“Chăm” phần “chăm”- Võ Xuân Sơn

Ba’o Tieng Dan

Võ Xuân Sơn

23-11-2023

Một lần, tôi tuyển một anh lái xe. Tôi đăng tin trên vài mạng tìm việc làm bình dân, và có nhiều người đến dự tuyển. Anh là một trong số đó.

Sau khi tuyển anh vô một thời gian, anh mới nói chuyện. Thì ra anh là cán bộ của một ban quản lí dự án. Anh cứ bị ép kí nghiệm thu các công trình. Ban đầu thì anh được cấp trên yêu cầu bỏ qua một vài lỗi nhỏ. Nhưng càng ngày, các lỗi được yêu cầu bỏ qua càng lớn. Anh thấy nguy hiểm quá, và quyết định không kí khi bị yêu cầu kí một giấy tờ hết sức vô lí. Anh bị o ép đến mức phải xin nghỉ. Anh mua một cái xe tự chạy chở khách kiếm sống. Thế rồi dịch đến, rồi khó khăn trong kiểm định, lại thêm vụ bảng số vàng… Anh quyết định bán xe và xin đi lái xe.

Bây giờ, tôi tuyển người làm vườn, một dạng lao động phổ thông. Rất nhiều hồ sơ dự tuyển. Và không ít trong số đó là những người đã làm tại các cơ sở nhà nước hoặc tư nhân. Có những người từng là bí thư đoàn phường, rồi giữ trọng trách ở Hội đồng nhân dân… không ăn cánh bị hất ra. Thậm chí có người còn hỏi tôi, rằng nếu họ chuyển sinh hoạt đảng về nơi tôi thuê họ làm việc thì có được không.

***

Tôi thấy nhiều bạn tỏ ra ngạc nhiên khi 100% thành viên đoàn thanh tra nhận tiền hối lộ để cho SCB và bà Trương Mỹ Lan tiếp tục vi phạm, gây thiệt hại hàng chục tỉ USD. Sao lại có thể ngạc nhiên nhỉ? Chính tôi ngạc nhiên vì cái sự ngạc nhiên của các bạn. Hay là các bạn chưa bao giờ tiếp xúc với những thể loại như vậy? Vậy thì các bạn quá là may mắn.

Ảnh chụp màn hình bài báo đăng trên VNE: “100% thành viên đoàn thanh tra nhận tiền để dung túng cho SCB”

100% cái gì thì tôi không dám chắc. Nhưng 100% cùng nhau tìm cách moi móc, tróc nã thì tôi tin chắc chắn là thường xuyên có như vậy. Chẳng có gì ngạc nhiên khi 100% thành viên đoàn thanh tra nhận hối lộ cả. Ngay cả khi kẻ bị thanh tra có bị truy tố, bị bắt, thì tôi cũng không tin rằng các thành viên thanh tra không nhận hối lộ của chính kẻ bị truy tố, bị bắt. Tôi sẽ chỉ ngạc nhiên khi họ không nhận hối lộ thôi.

Những người không bước vô, hoặc bị loại ra khỏi số 100% ấy, bây giờ đang đầu quân trong đội ngũ shipper, lái taxi, làm vườn, hoặc các công việc phổ thông. Một số ít những người rút ra khỏi số 100% ấy thành đạt, một số phải ra nước ngoài sinh sống, số khác thì bị các cựu đồng liêu bòn rút, và dần trở thành vị trí doanh nghiệp thân hữu. Vài người dấn thân cải thiện con số 100% thì đang ở trong tù, hoặc bị đày đi biệt xứ.

Ở bộ máy 100% này, làm gì có chuyện đứng ngoài con số 100% ấy, nhất là khi được hưởng lợi. Chỉ cần không đồng thuận, thì bạn sẽ bị cô lập và bị đá đít. Muốn tồn tại trong bộ máy, thì phải 100% trong mọi việc.


 

Nhớ những năm dạy học ở Củ Chi – Đỗ Duy Ngọc

Đỗ Duy Ngọc

Trước năm 75 tôi có đi dạy giờ mấy trường tư thục. Lúc ấy thầy giáo dạy từ đệ nhất cấp trở lên gọi là giáo sư. Dạy giờ là kiểu dạy hợp đồng, dạy giờ nào tính tiền giờ đó, hết niên khoá nếu dạy không đạt yêu cầu, nhà trường sẽ gởi một bức thư từ chối cho niên khoá tiếp. Nếu dạy tốt, được đánh giá cao cũng sẽ nhận thư của nhà trường trân trọng mời ông tiếp tục niên học tới có chữ ký của Hiệu trưởng cùng cái dấu đỏ.

Sau 75, chính quyền mới cho học thêm mấy tháng gọi là bồi dưỡng chính trị và kiến thức của chế độ mới ở trường Đại học Sư phạm Thành phố. Xem như là khoá đầu tiên ra trường của ĐHSP sau thống nhất. Thi xong chờ phân công. Con của “nguỵ quân, nguỵ quyền” không được nhận nhiệm sở, đành kiếm nghề khác sống. Cũng may tỉnh Bến Tre thiếu giáo viên trầm trọng nên vớt một số về cho dạy mấy trường ở vùng sâu, vùng xa. Thành phần bị nghi ngờ về tư tưởng hoặc bị gán cho tội lỗi gì đấy cũng không được đi dạy. Tôi nằm trong số đó lại thêm bị một số đoàn viên báo cáo không tốt nên đành định ra chợ trời kiếm cơm.

Ơn trời, tôi có cô bạn có quan hệ mật thiết với Hiệu phó trường, nhờ vậy tôi được chiếu cố cho về Bạc Liêu. Đường về Bạc Liêu thời đó trắc trở, gian truân lắm, đi từ tờ mờ sáng đến tối mịt mới tới nơi sau khi qua không biết bao nhiêu là trạm gác. Thế nhưng Sở Giáo Dục Bạc Liêu cũng không nhận vì lý do lý lịch đen thui, cha, anh đều là “nguỵ quyền”, hồ sơ lại bị nhiều phê bình ác ý. Lại thêm có anh chàng học cùng trường về trước dèm pha. Thế là khăn gói trở về sau mấy tháng đợi chờ vô vọng.

Nhưng thế mà lại may, Sở Giáo Dục thành phố chấp nhận cho tôi về dạy trường cấp 3 Phú Hoà. Nhận quyết định, cứ nghĩ là ở Phú Thọ Hoà, tưởng không xa lắm, cũng được. Nào ngờ trường đấy nằm ở ngã tư Tân Quy, huyện Củ Chi. Hồi đấy xe cộ khó khăn, xe khách chạy bằng than, muốn lên được xe phải chen nhau qua cửa sổ. Nhiều lúc không leo lên được phải đứng ở bục gỗ sau xe, lò than nóng hừng hực, lâu lâu lại rớt ra mấy hòn than đỏ rực. Xe chỉ đến chợ Hóc Môn, đi bộ hoặc đi xe ngựa vào bến xe lam. Xe chạy qua Cầu Xáng, qua Tân Thạnh Tây mới đến trường.

Trường nghèo, chỉ có khoảng sáu phòng học, sân trường đầy những cây bã đậu. Bảng tên trường liêu xiêu, tróc sơn nằm chơ vơ nhìn ra cánh đồng trống. Cảnh buồn hiu. Trước trường là tỉnh lộ chạy hết đường sẽ đến con sông đi qua tỉnh Bình Dương. Nhìn cảnh trường oải thiệt là oải. Mà cũng đành, thời đã thế thế thời phải thế thôi.

Từ nhỏ cho đến giờ phút đó, tôi chỉ học ở các trường to, sân rộng, lầu cao, phương tiện đủ đầy. Giờ lại đến một ngôi trường với những phòng quét vôi loang lổ, bảng đen sờn hết sơn, mái lợp fibro ciment. Cửa sổ phòng học nhìn ra bãi đất ngút ngàn lộng gió. Chất độc khai hoang thời chiến tranh khiến cỏ cây xác xơ, chẳng có cây nào sống nổi. Nhìn quá nản lòng chiến sĩ.

Trời đã về chiều, những đám nắng vàng vọt chiếu trên những đám cỏ trơ trọi khiến khung cảnh càng thêm nản lòng. Dáo dác nhìn quanh, thấy có căn phòng phía trước ngổn ngang ghế bàn. Cửa khép hờ, tôi gõ cửa. Có tiếng vọng ra: Ai đấy, vào đi.

Tôi vào, phòng có mỗi chiếc bàn và lung tung đồ đạc, giấy tờ cùng chiếc máy đánh chữ. Một ông trung niên da ngăm đen, tóc hớt ngắn đang kéo thuốc lào. Ông mặc áo thun ba lỗ đã ngã màu cháo lòng và chiếc quần tây bộ đội đã cũ nhàu. Sau khi rít một hơi thật sâu, ông ngửa mặt lên trời thở ra làn khói mù mịt rồi hất hàm hỏi: Đi đâu đấy, hỏi ai?

Tôi bảo: Tôi được Sở Giáo Dục phân công về đây dạy học. Cho tôi gặp Hiệu trưởng. Vừa nói, tôi vừa đưa giấy cho ông. Ông nheo mắt nhìn tôi, lại bảo: Tôi là Hiệu trưởng đây. Xem nào. Dạy môn gì? Tôi bảo: Môn Văn. Ông nhịp nhịp bàn tay như có ý bảo tôi ngồi xuống. Thầy xếp ba lô ở đây, tối xếp mấy cái bàn ngủ rồi mai tôi bảo Hiệu phó xếp giờ cho Thầy. Tối đến thầy cô xếp bàn thành giường, mắc màn ngủ trong phòng. Lúc đó chưa có điện, đêm thắp đèn dầu, sáng ra mũi ai cũng đầy bồ hóng đen thui.

