Để thấy thương vợ nhà  hơn – Tràm Cà Mau – Truyện ngắn

 Tác giả: Tràm Cà Mau

Rất nhiều bà vợ hiểu biết, hiền lành, dễ thương, ngày đêm vun xới cho hạnh phúc gia đình. Bởi hạnh phúc gia đình, có thể nói là thứ quý báu nhất trên đời, khó có gì sánh bằng. Sống trên thế gian, ai ai cũng mưu cầu hạnh phúc, chỉ có người mất trí khôn mới không biết quý không khí êm ấm của gia đình. Nếu trong một đất nước, mà nhà nhà đều được hạnh phúc đơm đầy, thì quốc gia đó, đạt được lý tưởng mơ ước, không cần giàu, mạnh, hay tiếng tăm.

Người ta kiếm cho ra nhiều tiền, không kể nhọc nhằn, lao tâm khổ trí, cũng chỉ để mưu cầu hạnh phúc. (Họ tưởng tiền bạc có thể mua được hạnh phúc) Theo đuổi danh vọng, cũng là một thứ đi tìm hạnh phúc cá nhân, khoan kể đúng hay sai.

Tuy nhiên, có không ít bà vợ đã cố ý hay vô tình phá vở hạnh phúc êm đềm thường ngày, bằng cách làm khó chồng, đay nghiến, nói lời độc ác, hành động hoang loạn, bất mãn triền miên và chê bai chồng đủ điều. Các bà nầy, đã tự đập vở hạnh phúc đang có, và bỏ phí tháng ngày trời cho. Có thể, đến khi mất đi ông chồng dễ ghét đó, các bà mới chợt ý thức được hành động đáng trách của họ, và lúc đó tiếc thương thì cũng đã quá muộn màng.

Ai đã từng ít nhiều đau khổ vì bị vợ hành, xin đọc các trích đoạn sau đây.  Đoạn đầu là bản dịch chương 1 phần 6 của tập “Đắc Nhân Tâm” do học giả Nguyễn Hiến Lê dịch, nguyên tác của Dale Carnegie, sẽ thấy an ủi vô cùng. Vì thế gian đã có những danh nhân bị vợ hành gấp trăm mình.

Xin để thì giờ đọc, mà tìm đuợc chút an ủi và hạnh phúc. Nếu đã đọc rồi, cũng nên đọc lại, vẫn thấy hay vô cùng. Chương 1 phần 6 của cuốn Đắc Nhân Tâm viết  như sau:

Chôn sống hạnh phúc gia đình cách nào lẹ nhất?

Năm 1852, Hoàng đế Nã Phá Luân đệ tam say mê Nữ bá tước Mari Eugénie Ignace Augustine de Montiji, người đàn bà đẹp nhất thế giới và cưới nàng. Cận thần có người can gián Hoàng đế vì lẽ không được “môn đăng hộ đối”.

Nhưng Hoàng đế nói: “Có cần chi điều đó”. Cái duyên và vẻ đẹp lộng lẫy của nàng làm cho Hoàng đế mê ly như gặp tiên. Trong một bài diễn văn, Hoàng đế nói như thách cả nước Pháp: “Trẫm đã cưới một người đàn bà mà Trẫm yêu và ngưỡng mộ, như vậy còn hơn là cưới một người mà Trẫm không được biết”.

Hoàng đế và Hoàng hậu có đủ điều kiện để cuộc lương duyên hoàn toàn theo lý tưởng: Sức mạnh, tiền bạc, quyền thế quang vinh, sắc đẹp, tình yêu. Chưa bao giờ người ta thấy hạnh phúc thiêng liêng trong gia đình chói lọi rực rỡ như vậy.

Than ôi! Chẳng bao lâu, lửa thiêng đó chập chờn, lu mờ và tắt hẳn. Nã Phá Luân đã có thể làm cho nàng Eugénie thành một bà Hoàng hậu được, nhưng không có gì ở đời này, cả tình thương của ông, cả uy quyền của ông, có thể thay đổi nổi tính tình của người đàn bà đó.

Bà điên cuồng vì ghen tuông bị nghi ngờ nó giày vò bà, làm cho đời sống của ông không được mảy may tự do. Bà không kể gì tới mệnh lệnh của ông nữa, bà sồng sộc xông vào văn phòng của ông trong khi ông bề bộn việc nước; Trong lúc ông bàn kín việc quốc gia đại sự, bà cũng vào cho kỳ được mới nghe. Bà nhất định không bao giờ để cho ông ở một mình hết, luôn luôn sợ ông có ngoại tình.

Thường thường bà chạy lại nhà một bà chị để phàn nàn về chồng, trút hết tâm sự, khóc la, đe dọa. Có lắm lần bà đạp cửa vô thư viện của ông để chửi ông nữa. Cho nên, làm chủ mười hai tòa cung điện lộng lẫy mà Nã Phá Luân đệ tam không có lấy một cái tủ để trốn trong đó cho yên thân được.
Rồi sau xảy ra sao?

Đoạn văn bản này trích trong cuốn sách thú vị của E. A. Rheinhardt “Nã Phá Luân và Eugénie: Bi hài kịch của một đế chính” trả lời câu hỏi đó:
“Như vậy, rốt cuộc Nã Phá Luân có ngoại tình thiệt và ông luôn luôn lén lút ra khỏi cung, đội chiếc nón nỉ kéo sụp xuống che mắt, có độc một người hầu cận theo sau, để đi tới nơi hẹn hò với một giai nhân… Nếu không phải, như hồi còn hàn vi, để đi lang thang trong kinh đô, vơ vẩn dạo chơi trong những con đường mà các vị Hoàng đế chỉ được nghe tả trong sách…”.

Đó, cách cư xử của bà Eugénie đem tới kết quả như vậy đó. Đành rằng bà vẫn luôn luôn là Hoàng hậu nước Pháp. Đành rằng bà là người đẹp nhất thế giới. Nhưng khốn nạn thay, cả chức Hoàng hậu và sắc đẹp đó không đủ cứu vãn tình yêu bị ngạt trong không khí đầy chất độc, vì những cuộc bất hòa đó.

Phải, Eugénie cũng có thể kêu Trời như Job “Ghét của nào, Trời trao của đó”. Trời trao ư? Không đâu. Chính bà đã tự đem trút nó lên đầu bà vì cái máu ghen và những lời đay nghiến của bà. Đành hanh, nhiếc móc, giày vò, thứ khí giới tai hại nhất mà Diêm Vương đặt ra để tiêu diệt tình yêu. Khí giới đó chắc chắn có hiệu quả hơn hết cũng như nọc rắn hổ vậy, không ai thoát khỏi chết.

Bá tước phu nhân Tolstoi tìm thấy chân lý đó – nhưng trễ quá. Lúc lâm chung, bà thú với con gái bà rằng: “Chính má đã làm cho ba các con chết”. Con gái bà không biết trả lời ra sao, sa lệ. Vì biết rằng quả đúng như vậy: Ông Tolstoi chết vì bà đầu độc đời ông bằng những lời đay nghiến cay chua không ngớt, những cuộc xung khắc bất tận.

Mà cặp vợ chồng đó có đủ những điều kiện của hạnh phúc. Tolstoi là một văn sĩ nổi danh nhất hoàn cầu. Ngoài vinh quang đó ra, ông bà lại giàu sang, có địa vị quan trọng trong xã hội và có nhiều con. Không bao giờ một cuộc hôn nhân trổ bông dưới nền trời tươi sáng hơn nữa. Mới đầu, hạnh phúc của ông bà đầy đủ quá, hoàn toàn quá, đến nỗi có khi cả hai đều quỳ gối, cầu xin Thượng đế gìn giữ họ trong cảnh thần tiên đó.

Rồi thì một sự lạ lùng xảy ra. Lần lần Tolstoi biến đổi tính nết, thành một người khác hẳn. Ông xấu hổ về những danh tác ông đã viết, và bắt đầu từ lúc đó ông miệt mài viết những bài thuyết giáo về hòa bình và kêu gọi diệt trừ chiến tranh và khổ cực cho nhân loại.

Ông thú rằng hồi thiếu thời, ông đã mắc những tội lỗi không thể tưởng tượng được, cả tội giết người nữa và để chuộc tội, ông nhất định theo đúng giáo lý Cơ Đốc. Ông phân phát hết thảy những của cải của ông và thề sống trong cảnh nghèo. Ông làm lụng ngoài đồng, chặt cây, phơi cỏ, đóng lấy giày, quét lấy phòng, ăn trong đĩa bằng gỗ, ráng yêu cả những kẻ thù ông.
Đời của ông là một bi kịch, mà như vậy chỉ do hôn nhân của ông. Bà ưa xa hoa, ông thì ghét. Bà ham danh vọng, thích được tôn trọng, thích giao du, mà ông lại không màng gì tới những thú tầm phào đó. Bà đòi có nhiều vàng, sống một cuộc đời sang trọng, còn ông thì cho giàu có là một tội lỗi.
Trong nhiều năm, bà đay nghiến ông, thịnh nộ với ông, mạt sát ông, vì ông in sách cho không, không đòi quyền tác giả, mà bà thì không muốn bỏ những món tiền đó.

Khi ông chống lại thì bà phát cơn động kinh, lăn trên mặt đất, ngậm ở môi một ve thuốc phiện, thề sẽ tự tử hay dọa sẽ đâm đầu xuống giếng.
Có một chi tiết mà tôi cho là vô cùng thương tâm trong đời của ông bà. Như tôi đã nói, lúc mới cưới, cuộc tình duyên đó thiệt đẹp đẽ, vậy mà 48 năm sau, ông Tolstoi đến nỗi hễ trông thấy mặt bà là chịu không nổi… Có khi, buổi tối, bà già cô đơn đó thèm khát tình thương, lại quỳ bên ông và xin ông đọc cho nghe những đoạn dịu dàng cảm động, mà ông viết vô nhật ký để tặng bà, 50 năm trước.

Và khi ông đọc, sống lại những ngày tươi sáng rực rỡ, bây giờ đã tan như mây khói, cả hai đều rơi lệ. Than ôi! Thực trạng khác xa những mơ mộng thiếu thời một cách độc địa làm sao!

Sau cùng, năm 82 tuổi, Tolstoi không chịu nổi sự bất hòa ghê gớm trong gia đình nữa và một buổi tối, tháng 10 năm 1910, tuyết sa đầy trời ông trốn bà, đi xa, trong đêm tối và lạnh lẽo, không biết là đi về đâu.

Mười một ngày sau, ông đau phổi mà chết tại một nhà ga. Lời cầu xin cuối cùng của ông là đừng để ông thấy mặt vợ ông.

Đó, bà Tolstoi phải chuộc những cơn giận, lời dọa nạt, lời trách móc với cái giá đó.  Có lẽ độc giả tự nhủ rằng có nhiều chỗ bà phàn nàn cũng đáng. Phải. Nhưng vấn đề không phải ở đó. Vấn đề ở chỗ này: Bà phàn nàn có ích gì cho bà không? Hay là, trái lại, chỉ làm cho tình thế đã tệ hại còn tệ hại thêm nhiều?

Khi trễ quá rồi, bà mới tự thú: “Tôi tin chắc rằng hồi đó tôi điên”.

Bi kịch thảm thương nhất trong đời Lincoln cũng là cuộc hôn nhân của ông. Tôi nói rõ: Không phải là vụ ám sát ông mà là cuộc hôn nhân của ông. Khi tên Booth hạ sát ông bằng một viên đạn, ông không hay rằng người ta mới bắn ông, nhưng trong 23 năm trời, gần như mỗi ngày, ông được nếm “những trái cây chua chát của một duyên nợ đau khổ” như lời ông Herdon, người bạn ông đã nói. Thiệt vậy, trong gần một phần tư thế kỷ, bà Lincoln rút dần mạch sống của đời ông bằng cách khích bác, gây lộn, giày vò, đay nghiến ông.

Bà luôn luôn day dứt, đay nghiến rằng ông chẳng được vẻ gì: Nào là lưng thì gù, chân đi thì kéo lê như thằng mọi, dáng điệu cứng như que củi, gai mắt lạ lùng.

Bà nhại dáng đi của ông rồi nghiến răng hỏi ông sao không bắt chước dáng đi lịch sự của bà? Bà oán cả hai tai ông, vừa rộng vừa vểnh ra như tai voi. Bà chê ông mũi lệch, bà chê môi dưới ông trề ra, bà chê ông có vẻ ốm đói; Tay chân lớn quá mà đầu thì nhỏ quá! Hai ông bà trái ngược nhau về đủ mọi phương diện: Giáo dục, tính tình, thị hiếu. Chọi nhau hoài…

Một sử gia thông thạo nhất về đời sống Tổng thống Lincoln có viết: “Giọng nói the thé của bà Lincoln, ở ngoài đường cũng nghe thấy, và những cơn thịnh nộ của bà thì điếc tai hàng xóm. Mà không phải khi bà giận dữ, chỉ la hét mà thôi đâu, bà còn làm hung nữa, có nhiều chứng cớ không chối cãi được”.

Chẳng hạn, sau khi cưới, ông bà lại trọ nhà bà Farly, vợ góa một lương y, có nấu cơm tháng.

Một hôm lúc điểm tâm, ông Lincoln có một cử chỉ hoặc thốt một lời làm cho bà nổi giận. Không ai nhớ ông đã làm gì, nhưng người ta thấy bà Lincoln trong lúc cơn điên lên đến cực điểm, liệng một tách cà phê nóng vào mặt chồng, ngay lúc đông đủ các khách trọ khác.

