Sinh hoat văn hóa cuối tuần ở Houston

Mời các bạn ở Houston đi xem để ủng hộ cho sinh hoạt văn hóa của địa phương.

 Vở kịch đã được đạo diễn hứa hẹn sẽ làm cho người xem rơi lệ, có vui , có buồn lẫn lộn.
Thêm phần văn nghệ của các ca sĩ local.
From: Phan Sinh Trần

X. 92. Người điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA

X. 92. Người điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA

Nguồn: Batkhuat.net

Trúc Giang MN

1*. Mở bài

Về tình báo trong chiến tranh Việt Nam, điệp viên Võ Văn Ba dường như không có ai nhắc đến, cho mãi đến những năm sau nầy, hai điệp viên của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ, CIA, mới tiết lộ và xác nhận Võ Văn Ba là người gián điệp giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA trong chiến tranh Việt Nam.

2*. Những đánh giá về điệp viên Võ Văn Ba

2.1. Những cựu điệp viên CIA nói về Võ Văn Ba Trong hai ngày 20 và 21 tháng 10 năm 2008, Trung tâm Việt Nam của Đại học Công nghệ Texas, đã tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề “Tình báo trong chiến tranh Việt Nam”. Diễn giả là những chuyên viên CIA đã từng phục vụ ở Việt Nam. Trong bài diễn thuyết của ông Merle Pribbenow, một cựu nhân viên CIA, hoạt động tại Sài Gòn từ 1970 đến 1975, mang đến bài thuyết trình “Những điệp viên vô danh nổi tiếng nhất trong cuộc chiến Việt Nam”. Người Mỹ đã xử dụng tình báo trong hàng ngũ Cộng Sản có bí danh X.92, tên Võ Văn Ba. Võ Văn Ba là người điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa. Ông Orrin DeForest, nhân viên CIA phục vụ 6 năm ở Việt Nam, nhắc đến tên Võ Văn Ba có mật danh là “Reaper” trong cuốn sách “Slow Burn: The Rise and Bitter Fall of American Intelligence in Việt Nam”. Một chuyên viên khác của CIA, John Sullivan, nói ông Ba là “Điệp viên giỏi nhất mà chúng ta từng có ở Việt Nam”. Trong cuốn tiểu sử về sếp CIA ở Sài Gòn là Ted Shackley, tác giả David Corn nêu ra một sự đánh giá thời hậu chiến của CIA, rằng điệp viên nầy “là nguồn tin đáng tin cậy nhất về ý định của Cộng sản” ở Việt Nam. Ông Frank Warren Snepp, chuyên viên phân tích tình báo (Intelligence Analyst) đã có đôi lần gặp người nầy, và gọi ông ta là “Điệp viên hàng đầu của chúng ta” ở Việt Nam. Để bảo đảm bí mật, chỉ có một sĩ quan Cảnh sát Đặc biệt là Thiếu tá Phan Tấn Ngưu được liên lạc với Võ Văn Ba ở Tây Ninh.

2.2. Ông Merle Pribbenow viết sách về Võ Văn Ba Cựu Thiếu tá Phan Tấn Ngưu cho biết, năm 2010, ông Pribbenow đến tìm gặp ông, xin chi tiết về Võ Văn Ba để ông hoàn thành cuốn sách, về tình báo trong chiến tranh Việt Nam. Ông Ngưu cảm thấy khó xử, vì ngoài ông Võ Văn Ba ra, còn có nhiều người khác đã tham gia vào các công tác, hiện còn sống ở Việt Nam, nên ông chỉ cho biết về hoạt động của Võ Văn Ba mà thôi.

2.3. Quan chức Việt Cộng nói về Võ Văn Ba Trong một đoạn hồi ký của Thứ trưởng Công An Hà Nội, “55 Năm một chặn đường”, Trần Xuân Viên nói về ông Võ Văn Ba, làm nội tuyến cho Việt Nam Cộng Hòa tại Trung Ương Cục Miền Nam. Trần Xuân Viên nói “Võ Văn Ba là một nội gián quan trọng. Y đa chui sâu, leo cao vào nội bộ ta. Trong 10 năm, y đã thu thập rất nhiều tin tức quan trọng cho địch”.

3*. Vài nét về Võ Văn Ba

Võ Văn Ba sinh năm 1923 thuộc tỉnh Tân An. Năm 1945, ông và người chú theo Việt Minh. Ông là một đảng viên tích cực, được giao nhiệm vụ tuyển mộ thành viên trẻ theo Việt Minh. Ông trở thành một kẻ khủng bố, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng khủng bố không phải là cách thu phục trái tim con người. Ông rời bỏ Việt Minh năm 1954. Không tập kết ra Bắc. Có một thời gian ông làm việc cho một đơn vị quân đội Mỹ, và sau cùng về định cư trong nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Vợ ông bán rau quả ở chợ Long Hoa. Ông có con, một trai, một gái.

4*. Trường hợp nào Võ Văn Ba theo Việt Cộng

4.1. Võ Văn Ba theo Việt Cộng

Võ Văn Ba và gia đình định cư ở nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Ông làm rẫy ở ven đường mà cán bộ Việt Cộng thường xuyên qua lại, để vào căn cứ của Trung Ương Cục Miền Nam Việt Nam, trong một hang động dưới chân núi Bà Đen. Gặp gỡ thường xuyên, quen mặt nhau, nên cán bộ VC cố thuyết phục ông Ba gia nhập Đảng. Vì hiểu rõ bản chất của Việt Cộng, nếu không theo họ thì có thể bị thủ tiêu để loại bỏ cái chướng ngại nầy. Ông Ba đồng ý chấp thuận. Và sau đó được làm ủy viên tin cậy của Cục R. Theo VC thì lại lo ngại hai cơ quan là, An ninh Quân đội và Cảnh sát Quốc gia. Ông Ba đến người chú, đang là sĩ quan của Cục An ninh Quân đội, xin được làm điềm chỉ viên. Kế đến, người chú đề nghị CSQG thu nhận ông Ba cũng được làm điềm chỉ viên. Thiếu tá Cảnh sát Phan Tấn Ngưu, thuộc khối Đặc biệt, được chuyển đến Tây Ninh để trực tiếp liên lạc với Võ Văn Ba thông qua những hình thức “giao liên”.

4.2. Việt Cộng giao nhiệm vụ cho Võ Văn Ba

1). Tuyển mộ cán bộ đảng viên mới Ông Ba tuyển mộ cán bộ mới, để thành lập những chi bộ, giúp ông để kiểm soát mọi hoạt động trong Tòa Thánh, tuyên truyền để tranh thủ những tín đồ Cao Đài theo VC.

2). Thực hiện chủ trương của Việt Cộng. Tuyên truyền gây chia rẻ trong nội bộ các chức sắc Cao Đài. Ám sát những người thân chính quyền quốc gia. Trong lịch sử Cao Đài, đã có những vụ ám sát như các ông: Cao Hoài Sang, Trương Hữu Đức, Trung tá Nguyễn Văn Nhã, giữ chức Thượng chánh Phối sư…

5*. Trung ương Cục miền Nam Việt Nam Hội trường Cục R

* Lê Đức Thọ Nguyễn Thị Định Trung ương Cục Miền Nam Việt Nam, là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam.

Là cơ quan chỉ đạo trực tiếp cuộc chiến, đánh chiếm miền Nam Việt Nam. Trung ương Cục còn được gọi là B2, Cục R. Ban Chấp hành của Cục R theo thời gian gồm những người như sau: Nguyễn Văn Linh (Bí danh Mười Cúc), Võ Chí Công (Võ Toàn, Trần Nam Trung (Hai Hậu), Phạm Văn Xô (Hai Xô), Võ Văn Kiệt (Sáu Dân), Lê Đức Thọ (Khai sanh Lê Văn Nhuận, bí danh Anh Ba), Lê Duẩn, Phạm Hùng, Trần Văn Trà (Tư Chi), Hoàng Văn Thái (Mười Khang), Lê Đức Anh (Sáu Nam) Trần Độ (Chín Vinh), Đồng Văn Cống… Trung ương Cục Miền Nam dựng lên cái tổ chức bù nhìn là Quốc Kỳ

* Quốc Huy Chính phủ Cộng hòa miền Nam VN “ Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”, và “chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, gồm có: KTS Huỳnh Tấn Phát, LS Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình. BS Dương Huỳnh Hoa, Trương Như Tảng, Trần Bạch Đằng, Trần Bửu Kiếm, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Đại đức Sơn Vọng, Nguyễn Văn Hiếu, Y Bih Aleo… Do quân đội Việt Nam Cộng Hòa liên tục tấn công nên Cục R phải chạy sang lãnh thổ Campuchia ở vùng Mỏ Vẹt, Móc Câu, được Quốc Trưởng, Hoàng thân Norodom Sihanouk cho phép. Cộng quân thì chạy sang Nam Lào. Võ Văn Ba nằm ở Trung ương Cục, được tiếp cận với những ủy viên Bộ Chính Trị đảng CSVN, xem như nằm tại Bộ Chính Trị Đảng ở Hà Nội. Vị trí của Võ Văn Ba rất quan trọng, vì trước đó và sau đó, không có một gián điệp nào nằm vùng ở Bộ Chính Trị Đảng CSVN cả. Trường hợp có một không hai, ngàn năm một thuở.

6*. Cảnh sát Quốc gia tiếp cận Võ Văn Ba

6.1. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu phụ trách lập nhóm X.92 Thiếu tá Phan Tấn Ngưu, thuộc khối đặc biệt, được chỉ định lên Ty Cảnh sát Tây Ninh, với nhiệm vụ duy nhất là liên lạc với Võ Văn Ba.

6.2. Những thông dịch viên của cố vấn Mỹ tỉnh Tây Ninh Cố vấn Mỹ ở phòng Cảnh sát Đặc biệt của ty Cảnh sát Tây Ninh có ba thông dịch viên. Riêng về hồ sơ của X.92 thì chỉ có một thông dịch viên phụ trách, không kiêm nhiệm các vụ việc khác. Nhiệm vụ chính của thông dịch viên nầy là chỉ dịch những văn bản tiếng Việt ra tiếng Anh mà thôi. Điều kiện của thông dịch viên được quy định như sau: 1. Không phải là người ở Tây Ninh.

  1. Không có bà con, thân thuộc nào sinh sống ở Tây Ninh. Sau 4 năm công tác ở Tây Ninh, cố vấn Mỹ đã lần lượt có 3 thông dịch viên là: Nguyễn Sĩ Phong, Nguyễn Cao Quan, Nguyễn Thanh Trang. Trường hợp của thông dịch viên Nguyễn Sĩ Phong, ông là người miền Bắc, là người nhanh nhẹn thi hành công tác giao phó, có nhiều khi phải thức suốt đêm để dịch những báo cáo viết tay, và những tài liệu in ấn chiếm vài ba chục trang giấy. Ông kết hôn với một phụ nữ Tây Ninh, vi phạm điều 2, nên bị chuyển đến làm thông dịch ở Phòng cố vấn CIA thuộc Tổng Lãnh sự Mỹ vùng II, Ban Mê Thuột. Ngày 10-3-1975, Việt Cộng chiếm Ban Mê Thuột, Ông Phong đưa gia đình đến nhà của ông Paul Struharick , CIA đại diện của USAID. Ông Struharick là CIA cuối cùng bị kẹt lại Ban Mê Thuột nên bị Việt Cộng bắt cả hai. Do bị tra khảo, Nguyễn Sĩ Phong khai Võ Văn Ba là gián điệp của CIA.

6.3. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu lập hệ thống liên lạc Võ Văn Ba cư ngụ trong nội ô Tòa Thánh Tây Ninh. Nội ô là khuôn viên hình thang rộng khoảng 1 km², cách thành phố Tây Ninh khoảng 5 km. Công việc quan trọng nhất của điệp viên Võ Văn Ba là chuyển những tin tức tối mật của Việt Cộng, ở Trung Ương Cục (Cục R) miền Nam, cho tình báo Việt Nam Cộng Hòa và cho CIA. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu và Võ Văn Ba lập hệ thống liên lạc: Đó là hệ thống “giao liên”, có hai yếu tố bí mật và an toàn hàng đầu. Việc liên lạc giữa nơi gởi và nơi nhận chỉ cách nhau có 5Km Võ Văn Ba đã sử dụng ba phương tiện để chuyển tin tức, là liên lạc máy vô tuyến Walkietalkie, hộp thơ chết, và hộp thơ lưu động.

1). Máy vô tuyến Walkie-talkie Walkie-talkie là thiết bị cở nhỏ, cầm tay, còn gọi là dụng cụ bộ đàm. Làn sóng ngắn liên lạc trong khoảng cách gần. Bấm nút để nói, thả ra để nghe. Máy chỉ mở trong giờ giấc ấn định. Không được trò chuyện hơn một phút. Trong một phút đó, chỉ cho biết phải làm gì, như: đến nhận thơ ở hộp thơ số…, đến nhà an toàn số…hoặc sẽ đi công tác trong mấy ngày.

2). Hộp thơ chết. Có 3 hộp thơ chết, 2 đặt trong nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. 1 đặt ở ngoại ô, gần tỉnh lỵ.

3). Hộp thơ lưu động Phương tiện vận chuyển của Tây Ninh là xe lôi, tức là xe gắn máy kéo cái” rờ mọt” (Trailer) chở người. Xe mang số giả. Tài xế và 2 nữ sinh đều là nhân viên đặc nhiệm, mang 2 cái cặp da giống nhau, đón xe ở hai ngã đường khác nhau. Sau khi trao hai cái cặp da, lần lượt xuống xe, ở 2 khoảng đường khác nhau. Loại hộp thơ lưu động nầy, X.92 viết báo cáo sau khi đi họp ở T.Ư.C, hoặc đi công tác về. Bấm máy walkie-talkie cho biết. Khi mở cái cặp da ra, trong đó có bản sao Nghị Quyết của Bộ Chính trị Hà Nội, và một chỉ thị của Cục R cho biết Hiệp định Paris sẽ ký kết vào ngày 30-10-1972 (Thật ra Hiệp định được ký vào ngày 27-1-1973), trong đó có một điều khoản rất quan trọng là Hoa Kỳ và VNCH chấp nhận cho bộ đội Cộng sản Bắc Việt được ở lại miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở xuống. Phần chỉ thị của Cục R, là các nơi phải dốc toàn lực để “giành dân lấn đất”. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu liên lạc với cố vấn Mỹ, cùng ở ty Cảnh sát Tây Ninh, yêu cầu cho một phi cơ để mang tài liệu về Bộ Tư lệnh CSQG. Cố vấn Mỹ cũng được nhận bản sao để gởi cho Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Vụ việc được đưa lên Tổng thống Thiệu. Đọc xong, ông mời Đại sứ Mỹ đến để hạch hỏi về việc Mỹ qua mặt VNCH, ông dọa là có thể rút phái đoàn VNCH ra khỏi cuộc hòa đàm. Nói thêm về việc “giành dân lấn đất”. Sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Việt Cộng chủ trương “giành dân lấn đất” bằng cách treo cờ của Mặt Trận Dân tộc Giải phóng, ở những vùng xa các đồn bót của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Cờ 3 màu, trên đỏ dưới xanh, ở giữa có ngôi sao vàng. Ban đêm du kích treo cờ ở những cành cây, sáng ra dân vệ đi hạ cờ. Chính phủ cấp cho mỗi gia đình 10 tấm tôn để lợp nhà, trên mỗi tấm tôn có hình cờ vàng 3 sọc đỏ của VNCH. Trên máy bay nhìn xuống thì thấy cả khu vực toàn là nhà có cờ của VNCH. Đồng thời cấm các chợ trong khu vực không được bán vải màu đỏ, màu xanh và màu vàng để may cờ của VC. 6.4. Xin hoản dịch cho con của Võ Văn Ba Con trai của Võ Văn Ba là Võ T. D, thi đậu Tú tài I năm 1971, nhưng thi rớt Tú tài II liền 2 năm. Đã hết hạn hoản dịch vì lý do học vấn, nên phải thi hành quân dịch. Có Tú tài I thì được đưa vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Mãn khóa mang lon chuẩn úy của quân độ VNCH. Có con là sĩ quan VNCH, thì chắc chắn Võ Văn Ba sẽ bị Việt Cộng cho hạ tầng công tác, hoặc khai trừ. Vụ việc không tốt nầy, sẽ làm mất một nguồn tin, ngàn năm có một của tình báo VNCH và của CIA. Thế là Thiếu tướng Tư Lịnh Cảnh sát Quốc gia, Nguyễn Ngọc Loan, yêu cầu Nha Động viên Bộ Quốc phòng, cấp giấy hoản dịch cho con của Võ Văn Ba. Một tuần lễ sau, giấy hoản dịch do Thiếu tướng Bùi Đình Đạm, Giám đốc Nha Động viên Bộ Quốc phòng ký, đã đến tay Võ Văn Ba.