Buổi đầu tiên trình diện để khởi đầu những năm tháng làm thầy của tôi diễn ra như thế đấy. Tôi tự nhủ, chắc gắng thời gian ngắn ở đây rồi rút thôi, làm sao mà tồn tại ở chốn này cho nổi.

Người tính không bằng trời tính, định ở đó thời gian ngắn rồi tìm cách thoát, ai ngờ ở đến năm năm. Năm năm biết bao kỷ niệm, buồn có, vui cũng không thiếu. Chính các em học trò đã níu chân tôi lại năm năm. Lúc đấy các em là học trò nhà quê, lạ lẫm với ông thầy lúc nào cũng mang giày da, áo chẽn, quần loe, tóc phủ mang tai, râu ria lún phún. Lên lớp dạy nói lớn đến nỗi cả trường nghe giảng. Trò quý Thầy và Thầy cũng thương cho hoàn cảnh của trò.

Các em hồn nhiên và rất tình cảm, kính trọng Thầy Cô. Xem Thầy Cô như thần tượng của mình. Ngay phụ huynh các em cũng thế. Dạy được một năm, tôi đưa vợ về ở luôn trong trường. Nhà trường phân cho chái nhà phên tre, mái tranh. Ngày nóng hầm hập, đêm con bọ xít bay đầy, tiếng ễnh ương kêu oàm oạp, mùa mưa lội bì bõm.

Lần đầu tiên vợ tôi đi chợ Phú Hoà Đông, các bà, các cô ở chợ rủ nhau đi xem mặt vợ Thầy Ngọc, bởi vợ tôi có khuôn mặt của người ngoại quốc. Rồi các người bán hàng chẳng chịu lấy tiền, vợ tôi ngại quá từ đấy không dám ra chợ nữa, chỉ nhờ người khác mua giúp.

Tình cảm của học trò thời ấy đẹp lắm, quý lắm. Đã hơn 47 năm rồi, các em ấy bây giờ đã qua tuổi sáu mươi nhưng tình thân càng ngày càng đầy chứ không hề vơi. Chính cái tình ấy khiến tôi không nỡ bỏ các em mà đi. Hơn nữa, năm 1978, tôi làm hồ sơ đi Pháp, đang chờ giấy xuất cảnh nên cũng không muốn thay đổi cuộc sống vì sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý hồ sơ của công an và lãnh sự Pháp.

Thời kỳ đó cuộc sống vô cùng khốn khó. Lãnh lương có mấy chục đồng mà đóng tiền mua nhu yếu phẩm hết gần một nửa. Mỗi tháng mua được nửa ký thịt heo chẳng ngon lành gì. Cá thì ươn, gạo hẩm. Tiêu chuẩn 13 ký gạo mà hơn nửa là bột mì với bo bo. Thèm đủ thứ.

Vợ tôi có mang con trai đầu lòng, chỉ thèm miếng thịt gà mà chẳng có để ăn. Đẻ con phải làm đơn qua 4 cửa với đủ chữ ký rồi nhờ người quen giới thiệu mới mua được bốn hộp sữa bò. Bột ngọt, tiêu hột phân chia bằng muỗng. Vải, vỏ xe phải bốc thăm. Nhiều lúc nữ được quần đùi mà nam lại bốc được vải mùng vệ sinh của phụ nữ.

Ban đêm mấy thầy rủ nhau đi bắt bù tọt về ăn cho có chút đạm. Ai nấy đều ốm tong teo, bụng thon, ngực lép nhưng lên lớp thì rất nhiệt tình và thương quý học trò như những đứa em, con cháu của mình. Chính cái tình ấy đã giúp cho rất nhiều thầy cô từ thành phố về vẫn đứng trên bục giảng suốt mấy năm.

Rời trường đấy sau năm năm để đổi về thành phố, tôi vẫn nhớ như in những khuôn mặt của các em. Những khuôn mặt hiền lành, thân tình khó tìm ở thời buổi bát nháo bây giờ. Ra đời, nhờ lý lịch các em đa số làm quan chức, giờ đã về hưu. Lâu lâu gặp lại, cuốn phim của gần năm mươi năm trước lại quay về.

Hôm nay ngày 20 tháng 11, ngày của nhà giáo, kỷ niệm tràn về, viết một bài ngắn để nhớ về một đoạn đời đã qua đi. Nhớ những người đồng nghiệp cùng đồng cam cộng khổ thời gian khó, nhớ những người đã mất, những người đang ở phương xa.

Đoạn đời không dễ gì quên. Chúc các em, những người học trò trường Trung Phú, Củ Chi ngày xưa luôn hạnh phúc, vui khoẻ và luôn giữ được mối thân tình đã có. Mãi thương quý các em.

Sài Gòn, 20.11.2023

Đỗ Duy Ngọc


 

ĐỜI ĐỜI, RẤT ĐỜI ĐỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống”.

Frederick, người theo thuyết bất khả tri; Von Zealand, tướng quân thân tín của vua, ngược lại, là một Kitô hữu. Trong một lễ hội, Frederick giễu cợt Chúa Giêsu, mọi người cười ngất ngưỡng, đến nỗi người lính già đứng dậy thưa, “Bệ hạ, ngài biết tôi không sợ chết! Tôi thắng 38 trận cho ngài. Tôi sẽ sớm trình diện Giêsu, Đấng ngài đang phạm thượng; Đấng vĩ đại hơn ngài, Đấng ‘đời đời, rất đời đời!’. Giờ đây, tôi chào ngài như một người yêu mến Đấng Cứu Rỗi mình, tôi đang ở ngưỡng cửa vĩnh cửu!”. Không gian trở nên im ắng, và với cung giọng run rẩy, vua nói, “Tướng quân! Tôi xin ngài thứ lỗi!”. Bữa tiệc lặng lẽ kết thúc!

Frederick the Great

Kính thưa Anh Chị em,

Đấng ‘đời đời, rất đời đời’ của Von Zealand chính là “Thiên Chúa của kẻ sống” mà Tin Mừng hôm nay tiết lộ. Để hiểu được lời này, Karl Rahner nói, “Bạn hãy thả mình vào cung lòng của Thiên Chúa một cách vô điều kiện!”.

Tin Mừng tường thuật việc những người Sadducêô đưa ra một kịch bản trái khoáy để gài bẫy Chúa Giêsu: một phụ nữ đã là vợ của bảy anh em; khi sống lại, nàng sẽ là vợ ai? Chúa Giêsu giải thích, “Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống!”. Hôn nhân chỉ dành cho đời này, không phải cho đời sau. Vì vậy, sẽ không ai là chồng của nàng!

The Sadducees Ask About the Resurrection - The Pilgrim Journal

Với giáo huấn này, một số người sẽ gặp khó khăn! Họ mong muốn vẫn là vợ, là chồng của người phối ngẫu của mình trên thiên đàng. Hãy yên tâm, các mối dây yêu thương chúng ta đã hình thành trên dương thế sẽ vẫn còn, và thậm chí, được củng cố hơn ở trên trời! Chúng sẽ vẫn bền chặt hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, hôn nhân, theo nghĩa trần thế, sẽ không còn; nó được thay thế bằng tình yêu trong sáng của một cuộc sống mới.

Karl Rahner nói, “Bước theo Chúa Kitô, niềm tin vào sự phục sinh mai ngày của Kitô hữu được móc, được đính chặt tận chóp đỉnh trên cùng bản tính hằng sống của Thiên Chúa; Ngài hằng sống, vô cùng, ‘đời đời, rất đời đời’… nên tình yêu của Ngài cũng vĩnh hằng, miên viễn và đời đời như Ngài”. Thánh Vịnh đáp ca bày tỏ niềm tri ân, “Lạy Chúa, con mừng rỡ vì ơn Ngài cứu độ!”. Không có thiên đàng, không có cuộc sống vĩnh cửu, Kitô giáo sẽ giảm thiểu chỉ còn là đạo đức học hay một triết lý sống. Niềm tin vào sự phục sinh là cần thiết để mọi hành động yêu thương không phải là phù du và tự nó kết thúc, nhưng có thể trở thành hạt giống định sẵn để nên hoa trái vĩnh cửu trong ngôi vườn của Cha.

Chúa Nhật XXXII TN C - Thiên Chúa Của Kẻ Sống - DÒNG ĐỨC MARIA NỮ VƯƠNG ...

Anh Chị em,

“Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống!”. Với câu trả lời của Chúa Giêsu, Đức Phanxicô kết luận, “Trước hết, Chúa Giêsu mời gọi những người đối thoại với Ngài – và cả chúng ta – hãy biết, chiều kích trần thế mà chúng ta đang sống không phải là chiều kích duy nhất, nhưng còn có một chiều kích khác, không chịu tác động của sự chết, sẽ biểu lộ đầy đủ rằng, chúng ta là con trai con gái của Thiên Chúa! Thật là một niềm an ủi và hy vọng vô bờ khi được nghe những lời đơn giản và rõ ràng này của Chúa Giêsu về cuộc sống bên kia cái chết. Chúng ta rất cần nó, nhất là trong thời đại hôm nay, một thời đại rất giàu kiến thức về vũ trụ nhưng lại thiếu khôn ngoan về sự sống đời đời!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ chết, không thắng trận nào cho Chúa, lại sợ sớm trình diện Ngài. Cho con dám thả mình vào cung lòng Chúa. Đừng để con sống như không có đời sau!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

THƯỢNG ĐẾ CHỈ CHO MỘT CHIẾC GIÀY

Có một cậu bé sinh ra trong một gia đình nghèo, từ nhỏ đến khi đi học cậu chỉ mang mỗi một đôi giày rách.

Cậu bé nghe nói vào lễ Giáng Sinh, khi đến bất cứ cửa hàng nào, chỉ cần nói với Thượng Đế thứ mình muốn thì chủ cửa hàng sẽ thỏa mãn yêu cầu của mình.