Lincoln xấu hổ lắm, làm thinh ngồi trơ trên ghế trong khi bà chủ trọ đem chiếc khăn mặt ướt lại chùi má và quần áo ông.

Lòng ghen của bà Lincoln vô lý dữ tợn, và không thể tưởng tượng được, đến nỗi chỉ cần đọc những đoạn tả những cơn giận dữ, bi thảm làm cho ông mất mặt trước công chúng, phải, chỉ cần đọc những đoạn đó, 75 năm sau, cũng còn thấy kinh tởm rùng mình. Sau cùng, bà hóa điên. Người ta cho rằng tánh hạnh bà như vậy; Bởi vì bà mắc bệnh thần kinh. Không thể có lời nào nhân từ hơn để xét bà nữa.

Bây giờ ta hãy tự hỏi: Những cơn thịnh nộ đó, những lời đay nghiến đó, cái lối bù lu bù loa đó có cải thiện ông Lincoln chút nào không?

Một ngàn lần không. Nó chỉ giết hết tình cảm của ông đối với bà, nó làm cho ông suốt đời hối hận rằng đã cưới bà và chỉ muốn có mỗi một hành vi là đi khỏi nhà cho khuất mắt.

Tại tỉnh Springfield, là nơi gia đình Lincoln ở, có 11 ông luật sư. Vì đông quá, không thể kiếm ăn trong tỉnh đó được, họ phải đi ngựa từ tỉnh lỵ này qua tỉnh lỵ khác, theo sau ông tòa David Davis để cãi trong những lúc ông này xử án khắp trong miền. Nhưng trong khi bạn đồng nghiệp của ông Lincoln cứ cuối tuần lại trở về gia đình thì ông Lincoln không muốn về, vì rất kinh tởm sự ở gần bà vợ. Và trong ba tháng hè và ba tháng thu, ông ở xa biệt, không lai vãng gần miền Springfield.

Như vậy trong nhiều năm. Đời sống trong những quán trọ nhà quê đó không vui thú, cũng không đủ tiện nghi; Nhưng sống như vậy, ông còn thích hơn là về nhà để thấy bà Lincoln với những cơn tam bành, lục tặc của bà ấy.

Hành vi của bà Lincoln, Hoàng hậu Eugénie và Bá tước phu nhân Tolstoi có những kết quả như vậy. Chỉ mang lại bất hạnh cho gia đình và diệt hết nguồn ân ái mà mấy bà quý hóa nhất.

Sau khi bàn cãi trong 11 năm ở “Tòa chuyên xử các vụ lôi thôi trong gia đình ở Nữu Ước” và nghiên cứu cả ngàn vụ chồng bỏ nhà ra đi, bà luật sư Bessie Hamburger tuyên bố rằng đàn ông phải trốn vợ vì họ chán nghe vợ rầy rà, gây gổ. Như một văn sĩ đã nói: “Đàn bà đào huyệt chôn hạnh phúc gia đình bằng nanh vuốt của họ”.

Vậy, thưa quý bà, nếu quý bà muốn giữ sự vui vẻ hòa nhã trong gia đình, xin quý bà theo lời khuyên dưới đây: Đừng day dứt đay nghiến chồng!

Không phải chỉ các danh nhân mới khổ vì vợ. Những người bình thường, cũng gặp hoàn cảnh ngang trái, như hai nhân vật trong tập truyện ngắn nhan đề “Hương Tóc Cố Nhân” của Tràm Cà Mau, trích từ trang 59:

Nhiệm sở đầu tiên trong đời làm việc của tôi là một cơ sở quốc doanh, một khu kỹ nghệ, tiền vốn do các quốc gia Liên Âu viện trợ phát triển công nghiệp. Ông tổng giám đốc của tôi là một người Việt có quốc tịch Pháp. Trong sở, ông chỉ nói bằng tiếng Tây, giọng oang oang, oai phong lắm. Lời ông nói, mới nghe thì rất chi là thực dân phong kiến. Câu nói nào của ông cũng có kèm theo những lời vô cùng dao búa chết chóc: “Ông chém mầy. Ông giết mầy. Ông bắn mầy”. Nghe lối nói của ông, chúng tôi hết hồn, run. Vì đa số chúng tôi thường được giáo dục trong lời ăn tiếng nói, tránh những ngôn từ không đẹp, không dám dùng lời thô lổ sống sượng, làm mất lòng người nghe. Những vị giám đốc dưới quyền, sợ ông tổng giám đốc như sợ cọp. Cả ông thầy cũ của chúng tôi đang là nhân viên trong sở, cũng lấm la lấm lét trước mặt ông nầy. Thì chúng tôi là cái “thá” gì, có gan bằng trời hay sao mà không sợ? Tôi hỏi một anh lớn tuổi hơn trong sở, tại sao ông tổng giám đốc có thái độ hung hăng dữ dằn như thế. Anh bảo tôi đừng thèm để ý lời ông nói, miệng ông phun toàn lời độc địa, nhưng tâm ông không xấu. Có lẽ vì ông là kỹ sư  đào mỏ, tốt nghiệp ở Pháp, ra làm việc với phu mỏ bên Tây, tiếp xúc toàn cả dân “trời ơi đất hỡi” bên đó, cho nên ăn nói không được thanh nhả, quen thói mạnh miệng. Từ bé cho đến tuổi đó, tôi chưa gặp một người nào có vẻ hung hăng như ông nầy. Thế mà, trước mặt bà vợ đầm, ông xìu như cái mền rách. Ấp a ấp úng, nói cà lăm, bao nhiêu hùng khí trong ông đều tiêu tan cả. Một lần nọ, trong buổi họp, ông đang ba hoa nói trời, nói đất, đang doạ dẫm chuyện nầy chuyện kia, thì vị bí thư của ông hé cửa phòng họp chạy vào, thầm thì với ông câu gì đó. Mặt ông chợt xám ngắt như chì, ông run lên thấy rõ, lính quýnh chưa kịp hành động gì, thì nghe tiếng la oang oang bên ngoài bằng tiếng Tây, giọng đầm:

“Thằng chó đẻ, thằng mọi rợ, thằng khốn nạn, hèn mạt, đê tiện, vô liêm sỉ,  bà xé xác mầy ra. Mầy trốn ở đâu bà cũng lôi đầu mày ra, bà trị cho chừa.”

          Tiếng rầm rầm bên ngoài phòng. Ông tổng giám đốc của tôi nói giọng run run khẩn cấp:

          “Chốt cửa lại. Chốt cửa lại”

          Một anh kỹ sư chạy mau về phía cửa, kê nghiêng cái ghế vào nắm tay cầm, gia cố cho chắc thêm. Bên ngoài , bà đầm đang hành hạ cánh cửa, đấm đá, dộng, đập. Tiếng ầm ầm như bọn cướp phá nhà. Bên trong, ông tổng giám đốc của tôi mặt xanh như tàu lá, sợ đến mồ hôi chảy thành giòng.  Bây giờ thì tất cả cái vẻ oai phong hống hách thường ngày của ông đều tan biến đâu cả. Ông lắp bắp :

          “Kêu cảnh sát, kêu cảnh sát, kêu.. kêu…” 

          Có lẽ ông giả vờ nói cho đỡ ngượng, bớt xấu hổ, chứ ai mà cả gan dám kêu cảnh sát vào bắt vợ ông. Chúng tôi án binh bất động, ngồi thừ ra, mặt anh nào cũng sượng sần, không dám cười, nói gì cả. Bên ngoài, tiếng thoá mạ, xỉ vả của bà đầm nghe léo nhéo, ồn ào liên tục. Đấm đá cánh cửa một hồi lâu không hiệu quả, mà bên trong im khe. Bà đầm rùng rùng chạy xuống lầu, ra sân đậu xe, khiêng một tảng đá lớn, bà dộng mạnh vào tấm kiếng trước của chiếc công xa sang trọng láng bóng mà ông thường sử dụng. Ầm một tiếng, tấm kiếng vở tan tành thành từng mãnh vụn nhỏ như hạt bắp khô. Tảng đá chui tọt vào trong lòng xe.  Anh tài xế đứng gần đó, ôm đầu la, tiếng thất thanh : “Ối trời ơi.”. Bà đầm đứng chống nạnh kêu gào, chửi bới, đá ầm ầm vào xe thêm một hồi lâu nữa, mới hậm hực lửng thửng bỏ đi. Ông tổng giám đốc tuyên bố buổi họp tạm chấm dứt. Có lẽ, ông không còn lòng dạ nào mà tiếp tục phiên họp. 

          Sau nầy, tôi nghe anh tài xế riêng của ông kể thêm rằng, khi bà con của ông tổng giám đốc có kỵ giỗ, đem mâm thức ăn đến biếu. Bà đầm nầy đứng ngay cửa, cầm cả mâm thức ăn liệng ra sân. Choang một tiếng, cả mâm đồng và chén dĩa bể loảng xoảng.  Bà đầm gào lên  rằng: “ Không có bà con chi với ai cả. Không ai ăn các thứ dơ bẩn nầy.”

          Ông tổng giám đốc đầy uy quyền, hống hách của tôi, tưởng đâu trên đầu không còn có ai, thế mà cũng chịu thua  bà vợ, thua đậm, thua hoàn toàn, thua không cách gì gỡ được. Lâu lâu, bà vào sở, làm náo loạn vài ba tiếng rồi ra về. Bị vợ đì đến thế, nhưng ông không hổ thẹn với ai cả. Bởi ông sợ vợ ông, chứ có sợ vợ người khác đâu . Cái hung hăng của ông đối với cấp dưới quyền vẫn không giảm đi chút nào. 

          Ông Tư là người chỉ huy trực tiếp của tôi, có dáng vẻ hiền lành, đứng đắn, ăn nói nhỏ nhẹ. Mỗi sáng bà vợ đi theo vào sở, ngồi trước mặt ông để canh chừng. Mỗi khi điện thoại reo, bà cầm lên nghe trước, hỏi xem ai bên kia dây, rồi mới trao cho ông. Những khi nghe giọng đàn bà bên kia đường dây, thì bà ghé tai sát vào ống nghe, để biết hai người đang nói chuyện gì. Bà ngồi từ sáng sớm đến chiều tối cùng đi, cùng về với ông. Đứa con còn nhỏ bà giao cho vú em săn sóc. Ông như một tù nhân bị giam lỏng. Mỗi khi có chuyện cần, ông đi qua phòng khác, lầu khác, thì bà lẽo đẽo đi theo như một cái đuôi. Bà đứng đợi ông nói chuyện xong, rồi dẫn độ ông về lại văn phòng. Những lần họp chung trong phòng ông tổng giám đốc, bà đứng canh trước cửa.  Thế cũng chưa đủ. Lâu lâu bà dùng điện thoại của phòng khác, kêu vào, và xin được nói chuyện với ông Tư. Nhiều khi tôi nghe ông Tư càu nhàu trên điện thoại: “ Bà làm phiền hoài. Người ta đang họp. Khổ quá, như thế nầy thì làm ăn chi được?” Có lẽ ông tổng giám đốc cũng nghe, nghe rõ, và thông cảm cho ông Tư hơn ai cả, vì cả hai ông đều chung hội chung thuyền, thuộc loại râu quặp vào bên trong, khổ vì vợ.

          Một lần tôi hỏi bà Tư:

          “Bác đứng canh bên ngoài cửa, ai vào ra bác đều biết. Có phải họp lâu, bác nhớ bác trai quá, nên kêu điện thoại để nghe tiếng cho đỡ nhớ phải không?”

          Bà xí một tiếng dài, nói mà hai hàm răng nghiến lại:

          “Nhớ cái khỉ. Tên già dịch đó, nhớ làm chi cho bận tâm. Tôi kêu điện thoại, vì sợ lão tụt ống máng xuống, trốn đi làm chuyện bất chính.”

          Tôi phì cười nói:

          “Ở trên lầu ba cao thế nầy, ai mà đủ can đảm tuột ống máng xuống. Té một cái là vỡ đầu chết ngắt. Mà cả sở đông đảo vào ra, thể diện đâu mà ông giám đốc Tư lại tụt ống máng giữa ban ngày ban mặt? Giả dụ như bác Tư thành công trong việc tuột ống máng đi nữa, làm sao mà leo trở lại được. Có là siêu nhân mang cánh bay chăng. Giả như ông ta xuống được, về lại được, thì thời gian cấp bách đó, đâu có làm được cái trò khỉ gì mà bác lo?”

          “Tôi vẫn cứ lo như thường. Trên đời nầy, chuyện gì vô lý nhất, cũng vẫn có thể xẩy ra. Muốn là được. Anh có nghe câu nói đó chăng?”

          Tôi thấy tội nghiệp cho bà, và tội cho cả ông Tư rất hiền lành. Tôi nắm tay bà, thân mật nói đùa:

          “Tôi cũng rất thù ghét cái bọn đàn ông trăng hoa, gạt vợ dối con. Tôi đứng về phe bác. Tôi sẽ canh ông Tư cho bác. Khi nào có họp, mà ông Tư lẻn đến cửa sổ, có vẻ muốn tuột máng xối xuống lầu, thì tôi sẽ chạy ra hô hoán, thông báo cho bác ngay. Bác yên chí lớn.”

          “Thật không? Anh không sợ ‘thằng chả’ trù ếm sao?”

