải chịu chấp nhận tủi nhục, đau thương…

Nó là một bài học vô cùng quý giá cho những quốc gia cường thịnh cũng như nhược tiểu trong cuộc đoàn kết đấu tranh để sinh tồn trong một thế giới ngày càng thêm phức tạp, rắc rối, đòi hỏi một thế liên minh sáng suốt, khôn ngoan và chung thủy. Nếu không, kẻ thắng và người thua, rút cuộc tất cả như nhau, sẽ mang vào mình những kết quả thảm hại, những cái nhìn xấu xa nhất cuả những người chung quanh, kể cả kẻ thù lẫn bạn bè…

San Diego – California

Phan Đức Minh

Tài liệu tham khảo : * The Death of A Nation.- John A. Stormer.- Liberty Bell Press – Missouri, 1978.

* The World Almanac of The Vietnam War.- John S. Bowman (General Editor). Bison Books Corp.- New York, 1985.

* Vietnam : The History & The Tactics .- Ahsley Brown & Adrian Gilbert .- Orbis Publishing Limited .- London,1982.

* The Final Days .- Bob Woodward & Carl Bernstein.- The Hearst Corporation.- New York, 1976.

* Henry Kissinger Diplomacy.- Simon & Schuster.- New York, 1994.

– * Kennedy .- Theodore Sorensen.- Harper & Row.- New York, 1965.

– *A Book of U.S. Presidents.- George Sullivan .- Scholastic Incorporation.- New York,1984.-

—————————————————————————————–

Tình cảnh của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sau 1975

Trích từ tạp chí Luật Khoa

Năm 1982, hai hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ bị đưa đi lưu đày mỗi người một nơi tại hai tỉnh Quảng Ngãi và Thái Bình.

Hai hòa thượng Thích Quảng Độ (trái) và Thích Huyền Quang trong một tấm ảnh chưa rõ năm chụp, có thể vào những năm 2000 trong thời gian Thích Huyền Quang bị lưu đày ở Bình Định. Hòa thượng Thích Huyền Quang sinh năm 1919, xuất gia ở Bình Định từ năm 13 tuổi. Theo GHPGVNTN, ông bị giam giữ tại các chùa cho đến khi viên tịch

Bắt giữ đồng loạt các nhà sư

Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời (vào ngày 7 tháng 11 năm 1981) cũng là lúc các nhà sư bị phân biệt thành hai nhóm: sư hợp pháp và sư bất hợp pháp.

Những nhà sư bất hợp pháp là những người không tham gia Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Các nhà sư bất hợp pháp này hoặc lâm vào cảnh khốn khó như Đại đức Thích Huệ Thâu hoặc góp mặt trong ít nhất 7.000 người trong các trại cải tạo vào năm 1985.

Chính quyền đã tổ chức một cuộc vây bắt đồng loạt các nhà sư không cùng quan điểm với chính quyền và GHPGVN.

Vào tháng 4/1984, chính quyền Việt Nam đã đồng loạt bắt khoảng 12 tăng, ni ở nhiều ngôi chùa khác nhau, trong đó có những người là học giả uyên bác của Phật giáo miền Nam như Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ hay Hòa thượng Thích Trí Siêu.

Theo sau vụ bắt giữ đồng loạt này, tháng 8/1984, chính quyền tiếp tục bắt giữ Hòa thượng Thích Đức Nhuận, giáo sư của Viện Đại học Vạn Hạnh, biên tập viên của Tạp chí Vạn Hạnh. Cùng vụ bắt Hòa thượng Đức Nhuận, Hòa thượng Thích Tâm Quang và chú tiểu “Vinh Hien” cũng bị bắt giữ vì không tham gia GHPGVN.

Vào tháng 10/1984, chính quyền bắt giữ hai trụ trì của chùa Quang Âm và chùa Đại giác ở thành phố Hồ Chí Minh là Hòa thượng Thích Thông Bửu và Thích Thiệu Huệ.

Đến năm 1986, chính quyền vẫn tiếp tục giam giữ mà không đưa ra xét xử các hòa thượng Nguyên Giác, Như Minh, Đức Nhuận, Trí Siêu tại trại giam Chí Hòa.

Mãi cho đến năm tháng 9/1988, chính quyền mới xét xử các hòa thượng Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Siêu cùng 19 tăng ni, phật tử khác. Tất cả đều bị cáo buộc tham gia hoạt động lật đổ nhà nước và thành lập một tổ chức cách mạng. Hai hòa thượng Tuệ Sỹ và Trí Siêu bị tuyên án tử hình nhưng sau đó được giảm án, những người khác bị tuyên án từ bốn năm tù giam đến chung thân.

Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. (Rm 6:3-4)

Một ngày bình yên và hạnh phúc trong Chúa nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 30/04/2023

TIN MỪNG: THIÊN CHÚA phán với ông rằng: “Phần Ta, đây là giao ước của Ta với ngươi: ngươi sẽ làm cha của vô số dân tộc. Người ta sẽ không còn gọi tên ngươi là Áp-ram nữa, nhưng là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc. (St 17:4-5)

SUY NIỆM: Mỗi người Công Giáo VN đều có một Tên Thánh hay tên bổn mạng. Tục lệ lấy tên thánh đặt cho các cá nhân đã có từ thời giáo hội sơ khai. Công đồng Nicaea của Công Giáo, họp năm 325 cấm việc dùng tên các thần thánh không phải của Thiên Chúa Giáo để đặt tên. Cho nên việc lấy tên một vị thánh là để noi gương vị thánh đó, sống thánh thiện nhân lành, và cũng để nhờ Ngài nâng đỡ, che chở và cầu bầu cho mình trước Thiên Chúa.

Tin Mừng hôm nay cho biết việc Chúa gọi Áp-ram, giao ước cho ông làm tổ phụ nhiều dân tộc và đổi tên ông thành Áp-ra-ham. Bởi đó Áp-ra-ham rất được người Do thái ngưỡng mộ. Họ coi ông là tổ phụ của họ. Khi bạn được rửa tội bạn được làm con của Thiên Chúa, được tham dự vào sự sống mới của của Ba Ngôi Thiên Chúa để bạn biết lắng nghe Lời Chúa dậy, học và thực hiện những điều bạn đã hứa trong ngày lãnh Bí tích Rửa tội.

Vậy lối sống của bạn có phản ảnh đúng với lời hứa trong ngày lãnh Bí tích Rửa tội không? Có bao giờ bạn chạy đến thánh bổn mạng để noi gương các ngài và xin các ngài giúp bạn trở nên trong trắng, trở nên thánh thiện xứng đáng là con Thiên Chúa chưa?

Bạn có coi những người chung quanh là anh em với nhau trong Hội thánh, giúp đỡ nhau cố gắng giữ gìn cho tâm hồn luôn trong trắng và thực hành những điều Chúa và Hội thánh dậy không?

LẮNG NGHE: Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Ki-tô Giê-su, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. (Rm 6:3-4)

CẦU NGUYỆN: Lậy Chúa, khi chịu Bí tích Rửa tội con đã hứa với Chúa chỉ tin và thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi, quyết tâm từ bỏ ma quỷ, những cám dỗ của chúng để con luôn xứng đáng là con Thiên Chúa. Xin Chúa giúp con thực hiện quyết tâm ấy qua việc ăn nói nhẹ nhàng lịch sự với nhau trong đời sống hằng ngày.

THỰC HÀNH: Tên thánh của bạn là gì? Hãy đọc và tìm hiểu thêm về vị thánh đó. Nếu được thì hãy đọc kinh thánh quan thầy của bạn hằng ngày để xin ngài cầu giúp nhé.

From: Đỗ Dzũng

Đừng bỏ con Chúa ơi-tinmung.net

Goldman Sachs cho biết 300 triệu việc làm có thể bị ảnh hưởng bởi làn sóng AI mới nhất

Theo CNN

Bài viết của Michelle Toh

Theo các nhà kinh tế của Goldman Sachs, có tới 300 triệu công việc toàn thời gian trên toàn thế giới có thể được tự động hóa theo một cách nào đó nhờ làn sóng trí tuệ nhân tạo mới nhất đã tạo ra các nền tảng như ChatGPT.

Họ dự đoán trong một báo cáo hôm Chủ nhật rằng 18% công việc trên toàn cầu có thể được vi tính hóa, với những tác động sâu sắc hơn ở các nền kinh tế tiên tiến so với các thị trường mới nổi.

Điều đó một phần là do những người lao động cổ cồn trắng được coi là có nhiều rủi ro hơn những người lao động chân tay. Các nhà kinh tế cho biết, các công nhân hành chính và luật sư dự kiến ​​sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất, so với “ảnh hưởng nhỏ” đối với các công việc đòi hỏi thể chất hoặc hoạt động ngoài trời, chẳng hạn như công việc xây dựng và sửa chữa.

Tại Hoa Kỳ và Châu Âu, khoảng 2/3 công việc hiện tại “được tiếp xúc với một mức độ tự động hóa AI nào đó” và có tới 1/4 tổng số công việc có thể được thực hiện hoàn toàn bằng AI, ngân hàng ước tính.