7*. Cảnh sát Đặc biệt và CIA dàn dựng những vụ việc để giúp X.92 được Việt Cộng tin cậy Để giúp Võ Văn Ba được Việt Cộng tin cậy, gồm những việc như sau:

1). Rải truyền đơn chống những chức sắc Cao Đài thân chính quyền VNCH. Trong những ngày Lễ Vía của đạo, cảnh sát chìm VNCH mặc quần áo lễ phục, ban đêm, dùng xe gắn máy rải truyền đơn ở những con đường quy định. Truyền đơn lên án những chức sắc Cao Đài thân chính quyền VNCH, cụ thể là việc chỉ điểm để bắt giữ những thanh niên trốn quân dịch đang ẩn náu trong nội ô Tòa Thánh. Sau khi rải, cảnh sát đi nhặt truyền đơn, và Phòng thông tin tỉnh phát loa lên án Việt Cộng.

2). Đặt chất nổ Trên con đường dẫn đến trụ sở của Trung ương Cục, có những trạm do dân vệ, kiểm soát sự ra vào của Việt Cộng. Tỉnh trưởng Tây Ninh và Cố vấn Mỹ đồng ý cho thực hiện, dùng chất nổ, đã thu được của Việt Cộng, để phá vỡ các trạm kiểm soát. Phía Mỹ đồng ý xuất tiền xây dựng lại các trạm bị phá. Đến ngày thực hiện, cảnh sát Tây Ninh sẽ rủ rê các dân vệ đến nhậu ở một quán nào gần đó. Sau vụ nổ, Phòng thông tin tỉnh lại phát loa tố cáo Việt Cộng. Hình ảnh cảnh đổ nát được đưa lên báo. Tỉnh trưởng Tây Ninh làm giấy khiển trách, những người có trách nhiệm ở các trạm kiểm soát. Cục R cũng biết đó là những hành động của X.92 nên càng tin tưởng hơn.

8*. X.92 thông báo về cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy” Tết Mậu Thân 1968

X.92 Võ Văn Ba thông báo cho Cảnh sát Đặc biệt Tây Ninh, là Hà Nội sẽ tổng công kích vào Tết Mậu Thân 1968, mặc dù hai bên đã tự tuyên bố ngừng bắn. Về phần cảnh sát, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan ra lịnh cấm trại 100% trên toàn quốc. Các đơn vị phải đào hầm chung quanh hoặc lập những công sự, để phòng thủ và chiến đấu. Riêng quân đội VNCH thì vẫn cấm trại 50% như thường lệ. Tổng thống Thiệu thì đi Mỹ Tho ghé thăm mẹ vợ. Tướng Vĩnh Lộc, Tư lịnh Quân đoàn 2 thì bay về Sài Gòn mừng tuổi, và chúc Tết mẹ. Ngay trong đêm giao thừa Tết Nguyên đán, vào ngày 31-1-1968, Việt Cộng đã đồng loạt tấn công vào hầu hết các đô thị miền Nam. Đó là kế hoạch gọi là “Tổng tiến công và nổi dậy” Các đô thị bị tấn công gồm có: Kontum, Quy Nhơn, Ban Mê Thuột, Nha Trang, Đà Lạt, Phanh Thiết, Tây Ninh, Biên Hòa, Sài Gòn, Mỹ Tho, Phú Vinh, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Ở Sài Gòn, Cộng quân đã đánh chiếm cổng số 4 của Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH. Riêng thành phố Huế, thì chỉ có các tiểu tổ, các đơn vị đặc công địa phương đã chiếm Huế 26 ngày, và giết 4,000 người, đa số là thường dân và những người làm việc cho các cơ quan chính quyền, như giáo viên, công chức các ngành nghề…chủ yếu là chôn sống ở các hố chôn tập thể. Nhà văn quân đội Phan Nhật Nam, tốt nghiệp khóa 18 trường Võ Bị Quốc Gia, Thiếu tá thuộc tiểu đoàn 9 Nhảy Dù cho biết, tôi có thể kể ra hàng chục, hàng trăm người mà tôi biết, đa số là dân thường, và những người láng giềng của tôi, đã bị chôn sống. Nhà văn đặt câu hỏi: “Tại sao người cộng sản có thể tàn nhẫn với chính đồng bào của mình?” Đài VOA cho biết, theo lời ông Phan Nhật Nam thì chiến sự ở Huế “không khốc liệt”, vì quân cộng sản ở đó không phải là cấp sư đoàn, mà chỉ là các tiểu tổ, các đơn vị đặc công địa phương mà thôi”. Thật ra đó là tội ác của những tên Việt Cộng nằm vùng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm… Đó là quân đội chỉ cấm trại 50%. Vì sao quân đội chỉ cấm trại 50%? Vì nhiều năm trước kia, Tết năm nào Hồ Chí Minh cũng làm thơ kêu gọi kêu gọi tiến lên đánh Mỹ ngụy, nhưng sau đó không có mở cuộc động binh nào cả. Thơ chúc Tết Xuân Đinh Mùi- 1967 Xuân về xin có một bài ca,/ Gửi chúc đồng bào cả nước ta/ Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi/ Tin mừng thắng trận nở như hoa! Thơ chúc Tết Mậu Thân 1968 Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua, Thắng trận tin vui khắp nước nhà, Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!

9*. X.92 báo tin Việt Cộng quyết đánh chiếm Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh

9.1. Quân đội Cao Đài Năm 1941, Cao Đài xây dựng Lực lượng Vũ trang. Đến năm 1955, quốc gia hóa, tức là sát nhập vào Quân Đội VNCH. Những tướng lãnh Cao Đài gồm có: Tướng Trần Quang Vinh, Thiếu tướng Nguyễn Thành Phương, Tướng Trịnh Minh Thế, Tướng Văn Thành Cao. Tháng 6 năm 1973 Tướng Văn Thành Cao được cử giữ chức vụ Tổng cục phó Tổng cục Chiến tranh Chánh trị. Ông giữ chức vụ nầy đến ngày 30-4-1975.

9.2. Việt Cộng âm mưu đánh chiếm Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh Vào tháng 12 năm 1971, X.92 Võ Văn Ba được lịnh đến họp khẩn cấp tại Chiến Khu Đ. Tại buổi họp, Võ Văn Ba được chỉ thị phải về họp gấp các chi bộ trực thuộc, để phổ biến lịnh của Bộ Chính Trị, là phải đánh chiếm cho được Tòa Thánh Cao Đài ở Tây Ninh, để mặc cả với VNCH trên bàn Hội nghị Paris. Kế hoạch cụ thể có hai phần, thực hiện đồng bộ với nhau, bên ngoài thì bộ đội tấn công đánh chiếm Tòa Thánh. Đồng thời, bên trong, X.92 xách động tín đồ biểu tình phản đối, yêu cần quân đội VNCH không được bắn vào bộ đội Việt Cộng đang đánh nhau ở bên trong để chiếm Tòa Thánh. Biểu tình nêu lý do, là để bảo vệ kiến trúc Tòa Thánh và bảo vệ tánh mạng của tín đồ. Đó chỉ là kế hoạch trên lý thuyết.

9.3. Lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh Khi báo cáo của X.92 được Đại tá tỉnh trưởng Tây Ninh, Lê Văn Thiện, đưa về Sài Gòn, thì Tổng thống Thiệu ra lịnh phải bảo vệ Tòa Thánh bằng mọi giá. Từ đó, có những buổi họp từ Tư lệnh Quân đoàn 3, Sư đoàn 25 BB, và các đơn vị liên hệ. Công binh VNCH đào giao thông hào toàn bộ phía Bắc tỉnh Tây Ninh, để chống thiết giáp Việt Cộng. Giao thông hào chỉ là cái vỏ bọc ngoài, thực chất bên trong là hệ thống mìn các loại, được đặt song song bên cạnh giao thông hào. Ban đêm, phi cơ trinh sát, thám sát cả vùng phía Bắc tỉnh lỵ Tây Ninh. Trong khi đó, các đơn vị của Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù ngày đêm bám sát hoạt động của Việt Cộng.

Đến đầu tháng 4 năm 1972, lúc 2 giờ sáng, những tiếng nổ đồng loạt vang lên, kể cả pháo binh. Vì pháo binh VC đặt khá xa, nên đạn chỉ rơi ở bên ngoài tỉnh lỵ. Tổn thất không đáng kể. Các đơn vị bên ngoài báo cáo về phòng chỉ huy tỉnh, là chỉ có bộ binh mà không có thiết giáp. Có lẽ do phi cơ thám thính liên tục nên VC không dám dùng thiết giáp. 5 giờ sáng hôm sau, tiếng súng thưa dần rồi im bặt. Khi trời sáng, các nơi báo cáo, dọc theo giao thông hào có đầy vết máu, một số xác chết chưa kịp mang đi. Cộng quân chết vì mìn đặt song song với giao thông hào. Nhờ tin tức do X.92 cung cấp nên Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh được giữ nguyên vẹn.

10*. X.92 mang Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị tháng 1 năm 1975 về Sài Gòn Tình hình của Việt Nam Cộng Hòa. Quân đoàn 2 tan rả ngày 10-3-1975. Quân đoàn 1 tan rả ngày 29-3-1975. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21-4-1975. Mỹ cúp viện trợ nên quân đội VNCH thiếu thốn về mọi mặt. Chính X.92 mang toàn bộ Nghị quyết 24 về Sài Gòn. Nghị quyết chỉ nói tổng quát, là bộ đội các cấp nổ lực tấn công các kho nhiên liệu của miền Nam. Pháo binh và thiết giáp tấn công vào các mục tiêu chiến lược. Tổng thống Thiệu từ chức, không thành vấn đề. Việc thành lập chính phủ ba thành phần, cũng không thành vấn đề. Giải pháp quân sự dứt điểm cuộc chiến, quyết chiếm Sài Gòn, để lập thành tích cho kịp mừng sinh nhật Hồ Chí Minh vào ngày 19 tháng 5. Thống nhất đất nước để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Cộng Sản.

11*. Nhân vật Út Tặng Trong phần thuyết trình của ông Merle Pribbenow, có đề cập đến nhân vật Út Tặng. Do những tổn thất không nhỏ, nên Việt Cộng nghi ngờ có nội gián. Đến cuối năm 1971, Bí thư huyện ủy quận Phú Khương đã chỉ thị cho một nữ cán bộ, sống hợp pháp ở khu vực chợ Long Hoa, gần nhà X.92. theo dõi, điều tra về Võ Văn Ba. Hàng ngày Út Tặng đạp xe đạp chở rau quả đi bán hàng rong trong khu vực nhà của ông Ba. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu thuật lại, khi gặp X.92 tại nhà an toàn, ông cho biết y thị hoạt động rất hăng say và rất nguy hiểm. Mặc dù là cán bộ cấp huyện, nhưng trong vài lần họp cấp cao ở mật khu, y thị có tham dự. Ông Ngưu cho biết, chỉ hai ngày sau, ông đã bí mật bắt cóc Út Tặng trên đường bán hàng rong ở chợ Long Hoa. Khi báo cáo về Tổng Nha CSQG, thì Đại tá Huỳnh Thới Tây, Trưởng Khối Đặc biệt, ra lịnh phải mang y thị về cơ quan D.6. Y thị bị giam giữ cho đến ngày 30-4-75. Thiếu tá Ngưu không cho X.92 biết vụ bắt cóc, vì sợ rằng ông mất đề cao cảnh giác trong công tác. Khoảng một năm sau, Cục R cho biết Út Tặng đã mất tích và chỉ thị cho X.92 dò xét xem Út Tặng bị giam ở đâu, sống chết thế nào.

12*. Ông Frank Snepp muốn gặp tận mặt X.92 để kiểm chứng tin tức mà CIA Tây Ninh gởi về Thiếu tá Phan Tấn Ngưu và ông Frank Nepp Frank Snepp là chuyên viên phân tích tình báo (Intelligence Analyst) của CIA. Ông muốn gặp X.92 để kiểm chứng tin tức mà CIA Tây Ninh đã gởi về. Được ông Ba đồng ý. Cảnh sát và CIA Tây Ninh thực hiện. Ông Ba nói với vợ là ông đi khám bịnh ở bịnh viện Tây Ninh, rồi đi họp ở Cục R. Ở bịnh viện, ông vào một phòng không có bác sĩ và y tá. Lách ra cánh cửa để vào một phòng trống, nằm trên một băng ca, đấp tấm vải trắng phủ cả người, như một người chết. Hai nhân viên đặc vụ đưa băng ca lên xe hồng thập tự chạy ra phi trường Tây Ninh. Đến trọ tại một phòng của khách sạn sang trọng ở Sài Gòn, phòng bên cạnh là của ông Frank Snepp. Thế là câu chuyện nghiệp vụ được thực hiện. Ông Snepp công nhận tài liệu mà CIA đã nhận được là chính xác. Mỗi lần ra ngoài, X.92 đều ngụy trang. Tóc giả, râu giả, mang kiếng đen thật to để đi “tham quan” thành phố Sài Gòn. Ông Snepp cho biết X.92 có một trí nhớ phi thường. Đọc qua một văn bản, ông thuộc lòng những chi tiết cần thiết. Ông Ba rất thích bia Budweiser và thuốc Salem. Ông Snepp nêu nhận xét, Võ Văn Ba là người yêu nước được CIA đặt cho cái biệt hiệu “TU Hackle và là điệp viên giỏi nhất của CIA hoạt động trong lòng địch”. Sau ba ngày, ông về Tây Ninh và được Thiếu tá Phan Tấn Ngưu đón về, cũng theo thể thức của ngành tình báo.

13*. Số phận của Võ Văn Ba Vào tháng 3 năm 1975, cố vấn Mỹ nêu ý kiến, đưa X.92 cùng gia đình di tản sang Mỹ. Ông Ba từ chối, cho rằng ông đã già (52 tuổi) nên khó khăn lập nghiệp ở Mỹ. Cuối cùng ông Ba cho biết, ông sẽ trở lại cuộc sống bình thường. “Nếu Cộng Sản chiếm miền Nam tôi sẽ tự tử”.

14* Kết luận

Ông Võ Văn Ba sống an toàn cho đến hết ngày 30-4-1975. Do lời khai của thông dịch viên Nguyễn Sĩ Phong ở Ban Mê Thuột, nên ông Ba bị bắt ngày 1-5-1975. Bị giam ở Tây Ninh, rồi chuyển về giam tại Tổng Nha Cảnh Sát (Trước 1975). Ông dùng dây lưng quần siết cổ tự tử vào ngày 8-6-1975.“Võ Văn Ba là người yêu nước, là điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA”