          “Sợ cái quái gì? Không làm sở nầy, thì tôi đi làm sở khác. Việc chi sợ ai. Tôi chỉ sợ…chỉ sợ …”

          Tôi định nói chỉ sợ dàn bà con gái mà thôi, nhưng kịp giữ miệng không nói ra. Bà mừng rỡ, mắt sáng lên và nói:

          “Thật nghe! Anh đứng về phe tôi. Nếu thật, thì anh thề độc đi”

          “Tôi sợ chi mà không thề độc?”

          “Anh tử tế quá. Tôi sẽ giới thiệu cô em gái út của tôi cho anh. Đẹp, giỏi không ai bằng.”

          Nghe bà đòi giới thiệu em gái, mà tôi sợ tái mặt, lạnh cả người.

          Mấy lần, tôi thấy ông Tư đi làm, mà không có bà đi theo. Chưa kịp hỏi thăm xã giao rằng bà vợ của ông có được mạnh khoẻ không, thì nghe tiếng chân bà chạy xồng xộc bên ngoài, phóng vào phòng, áo quần xốc xếch, mặt mày hớt hải, mắt nhìn lơ láo. Bà hỏi anh thư ký riêng của ông Tư:

          “Nãy giờ ông ấy có đi đâu không?”

          “Thưa bà không.”

          “Có thật không? Hay là anh nói dối.”

          Bà bước mau qua phòng tôi ngồi, hỏi tôi có chắc ông Tư không đi đâu từ sáng đến giờ. Tôi xác nhận, và hỏi bà:

          “Sáng nay bác ngủ trể hay sao mà không đi chung với bác trai?”

          Bà ghé sát, tai thì thầm:

          “Tôi vờ nói mệt, sáng nay không đi theo được. Khi ổng vừa lái xe ra đi, tôi đang mang đồ ngủ, vội vã kêu taxi bảo rượt theo đến đây. Thấy xe của giả đậu trong sân, chắc chắn là không đi đâu khác, tôi chạy gấp về, thay mau áo quần, và kêu xe đến ngay đây.  Tôi sợ trong thời gian đó, giả trốn đi đâu khác.”

          Một lần, anh thư ký riêng bị ông Tư la rầy, anh giận, chờ dịp trả thù.  Lần đó, bà Tư cũng giả mệt, đến sở sau. Bà cũng hớt hải hỏi anh thư ký. Anh bảo rằng, ông có đi đâu đó một chốc. Quả thật ông có qua lầu khác bàn chuyện sở với đồng nghiệp. Thế là bà Tư nổi cơn tam bành lên, kêu gào, khóc lóc, la hét, chửi ông Tư bằng những lời tục tỉu. Từ chuyện nhỏ, xé thành lớn.

          Không biết ông Tư nỗi đoá, doạ dẫm bà thế nào, mà bà chạy ra đường khóc lóc, la hét. Bà nạy đá, cục lớn bằng nắm tay, pháo kích vào sở ào ào. Mấy ông lao công phải chạy ra ngăn cản, và doạ bà. Bà không sợ. Bà thét to từ ngoài vào sở rằng, ông Tư mang bằng kỹ sư giả từ Pháp về, dối gạt chính quyền. Bà yêu cầu bỏ tù ông Tư, vì ông có liên hệ đến bọn buôn hàng quốc cấm. Bà thoá mạ ông chồng đủ các thứ ngôn ngữ hàng tôm hàng cá, bình dân nhất. Bao nhiêu hư hại do bà pháo kích, ông Tư phải trả đủ, trừ vào lương.

          Ông Tư giận, sa thải anh thư ký riêng. Rồi ông bà cũng làm hoà nhau. Nhiều hôm tôi thấy bà mệt mỏi, ngủ gật, mặt mày phờ phạc. Tôi hỏi xã giao:

          “Bác có vẻ mệt đấy. Về nhà ngủ một giấc cho sướng. Để tôi canh ông Tư cho.”

          “Không được đâu. Cả đêm tôi không dám ngủ say, sợ giả lén dậy đi đâu. Phải nắm chặt tay giả cho chắc.”

          “Tội nghiệp bác. Chắc vì thương bác trai quá, nên ghen và khổ như vậy.”  

          Bà Tư nghiến răng nói như gào:

          “Thương! Thương cái xương không còn. Tôi ghét cay ghét đắng, hận thù thằng chả đến tận tim gan. Kiếp trước tôi mang nợ thằng chả, nên kiếp nầy khổ như thế đấy.”

          “Bác trai có làm điều gì bậy bạ, tổn thương đến tình nghĩa vợ chồng không?”

           “Phải chờ cho đến khi làm việc bậy bạ sao?”

          Tôi nói đùa:

          “Bác muốn ngủ yên mỗi đêm, thì cứ mua một sợi xích, khoá chân bác trai vào chân giường, cất kỹ chìa khoá.  Thế là bác tha hồ mà ngáy.”

          Bà Tư cười. Mấy hôm sau, ông Tư vào sở la lối om sòm, xổ giọng mầy tao với tôi. Tôi không ngờ bà Tư làm thật, muốn xích ông Tư vào giường như xích nô lệ. Ông không chịu, và hai vợ chồng gây gổ nhau. Tôi biết lỗi. Xin lỗi ông Tư nhiều lần ông mới tạm nguôi.

          Tôi tưởng bà Tư nguyên là thôn nữ, thất học ngu dốt nên ghen tuông bậy bạ. Ghen tuông một cách vô lý, dốt nát. Nhưng một lần có phái đoàn viện trợ đa quốc gia, tới thăm khu kỹ nghệ, để xem viện trợ của họ có được dùng hợp lý hay không. Gồm đại diện của Pháp, Anh, Đức, Ý và Tây Ban Nha. Trong buổi tiếp tân, bà Tư nói tiếng Đức, tiếng Ý, và tiếng Anh theo giọng Luân Đôn, nói rôm rốp như nói tiếng mẹ đẻ. Bà còn kể cả chuyện khôi hài, làm các ông cười vui nhộn. Sau đó, tôi mới biết bà được gởi đi du học bên Pháp từ thuở nhỏ. Chỉ học chuyên về sinh ngữ. Bà có khiếu, nói song suốt tám ngôn ngữ khác nhau.

Thưa các bạn đọc, bạn có thấy sung sướng khi so sánh vợ nhà với quý phu nhân nầy hay không? Thì ra, vợ mình cũng còn dễ thương quá, chưa đến nỗi nào./.

Tràm Cà Mau

From: Tu-Phung

Lòng trung thực đã ‘cứu rỗi’ hai người đàn ông

Lòng trung thực đã ‘cứu rỗi’ hai người đàn ông

Một người đàn ông đến ngân hàng để rút tiền tiết kiệm. Khi đếm lại số tiền nhận được, anh ta hơi sững lại. Thay vì 120.000 rupee (đơn vị tiền tệ của Ấn Độ, tương đương khoảng 36 triệu VNĐ) và trên giấy tờ cũng đã ghi nhận con số này, nhưng có lẽ giao dịch viên đã nhầm nên đã đưa cho anh ta tới 140.000 rupee.

Thế nhưng, khi người đàn ông liếc nhìn nam giao dịch viên thì thấy người này không có biểu hiện gì là đã nhận ra sai sót, còn lịch sự chào anh. Thấy vậy, người đàn ông đã lẳng lặng cho tiền vào túi, rời đi trong im lặng.

Vừa đi, anh ta vừa nghĩ, cái ngân hàng này lớn như vậy, mất có 20.000 rupee thì cũng chẳng ảnh hưởng gì tới hoạt động của họ. Mà có phải do anh cố tình đâu. Đây là sai sót của họ mà, họ chẳng có lý do gì để kiện tụng hay làm khó anh cả. Từ trước đến nay, anh cũng thi thoảng trả nhầm tiền cho người khác, nhưng có ai đến tìm anh để trả lại đâu. Vì sao anh phải trả lại tiền cho ngân hàng. Cứ như thế, người đàn ông đã nghĩ ra đủ thứ lý do cho việc “ỉm” số tiền trả thừa của ngân hàng.

Song càng về gần đến nhà, người đàn ông lại nhớ đến nụ cười lịch sự của giao dịch viên. Anh ta rất tử tế, hòa nhã và còn cảm ơn lúc anh rời đi nữa mà chẳng hề hay biết chuyện gì đang xảy ra. Không biết anh ta có phải đền số tiền này cho ngân hàng không nhỉ?

Người đàn ông bắt đầu cảm thấy hơi có lỗi. Hai mươi ngàn rupee không phải số tiền quá lớn, nhưng cũng chẳng phải số tiền nhỏ. Nó có thể là thu nhập một tháng của bất kỳ người dân nào. Chẳng phải anh đang lợi dụng sai lầm của người khác ư?

Vậy là người đàn ông bắt đầu bồn chồn, mồ hôi túa ra khi đấu tranh tư tưởng có nên giữ số tiền đó hay không. Anh cảm thấy hơi khó thở. Rồi cuối cùng, anh nhìn đồng hồ, chỉ còn 1 tiếng nữa là ngân hàng đóng cửa và quyết định đem 20.000 rupee quay lại. Chỉ đến lúc này, sự căng thẳng trong anh mới bắt đầu giảm đi.

Khi nhận xong số tiền thừa từ người đàn ông, người giao dịch viên mới bắt đầu thở phào và cảm ơn anh rối rít. Anh ta lấy 1000 rupee từ trong túi của mình để cảm ơn người đàn ông và nói: “Cảm ơn anh rất nhiều. Hôm nay anh đã giúp tôi 1 việc lớn đấy. Tôi đang lo sẽ phải bù tiền lương của mình vào chỗ tiền bị nhầm lẫn. Thật hiếm có người nào trung thực như anh. Anh hãy nhận số tiền ít ỏi này của tôi thay cho lời cảm ơn và mua bánh kẹo cho các con của anh nhé”.

Người đàn ông nghe những lời nói này, vừa xúc động vừa lại có chút hổ thẹn. Chẳng phải ban đầu, anh đã định ỉm đi hay sao? May mắn là cuối cùng, lương tâm của anh đã chiến thắng.

“Thực ra tôi mới là người phải cảm ơn anh đấy. Lẽ ra tôi mới là người phải tặng anh số tiền này. Vì thế, tôi xin phép không nhận món quà của anh”, người đàn ông từ tốn đáp.
Giao dịch viên này lấy làm lạ, mới hỏi lại vị khách tại sao lại nói thế.

“Hai mươi ngàn rupee anh trao nhầm đã cho tôi cơ hội được tự đánh giá bản thân mình. Nếu không có sự nhầm lẫn của anh, tôi sẽ không biết việc chiến đấu với lòng tham của bản thân lại khó khăn đến thế. Tôi đã mất hàng giờ để suy nghĩ, để đấu tranh tư tưởng, và may mắn là, cuối cùng tôi đã làm đúng. Tôi đã vượt qua được sự tham lam, ích kỷ để chiến thắng và giữ được sự trung thực. Đây đúng là 1 cơ hội hiếm có. Vì thế, người tôi muốn cảm ơn là anh”, người đàn ông thú nhận.

Sưu tầm.

From: Anh Dang & KimBang Nguyen

NGHỀ ĂN CẮP CỦA NGƯỜI VIỆT Ở ĐỨC – (HẬU QUẢ TRĂM NĂM TRỒNG NGƯỜI)

Tác giả: Phạm Thị Hoài

– Có lần tôi đi một phiên tòa xử nhanh hai thanh niên Việt Nam ăn trộm trong cửa hàng. Một chàng diện Nike Air Max chói chang, một chàng quần bò Dolce Gabbana rất xước. Cả hai đều mới sang Đức hai tuần trước, đơn xin tị nạn còn chưa nộp. Họ ăn trộm phụ kiện, nước hoa và mỹ phẩm trị giá gần 1000 Euro, trong một cửa hàng mà họ hiển nhiên là những vật thể lạ.
Xã hội tư bản tân tiến một thế kỷ rưỡi sau Marx đã xóa đi nhiều ranh giới giữa các giai cấp đối kháng, song lại mở rộng khoảng cách giữa các đẳng cấp.

Hai thanh niên Nghệ An này chỉ cần đặt một nửa bàn chân vào cửa hàng đó là toàn hộ hệ thống báo động của nó đã đỏ rực.
Hình phạt cho mỗi chàng là một cuối tuần quản thúc, tức chiều tối thứ Sáu khăn gói đến Nhà Quản Thúc Thanh Thiếu Niên ở, chiều tối Chủ Nhật được về.

Đại diện tư pháp cho thanh thiếu niên cằn nhằn rằng thế hơi nặng, phạt lao động công ích là đủ rồi. Công tố viên nhún vai. Thẩm phán thở dài, biết rằng sớm muộn cũng gặp lại họ, nhiều phần sớm hơn phần muộn.
Người Việt ở Đức hoàn toàn vắng mặt trong những tội phạm cỡ lớn như khủng bố, đe dọa an ninh quốc gia; rất khiêm tốn trong những tội phạm tài chính và công nghệ cao; khá thứ yếu trong những lĩnh vực như ma túy, mại dâm…; quả thật không thể sánh vai các bạn thuộc khối Đông Âu cũ do Nga dẫn đầu; nhưng lừng danh trước hết với mafia thuốc lá lậu và ngay sau đó có thứ hạng đáng kể là những người ăn trộm, có lẽ chỉ đứng sau Rumani.
Trong ba năm gần đây, mỗi năm cộng đồng 84.000 người Việt ở Đức phạm khoảng 5000 vụ hình sự, trong đó trên dưới 1000 vụ là tội ăn cắp.
Để so sánh: Cộng đồng Trung Quốc 110.000 người, mỗi năm trên dưới 200 vụ ăn cắp.