Các nhà kinh tế viết: Nếu trí tuệ nhân tạo tổng quát “mang lại những khả năng như đã hứa, thì thị trường lao động có thể phải đối mặt với sự gián đoạn đáng kể”. Thuật ngữ này đề cập đến công nghệ đằng sau ChatGPT, cảm giác chatbot đã gây bão trên toàn thế giới.

ChatGPT, có thể trả lời lời nhắc và viết bài luận, đã khiến nhiều doanh nghiệp phải suy nghĩ lại về cách mọi người nên làm việc hàng ngày. Tháng này, nhà phát triển của nó đã tiết lộ phiên bản mới nhất của phần mềm đằng sau bot, GPT-4.

Nền tảng này đã nhanh chóng gây ấn tượng với những người dùng ban đầu nhờ khả năng đơn giản hóa mã hóa, nhanh chóng tạo một trang web từ một bản phác thảo đơn giản và vượt qua các kỳ thi với số điểm cao.

Các nhà kinh tế của Goldman Sachs viết, việc sử dụng thêm AI như vậy có thể sẽ dẫn đến mất việc làm. Nhưng họ lưu ý rằng đổi mới công nghệ ban đầu thay thế người lao động về mặt lịch sử cũng tạo ra tăng trưởng việc làm trong một thời gian dài.

Theo Goldman Sachs, trong khi nơi làm việc có thể thay đổi, việc áp dụng rộng rãi AI cuối cùng có thể tăng năng suất lao động — và thúc đẩy GDP toàn cầu thêm 7% mỗi năm trong khoảng thời gian 10 năm. Các nhà kinh tế cho biết thêm: “Mặc dù tác động của AI đối với thị trường lao động có thể là đáng kể, nhưng hầu hết các công việc và ngành công nghiệp chỉ tiếp xúc một phần với tự động hóa và do đó có nhiều khả năng được bổ sung hơn là thay thế bởi AI”.

“Hầu hết người lao động được tuyển dụng trong các ngành nghề tiếp xúc một phần với tự động hóa AI và sau khi áp dụng AI, ít nhất họ sẽ có khả năng áp dụng một số năng lực được giải phóng của họ cho các hoạt động sản xuất giúp tăng sản lượng.”

Các nhà nghiên cứu cho biết thêm, trong số những công nhân Hoa Kỳ dự kiến ​​sẽ bị ảnh hưởng, chẳng hạn, 25% đến 50% khối lượng công việc của họ “có thể được thay thế”.

“Sự kết hợp giữa tiết kiệm đáng kể chi phí lao động, tạo việc làm mới và tăng năng suất cho những người lao động không phải di dời làm tăng khả năng bùng nổ năng suất lao động giống như những điều đã xảy ra sau sự xuất hiện của các công nghệ đa năng trước đó như động cơ điện và máy tính cá nhân. ”

Nguồn:

300 million jobs could be affected by latest wave of AI, says Goldman Sachs

KHÔNG THỂ PHI THƯỜNG HƠN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Trước khi có Abraham, thì Tôi, Tôi Hằng Hữu!”.

Năm 125 sau Công Nguyên, Aristeides giải thích sự thành công lạ thường của “một tôn giáo mới!”. Ông viết, “Bất kỳ một Kitô hữu chân chính nào rời khỏi thế giới, họ đều hân hoan dâng lời cảm tạ Thiên Chúa; họ mang theo thân xác những ca khúc tạ ơn! Như ‘bất tử’, họ đang đi từ một nơi này đến một nơi khác gần đó; một sự dịch chuyển ‘không thể phi thường hơn!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Ý tưởng ‘bất tử’ của Aristeides thật phù hợp với Lời Chúa hôm nay! “Chim sắp chết, chim kêu thống thiết; người sắp chết, nói lời nói thiệt!”. Biết mình sắp chết, Chúa Giêsu đưa ra một tuyên bố rất thật, ‘không thể phi thường hơn’, “

Trước khi có Abraham, thì Tôi, Tôi Hằng Hữu!”.

Ghi lại lời này của Chúa Giêsu, tác giả lùi lại lời tựa Phúc Âm của mình; ở đó, phượng hoàng Gioan chấp cánh bay về tận mút cùng của tạo thành, “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa; và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Cùng Chúa Cha, Ngôi Lời đã có mặt trước cả Abraham, trước cả phút chào đời của bất cứ tạo vật nào! Tuy nhiên, Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, xuống thế làm người, và Ngài vẫn ở với Chúa Cha. Trở về với Chúa Cha, Ngài vẫn ở với loài người; và giờ đây, đang ở với Cha, vừa đang ở với chúng ta. Đây là sự hiện diện tất yếu của một tình yêu bất tử nơi Thiên Chúa, một sự hiện diện ‘không thể phi thường hơn!’.

Chúa Giêsu còn nói, “Ai tuân giữ lời Tôi, sẽ không bao giờ chết!”. Đây là một tóm kết gọn ghẽ điều Chúa hứa với Abraham, một người hoàn toàn “tuân giữ” những gì Thiên Chúa nói và xem ra “không bao giờ chết”; sách Sáng Thế hôm nay tiết lộ, “Ta sẽ lập giao ước giữa Ta với ngươi từ thế hệ này qua thế hệ khác”. Giao ước Chúa lập với Abraham; về sau, với Đavít thật bền bỉ, “Dòng dõi ngươi sẽ trường tồn vạn kỹ”, đã nên hiện thực nơi Chúa Giêsu. Thánh Vịnh đáp ca xác tín, “Giao ước lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi!”, một giao ước ‘không thể phi thường hơn!’.

Nói rằng, “sẽ không bao giờ phải chết”, Chúa Giêsu nói đến cái chết của linh hồn. Ai giữ lời Ngài, sẽ không biết đến cái chết ‘kiểu đời đời’ này! Bởi lẽ, họ đã bắt đầu chia sẻ cuộc sống Thiên Chúa ‘ở đây và lúc này’, một cuộc sống vượt quá cái chết thể xác. Nếu trao phó đời mình cho Chúa, chúng ta cũng sẽ bắt đầu sống cuộc sống không bị cái chết làm gián đoạn. Cuộc sống hiệp thông với Chúa sẽ không bị phá vỡ bởi cái chết; đúng hơn, được đào sâu hơn qua cái chết! Thật tiếc, người Do Thái không nhận ra! Nếu nhận ra ‘Chủ Nhân’ của sự sống và cái chết là ai, họ sẽ tò mò thay vì tức giận, hy vọng thay vì dể duôi, đón nhận thay vì báng bổ!

Anh Chị em,

“Ai tuân giữ lời Tôi, sẽ không bao giờ chết!”. Đó là lời hứa tuyệt vời của Giêsu Hằng Hữu, Đấng chết cho tội lỗi của con người và sống lại cho sự bất tử của nó! Ngài đang sống trong bạn, trong tôi, ngay trong thế giới thê lương này. Vì thế, ngày ngày, không chỉ khi còn sống, chúng ta hân hoan ca tụng Ngài, mà cả khi rời khỏi thế giới này, chúng ta “mang theo thân xác những ca khúc tạ ơn!”. Là con của ‘Đấng Bất Tử’, chúng ta đang được thông chuyển sự sống thần linh và sống đời đời của Ngài. Quả thế, một khi tuân giữ Lời Thiên Chúa, chúng ta đã quá vĩ đại! Do đó, đừng để cho sự tẻ nhạt của đời sống với những tân toan kéo ghì chúng ta xuống. Hãy sống tâm thế của con cái Thiên Chúa ngay giữa đời sống thường nhật này, “Tâm hồn luôn hướng lên cao cùng với lời tạ ơn trong mọi hoàn cảnh”. Và như thế, bạn và tôi ‘không thể phi thường hơn!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dẫu hèn yếu, con được gọi cho một sứ vụ lớn. Đừng để con hoá tầm thường; vì như vậy, con sẽ cản trở những công trình ‘không thể phi thường hơn’ Chúa dành cho con!”.  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

LỄ LÁ 2023 – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Nghi thức phụng vụ khai mạc Tuần Thánh mang nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau: khởi đầu là bầu khí náo nhiệt tưng bừng, kết thúc là một thảm kịch bi thương.  Bài thương khó theo thánh Matthêu đưa chúng ta từ phòng Tiệc ly, đến chân thập giá và cuối cùng kết thúc nơi một nấm mồ được niêm phong.  Nghe đọc trình thuật thương khó của Chúa Giêsu, chúng ta cũng hoảng hốt như các môn đệ và số đông dân chúng đương thời.  Có lẽ nào một người tự xưng là Thiên Chúa mà nay phải chết cách nhục nhã thương đau?  Có lẽ nào một vị ngôn sứ đã từng nổi tiếng về quyền năng trong lời nói cũng như hành động mà nay phải thất bại trước mưu mô toan tính của con người?  Công lý ở đâu?  Phải chăng trời không có mắt?  Còn biết bao vấn nạn nữa được đặt ra, trong sự hoang mang sợ hãi của những người chứng kiến.  Nỗi sợ ấy lớn đến mức các môn đệ sợ hãi chạy trốn.  Giây phút Chúa Giêsu chịu thương khó và chịu chết là thời điểm của quyền lực tối tăm.  Bạo lực và gian dối nhấn chìm tất cả trong đau thương và bi đát.