Vào hôm Giáng Sinh, cậu bé nhìn thấy trong một cửa hàng giày có bày bán những đôi giày rất đẹp nên đã bước vào cửa hàng và nói với ông chủ rằng:

“Hôm nay là Giáng Sinh, cháu rất thích đôi giày này, chú có thể giúp cháu nói với Thượng Đế để Ngài cho cháu đôi giày này có được không ạ?”

Ông chủ nhìn xuống chân của cậu bé và hiểu ngay vấn đề, ông ấy cầm lấy đôi giày rồi nói:

“Được thôi cháu bé, bây giờ ta sẽ nói với Thượng Đế”.

Sau đó ông ấy cầm đôi giày và đi vào bên trong.

Một lúc sau, ông chủ đi ra, nhưng trên tay chỉ cầm có mỗi một chiếc giày rồi đưa cho cậu bé và nói:

“Cháu bé, Thượng Đế nói rằng Ngài chỉ cho cháu một chiếc giày thôi, cháu phải tự nghĩ cách kiếm tiền để mua chiếc còn lại.”

Cậu bé hỏi:

“Vậy cháu phải kiếm bao nhiêu tiền thì mới mua được chiếc giày còn lại?”

Ông chủ nói:

“2 đô la.”

Cậu bé lại nói:

“Được rồi ạ, cháu sẽ nghĩ cách kiếm tiền, nhưng chú nhất định phải giữ cho cháu chiếc giày còn lại nhé.”

Ông chủ cười nói:

“Cháu cứ yên tâm.”

Sau khi về nhà và tiết kiệm được 2 đô la bằng cách nhặt ve chai, cậu bé vui vẻ chạy đến cửa hàng để trả tiền. Ông chủ đã khen ngợi cậu bé và đưa cho cậu chiếc giày còn lại. Kể từ đó, cậu bé đã có một đôi giày mới rất đẹp.

Khi lớn lên, cậu bé đã từng làm nhiều nghề như nhân viên cứu hộ, bình luận viên, phát thanh viên rồi bước vào giới nghệ thuật và trở thành một ngôi sao nổi tiếng.

Vào năm 1980, cậu bé ấy đã trở thành Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ, cũng chính là Tổng thống Ronald Reagan.

Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, có một lần ông Ronald Reagan được phóng viên hỏi về việc có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự trưởng thành của ông là gì, ông đã kể về câu chuyện

“Thượng Đế chỉ cho 1 chiếc giày” khi ông còn nhỏ.

Ông Reagan cho biết:

“Sau này tôi mới biết được giá gốc của đôi giày đó là 38 đô la, một nửa giá cũng đến 19 đô la nhưng ông chủ cửa hàng chỉ lấy của tôi 2 đô la để dạy cho tôi một điều rằng: Thượng Đế sẽ không cho bạn tất cả những gì bạn muốn, Ngài chỉ cho bạn một phần mà thôi, bạn phải tự mình nỗ lực để lấy phần còn lại.”

Thượng Đế sẽ không cho bất cứ ai quá nhiều hay quá ít. Ngài cho bạn một phần và bạn phải tự mình nỗ lực để có được phần còn lại.

[theo trithucvn]

Trương Đức Hạnh

From: Truong Le


 

Tổng Trọng nói “Chưa bao giờ nước Ta được như thế này” và Vụ rút ruột ngân hàng lớn nhất trong lịch sử Việt Nam

Bà Trương Mỹ Lan trong vụ Vạn Thạnh Phát đã phá nhiều kỷ lục:

  • Rút tiền mặt từ ngân hàng lớn nhất trong lịch sử.
  • Hối lộ chỉ một thanh tra ngân hàng nhà nước, bà Nhàn, lên đến trên 5,2 triệu đô la.
  • 45 lãnh đạo, 6 thanh tra chánh phủ, 12 cán bộ ngân hàng nhận tiền hối lộ.
  • Rút tiền ngân hàng SCB để chạy vào túi của công ty bà Lan, chuyện không thẻ xảy ra ở bất kỳ nước nào trên thế giới ngoại trừ Việt Nam và trong vòng tham nhũng của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam.
  • Vụ lừa đảo lớn nhất lịch sử Việt Nam ngay trước mũi Đảng trong hệ thống quái thai, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng XHCN.
  • Lời Bác Trọng thật chí lý, chưa bao giờ như thế lày!

Hậu quả nặng nề là sự khủng hoảng niềm tin vào ngân hàng và mất niềm tin vào hầu hết các công ty Bất Động Sản.

Các trái phiếu sẽ không còn được dân chúng và các nhà đầu tư tin tưởng.

Có bao nhiêu SCB khác đang xẩy ra mà chưa bị khui? SCB chỉ là đỉnh của tảng băng sơn khổng lồ tham nhũng trong các ngân hàng Việt Nam.

Niềm Tin của Bò Đỏ, Bê Hường vào Đảng Cộng Sản sẽ tan tành. Còn dân chúng thì sẽ vĩnh viễn mất niềm tin vào tài lãnh đạo của đỉnh cao trí tuệ loài khỉ.

Hồi đó ông cựu chủ tịch nước Trương tấn Sang đã nói rồi, cán bộ tham nhũng đông như lũ sâu, nhìn đâu cũng nhung nhúc bò làm sao mà diệt được hết (trừ khi là đốn bỏ hệ sinh thái của chúng).

CÔ GÁI BÁN DON – Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích – Truyện ngắn

 Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Hắn cũng lần đầu tiên nghe đến chữ “con don”, ngay cả những ai đã từng bước chân ngang qua Quảng Ngãi mà không có dịp được thấy cũng kể như mù… Vào mạng tìm đọc để biết và cũng là tài liệu để chuyển vào bài viết cho những người chưa biết xứ Quảng Ngãi như hắn chớ nào có được thưởng thức đâu! cũng may nhờ sư phụ Google giảng giải để hiểu thêm… kiến thức thật vô cùng tận, càng đọc càng thấy mình còn kém.

Ngay cả chữ “Cổ Lũy”,là một địa danh hình như trong bản trường ca “con đường cái quan” nhạc sĩ Phạm Duy cũng có nhắc đến, ngày trước hắn mãi mới tìm ra được trong một bài báo nói về Quảng Ngãi.

Tặng thằng bạn An Lộc hắn hay gọi là “cua” cũng dân Quảng Ngãi, chắc nó rành con don .

“Canh don vốn là món ăn quen thuộc của người dân Quảng Ngãi. Nếu không phải là người bản xứ, khi nhìn con don, nhiều người thường nhầm với con hến. Tuy nhiên, con don Quảng Ngãi khác với con hến. Don còn được gọi là con déc, hình dạng giống quả trám nhỏ, vỏ mỏng, màu vàng đậm, thường dài khoảng 2cm. Ruột don có màu phổi bò pha màu vàng , bao quanh là những tua rua màu hồng”.

CÔ GÁI BÁN DON
Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Đến định cư tại miền Bắc California Hoa Kỳ hơn nửa năm, bỗng một hôm, tôi nhận được cú điện thoại của Thung từ Texas gọi qua. Thung là bạn học, cũng là chiến hữu của tôi ngày xưa. Hắn đề nghị gởi vé máy bay mời tôi qua Houston chơi. Nhân tiện thăm viếng khu vực dễ làm ăn và giá nhà cửa cũng dễ thở hơn nhiều so với San Jose. Tôi đồng ý. Một tuần lễ sau, một vé máy bay và một cái check 300 Mỹ kim trong bì thư gởi đến. Đây là một món quà khá hậu hỉ ở đất lạ quê người. Ba ngày sau, tôi lên máy bay của hãng Continental Airlines đi Texas. Bay suốt bốn tiếng đồng hồ, chiếc Boeing mới hạ cánh xuống phi trường Houston. Thung đón tôi tại lối ra của khu hành khách. Lần gặp nhau cuối cùng ở quê nhà vào năm 1973, tại Đại Học CTCT Đà Lạt. Ngày ấy, trông hắn rắn rỏi, khuôn mặt sạm nắng mà hôm nay, sau mười sáu năm định cư tại Mỹ, hắn hoàn toàn lột xác. Nước da trắng hồng đỏ au, cái bụng căng tròn, dáng người bệ vệ trông “rất ông chủ”. Mà chủ thực. Thung làm chủ cái chợ bán đồ biển. Vợ và con quản lý còn Thung lo chạy vòng ngoài.

Ngày hôm sau Thung đưa tôi đến thăm cơ sở làm ăn của gia đình. Nào phòng mạch nha sĩ của đứa con trai đầu lòng, phòng dịch vụ về bảo hiểm của đứa con gái. Sau đó Thung mời tôi đi ăn trưa.

Nhà hàng có tên Cổ Lũy Restaurant tọa lạc tại khu sầm uất nhất của người Việt và Hoa tại thành phố Houston. Vào giờ xế trưa, nhà hàng vắng khách nên chúng tôi chọn chiếc bàn đặt gần quầy thu tiền. Người bồi bàn trao cho chúng tôi bản thực đơn. Cái tên Cổ Lũy nghe quen thân quá. Tôi nghĩ, có lẽ chủ nhà hàng là người Quảng Ngãi. Bởi Cổ Lũy là tên một cửa biển từ hai dòng sông Trà Khúc và Sông Vệ nhập vào. Nơi đây thuyền bè tấp nập ra vào bến tàu Phú Thọ. Trong tờ thực đơn có món “Hến xúc bánh tráng”. Nhìn thấy hến mình lại nhớ đến món don. Chẳng cần xem tiếp tờ thực đơn, tôi gọi ngay một tô don. Cô bồi bàn giọng miền Nam nhìn tôi ngạc nhiên hỏi:

– Don là món gì vậy, nghe lạ quá hỡ ông? Thực đơn nhà hàng này không có món đó

Cái món “Hến xúc bánh tráng” trong thực đơn có ghi, tại sao lại không có món don ?

Tôi vừa cự nự (kiểu Quảng Ngãi hay có) vừa chỉ cho cô chạy bàn cái món ruột hến, rồi tiếp:

– Nếu không có don thì cho tôi cái món số 15 này.