Trúc Giang

MN Minnesota

ngày 21-3-2023

******************************************************************************************************


Võ Văn Ba: Điệp viên hàng đầu của VNCH và CIA ở Nam Việt Nam

Tác giả: Tina Hà Giang phỏng vấn Frank Snepp

Chỉ gần đây mới có tin chính thức về cái chết của Võ Văn Ba, người từng được coi là ‘điệp viên hàng đầu của CIA ở Nam VN’, khi báo chí Hà Nội gọi đây là ‘tên nội gián nguy hiểm’, bí số X92, Frank Snepp đã biết chắc về cái chết sẽ đến của điệp viên này từ ngày 17/4/1975. “Lúc ấy tôi biết tính mệnh của Võ Văn Ba đang lâm nguy, và có đủ lý do để tin là một nhân viên CIA biết rõ về nhiệm vụ của ông đã bị phe cộng sản bắt tại Phan Rang, và ngờ rằng khi bị tra tấn, người này sẽ khiến ông bị lộ. Một trong những ác mộng kinh hoàng nhất của tôi trong những ngày cuối cuộc chiến – là người anh hùng này, người đã liều lĩnh làm mọi thứ để hỗ trợ đồng minh – và đảm bảo sự thành công của đợt không vận khẩn cấp cuối cùng đưa nhiều người Việt di tản khỏi VN – có thể đã không sống sót. Thiếu tá Cảnh sát VNCH Phan Tấn Ngưu, trong một bài viết về Võ Văn Ba trên trang CanhsatQuocgia.org đã gọi ông là “điệp viên giỏi nhất của VNCH, và nhớ lại ông Võ Văn Ba hay nói ‘Nếu cộng sản chiếm được miền Nam, tôi sẽ tự tử!’ và đó chính là điều ông đã làm, khi bị bắt giữ chỉ vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ.” “Giờ đây tôi nhiều lần tự trách là đã không khăng khăng bắt Võ Văn Ba phải cùng mình rời khỏi Việt Nam,” nhà phân tích chính của CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) trong cuộc chiến Việt Nam thổ lộ điều vẫn còn khiến ông bị dằn vặt. Cùng là gián điệp hai mang, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến. Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng” (báo Nhân Dân hồi 2015, và báo Công an Nhân dân về điệp viên X92). Võ Văn Ba là ai? Ông đã làm gì trong cuộc chiến Việt Nam mà được mệnh danh là điệp viên hàng đầu của CIA, giỏi nhất của VNCH ở Nam Việt Nam? Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, người từng nhận lệnh của CIA đưa ông Nguyễn Văn Thiệu ra sân bay để rời VN tháng 4/1975, nói điệp viên Võ Văn Ba là một trong những lý do ông đang viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến cho đến giờ vẫn còn ám ảnh tâm trí ông. Frank Snepp: Võ Văn Ba là một người yêu nước, được CIA đặt cho biệt hiệu ‘TU Hackle’ và là điệp viên giỏi nhất của CIA hoạt động trong lòng địch. Ông từng là một đảng viên cộng sản tận tụy vào cuối thập niên 1940, chuyên tuyển mộ thành viên trẻ tại một tỉnh phía nam Sài Gòn. Ông làm việc với Việt Minh, rồi trở thành một kẻ khủng bố, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng khủng bố không phải là cách thu phục trái tim con người. Chán ngán việc phe cộng sản dùng giết chóc và đe dọa như một chiến thuật chiêu mộ, Võ Văn Ba rời bỏ hàng ngũ. Tạm biệt chủ nghĩa cộng sản năm 1954 vào thời điểm Hiệp định Geneva, Võ Văn Ba trở thành người đốn cây trồng rẫy, và dọn về tỉnh Tây Ninh, phía tây bắc Sài Gòn. Tây Ninh là một tỉnh quan trọng, vì đó là địa bàn hoạt động của Trung ương Cục Miền Nam, từ một hang ở Núi Bà Đen. Khi cán bộ Bắc Việt đi qua rẫy của Võ Văn Ba ở chân đồi, ngay bên dưới căn cứ chỉ huy Trung Ương Cục để tham dự các cuộc họp, ông dần dà quen biết họ. Cảnh sát VNCH trong khu vực này, biết lý lịch của Võ Văn Ba, nhận ra ông ở một vị trí lý tưởng. Họ tìm đến ông và nói: chúng tôi muốn ông giúp chúng tôi theo dõi cộng sản, và Võ Văn Ba trở thành gián điệp nhị trùng năm 1960. Thoạt đầu Võ Văn Ba hợp tác với cảnh sát VNCH. Ông nhanh chóng là một điệp viên hiệu quả, làm việc với cấp chỉ huy cộng sản. Võ Văn Ba đóng vai người cộng sản lầm đường muốn trở lại Đảng, và mới đầu chỉ được tiếp cận với vòng ngoài của Trung ương Cục Miền Nam, nhưng sau đó đi hẳn vào trung tâm của Cục. Nhờ vậy, ông thu thập được mọi động tĩnh từ cơ quan này, biết hết các điệp viên hai mang của họ, và những điều họ đang làm. Năm 1965, CIA bắt đầu đưa Võ Văn Ba vào quỹ đạo của mình sau khi nhận thấy ông là một nguồn tin có giá trị. Ông từ đó làm việc cho cả An ninh Cảnh sát VNCH lẫn CIA. Năm 1968, Võ Văn Ba báo trước cho cảnh sát VNCH năm ngày về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Thông tin tương tự đến được Đại sứ quán Hoa Kỳ, người Mỹ không đánh giá cao tin này lắm, nhưng cảnh sát VNCH thì có. Và đó là lý do tại sao khi lực lượng cộng sản tấn công Sài Gòn vào Tết Mậu Thân 1968, cảnh sát VNCH đã chuẩn bị trước và có mặt để đối phó. BBC: Ông có thể kể lại kinh nghiệm làm việc với Võ Văn Ba? Frank Snepp: Năm 1969, tôi đến VN làm chuyên viên phân tích cho CIA. Một trong những điều đầu tiên tôi phải làm là phân tích tài liệu chúng tôi vừa tịch thu được, một tài liệu của Cộng sản quan trọng nhất mà chúng tôi từng có. Tài liệu đó là Nghị quyết 9, phân tích của Bắc Việt về những gì xảy ra năm 1968, cũng như hoạt động quân sự sau đó. Bắc Việt nhận định rằng quá nhiều quân sĩ của họ đã tử trận, nhiều đến mức họ dự trù phải thúc thủ trong vòng hai năm. Nói cách khác, họ không thể có cuộc tấn công lớn nào nữa. Khi CIA tịch thu được toàn bộ tài liệu này, tôi được giao nhiệm vụ cùng với ba hoặc bốn đồng nghiệp, cũng thuộc CIA, phải tìm hiểu xem tài liệu có xác thực hay không. Chúng tôi nghĩ tài liệu đó thật, nhưng không chắc 100%. Làm thế nào để xác định được là tài liệu đó có giúp chúng tôi biết ý định sự thật của phía cộng sản không rất quan trọng, vì chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, chính sách mới của Nixon về việc rút lực lượng Mỹ và đưa lực lượng Việt Nam lên tuyến đầu, chỉ mới bắt đầu. Nếu tài liệu này đúng, có nghĩa là trong thời gian hai năm, khi Cộng sản không thể hoạt động mạnh trên chiến trường, chúng tôi sẽ rảnh tay thực hiện chính sách Việt Nam hóa. Chúng tôi gặp Võ Văn Ba và được Võ Văn Ba xác nhận đó là tài liệu đúng. Đó là một đột phá tình báo lớn. Tôi biết Võ Văn Ba trong hoàn cảnh đó. Trong vòng hai năm, tôi bắt đầu gặp trực tiếp ông ta, không phải vì tôi giỏi, không phải vì tôi nói được tiếng Việt, tôi luôn phải có thông dịch viên khi làm việc với Võ Văn Ba, nhưng vì tôi đã nắm sẵn được nhiều bí mật. Là một nhà phân tích của CIA, tôi được truy cập vào những bí mật quan trọng và bạn phải biết bí mật thì mới có thêm được bí mật. Vì vậy CIA cử tôi đến nói chuyện với nhiều nguồn tin, trong đó có Võ Văn Ba, để lấy tin và xác minh xem những gì chúng tôi nhận được có chính xác không. Tôi bị Võ Văn Ba mê hoặc. Ông có trí nhớ phi thường, có thể xem một tài liệu và nhớ nguyên văn mọi thứ cần nhớ về tài liệu đó. Không cần phải cầm tài liệu trong tay, chỉ cần đọc nó một lần, ông sẽ có thể mang tài liệu đó đến cho chúng tôi trong đầu của ông. CIA huấn luyện cho ông tất cả những kỹ thuật căn bản trong nghề tình báo. Phải nói rõ là Võ Văn Ba có người phụ trách trực tiếp tức ‘handler’ là Cảnh sát Đặc biệt của VNCH. Ông cũng có một ”handler” khác là một nhân viên CIA người Mỹ ở Tây Ninh. Nhưng người Mỹ này không thể trực tiếp gặp ông, bởi nếu Cộng sản nhìn thấy ông với một người da trắng, họ sẽ nghi ngờ. Vì vậy, để gặp ‘handler’ người Mỹ, Võ Văn Ba phải vào một bệnh viện ở Tây Ninh, trèo lên một băng ca, kéo tấm trải giường lên người, giả như người đã chết. Sau đó, các nhân viên phụ trách người Việt của ông sẽ chuyển băng ca ra ngoài, đưa lên máy bay. Máy bay sẽ đưa Võ Văn Ba vào Sài Gòn nơi ông cải trang để gặp tôi hoặc một người Mỹ khác. Ông sẽ mặc áo dài nam hay đội bộ tóc giả lớn khiến ông trông giống một phụ nữ và đeo cặp kính đen khổng lồ giống như Greta Garbo, rồi đến gặp chúng tôi tại một nơi an toàn. BBC:Ngoài trí nhớ phi thường như ông nói, Võ Văn Ba là người như thế nào và có đặc điểm gì, thưa ông? Frank Snepp: Võ Văn Ba có hai nhược điểm. Một là rất thích bia Budweiser. Ông được bảo là người Mỹ thả bia Budweiser dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh để làm chậm tiến độ xâm nhập của Bắc Việt, vì đang di chuyển họ phải dừng lại uống bia (cười). Chẳng biết điều đó có đúng không, tôi cho rằng đó là sự thật, dù không bao giờ kiểm chứng được. Dẫu sao Võ Văn Ba rất mê Budweiser. Nhược điểm thứ hai là rất thích thuốc Salem. Nghe nói ông Hồ Chí Minh cũng mê thuốc lá Salem, và thường bỏ thuốc Bastos hoặc thuốc lá Việt Nam trong túi áo, và mời những thứ này cho các đồng chí. Nhưng khi muốn hưởng chút lạc thú, ông sẽ lấy Salem ra hút. Vì vậy, Võ Văn Ba, người thích trò trớ trêu, luôn đòi chúng tôi cung cấp bia Budweiser và thuốc Salem trước khi trao cho chúng tôi những bí mật. Và những bí mật ông có được thì thật tuyệt vời. Toàn những tin từ nội bộ. Ông được hàng ngũ cộng sản tín nhiệm đến nỗi được tham gia các cuộc họp bên trong Bộ chỉ huy ở Núi Bà Đen. Võ Văn Ba ở vào vị trí lý tưởng để giúp chúng tôi, và để giúp ông đóng được vai trò một thành viên Cộng sản tốt, CIA và Cảnh sát Đặc biệt VNCH dàn dựng nhiều việc. Chúng tôi tấn công vào các trạm kiểm soát của cảnh sát VNCH, tất cả đều là giả, và sau đó loan tin là phe cộng sản đã làm điều đó, dĩ nhiên Võ Văn Ba kiếm được điểm, vì vậy, tín nhiệm của ông ngày càng tăng trong giới chỉ huy Bắc Việt. Họ cho rằng ông đã thi hành tất cả những điệp vụ kinh tởm cho họ, trong khi thực sự ông làm việc cho chúng tôi. BBC: Những tường trình của Võ Văn Ba đã giúp công việc của ông ra sao? Frank Snepp: Tôi dần dà ủng hộ tuyệt đối những tường trình của Võ Văn Ba. Lúc trở về trụ sở CIA ở Mỹ vào năm 1971, tôi là thành viên của một đơn vị phân tích lớn, chuyên viết bản tường trình hàng ngày (Daily Brief) cho Tổng thống. Tôi quảng bá báo cáo của Võ Văn Ba, vì là một trong số ít người trong ban phân tích của CIA đã gặp được ông, và vì tôi biết ông là vàng ròng. Năm 1972, chúng tôi bắt đầu nhận được báo cáo lạ của Võ Văn Ba. Lạ vì nó cho thấy Cộng sản đang làm một điều mà chúng tôi không bao giờ nghĩ họ sẽ làm. Họ cho cán bộ biết là có thể sẽ có một hiệp định hòa bình mà không cần phải có điều kiện họ luôn coi là tiên quyết, đó là Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Tôi sửng sốt khi đọc điều đó, vì tôi biết Võ Văn Ba là người đáng tin. Tôi viết ngay bản tường trình hàng ngày cho tổng thống nói rằng tôi nghĩ một hiệp định hòa bình đang trong quá trình được thực hiện. Lúc ấy Henry Kissinger đang bí mật đàm phán ở Paris, nhưng không nói cho ai biết mình đang làm gì. Báo cáo của Võ Văn Ba là dấu hiệu đầu tiên cho chúng tôi thấy đã có bước đột phá trong cuộc đàm phán bí mật ở Paris giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. CIA, dù ít nhất là ở cấp của tôi, không ai biết gì về điều này. Vì vậy, chúng tôi đã được điệp viên giỏi nhất của mình báo về tiến trình các cuộc đàm phán tại Paris. Sau đó tôi lại được cử về Sài Gòn vào mùa thu năm 1972 để thẩm vấn một tù binh Bắc Việt giỏi nhất mà chúng tôi bắt được. Vào tháng 10/1972, khi tôi đã có mặt ở Sài Gòn, chúng tôi nhận được một báo cáo hết sức sửng sốt của Võ Văn Ba. Báo cáo cho biết Kissinger đã có một thỏa thuận khủng khiếp với phe cộng sản, cho phép Bắc Việt giữ lực lượng của họ ở miền Nam. Bản báo cáo của Võ Văn Ba không chỉ đến Tòa Đại sứ, mà còn đến tay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khiến ông Thiệu vào tháng 10/1972 phản ứng mãnh liệt, hỏi chuyện gì đang xảy ra, Kissinger đang làm gì? Ông Thiệu nhất quyết phản đối, nói sẽ không chấp nhận thỏa thuận mà Kissinger đang đàm phán dù đó là thỏa thuận gì, vì ông không được tham dự vào việc thương lượng. Khi ông Thiệu nhất quyết phản đối thì đến phiên Bắc Việt hỏi chuyện gì đang xảy ra, người Mỹ chắc đang lừa chúng ta. Khi thấy thỏa thuận có nguy cơ bị hỏng, vì Võ Văn Ba đã cho chúng tôi biết sự thật, Nixon quyết định dội bom Bắc Việt để chứng minh với ông Thiệu rằng Mỹ vẫn đứng về phía ông, và cũng để làm cho Bắc Việt phải tiếp tục thương lượng, và họ đã trở lại đàm phán. Võ Văn Ba đã cung cấp cho tổng thống VNCH thông tin đầu tiên về những gì Kissinger đang làm, và quan trọng nhất là quyết định cho phép quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam của Kissinger. BBC: Ông có tiếp xúc với Võ Văn Ba thường xuyên không? Frank Snepp: Trong thời kỳ ngừng bắn 1973 đến 1975, tôi thỉnh thoảng gặp ông để biết những kế hoạch mới nhất của cộng sản. Tôi cũng được trao một trọng trách mới, là giúp quản lý một đặc vụ mà chúng tôi đang có ở Hà Nội. Phải nói rõ rằng người phụ trách Võ Văn Ba là một nhân viên CIA khác rất giỏi, nhưng tôi được cử đến gặp ông định kỳ để kiểm chứng những phát hiện của ông với nguồn trực tiếp của chúng tôi ở Hà Nội. Tôi không giỏi gì, nhưng chỉ vì tình cờ mà tôi được liên lạc trực tiếp với điệp viên giỏi nhất của CIA và có dịp kiểm chứng những tin những điệp viên gửi về. Khi Nixon từ chức, Võ Văn Ba cho chúng tôi những dấu chỉ đầu tiên về những gì Cộng sản sẽ làm vào cuối năm 1974. Ông nói Bắc Việt sẽ thử nghiệm để xem khả năng phòng thủ của VNCH lúc ấy yếu đến độ nào. Ngày 8/4/1975, Võ Văn Ba cho chúng tôi báo cáo đầu tiên về những gì phe cộng sản sẽ làm để dứt điểm cuộc chiến. Tôi không được tin này trực tiếp, mà nhận qua người ‘handler” của ông. Tôi gửi ngay yêu cầu cho Võ Văn Ba thông qua người Mỹ này để hỏi thêm. Sau đó, ngày 17/4, tôi trực tiếp gặp Võ Văn Ba và nhận được toàn bộ kế hoạch kết thúc chiến tranh của Cộng sản: Sẽ không có thỏa thuận nào, ông Thiệu từ chức hay không không thành vấn đề, cũng không thành vấn đề nếu chúng tôi muốn thành lập một chính phủ liên hiệp, Cộng sản nhất quyết tiến chiếm Sài Gòn kịp sinh nhật Hồ Chí Minh vào giữa tháng 5, và sẽ tấn công trước ngày 1/5, đúng y như những gì đã xảy ra. Tin đó khiến các nhà hoạch định quân sự Hoa Kỳ đã bị sốc mà phải tức thời lập chương trình cho những chuyến trực thăng khẩn cấp đưa người di tản. Vì vậy, với những ai đã được đưa ra khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Võ Văn Ba là người đã cứu họ…

P HẦN 2 : FR A N K S N E P P S O S Á N H Đ IỆP V IÊ N C IA V Õ V Ă N B A V À T ÌN H B Á O C S P HẠM X U Â N ẨN .