Những sự kiện được trình bày trong Bài Thương khó, sẽ được lần lượt cử hành qua các lễ nghi của Tam nhật Vượt qua.  Ngày lễ lá chỉ là khúc dạo đầu của các lễ nghi Tuần Thánh.  Trong Tam nhật Vượt qua, chúng ta sẽ từng bước đi theo Chúa Giêsu từ nhà Tiệc Ly (thứ Năm Tuần Thánh) đến chân đồi Canvê (thứ Sáu Tuần Thánh).  Cùng cảm nhận sự hoang mang trống vắng của các môn đệ, chúng ta đến bên mộ Chúa (thứ Bảy Tuần Thánh), rồi cuối cùng là niềm vui Phục sinh vỡ oà nơi chúng ta và các Kitô hữu trên khắp địa cầu.

Hãy trở lại cuộc thương khó của Chúa Giêsu.  Tác giả Phúc âm cũng như các độc giả gốc Do Thái nhận ra nơi Chúa Giêsu người tôi tớ đau khổ mà ngôn sứ Isaia diễn tả.  Bài đọc thứ nhất Lễ Lá là Bài ca thứ ba, trong số bốn bài ca về người tôi trung của Đức Giavê.  Ngôn sứ Isaia diễn tả một người bị đánh bầm dập, chịu phỉ nhổ nhạo cười mà không thẹn thùng và cũng không cãi lại.  Đó là người tôi tớ trọn niềm trung kiên để thực hiện thánh ý Đức Giavê.  Tương tự như thế, thánh Matthêu diễn tả những nhục hình mà Chúa Giêsu đã chịu.  Những người lĩnh La Mã chế giễu Chúa và trút lên Người những trận mưa đòn trong sự ngạo nghễ của một đại quốc đối với công dân của một nước chư hầu.  Họ đã biến Người thành một tên hề để giải khuây.  Trong tình huống này, Chúa Giêsu vẫn nhẫn nhục.  Người mang vào bản thân sự đau đớn tinh thần cũng như thể xác.  Đối với một người đã có thời nổi tiếng và vinh quang, mà nay chịu nhuốc nha sỉ nhục, thì nỗi nhục càng lớn hơn gấp bội.

Trong trình thuật thương khó, đám đông dân chúng, dù không phải là nhân vật chính, nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn.  Mới trước đó họ cầm ngành lá để tung hô Chúa khi Chúa vào thành thánh, với sự thán phục và tự hào.  Vậy mà giờ đây họ giơ cao tay để đòi Philatô giết Chúa.  Họ nằng nặc đòi tha Baraba là một tù nhân khét tiếng, và đòi lên án tử cho Chúa Giêsu.  Lòng thù hận đã làm cho con mắt họ trở nên mù tối.  Dù biết Chúa Giêsu là người vô tội, họ vẫn tìm cớ để tố cáo Người.

Đức Giêsu cô đơn giữa một đám đông khát máu.  Chặng đường thập giá cho chúng ta thấy chỉ có vài người phụ nữ bày tỏ lòng xót thương theo cảm tính nữ nhi.  Các môn đệ sợ hãi chạy trốn.  Những người đã trầm trồ thán phục khi Người rao giảng và làm phép lạ, nay chẳng thấy đâu.  Chúa đã đón nhận thập giá trong tâm tình vâng phục Chúa Cha.  Bài đọc II, trích thư của thánh Phaolô gửi giáo dân Philipphê đã diễn tả điều đó.  Người đã vâng lời cho đến chết và chết trên cây thập tự.  Tuy vậy, Chúa Giêsu không kết thúc cuộc đời ở nấm mộ.  Người đã phục sinh.  Qua sự phục sinh vinh quang này, Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Người.  Cả trên trời dưới đất và nơi âm phủ đều phải tuyên xưng Người là Chúa.

Trình thuật thương khó không chỉ là sự kiện của quá khứ cách đây hai ngàn năm, mà còn là của ngày hôm nay.  Thế giới hiện tại chính là đám đông hỗn độn năm xưa.  Quả vậy, trong xã hội của chúng ta, vẫn còn đó những người vô tội bị kết án oan sai và bị giết chết.  Biết bao người là nạn nhân của bạo lực, của chiến tranh, của kỳ thị.  Họ là những người yếu thế trước cường quyền.  Khi đọc trình thuật thương khó, mỗi chúng ta đều có thể nhận ra mình là một nhân vật trong vở kịch bi thương đó.  Hai ngàn năm đã qua, vẫn còn đó một đám đông ồn ào quan điểm bất nhất.  Vẫn còn đó những Philatô, những ký lục và biệt phái.  Họ là những người cậy quyền thế để áp bức dân nghèo.  Chúa Giêsu vẫn đang vác thập giá ngang qua cuộc đời chúng ta.  Người hiện thân nơi anh chị em chúng ta, nhất là nơi những người đau khổ và bất hạnh.  Chúng ta thờ ơ với những đau thương của Người, khi chúng ta thờ ơ với nỗi đau của đồng loại.  Biến cố thập giá giúp ta hồi tâm để tìm lại chính mình, đồng thời xin Chúa ban sức mạnh để tiếp tục tiến bước trong hành trình cuộc đời.

Chứng kiến biến cố thập giá năm xưa, nhiều người đương thời cũng đặt ra những vấn nạn về bất công, đau khổ và về sự gian ác của con người.  Hôm nay, trong cuộc sống của chúng ta, những vấn nạn đó cũng vẫn đang được đặt ra, thậm chí vấn nạn về sự hiện hữu của Thiên Chúa và về lòng thương xót của Người.  Chúng ta hãy nhìn lên thập giá Chúa Giêsu để phần nào hiểu được ý nghĩa của đau khổ.  Cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta: đã sinh vào kiếp người, ai cũng phải chết.  Lửa thử vàng, gian nan thử đức.  Những ai yêu mến và hy sinh vì tha nhân, sẽ tìm được hạnh phúc cho bản thân mình.  Hạnh phúc đó, không ai lấy mất, nhưng tồn tại mãi mãi.  Thập giá cũng nói với chúng ta: chính con người đang hủy hoại đồng loại và không ngừng gây đau khổ cho nhau.  Hãy ngưng bạo lực!  Hãy xây đắp tình huynh đệ!  Như thế đau khổ sẽ bị đẩy lui và hạnh phúc sẽ tràn đầy.  Chúa Giêsu sẽ nâng đỡ chúng ta trong hành trình thập giá, như chính Người đã hứa.

Trong những ngày sắp tới, chúng ta cùng với Giáo Hội hoàn vũ cử hành nghi thức Tam nhật Vượt qua.  Những nghi thức này, thường là khá dài, hàm chứa những ý nghĩa biểu tượng rất sâu sắc.  Trong thinh lặng sâu lắng, chúng ta chiêm ngưỡng hình ảnh người Tôi tớ Giavê và suy tư cuộc khổ nạn của Người.  Qua đó, cuộc đời chúng ta được biến đổi, bao dung quảng đại hơn.  Chúa Giêsu đã chết vì chúng ta.  Người là nạn nhân của bạo lực và của vu khống.  Người khiêm nhường và hiền lành giữa cơn lốc hận thù của những người đồng bào.  Người chấp nhận cái chết để đem lại tự do và giải thoát cho muôn dân.  Người chính là con chiên vượt qua mới, thay thế cho con chiên vượt qua cũ của phụng tự Cựu ước.

Thập giá không chỉ là biểu tượng của thương đau và thất bại, nhưng còn là dấu chỉ của tình yêu và hy vọng.  Nếu Chúa Giêsu đã chết trên thập giá, thì Người cũng đã sống lại vinh quang.  Thập giá chỉ là một giai đoạn mang tính nhất thời.  Đau khổ nào rồi cũng sẽ qua đi.  Sau cơn mưa trời lại hửng sáng.  Sự phục sinh vinh quang mới là đích điểm của Đức tin Kitô giáo.  Thế nhưng, không chết thì làm sao sống lại?  Khi tham dự các nghi thức Tuần Thánh, Giáo Hội mượn lời thánh Phaolô để kêu mời chúng ta hãy cùng chết với Đức Kitô để được sống lại với Người.  Hình ảnh hạt lúa mì gieo xuống đất chấp nhận mục nát để nảy nở, mọc cây và sinh hoa kết trái, chính là biểu tượng cho niềm hy vọng của chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Thương Tiếc Đặng Mỹ Dung và “Ngàn Giọt Lệ Rơi”

Nhận được tin buồn Nhà văn Đặng Mỹ Dung vừa từ trần lúc 7 giờ chiều ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại Thành phố Atlanta, Tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ.

Tác phẩm A Thousand Tears Falling / Ngàn Giọt Lệ Rơi của bà đã xuất bản hơn 13 năm nên có nhiều websites đăng tải lắm.

