Khi đã cho chiên ra hết, anh [mục tử] ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. (Ga 10:4)-Cha Vương

Hôm nay ngày 30/04, mình xin bạn một việc hy sinh nho nhỏ để cầu nguyện cho những người đã bỏ mình trên đường tìm tự do và vì thời cuộc. Xin Chúa ban cho họ được nghỉ ngơi trong vòng tay yêu thương của Chúa Chiên Lành. Thành thật đa tạ!

Cha Vương 

Chúa Nhật: 30/04/2023

TIN MỪNG: Khi đã cho chiên ra hết, anh [mục tử] ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. (Ga 10:4)

SUY NIỆM: Bạn không cần đi đâu xa, ngay trong môi trường sống của bạn bây giờ đang có những tiếng ồn ào náo nhiệt làm bạn mệt mỏi nhức cả đầu. Đúng là cuộc đời vốn luôn ồn ào náo nhiệt trong mọi nơi mọi lúc nếu bạn không biết tự chọn cho mình một nơi thanh vắng để lắng nghe tiếng Chúa.

Điều đáng buồn cho con người trong thế giới hôm nay là dường như họ đang mất định hướng trong thế giới náo nhiệt. Họ rơi vào vòng xoáy của tiền tài, danh vọng nhưng rồi con người dường như không bao giờ hạnh phúc trong lợi thú khi họ vất vả tìm kiếm, và càng không có bình yên trong thế giới đầy bon chen tranh giành để sống.

Vậy làm sao con người có thể thoát ra được thế giới ồn ào náo nhiệt này? Giải pháp hữu hiệu nhất là bạn phải dành một ít thời gian để lắng lòng, để nhận biết tiếng gọi Đức Giêsu, vị Mục Tử Nhân Lành. Khi bạn có Chúa là trung tâm của cuộc đời mình, bạn có thể nhìn thấy Chúa trong mọi sự. Một khi bạn nhìn thấy Chúa trong mọi sự rồi thì những tiếng động sẽ không làm bạn nhức cả đầu nữa.  Mình mời bạn hãy tặng cho chính mình mỗi ngày một vài phút cô tịch để đọc Lời Chúa nhé. Đọc Lời Chúa để nghe và nhận ra tiếng thì thầm của Thiên Chúa đang ngỏ lời với bạn: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta” (Ga 10,27-30)

LẮNG NGHE: Nghe thế, họ đau đớn trong lòng và hỏi ông Phê-rô cùng các Tông Đồ khác: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2:37)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con người đang Lạc lõng giữa muôn vàn âm thanh trong thế giới ôn ào,

THỰC HÀNH: Thực hiện liệu pháp “2 Không” để sống bình an và hạnh phúc

(1) Không để người khác cướp mất bình an của mình.

(2) Không để sự bình an của mình bị lệ thuộc vào cảm xúc, ồn ào, xôn xao, bàn tán, thì thầm của người khác.

From: Đỗ Dzũng

Lặng – Ca sĩ Hiền Thục

Tin vui học giả trẻ tại Mỹ muốn tìm lại công bằng công lý cho chính nghĩa VNCH

Điều tuyệt vời của cuộc sống là chân lý không bao giờ chết cho dù có bị che đậy, bôi xóa bóng dáng cho lu mờ.

Đối với Chính nghĩa VNCH thì Sự thật vẫn là sự thật cho dù bị bóp nghẹt 50-60 năm.

Psychology - Vietnamese migration

Ngày càng có nhiều bạn trẻ sinh ra tại Mỹ tìm hiểu và làm sáng tỏ chính nghĩa Quốc Gia.

Tiến sĩ Phương Nguyễn – đề tài về người tỵ nạn VNCH

Phuong Nguyen, Becoming Refugee American - the Politics of Rescue in Little Saigon' Cornell University

Giáo Sư Tuấn Hoàng, đại học Pepeperdine, California hội thảo về biểu tượng VNCH

Giáo sư Vũ Tường, đại học Oregon về nghiên cứu chính thể VNCH

Chúng ta vừa mừng vừa không ngạc nhiên vì điều này phải đến và đang đến.

Cảm ơn các nỗ lực của thế hệ đi trước đã giúp cho các em tìm hiểu về quá khứ oai hùng của cha anh.

Pin by Hung Tran on Flag of VNCH (Saigon) | Saigon, Flag

Nếu chính nghĩa Quốc Gia ngời sáng thì chủ nghĩa Cộng Sản tam vô (Vô tổ quốc, Vô tôn giáo, Vô gia đình) và XHCN sẽ lu mờ và lụi tàn như ở Đông Âu.

Điều còn đáng mừng hơn đó  là các bạn trẻ trong nước có thái độ phản biện lại XHCN một khi tìm ra sự thật. Đây cũng là lý do chính quyền Cộng Sản vô cùng nhạy cảm và sợ chạm mặt, cấm đoán đối với các biểu tượng VNCH nhất là cờ vàng ba sọc đỏ theo nhà báo Khải Đơn

Nhà văn, nhà báo Khải Đơn 

Mời các bạn xem video về những nổ lực mới nhất của một học giả trẻ sinh ra tại Mỹ, tiến sĩ Alex Võ  Đình Thái, anh muốn có sự công bằng khi đánh giá về Việt Nam Cộng Hòa.

5 người ở Texas bị bắn chết vì than phiền hàng xóm nổ súng ồn ào

Báo Nguoi-viet

April 29, 2023

CLEVELAND, Texas (NV) – Một ông ở Texas vác súng trường sang nhà kế bên xả súng vô gia đình hàng xóm, làm năm người thiệt mạng, gồm đứa bé 8 tuổi, sau khi gia đình này yêu cầu ông ngưng bắn súng bên sân nhà ông vì nhà họ có trẻ em đang ngủ, cảnh sát loan báo hôm Thứ Bảy, 29 Tháng Tư, theo AP.

Trong buổi họp báo tại hiện trường sáng Thứ Bảy, ông Greg Capers, cảnh sát trưởng San Jacinto County, cho hay cảnh sát vẫn đang tìm nghi can Francisco Oropeza, 39 tuổi, sau vụ xả súng trong đêm ở thị trấn Cleveland, cách Houston khoảng 45 dặm về hướng Bắc. Ông Capers cho biết nghi can dùng súng trường AR-15.

Cảnh sát có mặt tại hiện trường, nơi một người đàn ông bắn chết năm người hàng xóm. (Hình: Chụp từ màn hình đài ABC)

“Các nạn nhân đều bị bắn từ cổ trở lên, gần giống như xử tử,” ông Capers nói.

Lúc vụ xả súng xảy ra, trong nhà đó có 10 người và không ai khác bị thương ngoài năm người thiệt mạng, có lẽ đều là người Honduras, theo ông Capers. Trong số năm nạn nhân, cảnh sát thấy hai người nằm đè lên hai đứa trẻ.

“Hai phụ nữ Honduras nằm đè lên để cố bảo vệ hai đứa trẻ này,” ông Capers nói. Cảnh sát thấy tổng cộng ba đứa trẻ dính đầy máu trong nhà nhưng sau khi được đưa đi bệnh viện thì được xác định không bị thương, ông Capers thêm.

Hai người khác được kiểm tra tại hiện trường rồi được thả, ông Capers cho hay.

Vụ xả súng xảy ra sau khi gia đình này bước tới hàng rào yêu cầu nghi can ngưng bắn súng bên sân nhà ông ta, ông Capers cho biết. Nghi can, lúc đó đang say rượu, đáp lại rằng đó là nhà ông, ông muốn làm gì cũng được. Rồi một người trong gia đình đó quay phim được cảnh nghi can ôm súng trường tới cửa trước nhà họ, theo ông Capers.

Trong số năm nạn nhân có ba phụ nữ và một người đàn ông. Cảnh sát không công bố tên. Các nạn nhân từ 8 tới khoảng 40 tuổi, ông Capers cho biết.

Cảnh sát từng tới nhà nghi can trước đây, theo ông Capers. “Cảnh sát từng tới nói chuyện với ông về chuyện bắn súng trong sân nhà,” ông Capers cho hay.

Ông Capers nói vài người trong gia đình hàng xóm vừa từ Houston dọn tới trong tuần này, nhưng không biết họ có dự định ở đó không.

Số vụ xả súng ở Mỹ từ đầu năm tới nay lên mức kỷ lục: Ít nhất 18 vụ, mỗi vụ có bốn người thiệt mạng trở lên. Có hàng loạt lý do cho những vụ xả súng đó: Giết người rồi tự tử và bạo lực gia đình; băng đảng trả thù; xả súng ở trường học và trả thù nơi làm việc. (Th.Long) 

Thành ngữ mới: Tư bản giãy chết

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Thông

29-4-2023

Ngày 30.4. Ngày này 48 năm trước, người cộng sản sau 21 năm đốt cháy dãy Trường Sơn đã vào “giải phóng miền Nam”, tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, đồng nghĩa với kéo lùi cuộc sống để miền Nam cùng miền Bắc sát cánh tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thấy không khí rộn ràng, cờ đèn kèn trống, hừng hực tinh thần… thù địch, chối bỏ hòa hợp (mà rõ nhất là việc “rút phép thông công” nhà phê bình văn học Đặng Tiến vừa qua đời, kiên quyết không có một dòng về giải thưởng nước Pháp vừa trao cho nhà văn Dương Thu Hương), kiên định con đường đi lên… nghèo đói, chợt nhớ lại những ngày sau “giải phóng”.

***

Như đã nói, đây là thứ thành ngữ mới, tồn tại trong thời gian khá dài hơn nửa thế kỷ ở nước ta, phổ biến vài chục năm trước 1975 ở miền Bắc, sau đó thêm vài chục năm nữa ở miền Nam và cả nước. Bây giờ thì ít được nhắc đến. Nó là sản phẩm của tư duy cộng sản, nằm trong loạt thành ngữ mới như “bơ thừa sữa cặn”, “đế quốc sài lang”, “phồn vinh giả tạo”, “đời đời bền vững”, “ngăn sông cấm chợ”… (những thành ngữ này, tôi đã viết và tải lên FB cả rồi), do chính người cộng sản đẻ ra, cả trong thực tiễn lẫn lý luận.

Cần phải nói ngay rằng các đảng và tổ chức chính trị khi đứng ra giành quyền lãnh đạo luôn đề ra đường lối, chủ trương, xu thế cho đất nước và dân tộc. Nước nào cũng thế thôi. Đảng nào cũng thế thôi, chẳng riêng gì người cộng sản. Khi nó là lý thuyết thì thường rất hay, chỉ có trải qua thực tiễn mới biết được thực chất. Vì vậy, nếu ngay từ đầu, những năm nửa đầu thế kỷ 20 mà ai đó bảo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là xấu, là dở, là không tưởng sẽ bị đám đông lên án ngay. Chết như chơi. Liên Xô khi ấy là hình mẫu của xu thế cách mạng thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội xong sẽ tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Họ vẽ ra bức tranh đẹp, ưu việt hơn vạn lần chủ nghĩa tư bản. Những nhà cách mạng vô sản An Nam lặn lội sang học, lôi về và truyền bá ở nước mình.