Trừ tranh tượng nghệ thuật và bí mật công nghiệp, nói chung không có thứ gì mà người Việt ở đây không thể và không nỡ ăn cắp, từ mèo nhà hàng xóm, xe nôi, xe đạp, hộ chiếu, thẻ tín dụng, điện, nước, biển số, đến nhân thân, vịt trời…; làm nấm ăn cắp nấm, làm xúc xích ăn cắp xúc xích, làm quán ăn cắp tất cả những gì không còn nguyên niêm phong; song phổ biến nhất là ăn cắp trong cửa hàng.

Có thời, đồ ăn cắp được bày ngang nhiên ở nhiều góc Trung Tâm Thương Mại Đồng Xuân, khu chợ Việt Nam nổi tiếng tại quận Lichtenberg.
Đồng bào xúm xít mua đồ tốt giá rẻ, từ hộp thuốc đánh răng, kem dưỡng da, rượu, cà-phê đến túi xách, áo da, quần bò hàng hiệu.

Sự nghiệp bán thuốc lá lậu đã góp phần xây dựng cộng đồng người Việt ở miền Đông nước Đức trong 25 năm qua, song thời hoàng kim của nó đã là dĩ vãng, trong khi ăn cắp thì tương lai còn khá vững bền.

Ta hãy nhớ lại: Ngày 10/5/1996, cuộc chiến giành quyền kiểm soát thị trường thuốc lá lậu ở Berlin giữa các băng đảng Việt Nam – mở màn ngày 6/12/1992 với một xác người Việt ở một bãi đậu xe tại quận Marzahn, Đông Berlin – đạt tới đỉnh cao ghê rợn: Sáu người Việt bị hành hình trong một căn chung cư cũng ở quận Marzahn, tất cả tay đều bị trói, mỗi người lĩnh chính xác hai viên đạn của băng Ngọc Thiện bắn vào đầu.
Bốn ngày sau, để “tháng Năm đẫm máu” đi vào lịch sử tội phạm của thành phố này, băng Quảng Bình “bị hại” đáp lễ bằng ba xác người Việt vứt ở đường tàu quận Lichtenberg.

Mafia Việt Nam một thuở, nghe thì kinh, đếm xác nạn nhân càng kinh, song diện mạo thật thì thô sơ đến bất ngờ. Một số lính, được trìu mến hay trọng thị hay e sợ hay tất cả trộn lại – chỉ trừ không giễu nhại – gọi là “bộ đội”, quân chủ lực của băng Quảng Bình, sa vào tay cảnh sát Berlin không phải như trong phim hình sự, sau những pha săn lùng, đột nhập nghẹt thở. Mà đơn giản là ngớ ngẩn.

Sau một phiên tòa xử tội ăn trộm một chiếc sơ-mi, một bộ đồ tắm và một chiếc quần short trị giá gần 500 DM trong cửa hàng xa xỉ KaDeWe, bị cáo là một phụ nữ Việt nhất định không chịu rời khỏi phòng xét xử.
Cô run rẩy bảo “bộ đội” đang chờ trước cửa tòa án, “bộ đội” sẽ bắt cóc cô để tra khảo, dù cô không khai gì trước tòa.

Một trong những “bộ đội” ấy, súng giắt cạp quần ngẩn ngơ, gần như lao thẳng vào tay cảnh sát, và ngay trong ngày hôm ấy sào huyệt của Quảng Bình bị lật tung, một trong hai khẩu Kalashnikov thu được ở đó chính là vũ khí đoạt mạng ba người ở đường tàu. Vài hôm sau, một trong những “bộ đội” đang bị truy nã cũng dính lưới, không phải trong khi chôn sống một ai đó ngoài rừng, mà trong khi ăn trộm tại một cửa hàng ở quận Lichtenberg.
Ăn cắp vậy là đã góp phần thanh toán mafia thuốc lá, chuyện của người Việt thường trớ trêu như thế.

Không bao giờ nghề buôn lậu thuốc lá của người Việt ở đây còn đạt tới quy mô huy hoàng của những năm chín mươi đó nữa.
Đức không còn là điểm đến hấp dẫn nhất. Chính ở thời điểm đó, Anh quốc nổi lên, với lợi nhuận kếch xù từ nghề trồng cỏ.

Người Việt nghèo nhưng nhiều tham vọng. Họ muốn giàu, nhưng phải là giàu một cục, thật nhanh, thật xổi.

Chắt chiu những đồng tiền lẻ để khấm khá dần lên từng đời như người Tàu ở nước ngoài thì chẳng bõ.

Tuy một bước đổi đời bằng nghề cầm nhầm thì khó, song ăn trộm ở đây một ngày vẫn hơn đi cày ở nhà cả tháng.

Và khác xa huyền thoại, đồng bào tôi – nhất là thế hệ hai chàng Nike và Dolce Gabbana – còn thiếu cần cù hơn cả thiếu kiên nhẫn.

Ăn trộm là nghề nhàn, dạo phố, tia hàng, đi làm như đi chơi mà thu nhập không thua đứng đường bán thuốc lá từ sáng sớm đến tối mịt, tức mỗi tháng trên dưới một ngàn Euro, chưa kể tiền nhà, tiền bảo hiểm y tế và khoảng 350 Euro trợ cấp tị nạn, tất cả do nhà nước trả.

Môi trường lại vô tận, nhân loại còn thì siêu thị còn, siêu thị còn thì người Việt còn. Và gần như không mất vốn. Một cái kìm cắt tem từ. Một cái túi lót lớp giấy bạc để tránh báo động khi qua cổng từ, gần đây người Việt giàu sáng kiến còn khâu luôn lớp giấy bạc vào mặt trong áo khoác.

Và không cần qua đào tạo. Hôm trước theo đàn anh đàn chị đi tia, hôm sau tự mình đã ngon lành khánh thành công ty một thành viên hai ngón.
Và ít mạo hiểm.

Khung hình phạt cao nhất là năm năm, nhưng có ăn cắp cả Nữ thần Chiến thắng lẫn bốn con ngựa trên cổng thành Brandenburger Tor cũng chưa chắc được tuyên bản án ấy.

Xã hội càng yên thì luật pháp càng hiền. Trong thực tế, không mấy người Việt phải ngồi nhiều hơn vài ba tháng. Phần lớn chỉ phạt tiền, mỗi tháng trả dần vài ba chục, án tù thường chuyển thành chế độ hưởng án treo.
Thanh thiếu niên chưa tròn hai mốt tuổi thường chỉ bị cảnh cáo, phạt lao động công ích, tức dọn dẹp lau chùi ngay trong trại, hay quản thúc cuối tuần.

Có lần tôi suýt phì cười vì bản án dành cho một thanh niên Việt Nam ăn cắp 17 gói cà-phê: bắt về trại đi học tiếng Đức!

Thế là hôm ấy khi ra cửa, tôi bảo, hai cháu chịu khó đi học tiếng Đức nhé, đừng ăn trộm nữa. Chàng Dolce Gabbana đáp, bọn Phát Xít, nó xử oan, cháu có cầm đồ đâu. Cầm đồ ở đây không phải là cầm đồ mà là cầm đồ. Tôi đã tưởng mình khá thông thạo ngôn ngữ của đồng bào ở Berlin, song có lần hỏi một chị làm nghề gì và nghe câu trả lời, em nhặt tay nhặt chân, tôi vẫn hơi sững sờ.

Ám ảnh của chiến tranh mấy chục năm trước vụt hiện về: Đó là một buổi sáng, từ hầm trú ẩn nơi sơ tán chui lên, đứa trẻ khi ấy là tôi cùng người lớn và những đứa trẻ khác lặng lẽ đi nhặt những mẩu chân tay vô danh, có cái là nguyên một tảng ở khúc hông và bẹn, văng rải rác gần một hố bom mới toanh. Nhưng ở Berlin, người phụ nữ Việt Nam nọ là chủ một tiệm làm móng, việc thường trực là lấy khóe, tỉa da thừa ở móng tay móng chân.
Tôi hỏi, cái gì cầm đồ?

Chàng Nike nhanh nhẹn giải thích, đồ thì cháu cầm, thằng này – hất hàm về phía Dolce Gabbana – chỉ bóc tem thôi. Nhưng cháu đã ra đến cửa đâu. Luật pháp đéo gì, bất công! Tôi bảo, bóc tem với cầm đồ thì đúng là định ăn trộm rồi, oan với ai nữa.

Dolce Gabbana trừng mắt: Cô bênh bọn Đức lợn hử? Người Việt thì phải giúp người Việt chứ! Cô có phải người Việt không hử? Vâng, tôi đúng là người Việt, sống ở Đức. Tháng trước, ở Trung Tâm Thương Mại Đồng Xuân, trong lễ hội “40 năm hội nhập và phát triển” của người Việt ở Đức, ông Nguyễn Thiện Nhân, tốt nghiệp đại học và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đức, thay mặt chính phủ Việt Nam cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của chính phủ và nhân dân Đức, rồi kết thúc bài phát biểu bằng tiếng Đức của mình với lời gửi gắm đến cộng đồng người Việt đang sống ở đây: Đồng bào hãy chứng tỏ lòng biết ơn nước Đức bằng cách tôn trọng luật pháp Đức.

Hóa ra là chuyện ơn huệ. Vậy việc hai khách du lịch Việt Nam vừa ăn trộm ở Zürich thật không đáng để làm ồn. Họ vừa không có gì mang ơn Thụy Sĩ để phải tôn trọng luật pháp nước này, vừa quá vặt vãnh so với hệ thống công ty hai ngón, chẳng hạn của người Việt ở Đức

Chợ Đồng Xuân bên đông Đức Berlin, là cái ổ của việt cộng đi lậu qua di trú, chúng nó trở thành động đỉ, buôn bạch phiến, du côn, du đảng, ma cô, mafia…

Chúng nó bắt cóc chó nhà người Đức về thui sống để ăn, chúng cột mõm con chó để không la được, chúng cột 4 chân để không giãy được, chúng treo lên quạt máy trần nhà nơi chúng được tạm cư gọi là nhà xã hội cho người di dân lậu chưa hợp lệ giấy tờ.

Chúng dùng lửa bình ga khè như để sửa nóc nhà đê thui từng phần con chó đang còn sống, nướng chín tái và xẽo ra ăn tại chổ, cảnh sát Đức được dân Đức báo có khói cháy khét, nên xông vào bắt mấy chục đứa toàn dân Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Phòng và Hải Dương.

Chưa hết, bọn gái thì qua làm đỉ, chơi xã láng cho mang bầu để đẻ là được ở lại do sanh con trên nước Đức, vậy là lợi dụng sơ hở của luật pháp, chơi tới bến, không cần biết cha và cứ vậy mà ôm và nách con ngồi lê đôi mách, ăn tiền EURO trợ cấp!

Chưa kể, bọn chúng bán thuốc lắc, bạch phiến, cần sa, cỏ… Bị cảnh sát phát hiện rượt xét và bắt, chúng giết luôn cảnh sát… Đến 3 lần, mỗi lần 2 người, tổng cộng 6 cảnh sát mất tích, sau này tìm ra được là cảnh sát bị đem vào rừng Đen chôn sau khi bị giết, chúng bán luôn vũ khí súng lậu…

Tác giả: Phạm Thị Hoài

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen


 

RỒI SẼ NÊN THẾ NÀO? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

“Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào? Vì quả thực, bàn tay Chúa đã ở với nó!”.

Suy niệm “Năm chiếc bánh và hai con cá”, Philip Clarke Brewer viết, “Chúa sử dụng những gì bạn có, để lấp đầy một nhu cầu bạn không bao giờ có thể lấp đầy; sử dụng nơi bạn ở, để đưa bạn đến một nơi bạn
không bao giờ có thể đến; sử dụng những gì bạn làm, để hoàn tất những gì bạn không bao giờ có thể làm; và Ngài sử dụng bạn, dù bạn là ai, để trở thành một ai đó mà bạn không bao giờ có thể trở thành, và không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’”; đó cũng là những gì họ hàng của Zacharia – Êlisabeth tự hỏi về Gioan! Tin Mừng ngày lễ sinh nhật Vị Tiền Hô của Chúa tường thuật cảnh nhộn nhịp dưới mái nhà của ông bà khi xóm diềng đến chúc mừng họ.

Một em bé chào đời là cách Thiên Chúa nói với thế giới rằng, “Nó sẽ tiếp tục!”; ngày sinh của một thơ nhi phản ánh vẻ đẹp và sự huyền nhiệm vô hạn của Thiên Chúa, Đấng nói rằng, ‘Đã có những phóng chiếu của Ta trên hình nó!’. Cha mẹ của em bé có thể coi đó như một nhầm lẫn, sai sót; nhưng Thiên Chúa thì không! Một đôi vợ chồng hiếm muộn mong mỏi nó; Thiên Chúa khát khao nó! Với bất cứ một sinh linh nào, chúng ta đều tin như thế, phương chi với Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Chuộc. Thánh Tôma Aquinô viết, “Gioan đã được thánh hoá từ trong dạ mẹ”; còn Luca, “Em đã đầy Thánh Thần ngay trong lòng mẹ!”.