Nhà văn Đặng Mỹ Dung có 7 anh chị em gồm Anh Đặng Văn Khôi, 1937 (đã mất); Chị Kim; Chị Cương (đã mất); Đặng Mỹ Dung, 1946-2023; Đặng Hải Vân, 1950 (đã mất); Đặng Hòa Bình, 1954; và Đặng Minh Tâm, 1956.

Mời đọc tác phẩm: Ngàn Giọt Lệ Rơi, – Trang Sách Truyện Việt Nam thư quán (vnthuquan.net)

Ða số hồi ký của các nhân vật lịch sử Việt Nam thường viết về thời gian trước tháng tư 75, và thiếu vắng tác phẩm của phụ nữ. Nhưng bút ký về cuộc đời bà Mỹ Dung đã viết về một giai đoạn chính từ sau tháng tư 75. Phải chờ giải mật năm 1995 tức là 20 năm sau tác phẩm bằng Anh ngữ “A Thousand Tears Falling..” mới được xuất bản.

Ngay khi tác phẩm ra đời, báo chí và các nhà điểm sách Hoa Kỳ đã không tiếc lời khen ngợi. Nhiều độc giả Việt Nam cũng đã mua và đọc nguyên tác Anh Ngữ. Nhưng đa số vẫn còn mong có cơ hội đọc bản Việt ngữ của một câu chuyện thực hết sức bi thương và hấp dẫn.

Ngàn Giọt Lệ Rơi

Bìa cuốn sách ” Ngàn Giọt Lệ Rơi”

Phác họa chuyện phim “Ngàn giọt lệ rơi”

“A thousand Tears Falling” bắt đầu từ ngoại cảnh tại Nhật Bản. Thời gian lúc đó là tháng 6-1975, không gian là tại phòng tiếp tân của đại khách sạn Nhật Bản tại Ðông Kinh. Tại đây, một hội nghị quốc tế giữa các nước Ðông Nam Á đang diễn ra. Ông Ðặng Văn Minh là trưởng phái đoàn của nước cộng sản Việt Nam vừa chiến thắng Sài Gòn 2 tháng trước, đến dự hội nghị với niềm tự hào và được sự lưu ý của báo chí thế giới. Tuy nhiên, cũng vào chiều hôm đó tại Ðông Kinh, người cán bộ cao cấp của phe cộng sản gặp lại con gái sau 23 năm xa cách. Từ hình ảnh trong đại sảnh của khách sạn quốc tế tại Tokyo, phía trước treo cờ các nước dự hội nghị, có cờ đỏ sao vàng. Hình ảnh vị trưởng phái đoàn rạng rỡ tươi cười mở đầu cuốn phim để tiếp đến hình ảnh hồi tưởng thời kỳ trong chiến khu với cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Ông Minh sinh năm 1909 tại Vĩnh Long, đi theo Kháng Chiến và trở thành nhân viên cao cấp của Mặt Trận. Năm 1954, ông dẫn con trai lớn 17 tuổi là Ðặng Văn Khôi ra Bắc. Vợ ông Minh là bà Trần Thị Phàm và 5 con nhỏ ở lại miền Nam. Khi chia tay hẹn 2 năm trở lại nhưng thật sự phải hơn 20 năm sau người cộng sản mới vào được Sài Gòn thì lúc đó đã biết bao nhiêu vật đổi sao dời. Người con trưởng theo bố ra Bắc đã trở thành sĩ quan của quân đội nhân dân được gửi đi Nga học về hỏa tiễn phòng không năm 1968. Ðến năm 1975, ông Minh trong khi vẫn một lòng trung thành với chế độ và trở nên cán bộ cao cấp ngành ngoại giao thì người con trưởng Ðặng Văn Khôi có thái độ chống chiến tranh nên đã bị sa thải khỏi quân đội miền Bắc.

Tại miền Nam, người con trai thứ của ông bà là Ðặng Hải Vân, lúc ông tập kết chỉ có 5 tuổi sau này đã trở thành phi công của Không Quân Việt nam Cộng Hòa. Nhưng không may Hải Vân đã bị thiệt mạng trong một phi vụ bay huấn luyện tại Hoa Kỳ lúc 21 tuổi. Chị Ðặng Mỹ Dung là con thứ tư của ông bà đã thành hôn với đại úy phi công của Hải Quân Hoa Kỳ tại Sài Gòn và năm 75 gia đình chị đang sống tại Hawaii. Cuộc sống thơ mộng và bình yên của ông Krall và bà Mỹ Dung hoàn toàn thay đổi từ tháng 4-1975.

Cũng vào tháng 4-1975, lúc đó cha của bà Dung là ông Minh đang làm đại sứ cộng sản Hà Nội tại Nga Sô, mẹ của bà và đứa em út thì kẹt ở Sài Gòn. Với bao năm xa cách, với quan niệm về cuộc sống khác biệt, bà Phàm vợ ông Minh không hề có ý muốn ở lại Sài Gòn để chờ đoàn tụ với chồng. Ðặng Mỹ Dung từ Hạ Uy Di liền yêu cầu thiếu tá Krall tìm cách về Sài Gòn đón gia đình bà mẹ qua Mỹ. Khi ông Krall qua Sài Gòn đã lâu mà chưa có tin tức gì, tại Hawaii, bà Ðặng Mỹ Dung lo sợ đã nói chuyện trực tiếp qua điện thoại cầu cứu với đề đốc Gaylor, tổng tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương tại Trân Châu Cảng. Lời nói chỉ vắn tắt báo cáo chuyện chồng bà về Sài Gòn để lo cứu gia đình sao chưa thấy qua, nhưng bà nói thêm một tin tức động trời, bà là con gái của đại sứ cộng sản Việt Nam tại Mạc Tư Khoa.

Đặng Mỹ Dung

Lập tức guồng máy quân báo của Hải Quân Hoa Kỳ chuyển động và cả FBI lẫn CIA nhập cuộc. Hệ thống tình báo Mỹ ghi nhận ngay đây là một đầu mối vô cùng quan trọng mà tại sao lâu nay không ai biết. Ngay cả lúc hồ sơ thành hôn của vị sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ cũng không ai lưu ý đến mối liên hệ huyết tộc của cô dâu nước Mỹ có đầu mối Hà Nội. Họ cứ tưởng đây chỉ là cô gái thuần túy Sài Gòn.

Tiếp theo khi chuyến bay chở mẹ và em gái út của Ðặng Mỹ Dung ra khỏi Việt Nam do CIA Sài Gòn trực tiếp sắp đặt thì một khế ước bất thành văn đã bắt đầu. Mỹ Dung nợ khối tình báo Mỹ một yêu cầu. Cuộc đời điệp viên khởi sự. Khi bà Minh đã yên ổn tại Hoa Kỳ thì hơn 60 ngày sau Mỹ Dung dắt con nhỏ qua Nhật Bản thăm thân phụ đã hơn 20 năm xa cách. Guồng máy tình báo của thế giới tự do mở chiến dịch để Con Chim Xanh với Ngàn Giọt Lệ lên đường công tác.

Sơ lược chuyện phim

Bây giờ xin mời khán giả trở lại Ðông Kinh của tháng 6-1976. Cánh cửa phòng họp riêng của đại sảnh Tokyo hé mở, một cán bộ ngoại giao của Hà Nội bước vào trình với thủ trưởng Ðặng Quang Minh:
“Thưa đồng chí thủ trưởng, bà Việt kiều ở Mỹ và đứa con lai đã có hẹn xin vào gặp.”

Ông Minh vẫn còn đang ngồi xem hồ sơ hội nghị, nói mà không nhìn lên:
“Ðây là đại diện Hội Việt Kiều Yêu Nước đến để động viên và mừng đất nước thống nhất. Ðồng chí mời vào đi.”

Ðặng Lệ Dung bước vào cùng con gái nhỏ nép một bên.

Hơn 20 năm qua, lúc thân phụ ra đi, cô là đứa bé con. Giờ đây, đứa cháu ngoại lai Mỹ xinh đẹp mắt mở to nhìn người đàn ông xa lạ mà e ngại. Cuộc gặp gỡ riêng tư nhưng hết sức khách sáo. Cả cha con đều phải đóng kịch dù rằng trong lòng như lửa đốt. Trước khi chia tay, ông Minh nói nhỏ với con gái là sẽ thu xếp để gặp lại người vợ cũ là bà Phàm hiện đã di tản qua Hoa Kỳ.

Sau cuộc gặp gỡ lần đầu tiên vào tháng 6-1975, cuộc đấu tranh chiến tranh chính trị, tình báo và ngoại giao giữa hai cha con bắt đầu. Một bên là Việt Nam cộng sản đã thống nhất và một bên là guồng máy tình báo Hoa Kỳ. Cả hai bên đều tìm cách mua chuộc lẫn nhau. Cuốn phim Ngàn Giọt Lệ Rơi thực sự sẽ có cả hàng trăm phân cảnh hết sức độc đáo để dàn dựng.