Lứa chúng tôi sinh giữa thập niên 50 ở miền Bắc được nhét vào đầu biết bao lời hay ý đẹp về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, nào “thiên đường của loài người”, “mùa xuân của nhân loại”, “xu thế tất yếu của xã hội”, “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” (trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa), “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” (xã hội cộng sản)… Rất vớ vẩn, không làm mà cũng có ăn. Đại loại họ cứ vẽ vống lên đủ thứ tốt đẹp để lôi cuốn đám đông cần lao, bất kể hiện thực cuộc sống diễn ra hoàn toàn ngược lại. Thế mà rất nhiều người tin. Tôi cũng tin. Mà không tin cũng chả được với họ.

Ở miền Bắc những năm trước 1975, học sinh cấp 3 và sinh viên đại học đứa nào cũng biết thuật ngữ “Ai thắng ai?” nói về cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới. Những giờ học chính trị và triết học Mác – Lênin, các thầy khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng phe tư bản, thực dân, đế quốc, bóc lột đang giãy chết, phe xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh. Bọn tư sản, chủ nghĩa tư bản bị dồn đến cùng đường, chó dại cắn càn, gây chiến tranh, nhưng sẽ không tránh khỏi bị diệt vong. Họ bảo “chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Diệt xong đế quốc, nhân loại sẽ lên thiên đường, “cùng làm cùng hưởng bình quân chia đều”, “bao giờ thế giới đại đồng/chúng ta sẽ thoát khỏi vòng gian truân”. Cuối những bài nhồi não, bao giờ các thầy hoặc báo cáo viên cũng kết luận “Sức ta là sức thanh niên/Thế ta là thế đứng trên đầu thù”, cả thầy lẫn trò đều hỉ hả.

Ngồi đáy giếng thấy bầu trời chỉ to bằng cái vung nồi. Tất cả sự thực đều bị bưng bít, gần như không ai biết chủ nghĩa tư bản nó thế nào. Bộ máy tuyên truyền của cộng sản rất thành công trong chính sách ngu dân. Đó là sự thực, mà thế hệ chúng tôi sinh sống ở miền Bắc thập niên 50 – 70 trải nghiệm rõ nhất. Cả thế giới bao la rộng lớn đa dạng như thế, nhưng người ta chỉ biết mỗi nước mình; mở rộng hơn chút nữa qua kênh văn học, phim ảnh và bộ máy tuyên truyền, báo chí mậu dịch thì biết thêm về những thiên đường Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc, Cuba, Triều Tiên, Mông Cổ… Đó mới thực là mơ ước của loài người. Còn đám Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Nam Phi, Hà Lan… tất cả đều phồn vinh giả tạo, tư bản giãy chết, đều trong cơn hấp hối, cùng đường, sắp sửa bị diệt vong, mà người đào mồ chôn chúng không ai khác chính là chúng ta, những công dân đang hăng hái xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đang bụng đói cật rét, khổ sở trăm bề nhưng nghe vậy sướng lắm.

Sự dối trá ấy bị xé toạc khi những người ở thiên đường miền Bắc được tận mắt chứng kiến cuộc sống và nền kinh tế ở miền Nam. Người cộng sản không thể ngờ và nghĩ rằng đồng thời với việc họ “giải phóng” được miền Nam thì chính miền Nam cũng giải phóng đầu óc u mê cho hàng triệu người Bắc. Họ tận mắt thấy chủ nghĩa tư bản ở miền Nam đã xây dựng một nền kinh tế hàng hóa dồi dào tới mức những người quen sống trong chế độ bao cấp có nằm mơ cũng không dám nghĩ.

Tháng 4.1977 tôi vào nhận công tác ở Sài Gòn, chỉ một thời gian ngắn hiểu rằng những gì mình được trang bị về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản bị sụp đổ hoàn toàn, hay nói chính xác hơn là dối trá, đảo ngược. Những chuyến hàng hóa sinh hoạt, một dạng chiến lợi phẩm, ùn ùn chảy ra bắc, từ xe cộ, tivi, tủ lạnh, máy cassette, vải vóc, cục xà phòng, cây kem đánh răng, cục pin, hộp sữa tới cái kim sợi chỉ đều lên đường ngược bắc, đủ chứng minh cho cuộc nhận thức lại. Chả biết miền Nam “nhận họ” thì được cái gì, chứ miền Bắc “nhận hàng” không chỉ làm thay đổi cuộc sống vốn nghèo khó bền vững mà còn đổi cả nhận thức cho con người. Bây giờ còn rất nhiều người đã tham gia vào cuộc đối lưu nam – bắc ấy, nếu không tin cứ hỏi họ, chứ tôi chả dám đơn sai.

Rất tiếc là, tầng lớp cai trị đất nước sau năm 1975, cho tới tận bây giờ, hoặc không nhận ra điều đó bởi họ quá say chiến thắng hoặc cố tình lờ đi để củng cố quyền lực. Họ thừa hiểu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không thể nào đưa đất nước, dân tộc đến bến hạnh phúc; thừa hiểu phương thức sản xuất tư bản, xã hội tư bản có bao nhiêu điều tốt đẹp cần phải tận dụng và phát huy nhưng đối với họ thay đổi đường lối đồng nghĩa với tự sát nên cứ nhắm mắt lao vào đường hầm, tự đánh lừa chính mình, và ác độc nhất là lừa nhân dân, cả trăm triệu con người. Họ say sưa tự lừa dối chính mình/trong đói nghèo vẫn hét toáng quang vinh.

Tôi còn nhớ, năm 1980, tại nhà văn hóa Thanh niên (4 Phạm Ngọc Thạch, quận 1), ông Nguyễn Hộ khi ấy còn là yếu nhân của chính quyền TP.HCM đăng đàn diễn thuyết nói rằng chỉ 10 năm nữa Việt Nam sẽ thành cường quốc như Liên Xô, phe xã hội chủ nghĩa sẽ thắng lợi trên toàn thế giới. Cả hội trường vỗ tay rào rào. Vài năm sau, ông Hộ nhận thức lại (nói theo kiểu bây giờ là suy thoái, tự diễn biến), chả biết có nghĩ những lúc mình và đồng chí của mình đi trên mây và ngáo như thế không.

Cũng khoảng đầu thập niên 80, khi đám giáo viên chúng tôi người xanh rớt như tàu lá bởi ăn bo bo, mặt mũi ai nấy vêu vao (coi lại cái ảnh cưới do thầy Châu Hoàng Tiểng chụp đen trắng, chú rể là tôi, chỉ thấy hai gò má vêu ra, rất khiếp) thiếu thốn tới mức bốc thăm để được mua từng cuộn chỉ khâu bằng ngón tay út, viên đá lửa, con dao cạo râu… thì đám giáo viên chúng tôi được nghe ông Nguyễn Mại, khi ấy là Phó chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về hợp tác đầu tư (tiền thân của Bộ kế hoạch – Đầu tư bây giờ) về hội trường của trường để thông não. Ông Mại say sưa khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là cực kỳ đúng đắn, ai sẽ thắng ai, chủ nghĩa tư bản bóc lột tất yếu bị diệt vong. Chỉ chưa đầy chục năm sau buổi diễn thuyết của ông Mại, năm 1991, Liên Xô sụp đổ cái rầm, thành trì vững chắc của cách mạng thế giới tan như bong bóng xà phòng, kéo theo đám đàn em vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Nhưng cơ hội nghìn năm có một để thoát khỏi đường cụt đã bị giới cai trị xứ này bỏ qua. Sau này lịch sử công minh cần lên án, vạch tội.

Vừa rồi, có một facebooker còm cho tôi, rằng nếu không có người cộng sản thì liệu đất nước có được như bây giờ không. Lý luận ấy tôi không lạ. Tôi chỉ giả nhời ngắn gọn, đúng như thế. So với năm 1945, 1954, 1975 thì đã thay đổi khá nhiều, kiểu như nông thôn đã có nhiều nhà ngói, nhà mái bằng. Cuộc sống bây giờ là sản phẩm của người cộng sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa, nên đó một phần là công của họ. Nhưng, nếu không có họ lãnh đạo, chắc chắn đất nước sẽ khác rất nhiều, tốt hơn nhiều, những rồng châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore… chưa chắc đã hơn.

Nhìn ra xung quanh, đừng ngó xa Mỹ, Nhật, Đức, Hà Lan, Bỉ… làm gì, cứ chú mục vào mấy nước gần cũng đủ thực tiễn trả lời “ai thắng ai”, tư bản có giãy chết không. Những con rồng châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông đều là tư bản giãy chết. Những con hổ đang trỗi dậy trong khối ASEAN như Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Phippines không có nước nào theo chủ nghĩa xã hội. Họ càng giãy, càng vươn cao, tiến nhanh. Thậm chí “thằng em dại” Campuchia cũng đang ruổi những bước dài sau khi định lại đường lối, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, từ bỏ thứ lý luận cũ rích về chủ nghĩa xã hội.

Còn ta, cứ kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đã gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, thử nhìn xem đã tạo dựng được vị trí như thế nào. Chừng ấy thời gian mà vẫn thua cả Thái Lan thì phải biết xấu hổ, chứ đừng vênh mặt lên mà ảo tưởng “tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng”. Đẹp mà cứ kéo nhau sang tư bản giãy chết chữa bệnh, con cái từng đàn từng lũ sang tư bản giãy chết học hành, lập nghiệp, quyết không chịu sang những nước cùng phe như Cuba, Triều Tiên, thì đẹp ở chỗ nào.

Hiện thực thế giới rất rõ ràng. Không phải nước nào theo chủ nghĩa tư bản cũng giàu, nhưng những nước giàu nhất là những nước phát triển bằng đường lối và phương châm tư bản chủ nghĩa. Còn phe xã hội chủ nghĩa luôn chạy theo tư bản về nhiều mặt, nhất là kinh tế và mức sống của người dân. Nó, chủ nghĩa xã hội, như miếng da lừa, teo tóp dần, chẳng biết có giãy chết như tư bản không nhưng cứ dậm chân tại chỗ và thụt lùi so với các nước khác. Chủ nghĩa xã hội, nói một cách ngắn gọn, chỉ đem lại nghèo đói và lạc hậu.

Nếu đã xác định mục đích vì đất nước giàu mạnh, nhân dân sung sướng hạnh phúc, thì tại sao cứ phải chê bai chủ nghĩa tư bản, khư khư bám lấy chủ nghĩa xã hội.

Hãy dũng cảm làm cuộc đổi mới thật sự chứ không phải nửa vời, ông Trọng, ông Thưởng, ông Chính và các ông bà tai to mặt lớn ạ. Còn không thì mãi đi cùng các “bạn” Triều Tiên, Cuba, Venezuela và cuộc sống đầy bất công, nghèo đói.