Cô gái bồi bàn đi vào bếp. Ngay sau đó, một phụ nữ đứng tuổi ăn mặc sang trọng từ quầy thu tiền đi thẳng đến bàn chúng tôi. Bà có mái tóc ngắn làm nổi bật khuôn mặt trái soan đầy đặn với làn da trắng mịn. Thung khều chân tôi nói nhỏ : “Bà chủ”

– Chào hai anh. Người đàn bà nở nụ cười thân thiện.

– Chào bà chủ, Thung đáp lễ.

– Vị nào thích món don ? bà chủ tươi cười hỏi.

– Thưa bà, tôi ạ.

– Xin lỗi, anh người quê Quảng Ngãi ?

– Tại sao bà biết ?

– Tôi chỉ đoán thôi, bởi vì chỉ có dân sống tại Quảng Ngãi mới thấy thích thú món don.

– Thế bà cũng là người Quảng Ngãi, đúng không?

– Anh nghĩ sao mà đoán ra thế?

– Chỉ nhìn cái tên hiệu Cổ Lũy của nhà hàng là biết ngay.

– Nầy ông anh, trước kia ở Quảng Ngãi, anh sống ở huyện nào vậy?

– Tôi ở thị xã, trên đường Quang Trung

Người đàn bà nhìn tôi một chặp lâu rồi quay vào bên trong nhà hàng. Lát sau, món ăn được bưng ra. Một tô bún chả cá cho Thung và một dĩa ruột hến xúc bánh tráng cho tôi. Lâu lắm rồi tôi mới nghe lại mùi hến. Hến ở quê nhà ruột nhỏ, dai và thơm. Còn hến đóng hộp nhập cảng con lớn, mềm lại mất hết mùi vị. Ngày xưa, mỗi lần đi Huế, tôi nhất định phải ăn cho được một lần cơm hến. Đi đâu xa trở về Quảng Ngãi, tôi không thể nào quên ăn một bữa don cho đã cơn ghiền.

Cô bồi bàn bưng hai ly nước cam vắt đến bàn chúng tôi nói của bà chủ mời, có kèm theo một tấm danh thiếp trao cho tôi. Mặt sau danh thiếp là chữ viết của bà chủ nhà hàng mời riêng tôi đến nhà vào chiều Thứ Bảy. Đặc biệt, bà khoản đãi món don do bà nấu. Phần dưới là số phone và địa chỉ nhà riêng. Trên đường về, tôi hỏi Thung:

– Cậu nghĩ sao cái trường hợp lạ lùng này ?

– Ở quê người, nhớ cố hương, gặp người Việt đã mừng rồi huống chi lại là đồng hương Quảng Ngãi. Bà ấy mời cậu đến nhà có lẽ để hỏi thăm tin tức bà con ở quê nhà. Cứ nhìn dáng dấp bà ấy với cái cơ ngơi nầy là cậu hiểu ngay bà ta là dân trụ ở đây khá lâu. Biết đâu cơ may đem đến cho cậu công ăn việc làm ở thành phố này.

Bạn tôi suy luận như thế. Riêng tôi, vì lạ đất lạ người nên có phần bồn chồn, áy náy.

Hương vị của món hến xúc bánh tráng làm tôi nhớ đến kỷ niệm ngày mới lớn nơi quê nhà. Tôi từ trên quê xuống tỉnh học, ở trọ nhà người chị thứ Tư trên đường Quang Trung Thị xã Quảng Ngãi. Anh chị dành cho tôi căn phòng trên căn gác lửng. Có ban-công nhô ra làm mái hiên cho tầng dưới. Thông thường mỗi sáng, tôi thức dậy học bài rất sớm. Đường phố vẫn còn sương mù vướng mắc đó đây. Hàng cây bên đường trĩu nặng những hạt sương khuya, dấu kín bóng đêm trong vòm lá sum sê. Khi chân trời vừa rựng đỏ khuất sau hàng tre hướng Đông, là tiếng rao hàng ăn buổi sáng bắt đầu râm ran trước đường nhựa. Nào xôi, bánh bột lọc, cháo gà, bánh canh, bánh mì… đủ các loại hàng ăn vặt, và cũng đủ các loại âm thanh. Tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng hơi khàn, giọng Huế, giọng Bắc, giọng Nam… Duy có tiếng rao: “Ai ăn don ho..o..o.. ông” là khiến tôi để ý. Tiếng “ho..o..o..ông” sau cùng kéo dài không đủ hơi chứng tỏ người rao hàng không phải giọng của người đứng tuổi. Tiếng rao nghe lánh lót như chim non mới tập hót, âm điệu ngây thơ rời rạc. Tôi ngồi học mà vẫn để ý đến tiếng rao bán don vang lên trước nhà. Tiếng rao như bị sương lạnh buổi sáng sớm làm đông lại không thoát ra được, nó nhỏ dần, nhỏ dần rồi hút mất ngoài xa.

Một hôm, tôi đang đứng tập mấy động tác hít thở trên ban-công, chợt tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông” quen thuộc vang lên phía dưới đường. Tôi vạch bức mành nhìn xuống thấy một người con gái mặc chiếc áo bà ba trắng thân hình mỏng mảnh với gánh don trên vai.

“Ê don”, tôi gọi cô nàng đứng lại rồi vộï vàng xuống thang gác.

Gánh don đã được đặt trước hiên nhà, nàng đứng đó chờ tôi mở cửa.

– Anh ăn don? Nàng hỏi khi tôi nhẹ nhàng lách mình qua cánh cửa sắt. Là một cô bé ước chừng mười mười bốn, mười lăm. Mái tóc vừa chấm vai che một bên khuôn mặt trái soan còn măng tơ. Tôi nhìn vào ngực cô bé, đôi nhũ hoa hồng hồng như hai núm quả cau nhú bên trong làn vải mỏng không áo lót, khiến cô bé cúi mặt thẹn thùng. Bạn học của tôi, những cô nữ sinh cùng cỡ tuổi đã bắt đầu chưng diện se sua, áo ngoài áo trong, phần trên phần dưới đủ cả, không khác chi người lớn. Còn cô bé, với chiếc quần đen, áo bà ba trắng mộc mạc nổi bật nét đẹp của người con gái chân quê.

– Anh ăn don?

Cô bé nhắc lại lần nữa, tôi sực tỉnh trả lời :

– Không ăn don, kêu cô lại làm gì?

Cô bé chợt hiểu nở miệng cười chữa thẹn khoe hàm răng trắng đều như những hạt bắp nếp. Nụ cười hồn nhiên khiến người đối diện cũng thấy lòng dạt dào, xao xuyến. Cô bé hai tay thoăn thoắt múc don. Mùi don thơm nồng pha chút hương biển từ ui don bay lên ngào ngạt. Cô bé trao cho tôi tô don còn bốc hơi cùng với chiếc bánh tráng nướng và hai trái ớt xiêm tươi xanh. Ăn don đâu cần phải bàn ghế. Tôi đặt bát don xuống nền xi măng, bẻ bánh tráng bỏ vào tô giằm luôn hai trái ớt. Nước don ngọt và béo. Cái ngọt độc đáo không phải vị ngọt của thịt, cá mà vị ngọt rất đậm đà hương vị quê hương. Lại thêm vị nồng cay của ớt, mùi thơm của bánh tráng nướng nó quyện vào lưỡi, ngấm vào chân răng, kích thích tận cùng tế bào vị giác. Nước don nuốt tới đâu ấm tới đó. Trời lạnh mà ta ăn don vào buổi sáng thì mới thưởng thức được hết cái thú ăn don ở quê nhà. Miếng don cuối cùng để lại trong miệng, trong cổ của ta vị ngọt ngọt, cay cay, nồng nồng, béo béo quyến rũ lạ kỳ. Nó khiến người ăn don không muốn dừng ở tô thứ nhất.

Tôi ăn ngon lành. Miệng hít hà vì ớt cay. Cái lưỡi tê tê mùi cay nồng của loại ớt xiêm vô cùng hấp dẫn làm cho nước mắt nước mũi tuôn ra. Nhìn cách ăn rất thật tình của tôi, cô bé cứ che miệng cười. Một tô, hai tô rồi ba tô. Cô bé trợn trừng đôi mắt, đôi mắt bồ câu đen lay láy. Cô kêu lên :

– Coi chừng bể bụng đó, anh Hai !

Ô, lần đầu tiên tôi được một người con gái gọi bằng anh. Anh Hai. Mười sáu tuổi, học lớp đệ Tứ rồi đấy nhé. Thế mà cha mẹ, anh chị cứ gọi tôi là Út Đẹt. Mẹ tôi thường nhắc chuyện hồi tôi còn nhỏ. Đã bốn, năm tuổi rồi mà vẫn còn bú và ăn cháo. Các bà chị tôi chế nhạo hoài mỗi lần tôi ôm vú mẹ. Chị Hai tôi hay trách mẹ tôi nhiều nhất :

– Mẹ ơi, mẹ cưng chiều nó quá làm sao nó thành người lớn.

Mẹ tôi cười, nhỏ nhẹ bảo :

– Các chị lớn cả rồi còn em nó út ít mà”.

Chị tôi bực mình bảo:

– Chừng đó tuổi mà chưa chịu dứt sữa. Chẳng lẽ đến khi đi học, mẹ phải mang vú đến trường cho Út sao?

Chị Hai nói xong bỏ đi. Mẹ vò đầu tôi, tóc còn ướt nhẹp mồ hôi, âu yếm :

– Giàu út ăn, khó út chịu, Mẹ có sữa con nhờ.

Cái hòn đá bàn dưới bến sông, nơi để giặt áo quần là chỗ ngủ của tôi trong những buổi trưa hè. Nền nhà lót gạch trước bàn thờ là giường ngủ của tôi trong những đêm nóng bức. Các chị tôi thường hay đùa cợt:

– Thằng Út cứ ăn chay nằm đất kiểu nầy, lớn lên nó trở thành thầy chùa là cái chắc.