là gián điệp nhị trùng, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến. Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng”. Võ Văn Ba là ai và số phận ông ta ra sao sau 30/04/1975 khi lực lượng chính quy của Bắc VN tiến vào Sài Gòn, xóa sổ chế độ VNCH. Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, nhà phân tích chính của CIA trong chiến tranh VN, kể những gì ông biết về Võ Văn Ba, nêu ra ý kiến cá nhân về điệp viên này và chia sẻ những gì ông tin là ông biết được thêm sau 1975. Frank Snepp: Theo thông tin mà chính Cộng sản đưa ra sau đó, Võ Văn Ba bị một nhân viên CIA, một người Mỹ bị bắt hai tuần trước khi cuộc chiến kết thúc làm lộ. Theo bản dựng lại vụ án của Cộng sản, được công bố sau chiến tranh, nhân viên CIA này, khi bị tra tấn đã khai ra Võ Văn Ba. Ngoài ra, hành tung của Võ Văn Ba cũng bị một thông dịch viên người Việt tiết lộ. Đây là người từng làm việc với Võ Văn Ba, người này bị bắt, tôi nhớ là ở Ban Mê Thuật. Tóm lại, hai cá nhân liên quan đến CIA, khi bị tra tấn đã khai ra vai trò của ông. Khi tôi gặp Võ Văn Ba hôm 17/4, mạng sống của ông đang bị nguy hiểm nghiêm trọng, vì trong vòng vài ngày đó ông có lẽ đã gặp những người đã bị bắt, trong đó có một số người Mỹ. Khi Sài Gòn thất thủ, Võ Văn Ba chưa di tản. Với thông tin thu thập được từ các tù nhân, phe cộng sản bắt giam ông, và họ công bố trong các phân tích thời hậu chiến là ông đã dùng thắt lưng treo cổ tự tử để khỏi bị tra tấn. Vợ ông bán hoa ở Tây Ninh dường như không bị sát hại, và tôi tin là con trai của Võ Văn Ba cũng không bị cộng sản bắt bớ, mặc dù điều này không rõ ràng. Với tôi, Võ Văn Ba là một người hùng, một người thực sự yêu nước. Ông là một Nathan Hale (1755-1776, sĩ quan, nhà hoạt động tình báo thời cuộc chiến Cách mạng Mỹ) của miền Nam Việt Nam, và cho đến gần đây, khi Bắc Việt công bố những tài liệu riêng của họ, công chúng vẫn biết rất ít về ông. Tôi đã viết về Võ Văn Ba trong cuốn Decent Interval, nhưng lúc ấy tôi rất cẩn thận, không tiết lộ bất kỳ chi tiết nào, không công bố danh tính hay thông tin xác định nào ngoại trừ việc nói rằng ông ở tỉnh Tây Ninh và là điệp viên tốt nhất của CIA. Lý do là khi viết sách, tôi không biết chắc số phận Võ Văn Ba lúc đó ra sao. BBC: Có phải Võ Văn Ba là một trong những lý do khiến ông viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến Việt Nam. Ông biết tin Võ Văn Ba treo cổ tự tử vào lúc nào? Frank Snepp: Kể chuyện Võ Văn Ba, tôi hy vọng sẽ tạo chất xúc tác để những người Việt tị nạn và người Việt sống ở hải ngoại tôn vinh người đàn ông này. Ông là một người miền Nam yêu nước một cách phi thường, nhưng chưa ai biết nhiều về ông, ít nhất là cho đến nay. Tôi chỉ biết tin Võ Văn Ba chết khi an ninh Việt Nam ở Hà Nội công bố tài liệu của họ về vụ án. Trong bốn năm qua, Hà Nội đã công bố gần như tất cả những khám phá của họ về ông. Họ đã kiểm tra lời khai của tù nhân, thu giữ tài liệu và tổng hợp lại những chiến dịch mà họ cho là đã gây tổn hại cùng cực, và kết luận Võ Văn Ba là điệp viên nguy hiểm nhất từng hoạt động chống cách mạng. Họ xác nhận những gì tôi biết, đó là việc ông đã tiết lộ các tài liệu về kế hoạch và thiết kế quan trọng của Cộng sản từ năm 1965 đến khi kết thúc chiến tranh. Ông đã cung cấp hết cho CIA, vấn đề là CIA không phải lúc nào cũng tin ông. BBC: Ông Phan Tấn Ngưu, người phụ trách liên lạc với Võ Văn Ba từ phía VNCH, viết là CIA có lúc không tin Võ Văn Ba là vì ông gặp vấn đề bị thử bằng máy phát hiện nói dối (lie detector test). Điều đó đúng không? Frank Snepp: Vào năm 1971, có nghi ngờ rằng Võ Văn Ba là gián điệp nhị trùng hoạt động cho Cộng sản. Tôi đã có cuộc gặp kéo dài ba ngày với ông và xem qua tất cả những gì chúng tôi biết về ông, cùng với ông Phan Tấn Ngưu, sĩ quan cảnh sát của VNCH, “handler” của Võ Văn Ba, hiện đang sống ở Quận Cam (California) và cũng là người đã công bố những gì ông biết về Võ Văn Ba kể cả việc chúng tôi đã gặp nhau. Vào đầu năm 1971, tôi đã có thể xác minh rằng Võ Văn Ba đúng là những gì ông đã tuyên bố. Điều gây nghi ngờ là Võ Văn Ba đã đưa một số báo cáo cho các cơ quan tình báo khác của VNCH, như Phủ Đặc ủy Tình báo Trung ương và có thể cả cho cơ quan an ninh quân đội. Võ Văn Ba làm như vậy vì họ trả ông một ít tiền. Ông cung cấp cho chúng tôi những bí mật chính, nhưng cũng kiếm thêm tiền bên ngoài. Và vì vậy, khi làm ‘lie detector test’, đồ thị của ông có những vết nhấp nhô. Ông cũng không nói với chúng tôi rằng ông trao một số bí mật cho những cơ quan đồng minh để kiếm thêm chút tiền. Đó là nguồn gốc những nghi vấn về ông. Nhưng những nghi ngờ này phần lớn đã được giải tỏa, chủ yếu là qua cuộc gặp gỡ ba ngày của tôi với ông ấy vào năm 1971. BBC: Ông có thể so sánh Võ Văn Ba với Phạm Xuân Ẩn, điệp nổi tiếng hoạt động cho phe cộng sản Bắc Việt cũng trong cuộc chiến VN? Frank Snepp: Phạm Xuân Ẩn nói chung là một hacker. Ông ta làm việc chống lại mục tiêu mềm yếu nhất ở miền Nam Việt Nam, đó là giới báo chí. Ông Ẩn thu thập những thông tin có giá trị mà báo chí lấy được từ Đại sứ quán Hoa Kỳ, và chuyển nó cho Bắc Việt. Nhưng so sánh Phạm Xuân Ẩn với Võ Văn Ba, thì xin đừng làm thế. Võ Văn Ba là thứ thiệt. Ông như nhân vật trong phim James Bond. Võ Văn Ba nằm ở ngay Trung ương Cục Miền Nam của phe cộng sản, đầu não chính của họ ở miền Nam, giống như một điệp viên nằm ngay trong Lầu Năm Góc. So với Võ Văn Ba, Phạm Xuân Ẩn không là gì cả. Ý tôi là, Phạm Xuân Ẩn được ca tụng vì giới báo chí Mỹ kinh ngạc không thể tin được là họ đã bị ông ấy lừa. Vậy à? Nhưng, việc đưa ra đề xuất so sánh hai người, tôi nghĩ, là một xúc phạm với Võ Văn Ba. Thật đấy. Không phải là tôi muốn hạ giá trị Phạm Xuân Ẩn. Tôi biết ông ta là một điệp viên thông minh, nhưng xét về tầm cỡ, ông ấy không thể so với vai trò của Võ Văn Ba. BBC:Theo ông, Võ Văn Ba đã có những thành tích gì đáng ghi nhớ? Frank Snepp: Võ Văn Ba cho Nguyễn Văn Thiệu dấu chỉ đầu tiên là Henry Kissinger đang đánh lừa miền Nam Việt Nam. Ông đã cảnh báo cho chúng tôi về Tết Mậu Thân năm 1968 mặc dù Đại sứ quán Hoa Kỳ không công nhận tất cả những điều ông nói. Ông đã giúp chúng tôi chứng thực tài liệu cho thấy phe cộng sản đã chịu những thương vong khủng khiếp vào năm 1968 và sẽ không thể tiếp tục chiến đấu với mức độ ác liệt như cũ. Điều đó giúp chúng tôi khởi động chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Ông đã cho chúng tôi biết phản ứng đầu tiên của phe cộng sản về việc Tổng thống Nixon từ chức vào tháng 8 năm 1974. Võ Văn Ba báo cho chúng tôi mọi quyết định quan trọng Cộng sản đưa ra. Đây không phải là nhận định của tôi mà là nhận định của chính Bắc Việt. Họ lập một danh sách, nói là Võ Văn Ba đưa cho CIA kế hoạch cho các năm 1969, 1970, cuộc tấn công lễ Phục sinh… Võ Văn Ba cung cấp tất cả thông tin về kế hoạch ngừng bắn của họ. Bạn không cần tin tôi, mà hãy đọc những phân tích của họ, những phân tích của chính phe địch. Ngay Bắc Việt cũng phải công nhận là Võ Văn Ba qua mặt được họ là điều rất phi thường. Đại sứ Graham Martin dần dà cũng quý mến Võ Văn Ba, vì ông cho rằng thành công của Võ Văn Ba cho thấy phe cộng sản cũng dễ bị tổn thương và có điểm yếu kém, có lỗ hổng. Vì vậy, khi Đại sứ Martin cuối cùng quyết định không tin vào cảnh báo của Võ Văn Ba là sẽ không có thỏa thuận, điều đó làm tôi sửng sốt, vì ông đã từng tin rằng điệp viên này giỏi nhất trong số những người giỏi nhất. Việc Đại sứ Martin và xếp CIA Polgar giảm tầm quan trọng của những gì Võ Văn Ba cảnh báo làm tôi kinh ngạc. Nhưng những điều Võ Văn Ba nói với chúng tôi hôm 17/4, cuối cùng cũng đã được gửi về cho tổng thống trong bản tóm tắt hàng ngày, và nhờ đó đã thúc đẩy ngay kế hoạch cho trực thăng bốc người, giúp nhiều người trong chúng ta vượt thoát. Tóm lại, chúng ta không thể kể về Chiến tranh Việt Nam mà không nhắc đến thành tích của Võ Văn Ba. Lịch sử chiến tranh Việt Nam đã được kể lại nhiều lần, nhưng không mấy ai có thông tin về Võ Văn Ba, ngoại trừ những gì tôi viết trong cuốn hồi ký ban đầu, nhưng cũng không dám viết gì nhiều như bây giờ. Giờ đây tôi đã viết về Võ Văn Ba, và đến nhiều viện bảo tàng và viện nghiên cứu khác nhau để nói rằng, quý vị phải cập nhận tài liệu của quý vị về chiến tranh Việt Nam, phải kể về một số đóng góp của người đàn ông này, bởi vì những gì Võ Văn Ba báo với chúng tôi đều là tin chính xác vào những thời điểm quan trọng. Và lịch sử phải ghi rõ những gì chúng ta biết, những gì không biết, những tin chúng ta đã vì đó có hành động thích hợp, và những tin chúng ta đã phớt lờ. Phải làm thế, vì sự thật là điều then chốt của lịch sử.

Tại sao báo chí Việt Nam kín tiếng vụ Trump bị truy tố?

Báo Tiếng Dân

Jackhammer Nguyễn

Chiều thứ năm 30-3-2023, cựu tổng thống Hoa Kỳ Donal Trump chính thức bị một tòa án ở New York phát lệnh truy tố, sau khi đại bồi thẩm đoàn bỏ phiếu tán thành. Như vậy ông Trump sẽ phải xuất hiện trước tòa án New York, dự trù là ngày thứ ba, 4-4-2023, để làm thủ tục của một kẻ bị cơ quan pháp luật truy tố.

Ông Trump bị truy tố vì tội dùng tiền bịt miệng một cô đào phim khiêu dâm, cô này nói cô ấy có quan hệ tình dục với ông ta, và món tiền này được đưa vào mục chi phí pháp lý, một cách bất hợp pháp.

Những thủ tục được thực hiện đối với một tội phạm như lấy dấu vân tay, chụp hình, dẫn đi ngang công chúng, và có thể còn bị còng tay nữa,… là hình ảnh rất nhục nhã đối với một nghi phạm bị truy tố, hơn nữa nghi phạm đó lại là một cựu tổng thống.

Dễ hiểu rằng đây là một tin lớn, chiếm trang đầu các nhật báo phương Tây, và có thể ngự trị ở vị trí trang nhất ấy trong thời gian dài tới đây. Thế nhưng, các tờ báo hàng đầu của hai nhà nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc lại im ắng.

Cho đến sáng thứ sáu, giờ bờ Đông nước Mỹ, trên trang nhất của hai tờ Nhân Dân Nhật báo, và Hoàn Cầu Thời báo của Đảng cộng sản Trung Quốc hoàn toàn vắng bóng tin ông Trump bị truy tố.

Các tờ báo lớn của Việt Nam như Tuổi Trẻ, Vietnamnet, Vnexpress,… có đăng tin này nhưng chỉ là một mục rất nhỏ trong cột tin thế giới.

Tại sao cơ quan tuyên giáo của hai quốc gia cộng sản này, tức là cơ quan chỉ huy tối cao báo chí quốc gia, vốn hay đưa những tin mô tả mặt trái của xã hội phương Tây, chẳng hạn như bạo lực chết người, bất bình đẳng xã hội, người vô gia cư, phân biệt chủng tộc, kinh tế suy thoái,… lại im lặng đối với tin này?

Sự im lặng này là nỗi sợ hãi một nguyên tắc nền tảng của xã hội dân chủ phương Tây, đó là không ai có thể đứng trên pháp luật.

Nguyên tắc này được cơ cấu tam quyền phân lập tạo môi trường để thực hiện. Ba nhánh quyền lực, lập pháp (quốc hội), hành pháp (tổng thống/ thủ tướng), tư pháp (tòa án) độc lập với nhau. Việc điều tra ông Trump đã được tiến hành ngay cả trong lúc ông ta cầm quyền, mà ông ta không thể ra lệnh cho các vị công tố ngưng lại.

Ai có thể điều tra hai ông Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình khi hai ông này đang cầm quyền?

Nếu báo chí Việt Nam và Trung Quốc được tự do đưa lên trang nhất việc ông Trump bị truy tố, độc giả Trung Quốc, Việt Nam sẽ chắc chắn có sự so sánh với hệ thống nhà nước đang cai trị họ. Từ sự so sánh đó, họ sẽ đặt câu hỏi về tính chính danh của các nhà lãnh đạo cộng sản cai trị họ. Thế nên, cơ quan tuyên giáo hai đảng cứ lờ đi, xem chuyện ông Trump bị truy tố, thậm chí nếu có bị còng tay đi nữa,… là chuyện không quan trọng.

Năm 1988, khi vụ bê bối tình dục của tổng thống Bill Clinton bùng ra, báo chí Việt Nam lập tức hồ hởi phấn khởi đưa tin. Sự phản hồi của độc giả Việt Nam lúc đó lại không đi theo hướng cho rằng xã hội Mỹ là xấu, mà lại theo hướng không ai đứng trên pháp luật, và người Mỹ đang dạy thế giới thế nào là bình đẳng trước pháp luật. Các tờ báo Việt Nam lập tức giảm ngay liều lượng, thậm chí còn đưa những bài chỉ trích nước Mỹ đối xử với các lãnh tụ của mình một cách không tôn trọng, một cách… vô ơn!

Nhân đây xin nhắc lại câu chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường và ông Phạm Văn Đồng. Ông Tường là một luật sư thời Pháp thuộc, theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp, ông Đồng là thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam cộng sản. Khi ông Tường kêu gọi chính phủ của ông Đồng tiến hành soạn thảo các bộ luật để cai trị đất nước theo pháp luật, thì ông Đồng trả lời là pháp luật sẽ trói tay trói chân nhà cầm quyền.

Não trạng này thể hiện vị thế ngồi trên pháp luật của ba ông chóp bu hiện nay tại ba nước Việt Nam, Trung Quốc và Nga, là Nguyễn Phú Trọng, Tập Cận Bình, và Vladimir Putin (nước Nga tuy hiện không mang danh cộng sản, nhưng bản chất vận hành của nhà nước này vẫn mang tính chuyên chế cộng sản rất cao). Cả ba ông này đều sửa lại luật để tự mình tiếp tục cầm quyền.

Với não trạng đó, các lãnh tụ cao cấp của các đảng cộng sản thường hay bị “xử lý nội bộ”, chứ không công khai. Những vụ án xử các lãnh tụ cao cấp thường khó mang tính thuyết phục mà mang nhiều màu sắc đấu tố nội bộ, hơn là thực thi công lý.

Vụ mất chức gần đây nhất liên quan đến cán bộ cao cấp Việt Nam là vụ ông chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phải về vườn, vì có liên quan đến vụ bê bối Việt Á, nhưng ngoài mặt ông Phúc vẫn là xin về hưu theo nguyện vọng cá nhân.

Nhưng liệu tuyên giáo Việt Nam có triệt tiêu hoàn toàn sự so sánh của độc giả về hệ thống pháp luật Mỹ và cộng sản? Trên một số tờ báo Việt Nam, dù vụ ông Trump được đưa ra một cách rón rén, nó vẫn là tin được độc giả tìm đọc nhiều nhất.

Trời vào thu, Đại Ngu buồn lắm em ơi!

Báo Tiếng Dân

Dương Tự Lập

2-4-2023

(Thế hệ một thời đi qua vòm trời vàng son Việt Nam Cộng Hòa)

Trước đó đã có, nhưng rầm rộ hơn phải được tính từ đầu năm 2004 khi ông cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bốc đồng Nguyễn Cao Kỳ do được những tay “bác sĩ” Cộng sản tài tình kết nối “khúc ruột dư” của ông trở về Việt Nam thành “khúc ruột Thừa ngàn dặm”.

Năm kế tiếp 2005 là lão nhạc sỹ Phạm Duy, người có số phận quá tam ba bận. Kháng chiến chống Pháp ông bỏ chiến khu về Thành, chia cắt hai miền ông bỏ Thành Hà vào Nam, Bắc thâu tóm Nam ông bỏ Nam chạy sang Mỹ. Ba mươi năm mang kiếp sống của kẻ lưu vong.

Từ đó đám chống Cộng xôi thịt bên Mỹ như bọn Nguyễn Ngọc Lập, Hoàng Duy Hùng, Nguyễn Phương Hùng… theo gương ông Kỳ từ Mỹ ào ạt trở về, và cũng đều giống nhau, khi đặt chân xuống sân bay, bọn chúng nước mắt lưng tròng nức nở nghẹn ngào, ân hận, tự nhận đã một thời lầm đường lạc lối, đầy mình tội lỗi đối với đất nước non sông.