Chuyến Vượt Biên Của Tôi – Thanh Nhàn

Nguồn: Tongphuochiep

Một chiếc ghe nhỏ chở người Việt vượt biên giữa đại dương, năm 1982

Tôi đến Vàm Láng vào một buổi chiều và được xuồng nhỏ chở ra biển. Tôi ra biển để chờ “cá lớn”. Theo lời người trong nhóm tổ chức thì “cá lớn” (ghe vượt biên) sẽ đến vào lúc mười một giờ tối nay. Tôi và hai người vượt biên khác ngồi trên xuồng chờ cho đến hơn một giờ sáng của ngày hôm sau mà vẫn chưa thấy tăm hơi của con “cá lớn” ở đâu.

Gần ba giờ sáng “cá lớn” vẫn chưa xuất hiện. Tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện đón đò trở ngược về Mỹ Tho. Tôi chỉ sợ đổ bể, du kích chận ở bến đò xét hỏi giấy tờ và hỏi lý do tại sao xuống đây thì thật sự tôi không biết làm sao mà trả lời.

Trong lúc tôi ngỡ chuyến vượt biên nầy không thành, thì hơn ba giờ rưỡi sáng tôi nghe tiếng máy nổ xình xịch nho nhỏ từ rất xa của một chiếc ghe nào đó, tiếng máy nổ càng lúc càng gần. Chú chèo xuồng chở chúng tôi la lên: “cá lớn tới” rồi chú chụp vội lấy đèn pin phát tín hiệu chớp tắt ba lần, chiếc ghe vượt biên đã lộ rõ cũng phát tín hiệu đáp lại. Tôi mừng quá, xuồng tôi chèo nhanh cập vào “cá lớn”.

Tôi tưởng chỉ có một chiếc xuồng của tôi, vừa cập vào ghe tôi thấy bốn, năm chiếc xuồng nhỏ khác không biết từ đâu, xuất hiện từ lúc nào cũng ào ào cập vào. Tôi vịn thành ghe đu người phóng qua, chỉ trong vòng vài phút mọi người từ những xuồng nhỏ khác đã leo được lên ghe. Các xuồng vội vã rời đi, lúc đó đã gần bốn giờ sáng.

Đi được không bao lâu ghe tôi gặp sóng to, từng đợt sóng cao hai, ba thước đánh vào ghe, nâng ghe lên cao rồi hạ xuống thấp, chúng tôi bị say sóng ói mửa liên tục. Ghe tôi vật lộn với sóng gió cho đến chiều tối mới hết. Đêm đến, ánh trăng với một chút vầng khuyết của Mùng Chín âm lịch soi một màu vàng nhạt lung linh trên biển. Chỉ còn sáu ngày nữa là Tết Trung Thu. Tết Trung Thu năm nay có thêm người Việt lưu lạc nơi xứ người. Tôi tự hỏi tại sao quê hương tôi phải chịu cảnh phân ly – người vượt biên, kẻ tù đày?

Sau hơn một ngày trên ghe vượt biên, tôi không thấy đói nhưng rất khát. Chúng tôi được phát chút đỉnh cơm, nhưng phần nước rất hạn chế. Tôi nghe nói hầm chứa nước bị rỉ, nước còn rất ít. Đến chiều, ghe tôi ra tới hải phận quốc tế, một số người bắt đầu vứt bỏ giấy tờ liên quan đến Việt Nam xuống biển, tôi cũng vứt bỏ giấy chứng minh nhân dân của mình.

Tối hôm đó có vài ba chiếc tàu buôn đi qua, chúng tôi đem chăn mền ra đốt để tạo sự chú ý nhưng không có chiếc nào dừng lại để cứu giúp.

Ngày kế tiếp tôi rất khát, sau gần ba ngày vượt biên chúng tôi chỉ được uống nước tổng cộng vài ba lần, mỗi lần được một cốc nước nhỏ chỉ vài ba hớp nước, uống xong, mười lăm phút sau cái khát lại quay trở lại. Có cô gái nhỏ ngồi gần bên tôi lim dim ngủ, tôi thấy cô ta tự dưng đưa tay ra chụp một cái gì đó rồi giựt mình tỉnh dậy. Tôi hỏi: “em làm gì vậy?” Cô nói: “em nằm chiêm bao thấy khát nước quá, má em làm cho em một ly nước đá sữa đậu nành, em mừng quá đưa tay chụp định uống thì tỉnh dậy, uổng quá!” nói xong cô cười, tôi cũng cười.

Đến trưa ghe tôi bị hư máy, chủ ghe cho biết có đem theo máy sơ cua và sau hơn một giờ sửa chữa, thay máy, ghe tôi lại tiếp tục lên đường. Chiều hôm đó tôi được phát chút đỉnh cơm, mấy người trên ghe cho biết nước gần như đã cạn. Biển hôm đó không có sóng to, một điều kỳ thú là tôi thấy một đàn cá to hàng chục con, chúng bơi lội theo ghe tôi hơn nửa giờ rồi biến mất.

Buổi sáng ngày thứ tư của cuộc hành trình, vào khoảng chín giờ sáng, chúng tôi thấy một chiếc tàu ở rất xa, mọi người mừng rỡ đem ống nhòm ra nhìn xem tàu đó ra sao. Một điều tức cười là mắt thường thì nhìn thấy con tàu nhỏ xíu ở xa, mà nhìn trong ống nhòm thì con tàu lại biến mất. Không cần ống nhòm, ghe chúng tôi hướng theo con tàu phía trước mà rú ga chạy tới.

Chạy gần một tiếng rưỡi mới tới, lần đầu tiên trong đời tôi thấy một con tàu lớn như vậy. Tôi nghĩ đó là tàu Hải Quân của một quốc gia nào đó, nhưng càng lại gần thì càng không phải. Đâu có Hải Quân nước nào mà lính mặc xà rông ở trần trùng trục như đám người lố nhố trên tàu kia. Khi tới gần tôi thấy khoảng chục tên ở trần mặc xà rông, tên nào tên nấy nước da đen bóng, thân hình rắn chắc vạm vỡ. Thì ra đó là tàu đánh cá của một nước nào đó.

Khi ghe tôi còn cách tàu kia chừng năm mươi mét. Tôi thấy đám người bên tàu đó có sự thay đổi, hơn phân nửa chạy rút vào phòng trong, chỉ để lại ba, bốn người ở ngoài. Ghe tôi tiếp tục tiến tới. Còn cách hơn mười mét, bọn tôi đứng dậy, tay chỉ vào ngực mình rồi cùng la lên: “Việt Nam! Việt Nam” rồi có người nói tiếp: “refugee – người tị nạn” phía bên kia tôi nghe tiếng đáp lại: “Thái Lan! Thái Lan!”

Ghe tôi xáp tới, mũi ghe tôi đối diện với mũi tàu Thái. Vài người trên ghe tôi hỏi: “ai biết nói tiếng Anh?” Có hai người lên tiếng. Một chú trước là thông dịch viên cho quân đội Mỹ, còn một anh nữa biết nói tiếng Anh và có thời gian ngắn du học bên Thái Lan trước 1975. Một tấm ván dài dược bắc qua nối liền hai con tàu, hai “sứ giả” của ghe tôi bước qua tàu Thái. Chúng tôi ngồi dưới ghe hồi hộp chờ tin tức.

Năm, bảy phút sau, một trong hai người trở xuống ghe cho chúng tôi biết, chủ tàu là người Thái trắng, biết nói tiếng Anh, có vẻ học thức và hiền. Ông ta sẽ thỏa mãn yêu cầu của chúng tôi là cung cấp nước và sẵn sàng giúp đỡ về lương thực nếu cần. Sau khi giúp xác định vị trí của ghe chúng tôi trên biển, chủ tàu Thái cho biết chúng tôi chỉ còn cách bờ biển Mã Lai hơn hai ngày đường. Sau đó, họ thả vòi nước xuống, trong lúc vội vã chúng tôi không tìm được một can không nào đựng nước, ngoại trừ mấy can dầu đã cạn, nước được bơm vào mấy can dầu cạn đó. Khi uống nước tôi thấy chút ít vết dầu trong ly nước, uống vào có mùi dầu máy xông lên nhưng vì khát quá và không có cách nào khác, tôi uống một hơi mấy ly nước đầy, mấy người trên ghe tôi cũng vậy.

Thấy tàu Thái tử tế, ghe tôi muốn tặng vật lưu niệm cho họ mà không tìm ra thứ gì để tặng. Cuối cùng, chúng tôi tìm được nắp hộp của một chiếc hộp đựng bút học trò (chỉ có cái nắp không có cái hộp), nắp bằng gỗ, phần trên của nắp có mảnh gương soi mặt nhỏ, phía dưới là hình một cô gái Việt Nam mặc áo dài với mái tóc dài buông xõa, đầu cô đội nón lá che nghiêng và trên tay cầm một đóa hoa hồng. Phía sau nắp hộp, người thông dịch viết hàng chữ bằng tiếng Anh đại khái nói: “Người tị nạn Việt Nam chúng tôi thân tặng các anh để kỷ niệm ngày chúng ta gặp nhau”. Theo lời anh thông dịch, khi người chủ tàu Thái dịch câu đó ra tiếng Thái, đám ngư phủ Thái Lan đứng chung quanh vỗ tay reo hò ra vẻ thích thú lắm.

Chủ tàu Thái cũng cho chúng tôi biết là ba, bốn ngày nữa sẽ có bão. Ông ta giục chúng tôi đi nhanh. Cảm động nhất là lúc chia tay, toàn bộ người trên ghe tôi đều đứng dọc hai bên khoang ghe vẫy tay chào từ biệt. Bên kia tàu Thái, toàn bộ ngư phủ và chủ tàu đứng dọc trên boong tàu vẫy tay cho đến lúc ghe tôi đi thật xa.

Vào ngày thứ năm của cuộc hành trình, khoảng chín giờ sáng chúng tôi thấy có nhiều lưới và phao nhỏ nổi trên biển. Có một điều lạ là lúc đó chưa thấy đất liền mà tôi thấy chuồn chuồn ở đâu mà bay ra rất nhiều đến hàng ngàn con, chúng bay rất thấp chỉ cách mặt biển có một, hai mét và đậu trên những chiếc phao đó.

Khoảng ba giờ trưa, chúng tôi thấy đất liền xuất hiện ở phía xa. Sau đó, chúng tôi lại gặp một tàu đánh cá khác của Thái Lan, qua sự tiếp xúc họ cho biết ghe chúng tôi đang ở gần ranh giới lãnh hải của hai nước Thái Lan và Mã Lai.

Chúng tôi thật sự may mắn, bao nhiêu ghe, thuyền vượt biên của người Việt mình bị hải tặc Thái Lan cướp bóc, giết hại. Chúng tôi hai lần gặp tàu Thái Lan mà vẫn bình an vô sự.

Những người Việt vượt biên đến bờ biển Mã Lai

Đêm hôm đó gần mười hai giờ khuya, ghe chúng tôi theo con sông nhỏ nối liền với biển tiến vào đất Mã Lai. Lần đầu tiên sau gần sáu ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi bước lên bờ. Đêm đó trăng sáng vằng vặc, chúng tôi bước lên bờ chập choạng, ngã nghiêng chân thấp chân cao, mặt đất dường như không chịu đứng yên mà nhấp nhô như sóng biển.