Với bài đọc thứ nhất, Isaia chia sẻ một trải nghiệm tương tự, “Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ”. Được tạo thành cách lạ lùng; Isaia được sai đi còn lạ lùng hơn, “Này, Ta làm cho con nên ánh sáng các dân!”. Kỳ diệu thay, những lời này ứng nghiệm trên Chúa Giêsu Kitô, Ánh Sáng Muôn Dân. Phaolô cũng xác nhận điều này qua bài đọc hai, “Thiên Chúa ban cho Israel Đức Giêsu làm Đấng Cứu Độ, Đấng Gioan tiên báo”. Trước huyền nhiệm của việc tạo thành và sai đi này, dẫu không biết ‘rồi sẽ nên thế nào’, Thánh Vịnh đáp ca cũng trào tràn tâm tình tạ ơn, “Con ca ngợi Chúa, vì con được tạo thành cách lạ lùng!”.

Anh Chị em,

“Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào?”. Bàn tay Chúa ở với Gioan, Ngài can thiệp để Gioan sinh ra trong một hoàn cảnh đặc biệt cho một sứ mệnh đặc biệt. Nhờ ơn Chúa, Gioan chu toàn sứ mệnh cách nghiêm túc và hoàn tất sứ vụ cách vẻ vang! Cũng thế, sự xuất hiện của bạn và tôi , ‘lúc này và ở đây’ không phải là ngẫu nhiên, nhưng phát xuất từ ý định ngàn đời của Thiên Chúa! Ân sủng và tình thương Ngài ‘không rời chúng ta nửa bước’. Ngài kỳ vọng mỗi người sẽ trở thành ‘một ai đó’ mà ngay chúng ta cũng ‘không biết rồi sẽ nên thế nào!’. Thú vị thay, ‘một ai đó’, chúng ta không biết, nhưng Thiên Chúa biết! Vậy, hãy cộng tác với ơn Chúa, chu toàn bổn phận theo đấng bậc mình cách nghiêm túc và hoàn tất nó cách vẻ vang. Và như vậy, chúng ta làm vui lòng Đấng đã kêu gọi mình từ lòng mẹ như Ngài đã gọi Gioan!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con kinh ngạc trước những việc Chúa làm trên con, trên anh chị em con. Cho con vững tin, dẫu không biết ‘rồi sẽ nên thế nào’ trong kế hoạch ngàn đời của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

From: KimBang Nguyen

THÁNH GIOAN TẨY GIẢ – Lm Nguyễn Hồng Giáo

Lm Nguyễn Hồng Giáo

Trong Giáo hội, ngày lễ kính một vị thánh là ngày từ trần của vị ấy, quen gọi là “ngày sinh nhật trên trời” của người, ngày người sinh ra trên trời.  Duy chỉ có thánh Gioan Tẩy Giả là được kính mừng cả trong ngày Người sinh ra lẫn trong ngày Người tạ thế.  Tưởng không có gì lạ.  Tất cả cuộc đời của thánh nhân từ lúc sinh ra, và ngay cả trước lúc sinh ra, chỉ là một lời chứng duy nhất cho Chúa Giêsu.

 

Con người của một sứ mạng

Có những người cho rằng người ta sinh ra ở đời là “bị vất vào đó,” một cách tình cờ, vu vơ, vô nghĩa.  Thông thường hơn, người ta nói mỗi người có một định mệnh.  Trước định mệnh ấy con người đành bó tay chịu đựng, không cách nào thoát ra được.  Người Công giáo thì tin rằng mỗi người sinh ra là do ý muốn đầy yêu thương của Thiên Chúa, rằng không phải một sức mạnh mù quáng hay khắc nghiệt nào đó đã ném họ vào đời, nhưng chính Tình Yêu của Chúa “gọi” họ vào cuộc sống, và khi cho một con người sinh ra, Thiên Chúa có một ý định, một dự tính về người ấy, không phải như một kế hoạch áp đặt nhưng như một sứ mạng để hoàn thành trong tự do và trách nhiệm, hầu cho con người được hạnh phúc và cuộc đời họ được thành tựu đích thực.  Ta gọi sứ mạng đó là một “ơn gọi.”  Về mặt này, trường hợp của ông Gioan Tẩy Giả là tiêu biểu và rõ ràng.

Qua tường thuật của Kinh Thánh, chúng ta thấy ý định của Thiên Chúa về Gioan đã được biểu lộ hiển nhiên ngay từ giây phút ông được thụ thai, rồi trong việc ông sinh ra, việc đặt tên cho ông, việc mẹ ông và mẹ Chúa Cứu Thế gặp nhau v.v…  Trong các biến cố đó, ta thấy có sự can thiệp lạ lùng của Chúa vào trong cuộc đời của Gioan để định hướng cho nó.  Điều đáng nói hơn là về phần ông, một khi đã khôn lớn và nhận ra sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó, Gioan Tẩy Giả không còn biết gì khác hơn là sống trọn vẹn cho sứ mạng đó một cách lô-gic, kiên quyết, trọn vẹn, cho tới cùng.  Ông rút lui sớm vào hoang địa, sống khắc khổ xa lánh mọi mời mọc, níu kéo của trần gian là để được sống trọn vẹn hướng về Đấng Cứu thế mà ông phải làm kẻ “dọn đường.”  Ông rao giảng bằng những lời lẽ thật nghiêm khắc, mạnh mẽ để lôi kéo người ta sám hối đổi đời vì thời gian không còn nhiều, Nước Thiên Chúa sắp tới.  Sau khi thiên hạ đã rời ông để quay sang Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, ông âm thầm rút lui vào bóng tối vì đã hoàn thành nhiệm vụ “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi,” ông tuyên bố như thế (Ga 3,30).  Rồi cả cái chết của ông cũng là một phần không thể tách lìa sứ mạng của một kẻ “dọn đường” và “làm chứng cho ánh sáng và sự thật.”

Gioan và Hêrôdê

Tôi thấy thánh Gioan Tẩy Giả Và vua Hêrôđê, kẻ đã ra lệnh chém đầu Người, là hai khuôn mặt hoàn toàn tương phản.  Gioan là người mạnh mẽ, chí khí, còn Hêrôđê là người yếu đuối, do dự.  Một đàng thì sống khắc khổ, giản dị, còn đàng kia lại thích xa hoa, hưởng thụ.  Hêrôđê đã bắt giam ông Gioan vì ông mạnh mẽ tố cáo nhà vua đã lấy vợ của anh mình.  Thật ra vua cũng tỏ ra kính phục nhà tiên tri, biết ông là người công chính và thánh thiện, nhiều khi ông đã bênh vực Gioan.  Nhưng ông là người thiếu ý chí, bị bao vây bởi đam mê, dục vọng.  Và tuy là người cai trị khôn khéo nhưng ông lại bị các khuynh hướng xấu xa làm chủ mình.  Thế nên ông đã bắt Gioan tống ngục, chắc hẳn là dưới sức ép của bà Hêrôđiađê, người chị dâu mà ông ta đoạt làm vợ.  Rồi trong một bữa tiệc, ông đã hài lòng về điệu múa của cô con gái của bà đến độ đã hứa ban cho cô ta bất cứ điều gì cô xin.  Một lời hứa bốc đồng.  Đó không phải là tiếng nói của lý trí, của lương tâm mà là của cảm tính, của bản năng.  Và thế là ông đã mắc mưu bà Hêrôđiađê rồi.  Bà bảo con gái hãy xin cái đầu của Gioan.  Đã lỡ hứa trước mặt các thực khách, nhà vua đành phải giữ lời, mặc dù trong thâm tâm ông không muốn giết con người công chính này.

Vua Hêrôđê tiêu biểu cho những con người để cho phần thú tính nơi mình lấn lướt; mặc dù đôi khi lý trí và lương tâm vẫn còn lóe lên nơi họ, kêu gọi họ hãy vươn cao lên, nhưng không đủ sức kéo họ ra khỏi vũng bùn lầy bởi họ đã quen sống trong những sự thấp hèn.  Đối diện với Hêrôđê, ông Gioan Tẩy Giả xuất hiện như một con người có lý tưởng, sống nhất quán vì lý tưởng đời mình; một con người của bổn phận; con người biết chiến đấu cương quyết chống lại những lôi cuốn của bản năng thấp hèn; con người của những đỉnh cao.

Thánh Gioan Tẩy Giả và chúng ta

Như Gioan, mỗi người chúng ta cũng có một sứ mạng, một ý định của Thiên Chúa về chúng ta.  Nhưng làm sao biết được?  Kinh Thánh và giáo lý của Hội Thánh cho ta biết rằng con người được dựng nên “theo hình ảnh của Thiên Chúa,” “có khả năng hiểu biết là yêu mến Tạo Hóa” và “chỉ con người, nhờ sự hiểu biết và tình thương, được mời gọi chia sẻ sự sống của Thiên Chúa.”  Đó chính là mục đích của việc tạo dựng con người.  Con người phát xuất từ Thiên Chúa, sẽ được trở về với Thiên Chúa.  Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (năm 1992) trích dẫn lời thánh nữ Catarina thành Sienna như sau: “Vì sao Ngài đã dựng nên con người với phẩm giá cao trọng như vậy?  Với tình thương vô biên, Ngài đã nhìn ngắm thụ tạo nơi chính mình và say mê nó.  Vì thương yêu, Ngài đã tạo ra nó; vì yêu thương, Ngài cho nó khả năng hưởng phúc vĩnh cữu, (sđd, số 6).

Đó là ý định chung của Thiên Chúa là ơn gọi chung của chúng ta.  Mỗi người sẽ phải thể hiện ơn gọi đó cho nên mình tùy theo diễn tiến cụ thể đời mình, theo những điều kiện và hoàn cảnh sống thực tế, khi ra sức tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa trong lề luật của Người và lời dạy của Giáo hội, trong việc bổn phận của bậc sống mình, trong lương tâm ngay thẳng, trong luật lệ chính đáng của xã hội, trong các biến cố…

Không phải tự nhiên và dễ dàng mà chúng ta có thể thực hiện ý định của Chúa đối với chúng ta.  Trong mỗi người đều có hai khuynh hướng: một nâng ta lên cao, một kéo ta đi xuống.  Chúng ta thường xuyên kinh nghiệm rằng hai khuynh hướng thiện ác đó đấu tranh kịch liệt với nhau ngay trong ta.  Muốn chiến thắng, phải tỉnh thức và cầu nguyện, phải tập nghe theo tiếng nói của lý trí, của lẽ phải và lương tâm, trong việc lớn cũng như việc nhỏ; đồng thời cũng phải tập sống khổ chế, nghĩa là sống có kỷ luật, biết hy sinh và từ bỏ.  Làm sao có thể có một đời sống tinh thần phong phú nếu lúc nào cũng tìm kiếm và chiều theo những sự dễ dãi, thoái mái, nếu lúc nào cũng chạy theo vui thú vật chất và xác thịt?

Ít năm sau chiến tranh, tôi có dịp đi thăm một anh em tu sĩ chúng tôi ở Xuyên Mộc.  Ngài phụ trách một giáo xứ khoảng 4.000 giáo dân và ba địa điểm cách giáo xứ từ 7 đến 20 cây số với số giáo dân khoảng 6.000 người nữa.  Tôi đã đi thăm hai địa điểm lớn ở xa.  Đó là hai làng kinh tế mới.  Tôi thấy giáo dân thật sốt sắng, đầy can đảm trong công việc làm ăn cũng như trong việc đạo.  Đặc biệt tôi gặp một gia đình Dòng Ba Phanxicô gốc ở Phú Nhuận.  Khi tôi đến, ông đang dạy giáo lý hôn nhân cho một chị độ 25 tuổi.  Ông bà cho biết: họ có mấy người con trai, trong đó có đứa nghiện xì ke đã làm cho họ rất khổ tâm.  Để tránh cho mấy đứa khác khỏi bị lôi kéo vào con đường hư hỏng đó, hai ông bà đã quyết định đưa cả gia đình tới đây sinh sống từ 1980.  Bây giờ họ sống nghèo nhưng vui và bình an.  Tinh thần đơn sơ, nghèo khó, vui tươi và phó thác của Dòng Ba đã giúp họ can đảm sống cuộc đời thiếu thốn vì lợi ích của con cái.  Họ nói tuy họ không giàu có nhưng con cái họ không hư hỏng.

Theo “ơn gọi” và hoàn cảnh riêng của mình, hai người công giáo này đáng cho ta khâm phục không kém Gioan Tẩy Giả, và chắc chắn là gần gũi và dễ noi gương hơn noi gương vị Tiền Hô.

Lm Nguyễn Hồng Giáo

From: Langthangchieutim

NHẬN DIỆN KHỦNG BỐ

Huỳnh Thị Tố Nga

Để hiểu rõ một cá nhân, một tập thể hay một nhà nước có gây ra hành vi gọi là khủng bố đối với cá nhân, tập thể hay quốc gia khác hay không chúng ta phải tìm hiểu hiện tượng, khái niệm và bản chất của khủng bố là gì?

[Khủng bố, theo nghĩa rộng nhất, là việc sử dụng bạo lực và nỗi sợ hãi để đạt được một mục đích về mặt ý thức hệ. Thuật ngữ này được sử dụng chủ yếu để chỉ bạo lực có chủ ý trong thời bình hoặc trong bối cảnh chiến tranh chống lại những người không tham chiến (chủ yếu là dân thường và quân nhân trung lập).