Tiếp nối theo có đám ca sĩ Việt ở Mỹ cũng rầm rộ kéo nhau về “kiếm ăn” bởi ở Mỹ thị trường âm nhạc ấy đã hết… ăn. Kiều bào ta rải rác khắp nước Mỹ thời điểm này khoảng hai triệu người. Thế hệ thích nhạc xưa ngày một thưa thớt, trong khi ở Việt Nam một trăm triệu dân, lượng khán giả háo hức đón nhận dòng nhạc vàng, Bolero này còn thịnh hành, còn đông lắm. Thôi thì sống đâu cũng là sống, cũng vẫn phải làm, vẫn phải tồn tại. Chuyện cơm áo gạo tiền gắn liền sinh mạng.

Hơi phiền là các ca sĩ này cứ tưởng bở, được hát những bài hát của họ tự chọn thoải mái như trên sân khấu Mỹ, Pháp, Úc… Như trên sân khấu quê nhà của thời vàng son Việt Nam Cộng hòa còn tồn tại. Họ được trở về Việt Nam hành nghề đã là một “đặc ân lớn” của Chính phủ, của Đảng phẩm chất, trí tuệ, cùng lòng bao dung độ lượng nhân ái dành cho dân và vì dân. Nếu không phải Đảng Cộng sản Việt Nam thì chẳng có cái Đảng chó nào trên thế gian này vĩ đại, giầu lòng chắc ẩn hơn.

Nào là Chế Linh, Thanh Tuyền, nào là Phương Dung, Giao Linh, nào là Hương Lan, Tuấn Vũ, rồi Khánh Ly, Tuấn Ngọc… ùn ùn theo nhau kéo về hát trên sân khấu quê nhà hợp hòa dân tộc. Tất cả các ca sĩ này có một số phận na ná giống nhau, tiền sử của họ đều bị khép tội phản động, bỏ chạy vào ngày “Đất nước trọn niềm vui” 30-4-1975. Họ trở thành thuyền nhân (Boat people) lênh đênh biển cả. Mạng họ đào hoa nên chưa bị sa vào ruột cá. Đến nay tuổi của họ cũng kha khá là cao. Ông Đỗ Phủ cười xếp tất cả loại này vào bọn “người xưa nay hiếm”.

Chương trình của họ vé đã được bán hết, đang chuẩn bị trình diễn, hoặc diễn hát giữa chừng mà lỡ có bị cúp mất điện, tắt đài thì chỉ là chuyện hài Xã hội chủ nghĩa, chuyện muỗi. Lỗi này nếu truy xét nguyên nhân thì đều do từ dân xướng ca phạm luật chơi, đi sai đường hoặc hát chệch hướng chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Xin nêu mấy trường hợp mới xẩy ra đối với nhóm ca sĩ đã trải qua chế độ Việt Nam Cộng hòa trở về hát trên quê nhà thời gian gần đây để ta suy ngẫm.

Chế Linh gốc người Chăm, từng sáng tác và hát cho lính “Ngụy quân, Ngụy quyền”. Tuổi trẻ vô Sài Gòn nói tiếng Việt chưa sõi. Bắt đầu nổi tiếng từ bài hát đầu tiên “Tình bơ vơ” của nhạc sĩ Lam Phương. Từng bị chế độ Cộng sản bỏ tù rồi vượt biên thoát nạn. Ra hải ngoại, đứng trên sân khấu Thúy Nga Paris by night dám đóng vai Vua Champa Chế Bồng Nga, vị vua vĩ đại cuối cùng của Quốc vương Chăm vì sau khi ông tử trận năm 1390 khép lại lịch sử cường hùng, người sau thế ông không ai hơn được. Nước Chăm cũng bị nhà Hồ Đại Ngu đánh chiếm giang sơn dần, mất hết đất đai thịnh vượng và về sau bị xóa sổ hoàn toàn.

Báo An Ninh Thế giới cuối tháng ngày ấy đã đăng hình ông “Vua Chế Linh” trong bộ áo bào uy nghi lẫm liệt và có hẳn một trang dài luận tội Chế cực kỳ phản động, dám gợi lại một triều đại đã qua. MC Nguyễn Ngọc Ngạn thì đùa tếu, Chế là người vô tổ quốc, người nước ngoài nói hai thứ tiếng. Nay cho về lại Việt Nam hát là hồng phúc rồi, nếu lỡ như có xẩy ra sự cố chi chi đó khi chuẩn bị trình diễn tại Thủ đô Hà Nội như hồi trung tuần tháng 11 năm 2022 thì chỉ là do phúc của Chế hết hồng mà thôi. Dẫu có thế nào thì Chế cũng đừng oán than chế độ ưu việt đãi ngộ cho Chế trở về, bởi kết cục nó tất phải thế.

Khánh Ly làm cả một chương trình show tại Đà Lạt cuối tháng 6 năm 2022 không sao, ngứa nghề tương thêm bài “Gia tài của mẹ” (Trịnh Công Sơn sáng tác):

“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu

Một trăm năm đô hộ giặc Tâу

Hai mươi năm nội chiến từng ngàу

Gia tài của mẹ để lại cho con …

Gia tài của mẹ một rừng xương khô

Gia tài của mẹ một núi đầу mồ…

Gia tài của mẹ một nước Việt buồn”…

Tắt điện. Cấm hát, về nước Mỹ mà hát. Giá như lúc đó nữ ca sĩ này hứng lên hát: “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” (Phạm Tuyên), hay “Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác” (Cao Việt Bách), hoặc “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” (Trần Kiết Tường), “Đất nước trọn niềm vui” (Hoàng Hà) … chắc chắn Khánh Ly còn được hát, hát nữa, hát mãi, hát tẹt ga, ca tẹt sức. Thậm chí sẽ được hát khuyến mại, hát dưới ánh điện sáng trưng, hát tưng bừng như chưa bao giờ được hát.

Hỏng rồi! Giặc Tây thì còn được chớ sao lại có giặc Tàu ở đây? Sao lại nội chiến, bọn chúng ông “đánh cho Mỹ cút đánh Ngụy nhào” kia mà, phải nói ngoại chiến chứ, nội chiến cái con khỉ tiều, chẳng hiểu gì về điện. Xương khô nào đầy mồ. Việt nào là Việt buồn, không thấy chúng ông suốt ngày vui như có Bác, sướng như được sống bên lăng Người đó thây. Tắt, biến.

Nói vui vậy thôi chứ gì thì gì ca sĩ Khánh Ly vẫn đáng khen bởi bà dũng cảm “Hát trên những xác người” (Trịnh Công Sơn) của một trời tóc tang Mậu Thân Huế 1968 bị Cộng sản tàn sát:

“Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người

Tôi đã thấy, tôi đã thấy,

Trên con đường, người cha già ôm con lạnh giá.

Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người

Tôi đã thấy, tôi đã thấy,

Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em”.

Thể hiện nhạc phẩm nào thì Khánh Ly cũng rất tôn trọng tác giả cùng lời ca trong bài hát. Dẫu có bị Ban Tuyên giáo đuổi về lại nước Mỹ thì bà cũng nên vui vẻ. Không vì thế mà danh của bà sứt mẻ mòn hao.

Khánh Ly có chung số phận đắng cay với hơn một triệu người dân miền Nam đúng ngày “Đất nước trọn niềm vui” ấy, Ly chạy ra biển, Ly biến sang Mỹ. Trên sân khấu tự do thân hình gầy gò khô héo, Ly hát rắt réo : “Đêm chôn dầu vượt biển” (của Châu Đình An) nghe đau nhói:

Đêm nay anh gánh dầu ra biển anh chôn

Anh chôn, chôn hết cả những gì của yêu thương

Anh chôn, chôn mối tình chúng mình

Gửi lại đây trăm nhớ ngàn thương

Tạm biệt… nước non!

Rồi Ly lại hát: “Một chút quà cho quê hương” của (Việt Dzũng) sao tang tóc hãi hung:

Con gởi về cho cha một manh áo trắng

Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây

Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy

Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình…

Cả tác giả lẫn người hát đều là nạn nhân, thuyền nhân, chứng nhân trong cuộc chiến cốt nhục tương tàn, tiêu tan đất nước. Nên Ly thả hồn mình vào lời ca thổn thức, nhói nhức tâm can, chứa chan nước mắt, đau thắt con tim.

Cũng giống Chế Linh, Báo An Ninh Thế giới cuối tháng ngay sau đó có bài viết đầy trang về bà. Vạch trần bộ mặt phản quốc, tiểu sử Lệ Mai (tên thật của Khánh Ly) còn gọi Mai “đen” sinh ra và lớn lên trên phố Hàng Bông – Hà Nội. Đích thị gốc người Tràng An thanh lịch. Theo mẹ di cư vào Nam năm 1954 khi còn tuổi nhỏ lên chín lên mười, rồi trưởng thành người ca sĩ trong chế độ Ngụy Sài Gòn bơ thừa, sữa mứa của Mỹ.

Lịch sử ở đâu? Lịch sử chính là đây? Trong ca, văn, nhạc, họa chốn này… Thế hệ sau ta có hiểu nổi sao lại phải vượt biển? Sao lại phải chôn dầu mỗi nơi một chút, sao lại phải chôn lén lút giữa đêm đen. Phải gom tới bao nhiêu hộc dầu như thế mới đủ được cho ghe, cho xuồng chạy ra hải phận Việt Nam.

Sao đất nước văn hiến, văn vật mà cứ tối đen như mực, nào là “Tắt đèn”, tiểu thuyết Ngô tất Tố. Sau “Đêm đông” nhạc phẩm Nguyễn Văn Thương, đến “Đêm hội Long Trì”, tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng, “Đêm chôn dầu vượt biển” ca khúc Châu Đình An, “Cái đêm hôm ấy… đêm gì” bút ký Phùng Gia Lộc, “Đêm giữa ban ngày” hồi ký Vũ Thư Hiên, “Đêm dày lấp lánh” chính luận Nguyễn Thanh Giang… Ôi đất nước tôi, triền miên nghe nỗi đau của mẹ: “Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ”. Ôi đất nước tôi, những kẻ biệt xứ xa xôi, lòng hằng mong giản đơn thôi “Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình”.

Ngỡ đất nước thanh bình nên bốc đồng Nguyễn Cao Kỳ muốn gửi nắm tro tàn của mình trên quê hương vào cuối đời như mơ ước. Khi cầm quân chống Bắc Việt ông Tướng cao bồi này đã đại bại, lúc nhắm mắt ông Kỳ còn thảm hại hơn. Ông ta phải chết ở nước ngoài. Nghe bảo cô con gái ông ở Mỹ có đi nói khó với mấy chùa người Việt bên đó nhờ ký gửi nắm tro cốt của cha mình họ mới chịu. Còn nhạc sĩ Phạm Duy (Phạm Duy Cẩn), người Hà Nội “xịn” trăm phần trăm luôn, sinh tại phố Hàng Cót, sống chỗ phố Hàng Dầu:

“Nhà tôi ở phố Hàng Dầu

Số nhà năm bốn (54) đứng đầu… du côn” (Hồi ký)

Trước khi nhắm mắt, ông lấy làm tiếc là nhiều tác phẩm của mình còn bị cấm. Hai trường ca chưa được cấp phép “Con đường cái quan” và “Mẹ Việt Nam”. Ông nhận thấy hoàn toàn thất bại khi người Việt còn chưa thực sự hòa hợp hòa giải cho dù đất nước đã thống nhất từ lâu.

Sau năm 1975 các vở kịch “Lá sầu riêng” (Kim Cương), “Đời cô Lựu” (Trần Hữu Trang), “Nửa đời hương phấn” (Hà Triều-Hoa Phượng)… tràn ra, dẹp dần các đoàn kịch Bắc. Gần nửa thế kỷ sau dòng nhạc vàng – Bolero của các nhạc sĩ miền Nam lan tỏa khắp bản làng thôn quê nước Việt. Thậm chí các cuộc thi Bolero bao giờ cũng được đón nhận người thi, người xem đông đảo, hoàn hảo, hào hứng, sôi nổi nhất. “Tình bơ vơ” (Lam Phương), “Xuân này con không về” (Trịnh Lâm Ngân), “Nỗi lòng người đi” (Anh Bằng), “Hai mùa mưa” (Lê Minh Bằng), “Trăng tàn trên hè phố” (Phạm Thế Mỹ), “Hoa trinh nữ” (Trần Thiện Thanh) …

Người nặng lòng gìn giữ phát huy di sản “tàn dư văn hóa đồi trụy” này ở Hải ngoại, công lớn nhất phải nhắc tới cố Giáo sư Tô Văn Lai (To Lai Peter) 1937 – 2022. Vượt biên sang Pháp cuối năm 1976, từ hai bàn tay trắng sáng lập gây dựng nên hãng băng dĩa Thúy Nga Paris, hãng băng dĩa lớn nhất của người gốc Việt ở hải ngoại, mang tên – Trung tâm Thúy Nga.

Ngày ông mất báo chí trong nước im hơi lặng tiếng. Nghe nói cô con gái ông là Tô Ngọc Thủy (Marie To) thay cha đem chương trình Thúy Nga về trình diễn lởn vởn mấy quốc gia châu Á sát Việt Nam như Singapore, Bangkok-Thái Lan. Người Việt mua vé bay sang xem đông như ngày hội. “Khúc ruột đặc biệt” ngàn trùng cách trở của dân tộc không được kết nối. Tội.

Rút ra sự thật bẽ bàng hôm nay và mãi muôn sau lời khẳng định chắc nịch của ông Tuyên giáo mẫn cán Trần Long Ẩn, Ủy viên Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam: “Toàn bộ nền văn hóa nghệ thuật miền Nam trước năm 1975 là độc hại. Cần xóa bỏ hết”. Sặc mùi tanh tưởi, Nhổ rồi Liếm đã thành căn bệnh mãn tính của ban bệ này.

Dẫu sao mấy ca sĩ trên đây nói gì thì nói vẫn còn tư cách, giấy rách mà giữ được lề chứ cái nhà ông thợ hát Tuấn Ngọc kia tự tiện sửa lời làm ôi mặt làng “xướng ca muôn loài”. Trong ca khúc “Tình bơ vơ” nổi tiếng của cố nhạc sĩ Lam Phương hồi giữa tháng 3 năm 2023 này được tổ chức mở show tại Sài Gòn.

Nguyên bản “Trời vào thu Việt Nam buồn lắm em ơi”, Tuấn Ngọc hát thành “Trời vào thu chiều nay buồn lắm em ơi”. Phần đông khán thính giả, người xem, người đọc, bức xúc, xô vào bình luận chửi bới phê phán Ban Tuyên giáo quá khắt khe, rồi thì Ban Tuyên giáo hay nhăm nhe soi mói, Ban Tuyên giáo dữ dằn hơn con sói đói mồi, nên Tuấn Ngọc phải sửa lời, vân vân và vân vân…

Sai, hoàn toàn sai nếu trút hết nỗi căm giận cùng tội lỗi này lên đầu Tuyên giáo quốc gia. Nhiều người còn suy luận hát về mùa Thu Việt Nam thì phải tươi sáng, hào hùng khí thế như mùa thu Cách mạng tháng Tám 1945, Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9. Nếu có đúng chỉ đúng một phần nào đó thôi. Trong khi lỗi đó lại do chính “Ngọc hành” – xử trên sân khấu.

Cứ cho là Ngọc sợ Tuyên giáo cấm chứ bảo Ngọc quên lời nên hát sai càng không đúng vì đời Ngọc hát bài này có dễ đến trăm lần dư. Nếu còn nhân cách không phải hạng người giẻ rách chiếu manh thì ông ta bỏ hát bài đấy, lấy bài hát khác thế thôi có sao đâu, Tuyên giáo chắc bái chào thua. Cũng không phải vậy, đã lâu rồi trước đó “Tình bơ vơ’ được các ca sĩ hát ở Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội. Các sân khấu diễn tại Sài Gòn, và nhiều nơi khác nữa trên cả nước mà vẫn trung thành với bản gốc, bài hát vẫn thể hiện được đúng lời. Như thế là không có sự cấm đoán ở đây, chí ít đúng bài này.

Tôi ghép thêm môt kẻ nữa cùng dân sàn diễn thời gian chưa xa, đó là Giám đốc nhà hát kịch, thằng hề láo Xuân Bắc. Vẫn biết nó là thằng hề của Tuyên giáo hay Tuyên giáo đẻ ra thằng hề Xuân Bắc xược láo cũng vậy. Thay vì tiếp thu lời phê bình của khán giả trong chương trình Táo quân trên Đài Truyền hình VTV càng ngày càng nhạt nhẽo, Bắc đã bịa bài viết “Cái tát của mẹ” chửi xéo Sử-tô nghĩa là Tổ-sư khán giả. Vậy nếu có vả thì ta vả gẫy răng vỡ mồm thằng hề láo chứ không thể vả mồm Tuyên giáo Trung ương. Ấy vậy mà ối kẻ vẫn ngu ngơ, bao biện cho Bắc, nghiêm khắc với Ban Tuyên giáo mới hay.

Quay lại chuyện ca sĩ Tuấn Ngọc, nay ông ta đã ở tuổi 75, đi mấy mươi năm trên con đường ca hát. Ông ta thừa trình độ để hiểu rõ nghệ thuật bao giờ cũng lưu giữ thông tin, ghi lại lịch sử, dấu tích của thời thế. Các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ khi viết họ đã dồn hết tâm huyết vào tác phẩm của mình, mỗi câu mỗi chữ sáng tác ra đầy ắp nỗi niềm trăn trở, chỉ có họ mới có quyền sửa lời họ viết. Ngay cả Ban Biên tập muốn sửa câu chữ cũng phải hỏi ý kiến nếu tác giả còn sống chứ chưa nói thợ hát Tuấn Ngọc dám tự ý thay chữ khi tác giả đó đã khuất.