Chiến tranh tình báo

Thủ trưởng Ðặng Quang Minh về báo cáo lên bộ chính trị và được Lê Duẩn đồng ý cho phép qua Paris gặp lại vợ con. Ông dự trù sẽ thuyết phục để đưa vợ con trở về Hà Nội dưới hình thức chiến thắng ngoại giao sau khi tuyên bố là gia đình ông ở Sài Gòn đã bị Hoa Kỳ áp đảo bắt phải di tản. Hà Nội chắc chắn một lần nữa sẽ đạt được một thành tích đánh bại Hoa Kỳ trên diễn đàn dư luận quốc tế. Phía Hoa Kỳ, Hoa Thịnh Ðốn đã cho phép CIA giúp đỡ hai mẹ con bà Minh qua Pháp để bắt nhịp cầu làm việc trực tiếp với tòa đại sứ cộng sản Việt Nam tại Paris. Tình báo Mỹ chấp nhận nhập cuộc.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chính trị giữa cộng sản và Hoa Kỳ đã trở thành một mối xung đột và mâu thuẫn trong nội bộ gia đình họ Ðặng, vượt ra khỏi tầm tay của những thế lực đằng sau từ cả hai bên. Ông Minh hết lòng thuyết phục bà vợ tao khang trở về với một đất nước nay đã thanh bình, độc lập, thống nhất và hoàn toàn chiến thắng. Ông thề thốt lấy cả cuộc đời ra để bảo đảm cho sự an toàn của bà và người con út cùng đi với bà. Nhưng bà Minh vẫn còn dè đặt và sau cùng quyết định ở lại Hoa Kỳ. Một quyết định sáng suốt mà sau này bà vẫn cho là hết sức may mắn.

Trong thời gian đó, phe cộng sản hết lòng chiều chuộng móc nối Ðặng Mỹ Dung với hy vọng cô sẽ thuyết phục bà mẹ. Và hơn nữa, dù bà Minh chưa muốn về Hà Nội nhưng Mỹ Dung với ảnh hưởng sẵn có trong quân đội Mỹ, có thể dễ dàng trở thành một nguồn tin đáng giá và tốt nhất là cô chuyển hộ các tài liệu trên đường hàng không từ Hoa Thịnh Ðốn qua Paris. Con Chim Xanh của Ngàn Giọt Lệ Rơi luôn luôn sẵn sàng hợp tác như là một người cảm tình với phe chiến thắng mà thân phụ của cô cũng góp phần.
Dần dân Mỹ Dung gián tiếp trở thành một phụ nữ Việt Nam yêu nước kết hôn với người Mỹ những vẫn hồn nhiên đóng góp công tác cho chính phủ Hà Nội và các tổ chức thân Cộng. Cũng vào thời điểm đó, sinh viên thân cộng Trương Ðình Hùng là con của luật sư Trương Ðình Dzu đang hoạt động cho tình báo cộng sản. Hùng du học Mỹ trước 1975 và tiếp tục ở lại Hoa Kỳ móc nối lấy tin tức từ bộ ngoại giao. Hùng rất tin tưởng ở sự thân hữu chặt chẽ của Mỹ Dung với Hà Nội và tòa đại sứ cộng sản Việt Nam tại Pháp.

Ronald Humphrey là nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ được phép đọc tài liệu tối mật. Lúc còn ở Việt Nam, Humphrey lấy cháu gái Võ Thị Ðịnh, một nữ cán bộ quân sự của Giải Phóng Miền Nam. Hà Nội đưa điều kiện nếu Ronald muốn cho phép đem vợ qua Mỹ phải lấy hồ sơ mật của bộ ngoại giao Mỹ trao cho Trương Ðình Hùng. Hùng nhờ Ðặng Mỹ Dung chuyển tài liệu cho cộng sản qua tòa đại sứ Việt Nam tại Paris. Tài liệu Humphrey đưa ra qua tay Hùng đến Mỹ Dung thì CIA đổi thành tài liệu giả để chuyển qua Pháp.

Khi chính phủ Hoa Kỳ quyết định truy tố Trương Ðình Hùng và Humphrey thì cần có Mỹ Dung ra làm nhân chứng. Nếu như thế là cuộc đời gián điệp sẽ chấm dứt và đồng thời bà Dung phải chấp nhận mọi rủi ro thách đố về sau. Ðây là một quyết định khó khăn đối với một phụ nữ. Lần đưa mẹ ra khỏi Việt Nam, Mỹ Dung đã phải trả giá bằng cách bước vào con đường chông gai của nữ điệp viên. Lần này lại thêm một thử thách mới.
Sau cùng Mỹ Dung yêu cầu chính phủ Mỹ phải cam kết đưa cha và anh bà được vào Mỹ, trước khi phiên tòa bắt đầu. Việc này sẽ được thu xếp trước khi vụ gián điệp tại bộ ngoại giao được chuyển qua tòa án. Hồ sơ cam kết mật đưa lên tổng thống Carter xin chấp thuận. Guồng máy tình báo Hoa Kỳ lại mở chiến dịch mới.

Bà Mỹ Dung viết thư cho Lê Duẩn, tổng bí thư của dảng Cộng sản Việt Nam và Nguyễn Duy Trinh bộ trưởng ngoại giao Hà Nội xin cho cha là Ðăng Quang Minh qua London gặp gia đình vợ con vì bà Minh bị bệnh nan y có thể chết. Giáng Sinh năm 1977, Hà Nội chấp thuận cho ông Minh xuất ngoại. Trong hai tuần lễ sống bên cha, cả hai chị em bà Mỹ Dung thuyết phục ông Minh đi Mỹ nhưng không thành công. Cuộc tranh luận, phân giải trong gia tộc với nghĩa phu thê, và tình cha con của một gia đình Quốc Cộng đã kéo dài suốt mùa Giáng Sinh tại thủ đô sương mù London năm 1977. Ông Minh đã dành cả cuộc đời đi theo con đường của ông, đêm nằm trằn trọc cùng phòng với đứa cháu ngoại thân yêu.

Bà Minh suốt thời gian nghe con gái và chồng tranh luận mệt nhoài nên đã nói những lời sau cùng trước khi chia tay đôi ngả. Bà yêu cầu chồng và các con chấm dứt tranh luận, cãi cọ qua lại về chính trị, về chủ thuyết, và tương lai. Hãy ngồi với nhau lần cuối trong tình huyết tộc rồi đường ai nấy đi. Cuộc chia tay của hai phe đấu tranh chiến tranh chính trị trong một gia đình bây giờ chỉ còn toàn nước mắt của “Ngàn giọt lệ rơi.”

Sau cuộc họp mặt Giáng Sinh lịch sử 1977 của gia đình họ Ðặng, Hoa Kỳ quyết định đưa vụ án ra ánh sáng. Chính phủ Mỹ truy tố Trương Ðình Hùng và Ronald Humphrey mỗi người bị tù 15 năm. Cả hệ thống ngoại giao của cộng sản Hà Nội bị lung lay, rung động từ đại sứ Ðinh Bá Thi tại Liên Hiệp Quốc cho đến đại sứ Ðặng Văn Sung tại Paris.

Câu chuyện gián điệp nữ Ðặng Mỹ Dung được viết lại thành ký sự bằng Anh ngữ nhưng CIA đã yêu cầu bỏ đi gần 200 trang trước khi in. Về sau ông Ðặng Quang Minh sống độc thân tại Hà Nội, thỉnh thoảng đi thăm mộ con trai là thiếu úy Ðặng Hải Vân của KQVNCH tại miền Nam. Ông mất năm 1986, hưởng thọ được 77 tuổi. Ðặng Văn Khôi, người con trai lớn theo ông tập kết ra Bắc có đến chào cha trước khi vượt biên, đoàn tụ với mẹ và các em ở miền Ðông Hoa Kỳ. Từ một sĩ quan của đơn vị phòng không quân đội nhân dân đã du học bên Nga, nay ông trở thành người tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Ông sống độc thân, cho đến khi bà mẹ mất, rồi ông cũng qua đời mấy năm sau. Dù theo cha đi tập kết 1954, đi học bên Nga, sĩ quan của đơn vị phòng không tên lửa, nhưng ông không chịu vô đảng. Sau cùng ông chết theo mẹ trên miền đất tự do.

Bà Minh sống với vợ chồng con gái là Ðặng Mỹ Dung. Khi được tin chồng chết, bà không muốn về chịu tang dưới nghi lễ của đảng cộng sản. Một lòng kiên quyết, bà muốn để cho chồng đi trọn con đường ông lựa chọn. Ông chết trong lòng đất quê hương, nơi có mộ phần con trai út của ông là sĩ quan miền Nam. Bà Minh qua đời khi nước Mỹ bước vào thế kỷ thứ 21. Có thể ngày nay ông bà đã cùng những người con trai phục vụ cho hai miền đất nước đang đoàn tụ ở một nơi không còn khác biệt về ý thức hệ.

Cuốn sách A Thousand Tears Falling hiện được một số giáo sư Hoa Kỳ dùng để dạy cho các trường Trung Học. Tác phẩm Ngàn Giọt Lệ Rơi đến tay độc giả Bắc California cùng với chương trình 35 năm nhìn lại tại San Jose vào tháng 5-2010.