Trong cộng đồng quốc tế, khủng bố không có một định nghĩa có tính pháp luật hay hình sự rõ ràng nào. Định nghĩa chung của chủ nghĩa khủng bố chỉ đề cập đến những hành vi bạo lực được dự định để tạo ra sự sợ hãi cho một mục tiêu tôn giáo, chính trị hay ý thức hệ, và cố tình nhắm vào các mục tiêu hoặc không quan tâm đến sự an toàn của những người không có khả năng tự vệ (ví dụ, nhân viên dân sự trung lập hay dân thường). Một số định nghĩa của khủng bố hiện nay bao gồm cả các hành vi bạo lực bất hợp pháp và chiến tranh.

Trong một số trường hợp, cùng một nhóm vũ trang có thể được những người ủng hộ họ mô tả là “chiến sĩ đấu tranh vì tự do”, trong khi đối thủ của họ thì coi đó là những kẻ khủng bố. Khái niệm về khủng bố có thể gây tranh cãi vì nó thường được sử dụng bởi cơ quan nhà nước (và cá nhân được nhà nước hỗ trợ) để làm giảm tính chính danh của các đối thủ, và có khả năng hợp pháp hóa việc sử dụng lực lượng vũ trang riêng của nhà nước để chống lại đối thủ. Đồng thời, ngược lại cũng có thể diễn ra khi các quốc gia thực hiện thì sẽ bị cáo buộc phạm vào tội khủng bố cấp nhà nước.

Cách phân loại khủng bố có sự khác nhau giữa từng quốc gia, hệ thống chính trị và thời điểm trong lịch sử. Đơn vị tác chiến về bất ổn và khủng bố Hoa Kỳ định nghĩa khủng bố là “một chiến thuật mà trong đó hành động bạo lực hoặc sự đe dọa sẽ hành động bạo lực được sử dụng để tạo ra nỗi sợ hãi nhằm mục đích cưỡng chế”. Theo đơn vị tác chiến này, bất ổn và khủng bố được chia thành 6 loại:

  1. Bất ổn xã hội
  2. Khủng bố chính trị
  3. Khủng bố phi chính trị
  4. Khủng bố nặc danh
  5. Hành động giống khủng bố
  6. Khủng bố chính trị hạn chế

Một cách phân loại khác dựa trên lãnh thổ là khủng bố nội địa và khủng bố quốc tế.

Các cá nhân và tổ chức lựa chọn khủng bố làm biện pháp bởi khủng bố có khả năng:

Đóng vai trò là một dạng chiến tranh phi đối xứng nhằm buộc một chính phủ chấp nhận các yêu cầu. Đe dọa một nhóm người để khiến họ phải chấp nhận yêu cầu nhằm tránh tiếp tục chịu thương vong. Thu hút sự ủng hộ chính trị dành cho một mục đích. Trực tiếp kêu gọi thêm nhiều người tham gia (chẳng hạn như vào các hoạt động cách mạng). Gián tiếp kêu gọi thêm nhiều người tham gia bằng cách khiêu khích phản ứng thù địch hoặc thái quá từ phía phe đối lập.] Wikipedia.

CHÚNG TA SẼ PHÂN TÍCH

Đặc điểm cơ bản của một tổ chức khủng bố đó là các thành viên được đào tạo bài bản về khả năng chiến đấu, khả năng triển khai kế hoạch, có nguồn quỹ để duy trì sự tồn tại, tất yếu phải có vũ trang, và các thành viên trong tổ chức luôn luôn ở vị thế liều chết.

Không cần xét đến khái niệm rộng lớn dễ gây tranh cãi về bản chất của khủng bố, chỉ với những đặc điểm cơ bản người viết vừa nêu trên, xét lại điều kiện thụ hưởng chính trị của người dân Việt Nam, chúng ta cũng có thể thấy rằng, khó có khả năng một tổ chức khủng bố (không thuộc phạm vi nhà nước) có thể tồn tại ở Việt Nam, hoặc có thể nói, đó là điều hầu như không thể. Ngược lại, nếu nói đến sự hội đủ các yếu tố để hành thành tổ chức khủng bố cấp nhà nước thì ở Việt Nam lại thừa điều kiện.

Như vậy, để phán xét một vài cá nhân, một tập thể có hành vi khủng bố hay không, về định nghĩa đã là khó khăn rồi. Nó phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm của thể chế chính trị, của tập đoàn lãnh đạo, sự chuyên nghiệp am hiểu về khủng bố, nguyên nhân gây ra hành vi bạo lực… nhất là không loại trừ “thuyết âm mưu” nhằm đẩy những cá nhân, tổ chức đó vào “thế trận bạo lực bắt buộc” từ đó gây mất tính chính danh của những cá nhân, tổ chức gây ra hành vi bạo lực đó.

Trên đây là những định nghĩa, khái niệm quen thuộc về khủng bố mà chúng ta đã biết. Đối với riêng người viết, người viết muốn đưa thêm một quan điểm cá nhân về định nghĩa cho khủng bố.

Định nghĩa quen thuộc về khủng bố là hành vi đi liền với vũ trang và bạo lực. Nhưng ở đây người viết muốn nâng lên một tầng mới đó là “khủng bố phi bạo lực”, có lẽ khái niệm này sẽ phù hợp hơn với thời đại ngày nay khi mà các phương pháp quân sự của chiến tranh đã thay đổi về hình thức rất lớn. Các hình thức chiến tranh không quân sự và vũ trang đã dần hình thành từ sau chiến tranh Vùng Vịnh 1991. Trong cuộc chiến này, tổn thất về chi phí quân sự, vũ trang và con người với con số thật nặng nề. Từ sau chiến tranh Vùng Vịnh, một hình thái mới về chiến tranh bắt đầu hình thành, các quốc gia bắt đầu kết hợp nhiều hình thức phi quân sự hoặc cả hai, vừa quân sự kết hợp với phi quân sự, và xuất hiện một khái niệm mới đó là “Siêu hạn chiến”.

Lướt sơ qua như vậy để chúng ta có thể quay lại khái niệm “Khủng bố phi bạo lực” vừa đề cập ở trên.

Ở đây người viết muốn đề cập đến những gia tộc, những tập đoàn có khả năng điều hành trật tự thế giới, mà ta có thể gọi thế lực đó là “Siêu quyền lực”. Nếu như những tổ chức khủng bố thông thường với hành vi bạo lực có thể gây ra tổn hại ở phạm vi nhỏ trong một quốc gia hoặc lớn hơn nữa là cho quốc gia hay một vài quốc gia, thì những tập đoàn quyền lực này, với siêu tài chính trong tay, họ có thể nhúng tay, điều khiển vô số quốc gia về mặt chính trị và tôn giáo, xoay trục thế giới theo đặc quyền mà họ mong muốn.

Chúng ta có thể chưa hình dung ra vấn đề bởi vì “Siêu quyền lực” là thế lực ngầm trong bóng tối và hoạt động bảo mật. Hai tập đoàn quyền lực nhất trên thế giới hiện nay là gia tộc Rothschild và gia tộc Rockefeller. Hai gia tộc này với khối tài sản khổng lồ, nắm quyền điều hành các ngành nghề quan trọng nhất như tài chính ngân hàng, kinh doanh khoáng sản, buôn bán vàng và kinh doanh dầu mỏ đứng đầu thế giới. Tài chính từ những ngành nghề kinh doanh của họ đã phân bổ len lỏi vào khắp các quốc gia trên thế giới. Vấn đề quan trọng hơn là hai gia tộc này lại bắt tay cùng hợp tác, cũng như hổ mọc thêm cánh vậy. Có nhiều chứng cớ cũng như giả thuyết cho thấy rằng hai gia tộc này đã nhúng tay vào điều khiển những nền chính trị lớn nhất thế giới và từ đó xoay trục trật tự thế giới theo ý muốn của họ. Đây mới thật sự là “Khủng bố phi bạo lực”, hậu quả của nó tác động vô cùng rộng lớn cho cả phạm vi thế giới, trong đó việc nắm quyền điều khiển về mạng lưới truyền thông là quan trọng nhất.

Truyền thông là một dạng “khủng bố phi bạo lực” có thể thấy rõ ràng tác hại của nó lên đời sống con người nếu những cá nhân hay tập đoàn có quyền lực thao túng và lèo lái theo hướng xấu và tiêu cực, nhưng lại thu được quyền lợi cho họ. Hoặc có thể dùng mạng lưới viễn thông làm gián điệp mạng để giám sát, theo dõi đời sống cá nhân hay cộng đồng quốc gia thì chúng ta cũng có thể xếp nó vào “khủng bố phi bạo lực”, và điều này đang xảy ra hàng ngày trong đời sống chúng ta, gây tác hại nghiêm trọng đến quyền con người, gây thiệt hại về giá trị vật chất và tinh thần cho con người.

Có thể kết luận, trong thời đại ngày nay, khái niệm khủng bố đã không còn bó hẹp trong hành vi bạo lực, vũ trang mà nó nghiêng về sức mạnh tài chính và quyền lực. Trong một thế giới mà sức mạnh đồng tiền đã được tôn vinh lên trên hết thì sự tha hóa về đạo đức và cái ác lên ngôi là điều tất yếu. Con người chúng ta thật sự rất cô thế và nhỏ bé trước những quyền lực tà của bóng tối này.

Trong dòng chảy đó, nếu lương tri con người không thể thức tỉnh thì thế giới này sẽ đi về đâu?

Huỳnh Thị Tố Nga (Selena Zen)

June 14, 2023

Đảng & Dân– Tưởng Năng Tiến

Đảng & Dân

Thỉnh thoảng, báo chí quốc doanh vẫn có mấy mẩu tin ngăn ngắn về Lễ Trao Huy Hiệu Tuổi Đảng cho đồng chí này hay đồng chí nọ. Ngoài Việt Nam, dường như, không đâu có cái thứ “lễ lạt” nhạt nhẽo và chán phèo như thế cả. Xứ sở này, không chừng, cũng dám là nơi duy nhất mà danh tính của một cá nhân luôn kèm theo tuổi … đảng:

  • Nguyễn Thị Bình 75
  • Lê Khả Phiêu 73
  • Lê Đình Kình 58 …

Trong một chế độ đảng trị thì thâm niên tuổi đảng quả là một thành tích đáng kể nhưng đó không phải là một thứ “kim bài miễn tử” (hay miễn tù hoặc miễn bị sách nhiễu/bạo hành) nếu đảng viên đi … trật đường rầy!

RFA cho biết: “Cho đến khi bị Cảnh sát cơ động Hà Nội bắn chết vào ngày 9-1-2020, thủ lĩnh tinh thần của người dân Đồng Tâm, cụ Lê Đình Kình vẫn còn là một đảng viên đảng Cộng sản có hơn 55 năm tuổi đảng.”

Cách đó chưa lâu, vào hôm 15 tháng 4 năm 2017, ông Lê Đình Kình (LĐK) cũng đã bị “hành hung” đến trọng thương và phải nằm nhà thương gần đến chục ngày.

Ủa! Chớ ổng đã phạm phải lỗi lầm gì mà Đảng xuống tay (và nặng tay) dữ vậy cà?

Chuyện cũng hơi dài dòng nhưng không có chi là khó hiểu. Tuy là một đảng viên lão thành nhưng LĐK không “nhất trí” với đường lối và chủ trương (“Đất đai tuy thuộc sở hữu toàn dân nhưng do Nhà nước quản lý) của Đảng. Đã thế, sau khi bị hành hung đến độ phải nhập viện vì cái quan niệm (“trật lất”) của mình, ông vẫn thản nhiên tuyên bố: “Các anh có đưa máy chém chém ngay đầu tôi đi chăng nữa, thì tôi vẫn giữ quan điểm đây là đất nông nghiệp của xã Đồng Tâm.”

Nói năng linh tinh như thế, dưới chế độ hiện hành, là một cách vời họa vào thân. Họa vốn “vô đơn chí” nên chả phải tìm kiếm đâu xa mà ngay chính người dân địa phương đã vô tình đón (và đưa) ông LĐK vào … cửa tử.

Báo Tuổi Trẻ đi tin: “Sau 10 ngày điều trị tại Bệnh viện Việt Đức do bị gãy xương đùi, chiều 2-5, cụ Lê Đình Kình đã được đưa về với gia đình tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội… rất đông người dân Đồng Tâm đã xếp hàng dài từ ngoài đường làng đến trước cổng nhà cụ Lê Đình Kình để chào đón cụ Kình trở về.”

Nếu đám đông đừng “mừng đến rơi nước mắt” khi LĐK được xuất viện, và đừng tôn vinh nhân vật này là “thủ lãnh tinh thần” thì chưa chắc lão nông phu chân chất của xã Đồng Tâm đã bị thảm sát, và thảm họa cũng đã không xẩy ra cho cả gia tộc của ông.

Tại Việt Nam, “các đồng chí ở trên” không chỉ toàn quyền trong chuyện lãnh đạo mà họ còn độc quyền làm lãnh tụ nữa cơ. Với chủ trương toàn trị, họ không thể dung thứ cho bất cứ một loại “thủ lãnh tinh thần” nào sất. Cỡ chủ tịch xã nghỉ hưu mà được đám đông dân chúng công kênh, hoan hô (vì thái độ bất tuân) thì buộc phải bị loại thôi. Ông bị sát hại bằng súng tại nhà vào hôm 9 tháng 1 năm 2020.