Tôi đặt chân xuống mà sợ chân mình không đụng đất, mỗi lần bước đi phải chầm chậm từ từ như sợ mình bước hụt. Mấy người đi kế bên tôi la lên: “tụi mình đang bị say đất”. Lần đầu tiên trong đời tôi nghe danh từ “say đất” và cũng là lần đầu tiên trong đời tôi mới biết được cảm giác “say đất” ra sao, hiện tượng đó kéo dài mấy phút sau đó mới trở lại bình thường.

Chúng tôi tìm một khoảng đất trống ngồi xuống, vài ba anh thanh niên háo hức cất bước tiến về khu nhà của dân địa phương ở phía xa. Một lúc khá lâu mấy anh trở về cho biết người dân địa phương để xe đạp, xe gắn máy ở phía sau nhà, không xe nào có khóa cả. Mấy anh còn cho biết có một quán nhỏ vẫn còn mở cửa, cô chủ quán người Mã Lai nói trọ trẹ được vài câu tiếng Việt. Trên vách quán có ghi ngày tháng và tên bằng tiếng Việt, chứng tỏ trước chúng tôi, ghe tàu vượt biên của người mình đã đến nơi đây. Mấy anh còn khoe được cô chủ quán cho uống “coca cola” mà không phải trả tiền.

Sau khi mọi người đã trở về đầy đủ, chúng tôi gom lá dừa khô lại để đốt. Mọi người quây quần chung quanh đám lửa nhỏ trò chuyện, một cô ngồi kế bên tôi khe khẽ hát:

Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ bóng tơi bời
Làn mây hồng pha ráng trời
Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người…

Nghe cô hát thật buồn, nhất là trong hoàn cảnh nầy. Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác nhạc phẩm “Thuyền Viễn Xứ” vào năm 1952 khi đất nước chưa phân đôi. “Thuyền Viễn Xứ” thời đó bất quá tới một nơi nào đó ở cuối sông Hồng, hoặc xa xôi lắm là đến tận cùng của dòng sông Cửu Long, vẫn còn đâu đó trên đất Việt. “Thuyền Viễn Xứ” của chúng tôi bây giờ đi xa diệu vợi, vượt qua một đại dương bao la đến những bến bờ xa lạ và giao tiếp với những người không cùng màu da, ngôn ngữ, bỏ lại đằng sau một nước Việt Nam yêu dấu ngàn đời…

Chúng tôi ở đó chơi cho đến gần hai giờ sáng, rồi lại xuống ghe nhổ neo đi tiếp. Chúng tôi dự định cho ghe chạy dọc theo bờ biển Mã Lai để đến Singapore.

Khoảng chín giờ sáng của ngày thứ sáu của cuộc hành trình, ghe chúng tôi chạy cách bờ biển Mã Lai không tới một cây số và càng lúc càng tiến lại gần bờ. Trên đường tiến sát vào bờ biển Mã Lai tôi thấy vài ba chú cá heo bơi lội nô đùa trên sóng nước.

Bờ biển Mã Lai thật đẹp, từng bãi cát trắng chạy dài, chạy dọc theo bờ biển là những ngọn đồi con nho nhỏ. Mỗi một ngọn đồi có một màu sắc riêng biệt, có ngọn đồi phủ toàn một màu vàng của hoa, có ngọn đồi phủ một màu xanh của cây lá, và có ngọn đồi tím ngắt một màu nổi bật trên nền cát trắng.

Có lúc ghe tôi chạy qua một bãi biển có nhiều dừa, tôi thấy mấy cô gái Mã Lai với đôi mắt to đen, áo quần thướt tha, tay cầm dù che nắng đi dạo trông thật dễ thương.

Gần mười một giờ, có nhiều người mặc thường phục và quân phục đứng trên bờ, họ ngoắc tay ra dấu cho chúng tôi tấp ghe vào, chúng tôi lắc đầu tiếp tục đi. Vài phút sau, một chiếc ca nô từ bờ phóng ra đuổi theo ghe chúng tôi, trên đó có một ông mặc thường phục và một người lính Mã Lai, họ nhảy lên ghe yêu cầu chúng tôi phải tấp ghe vào bờ, lúc đầu chúng tôi không chịu nhưng thấy họ cương quyết, chúng tôi đành phải chịu phép.

Ghe vào bờ rồi, tôi thấy gia đình người chủ ghe mang theo nồi niêu, xoong chảo và gần nửa bao gạo – đó là số gạo trên ghe chúng tôi còn sót lại sau sáu ngày lênh đênh trên biển. Mọi người bước lên bờ rồi chỉ còn ghe tôi nằm trơ trội, cô độc sát bờ. Tôi hỏi mấy người đi bên cạnh: “vậy ghe mình tính sao?” một người trả lời: “người Mã sẽ kéo ghe mình ra biển rồi đánh chìm”.

Chúng tôi – tổng cộng 45 người, đi bộ theo hai người Mã Lai tới một vườn dừa thì thấy có sáu, bảy người lính Mã hiện diện ở đó từ lúc nào, họ hỏi ai là người đại diện ghe và muốn chúng tôi cung cấp danh sách bao gồm tên tuổi, giới tính, nghề nghiệp của tất cả người trên ghe và đưa cho họ. Thế là hai người thông dịch viên của ghe lại bận rộn cầm giấy bút đến hỏi từng người. Sau đó, mấy người lính Mã căng dây thành hình chữ nhật giữa bốn gốc dừa và bảo chúng tôi vào trong đó ngồi.

Trại tị nạn ở đảo Bidong

Chúng tôi ngồi đó chờ đợi, không biết kế tiếp mình sẽ đi về đâu. Xế trưa có hai chiếc xe buýt của hội Trăng lưỡi liềm đỏ Mã Lai tiến vào, họ ra dấu cho chúng tôi lên xe. Tôi bước lên xe tìm chỗ ngồi, lòng thầm hỏi không biết xe nầy sẽ đưa chúng tôi đến nơi nào?

Xe chở chúng tôi chạy qua những thị trấn, làng mạc Mã Lai. Đường xá ở đây được tráng nhựa, hệ thống cầu đường khá tốt. Hơn một giờ sau, xe tấp vào một khu trại có đề chữ “Marang Transit Camp (Trại chuyển tiếp Marang)”. Xe dừng lại, tôi thấy có nhiều người tiến lại gần xe, rồi nghe loáng thoáng có tiếng nói như là tiếng Việt. Bọn tôi trên xe nhao nhao hỏi: “Việt Nam phải không?” mấy người đứng phía dưới cùng trả lời: “Việt Nam”. Tôi mừng quá, tôi cứ tưởng vượt biên, rời khỏi nước không còn có cơ hội gặp lại người Việt mình nữa. Những người đứng dưới xe là những người vượt biên vừa tới trại nầy vào tối hôm qua.

Trại chuyển tiếp Marang cách trại tị nạn Sungei Besi hơn 430 cây số và cách đảo Bidong hơn 45 cây số. Đây là nơi tất cả người tị nạn Việt Nam khi đặt chân đến Mã Lai đều phải đến đó ở một, hai ngày chờ tàu chở ra đảo Bidong để làm thủ tục định cư, và ngược lại, những người tị nạn từ đảo Bidong trên đường tới trại tị nạn Sungei Besi – tọa lạc ở ngoại ô thủ đô Kuala Lumpur, để chờ chuyến bay đi định cư ở nước thứ ba hoặc được tiếp tục phỏng vấn bởi phái đoàn các nước – đặc biệt là phái đoàn Mỹ, cho việc định cư của mình đều tới trại chuyển tiếp Marang ở đó ít nhất một đêm để chờ xe buýt chở đi.

Bọn tôi xuống xe, có người hướng dẫn vào một tòa nhà lớn có nhiều giường đôi hai tầng. Tôi chọn một chiếc giường ở tầng dưới và đặt túi xách đựng quần áo của mình xuống. Mấy người trên ghe tôi cũng vậy, mỗi người chiếm cứ một giường. Sau đó tụi tôi tìm nơi tắm rửa. Trại có hai dãy phòng tắm riêng biệt dành cho nam và nữ.

Sau hơn sáu ngày phong trần, tôi mặc có mỗi một bộ đồ, kể từ lúc bước xuống đò Vàm Láng để vượt biên, chưa được tắm rửa lần nào, giờ đây được xả nước tắm thoải mái để gội rửa bụi “vượt biên”. Không thể nào diễn tả được cảm xúc vui sướng của tôi lúc bấy giờ, nhất là thấy mình đã an toàn đến bến bờ tự do. Mới hơn bảy ngày trước còn ở Việt Nam với bao lo âu, buồn phiền mà bây giờ đã đặt chân đến Mã Lai – vùng đất ước mơ của bao người Việt Nam ôm mộng vượt biên lúc bấy giờ. Tắm xong bước ra ngoài mà tôi ngỡ mình đang nằm mơ.

Chiều hôm đó sau khi ăn uống xong xuôi, tiết mục kế tiếp mà tôi chờ đợi mấy ngày qua là… được ngủ. Sáu đêm ngủ ngồi, tôi gần như không ngủ. Gần bảy giờ tối, tôi leo lên giường làm một giấc thẳng cẳng cho tới ngày hôm sau.

Những người Việt tị nạn trên đảo Bidong, Mã Lai

Gần mười giờ sáng ngày hôm sau có người vỗ vai đánh thức tôi dậy, một anh đi cùng ghe cho tôi biết một giờ trưa hôm nay sẽ có tàu đưa chúng tôi ra Bidong. Anh ta nói: “ông làm gì mà ngủ say như chết vậy? Hồi hôm mấy bà, mấy cô la oai oái làm mọi người thức dậy”. Tôi hỏi: “sao mấy bà, mấy cô la?”, anh ta cho biết, lợi dụng lúc mấy cô đang ngủ, một vài tên lính Mã Lai có ý định sờ mó, sàm sỡ làm mấy cô la lên, mấy bà ngủ gần đó không biết ất giáp gì nghe mấy cô la, mấy bả cũng la làm đám đàn ông mình tỉnh giấc ngồi dậy, mấy tên lính Mã Lai thấy thế sợ quá biến mất. Anh ta còn cười cười nói: “may cho ông đó, ông mà là mấy cô mà ngủ kiểu nầy là tụi nó vác ông chạy vô rừng là tan nát đời hoa”, nói xong anh ta phá ra cười.

Chúng tôi ở trại chuyển tiếp Marang vỏn vẹn chỉ có một ngày. Một giờ trưa ngày hôm đó, xe buýt của hội Trăng lưỡi liềm đỏ Mã Lai đến chở chúng tôi ra bến tàu. Tới nơi, chúng tôi được hướng dẫn xuống một con tàu mang tên Blue Dart mà người tị nạn chúng tôi vẫn thường gọi đùa, tàu đó là tàu “bi đát”. Gần một giờ sau chúng tôi đã có mặt ở Bidong – hòn đảo “thiên đường” của người Việt Nam tị nạn Cộng sản, bắt đầu cho một cuộc sống lưu vong nơi xứ người.