From: MY TRAN

Nguyễn Phú Trọng điện đàm với Joe Biden, Việt Nam tiếp tục ‘đu dây’

Báo Nguoi-viet

March 29, 2023

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, vừa có cuộc điện đàm với Tổng Thống Mỹ Joe Biden vào tối 29 Tháng Ba, giờ Hà Nội, truyền thông nhà nước Việt Nam đồng loạt loan tin.

Tờ Tuổi Trẻ cho hay, cuộc điện đàm diễn ra “đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối Tác Toàn Diện (2013 – 2023)” nhưng chưa công bố “nội dung thông cáo về cuộc điện đàm”.

Ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, được ông Joe Biden, phó tổng thống, tiếp đóp tại buổi ăn trưa ngày 7 Tháng Bảy, 2015, khi ông Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ.(Hình: BRENDAN SMIALOWSKI/AFP via Getty Images)

Ông Nguyễn Phú Trọng từng gặp mặt trực tiếp ông Joe Biden vào năm 2015 tại thủ đô Washington DC khi ông Trọng có chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ trong cương vị tổng bí thư đảng CSVN, còn ông Biden khi đó là phó tổng thống của chính phủ Tổng Thống Obama.

Vào năm ngoái, hôm 17 Tháng Mười Một, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN loan tin “sẽ có một cuộc điện đàm giữa Tổng Thống Mỹ Joe Biden và Tổng Bí Thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đang được thu xếp và tiến tới thực hiện chuyến thăm cấp cao giữa hai bên vào thời điểm thích hợp và điều kiện cho phép.” Khi đó, ông Joe Biden đang ở Cambodia để tham dự một loạt hội nghị thượng đỉnh với các nhà lãnh đạo Đông Nam Á cùng các nhà lãnh đạo thế giới khác.

Về cuộc điện đàm tối 29 Tháng Ba, hình ảnh trên truyền thông Việt Nam cho thấy ông Trọng ngồi tại trụ sở Trung Ương Đảng cùng nhiều giới chức cao cấp, trong đó có ông Tô Lâm, bộ trưởng Bộ Công An và Ngoại Trưởng Bùi Thanh Sơn.

Việt Nam và Hoa Kỳ đã nâng mối quan hệ ngoại giao lên Đối Tác Toàn Diện vào năm 2013, khi ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nước, có chuyến thăm Hoa Kỳ và gặp gỡ Tổng Thống Barack Obama tại Tòa Bạch Ốc ngày 25 Tháng Bảy.

Vài năm gần đây, Hoa Kỳ liên tiếp đưa ra tín hiệu và hành động cho thấy muốn nâng cấp mối quan hệ từ Đối Tác Toàn Diện lên Đối Tác Chiến Lược nhưng phía Việt Nam bằng nhiều cách né tránh đề nghị này, trong lúc tiếp tục chính sách “ngoại giao đu dây” giữa Washington và Bắc Kinh.

Ông Nguyễn Phú Trọng tại cuộc điện đàm với ông Joe Biden từ trụ sở trung ương đảng CSVN ở Hà Nội hôm 29 Tháng Ba. (Hình: TTXVN)

Chỉ trước cuộc điện đàm giữa ông Nguyễn Phú Trọng với ông Joe Biden một ngày, hôm 28 Tháng Ba, ông Trọng đã đón tiếp ông Vương Ninh, bí thư tỉnh ủy Vân Nam, Trung Quốc khi ông này đến Việt Nam dự “hội nghị lần thứ ba giữa các bí thư tỉnh ủy Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên của Việt Nam với Vân Nam của Trung Quốc.”

Theo truyền thông nhà nước Việt Nam, tại cuộc gặp, “Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ mong muốn tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và các địa phương biên giới Việt Nam tiên phong trong nỗ lực thực hiện nhận thức chung giữa lãnh đạo hai nước”

Không chỉ gặp ông Nguyễn Phú Trọng, ông Vương Ninh còn được cả ông Phạm Minh Chính, thủ tướng, đón tiếp trong cùng ngày.

Cũng trong ngày 28 Tháng Ba, ông Bùi Thanh Sơn, ngoại trưởng Việt Nam, đã điện đàm với ông Tần Cương, ngoại trưởng Trung Quốc. Đồng thời ông Trần Lưu Quang, phó thủ tướng, tiếp ông Marc Knapper, đại sứ Mỹ tại Việt Nam, để “chuẩn bị tốt nhất cho các hoạt động tiếp xúc cấp cao” trong thời gian tới.

Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ biểu tình trước Tòa Bạch Ốc chống chuyến thăm của ông Nguyễn Phú Trọng đến Washington DC, ngày 7 Tháng Bảy, 2015. (Hình: MLADEN ANTONOV/AFP via Getty Images)

Theo truyền thông Việt Nam, qua 10 năm thiêt lập quan hệ Đối Tác Toàn Diện, Việt Nam và Hoa Kỳ đạt giao thương năm 2022 là $123 tỉ, tăng gấp bốn lần so với năm 2013, tuy nhiên cán cân thương mại đang nghiêng về phía Việt Nam.

Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất cảng đầu tiên của Việt Nam vượt mốc $100 tỉ và Việt Nam trở thành đối tác thương mại thứ tám của Mỹ. Đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam đạt $11.4 tỉ, đưa Mỹ vào vị trí thứ 11 trong số những quốc gia đầu tư trực tiếp tại Việt Nam.(KN)

 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tù nhân địa lý & tù nhân chính trị

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe giới giáo chức Việt Nam phàn nàn về cái bệnh lười đọc của dân tộc này:

  • Cô giáo Thảo Dân: “Nhiều người không có thói quen đọc sách, hoặc đã từng có, nhưng nhiều năm về sau thì bỏ, hay nói đổ đi rằng, không có thời gian…”
  • Thầy giáo Thái Hạo: “Các quan lại càng không đọc sách. Sách là thứ xa xỉ bậc nhất. Nghĩa là, đất nước đang được lãnh đạo bởi những người không đọc sách. Và nó sẽ đi về đâu thì chúng ta hoàn toàn có thể dự đoán được.”

Những lời than phiền thượng dẫn hay khiến tôi nhớ đến câu chuyện thú vị về G.S Lý Chánh Trung, sau khi ông được mời tham dự Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất – tại Hà Nội – vào hôm 2 tháng 9 năm 1975:

“Ra Bắc, gặp một cô lái đò, cô hỏi: có phải là giáo sư Lý Chánh Trung không? Đúng là tôi. Trước 1975, cháu có đọc nhiều bài viết của chú, cháu thích lắm. Ở Hà nội, cả một phái đoàn đông đảo như thế. Có một thanh niên hô to: Ai là Lý Chánh Trung cho biết. Là tôi đây. Cũng bài bản như cô lái đò: tôi có đọc… Lý Chánh Trung tấm tắc đưa ra nhận xét: ‘Trình độ văn hóa ngoài Bắc cao. Chiến tranh như thế mà một cô lái đò cũng tìm đọc Lý Chánh Trung ở trong Nam.” (Miền Đất Lạnh – Nguyễn văn Lục, ĐCV).

Nửa thế kỷ sau, sau khi “chiến tranh như thế” chấm dứt, non sông thống nhất (Nam/Bắc hòa lời ca) độ vênh của “trình độ văn hóa” Bắc/Nam đã được cào bằng – theo như thông tin cập nhật của báo chí nước nhà:

  • Tuổi Trẻ: “Mỗi người Việt đọc 1,2 quyển sách một năm.”
  • Vietnamnet: “Người Việt không đọc nổi 1 cuốn sách/năm.”
  • Petro Times: “Nhìn ra thế giới, ở một số quốc gia như Pháp, Nhật Bản, Israel trung bình mỗi người dân đọc từ 20 cuốn/năm. Các nước trong khu vực như Singapore trung bình là 14 cuốn/năm, Malaysia là 10 cuốn/năm…”

Dào ôi! Ngóng “nhìn ra thế giới” làm chi (cho chúng nó khi) cứ trông vào con số lợi tức vô cùng khiêm tốn của đại đa số người Việt, và cuộc sống lam lũ “từ tay đến miệng” của họ, gần cả thế kỷ qua (làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm giờ nghỉ, làm tăng ca chiều, làm tăng ca cuối tuần) thì biết ngay là dân tộc này chả mấy ai còn thời giờ cùng tâm trí cho đời sống tinh thần cả.

Đã thế, thế giới chắc không đâu có những “nhà xuất bản chính trị quốc gia” hay “nhà xuất bản công an” (chuyên cung cấp giấy gói cho quý bà đồng nát, hay quý cô bán xôi, hoặc bán bánh mì) với vô số tác phẩm “định hướng” để ngu dân hơn là khai sáng. Phúc đức mà trung bình mỗi người dân Việt chỉ đọc nửa cuốn sách hàng năm thôi, chứ nếu ai cũng đọc hàng chục “tác phẩm” của nxb Sự Thật thì toàn dân (không chừng) đã “tẩu hỏa nhập ma” hết trơn rồi.