Cái chết của ông khiến cho không ít kẻ bàng hoàng, và lắm người đã rơi nước mắt. Nhà thơ Bùi Chí Vinh cảm thán:

Tru di ta viết một bài hành

Chuyện xưa giờ tái hiện sử xanh

Đồng Tâm có cụ Kình giữ đất

Chẳng ai ngờ bụng rạch, thây phanh

Hai con án chết đầy oan khốc

Một cháu chung thân xử rành rành …

Vụ bà Lê Thị Dung, một đảng viên khác (Bí Thư Chi Bộ Trung Tâm Giáo Dục Huyện Hưng Nguyên) thì hơi khác. Báo Tuổi Trẻ, đọc được hôm 13 tháng 6 năm 2023, cho hay:

Sau hai ngày xét xử, chiều 13-6 hội đồng xét xử phúc thẩm TAND tỉnh Nghệ An đã tuyên phạt bị cáo Lê Thị Dung mức án 15 tháng tù về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ…   

HĐXX nhận định tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Dung mức án 5 năm tù là quá nghiêm khắc, do số tiền bị cáo hưởng lợi (gần 45 triệu đồng) là không lớn, nhân thân bị cáo tốt, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Việc cấp sơ thẩm chưa xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Dung là áp dụng thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

HĐXX đã tuyên phạt bị cáo Dung 15 tháng tù, tính từ ngày bị bắt giam 28-3-2022 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ. Như vậy, cuối tháng 6-2023, bà Dung sẽ chấp hành xong án phạt. Trước đó, trong phiên tòa sơ thẩm, cô Lê Thị Dung bị tuyên mức án 5 năm tù.”

Tuy HĐXX đã “rút kinh nghiệm” và cũng hết sức quan tâm đến “các tình tiết giảm nhẹ” nhưng bản án 15 tháng tù – xem chừng – vẫn cứ khiến cho lòng người sôi sục:

  • Ngô Trường An : “Không được! Tòa phải tuyên vô tội thả ngay cô Dung tại tòa, xin lỗi và bồi thường.”
  • Nguyễn Vũ Bình: “Đây là một trường hợp vô cùng thú vị để nghiên cứu về một hệ thống khuyết tật bao gồm những con người khuyết tật hãm hại một người trung thực, thẳng thắn và không có bất kỳ một tỳ vết gì.”
  • Đoàn Bảo Châu : “Tôi tin rằng phiên toà phúc thẩm vừa diễn ra là một phiên toà RÁCH NÁT. Muốn xoa xuýt dư luận, hạ nhiệt bức xúc nhưng không đủ dũng cảm và phục thiện để tuyên bố vô tội.”
  • Thái Hạo: Tôi tin, không một người có lương tri nào có thể kìm được nước mắt vì sự phẫn nộ, đau xót, bất lực của mình khi nghe những gì cả một bộ máy đã làm với một người vô tội.
  • Chu Vĩnh Hải: Cô giáo Lê Thị Dung ở Nghệ An vô tội! Công lý là công minh chứ không phải để ban phát!
  • Vũ Tuân: “Từ 60 tháng tù giảm xuống 15 tháng. Công Lý là tên hề nổi tiếng.”
  • Trần Thị Thảo: “Mặc dù giảm xuống còn 15 tháng nhưng vẫn thấy rừng rú thế nào ấy.”
  • Nguyễn Thông: “Vụ xử sơ thẩm và phúc thẩm đối với cô Dung chả khác gì trò đùa, với đủ trò mưu mẹo dấm dúi và trắng trợn. Pháp luật trong tay kẻ tiểu nhân cai trị chỉ là trò đùa dai của vở diễn hài nhân danh công lý.”
  • Nguyễn Khanh: “Chán nhỉ!”

Tôi thì trộm nghĩ khác (“khó nhỉ!”) nhưng chỉ dám nghĩ thầm thế thôi vì sợ gạch đá tứ phương. Nói gần nói xa, chả qua nói thực thì được vậy cũng “tử tế” lắm rồi. “Pháp luật đang trong tay những kẻ tiểu nhân” mà từ sơ thẩm đến chung thẩm bản án đã giảm được tới ba phần tư rồi, chớ đâu phải ít.

Dù cũng chả hả hê chi về phiên toà thượng dẫn nhưng đi tính lại tôi bỗng bật tiếng cười (vui) khi nhớ đến đôi lời đàm tiếu, nghe được ngay sau khi Việt Nam vừa được vào W.T.O:

  • Blogger Ôsin: “Thật nực cười khi, chỉ khi chịu sức ép của ‘các nước tư bản’, ‘đảng của giai cấp công nhân’ mới (có thể) thừa nhận các quyền căn bản của công nhân.”
  • Blogger Nguyễn Vạn Phú: “Điều mỉa mai là Việt Nam phải trông chờ vào một hiệp định ký với các nước tư bản để các nước tư bản này gây sức ép buộc Việt Nam phải bảo vệ công nhân của mình, không để giới chủ bóc lột quá đáng!”

Còn điều “nực cười” và “mỉa mai” trong vụ án vừa qua là nếu không có sức ép của đồng bào thì các đồng chí ở Nghệ An đã “xử đẹp” bà Bí Thư Chi Bộ (Trung Tâm Giáo Dục Huyện Hưng Nguyên) rồi. Tuy không đến nỗi bị phanh thây, xẻ ngực và lãnh án chu di tam tộc như trường hợp của ông Lê Đình Kình nhưng bà Lê Thị Dung cũng rũ tù – dù vô tội.

Tình đồng chí của đảng CSVN, rõ ràng, không chỉ đáng kinh mà còn đáng tởm nữa. Từ trung ương đến địa phương chúng đều bất nhân, bất nghĩa, bất tín như thế cả. Sự tàn ác của Đảng, xem ra, chả từ bất cứ ai – kể cả cái đám đảng viên lau nhau của nó.

Đôi khi, tôi băn khoăn tự hỏi: Sao hà khắc, bạo ngược (và trơ tráo) đến vậy mà cái Đảng ôn dịch CS vẫn tiếp tục cầm quyền ở Việt Nam gần cả thế kỷ qua? Chả lẽ vì dân tộc này đã quá quen với bạo ngược và hà khắc của chế độ hiện hành nên không còn mấy ai quan tâm gì đến công bằng, công đạo, công lý tâm, và công tâm nữa?

TNT

– Tưởng Năng Tiến

TIN NÓNG – Người đứng đầu Wagner: lính đánh thuê đang kéo về Moscow để đảm nhận vai trò lãnh đạo quân đội

Theo các báo Hoa Kỳ và Reuters Anh

07:05

Reuters có một số hình ảnh cho thấy các chiến binh Wagner ở Rostov-on-Don.

Fighters of Wagner private mercenary group are deployed in a street near the headquarters of the southern military district in Rostov-on-Don, Russia. Photograph: Reuters

Các chiến binh của nhóm lính đánh thuê tư nhân Wagner được triển khai trên một con phố gần trụ sở của quân khu phía nam ở Rostov-on-Don, Nga. Ảnh: Reuters© Được cung cấp bởi The Guardian

(Reuters) – Chỉ huy lính đánh thuê Nga Yevgeny Prigozhin dường như gợi ý rằng ông đã gửi một đoàn xe vũ trang trên quãng đường dài 1.200 km (750 dặm) về phía Moscow vào thứ Bảy trong một nỗ lực khó có thể xảy ra nhằm lật đổ giới lãnh đạo quân sự.

Các quan chức địa phương của Nga cho biết một đoàn xe quân sự đang trên đường cao tốc chính nối phần phía nam của Nga thuộc châu Âu, giáp Ukraine, với Moscow và cảnh báo người dân tránh xa.

Vài giờ trước đó, chính quyền Nga đã cáo buộc Prigozhin dàn dựng một cuộc binh biến vũ trang sau khi ông cáo buộc, mà không cung cấp bằng chứng, rằng giới lãnh đạo quân sự đã giết một số lượng lớn các chiến binh của ông trong một cuộc không kích và thề sẽ trừng phạt họ.

Cơ quan an ninh nội địa FSB cho biết họ đã mở một vụ điều tra hình sự chống lại Prigozhin vì tội nổi loạn có vũ trang, một tội danh có thể bị trừng phạt với án tù lên tới 20 năm.

FSB cho biết tuyên bố của Prigozhin là “lời kêu gọi nhằm khởi đầu một cuộc xung đột dân sự vũ trang trên lãnh thổ Nga và hành động của ông ta ‘đâm sau lưng’ các quân nhân Nga đang chiến đấu với lực lượng thân phát xít Ukraine”.

Nó nói thêm: “Chúng tôi kêu gọi … các chiến binh không mắc phải những sai lầm không thể sửa chữa, ngừng mọi hành động cưỡng bức chống lại người dân Nga, không thực hiện mệnh lệnh tội phạm và phản bội của Prigozhin, thực hiện các biện pháp để giam giữ ông ta.”

Bước ngoặt kịch tính của các sự kiện, với nhiều chi tiết không rõ ràng, có vẻ giống như cuộc khủng hoảng trong nước lớn nhất mà Tổng thống Vladimir Putin phải đối mặt kể từ khi ông ra lệnh tiến hành một cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraine – điều mà ông gọi là “chiến dịch quân sự đặc biệt” – vào tháng 2 năm ngoái.

Prigozhin, người có lực lượng dân quân Wagner đi đầu trong việc đánh chiếm thành phố Bakhmut của Ukraine vào tháng trước, trong nhiều tháng đã công khai cáo buộc Bộ trưởng Quốc phòng Sergei Shoigu và tướng hàng đầu của Nga, Valery Gerasimov, về sự chỉ huy kém cỏi và việc họ đã từ chối cung cấp đạn dược cũng như hỗ trợ cho Wagner trong các trận chiến ở Ukraine.

Khi mối thù của hai bên dường như lên đến đỉnh điểm, Bộ Quốc Phòng Nga đã đưa ra một tuyên bố nói rằng những lời buộc tội của Prigozhin là “không đúng sự thật và là một hành vi khiêu khích về mặt thông tin”.

Prigozhin cho biết hành động của ông không phải là một cuộc đảo chính quân sự. Nhưng trong một loạt các tin nhắn truyền thanh điên cuồng, trong đó âm thanh giọng nói của anh ta đôi khi thay đổi và không thể xác minh độc lập, ông  ta dường như gợi ý rằng 25.000 chiến binh Wagner đang trên đường hành quân nhằm lật đổ các nhà lãnh đạo của cơ quan bộ quốc phòng ở Moscow.

Vào đầu ngày thứ Sáu, anh ta dường như đã vượt qua một ranh giới mới trong cuộc thù địch ngày càng gay gắt của mình với bộ, khi ông nói rằng lý do Putin đưa ra để xâm lược Ukraine là dựa trên các báo cáo dối trá do cấp trên của quân đội tạo ra.

Khoảng 2 giờ sáng thứ bẩy (23:00 GMT), Prigozhin đã đăng một thông báo trên ứng dụng Telegram nói rằng lực lượng của ông đã từ Ukraine tiến vào Nga và đang ở Rostov.

Wagner fighters pose for a picture as they get deployed near the southern military district HQ in the city. Photograph: Reuters

Các chiến binh Wagner tạo dáng chụp ảnh khi họ được triển khai gần trụ sở quân khu phía nam trong thành phố Rostov ở Don. Ảnh: Reuters© Được cung cấp bởi The Guardian.

Ông cho biết họ sẵn sàng “làm mọi cách” chống lại giới chóp bu và tiêu diệt bất cứ ai cản đường họ. “Chúng tôi có 25.000 người và chúng tôi sẽ tìm ra lý do tại sao hỗn loạn lại xảy ra trong nước”, ông nói và hứa sẽ phá hủy bất kỳ trạm kiểm soát hoặc lực lượng không quân nào cản đường Wagner.

Putin được báo cáo liên tục  ‘xung quanh đồng hồ’

Cùng lúc đó, hãng thông tấn nhà nước TASS dẫn lời phát ngôn viên Điện Kremlin Dmitry Peskov cho biết tất cả các cơ quan an ninh chính của Nga đang báo cáo “24/24” cho Putin về việc thực hiện các mệnh lệnh của ông đối với Prigozhin.

Nhưng lần đầu tiên vào thứ Sáu, Prigozhin đã bác bỏ những lời biện minh cốt yếu của Putin về việc xâm lược Ukraine 16 tháng trước đây, điều cấm kỵ đã làm nhiều người Nga bị phạt vạ hoặc bỏ tù.

“Chiến tranh không cần thiết để phi quân sự hóa hoặc phi hạt nhân hóa Ukraine,” ông nói, đề cập đến những lời biện minh của Putin cho cuộc chiến…

“Chiến tranh là cần thiết… để Shoigu có thể thăng cấp bậc tướng nguyên soái… để ông ấy có thể nhận được huân chương ‘Anh hùng’ [của Nga] thêm lần thứ hai,” Prigozhin nói trong một video clip.

Tổng thống Nga Putin nói những kẻ phản quốc hoặc chuẩn bị vũ trang nổi loạn sẽ bị trừng phạt

Tổng thống Nga Vladimir Putin có bài phát biểu trên truyền hình ở Moscow, Nga, ngày 24/6.
Tổng thống Nga Vladimir Putin có bài phát biểu trên truyền hình ở Moscow, Nga, ngày 24 tháng 6. Reuters

Tổng thống Nga Vladimir Putin đã kêu gọi lực lượng Wagner trong một bài phát biểu hôm thứ Bảy. “Tôi kêu gọi những người bị đẩy vào sự khiêu khích của một cuộc nổi loạn quân sự,” ông nói.