Tôi là đứa con thứ bảy trong gia đình. Những tá điền, người làm cho cha mẹ tôi đều gọi tôi là cậu Bảy Út. Thế mà bác Tám Đang ở xóm dưới dám đặt cho tôi biệt danh “Bảy Thưa” chỉ vì mấy cái răng cửa của tôi mọc hơi sưa một chút. Cái thân hình của tôi hồi đó mỏng như thân con nhái bén. Da dẻ sần sùi khô khốc bởi suốt ngày cứ để lưng trần chạy ngoài nắng. Mỗi lần bạn bè rủ tôi đá banh trên ruộng lúa mới cắt, chúng nó cứ la oang oang cái tên “Bảy Thưa” nghe chẳng đẹp tý nào ấy:

– Ê, Bảy Thưa đưa banh qua cho tao. Nào, Bảy Thưa banh đây sút vào…

Tức lắm, tôi bèn ra một điều kiện:

– Nếu bọn bay còn gọi cái tên “Bảy Thưa” nữa là tao bỏ chơi. Nhóm thằng Thới xóm Thọ Đông đang chiêu dụ tao đó. Liệu hồn!…

– Nầy cô bé, sao không múc tiếp một tô nữa?

– Anh à, em chưa hề thấy người nào ăn đến ba tô don mà còn kêu thêm nữa, ăn no quá mất ngon, thôi để ngày mai nghe anh,

Tiếng “nghe anh” của cô bé sao mà êm đềm quá, ngọt ngào quá. Bỗng nhiên tim tôi đập rộn ràng. Tôi muốn hỏi tên cô bé nhưng cứ ngại ngùng, đành phải móc tiền ra trả. Cô bé đi rồi, tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông” đã văng vẳng ngoài xa mà tôi vẫn còn đứng nhìn theo thẫn thờ. Sáng hôm sau, cô bé cất tiếng rao hàng rồi đặt gánh don trước hiên nhà chờ đợi. Tôi lại vội vàng mở cửa :

– Nầy, đằng ấy tên gì vậy ?

– Em tên Thuyền

Cô bé trả rồi dạn dĩ nhìn tôi hỏi:

-Thế còn tên anh ?”

– Hạo. Hạo, cái tên lạ quá !

Cô bé nhắc lại tên tôi rồi cười bẽn lẽn. Đôi tay Thuyền múc don lẹ làng, vén khéo không hề rơi rớt. Tôi để ý lần này, cô bé đem theo một cái tô cỡ lớn hơn, khác hẳn với những cái tô khác chồng trên miệng ui. Cô tự ý bẻ bánh tráng cho vào tô trước khi đổ don vào. Vừa làm cô bé vừa giải thích :

– Làm thế nầy don còn giữ được độ nóng, và hương don không bị loãng.

Cô bé trao tô don cho tôi, vô tình tôi đặt bàn tay chạm phải tay nàng. Bé cúi mặt thẹn thùng khiến hai tai nàng rựng đỏ, Thuyền bảo :

– Mỗi sáng anh ăn hai tô nầy là đủ rồi.

Từ đó, sáng nào tôi cũng ăn don của cô bé Thuyền. Thỉnh thoảng chị tôi mua ốc don tươi về nấu. Thông thường chị thêm vào nồi don cả thịt bằm, tóp mỡ, nhưng tôi ăn một cách lơ đãng chẳng thấy hấp dẫn tý nào. Chị tôi chế giễu :

– Thằng Út nó đâu có mê don, chỉ mê con nhỏ bán don.

Có lần tôi cố tình giữ bàn tay Thuyền bên dưới tô don, cô bé cứ để nguyên nhìn tôi với ánh mắt long lanh tình tứ.

Chặp lâu sau, nàng rút tay về hối thúc:

– Người ta thấy kìa, ăn đi kẻo nguội.

Thế là suốt mùa don, cô bé Thuyền ít có buổi sáng nào vắng mặt. Ăn hoài tôi đâm ghiền. Ngày nào Thuyền không đến là suốt ngày đó tôi thấy trống vắng lạ thường. Tôi nhớ hương vị của don, tôi nhớ khuôn mặt của Thuyền. Suốt ba tháng hè tôi không về quê lấy cớ học bài thi. Có lẽ nhờ ăn don mà thân thể tôi đẫy đà. Da dẻ tôi thêm hồng hào trắng mịn. Bà chị tôi phát giác sự “thay da đổi thịt” của thằng em út. Chị chế nhạo: “Nghèo nghèo, nợ nợ kiếm cô vợ bán don. Mai sau có chết cũng còn cặp ui”.

Năm đó tôi đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, cha mẹ tôi cho tôi theo người anh họ vào Sài Gòn tiếp tục học. Tôi từ biệt Quảng Ngãi mà nghe lòng mình buồn tê tái. Tôi ra đi lúc trời chớm Thu, những cơn mưa đầu mùa đã làm cho nước sông dâng cao. Tôi còn nhớ lời Thuyền dặn: “Khi nào nước sông dâng cao thì don không còn nữa. Chừng ấy em sẽ không còn dịp gặp anh, chỉ còn biết hẹn anh vào mùa don tới đầu tháng Hai âm lịch”.

Biết như thế nhưng sáng nào tôi cũng trông tiếng rao của Thuyền. Tôi mong gặp nàng để nói lời từ biệt. Giờ phút chót ngồi trên xe đò mà tôi vẫn dõi mắt đợi chờ, hy vọng Thuyền xuất hiện. Khi xe chuyển bánh, mẹ và chị tôi mắt rưng rưng lệ nắm tay tôi từ giã. Tôi không cầm được xúc động đã òa khóc. Lần đầu tiên tôi xa mẹ xa chị, xa gia đình cách gần ngàn cây số. Tôi cảm thấy nỗi cô đơn như đè nặng lên lồng ngực mình. Tôi thương mẹ, thương chị. Nhưng tình của tôi đối với Thuyền vừa nồng nàn vừa xót xa. Tôi xót thương vì cuộc sống của nàng quá lam lũ. Tuổi vừa lên ba, cha Thuyền đã tử nạn theo tàu đánh cá ngoài khơi khi bị cơn bão bất ngờ ập tới. Mồ côi cha, mẹ ở vậy nuôi Thuyền ăn học hết bậc Tiểu học. Mới chừng ấy tuổi mà phải từ giã ghế nhà trường, lăn lộn vào trường đời. Mẹ nấu don, Thuyền gánh bán dạo hàng ngày đi về trên mười cây số.

o O o

Những đêm đầu tiên ở Sài Gòn, tôi nhớ day dứt nụ cười rạng rỡ của Thuyền. Nhớ đôi bàn tay nhỏ nhắn của nàng run run trong bàn tay tôi. Nhớ đến hương vị thơm lừng của tô don với chất béo của ruột don trộn mùi cay nồng của ớt, mùi bánh tráng nướng, mùi hành lá tươi. Nó tổng hợp thành hương vị không có món ăn nào so sánh được. Don Quảng Ngãi chiếm lĩnh cương vị độc tôn đối với người dân Quảng Ngãi bởi nó là món ăn quê hương. Và đối với riêng tôi có pha cả mùi hương con gái của Thuyền.

Xa nơi chôn nhau cắt rún lần đầu, tôi nhớ nhất là những chuyến đi chơi với bạn bè trên núi Thiên Ấn. Sau một hồi leo giốc mệt bở hơi tai, khát nước khô cả cổ chỉ cần uống mấy ngụm nước giếng của nhà chùa là cơn mệt cùng mồ hôi tan đi hết. Có người bảo đó là nước của Tiên Phật độ trì. Một truyền thuyết kể rằng có một vị sư đến đào giếng này suốt cả năm trời, khi giếng có nước thì vị sư ấy biến mất. Ngôi chùa Thiên Ấn tọa lạc trên đỉnh núi có mặt bằng vuông vức, cao hơn mặt nước biển trên trăm mét, nhưng nước giếng trong và ngọt cung cấp cho chùa không bao giờ cạn. Quả là điều rất hiếm. Đây là “Đệ nhất thắng cảnh” của quê nhà có tên là “Thiên Ấn Niêm Hà” do quan Tuần Vũ Nguyễn Cư Trinh đặt tên trong mười hai bài thơ Đường Luật. Mỗi bài ca ngợi một thắng cảnh của tỉnh Quảng Ngãi. Đứng trên đỉnh núi nhìn bao quát ta thấy dòng sông Trà Khúc óng ánh bạc uốn mình theo những lũy tre xanh đến tận cùng cửa Cổ Lũy trước khi nhập vào biển Đông. Nơi đây ta có thể thưởng ngoạn thêm “Đệ nhị Thắng cảnh” của quê hương, đó là “Cổ Lũy Cô Thôn” nằm im lìm nơi cửa biển, nước bủa mênh mông. Nhìn chệch qua bên trái là mũi Ba-Tâng-Gâng phơi mình với sóng bão đại dương. Để hồn trải rộng đến cuối chân trời, ta có cảm tưởng như người được thoát tục về nơi tiên cảnh. Kẻ nào có tham vọng, mang ý đồ đen tối mà đối diện với cảnh sắc nầy, trong thoáng chốc cũng tạm thời quên đi.