Thanh Nhàn

Nguồn: https://saigonnhonews.com/muon-neo-duong-doi/chuyen-vuot-bien-cua-toi/

THỰC TRẠNG BUỒN TRONG CUỘC SỐNG-Lm. Anmai, CSsR

Lm. Anmai, CSsR

Mới đây, nhiều người biết ba cây phượng vừa bị đốn tại Trường THPT Bùi Thị Xuân, TP.HCM gây bất ngờ khi vẻ ngoài xanh tốt, trổ hoa nhưng ruột trống rỗng, có đoạn đường kính lên đến 80cm, 90cm. Nhìn cây phượng rỗng ruột tôi lại miên man suy nghĩ về cuộc đời.

Ai ai trong cuộc sống cũng không thích giả tạo nhưng lại cứ giả tạo để cho người ta thấy mình sang, mình đẹp và mình giàu. Thế nhưng rồi có khi đàng sau cái vẻ đẹp ấy cũng chỉ như cây phượng buồn vừa bị đốn. Giàu có và vinh hoa cũng vậy. Có khi phía sau cánh cổng của biệt thự hay căn nhà phố mặt tiền lại là một đống nợ của gia chủ.

Vì muốn hãnh diện khoe mẽ với người khác cho nên ít ai chấp nhận cái thân phận thật của mình để rồi đua nhau chạy theo điều giả dối.

Thực tại, ta thấy câu mà người ta thường hay nói “Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa” là đúng.

Gia đình khá thân quen vẫn thường cho lên mạng hình ảnh đẹp của gia đình mình. Nhưng đàng sau lưng cái vẻ đẹp lung linh rực rỡ ấy đó là câu chuyện của hai vợ chồng trong gia đình đó. Họ không sống chung với nhau cả hơn chục năm trời. Thế nhưng bịt mắt thiên hạ, họ vẫn diễn.

Tôi đã nhiều lần như là trọng tài để chia sẻ, phân tích cho gia đình nhưng họ không nghe. Lâu lắm rồi không giao tiếp nhưng biết họ vẫn không ở chung với nhau như mọi người nhìn vào bức ảnh đẹp của cả gia đình.

Và, câu chuyện không dừng ở đó. Người dì của gia đình đó đã kể “thành tích” của đứa cháu vừa được báo chí tuyên dương. Người bố cũng khoe thành tích của con mình. Có điều, ở trong gia đình mới biết được đó là thành tích ảo. Tôi cũng đã nhiều lần khuyên và nhắn nhủ dì của chàng trai được vinh danh đó để cho cậu ta thay đổi lối sống nhất là quan tâm đến đời sống nhân bản.

Xem chừng tương lai sẽ là người thành đạt trong công việc học tập. Nhưng chưa chắc thành công khi làm việc bởi tính cách như thế. Đặc biệt người dì kể về cháu mình đó là về sự vô ơn.

Tôi không xét đoán, không bình phẩm nhưng chỉ thấy những gì người ta đưa trên mặt báo không đúng với con người thật của chàng thanh niên đó. Nó cũng giống như cây phượng bề ngoài thì xanh um và cho ra hoa  rất đẹp nhưng bên trong thì ruột bị rỗng.

Vấn đề đón nhận sự thật và chấp nhận sự thật xem chừng rất khó trong cuộc sống. Đơn giản là vì ai ai cũng thích khoe cái mẽ bề ngoài dù bên trong gia đình thì trầm trọng.

Dường như bây giờ đi đâu cũng thấy thực trạng đáng buồn này. Người ta bưng bít sự thật để cho mọi người không biết sự thật nhưng đến một ngày nào đó khi người ta phát hiện ra sự thật chắc chắn người ta sẽ rất chán chường.

Như cây phượng bị đốn. Nhiều người vẫn tiếc rẻ khi phải đốn hạ nó nhưng đâu ai ngờ rằng đốn hạ nó sẽ bảo toàn sinh mệnh cho bao nhiêu con người. Nếu như không đốn ngã nó, mưa to gió lớn nó ngã đổ và khi đó không biết sẽ cướp đi bao sinh mạng như bao cây phượng bị trốc gốc.

Như cơ địa của con người. Phần nào bị đau thì ta chữa trị hay như Chúa nói thà mất 1 con mắt mà vào được Thiên Đàng còn hơn cả thân xác vào hỏa ngục. Hay như là thà mất 1 tay để được vào Thiên Đàng còn hơn cả con người phải sa hỏa ngục.

Điều này như Chúa nói con người cần phải loại bỏ những gì xấu, những gì hư để cơ thể được lành mạnh và nhất là được vào Thiên Đàng.

Cũng chỉ vì sợ sự thật và yêu chuộng sự giả dối nên rồi có quá nhiều hậu quả xảy ra trong cuộc sống.

Như câu chuyện 2 người bạn chơi thân với nhau. Họ hết mình tin tưởng đặt niềm tin vào nhau. Đến một ngày nào đó người này phát hiện ra người kia không thật thà có lẽ là cay đắng lắm.

Nói về sự thật và sự bóng bẩy bề ngoài thì ngày hôm nay như là một trào lưu khi trào lưu sống ảo lên ngôi. Bao nhiêu lời nói hoa mỹ mà người ta dành cho nhau nhưng đàng sau sự hoa mỹ ấy toàn là sự giả tạo.

Người ta vẫn thường nói với nhau: “Thật thà thẳng thắn thường thua thiệt! Lọc lừa lươn lẹo lại lên lương!”. Đời vẫn thế mà!  Ai thẳng thắn thường bị trù dập còn ai manh mung thì lại được hưởng vinh hoa.

Thôi thì vẫn là sự tự do lựa chọn của mỗi người. Chuyện sống thật hay sống giả tùy vào sự lựa chọn của mỗi người. Hãy cố gắng sống thật hết sức có thể để đừng rơi vào tình trạng thùng rỗng kêu to hay như cái cây bàng kia nhìn bề ngoài xanh mơn mởn nhưng bên trong thì chẳng có tí ruột nào.

Lm. Anmai, CSsR

Nguồn:Thanhlinh

CHÚA DẪN ĐƯA CON – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Sau khi long trọng mừng lễ Phục Sinh, Phụng vụ mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu ở một khía cạnh khác: Người là Mục tử nhân lành.  “Người mục tử” là hình ảnh chính Chúa Giêsu đã dùng để diễn tả sứ mạng của Người, là sứ mạng Thiên sai.  Hình ảnh này không phải là điều gì mới lạ, vì các ngôn sứ trong Cựu ước đã diễn tả Thiên Chúa như một mục tử.  Chúng ta có thể đọc thấy trong giáo huấn của ngôn sứ Giêrêmina và Egiêkien.  Như người mục tử chăm sóc đàn chiên thế nào, Thiên Chúa luôn săn sóc dân riêng Ngài đã chọn như vậy.  Ngài biết những nhu cầu của đàn chiên.  Ngài còn biết tên của từng con cũng như tính nết của chúng.

Những điều này cho thấy tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người.  Suốt bề dày lịch sử Cựu ước, Ngài luôn che chở, hướng dẫn và bao dung nhân từ đối với dân riêng Ngài đã chọn, mặc dù nhiều lần dân lầm lỗi bội phản.

Trong xã hội du mục của người Do Thái thời xưa, hình ảnh người mục tử và đàn chiên rất gần gũi đối với với cuộc sống hằng ngày.  Đi đâu ta cũng có thể gặp thấy đồng cỏ xanh, đàn chiên thư thái ăn cỏ bên dòng suối mát lành dưới dự chăm sóc của các mục tử.  Khi dùng hình ảnh người Mục tử, Chúa Giêsu tiếp nối giáo huấn của Cựu ước.  Tuy vậy, hình ảnh người mục tử nơi Chúa Giêsu mang nhiều nét mới mẻ.  Đây là người mục tử dám hy sinh mạng sống vì đàn chiên.  Người chấp nhận chết cho chiên được sống.  Người không chỉ chăn dắt đàn chiên mà còn ban cho đàn chiên sự sống.  Tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào.  Qua cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu hiến mạng sống mình cho đàn chiên và thông ban cho đàn chiên sự sống thiêng liêng.

Khi quả quyết: Tôi là cửa.  Đức Giêsu muốn nhấn mạnh, Người là mẫu mực cho chúng ta.  Các tác giả Phúc âm đã phác họa chân dung của Chúa Giêsu trong các tác phẩm của mình.  Tất cả đều muốn khẳng định: Chúa Giêsu là dung mạo phản ánh lòng thương xót của Chúa Cha, qua sự khiêm nhường, dấn thân phục vụ con người.  Mỗi tín hữu, tức là mỗi con chiên trong đàn chiên của Chúa phải nhìn lên Đức Giêsu là vị Mục tử của mình để noi gương Người trong đời sống.  Như thế là chúng ta bước qua cửa có tên là Giêsu, để được quy tụ và được giáo huấn, với mục đích sẽ trở nên hoàn thiện từng bước ngay khi còn sống trên trần gian.  Ai qua cánh cửa có tên là Giêsu, sẽ tìm được nơi nương ẩn và được cứu rỗi.

Hình ảnh người Mục tử gắn liền với Cộng đoàn đức tin, tức là Giáo Hội.  Trong bài giảng đầu tiên vào ngày lễ Ngũ tuần, Thánh Phêrô khẳng định Chúa Giêsu là Đấng Kitô và là Chúa.  Người đã chịu đóng đinh trên thập giá.  Người giống như mục tử, vì sự bình an và sự sống của đàn chiên, đã hy sinh mạng sống mình.  Bài giảng hùng hồn đã khiến cử tọa khóc lóc đau đớn trong lòng, và đã có thêm ba ngàn người xin gia nhập Đạo Chúa trong ngày hôm ấy (Bài đọc I).  “Anh em hãy tránh xa thế hệ gian tà này để được cứu độ.”  Tránh xa gian tà, tức là từ bỏ lối sống không phù hợp với danh hiệu Kitô hữu như: bạo lực, dâm ô, giận hờn, ghen ghét, chia rẽ, suy đồi luân thường đạo lý.  Những tệ nạn này cản trở chúng ta đến với Chúa và làm chúng ta trượt dốc xuống vực thẳm của tội lỗi.

Hình ảnh người Mục tử nhân lành nhắc nhớ chúng ta: nhờ Bí tích Thanh tẩy,  người tín hữu được tháp nhập vào đàn chiên của Chúa tức là Giáo Hội.  Chúa Giêsu là Đầu của Giáo Hội.  Giáo Hội là thân thể huyền nhiệm của Chúa Giêsu.  Mỗi chúng ta là chi thể trong thân thể ấy.  Cũng như nơi thân xác con người, chỉ khi nào mọi chi thể liên kết gắn bó chặt chẽ với đầu, thì thân thể ấy mới khỏe mạnh.  Mỗi tín hữu cũng phải liên kết với Đức Giêsu là Đầu của Giáo Hội.  Hiệp thông gắn bó với Đầu, chúng ta cũng phải hiệp thông gắn bó với anh chị em mình, để làm thành một cộng đoàn Giáo Hội vững chắc, không ngừng tiến triển và diễn tả sự thánh thiện trong đời sống hằng ngày.