Putin nói thêm rằng tại thời điểm này, “chúng tôi yêu cầu sự đoàn kết, hợp nhất và trách nhiệm.”

“Những ai cố tình đi theo con đường phản quốc, chuẩn bị nổi dậy vũ trang khi các người đang chuẩn bị tấn công khủng bố, sẽ bị trừng phạt”, ông Putin nói. 

Tổng thống Nga cho biết, “bất kỳ rối loạn nội bộ nào đều là mối đe dọa chết người đối với tư cách nhà nước của chúng ta đối với chúng ta với tư cách là một quốc gia; đó là một đòn giáng vào nước Nga đối với người dân và hành động bảo vệ quê hương của chúng ta. Mối đe dọa như vậy sẽ phải đối mặt với phản ứng nghiêm khắc.”


“LÒ CỦI” LÀ LỘNG QUYỀN

Kim Dao Lam

Fb Cao Van (2022)

Dân Việt rất hiếu học nhưng toàn học những thứ vô ích.

Một anh bạn người Hàn Quốc sống khá lâu ở Việt Nam đã nhận xét về câu chuyện “lò củi” như thế này:

Lúc đầu “tao” nghĩ đây là một chiến dịch chống tham nhũng do nhà nước phát động, lấy biệt danh “lò củi” là tên của chiến dịch.

Nhưng sau tìm hiểu mới biết đây là hình ảnh ví von của dân gian về công cuộc chống tham nhũng của ông TBT Nguyễn Phú Trọng – Còn được phong danh là “người đốt lò vĩ đại”

Thẳng thắn ra mà nói, dân Việt kém hiểu biết.

Tại sao lại hy vọng vào câu chuyện của của “chiếc lò” và một cá nhân trong công cuộc chống tham nhũng?

Ở Hàn Quốc chống tham nhũng rất hiệu quả, đến mức không kẻ tham nhũng nào có thể yên ổn, dù là tổng thống cũng bị sờ gáy.

Vì Hàn Quốc chống tham nhũng bằng hoàn thiện thể chế nhà nước, và hệ thống Pháp luật.

Không có ai trở thành Bao Công “ngày xử án dương gian, đêm xử án âm phủ” vừa là kẻ điều tra, luận tội và xử án.

Muốn điều tra, bắt ai, xử ai là quyền của ông ấy.

Một đất nước như thế là một đất nước không có pháp luật, ông ấy là kẻ lộng quyền ngồi xổm trên luật pháp.

“Tao” đọc báo thấy nhiều người dân rất tôn trọng và hy vọng vào “người đốt lò vĩ đại”.

Họ chân thành đến mức thần tượng hoá như ông ấy là một thánh nhân, kẻ cứu rỗi cho đất nước khỏi thảm họa tham nhũng.

Có nhiều người còn so sánh ông ấy với Hồ Chí Minh, và gọi ông ấy bằng “bác” một danh xưng không có ngoại lệ của ông Hồ Chí Minh.

Một số khác còn gọi ông ấy là Bao Công.

Sao người Việt Nam cổ hủ và u mê kinh hoàng như vậy?

Nhận thức của những người về đấng cứu rỗi như thế thực sự là thảm họa- một thảm họa về thiếu hiểu biết, trong một lòng tin mù quáng- bị nhân vật Bao Công huyễn hoặc.

Bao Công thực chất là một hình tượng điện ảnh- Đó chỉ là giấc mơ của giai cấp lao động cần lao về một vị quan liêm chính.

Xét dưới góc độ của nhà nước pháp quyền thì Bao Công là một kẻ lộng quyền, một mình ông ta cầm cả ba quyền: Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp.

Nói theo ngôn ngữ chính trị ông ta là kẻ độc tài, thâu tóm mọi quyền lực – muốn bắt ai, tha ai là quyền của ông ấy.

“Tao” có theo dõi một số phiên toà, và rất ngạc nhiên là một số quan chức ở Việt Nam khi bị kết án khóc nức nở ân hận xin lỗi ông TBT.

Điều này cho thấy vai trò của ông ấy có khi còn lấn át cả pháp luật.

Điều này sẽ tạo ra một suy nghĩ rất tồi tệ cho những người có chức có quyền là họ không sợ pháp luật bằng người lãnh đạo của họ- Đây chính là mầm mống của căn bệnh xu nịnh cấp trên để được bao dung, che chở.

Khiến cho những kẻ càng có chức vụ cao, quyền lực lớn càng dễ ngộ nhận về quyền lực vô song của mình, trà đạp lên luật pháp và coi thường dư luận xã hội.

“Tao” được biết ở Việt Nam còn thành lập “Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương”, Ban này không biết có thuộc hệ thống pháp luật theo quy định trong hiến pháp hay không?

Quyền lực của Ban này lớn như thế, thì quyền lực của của hệ thống luật pháp chẳng nhẽ vô nghĩa và bị vô hoá hay sao? Hệ thống luật pháp Việt Nam như thế quả là có vấn đề, bị lấn áp không phát huy được tính đại diện cho quyền lực của nhân dân… xem ra Việt Nam còn quá nhiều lỗi hệ thống- Công cuộc chống tham nhũng ở Việt Nam sẽ rất nhiều gian nan, không có hồi kết.

Một xã hội mà người dân tin vào Bao Công là một xã hội thụt lùi, vì người ta không tin vào luật pháp, hoặc là xã hội đó không có luật pháp.

Tâm lý và nhận thức có chuyện gì xảy ra phải chạy đến ông quan này, vị có chức có quyền kia, hy vọng tìm kiếm công lý đã phổ biến trong xã hội Việt Nam bây giờ.

Khi người dân không tìm đến hệ thống luật pháp để tìm công lý, phải mong chờ vào đấng cứu rỗi thì chẳng khác gì đẩy xã hội quay về bóng tối của thời tiền sử.

Ở mức độ cao hơn rất nguy hiểm đó là tôn thờ thần tượng- “Người đốt lò vĩ đại” chính là điển hình cho tâm lý của người dân sống trong đất nước không có pháp luật hoặc không tin tưởng vào pháp luật.

Niềm tin vô vọng đã biến người ta bị định hướng, bị dẫn dắt, lạm dụng một cách mù quáng.

Ở Hàn Quốc việc xây dựng nhà nước pháp quyền, và hoàn thiện thể chế nhà nước khiến cho người dân tin rằng, không có kẻ có chức quyền nào dù là tổng thống trở thành Bao Công, người dân tin tưởng vào pháp luật không phải tin vào kẻ “vĩ đại” nào.

Không có “kẻ vĩ đại” nào ngồi trên pháp luật.

Việc tổng thống bị truy tố là câu chuyện rất bình thường ở Hàn Quốc.

Xây dựng hình tượng Bao Công trong một nhà nước pháp quyền chứng tỏ nhà nước đó đã bị lũng đoạn, quyền lực của họ đã khuynh đảo xã hội.

Quyền sinh, sát còn trong tay họ thì chống tham nhũng thất bại chẳng có gì lạ.

Nguồn Facebook


 

Cái Học Ngày Nay Đã Hỏng Rồi

Cái Học Ngày Nay Đã Hỏng Rồi
                             ***
Cái học ngày nay đã hỏng rồi
Chín thằng mi học, tám thằng chơi
Một thằng chẳng học làm quan lớn
Sai thằng có học chạy tơi bời

Cái học ngày nay vậy hỏng rồi
Tám thằng đi học, bảy thằng lười
Hai thằng không học thì vinh hiển
Quyền cao chức trọng đã lên đời

Cái học ngày nay thật hỏng rồi
Bảy thằng tới lớp, sáu thằng thôi
Ba chàng thất học thành ông xếp
Vổ ngực rằng tao tiến sĩ rồi

Cái học ngày nay đã nói rồi
Sáu thằng xách cặp, năm muốn thôi
Bốn đứa trèo cao, có chức lớn
Đày người ăn học chạy hụt hơi

Cái học ngày nay hỏng quá rồi
Năm thằng đang học, bốn xin thôi
Năm thằng chẳng học nhờ ơn đảng
Tham quan, tham nhũng hưởng lộc trời

Cái học ngày nay chuyện cũ rồi
Bốn em tới lớp, ba em chơi
Sáu người vô học thành ông chủ
Rủng rỉnh tiền đô hưởng sự đời

Cái học ngày nay hết biết rồi
Chỉ hai ba đứa tới lớp ngồi
Nhưng chỉ một thằng còn chăm chỉ
Nhìn tới nhìn lui lại muốn thôi

Cái học thì ai cũng biết rồi
Không danh không thế, thì ôi thôi
Chẳng quyền, chẳng lực, ngồi trơ mỏ
Nằm nhà chỏng cẳng để vợ nuôi.

Thì ra “Cái học ngày nay đã hỏng rồi!!!”

Vô Danh
Nguồn internet – ĐH sưu tầm

Khúc cây của một ông tìm được dưới ruộng bị tỉnh Kon Tum chiếm đoạt

Báo Nguoi-viet

June 22, 2023

KON TUM, Việt Nam (NV) – Sau hơn một năm được ông Lê Quang Nam, ở thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy, tìm thấy dưới lòng đất, khúc cây “nổi tiếng bậc nhất của tỉnh Kon Tum” đã bị giới hữu trách tỉnh này xác lập “sở hữu toàn dân,” tức của nhà nước.

Theo báo Người Lao Động, hôm 22 Tháng Sáu, ông Nguyễn Ngọc Sâm, phó chủ tịch tỉnh Kon Tum, đã ký quyết định “xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản vùi lấp được tìm thấy.”

Số gỗ bị Công An Huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, tạm giữ hơn một năm qua. (Hình: Trần Hướng/Tuổi Trẻ)

Theo đó, “căn cứ các quy định của pháp luật,” Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kon Tum “xác lập sở hữu toàn dân đối với bốn tấm gỗ tổng cộng hơn 4.2 khối và sáu tấm bìa đã mục nát” được ông Nam, 44 tuổi, ở thị trấn Sa Thầy, xẻ ra từ một khúc cây đào lên từ dưới ruộng.

“Ủy Ban Nhân Dân huyện Sa Thầy phải chỉ đạo Phòng Tài Chính-Kế Hoạch phối hợp với Công An Huyện Sa Thầy và các đơn vị có liên quan thực hiện bảo quản tài sản trong thời gian chờ cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án xử lý tài sản theo quy định,” nội dung quyết định nêu.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, trước đó hôm 23 Tháng Ba, 2022, trong lúc được thuê làm đất ruộng cho ông A Khái ở xã Sa Sơn, cùng huyện, ông Nam phát hiện một khúc cây dài khoảng 12 mét, đường kính khoảng 0.7 mét và đã bị vỡ nát phần gốc bị vùi lấp dưới lòng đất. Ông Khái thỏa thuận để ông Nam lấy khúc cây này thay cho tiền công san lấp.

Cuối Tháng Ba, ông Nam đến Ủy Ban Nhân Dân xã Sa Sơn, huyện Sa Thầy, trình báo sự việc và xin phép được đào khúc cây trên để về làm đồ gia dụng.

Ủy ban xã đã tổ chức đến hiện trường xác minh. Qua đó, giới chức xã này đã lập biên bản xác định nơi phát giác khúc cây trên “không phải đất rừng” và cây gỗ này “không xác định được thời gian, khối lượng cũng như nguồn gốc.”

Trong biên bản ghi rõ, ông Nam sau khi đào lên hoàn thành thì báo về xã để cử lực lượng hữu trách xuống kiểm tra cụ thể, phúc trình cấp có thẩm quyền giải quyết theo quy định.

Được sự cho phép của xã, ông Nam huy động nhiều phương tiện, nhân công để đào khúc cây mang về với chi phí khoảng 90 triệu đồng ($3,879).

Đến hôm 8 Tháng Tư, 2022, sau khi đào xong, ông Nam có báo cho ủy ban xã Sa Sơn. Đến ngày 20 Tháng Năm, 2022, không thấy cơ quan hữu trách đến, nghĩ rằng khúc cây không có giá trị nên ông Nam cho vận chuyển về xưởng đồ gỗ, nội thất Đoàn Đức Đạt để xẻ gỗ gia công làm đồ gia dụng.

Ông Lê Quang Nam và lệnh xử phạt vi phạm hành chính. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

Thế nhưng sau đó, Công An huyện Sa Thầy bất ngờ ập tới lập biên bản, tạm giữ, với lý do số gỗ trên “có hồ sơ, nguồn gốc lâm sản không đầy đủ, chưa rõ ràng.” Số gỗ đã cưa xẻ liền được đưa về trụ sở Công An Huyện Sa Thầy, đồng thời cán bộ công an ra quyết định “tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính…” và xử phạt hành chính 4 triệu đồng ($170) với cáo buộc “chiếm giữ tài sản của người khác.”

Nói với báo Thanh Niên, ông Nam kêu oan cho rằng mình đã bỏ rất nhiều công sức, chi phí để đào khúc gỗ. Nếu số gỗ trên bị tịch thu, xử phạt thì ông chịu thiệt hại rất lớn. Thế nhưng công an nói “không oan” vì ông “cố chiếm đoạt số gỗ đã phát hiện mà không đợi xử lý.” (Tr.N)