Vào những ngày sắp nghỉ Hè, tôi nhận được thư của chị tôi : “…Đầu mùa don năm nầy, con bé bán don trở lại. Sáng nào nó cũng đặt gánh don trước cửa nhà chị. Lâu lâu nó rao lên “Ai ăn don hông” rồi đứng đó đợi chờ. Người ta không biết nó đợi chờ ai, nhưng chị, thì chị đoán biết. Thời gian kéo dài cả tháng trời, chị thấy tội nghiệp nên thỉnh thoảng kêu don của nó cho cả nhà ăn buổi sáng. Đôi mắt nó thật buồn, cứ lén nhìn sâu vào trong nhà mà không dám hỏi. Một hôm, cầm lòng không được, chị cho nó biết là em vào Sài Gòn học đã gần một năm. Sau đó chị không còn thấy con bé bán don trên con đường nầy nữa…”

Đêm đó tôi nằm mơ nghe thấy tiếng rao: “Ai ăn don ho..o..ông” như tiếng chim cuốc lẻ đôi khắc khoải gào khan suốt mùa Hè thương nhớ rồi cuối cùng chết khô theo con trống, chung tình. Thuyền ơi, hãy tha thứ cho tôi. Những rạo rực tình yêu đầu đời đã làm cho con tim em phải se thắt vì phân ly.

Rồi thời gian trôi qua, ba năm miệt mài đèn sách đã giúp tôi quên hình ảnh cô gái bán don ngày nào. Sau khi lấy xong bằng Tú Tài toàn phần, tôi về thăm Quảng Ngãi. Vào buổị sáng, tôi dậy sớm cùng chị tôi chuẩn bị về quê thăm cha mẹ. Đang xếp áo quần vào va-li chợt tôi nghe tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông”. Tôi vội vàng chạy ra ban-công gọi :

– Ê ! Cô bán don.

Tôi nhanh chân xuống thang gác mở cửa. Cô bán don đứng đợi dưới mái hiên nhà. Thoáng nhìn, tôi tưởng một thiếu phụ nào khác không phải Thuyền. Nhưng không, làm sao tôi nhầm lẫn được. Âm thanh tiếng rao của Thuyền như mọc rễ trong ký ức của tôi. Cũng thân hình mảnh khảnh đó nhưng cao hơn và già dặn hơn. Chính là Thuyền của ba năm về trước.Tôi hỏi:

– Thuyền phải không?

Nàng nhìn tôi đăm đăm, rồi những giọt nước mắt lăn tròn trên má. Tôi thấy loáng thoáng trên ngực áo nàng vết ố của những giọt sữa đã khô. Đứng sát vào Thuyền, tôi đặt tay lên vai nàng bảo:

– Em để gánh xuống đây, múc don cho anh ăn nhé.

– Không. Don em đã cuối mùa, gặp luồng nước bạc (nước lụt), em không bán cho anh đâu.

Nói xong, nàng đưa tay áo quệt nước mắt, trở gánh quay lại con đường cũ. Tôi đứng nhìn theo nàng mà nghe hồn trĩu nặng. Tôi cố lắng nghe tiếng rao “ai ăn don ho..o..ông” lần cuối cùng của Thuyền lẫn lộn với tiếng rao hàng khác nhưng tuyệt nhiên im lặng, chỉ còn sót lại hương don thoảng bay trong gió.

o O o

Chiều Thứ Bảy, Thung bỏ tôi trước căn nhà số 28… trên đường White Forge thành phố Sugarland. Căn nhà lầu ở khu mới xây khá đồ sộ. Vách tường áp gạch màu nâu đỏ trông thật mát mắt. Tôi đứng tần ngần một hồi lâu mới bấm chuông. Người phụ nữ ở quán Cổ Lũy hôm trước mở cửa, gục đầu chào rồi mời tôi vào khu phòng khách trang hoàng lộng lẫy. Bộ sô-pha da màu vàng nhạt choán cả một góc phòng. Chiếc TV cỡ lớn cùng dàn karaoke với hệ thống âm thanh chiếm trọn góc phòng đối diện. Bà chủ rót trà :

– Mời anh dùng nước, nàng trao tôi tách nước rồi tự giới thiệu.

– Tôi tên là Mary, chồng tôi là người Mỹ đưa tôi sang đây từ năm 1972. Xa quê mình lâu quá, nay gặp người đồng hương tôi mừng lắm. Và đặc biệt là dân ở Quảng Ngãi mà lại thích ăn don như anh.

– Bà ở huyện nào ? tôi tò mò hỏi :

– Huyện Tư Nghĩa xã Tư Nguyên.

Bà Mary nhìn tôi định hỏi tiếp điều gì, nhưng bà lại đổi thế ngồi, xoay người sang hướng khác bưng bình trà rót thêm nước vào tách cho tôi. Bà nói :

– Thôi, để lát sau mình nói chuyện tiếp, giờ mời anh dùng món ăn quê nhà kẻo nguội mất.

Tôi theo nàng đến phòng ăn. Mùi don từ trên bếp bốc hơi thơm lừng. Bà chủ nhà bưng hai tô don hơi lên nghi ngút đặt trên bàn có cả bánh tráng nướng, đĩa ớt xiêm và lá hành xắt nhỏ.

Bà tươi cười bảo :

– Đây là don chính hiệu từ Quảng Ngãi đấy nhé. Người ở ngoài tỉnh cứ hiểu lầm don là hến. Thực ra don và hến là hai loại ốc khác nhau. Ốc don dài, vỏ mỏng, ruột don có tua màu hồng thoạt trông như cái đuôi. Nước don ngọt và ít nồng hơn hến vì don chỉ sống nơi vùng sông nước lợ gần cửa biển.

Tôi bưng tô don ăn ngon lành, ăn thật tình. Ớt cay, don nóng, tôi hít hà, nước mắt nước mũi chảy ra. Bà chủ nhà đưa tissues cho tôi với ánh mắt đầy xúc động. Một tô rồi hai tô, bà ngồi nhìn tôi ăn và khuyến khích thêm tô nữa nhưng tôi vỗ bụng lắc đầu từ chối. Nàng bảo.

– Anh sợ vỡ bụng đấy à?

Câu nói của bà chủ khiến tôi sực nhớ đến Thuyền, cô gái bán don thời tôi còn trung học ở Quảng Ngãi. Cô bé đã từ chối bán cho tôi tô thứ tư với câu : “Coi chừng bể bụng”. Tôi ngước nhìn bà Mary, tâm sự:

– Ăn don hôm nay khiến tôi nhớ đến kỷ niệm thời niên thiếu ở quê nhà. Tôi là khách ăn thườngl xuyên của cô gái bán don tên Thuyền. Tôi thương nàng và tội nghiệp hoàn cảnh cô ấy. Mới mười mấy tuổi đầu đã phải bỏ học thay Mẹ đi bán don dạo. Buổi sáng nào Thuyền cũng gánh don đến trước nhà tôi trọ học và chăm sóc tô don cho tôi như người chị lo cho em. Sau nầy tôi vào Sài Gòn học đã quên bẵng cô bé bán don. Ba năm sau trở về Quảng Ngãi, tôi tình cờ gặp lại nàng cũng với gánh don trên vai, nhưng cô bé đã trở thành thiếu phụ. Thuyền đã từ chối không bán don cho tôi còn bảo…

Vừa nói đến đây, chợt bà Mary cướp lời tôi, lên tiếng :

– Em không bán cho anh đâu, don em cuối mùa lại gặp luồng nước bạc!

Bà chủ nhà đã nói lên nguyên văn câu nói của Thuyền ngày xưa, ẩn chứa sự trách móc giận hờn, khiến tôi giật mình sửng sốt. Tôi nhìn vào mắt bà Mary, hình như long lanh ánh nước. Tôi kêu lên:

– Thuyền phải không?

Thuyền ngày xưa không trả lời câu hỏi của tôi chỉ đưa tay áo lau dòng lệ. Mary bây giờ với giọng ngậm ngùi:

– Vâng, em là Thuyền của 37 năm về trước. Em đã nhận ra anh ngay khi anh cho biết chỗ ở trước kia là đường Quang Trung. Đó là con đường dạt dào hạnh phúc trên mỗi bước đi của em hồi đó, mà cũng là con đường mang đầy xót xa thương nhớ ngày anh rời xa.

Thuyền đứng dậy đến ôm vai tôi :

– Cảm ơn anh đã cho em một tình cảm trân quý, dù là đối với một cô gái bán don nghèo hèn. Suốt quảng đời đen tối về sau này, tình anh là ngọn đèn thắp sáng cho em trong những đêm mịt mù sương tuyết. Hạo ơi – cái tên nghe lạ quá – ngày đó em đã nói với anh như thế. Nhưng sau nầy mỗi khi gặp những đau khổ chất chồng, chính cái tên Hạo trở nên thân thương sưởi ấm lòng em.

Tôi nắm lấy tay nàng, nói như một triết gia:

– Đời như một dòng sông, chuyển đổi không ngừng. Xưa kia Thuyền là cô gái bán don, ngày nay Mary là chủ một nhà hàng lớn nhất nhì ở đây. Chúc mừng em. Chúc mừng người đồng hương Quảng Ngãi đã nắm bắt được cơ hội vươn lên trên xứ người.

Sau buổi hàn huyên, Thuyền đưa tôi ra tận xe khi bạn tôi đến đón. Lên xe rồi, tôi thấy nàng còn quyến luyến nhìn theo, đưa mấy đầu ngón tay áp vào môi hôn. Tôi hít một hơi thật sâu vào lồng ngực, chợt nghe hương don còn nồng trong hơi thở./.

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích


http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=21243

From: Tu-Phung


 

Cựu Đệ Nhất Phu Nhân Rosalynn Carter qua đời ở tuổi 96

Ông bà Carters kết hôn được hơn 77 năm, cuộc hôn nhân tổng thống dài nhất trong lịch sử Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

PLAINS, Georgia (NV) – Cựu Đệ Nhất Phu Nhân Rosalynn Carter, người đã làm việc không mệt mỏi vì cải cách sức khỏe tâm thần và chuyên nghiệp hóa vai trò phu nhân của tổng thống, vừa qua đời tại tư gia hôm Chủ Nhật, 19 Tháng Mười Một, ở tuổi 96, theo trung tâm Carter Center.