Những ai đã lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy mà không hiệp thông với Giáo Hội, được so sánh như con chiên lạc.  Thánh Phêrô lưu ý chúng ta như vậy.  Ngài viết: “Quả thật, trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với vị Mục tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em” (Bài đọc II).  Tin tưởng cậy trông nơi Đấng Phục sinh, đó là điều kiện cần thiết để chúng ta hiệp thông với vị Mục tử và hiệp thông với anh chị em mình, tức là cộng đoàn Giáo Hội.

Giáo Hội không giống như một tổ chức trần thế.  Giáo Hội cũng không phải do con người lập nên.  Chính Chúa Giêsu là Đấng sáng lập Giáo Hội.  Chính Chúa Phục sinh đã trao cho thánh Phêrô và những người kế vị nhiệm vụ lãnh đạo, và thay Người săn sóc, quy tụ đàn chiên.  Những đế chế hay những quốc gia trần thế, dù có hùng mạnh đến đâu chăng nữa, chỉ vang bóng một thời rồi đến lúc phải cáo chung.  Giáo Hội của Chúa trường tồn qua mọi thời, thấm nhập và góp phần làm thăng hoa các nền văn hóa và các truyền thống nơi các quốc gia.  Sở dĩ Giáo Hội trường tồn, vì có Đức Giêsu phục sinh luôn hiện diện và hướng dẫn, như người mục tử chăn dắt đàn chiên.

Sự hiện diện và dẫn dắt của vị Mục tử được diễn tả trong Thánh vịnh quen thuộc.  “Chúa là Mục tử.”   Lời Thánh vịnh đem lại cho chúng ta sự bình an: Dù qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.  Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.  Nhờ sự dẫn dắt của vị Mục tử Giêsu, chúng ta tìm được cảm giác thư thái an bình, như con thơ nằm trong lòng mẹ: Lòng nhân hậu và tình thương Chúa, ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người, những ngày tháng, những năm dài triền miên.  Còn hình ảnh nào đẹp đẽ hơn để diễn tả tình yêu thương của Chúa dành cho những ai tin tưởng và phó thác nơi Người?  Thánh vịnh 23 này thường được hát trong Thánh lễ an táng và cầu hồn.  Lời ca sâu lắng, tha thiết và gợi hình, giúp cộng đoàn phụng vụ thêm lòng sốt sắng, giúp thân nhân gia đình người quá cố được ơn an ủi và niềm hy vọng.  Thực ra, Thánh vịnh này không chỉ diễn tả việc Chúa dẫn đưa một người đã qua đời về vương quốc vĩnh cửu, mà còn diễn tả sự quan phòng yêu thương của Chúa đối với con người trong suốt cuộc đời.  Ngài luôn chăm sóc chúng ta, ân cần chu đáo như mục tử đối với đàn chiên.

Chúa nhật IV Phục sinh cũng được gọi là Chúa chiên lành.  Đây là dịp để chúng ta bày tỏ tình hiệp thông với Đức Thánh Cha Phanxicô, vị Mục tử tối cao của Giáo Hội Công giáo và là người kế vị Thánh Phêrô tông đồ.  Chúng ta cầu nguyện cho Ngài và cho các vị chủ chăn trên toàn thế giới, được ơn can đảm, khôn ngoan để có thể dẫn đưa Dân Chúa đến đồng cỏ xanh tươi và đến suối mát trong lành, tức là hưởng trọn vẹn tình yêu ngọt ngào của Chúa, là phần thưởng cho những ai tin cậy yêu mến Người.  Xin Chúa ban cho Giáo Hội hoàn vũ và các Giáo Hội địa phương luôn vững mạnh trước phong ba bão táp trần gian.

“Dù qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn.”  Thế giới hôm nay đang hoảng loạn trước đại dịch COVID-19, giống như đang qua bờ vực thẳm.  Hơn ba triệu người đã lây nhiễm.  Mấy trăm ngàn người đã chết vì dịch bệnh.  Lòng trông cậy Chúa sẽ giúp chúng ta tìm được sự an bình giữa cơn đại nạn, đồng thời tin tưởng Chúa sẽ cứu với nhân loại.

“Hỡi bạn là Kitô hữu, hãy luôn tự hào vì danh xưng ấy” (Thánh Lê-ô cả Giáo Hoàng).  Mỗi chúng ta hãy cảm thấy vinh dự và vui mừng vì được mang danh Chúa Giêsu, đồng thời hãy góp phần mình làm cho đàn chiên Giáo Hội luôn vững mạnh, tỏa sáng giữa lòng đời.  Giữa một cuộc sống còn nhiều góc khuất do tội lỗi và hận thù gây, hãy làm cho Giáo Hội thực sự là Ánh Sáng Muôn Dân, rạng soi thế giới.

Nguyện xin Chúa Giêsu Kitô, vị Mục tử nhân lành, dẫn đưa nhân loại ra khỏi vực thẳm của tội lỗi và của dịch bệnh đang đe dọa thế giới.  Xin Người cho chúng ta được ơn an bình.  Amen.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Thánh Catarina ở Siena (1347 — 1380)- ngày 29/04

Thanhlinh.net

Trong cuộc đời ngắn ngủi, Thánh Catarina đặt trọng tâm vào việc hoàn toàn phó thác cho Ðức Kitô. Ðiều đáng khâm phục về thánh nữ là ngài coi việc phó thác cho Chúa như một mục đích phải đạt được qua thời gian.

Thánh Catarina, tên thật là Catarina Benincasa, sinh ở Siena và là người con út trong một gia đình có đến 23 người con. Ngay từ khi bảy tuổi, cô đã dâng hiến tâm hồn cho Ðức Kitô. Nơi cô sinh trưởng rất gần San Domenico, trung tâm truyền giáo của Dòng Ða Minh, và khi lớn lên cô bày tỏ ý muốn đi tu, nhưng gia đình lại muốn cô kết hôn. Ðể nói lên ý chí quyết liệt của mình, cô đã cắt tóc và sau cùng, với sự đồng ý của cha mẹ, Catarina gia nhập tổ chức Mantellate, là hội phụ nữ có liên hệ đến Dòng Ða Minh, họ mặc áo dòng nhưng sống ở nhà, phục vụ người nghèo và người đau yếu. Trong vòng hai năm liên tiếp cô không bao giờ rời phòng, trừ khi đi xem lễ và xưng tội, và cũng không nói chuyện với một ai ngoại trừ cha giải tội. Trong thời gian này, Catarina luyện tập tâm linh qua lối sống khắc khổ.

Sau đó, cô tự phá vỡ đời sống cô độc và bắt đầu hăng say chia sẻ công việc trong nhà, săn sóc người bệnh và giúp đỡ người nghèo. Tuy nhiên cô vẫn dành thời giờ trong thinh lặng và chiêm niệm.

Dần dà, người ta nhận thấy dường như Catarina đọc được tâm hồn của họ và dân chúng thuộc đủ mọi thành phần — giầu và nghèo, tu sĩ và giáo dân, thợ thuyền và lính tráng – bắt đầu tuốn đến với cô để được khuyên bảo. Từ đó một tổ chức tông đồ giáo dân được thành hình. Các lá thư của cô, hầu hết là các lời khuyên bảo tinh thần và khuyến khích các người mến mộ, ngày càng được công chúng đón nhận.

Vì sự hòa đồng với người đời một cách không sợ sệt cũng như lời nói bộc trực và uy quyền của một người hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa, Catarina đã bị dị nghị và dèm pha. Nhưng mọi điều cáo buộc cô đã bị bác bỏ trong Tổng Công Hội Dòng Ða Minh năm 1374.

Cô có ảnh hưởng rất lớn vì sự thánh thiện hiển nhiên, cũng như vì ảnh hưởng sâu đậm đối với đức giáo hoàng. Cô làm việc không biết mệt trong cuộc thập tự chinh chống với người Thổ Nhĩ Kỳ và trong việc hòa giải thành phố Florence với đức giáo hoàng.

Cô thành công trong việc thuyết phục Ðức Giáo Hoàng Grêgôriô XI trở về Rôma, nhưng không bao lâu đức giáo hoàng từ trần và Ðức Urbanô VI lên ngôi. Khi cuộc Ðại Ly Giáo bùng nổ, Ðức Urbanô VI mời Catarina đến Rôma, vì đức giáo hoàng cần sự hỗ trợ của cô. Năm 1378, cô đến Rôma và thường xuyên viết thư gửi các nhà lãnh đạo quốc gia và Giáo Hội để bảo vệ cho quyền giáo hoàng của Ðức Urbanô. Hàng ngày, cô đi bộ đến Ðền Thánh Phêrô và cầu nguyện cho sự hiệp nhất.

Một vài tuần trước khi chết, cô đang cầu nguyện trước một bức khảm ở Ðền Thánh Phêrô, cô trông thấy con thuyền của Thánh Phêrô dường như rời khỏi bức khảm và đậu trên vai của cô. Con thuyền xô cô ngã quỵ và người ta phải khiêng cô về nhà. Catarina hầu như bất toại cho đến khi từ trần, ngày 24 tháng Tư  1380, lúc ấy mới ba mươi ba tuổi.

Cô được Ðức Giáo Hoàng Piô II phong thánh năm 1461, và được coi là một trong những vị thần nghiệm và văn sĩ linh đạo của Giáo Hội. Vào năm 1970, Ðức Phaolô VI tuyên xưng thánh nữ là Tiến Sĩ Hội Thánh. Thánh Catarina là người phụ nữ thứ hai (sau Thánh Têrêsa ở Avila) được vinh dự này.

Trong khi các thư của Thánh Catarina thường được coi là cửa ngõ để biết đến con người của ngài, nhưng người ta thường nhắc đến tác phẩm “Ðối Thoại” mà ngài chỉ coi đó là “cuốn sách của tôi,” gồm các lời giảng dạy của thánh nữ để lại cho các người mến mộ. Cha Raymond, vị linh hướng của thánh nữ cho biết tác phẩm này ghi lại những lời đối thoại với Thiên Chúa khi ngài ngất trí.

Trích từ NguoiTinHuu.com

Tại sao 30 tháng Tư là ngày Quốc Hận?

Tác giả: Tiểu Thạch

Người Việt quốc gia đã chọn ngày 30 tháng 4 là ngày Quốc Hận. Từ “hận” [恨] có nghĩa là “oán giận” (theo Hán-Việt Tự-Điển của Đào Duy Anh, 1963; Hán-Việt Tự-Điển của Nguyễn Văn Khôn, 1960). Trong nghĩa giận còn có ý “oán” [怨] nữa, nghĩa là trách móc như trong câu oán thiên vưu nhân 怨天尤人, trách trời giận người (Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn, Paris 2015). Giận vì Miền Nam đã thua Miền Bắc và oán trách vì người bạn đồng minh của mình đã phản bội.