Tôi đã từng kểvề người hàng xóm nhà tôi, nhạc sĩ Phạm Tuyên, vào dịp kỷ niệm ba mươi năm chiến tranh biên giới phía Bắc, Nhà xuất bản thuộc bên Quân đội yêu cầu ông sửa lại ca từ “quân xâm lược Bành trướng dã man” trong bài hát “Chiến đấu vì độc lập tự do” để đỡ bớt sự hung hãn của giặc Trung Quốc, vì Đảng sợ Bắc Kinh nổi giận. Người ta dự định sẽ cho ra mắt một tuyển tập nhạc đồ sộ: “Những khúc quân hành vượt thời gian”. Ca khúc “Chiến đấu vì độc lập tự do” của nhạc sĩ Phạm Tuyên viết trong đêm 17 sang ngày 18-2-1979 không thể bỏ qua. Nó không chỉ đơn giản là bài hát, mà còn là trang sử bi tráng quý giá sống động, chính xác hơn trăm vạn lần những trang sử dối trá khác của cuộc chiến tranh hào hùng đánh giặc bành trướng xâm lăng dân tộc đã bị tẩy xóa, giấu giếm, cắt xén, cấm đoán, thêm tốt bớt xấu cho Trung Quốc. Phạm Tuyên kiên quyết từ chối và người ta cũng từ chối đưa bài hát của ông vào tuyển tập. Nếu lúc đó ông đồng ý sửa thì nhân cách của ông có còn hay không. Bài hát đó có ai thèm ca nữa hay không.

Cũng thời gian cả nước dồn hết tổng lực đánh đuổi giặc cướp Trung Quốc trên biên giới phía Bắc năm 1979 đó, có thần đồng thơ Trần Đăng Khoa đang ngồi bó gối ba láp ba la tại nước Nga viết: “Uống rượu với người bạn Nga”

Nào nâng cốc! Mừng quê tôi

Quân Tàu bị đánh vỡ mặt. Cút rồi.

Biên giới mùa này, hoa ban nở

Loài hoa như trái tim người! (1979)

Khi lọt đít vừa chiếc ghế Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Khoa sợ “thế lực thù địch” thân bọn Bành trướng ngầm hãm hại, Khoa hãi vãi vứt không thương tiếc những hạt máu chữ lịch sử trên của mình để thay vào:

Và em gái hái nho ấy

Mắt em như cốc rượu đầy

Chỉ nhìn vào mầu mắt ấy

Là tôi đã ngả nghiêng say.

Hai khổ thơ hoàn toàn trật lất, không ăn nhập gì với nhau. Thần đồng vớ thần đồng vẩn. Liêm sỉ có hạn, khốn nạn dư thừa. Khoa chưa đủ tầm cỡ “Phong trần, mài một lưỡi gươm” nhưng dứt khoát vào hạng “Những loài giá áo túi cơm sá gì” (Nguyễn Du).

Hành động sửa lời đổi chữ tùy tiện dại dột dốt nát của bô lão xướng ca Tuấn Ngọc cũng chỉ xếp vào loài giá áo túi cơm như Trần Đăng Khoa vậy thôi. Việc này giúp tôi nhớ lại chương trình Thúy Nga Paris by Night 1994 với chủ đề “Lam Phương 40 năm âm nhạc” và tìm vào trang Web Bolero (chấm) com, đọc được bài viết của MC Nguyễn Ngọc Ngạn, người dẫn dắt chương trình lâu năm nhất cho Trung tâm Thúy Nga này. Ông Ngạn thường thắc mắc tại sao trong nhạc của Lam Phương có nhiều câu từ buồn đến thế. Gần 20 năm sau gặp nhau tại Pháp, Lam Phương mới kể lại cho Ngạn nghe câu chuyện tình đơn phương của chàng nhạc sĩ trẻ quê mùa là ông và cô ca sĩ Sài Thành hoa lệ Bạch Yến, quãng thời gian 1970 – 1972 không thành. Để rồi ca khúc “Tình bơ vơ” lãng mạn của ông ra đời mang giai điệu man mác buồn xuyên hai thế kỷ.

Lam Phương viết “Tình bơ vơ” một ngày trời Thu Việt Nam khi người mà mình yêu thầm nhớ trộm là Bạch Yến đã qua nước Pháp. “Em khóc cho đời viễn xứ… rồi anh lặng lẽ ra đi. Gom góp yêu thương quê nhà, dâng hết cho người tình xa”. Nếu không ông đã viết trời vào Đông hay trời vào Xuân… Việt Nam buồn lắm. Ý muốn nhắn gửi cô nhân tình của mình biết về địa điểm, không gian, thời gian, vào mùa Thu nay ở hai đầu nỗi buồn, nỗi nhớ từ hai phương trời cách biệt, hai quốc gia Pháp – Việt cách xa.

Ta e rằng, nếu xướng ca Tuấn Ngọc cứ phát huy “biên tập viên” bừa bãi, ngu xuẩn kiểu này thì có ngày hát về cuộc chiến đánh giặc Trung Quốc bành trướng “Chiến đấu vì độc lập tự do” của nhạc sĩ (Phạm Tuyên), Ngọc ngỏng đầu ngoác mồm: “Quân xâm lược tàn ác dã man” mà vứt mẹ nó đi bốn chữ “bành trướng Bắc Kinh” vì sợ Tuyên giáo khép tội hỗn láo với Thiên triều. Hát “Viếng lăng Bác” của Hoàng Hiệp “Tôi ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Nếu mọi người thắc mắc “Con ở miền Nam” chứ sao lại “Tôi ở miền Nam” thì Ngọc sẽ quắc mắt: Tao là ông hoàng nhạc chữ tình lừng danh Tuấn Ngọc đây, tao đ3o phải “con ở” thuê, đứa ở đợ, ô sin làm mướn coi nhà đuổi gà cho ai cả, hiểu chưa?

Bị “cái đám quần chúng” chửi nhức óc xóc tim quá, Ngọc xin hát lại: “Tình bơ vơ” của nhạc sĩ Lam Phương thế này để tạ lỗi khán giả cùng tác giả: “Trời vào Thu Đại Ngu buồn lắm em ơi”. Có còn ai dám thắc mắc nữa hay không? Thắc mắc hả, Đại Ngu là tiền thân tên nước Việt Nam xưa. Có thế mà cũng không biết. Ngu!

CƯỜI MỘT PHÁT NGÀY CÁ THÁNG TƯ…

Van Pham

CƯỜI MỘT PHÁT NGÀY CÁ THÁNG TƯ…

Ở Vương quốc Anh, mọi người hét lên “Cá tháng tư!” để tiết lộ trò chơi khăm của họ, thường là sau khi nó đã được phát hiện. Một trong những trò đùa nổi tiếng nhất là vào năm 1957, khi đài BBC phát một bộ phim tài liệu giả mạo có tên là Vụ thu hoạch mỳ ống Thụy Sĩ, trong đó có cảnh những người nông dân đang hái “mỳ spaghetti mới trồng”. Điều này dẫn đến việc nhiều người đã gọi điện đến để hỏi xem họ có thể mua “cây mì spaghetti” ở đâu, buộc BBC phải giải thích rằng đó thực chất chỉ là một trò đùa Cá tháng Tư.

Mọi người ở Ireland có truyền thống chơi khăm nhau bằng cách nhờ ai đó chuyển một lá thư quan trọng. Khi bức thư được mở ra, nó có nội dung “Gửi kẻ ngốc hơn nữa”, khuyến khích người đọc nó gửi người đưa tin cho người khác, người sẽ thực hiện cùng một thói quen cho đến khi ai đó thương hại người đưa tin hoặc chính anh ta nhìn vào bức thư.

Ở Pháp và Ý, ngày Cá tháng Tư được gọi là Cá tháng Tư (Poisson d’Avril hoặc Pesce d’Aprile). Nó được đặt tên như vậy vì truyền thống ở những nơi này là chơi khăm bạn bè và gia đình của bạn bằng cách dán một con cá giấy vào lưng họ mà người đó không nhận ra. Sau đó, người đó đi loanh quanh trông như một kẻ ngốc cho đến khi người khác chỉ ra điều đó.

****

Đàn Ông Đúng, Phụ Nữ Sai

Nhà báo phỏng vấn một cô gái về bí quyết hạnh phúc gia đình,

Nhà báo:

– Thưa chị, đâu là bí quyết hạnh phúc gia đình?

Cô gái:

-Rất đơn giản! Ở nhà tôi, đàn ông chỉ có đúng, phụ nữ chỉ có sai!

Nhà báo:

-Chị có thể giải thích rõ hơn không?

Cô gái bật mí cái bí kíp phi thường, cô vênh mặt:

-Đàn ông chỉ có đúng, nghĩa là đi làm phải về đúng giờ, đi nhậu phải về đúng giấc, tiền lương phải đưa đúng ngày, phải giao đúng số …

Nhà báo sốt ruột, cắt ngang:

-Còn vế sau thì sao?

-Đàn bà chỉ có sai, nghĩa là sáng sai chồng đưa con đi học, trưa sai chồng chạy đón con về, chiều sai chồng tắm con, tối sai chồng lên gường đấm lưng cho vợ, …

-!!!???

****

Khi thủ tướng cộng sản đi chợ

Nhân dịp Thủ tướng Hoa Lục Lý Khắc Cường đến chợ hàng hóa Chiêu Thông, khi vào quầy hàng thịt, ông ta hỏi người bán thịt:
– Công việc kinh doanh thế nào?
Đáp:
– Thông thường rất tốt, nhưng hôm nay đến một cân cũng không bán
được.


Lý:
– Tại sao?
Đáp:
– Vì ngài đến, khách hàng không được vào.
Lý:
– Vậy thì tôi mua hai cân.
Đáp:
– Không bán.
Lý:
– Tại sao?
Đáp:
– Vì để đảm bảo an ninh khi ngài đến, ở đây không được có dao.
Lý:
– Dao không có, vậy tôi mua cả tảng thịt này.
Đáp:
– Cũng không thể bán được.
Lý:
– Tại sao?
Đáp:
– Bởi khi ngài chưa đến thì giá mỗi cân là 23 tệ, ngài đến thì giá mỗi
cân được qui định chỉ còn 18 tệ, nếu bán bị hao mất 5 tệ.
Lý:
– Vậy anh hãy bán cho tôi miếng thịt này theo giá 23 tệ mỗi cân như
thường ngày.
Đáp:
-Vậy cũng không được.
Lý ngạc nhiên:
– Tại sao thế?
Đáp:
– Bởi tôi không phải người bán thịt, thực ra tôi là một cảnh sát vũ trang.
Lý:
– Gọi đội trưởng của anh đến đây!
Đáp:
– Đội trưởng đang bán trái cây, thưa ông! *

****

Bác sĩ lỡ lời ?

Chồng đưa vợ đi siêu âm. Người chồng cầm một tấm ảnh lên xem, bác sĩ đột nhiên bảo:

– Không phải là của anh.

Cô vợ nghe thế xanh mặt, lắp bắp nói:

– Thế cũng nhìn ra được à?

Người chồng giận dữ nhìn vợ, cô vợ sợ hãi khóc lóc:

– Em sai rồi, anh tha lỗi cho em.

Bác sĩ cau mày đưa ra tấm ảnh khác bảo:

– Cái này mới là của anh.

???

****

Chồng mất ngủ vì vợ hàng xóm ngoại tình

Hai vợ chồng chuẩn bị lên giường đi ngủ thì nghe thấy tiếng hàng xóm cãi nhau, chồng hỏi vợ:

– Hàng xóm cãi nhau gì mà to thế nhỉ?

Cô vợ nhanh nhảu:

– Anh không nghe thấy à? Anh chồng đang điều tra vợ ngoại tình đó!

Anh chồng tiếp lời:

– Nghe chừng có vẻ cãi nhau to đấy! Hắn đang bắt cô vợ khai ra kẻ thứ ba kìa!

Một lát sau vợ giục chồng đi ngủ:

– Đi ngủ thôi anh, mất thời gian quá!

Chồng gật gù:

– Ừ, chờ mãi mà không thấy cô ta khai tên anh ta (ra), ta đi ngủ thôi!

– !?!

GÓC SUY GẪM… – Đời Là Bể Khổ, Nhưng Chịu Được Khổ Mới Có Thể Trưởng Thành…

Van Pham

Những bậc trí giả thường nói rằng: “Đời là bể khổ”, con người dù là ai cũng đều không thoát khỏi cái “khổ” này. Kỳ thực, nếu thay đổi cách nhìn, sẽ thấy rằng nó lại là thứ nguyên liệu tốt để tôi luyện ra một con người trưởng thành.

Dù ai đó đi xe giá lên tới hàng tỷ đồng, nhưng có thể anh ta đang ở trong cảnh nợ nần ngập đầu.

Trong cuộc sống không nên so sánh, một người lái chiếc xe Mercedes-Benz giá 4 tỷ, nhưng họ có thể vay ngân hàng tới 20 tỷ, cuộc sống của họ thực sự đang rất khốn đốn. Một người đi chiếc xe Volkswagen 500 triệu, nhưng họ có thể đang nợ ngân hàng tới 2 tỷ đồng, cũng đang ở trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng.

Một người đi chiếc xe đạp điện 6 triệu, nhưng họ vẫn có 60 triệu gửi ngân hàng. Họ sống một cuộc sống an nhàn.

Lúc 3 người gặp nhau ở trên đường, người đi xe đạp điện ngưỡng mộ người lái xe Volkswagen, người lái xe Volkswagen ngưỡng mộ người lái xe Mercedes-Benz, người lái xe Mercedes-Benz lại mong muốn có được cuộc sống như người đi xe đạp điện.

Đây chính là thực tại trong xã hội, ai cũng có thể trở thành nô lệ của đồng tiền, nô lệ của cuộc sống!

Mèo thích ăn cá, nhưng mèo lại không biết bơi. Cá thích ăn giun, nhưng cá lại không thể lên bờ. Thượng đế mang đến cho bạn rất nhiều thứ hấp dẫn, nhưng lại không cho bạn dễ dàng đạt được nó.

Nhưng, cũng không thể cứ đổ máu thì kêu đau, sợ tối thì bật điện, nhớ nhung thì liên lạc, ngày hôm nay với bạn là chuyện lớn, nhưng có thể ngày hôm sau lại là chuyện nhỏ.

Cuộc đời giống như cây bồ công anh, nhìn có vẻ tự do, nhưng kỳ thực lại là thân bất do kỷ.

Có những chuyện không phải là không thèm lưu tâm, mà là có lưu tâm cũng chẳng làm được gì. Chỉ biết dốc toàn lực của mình để ứng phó là được.

Cuộc đời không có nếu, chỉ có hậu quả và kết quả …

Đời là bể khổ, bây giờ bạn không khổ, sau này sẽ càng khổ.

Vạn sự tương sinh tương khắc, không có lên thì không có xuống, không có thấp thì không có cao, không có đắng thì không có ngọt.

Chỉ khi biết thế nào là mệt mỏi, thì mới cảm nhận được thế nào là an nhàn; nếm qua cay đắng thì mới biết thế nào là ngọt bùi.

Nhân lúc đang còn trẻ, dũng cảm bước đi, nghênh đón phong sương gió mưa, tôi luyện bản thân, có thể độ lượng, có thể nhìn xa trông rộng, thì hạnh phúc mới đến.

Trên thế giới này ngoại trừ bạn ra, thì không có ai có thể thực sự giúp đỡ bạn, nếu có giúp thì cũng chỉ là tạm thời.

Nhiều người đã từng nếm thử “trứng luộc trong nước trà”, vỏ trứng nứt càng nhiều, thì trứng ăn càng ngon miệng. Tương tự như vậy, trong cuộc sống trải nhiệm càng nhiều, trắc trở càng nhiều thì sẽ càng có hương vị.

Khổ có thể giúp một người trưởng thành.

Trứng gà bị vỡ do tác động từ bên ngoài làm thực phẩm. Bị vỡ do tác động từ bên trong thì chính là sinh mệnh gà con mổ để chui ra.

Cuộc sống cũng vậy, làm vỡ từ bên ngoài là áp lực, làm vỡ từ bên trong chính là sự trưởng thành.

Nếu bạn chờ người khác làm vỡ bạn từ bên ngoài, thì nhất định bạn sẽ là món ăn của người khác;

Nếu bạn có thể đánh vỡ chính mình từ bên trong, như vậy bạn sẽ thấy rằng mình đã thực sự trưởng thành, cũng giống như là được tái sinh.

Nhìn thấy một con bướm đang giãy giụa muốn thoát ra khỏi cái kén, có người hảo tâm giúp nó thoát ra. Nhưng không ngờ rằng, sau khi con bướm thoát ra ngoài, nó lại không thể duỗi đôi cánh ra được, và cuối cùng thiệt mạng.

Giãy giụa chính là điều con bướm cần làm để trưởng thành, lúc đó bạn giúp nó thoải mái, nhưng sau này nó sẽ không có đủ sức mạnh để đối mặt với những thử thách sẽ phải gặp trong cuộc đời.