“Người vợ thân yêu Rosalynn luôn cho tôi sự hướng dẫn và động viên khôn ngoan khi tôi cần. Với tôi, bà là người cộng sự bình đẳng trong mọi việc mà tôi từng hoàn thành. Chừng nào Rosalynn còn trên đời, tôi luôn biết có người yêu thương và ủng hộ mình,” cựu Tổng Thống Jimmy Carter lên tiếng trong một tuyên bố.

Vợ chồng cựu Tổng Thống Jimmy Carter hồi năm 2015. (Hình: Frazer Harrison/Getty Images)

Ông bà Carters kết hôn được hơn 77 năm, cuộc hôn nhân tổng thống dài nhất trong lịch sử Mỹ và họ đã trải qua những tháng cuối đời bên nhau tại ngôi nhà của gia đình ở thị trấn Plains, phía Tây Nam tiểu bang Georgia.

Cựu tổng thống vào Tháng Hai vừa qua quyết định ngừng điều trị y tế trước căn bệnh ung thư da ác tính mà ông mắc phải.

Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1976 của chồng, bà Carter được mệnh danh là “cây mộc lan thép,” ám chỉ phong thái miền Nam ăn nói nhỏ nhẹ nhưng ẩn tàng ý chí mạnh mẽ và lòng kiên quyết.

Quyết tâm không chỉ là đóng vai trò nghi lễ, bà Carter làm theo truyền thống của cựu Đệ Nhất Phu Nhân Eleanor Roosevelt biến mình thành người phụ tá đắc lực trong các chính sách của chồng trong vai trò tổng thống.

Bà Carter là đệ nhất phu nhân đầu tiên duy trì một văn phòng ở Toà Bạch Ốc và là đệ nhất phu nhân thứ hai, sau bà Roosevelt, ra điều trần trước Quốc Hội.

Vào Tháng Năm và Tháng Sáu, 1977, Tổng Thống Carter cử vợ đi công du ngoại giao tới các quốc gia Nam Mỹ, một chuyến đi mang tính chất quan trọng hơn là mang tính xã hội và chưa từng có đối với một đệ nhất phu nhân.

Chuyến công du này đã đưa bà đến bảy quốc gia và vượt qua hơn 12,000 dặm trong 13 ngày. Nhiệm vụ của cựu đệ nhất phu nhân là giải thích chính sách đối ngoại của Mỹ cho một phần thế giới mà Tổng Thống Carter tin rằng nước Mỹ trước đó đã bỏ qua.

Hồi Tháng Chín, cháu nội của cựu Tổng Thống Jimmy Carter và cựu Đệ Nhất Phu Nhân Rosalynn Carter nói rằng cặp vợ chồng này đang “đến bước cuối cuộc đời” nhưng vẫn ở bên nhau trong tình yêu thương.

Vị cựu tổng thống đã vào nhà an dưỡng cuối đời hồi đầu năm nay, theo tổ chức từ thiện The Carter Center của ông hồi Tháng Hai. Vào Tháng Năm, cựu đệ nhất phu nhân đã được chẩn đoán bị chứng mất trí nhớ (dementia).

Jason Carter, cháu nội của ông bà Carter, hiện là chủ tịch The Carter Center, từng nói với tờ USA Today vào hôm Thứ Năm, 14 Tháng Chín, rằng cặp vợ chồng già đang sống hạnh phúc.

“Họ ở bên nhau, họ ở nhà. Họ yêu nhau, và tôi không nghĩ có ai hưởng được nhiều đến thế,” Jason cho biết. “Tôi muốn nói rằng đây là tình trạng hoàn hảo vào thời điểm này trong cuộc đời của họ.” (MPL) 


 

Thêm Trương Mỹ Lan, còn ai dám tin vào ‘thịnh’ và ‘phát’?

Ba’o Tieng Dan

Blog VOA

Trân Văn

24-11-2023

“Tôi thấy nhiều bạn tỏ ra ngạc nhiên khi 100% thành viên đoàn thanh tra nhận tiền hối lộ để cho SCB và bà Trương Mỹ Lan tiếp tục vi phạm, gây thiệt hại hàng chục tỉ USD. Sao lại có thể ngạc nhiên nhỉ?”

Tuần này, bà Trương Mỹ Lan và Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát tiếp tục khuấy động dư luận sau khi hệ thống truyền thông tại Việt Nam xúm vào khai thác. Kết luận điều tra vụ án có liên quan tới bà và sự nghiệp của bà.

Từ khái quát của VnExpress “100% thành viên đoàn thanh tra nhận tiền để dung túng cho SCB” (1), ông Xuân Sơn Võ kể một số chuyện mà theo ông có liên quan đến “Chăm phần chăm”. Chẳng hạn, do tình cờ mà khi tuyển tài xế, ông chọn đúng người từng là cán bộ trong ban quản lý một dự án. Nhân vật này bỏ việc trong ban quản lý dự án, chọn con đường làm tài xế vì không dám ký những tài liệu nghiệm thu có tính chất ảo thuật về chất lượng. Hoặc khi thông báo tuyển người làm vườn, ông nhận được không ít hồ sơ dự tuyển mà đương sự từng là viên chức, vì không “ăn cánh” nên bị hất ra khỏi hệ thống… Ông Sơn tâm tình: Tôi thấy nhiều bạn tỏ ra ngạc nhiên khi 100% thành viên đoàn thanh tra nhận tiền hối lộ để cho SCB và bà Trương Mỹ Lan tiếp tục vi phạm, gây thiệt hại hàng chục tỉ USD. Sao lại có thể ngạc nhiên nhỉ? Chính tôi ngạc nhiên vì cái sự ngạc nhiên của các bạn. Hay là các bạn chưa bao giờ tiếp xúc với những thể loại như vậy? Vậy thì các bạn quá là may mắn.

Xuân Sơn Võ nhấn mạnh: 100% cái gì thì tôi không dám chắc nhưng 100% cùng nhau tìm cách moi móc, tróc nã thì tôi tin chắc chắn là thường xuyên có như vậy. Chẳng có gì ngạc nhiên khi 100% thành viên đoàn thanh tra nhận hối lộ cả. Ngay cả khi kẻ bị thanh tra có bị truy tố, bị bắt thì tôi cũng không tin rằng các thành viên thanh tra không nhận hối lộ của chính kẻ bị truy tố, bị bắt. Tôi sẽ chỉ ngạc nhiên khi họ không nhận hối lộ thôi. Những người không bước vô, hoặc bị loại ra khỏi số 100% ấy, bây giờ đang đầu quân trong đội ngũ shipper, lái taxi, làm vườn, hoặc các công việc phổ thông. Một số ít những người rút ra khỏi số 100% ấy thành đạt, một số phải ra nước ngoài sinh sống, số khác thì bị các cựu đồng liêu bòn rút, dần dà trở thành doanh nghiệp thân hữu. Vài người dấn thân cải thiện con số 100% thì đang ở trong tù, hoặc bị đày biệt xứ. Ở bộ máy 100% này, làm gì có chuyện đứng ngoài, nhất là khi được hưởng lợi. Chỉ cần không đồng thuận, bạn sẽ bị cô lập và bị đá đít. Muốn tồn tại trong bộ máy, thì phải 100% trong mọi việc (2).

Một số người như ông Nguyễn Ngọc Chu thì dựa vào các bài tóm tắt kết luận điều tra của hệ thống truyền thông chính thức nêu ra hàng loạt thắc mắc: Bà Trương Mỹ Lan là chủ nhiều dự án bất động sản tại các khu đất vàng của TP.HCM (Times Squares, Union Square, Khách sạn Duxton,… Việc chuyển giao các khu đất vàng này có tuân thủ đúng pháp luật không? Có bỏ sót tội phạm trong lĩnh vực này hay sẽ xem xét vấn đề này vào lúc khác? 

Trong vụ án Việt Á, số tiền là lợi bất chính khoảng 1.200 tỉ, số tiền hối lộ là 106 tỉ nhưng đã phải xử lý đến ba Uỷ viên Trung ương Đảng. Vụ án Vạn Thịnh Phát có mức độ sai phạm lớn hơn rất nhiều, lập kỷ lục về thất thoát và hối lộ và thất thoát nhưng chưa thấy cán bộ cao cấp nào liên đới trong khi chỉ riêng Dự án chuyển đổi công năng cảng Sài Gòn thì ông Dương Chí Dũng từng khai, bà Lan đã nhờ ông Dũng chuyển cho cố Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ một triệu USD. Mức độ sai phạm của vụ án Vạn Thịnh Phát mà chỉ liên quan đến cấp vụ trưởng, cục trưởng thì có bình thường không?

Ông Chu còn bày tỏ một số băn khoăn như: Đã nhận tiền thì phải có nguyên do. Làm sao có thể xác định “nhận tiền mà không có động cơ”, “không cam kết làm gì có lợi cho bên đưa tiền”. Cho nên – “Người nhận ít, không có động cơ; nhận tiền vào dịp lễ tết như bồi dưỡng, quà, không cam kết làm gì để có lợi cho bên đưa tiền sẽ được cân nhắc kỹ lưỡng về nguyên nhân, hoàn cảnh. Các trường hợp này sẽ không xử lý về mặt hình sự nhưng xử lý nghiêm về kỷ luật đảng và hành chính” – không phải “có lý có tình” mà đã vận dụng không đúng luật pháp. Đã có tội thì chiếu theo luật mà xử, tại sao lại “không xử lý về mặt hình sự nhưng xử lý nghiêm về kỷ luật đảng và hành chính”? Các thầy cô giáo giảng dạy về luật sẽ giải thích ra sao cho sinh viên về “nhận tiền mà không có động cơ, không cam kết làm lợi cho người đưa tiền”, “không xử lý về mặt hình sự nhưng xử lý nghiêm về kỷ luật Đảng và hành chính”? Đây có phải là điểm mới, khác biệt của của Nhà nước Pháp quyền XHCN (3)?