Nhưng thua thì chịu thua. Tại sao lại phải giận? Và đồng minh đã phản bội như thế nào?
Đúng là thua, nhưng giận vì thua không hợp lý: Tự Do Dân Chủ mà phải thua Độc Tài Cộng Sản; Chính Nghĩa mà phải thua cái Ác; và nhất là đứng về mặt quân sự, sự thất bại của vụ tổng tấn công tổng khởi nghĩa của cộng sản Miền Bắc năm 1968, của cuộc tổng tấn công của toàn bộ lực lượng chính quy của cộng sản Miền Bắc trong vụ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, cũng như sự kiên trì anh dũng giữ nước của quân lực Việt Nam Cộng Hoà từ 1972 đến 1975 đã hùng hồn chứng minh sự vượt trội của quân lực Miền Nam.
Gallery: 50 Years Ago - Vietnam War's Tet Offensive | Tampa Bay Times
Trong vụ tổng tấn công trong dịp Tết Mậu Thân 1968, cộng sản Miền Bắc, bất chấp thoả hiệp đình chiến 36 tiếng để dân chúng đón Tết, đã tấn công ồ ạt trên mọi tỉnh thành Miền Nam. Nhưng quân lực Việt Nam Cộng Hoà, dù quân số chỉ còn lại khoảng 1/61 vì đa số đã được nghỉ phép về quê ăn Tết, vẫn có thể anh dũng đẩy lui cuộc tấn công của toàn bộ quân đội miền Bắc.
Về quân sự, Tết Mậu Thân là một thất bại lớn cho diều hâu chiến tranh Lê Duẫn. Trong vụ tấn công này của cộng sản Miền Bắc, người ta tìm thấy nhiều trẻ em chết bên cạnh những ổ súng máy, chân bị xiềng2 vào ổ súng để chúng phải chiến đấu cho đến chết; có đứa bị xiềng chân vào cổ xe thiết giáp3 để khỏi đào thoát; những tên bắn sẻ thì bị cột chặt vào thân cây4. Những người này đã bị chết một cách thảm thương. Một vài bài viết của người cộng sản Miền Bắc mô tả quân đội Miền Bắc đã tấn công toà đại sứ Mỹ và đã lên đến tầng thứ ba của toà đại sứ với ý định giết đại sứ Mỹ. Nhưng sự thực ở Sài Gòn, ai cũng chứng kiến cảnh mười mấy tên đặc công cộng sản vừa xông vào sân toà đại sứ thì đã bị hạ gục ngay.
Thua về quân sự trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế, cộng sản Miền Bắc khi tháo lui đã giết hại tổng cộng 5327 người dân Huế bằng cách bắn chết tại chỗ, chôn sống hằng ngàn người trong những nấm mồ tập thể rải rác khắp ngoại ô thành phố Huế, tại Khe Đá Mài.v.v…sau khi đã dùng cuốc đập vào đầu họ trong khi họ đang bị trói cánh khuỷu lại thành chùm với nhau. Trong số những người này có 4 giáo sư người Đức đang dạy y khoa tại đại học Huế. Ngoài con số 5327 người đã bị sát hại, chúng còn bắt đi biệt tích 1200 người dân Huế vô tội nữa. Về tâm lý quần chúng tại Việt Nam, vụ Mậu Thân 1968 cũng là một thất bại nặng nề cho Đảng Cộng Sản Miền Bắc. Chiến dịch Mậu Thân được gọi là “Tổng Tiến Công Tổng Nổi Dậy” vì Đảng Cộng Sản Miền Bắc có ảo tưởng là nhân dân Miền Nam sẽ đứng lên chống lại, lật đổ chính quyền Miền Nam khi họ tiến quân vào Miền Nam. Họ không ý hội được là nhân dân miền Nam ghê tởm cộng sản, nghe cộng sản đến đâu là nhân dân né tránh, chạy về phía quân lực Việt Nam Cộng Hoà để được che chở, bảo vệ. Ngay người dân miền Bắc cũng ghê tởm họ. Năm 1954 đã có hơn một triệu người Miền Bắc di cư vào Miền Nam để lánh nạn cộng sản. Nếu không có những khó khăn vì di chuyển và những ngăn chặn bằng bạo lực do đảng cộng sản ác độc chủ trương thì hẳn con số di cư còn cao hơn gấp bội.
Lá Thư Nói Thẳng Nói Thật Số 5 - Tượng Đài Cổ Thành Quảng Trị - Mùa Hè ...
Trong vụ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, sau khi gần như toàn bộ quân đội Hoa Kỳ đã rút ra khỏi Việt Nam chỉ còn lại yểm trợ của không lực của Hoa Kỳ, thế mà quân lực Việt Nam đã đẩy lui trên 200,000 quân đội chính quy của Miền Bắc đồng loạt tấn công vào tất cả mọi thị thành ở Miền Nam.
Quảng Trị – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 – dòng sông cũ
Sau 1972, khi quân đội Hoa Kỳ đã hoàn toàn rút khỏi Việt Nam; yểm trợ không lực của Hoa Kỳ cũng không còn nữa trong lúc Miền Bắc vẫn được sự tiếp tế đầy đủ của Nga và Tàu. Tàu đã đưa qua Miền Bắc trên 300,000 quân giữ hậu cần để cho quân chính quy Bắc Việt tiến công vào Miền Nam. Thế mà quân lực Việt Nam Cộng Hoà vẫn giữ được nước mãi cho đến tháng 4 năm 1975 với những trận đánh quyết tử Xuân Lộc và An Lộc, trong hoàn cảnh hoàn toàn thiếu thốn đạn dược và xăng nhớt cho xe cộ và máy bay.
Giận vì sự ác độc của người cộng sản còn được thể hiện rõ nét sau khi đã cưỡng chiếm được Miền Nam, họ đã đày đoạ hằng trăm ngàn cán bộ, công chức, quân nhân và cảnh sát trong các trại tập trung từ vài ba năm cho đến hai chục năm, ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, trên rừng thiêng nước độc để những tù nhân oan trái này phải chết dần, chết mòn vì lao động kiệt lực, vì bệnh hoạn, và nhất là vì bị bỏ đói. Trong lúc đó thì của cải của những người này bị tước đoạt, nhà cửa bị trưng dụng, và trong một số không ít trường hợp, vợ của họ cũng bị cán bộ lấy.
Một lý do nữa để cho người Việt quốc gia phải căm giận là cả hơn hai triệu người phải liều chết để trốn thoát khỏi sự tàn bạo, cay nghiệt, độc ác của người cộng sản Miền Bắc. Khi trốn thoát bằng đường biển — trên những chiếc ghe nhỏ bé không thích hợp để vượt biển, có khi chỉ bằng những ruột xe hơi buộc lại với nhau — hằng trăm ngàn người hoặc đã bị sóng biển dập vùi xuống lòng đại dương, hoặc đã bị cướp biển Thái Lan chặn bắt, cướp đoạt tài sản, giết đàn ông, hiếp dâm phụ nữ. Những vụ cưỡng dâm con gái đã có lúc xảy ra trước mặt cha mẹ, vợ trước mặt chồng con. Những cảnh đau lòng này cũng thường xảy ra đối với những người vượt biên qua đường rừng núi Cao Miên, khi họ gặp phải quân lính Khmer Đỏ. Những đau xót này đã in dấu ấn đậm nét trong lòng người Việt quốc gia may mắn thoát được ngục tù cộng sản và đến được bến bờ tự do của những nước dân chủ.
Chuyện tù “cải tạo” của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH ...
Ngoài sự căm giận, người Việt quốc gia chúng ta còn oán trách Mỹ, người bạn đồng minh đã phản bội lại chúng ta.
Đúng ra, người Mỹ chỉ là bạn đồng minh bất đắc dĩ.
Trước tiên, chúng ta cần phải khẳng định rằng Ông Ngô Đình Diệm không phải là do người Mỹ đưa lên mà chính vua Bảo Đại đã bổ nhiệm ông làm thủ tướng lúc ông qua Pháp sau khi vận động thất bại ở Mỹ. Trước năm 1953, nước Việt Nam, trên danh nghĩa, đã độc lập; nhưng trên thực tế vẫn chịu sự quản trị và khống chế của người Pháp. Do đó Ông Ngô Đình Diệm đã từ chức thượng thư bộ lại của triều nhà Nguyễn và xuất dương tìm đường cứu nước. Ông bắt đầu qua Nhật, tiếp xúc với Ông Cường Để với hy vọng thành lập một chính phủ quân chủ lập hiến, nhưng không thành công. Trong dịp này ông gặp được một giáo sư khoa chính trị học người Mỹ tên là Wesley Fishel, đang làm việc cho CIA. Ông này móc nối cho ông Diệm làm quen với một số chính khách Mỹ như chánh án Tối Cao Pháp Viện William O. Douglas, đức Hồng Y Francis Spellman, dân biểu Mike Mansfield thuộc tiểu bang Montana, dân biểu John F. Kennedy thuộc tiểu bang Massachusetts. Tuy nhiên, Ông Ngô Đình Diệm không tạo được sự hỗ trợ chính thức của Hoa Kỳ. Lý do chính là vì ông là người công giáo, nên người Mỹ nghĩ là ông không thể điều hành một quốc gia mà họ nghĩ đa số là người Phật giáo.
Ông Ngô Dình Diệm trở về Việt Nam ngày 7 tháng 7 năm 1954 trong cương vị Thủ Tướng cho toàn cõi Nam Trung Bắc Việt Nam, do quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm. Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève đã được ký, chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17. Vùng đất thuộc bắc vĩ tuyến 17 do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ông Ngô Đình Diệm trách người Pháp đã giao Miền Bắc cho cộng sản. Tại Miền Nam Ông Ngô Đình Diệm được sự hỗ trợ của những đảng phái quốc gia chống cộng, của giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo; ông dẹp loạn Bình xuyên do Bảy Viễn cầm đầu, loại trừ được sự chống đối của tướng Nguyễn Văn Hinh do Pháp xúi dục làm đảo chánh.
Late 1960s Photographs of Saigon Going about Its Business While the ...
Với quân đội do người Pháp trao trả, với sự hỗ trợ của các đảng phái quốc gia chống cộng và của Cao Đài và Hoà Hảo, ông Ngô Đình Diệm đã phá tan gần hết hạ tằng cơ sở của cộng sản để lại Miền Nam sau khi đã tập kết ra Bắc theo các điều khoản của Hiệp Định Genève. Ông Ngô Đình Diệm đã thiết lập được một thế đứng chính trị vững chắc cho nền Đệ Nhất Cộng Hoà.