Thế nào là “tẩu hỏa nhập ma”?

Kể cũng khó giải thích tường tận bằng đôi câu nhưng muốn rõ thì chỉ cần nghe các ông Hoàng Chí Bảo, Lê Văn Cương, Lê Thế Mẫu, Trần Nhật Quang (hay bất cứ một đồng chí lãnh đạo cấp cao nào) nói chuyện vài ba phút là biết ngay thôi.

May mà những người như thế cũng không quá nhiều, và may hơn nữa là tình trạng này đang có xu hướng đổi thay. Ông Lê Hoàng, Phó Chủ Tịch Hội Xuất Bản Việt Nam cho biết: “Trong tổng số 60 nhà xuất bản, có những đơn vị thua lỗ nhưng khu vực tư nhân lại kinh doanh khá tốt. Họ ngày càng chuyên nghiệp hơn trong sản xuất, phát hành. Sự năng động, nhạy bén của họ đã góp phần cho sự phát triển của ngành xuất bản.”

Có lẽ vì nhờ vậy nên đã có những ấn phẩm giá trị đã được phát hành, nhất là sách dịch từ tác giả nước ngoài. Xin đan cử một trường hợp tiêu biểu: Tim Marshall và đôi ba tác phẩm của ông:

Công ty Nhã Nam trân trọng giới thiệu: “Tim Marshall, sinh năm 1959, là ký giả người Anh có hơn 25 năm kinh nghiệm về tin tức đối ngoại. Ngoài vai trò ký giả và biên tập viên, Marshall còn là nhà bình luận khách mời về các sự kiện thế giới cho BBC, Sky News. Ông viết sáu cuốn sách, đều là sách bán chạy. Trong đó nổi tiếng nhất là Prisoners of Geography, được liệt vào danh sách New York Times Seller, đã được xuất bản ở Anh, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Đài Loan.”

Thảo nào mà Những Tù Nhân Của Địa Lý đã được nhiều vị thức giả tìm đọc, và nhiệt tình viết lời giới thiệu:

  • Đặng Tiến Thiều: “Địa chính trị đặc biệt hiệu quả khi được nhìn ở tầm vĩ mô, tức là các quan hệ quốc tế: mỗi quốc gia có những quân bài địa lý riêng, và vị thế của mỗi đất nước sẽ được ấn định theo cách nó chơi những quân bài ấy như thế nào.”
  • Trần Anh Minh: “Đối với Tim Marshall, địa lý không chỉ là thứ giúp chúng ta nhận biết vị trí thế giới, mà nó ảnh hưởng trực tiếp tới cách các quốc gia sử dụng chiến lược chính trị của họ.”
  • Hạ Anh(TCLK) : “Tuy nhiên, dưới con mắt của Tim Marshal ông cho thấy dù thế nào chúng ra vẫn là những tù nhân của địa lý.”
  • Nguyễn Nhật Minh Khôi: “Dĩ nhiên, trong rất nhiều các quốc gia, có những tù nhân muốn thoát gông xiềng, thì cũng có những gã hưởng lợi trời cho từ vị trí địa lý.”

Nhận xét thượng dẫn khiến tôi nhớ đến một bình luận khác, của nhà văn Tạ Duy Anh, về một tác phẩm khác (Quyền Lực Của Địa Lý) của Tim Marsahll:

“Đọc cuốn sách, trong bối cảnh cuộc chiến Nga-Ucraina, trong tình cảnh cuộc cạnh tranh địa chính trị toàn cầu đang vô cùng gay gắt và trong điều kiện cay nghiệt của biến đổi khí hậu, chúng ta sẽ tự có những suy ngẫm hữu ích về lựa chọn nào cho tương lai của con cháu mình, về niềm may mắn được tổ tiên để lại cho một mảnh đất xinh đẹp, trù phú, có đủ cả núi cao, biển rộng làm phên giậu, có những cánh đồng phì nhiêu đẹp đẽ để canh tác dễ dàng…”

Thế hiện nay ai “là kẻ hưởng lợi trời cho từ vị trí địa lý may mắn được tổ tiên để lại” này, và họ đã làm gì với “một mảnh đất xinh đẹp, trù phú, có đủ cả núi cao, biển rộng làm phên giậu, có những cánh đồng phì nhiêu đẹp đẽ …”?

Câu trả lời có thể tìm được qua đôi ba mẩu tin đọc được trên báo chí:

Ủa! Sao kỳ vậy Trời?

Sao “một cường quốc tre” như VN mà phải nhập khẩu cả chục nghìn tấn đũa tre, tăm tre từ Trung Quốc? Sao “mấy ngàn cây số biển xanh mà sao thiếu muối cho canh hàng ngày”?

Dân Việt không phải là tù nhân của địa lý. Họ được thừa hưởng cả một giang sơn xinh tươi, phong phú và giầu đẹp cơ mà. Rõ ràng: họ là những tù nhân chính trị bị giam hãm trong một chế độ lười biếng, ngu tối, tham lam, thối nát, và hèn nhát nên những kẻ nắm quyền không chỉ “hưởng lợi trời cho” bằng cách bán sạch tài nguyên (cùng nhân lực) để ăn mà còn sang nhượng cả lãnh thổ, lãnh hải và biển đảo để đổi lấy quyền lợi cùng sự an thân.

Tưởng Năng Tiến

Linh mục Đinh Hữu Thoại: “Mọi cuộc tấn công vào tôn giáo luôn được bao che”

Linh mục Đinh Hữu Thoại: “Mọi cuộc tấn công vào tôn giáo luôn được bao che”

BVN1

Tuấn Khanh

“Ngày 22 Tháng Ba 2023, Cha Phanxicô Xaviê Lê Tiên, Linh mục Chánh xứ Đăk Giấc, Quản hạt Đăk Mót, đang cử hành Thánh lễ chiều Thứ Tư Mùa Chay tại Giáo Họ Phaolô, thuộc Giáo xứ Đăk Giấc (xã Đăk Nông, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum), thì một số cán bộ xã Đăk Nông đã xông lên bàn thờ, ngăn cản, chửi bới, yêu cầu dừng Thánh lễ. Vụ việc đã được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội qua một số hình ảnh và video trong những ngày qua”, trích bài viết của Linh mục Tađêô Võ Xuân Sơn, được đăng trên trang nhà của Giáo phận Kontum, tóm tắt cho biết sự việc đang làm rúng động nhiều người.

Việc ngăn cản sinh hoạt tôn giáo nói chung, vẫn thấy thường xuất hiện trên các bản tin hay mạng xã hội, nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên, người ta được nhìn thấy rõ sự hung hãn của một lực lượng tiến vào nhà dân, cắt đứt một buổi hành lễ Công giáo như hàng ngàn các thánh lễ khác vẫn đang diễn ra cùng ngày giờ đó, ở khắp đất nước Việt Nam.

Sau sự kiện, nhiều giáo dân và linh mục đã viết lời phản đối trên trang nhà facebook, như Linh mục Đặng Hữu Nam, Linh mục Đinh Hữu Thoại… Cuộc trò chuyện với Linh mục Đinh Hữu Thoại ngay sau đây, có thể mở ra nhiều góc nhìn mới về bối cảnh.

Kính thưa Linh mục Đinh Hữu Thoại, sự kiện Thánh lễ Công giáo tại Giáo phận Kon Tum bị quấy phá, cướp sách Roma… vào ngày 22-3 hiện đang làm nhiều người hoang mang bất bình – kể cả có đạo lẫn không đạo, Cha có thêm tin tức gì về sự kiện này không?

Trên trang web của Giáo phận Kontum vừa có bài viết của Cha Tađêô Võ Xuân Sơn, Trưởng ban truyền thông Giáo phận Kontum, có thuật lại vụ một nhóm cán bộ mặc thường phục, ko đeo bảng tên, công an có sắc phục của xã Đăk Nông, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum đến quấy phá thánh lễ thánh thiêng của Công giáo do Cha Phanxicô Xaviê Lê Tiên, Chánh xứ Đăk Giấc, Quản hạt Đăk Mót, đang cử hành vào lúc 18g15 Thứ Tư ngày 22 Tháng Ba 2023 tại Giáo họ Phaolo, thuộc địa bàn xã này.

Dẫn đầu nhóm người này được biết là ông Nguyễn Viết Thạch, Phó Chủ tịch UBND xã Đăk Nông, huyện Ngọc Hồi, ngụ tại TT Plei Kần, huyện Ngọc Hồi. Họ xồng xộc xông vào nơi dâng lễ là nhà riêng của một giáo dân, bất chấp sự đồng ý của chủ nhà. Ông Thạch quát tháo, la lối yêu cầu Cha Lê Tiên ngưng thánh lễ. Thánh lễ lúc đó mới tới phần Công bố Tin Mừng. Cha Tiên có ôn tồn nói có gì thì sau Thánh lễ ngài sẽ làm việc, chứ lúc này ngài không thể ngưng thánh lễ được. Ông Thạch tiếp tục có những lời lẽ rất thiếu văn hoá, không tôn trọng nghi lễ thánh thiêng đang diễn ra của những người Công giáo. Một nữ cán bộ đã lên tận bàn thờ để cướp quyển Sách lễ Rôma mang đi, một người đàn ông khác đến rút dây điện của gia chủ làm cho cả gian phòng không còn ánh sáng, một hành vi không thể chấp nhận được. Một vài Giáo dân đã phản ứng với hành vi của nhóm tự xưng cán bộ này… Thấy tình hình không ổn nên cuối cùng Cha Lê Tiên phải ban phép lành để kết thúc, chứ không thể tiếp tục dâng lễ được trước sự quấy phá của nhóm người này.