Nếu bạn muốn hóa thân thành con bướm, thì bạn phải chịu đựng được nỗi khổ của quá trình giãy giụa ở trong kén, vậy thì mới có thể dang cánh bay cao được.

Trong cả cuộc đời, bạn phải tôn trọng bao nhiêu người, thì sẽ có bấy nhiêu người tôn trọng bạn. Bạn tin tưởng bao nhiêu người thì sẽ có bấy nhiêu người tin tưởng bạn. Bạn có thể giúp bao nhiêu người thành công, thì sẽ có bấy nhiêu người giúp bạn thành công!

Trên thế giới này, người giàu có nhất, thường là người vấp ngã nhiều nhất.

Người có thể thành công là người mỗi lần vấp ngã, không chỉ có thể đứng dậy, mà vẫn có thể kiên trì tiếp tục bước đi.

(phỏng dịch từ Cmoney.tw)

 

 

Thói ngụy biện ở người Việt

Van Pham

Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh.

Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.

Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc?

Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, vi phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.

Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình:

– cần xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau.

– phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính,

– phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, – phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng; và

– phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình.

Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.

Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt vốn chưa quen với văn hóa tranh luận. Mà quen kiểu áp đặt, mệnh lệnh của kẻ có quyền thế.

Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room”, blogs hay mạng xã hội FB), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận. Mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân, hay nhóm tham gia chửi bới, mạ lỵ, chụp mũ, vu cáo nhau mà chẳng có một tí lí luận của người tranh luận.

Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn.

Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì.

Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó.

Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Hầu như trong những cuộc tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi mát cách khoa học.

Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic.

Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ.

 

Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.”

Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.

Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở người Việt lại hay thấy trong giới tạm gọi là có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v… chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là “tranh luận” thật ra chỉ là ngụy biện.

Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là … uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt có học nhưng có khá nhiều người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện.

Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những “tranh luận” và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta nhìn ra được những bộ mặt xấu xí đằng sau những cái mặt nạ ông này, bà kia hay mác “trí thức, có học”. Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với các nhãn mác đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng ngôn ngữ & văn hóa VN. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là logic.

Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic.

Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai.

Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trên báo chí, truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả.

Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:

  • Đánh tráo chủ đề
  • Lợi dụng cảm tính và đám đông
  • Làm lạc hướng vấn đề
  • Qui nạp sai
  • Nhập nhằng đánh lận con đen
  • Phi logic
  • Các nhầm lẫn khác

Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề

  1. Công kích cá nhân (ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.

Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói ông là đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát biểu.

Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”. Chị mới sang Mỹ đã biết gì mà lên tiếng, trong khi chúng tôi đã sống tại đây mấy chục năm?” v.v…

  1. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “TT Trump là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế, ông ta chiến đấu cho quyền được sống của thai nhi” v.v… Họ làm như ông Trump là người luôn luôn đúng và có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế hay vào bất cứ điều gì ông ta làm, sẽ không bao giờ sai…. Ngoài ông, những người chỉ trích ông đều sai!

Thẩm quyền hay uy tín không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.

  1. 3. Lợi dụng nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận.

Giới công an hay sử dụng loại ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”

  1. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.
  2. Luận điệu cá trích. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”
  3. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!

Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông

  1. Dựa vào bạo lực (ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?”
  2. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”
  3. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện “Tam đoạn luận” loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, Vì đảng CH sẽ làm nước Mỹ vĩ đại lần nữa” hay là nói một cách ngược lại: “nước Mỹ sẽ không thể vĩ đại nếu không có TT Trump”!
  4. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải bỏ phiếu cho ông Trump, nếu không nước Mỹ sẽ lọt vào tay CS, hay phe XHCN”. chữ “lương tri” được cài vào nhằm lôi kéo người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri. Nếu không, họ sẽ bị cho là người không có lương tri…
  5. Dựa vào quần chúng (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Ông Trump đắc cử Tổng thống của nước Mỹ, chắc chắn lời nói… của ông phải đúng, đáng tin cậy”” hoặc cái “thỉnh nguyện thư thu được 5, 7 ngàn chữ ký chắc chắn thỉnh nguyện thư đó phải đúng” v.v…

Sưu tầm

(còn tiếp 1 kỳ…)

Ngộ độc Lịch sử và Tội phạm Chiến tranh

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Trần Gia Huấn

Ще не вмерла України – Ukraine Has Not Yet Perished.

”…Vinh quang và tự do bất diệt trên tổ quốc Ukraine.
Hỡi những người anh em! Số phận đã mỉm cười.
Kẻ thù sẽ bị tiêu diệt như giọt sương tan biến dưới ánh sáng mặt trời.
Linh hồn và thể xác hãy yên nghỉ cho tự do của quê hương
Hỡi anh em những người con của dân tộc Cossacks…”

Trên đây là một phần của bài quốc ca Ukraine, ra đời cách nay hơn 150 năm. Lời bài hát lấy từ khổ thơ đầu của bản trường ca “Ще не вмерла України, – Ukraine Has Not Yet Perished- Ukraine không bao giờ bị tiêu diệt” của nhà thơ Pavlo Chubynsky sáng tác vào năm 1862. Bài thơ được truyền miệng ở miền tây Ukraine. Năm 1863 Mykhailo Verbytsky, một linh mục công giáo, nhà soạn nhạc lừng danh, đã viết nhạc cho bài ca này.

Ukraine là những giải đồng bằng mêng mông bất tận, màu mỡ, phì nhiêu vào loại bậc nhất hành tinh. Nhưng Ukraine cũng là bãi chiến trường, nơi xâu xé của kẻ tử thù truyền kiếp Nga – Thổ, Nga – Ba Lan kéo dài nhiều thế kỷ.

Ngày 24 tháng Hai năm 2022, Nga xâm lược Ukraine. Tổng thống Ba Lan Andrzej Duda khuyên Tổng thống Ukraine Zelensky đánh đến cùng để rửa mối hận Pereyaslav – 1654.

Ba Lan như một người bạn trung thành trên tuyến đầu giúp Ukraine vô điều kiện. Thổ đóng vai nhà hòa giải, nhưng khiếp nhược trước kẻ thù truyền kiếp Nga.

Địa lý đang nguyền rủa lịch sử, và lịch sử cũng chửi rủa địa lý. Putin đã tận dụng điểu này để phục vụ cho mục đích gây chiến, đàn áp, và chiếm đóng. Nhìn lại vài lát cắt lịch sử để hiểu thêm sức mạnh và cả sự yếu hèn của quyền lực.

1654

Trở về năm 1654, Ukraine là một quốc gia, có quân đội Cossack, cùng các định chế. Nga và Cossacks đang có chiến tranh với khối Ba Lan – Lithuanian. Lãnh tụ Cossack là Hetman Bohdan Khmelnytsky của Zaporizhzhia, đã liên kết với Nga để chống lại Ba Lan.

Ba Lan bại trận phải phải rút quân. Từ đó, miền đông sông Dnipro và Kyiv dưới sự chiếm đóng của Nga, còn miền Tây dưới sự chiếm đóng của Ba Lan.

Hiệp ước Pereyaslav – 1654 ra đời là lời thề trung thành của Cossacks với Nga, chứ không phải để dâng hiến lãnh thổ, hay hợp pháp hóa sự chiếm đóng của Nga. Hiệp ước này là một giải pháp tình thế trong lúc Ba Lan đang mở rộng chiến tranh ngay trên đất Ukraine.

Ai cũng hiểu điều này, nhưng Putin thì không. Putin bảo: Ukraine không phải là một quốc gia. Ukraine không hẳn là một dân tộc. Putin muốn xóa bỏ tư cách quốc gia của Ukraine bằng vũ lực, dựa vào sự diễn giải lịch sử của riêng ông.

Crimea

Bán đảo Crimea, các nhà bình luận quân sự tin, sẽ là trận thư hùng lịch sử giữa Ukraine và Nga trong năm nay. Vậy, trên góc độ lịch sử thì ai từng là chủ sở hữu bán đảo này?

Qua nhiều thế kỷ, Crimea có hai nhóm Cossacks va Tatar sinh sống ở đây. Dòng họ lừng danh Tatar Khanate cai trị Crimea dưới sự bảo trợ của Đế quốc Ottoman (Thổ). Người dân ở đây nói tiếng Thổ, và thờ phượng đấng tiên tri thiêng liêng Muhammad.

Vợ của Hoàng đế Nga Peter III là Catherine đã tổ chức một cuộc đảo chính cung đình. Đêm ngày 8/7/1762, Catherine và người tình Grigory Potemkin cùng vài tướng lãnh khác bí mật bắt chồng, giam trong ngục tối. Tám ngày sau Hoàng đế Peter III bị giết chết ở tuổi 34, ngồi ghế Nga hoàng vừa được 6 tháng.

Sau khi giết chồng, 22 tháng 9 năm 1762, Catherine lên ngôi, tuyên xưng Nữ Hoàng Đại đế Catherine II (Catherine II the Great – Екатерина II Великая). Ngay sau đó, bà gởi người tình Grigory Potemkin đến cưỡng chiếm Crimea từ tay Ottoman.

Đến 1783, Nữ Hoàng đế Cathrine II và Potemkin xoay sở và thủ đoạn sát nhập bán đảo này vào lãnh thổ Nga. Đế quốc Ottoman và dòng Cossacks ngậm đắng nuốt cay với Nga từ đó.

Tuy vậy, những hậu duệ của dòng họ Tatar Khanate vẫn còn hiện hữu trên bán đảo và miền nam Ukraine. Hai dòng người Cossack nói tiếng Ukraine và Tatar nói tiếng Thổ vẫn sinh sống bao gồm cả vùng Zaporizhia.

Năm 1944, Joseph Stalin đưa 200 000 người Tatars đang sống ở Crimea, nhốt vào xe tải chở lợn, chạy thẳng đến nước Cộng hòa Soviet Uzbekistan. Bởi vì , Tatars đã hợp tác với Đức Quốc xã trong Thế chiến II nên cần phải học tập cải tạo.

Từ đó, người Nga tấp nập đổ vào Crimea suốt thời Soviet đã hình thành lên vùng dân số nói tiếng Nga áp đảo tiếng Ukraine và tiếng Thổ.

Năm 1954, Tổng Bí thư Liên Xô Nikita Khrushchev tuyên bố cắt bán đảo Crimea từ Cộng hòa Soviet Nga qua Cộng hòa Soviet Ukraine. Bán đảo Crimea trở về chủ cũ trong hòa bình.

Lãnh thổ Ukraine hiện đại

Hai lãnh tụ Liên xô là Stalin và Khrushchev đóng vai trò quan trọng hình thành lên lãnh thổ của Ukraine được quốc tế công nhận hôm nay.

Năm 1922, Stalin sợ sự bất tuân lệnh của nước cộng hòa. Ông lùa người nói tiếng Nga vào vùng Donbass, và đẩy những người nói tiếng Ukraine qua vùng khác.

Năm 1939, Stalin ký hiệp định với Hitler cưa đôi Ba Lan. Miền tây Ba Lan thuộc về Đức, còn nửa đông sát nhập vào Ukraine.

Đến những năm cuối Thế chiến II, Stalin cho chiếm thêm một phần lãnh thổ của Slovakia và Romania sát nhập vào Ukraine.

Stalin qua đời tháng Ba, 1953. Nikita Khrushchev lên thay chức Tổng Bí thư. Từ 1654 đến 1954 là 300 năm. “Ba trăm năm nữa ta đâu biết.”

Kỷ niệm 300 năm Hiệp ước Pereyaslav (như đã đề cập phần trên). Nikita Khrushchev long trọng tuyên bố cắt bán đảo Crimea từ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Soviet Nga chuyển qua cho Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Soviet Ukraine.

Không ít người đã nhận ra Khrushchev là dân Kyiv đã rửa mối hận 300 năm của tổ tiên Cossacks.

Stalin và Khrushchev đã hình thành lãnh thổ Ukraine gồm cả bán đảo Crimea, hợp pháp được quốc tế công nhận vào năm 1991.

Putin khác Stalin

Stalin luôn khẳng định Đảng Cộng Sản Liên Xô “tạo điều kiện cho Ukraine phát triển như một quốc gia độc lập, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Cossacks. Không ai được chống lại lịch sử”. Ngược lại, Putin bảo Ukraine không phải là một đất nước, không hẳn là một dân tộc, không đáng được hưởng quy chế quốc gia.

Trong suốt chiều dài lịch sử ngàn năm giữa Ukraine và Nga, chưa có một lãnh tụ Nga nào đối sử với Ukraine như Putin đang làm. Putin đã đẩy Ukraine, người anh em ruột của Nga, vào nỗi cay đắng hận thù đến mức không đường trở lại.

Tiếng Nga đã sản sinh ra những áng văn chương tuyệt mỹ. Tiếng Nga là thứ tiếng của giới quý tộc, giới khoa bảng, giới nghệ sỹ Ukraine. Dùng tiếng Nga là sự tự hào, là niềm kiêu hãnh của người Ukraine. Văn hào Nicolai Gogol, người Ukraine, nhưng viết nhiều tác phẩm lừng danh “Những linh hồn chết” (Dead Souls), “Nhật ký người điên”(Diary of a Madman) bằng tiếng Nga. Thế mà, giờ đây nói tiếng Nga là sự hổ thẹn, là nỗi ô nhục, là sự căm hờn, là niềm cay đắng, là cơn phẫn uất trên lãnh thổ Ukraine.

Nhà sử học Soviet Yury Afanasiev đã viết trong tùy bút chính trị “The End of Russia” (Nước Nga đã đến hồi cáo chung) vào năm 2009 đại ý rằng: Người Thụy Sĩ tự hào về chiếc đồng hồ. Người Pháp tự hào về ổ bánh mì bagette. Người Nga tự hào về lãnh thổ mêng mông và công cuộc mở rộng bờ cõi. “Mở rộng bờ cõi” thì làm sao có thể sống hòa thuận được với những người hàng xóm. Ông ẩn dụ. Nếu nước Nga phải in tấm card-visits, thì một mặt sẽ in “Vũ Lực” còn mặt kia in “Chiếm Đóng.”

“Vũ lực” và “chiếm đóng” là đặc sản Nga được nhìn nhận như là công cuộc “Vệ quốc Vĩ đại.” Catherine II The Gread giao du, phóng đãng, ngoại tình với nhiều tướng lãnh, tổ chức đảo chính, giết chồng, cướp ngôi vẫn được nước Nga phong là Nữ hoàng Đại đế “Vĩ đại”.

Yury Afanasiev, lớn lên trong thời Soviet, từng là một đảng viên Cộng sản Liên Xô. Trong tác phẩm “Dangerous Russian” (Nước Nga hung tàn) viết 2001, ông cảnh báo hai điều: nước Nga đang bị ngộ độc lịch sử, và Putin sẽ là một tội phạm.

Cả hai điều này đã ứng nghiệm.

Canada

March 28, 2023

Sao không khởi tố Phan Thanh Nam, đứa con rơi của ông Võ Văn Kiệt?

Báo Tiếng Dân

Thu Hà

1-4-2023

Vẽ ra các dự án nghìn tỷ để hút máu ngân sách, xài tiền quốc gia như tiền chùa, là ngón nghề của lãnh đạo các công ty, tổng công ty nhà nước.

Tuần qua, hàng trăm tờ báo quốc doanh có cơ hội được phép nhắc lại 12 đại dự án thua lỗ lên đến 63.000 tỷ đồng của Bộ Công thương. Trong đó, dự án gai góc, nhức nhối nhất là dự án Nhà máy bột giấy Phương Nam, chưa đưa vào sản xuất ngày nào, đã thành ra đống phế liệu và tiêu tốn hơn 3000 tỷ. Có điều, cả hệ thống chính trị lẫn báo đảng đều tránh né, không đề cập đến tên một nhân vật mà lẽ ra phải bị khởi tố, điều tra trong vụ “đốt” 3000 tỷ này là Phan Thanh Nam.

Chân dung Phan Thanh Nam, cựu Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tracodi. Nguồn: Tracodi

Phan Thanh Nam là ai?

Theo một số nguồn tin, năm 1951, ông Võ Văn Kiệt ra Bắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II tại Tuyên Quang, Việt Bắc. Sau đó, ông ở lại dự lớp học chính trị “Hoa Nam”. Tại đây, ông Kiệt gặp bà Hồ Thị Minh, chủ bút đầu tiên của báo Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ. Bà Minh là phụ nữ trẻ trung xinh đẹp, giỏi tiếng Pháp. Xứ uỷ Nam kỳ đưa bà Minh ra miền Bắc giúp việc cho ông Hồ.

Ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của ông Hồ kể rằng, Trung ương có ý định mai mối bà Minh cho ông Hồ, ông Hồ cũng ưng ý. Năm đó ông Hồ 61 tuổi, ông Kiệt 29 tuổi, bà Minh 24 tuổi. Một năm nơi thâm sơn cùng cốc ấy, bà Minh yêu ông Kiệt và dính thai. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, bà Minh sinh con trai, nhưng đưa cho người khác nuôi.

Ông Kiệt có tìm gặp bà Minh, thăm con, đặt tên là Nam, nhưng sau đó ông quay trở về Nam bộ. Cậu bé Nam là đứa con ngoài giá thú, bởi lúc đó ông Kiệt đã có vợ ở Sóc Trăng là bà Trần Kim Anh và hai người có với nhau một cậu con trai tên là Võ Dũng (tức Phan Chí Dũng), sinh năm 1951.