Nhưng sự khai sinh của một Nền Cộng Hoà non trẻ thay cho một nền hành chánh thủ cựu, quan liêu của triều nhà Nguyễn cần sự hỗ trợ về tài lực, kinh tế, kỹ thuật, và quản trị. Đây là thời điểm mà ông Diệm cần sự giúp đỡ của người Mỹ. Và người Mỹ đã đến Việt Nam dưới hình thức cố vấn trong những năm 50 đến những năm đầu của thập kỷ 60. Số cố vấn Mỹ càng ngày càng tăng theo thời gian. Nhưng điều quan trọng là cái nhìn của chính phủ Ngô Đình Diệm không trùng hợp với cái nhìn của người Mỹ về phương diện chính trị. Ông Ngô Đình Diệm chú trọng vào sự thịnh vượng của đất nước và độc lập quốc gia, còn hình thái chính thể thì chưa thể tự do hoàn toàn như các nước Tây phương được. Cái nhìn của người Mỹ thì bao quát cả thế giới qua sự tranh chấp bá quyền và ảnh hưởng giữa lý thuyết tự do và lý thuyết cộng sản.
Nam Ròm: Hình Ảnh của thời Đệ Nhất VNCH (Nguồn http://thangtien.de/ )
Từ góc nhìn tranh chấp bá quyền và ảnh hưởng, người Mỹ thấy cần phải ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản quốc tế xuống Việt Nam và sự lan toả của làn sóng này ra toàn cõi Đông Nam Á, bao gồm cả Lào, Cao Miên, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Indonesia, New Zealand và cả Australia. Để ngăn chặn sự bành trướng này, người Mỹ nhận thấy khẩn thiết cần phải đưa quân đội vào Việt Nam. Nhưng đây là điểm khác biệt chính yếu về quan điểm giữa ông Ngô Đình Diệm và chính phủ Hoa Kỳ. Đối với ông Ngô Đình Diệm, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ (1) làm mất đi chủ quyền quốc gia Việt Nam, và (2) sẽ làm mất chính nghĩa quốc gia, đem lại cơ hội cho lãnh đạo miền Bắc kết án là Mỹ xâm lược, là Miền Nam Việt Nam làm lính đánh thuê cho Mỹ; và Miền Nam cần được “giải phóng” khỏi ách nô lệ của người Mỹ. Đồng thời Miền Bắc có lý do để yêu cầu sự hỗ trợ của các nước cộng sản anh em, Nga và Tàu. Nhưng trên quan điểm của người Mỹ thì dĩ nhiên chủ quyền quốc gia của một nước nhỏ, chậm tiến như Việt Nam không thể cân bằng hay nặng ký hơn quyền lợi của nước Mỹ. Chính nghĩa quốc gia thì đã có “bảo hiểm” bằng sức mạnh của Hoa Kỳ rồi!
Không chinh phục được ông Diệm, tình báo Mỹ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tướng lãnh Việt Nam lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm bằng cách khai thác yếu tố dân chủ và đào sâu sự hiềm khích tiềm ẩn giữa Công giáo và Phật giáo mà trong đó một thành phần lớn có ảnh hưởng đã bị cộng sản thẩm nhập. Vụ đảo chánh đã kết thúc bằng cái chết tàn bạo, dã man của hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu.
Tháng 3 năm 1965, quân đội Mỹ tiến vào Đà Nẵng mà không cần hỏi ý kiến của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Đến năm 1967, có trên 500,000 quân nhân Hoà Kỳ và một số ít quân đội Phi Luật Tân, Nam Hàn, và Thái Lan, v.v… trên đất nước Việt Nam. Trên thực tế, thực sự không ai biết rõ lý do tại sao quân đội Mỹ có mặt ở Việt Nam. Trên mặt chính thức thì quân đội Mỹ được công bố là được dùng để chặn làn sóng cộng sản quốc tế toả rộng xuống toàn cõi Đông Nam Á và như một hệ luận, để bảo vệ nền tự do và độc lập của Miền Nam Việt Nam. Nhưng cũng có người nghĩ rằng đó chỉ là một chiêu bài của nhóm tư bản tài phiệt thông đồng với giới kỹ nghệ để tiêu dụng các vũ khí của Đại chiến II còn sót lại và đồng thời dùng Việt Nam để thử nghiệm những khí giới mới được chế tạo. Quân đội VNCH vẫn sử dụng súng M1-Garand – thứ súng mà quân đội Mỹ dùng trong Đại chiến II – trong những năm 1967-1968. Đến khi Việt cộng sử dụng AK-47 (kalashnikov) thì quân đội VNCH mới được nhận M-16.
Cuộc chiến kéo dài gần như bất phân thắng bại mãi cho đến khi tổn thất kinh phí cũng như tổn thất nhân mạng lên quá cao đối với sức chịu đựng của nhân dân Hoa Kỳ, ảnh hưởng đến bầu cử tổng thống thì lãnh đạo Hoa Kỳ phải cố tìm lối thoát: Hiệp Định Paris 1973. Theo Hiệp định này thì Miền Bắc không được dùng võ lực để xâm chiếm Miền Nam. Nếu Miền Bắc vi phạm điều này thì Hoa Kỳ sẽ trả đũa thích đáng bằng võ lực. Tổng thống Nixon đã gửi thư cho Tổng thống Thiệu khẳng định điều này. Hoa Kỳ vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự. Về quân sự nếu VNCH hư hao, phế thải một quân cụ hay khí tài nào thì sẽ được thay thế ngay.
Như chúng ta đã thấy, Miền Bắc đã xâm chiếm Miền Nam bằng võ lực. Hoa Kỳ không những không phản ứng mà còn ngưng viện trợ kinh tế cho Miền Nam. Võ khí, đạn dược hoàn toàn không được thay thế, chiến xa và máy bay tác chiến không có xăng nhớt để hoạt động. Trong lúc đó, Miền Bắc được tiếp viện 300,000 quân lính Trung cộng để giữ hậu cần; súng ống, đạn dược, xăng nhớt được Nga và Tàu cung cấp đầy đủ. Dĩ nhiên là người Việt quốc gia mất Miền Nam không phải là vì hèn yếu, vì thiếu khả năng giữ nước, mà vì người bạn đồng minh đã phản bội. Họ đến không cần hỏi ý kiến và khi quyền lợi của họ đã được đáp ứng bằng cách kết cấu với Tàu cộng thì họ bỏ rơi Miền Nam Việt Nam.
Ngoài việc mất Miền Nam một cách tức tưởi, còn hằng trăm ngàn cán bộ, công chức, quân nhân, cảnh sát bị đày ải bao nhiêu năm trời ở nơi thâm sơn cùng cốc, phải lao động cật lực, bệnh hoạn liên miên, bị hành hạ thân xác, bị bỏ đói quanh năm, chết dần, chết mòn; còn năm, bảy trăm ngàn người bị chết trên biển cả vì thời tiết, vì ghe nhỏ không chịu nổi chuyến vượt biển, vì cướp biển giết, vì cướp biển hãm hiếp, vì Khmer Đỏ giết hay bị mìn nổ trong rừng núi Cao Miên. Tất cả những tang thương này đã xảy ra chỉ vì dân quân Miền Nam bị người Mỹ, người bạn đồng minh của mình “đem con bỏ chợ.” Làm sao không oán trách!
30 tháng Tư là ngày Quốc Hận, là ngày người Việt quốc gia phải căm giận về cái thua phi lý của VNCH cũng như về sự tàn ác tột cùng của đảng CSVN và oán trách người bạn phản bội. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể căm thù mãi mãi người bạn này được vì dù sao trên 3 triệu người Việt đã thoát được gông cùm cộng sản và được tiếp đón nồng hậu bởi Hoa Kỳ cũng như bởi những quốc gia tự do khác. Và con cái chúng ta có cơ hội giáo dục tốt, phát triển đời sống chuyên môn và cá nhân của chúng trong một bầu không khí tự do cởi mở. Khi chuyến máy bay đầu tiên chở các trẻ em mồ côi từ Việt Nam sang Hoa Kỳ, chính Tổng thống Ford đã ra tận sân bay đón tiếp. Tổng Thống Carter đã cho phép hàng trăm ngàn người Việt nhập cư. Hơn nữa chúng ta cần phải phân biệt lãnh đạo Mỹ và nhân dân Mỹ. Đa số người dân Mỹ rất tốt, đầy lòng nhân ái. Lãnh đạo Mỹ thì cũng có người tốt đối với người Việt Nam như Tổng thống Ford, Tổng thống Carter. Nhưng chính quyền Mỹ nói chung, cũng như lãnh đạo của bất cứ quốc gia nào khác, chỉ hành động vì quyền lợi quốc gia của họ mà thôi, và quyền lợi này biến đổi theo từng giai đoạn thời gian. Như cựu Thủ Tướng nước Anh Henri John Temple, 3rd Viscount Palmerston đã từng tuyên bố trước quốc hội Anh ngày 1 tháng 3 năm 1948 là: “Chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn, và chúng ta cũng không có kẻ thù trường cửu. Chỉ có quyền lợi của chúng ta mới là vĩnh cửu và liên tục, và chúng ta có bổn phận phải đeo đuổi những quyền lợi này” (“We have no eternal allies, and we have not perpetual enemies. Our interests are eternal and perpetual, and those interests it is our duty to follow.”). Lỗi là lỗi lãnh đạo VNCH không hiểu rõ điều này để tiên liệu cho quyền lợi của đất nước mình.
Vietnam War Important Dates Timeline | Timetoast timelines
Ý thức được điểm quan trọng này, một quốc gia nhỏ bé không thể tin tưởng vào lòng tốt, vào sự hứa hẹn hay vào một phạm trù luân lý hay một lý thuyết chính trị để phán đoán lập trường của một quốc gia khác hùng mạnh hơn, cũng như không thể tin tưởng như thế để hành động đưa đến những quyết định liên hệ tới sự sống còn của đất nước mình. Một quốc gia nhỏ bé đang trên đà phát triển luôn luôn cần đến sự hỗ trợ của các quốc gia giàu mạnh hơn. Nhưng trước tiên, quốc gia nhỏ bé này phải có khả năng tự lực cánh sinh qua sự hỗ trợ của đại đa số quần chúng nhân dân để thiết lập một thể chế chính trị vững chắc. Sau đó mới có thể gầy dựng thế liên lập thế giới trên căn bản trao đổi bình đẳng.
30 tháng Tư là ngày Quốc Hận, ngày nhắc nhở một kinh nghiệm thương đau và xót xa cho toàn thể những người Việt quốc gia, nhưng đồng thời cũng là một bài học quý giá cho chúng ta trên con đường cứu nước và dựng nước.
Tiểu Thạch
Pennsylvania 30/4/2019

Thành quả sau 30-4: Tà Án Cộng Sản, Ăn tiền người chết COVID, Ăn rác, Ăn thuốc, Ăn giấy, Ăn phân, Ăn đủ thứ

Sau 30-4 quốc nạn, bất công tràn lan trong hệ thống tòa án, tòa phán quyết theo đảng ủy chỉ đạo chứ không theo luật pháp và công lý.

Trương Quốc Huy chỉ ra các điển hình tai tiếng và kỳ quặc của chế độ “tà án” Cộng Sản.

Tình trạng ăn đủ thứ ở Việt Nam kể cả ăn của người chết vì COVID