Được biết, Công giáo là một tổ chức tín ngưỡng đã có chính thức đăng ký sinh hoạt công khai, và được chấp nhận như theo nhà nước yêu cầu, nhưng lại xảy ra chuyện ngăn cản và xúc phạm thánh lễ một cách kỳ lạ như vậy. Theo Cha, việc ngăn cản này có lý do vì sao?

Công Giáo là một tôn giáo có mặt tại VN từ trước khi chính thể cộng sản ra đời. Vì thế khi nhà cầm quyền Cộng sản làm ra luật Tín ngưỡng – Tôn Giáo (TNTG) thì đương nhiên phải công nhận Công giáo là một tổ chức tôn giáo hợp pháp và công khai. Tuy nhiên, luật TNTG thật ra không nhằm giúp người có tôn giáo được thực hành tự do tôn giáo mà nhằm hạn chế sự phát triển của tôn giáo, nhất là những tôn giáo ko chấp nhận sự quản lý của nhà cầm quyền. Những kẻ làm luật là vô thần, là công an, chứ không hề có tôn giáo mà lại làm luật TNTG thì đủ hiểu luật đó nhắm mục đích gì. Họ có làm màu mè khi gửi bản dự thảo góp ý trước khi ấn định thành luật, nhưng tất cả mọi góp ý của Công giáo đều không được quan tâm, giống như lời ông Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ mới nói về góp ý dự thảo luật đất đai: Góp ý mà không phù hợp với đường lối chính sách của đảng và nhà nước Cộng sản này thì không được chấp nhận.

Vì thế, việc đàn áp tôn giáo, nhằm hạn chế sự phát triển đã nằm trong chính sách từ Trung ương chứ đây không phải do địa phương bồng bột… Những địa phương khác không làm như huyện Ngọc Hồi, Kontum, vì những nơi đó Giáo dân đông đúc hơn so với vùng sâu vùng xa như Kontum. Những việc làm của nhóm cán bộ xã Đak Nông thể hiện chính sách đàn áp tôn giáo của nhà cầm quyền Việt Nam.

Điểm lại những chuyện bất thường đã xảy ra ở Giáo phận Kontum, có vẻ như ở đây là một trong những nơi sinh hoạt tín ngưỡng hết sức cam go. Đối với các linh mục làm việc tại đây, từ năm 2021, chẳng hạn Linh mục Nguyễn Quang Hoa bị một nhóm côn đồ vô cớ vây đánh, sau đó đến Linh mục Trần Quang Truyền bị đâm trọng thương, nhà thờ An Khê bị đổ xăng dự định đốt cháy. Sự kiện lớn nhất gần đây là Linh mục Trần Ngọc Thanh bị chém chết khi đang làm lễ… Trong cái nhìn cá nhân của mình, thưa Cha có thể giải thích vì sao nơi này lại xảy ra quá nhiều sự kiện đáng sợ như vậy hay không? 

Như tôi đã nói ở phần trên, chính sách đàn áp tôn giáo, vi phạm tự do tôn giáo nằm ngay trong chính sách của nhà cầm quyền Việt Nam, thể hiện cụ thể trong Luật TNTG hiện hành và trong các Nghị định liên quan. Ở đó vẫn còn luật xin-cho, mà cấp có quyền “cho”, nay được đẩy xuống cấp xã chứ không phải cấp huyện như trước đây nữa. Cán bộ xã thì kiến thức giới hạn, văn hoá cũng hạn chế nên sự đàn áp hiện nay tệ hại hơn trước. Riêng Kontum là tỉnh miền núi vùng sâu vùng xa thì hiểu biết của cán bộ xã càng kém cỏi.

Trong video đang lan truyền trên mạng, nhân vật Phó Chủ tịch xã quát rằng “nơi này không phải là nơi thờ tự” nhưng không nói rõ vì sao các gia đình lại không thể thờ tự. Điều này có đi ngược với tuyên bố về quyền tự do tôn giáo mà nhà nước Việt Nam ban hành? Sự kiện sinh hoạt tôn giáo bị cản trở ở Giáo phận Kontum đã kéo dài nhiều năm (tính từ thư ngỏ của Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, năm 2015), thưa Cha, điều này ắt Tòa Giám mục Kontum đã biết, nhưng liệu các bề trên đã có ý kiến gì chính thức với chính quyền chưa?

Ông Phó Chủ tịch xã Nguyễn Viết Thạch là một cán bộ có hiểu biết kém về tôn giáo, ứng xử rất thiếu văn hoá trong tối 22 Tháng Ba vừa qua. Giáo họ Phaolo nơi này đã dâng lễ từ lâu qua cách bài trí nhà nguyện, đã sinh hoạt tôn giáo ổn định chứ không phải là lần đầu. Ông Thạch muốn kiểm tra hành chính gì đó thì ít ra cũng phải có hiểu biết tối thiểu là tôn trọng việc cử hành thánh lễ. Ông có lẽ cũng đã học qua trung học phổ thông thì kiến thức tối thiểu phải biết tôn trọng sự thánh thiêng của tôn giáo. Là một cán bộ xã ở chức Phó Chủ tịch mà thiếu hiểu biết thì thật đáng xấu hổ. Lẽ ra ông phải đợi thánh lễ kết thúc rồi gặp gỡ cha Tiên làm việc thì ko có gì đáng nói. Mà thời gian chờ có lâu gì, chỉ 15 phút nữa là xong Thánh lễ rồi.

Trong thư của Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh năm 2015 , nguyên Giám mục Giáo phận Kontum có nói rõ hiện trạng tự do tôn giáo lúc ấy, và cho đến nay cũng không có gì khá hơn, thậm chí còn xảy ra những vụ việc ngày càng kinh khủng hơn như đâm cha Truyền tại Giáo xứ An Khê, tỉnh Gia Lai, sát hại cha Thanh khi ngài đang giải tội mới đây cũng tại xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi.

Những tuyên bố của nhà cầm quyền Việt Nam về tự do tôn giáo tại Việt Nam chỉ là dối trá. Chính vì thế, Bô Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 20 Tháng Ba 2023 vừa qua đã công bố về tình hình nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam, trong đó có vấn đề về tự do tôn giáo. Ba ngày sau khi Hoa Kỳ ra công bố, phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam lên tiếng bác bỏ, thì ngay ngày đó, đã xảy ra vụ tấn công Thánh lễ Công giáo tại Ngọc Hồi, Kontum… Như vậy thì nhà cầm quyền Việt Nam đã tự chứng minh rằng bản báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là đúng, còn lời bác bỏ của Bộ Ngoại giao Việt Nam là dối trá, là sai… Hiện Tôi không rõ Tòa Giám mục Kontum có ý kiến chính thức với nhà cầm quyền tỉnh Kontum hay chưa, nên chưa trả lời được.

Tuy nhiên lâu nay, những sự kiện hành xử gây bất bình trong quần chúng thường được giải thích rằng đó là những sai lầm của cá nhân hay của một bộ phận chính quyền địa phương chưa có đủ sâu sát, thiếu kinh nghiệm. Thưa Cha nghĩ thế nào về sự bất cập này?

Qua những vụ vgiệc xảy ra tại một số địa phương vùng sâu vùng xa, tôi nghĩ đó không hẳn chỉ là do sự kém cỏi của những người cầm quyền địa phương. Vì nếu như thế thì lẽ ra các cấp trên của họ đã xử lý họ và thay thế cán bộ khác. Nhưng tất cả những vụ tấn công, đàn áp tôn giáo đều được bao che từ dưới lên trên, không một cán bộ sai phạm nào bị xử lý. Khi thì kết luận kẻ tấn công linh mục bị tâm thần, kẻ sát hại linh mục cũng bị tâm thần, cán bộ địa phương xúc phạm tôn giáo ngay trong Thánh lễ thì được khẳng định làm đúng pháp luật, như vụ xảy ra tại tỉnh Hoà Bình khi Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên chủ tế thánh lễ tại giáo họ Đồng Tâm, giáo xứ Vụ Bản, tại thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình ngày 20 Tháng Hai 2022.

Tôi nghĩ Việt Nam cần phải thay đổi tận căn chính sách đàn áp tôn giáo. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cần đưa Việt Nam vào danh sách CPC cho tới khi nào nhìn thấy những cải thiện rõ rệt.

T.K.

Nguồn: Tuấn Khanh’s Blog