Cậu bé Nam có “tuổi thơ dữ dội”. Nam được sinh ra ở Việt Bắc nhưng theo người cha nuôi tên Cái về sống tại Nhã Nam, Bắc Giang. Nam lưu lạc nhiều năm, qua tay nhiều gia đình nuôi nấng. Gia đình cuối cùng đem Nam về cưu mang là ông Hà Văn Quán và bà Nguyễn Thị Mỹ, tại làng Tăng Xá, xã Tuy Lập, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ. Tại đây, Nam được lập khai sinh mang tên Hà Văn Nam.

Năm Nam 17 tuổi, ông Quán hướng dẫn Nam tìm lại cha ruột. Bà Ngô Thị Huệ, phu nhân ông Nguyễn Văn Linh, là người đã lặn lội đi đón Nam và đưa Nam thực hiện chuyến hành trình về Nam bộ, gặp lại cha đẻ là ông Võ Văn Kiệt vào tháng 9 năm 1971, khi Nam 19 tuổi.

Ông Võ Văn Kiệt và gia đình con trai Phan Thanh Nam. Nguồn: Báo Người Đô Thị

Sau năm 1975, Phan Thanh Nam học Đại học Bách khoa, ngành chế tạo máy. Ra trường, Nam về làm việc ở cơ sở huyện Củ Chi.

Năm 1986, Nam du học ở Liên Xô, làm nghiên cứu sinh, lấy học vị Tiến sĩ kỹ thuật. Về nước, Nam được bố trí công tác tại một doanh nghiệp thuộc Bộ Giao thông – Vận tải, là Công ty Đầu tư Phát triển Giao thông Vận tải (tên giao dịch là Tracodi).

Hơn hai mươi năm ở Tracodi , ông Nam lần lượt kinh qua các chức vụ quan trọng như: Tổng Giám Đốc (giai đoạn 1993-1994); Chủ tịch Hội đồng quản trị (1995-2013); thành viên Hội đồng quản trị (2013-2015).

Hơn hai mươi năm nhờ đảng bảo bọc, tạo cho cơ chế độc quyền, vì vậy Tracodi chiếm giữ được nhiều nhà xưởng, đất vàng ở thành Hồ. Tracodi chuyên xây dựng hạ tầng và phát triển dự án, khai thác chế biến vật liệu xây dựng, thương mại xuất nhập khẩu và xuất khẩu lao động.

Nhờ thế lực của ông Võ Văn Kiệt, Tracodi do Phan Thanh Nam điều hành, được thầu các dự án giao thông đường bộ, nhà ga phi trường, các cơ sở hạ tầng lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Tracodi cũng là đơn vị “trùm” xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… Mỗi cá nhân muốn đi lao động xuất khẩu, phải đóng cho Tracodi từ 5000 đến 6000 Mỹ kim. Một nguồn tin cho biết, hàng trăm tỷ đồng đã chảy vào túi ngài Tổng giám đốc Phan Thanh Nam một cách nhẹ nhàng. Giai đoạn chuẩn bị cổ phần hoá Tracodi, Tổng giám đốc Phan Thanh Nam cho thanh lý nhiều tài sản, lập công ty sân sau để xà xẻo “đất vàng”.

Báo Thanh Tra đưa tin, đầu năm 2015, Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đã hoàn tất thoái vốn tại Tracodi và Bamboo Capital (mã BCG) mua lại 68% cổ phần, qua đó nắm cổ phần chi phối. Sau khi thâu tóm được Tracodi, Bamboo Capital đã gần như xoá sổ doanh nghiệp nhà nước này.

Phan Thanh Nam nghỉ hưu năm 2013, nhưng “di sản” lớn nhất mà ông ta để lại cho ngành công nghiệp Việt Nam là đống nợ hơn 3000 tỷ đồng của Nhà máy bột giấy Phương Nam.

Tháng 10-2003, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cho TRACODI làm Dự án Nhà máy Bột giấy Phương Nam thuộc xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An, trên diện tích 45 hecta. Vốn sẵn có chỉ hơn 20 tỷ đồng, nhưng lại đầu tư dự án lên gần 2.287 tỉ đồng. Ngân sách nhà nước cấp 69,486 tỷ đồng; vay nước ngoài 1.322,35 tỷ đồng; vay ngân hàng thương mại 28,252 tỷ đồng; vay Công ty Tài chính Dầu khí 845,12 tỷ đồng.

Rót vào dự án hơn 2000 tỷ, mà nhà máy vẫn không vận hành được, Phan Thanh Nam và Tracodi tìm cách “chuyền bóng” cho người khác, bỏ của thoát thân.

Tháng 6-2009, Thủ tướng Chính phủ chuyển giao chủ đầu tư dự án từ Tracodi sang Tổng Công ty Giấy Việt Nam (Vinapaco). Những “ông kẹ” ở Vinapaco lại nâng mức đầu tư Nhà máy giấy Phương Nam lên 3.410 tỷ.

Đến tháng 6-2012, Nhà máy giấy Phương Nam xây dựng hoàn thành. Trớ trêu thay, đưa vào sử dụng thì không vận hành được. Các nhà thầu không chịu trách nhiệm, lãnh đạo Vinapaco cũng không chịu trách nhiệm, Nhà máy giấy Phương Nam trở thành hoang phế, sau ba lần rao bán đấu giá “đống sắt vụn” mà không có người nào hỏi mua. Con số gần 3.500 tỷ bị “cuốn theo chiều gió”.

Nhà máy giấy Phương Nam, “đống sắt vụn” gần 3.500 tỷ. Ảnh trên mạng

Ảnh: Phán quyết của toà về nợ nần của Nhà máy Phương Nam đã lên đến Chính phủ từ năm 2016

Tính đến năm 2019, Chính phủ đã phải trả nợ nước ngoài cho Nhà máy giấy Phương Nam 97 triệu Mỹ kim, còn các ngân hàng trong nước thì vẫn theo đuổi các phiên toà kiện đòi nợ Nhà máy giấy Phương Nam.

Ngày 26-3-2023 vừa qua, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái, cùng thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân tổ chức họp các ban ngành tại Long An để tìm hướng xử lý dự án. Rất nhiều “tiến sĩ”, “cao cấp chính trị” tham gia hội thảo, nhưng tất cả đều bế tắc, bó tay. Bí thư Trung ương đảng, Lê Minh Khái đành chốt “các bộ, ngành, đơn vị liên quan cũng như địa phương tổng hợp trước ngày 15-4-2023, đề xuất báo cáo Ban Chỉ đạo để trình Ban Cán sự Đảng Chính phủ xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị”.

Dân phải gánh nợ

Dư luận Long An râm ran, chắc Bộ Chính trị sẽ duyệt cho “phân lô bán nền” 43 hecta đất vốn được lấy từ ruộng của dân để làm dự án Nhà máy giấy Phương Nam, để có tiền trả nợ.

Điều lạ lùng là không ai nhắc đến thủ phạm “đầu têu” vẽ ra dự án hoang tưởng, đốt mấy ngàn tỷ đồng của quốc gia. Phan Thanh Nam và bộ sậu Tracodi lẽ nào vô can?

Thì ra, các “thái tử đảng” loại gộc, dù con chính thất hay con ngoài giá thú, gần như được miễn trừ, tránh xa vòng tố tụng. Đại tá an ninh Lê Minh Hoàn, con trai ông Phan Văn Khải, không hề hấn gì trong một vụ án bắn chết người tại một vũ trường năm xưa. Phó Chánh văn phòng Chính phủ Lê Mạnh Hà, con trai ông Lê Đức Anh, chỉ bị khiển trách trong đại án AVG. Thành viên Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Phan Đình Đức, con trai ông Đinh Đức Thiện, cháu ruột ông Lê Đức Thọ và Mai Chí Thọ, dù ra toà vẫn được HĐXX cấp phúc thẩm tuyên phạt mức án cảnh cáo và không phải chịu bồi thường trách nhiệm dân sự. Phó Tổng giám đốc Cty bia Sài Gòn, Nguyễn Minh An, con trai ông Nguyễn Minh Triết, cũng vô can trong các vụ chuyển nhượng “đất vàng”. Mới đây, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, ông Đặng Xuân Thanh cháu nội ông Trường Chinh, dù bị cảnh cáo, vẫn phụ trách điều hành Viện như thường.

Đến đây, dân chúng có thể nhận ra rằng “lò ông Trọng” xem ra chỉ là chiến dịch “đập ruồi” chứ không hề “đả hổ”. Hàng ngàn tỷ tiền thuế của dân đã bị con cái của các “ông hoàng bà chúa” ném qua cửa sổ không thương tiếc, nhưng cả hệ thống chính trị của đảng chỉ loay hoay việc báo cáo, giải trình, mà không biết làm gì hơn.

Vụ Tracodi, hình như cái bóng của ông Kiệt quá lớn, làm cho cái gọi là “nhà nước pháp quyền” chỉ đứng xa mà nhìn… tiến sĩ Phan Thanh Nam. Nếu Nam là con dân, có lẽ ông ta đã bị “nhập kho” từ lâu rồi!

Thủ tục truy tố và kết tội một Tổng Thống diễn ra như thế nào?

Báo Tiếng Dân

Nhã Duy

31-3-2023

Sau các nguồn tin về phán quyết của đại bồi thẩm đoàn New York trong vụ án liên quan đến cựu tổng thống Mỹ, những đồng minh chính trị của ông ta cùng các hệ thống truyền thông cánh hữu đang lên án việc buộc tội này là một vụ “bức hại chính trị” hay có sự lạm dụng quyền lực, tấn công vào đối thủ chính trị và ứng viên tổng thống. Tất nhiên điều này đang được nhóm cử tri hậu thuẫn tin và lặp lại như vậy hiện nay.

Nhân vụ án này, thử tìm hiểu thêm về thủ tục tố tụng hình sự tại Mỹ được diễn ra như thế nào và nguyên tắc kiểm soát và cân bằng quyền hành (check and balance) trong sự vận hành hệ thống pháp luật hay điều hành chính phủ nói chung của nước Mỹ, có dễ dàng cho phép tấn công các đối thủ chính trị và bị lạm dụng, thao túng hay không? Bài viết này được tác giả tham khảo theo các tài liệu pháp luật của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ.

Xin nói ngay, văn phòng biện lý và các công tố viên New York không buộc tội nghi phạm mà chính đại bồi thẩm đoàn đã buộc tội, dựa theo các chứng cứ, nhân chứng trực tiếp và gián tiếp mà văn phòng biện lý đã thu thập chứng cứ trong cuộc điều tra kéo dài từ vài năm qua. Nhân chứng, vật chứng không đủ mạnh, không thể thiết lập một vụ án hình sự tại tòa liên bang và không đủ thuyết phục đại bồi thẩm đoàn đi đến việc buộc tội.

Đại bồi thẩm đoàn được thành lập và hoạt động theo hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ từ xưa nay. Các cơ quan công lực Hoa Kỳ, hay trong vụ án này là văn phòng biện lý New York thực hiện việc điều tra (investigation) trước các hành vi phạm tội trực tiếp hay gián tiếp của bị can để chuyển hồ sơ sang tòa án, nơi đại bồi thẩm đoàn sẽ quyết định các chứng cứ có đủ thuyết phục để đi đến quyết định buộc tội (indictment) bị cáo. Từ lúc bị buộc tội cho đến khi bị mang ra tòa xét xử (trial), là cả một quá trình dài và phức tạp.

Sau bản cáo trạng của đại bồi thẩm đoàn, thông thường bị cáo sẽ bị bắt giữ hay tự nguyện ra đầu thú. Người này sẽ được lăn tay, chụp hình và bị còng tay ra hầu tòa (arraignment). Thẩm phán sẽ công bố các cáo trạng từ đại bồi thẩm đoàn, cho bị cáo biết được quyền hạn của mình và được phép có các luật sư riêng đại diện, hoặc có một luật sư chính phủ (public defender) hướng dẫn. Tùy theo tội danh (charges), nghi phạm có thể đóng tiền thế chân tại ngoại (bail bond) hay phải vào tù cho đến ngày bị đưa ra xét xử. Trong cuộc hầu tòa này, nghi phạm cũng có thể nhận tội hay không nhận tội.

Giai đoạn tiếp theo là cuộc chiến giữa các công tố viên cùng các luật sư đại diện phía bị cáo. Hai bên sẽ đối chất, gọi nhân chứng hữu thệ, trình ra tang chứng, vật chứng. Đây là giai đoạn khai thác vụ án (discovery) khá khó khăn cho các công tố viên khi họ buộc phải cung cấp các tài liệu và chứng cứ của mình theo yêu cầu phía luật sư thân chủ, thậm chí cả các bằng chứng ngoại phạm (exculpatory evidence) mà phía luật sư bị cáo có thể sử dụng để chứng minh là thân chủ mình vô tội.

Nếu chứng cứ phía công tố viên quá mạnh và phía luật sư đại diện nhắm rằng họ khó có thể thắng được vụ án mà bị cáo đã có hành vi phạm pháp thì hai bên có thể thỏa thuận nhận tội (plea bargain) nhằm tránh nguy cơ bị mức án cao hơn một khi bị đưa ra xét xử. Mức án cuối cùng sẽ do một thẩm phán quyết định và tuyên bố.

Trong trường hợp bị cáo không nhận tội thì một cuộc tiền nghị án hay điều trần (preliminary hearing), xem như một phiên tòa nhỏ do một thẩm phán nghe đối chất và chứng cứ giữa hai bên để quyết định có thể tiếp tục hay bác bỏ (dismiss) vụ án. Trước khi bị xét xử, hai bên công tố và luật sư sẽ đưa ra các kiến nghị hay thỉnh cầu khác nhau (motion) và được các thẩm phán quyết định đồng ý hay bác bỏ.

Sau hàng tháng trời, phiên toà xử án (trial) sẽ là giai đoạn cuối cùng và quyết định trong một vụ án hình sự. Phiên tòa này do một thẩm phán làm chủ tọa, là người điều hành và bảo đảm phiên toà được tiến hành công bằng và đúng theo trình tự pháp luật trước một bồi thẩm đoàn không thiên kiến do hai bên cùng chọn lựa. Phiên toà có thể kéo dài lâu mau tùy theo tính chất của vụ án và phán quyết cuối cùng (verdict) sẽ do bồi thẩm đoàn đưa ra. Trong một vụ án hình sự liên bang, nếu là phán quyết có tội (conviction) thì phải được sự đồng thuận của tất cả những bồi thẩm viên trong bồi thẩm đoàn.

Sau khi bị kết tội, kẻ phạm tội sẽ quay lại tòa để nhận mức án (sentence) nặng nhẹ tùy hành vi phạm tội của mình. Bản án này sẽ do các thẩm phán đưa ra, dựa theo các hướng dẫn và hồ sơ tội phạm, như chủ mưu, tòng phạm, tái phạm… của kẻ bị kết án. Bản án nặng nhất tại Mỹ hiện nay là tử hình trong các vụ án hình sự. Nếu kẻ tội phạm tin rằng mình đã bị oan, bị xét xử thiếu công bằng hay bản án quá nặng, họ có thể kháng án lên các tòa cấp trên. Cao nhất tại Mỹ là tòa Tối Cao Pháp Viện dù chỉ có một số nhỏ vụ án lên được đến tòa này.

Bên trên là sơ lược về thủ tục tố tụng một vụ hình án nói chung tại Hoa Kỳ. Với một nghi phạm từng cựu tổng thống Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ có dăm thủ tục hành chính khác biệt bởi đây là điều chưa từng có tiền lệ. Chưa từng có tiền lệ bởi cũng chưa từng có một tổng thống Hoa Kỳ nào có những hành vi và chứng cứ đủ để bị truy tố. Nói thêm là vụ hình án tại New York này chỉ là một trong bốn vụ điều tra khác mà cựu tổng thống Donald Trump đang đối diện với các tội danh có thể nặng nề hơn gấp bội.

Đây là một cột mốc lịch sử của nước Mỹ và hệ thống tư pháp Hoa Kỳ. Bất luận cảm xúc hay suy diễn của mỗi cá nhân như thế nào, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ đã và đang diễn ra theo đúng trình tự của nó từ lâu nay. Nó dựa trên nguyên tắc công bằng và dân chủ để bảo vệ người vô tội hay trừng trị những kẻ phạm pháp, bất kể họ là ai.

KHI

 EVERY MOMENT

Happy moments, praise God

Difficult moments, seek God

Quiet moments, worship God

Painful moments, trust God

Every moment,

KHI

Khi sung sướng, khi bình an, vui vẻ

Ca ngợi Ngài ban phước hạnh, triền miên

Khi hoạn nạn, khi buồn rầu, than thở

Tìm kiếm Ngài dâng trọn nỗi niềm riêng

Khi yên tĩnh, khi một mình, trầm lặng

Thờ lạy Ngài, lòng cung kính thiêng liêng

Khi đau đớn, khi mộng đời tan vỡ

Tin cậy Ngài, tình thương mến vô biên

Trong mọi lúc, mọi thời gian cuộc sống

Tạ ơn Ngài, tạ ơn mãi, trong tim.

From: ThuNNguyen