Cũng dựa vào tóm tắt kết luận điều tra của các cơ quan truyền thông chính thức, Bá Kiếm Mai phong bà Trương Mỹ Lan là… “Thánh Gióng – Cái” vì sự nghiệp lớn như thổi và rõ ràng nhờ được thổi: Năm 2006 bà Lan được Phòng Thương mại và Công nghiệp (TMCN) Việt Nam trao tặng “Cúp Thánh Gióng” và danh hiệu “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu”. Cũng năm này, bà Lan tiếp tục được Phòng TMCN Việt Nam trao tặng “Cúp Bông Hồng Vàng” vinh danh nữ doanh nhân Việt Nam xuất sắc năm 2006. Năm 2007, bà Lan được Ủy ban MTTQ TP.HCM tặng bằng khen nhờ “tích cực tuyên truyền vận động và ủng hộ vì người nghèo 2006. Năm 2011, ba Lan bội thu huy hiệu, bằng khen, huân chương ví dụ như “Huy hiệu TP.HCM” vì có “thành tích xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ thành phố”, Huân chương Lao động hạng Ba vì “thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác xã hội từ thiện từ năm 2006 đến năm 2010, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ Quốc…

Bá Kiếm Mai dự đoán: Trương Mỹ Lan tha hồ kể công lao hãn mã với hội đồng xét xử (4)!

***

Thêm vụ án liên quan đến bà Trương Mỹ Lan và Vạn Thịnh Phát là lý do Nguyễn Huy Cường bàn về “Những sư đoàn ngủ”. Ông Cường cho rằng: Cho dù những bộ phận đảm nhận vai trò giám sát có mặt khắp nơi – ngay cả trường tiểu học cũng có một “Tiêu ban Thanh tra”, lĩnh vực ngân hàng thì các bộ phận đảm nhận vai trò giám sát còn nhiều hơn nữa, chưa kể tổ chức đảng từ thấp đến cao cũng có hệ thống giám sát riêng, rồi các bộ phận chuyên môn của công an. Nhìn chung giám sát là tầng tầng, lớp lớp, có thể ví von như những sư đoàn và lực lượng tham gia chống tham nhũng rất hùng hậu, bài bản, tốn kém nhưng nhìn vào vụ Trương Mỹ Lan thì không có nơi nào lực lượng nào nhìn ra và triệt phá hiệu quả và hậu quả thế nào thì ta đã biết – đó là “những sư đoàn ngủ”. Cho nên, trong trường hợp này, có thể viết hoa cả dòng này: CƠ CHẾ GIÁM SÁT, KIỂM SOÁT, NGĂN CHẶN, GÌN GIỮ SỰ BỀN VỮNG CỦA PHÁP CHẾ, RĂN ĐE, TRỪNG TRỊ THAM NHŨNG ĐÃ VÔ DỤNG (5).

Sau khi điểm lại một số sự kiến liên quan đến bà Trương Mỹ Lan và Vạn Thịnh Phát trong hơn một thập niên để chứng minh sự nghiệp của bà Lan dính líu đến rất nhiều viên chức cao cấp và rất nhiều cái chết bất thường – từ ông Phạm Quý Ngọ (Thượng tướng, Thứ trưởng Công an – tháng 2/2014), đến ông Nguyễn Tiến Thành (Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Chứng khoán Tân Việt, kiêm thành viên HĐQT độc lập – đột tử tháng 10/2022), bà Nguyễn Phương Hồng (thành viên HĐQT SCB – đột tử trong trại giam tháng 10/2022), ông Nguyễn Ngọc Dương (Giám đốc Sài Gòn Peninsula – tự tử tháng 10/2022), ông Hứa Ngọc Thuận (cựu Phó Chủ tịch TP.HCM – tự tử tháng 11/2022),… Mai Hoa Kiếm nhận định: Vụ án Vạn Thịnh Phát rồi cũng sẽ tương tự các đại án khác. Nhà nước sẽ tịch thu tài sản của gia đình Trương Mỹ Lan sung vào công quỹ nhưng dân chúng – các nạn nhân của vụ án này sẽ mất tất cả tài sản mà họ kiếm được từ mồ hôi, nước mắt để gởi vào SCB, đầu tư vào trái phiếu của hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát.

Mai Hoa Kiếm nhận định: Giới chức chóp bu câu kết, ăn chia với giới tài phiệt mà đằng sau có cả mafia nước ngoài để rút ruột ngân khố, ăn trên xương máu, nỗi thống khổ, sự bần cùng của người dân trong khi những kẻ “lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối” chỉ biết nhận công chứ không bao giờ biết nhận trách nhiệm khi để xảy ra hàng chục vụ đại án dưới thời của họ. Cuối cùng dân tiếp tục cúng nạp tiền của họ cho đảng, qua trung gian là đám “củi” to, “củi” nhỏ (6).

Chú thích

(1) https://vnexpress.net/100-thanh-vien-doan-thanh-tra-nhan-tien-de-dung-tung-cho-scb-4679130.html

(2) https://www.facebook.com/xuanson.vo.5/posts/pfbid0UYTWBc1JS7hwaXAEFnx8G2pw3Q15XanAkL4NQKSKgDn7GY6dWqaDpEsszLNvf9zEl

(3) https://www.facebook.com/chu.nguyenngoc/posts/pfbid02y1pg6vTGsxpTvNJe5YZ3U2FJkt5FLsWDTrf3vtHuKniUiTyGC7qp7qwpNs8ZRbp7l

(4) https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=pfbid0eGrbxE7g5zFbnLydXKjJ5duAnSquVdQo9z6ZivQR49uLwZnA62dNqy4fYL8QyPgKl&id=100089087646024

(5) https://www.facebook.com/nhabaotulap/posts/pfbid0Npnac6skyUiKrPZD1pFTv9aap5ENQ35XAYdBuHwAansGyyVdbFv9BymVcRvL7dejl

(6) https://www.facebook.com/tiengdanbao/posts/pfbid02Jq9iD2BcUMobpJesrXifXdBkE83iGZQgAMt5UmdUAYh87ySAPRjpzg7bGs9FE4DCl


 

LÀM CHO THANH KHIẾT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúa Giêsu vào Đền Thờ, Người bắt đầu đuổi những kẻ đang buôn bán”.

“Cuộc sống là một công trình! Xây trên đá cẩm thạch, nó sẽ bị huỷ diệt; trên đồng thau, thời gian sẽ làm trôi đi; trên danh tiếng, gió thổi và nó biến mất. Nhưng nếu được xây trên lòng kính sợ Chúa và tình yêu đồng loại, nó sẽ bền vững đến muôn đời. Và điều quan trọng, nó phải được ‘làm cho thanh khiết’ bên trong mỗi ngày!” – Daniel Webster.

Kính thưa Anh Chị em,

“Nó phải được ‘làm cho thanh khiết’ bên trong!”, đó cũng là chủ đề của Lời Chúa hôm nay. Bài đọc Macabê nói đến cuộc thanh tẩy đền thờ vốn đã bị ô uế bởi dân ngoại; Tin Mừng nói đến cuộc thanh tẩy đền thờ vốn có nguy cơ biến thành sào huyệt trộm cướp.

Sau thuở hồi hương, dân Chúa tẩy uế đền thờ; Giuđa và anh em ông nói, “Này, chúng ta lên thanh tẩy và cung hiến Nơi Thánh!”; “Dân chúng vui mừng khôn xiết”. Như lời Thánh Vịnh đáp ca, họ hoan hỷ hát khen, “Lạy Chúa, xin ca tụng Danh Thánh hiển vinh!”.

Với bài Tin Mừng, câu chuyện tẩy uế đền thờ Giêrusalem của Chúa Giêsu không chỉ tường thuật một hành động xa xưa nhưng còn tiết lộ ước muốn sâu xa của Ngài: ‘làm cho thanh khiết’ ‘đền thờ thế giới’; và ‘làm cho thanh khiết’ đền thờ tâm hồn mỗi người.

‘Đền thờ thế giới’ trước hết là Hội Thánh vốn là con tim của thế giới, nơi thông chuyển sự sống Chúa Kitô; thông chuyển mọi ước muốn của con người lên Thiên Chúa và ngược lại. Nhưng qua dòng lịch sử, tà tâm và tham vọng của nhiều người đã ngấm vào nó. Điều này không có gì mới! Vì thế, không ít người đã bị tổn thương vì các thành viên của Hội Thánh. Chúa Giêsu không hứa một Hội Thánh hoàn hảo, Ngài chỉ hứa ở cùng nó.

Đức Phanxicô nói, “Đền thờ là biểu tượng của Hội Thánh. Hội Thánh sẽ luôn chịu sự áp lực của những cám dỗ thế tục và cám dỗ của quyền lực; đó không phải là quyền năng Chúa Giêsu muốn dành cho Hội Thánh. Ngài không nói, “Không, đừng làm điều này! Đem ra ngoài kia!”; thay vào đó, Ngài nói, “Các ngươi đã tạo nên một ổ trộm cướp ở đây!”. Bước vào tiến trình suy thoái này, kết cục thật là khủng khiếp. Rất tệ! Một con tim có vấn đề, không thể làm tốt công việc của nó; và khi ‘con tim của thế giới’ èo uột, Hội Thánh không thể thông chuyển sự sống Chúa Kitô và đóng vai trò trung gian của mình!”.

Thứ đến, linh hồn mỗi người là đền thờ cần được Chúa Giêsu ‘làm cho thanh khiết’ mọi bẩn thỉu trong đó. Thật không dễ, nó đòi hỏi một sự khiêm nhường và đầu phục tuyệt đối; bằng không, nó sẽ trở nên vô hồn, trống rỗng, hoặc chỉ là một tác phẩm nghệ thuật, một bảo tàng viện, hay thậm chí là một nhà kho khi bên trong không có chỗ cho Thiên Chúa.

Anh Chị em,

“Nó phải được ‘làm cho thanh khiết!’”. Chúa Giêsu hiểu thế nào là sức nặng của tội lỗi, thế nào là ô uế trong cái không gian linh thánh của mỗi người. Ngài đã dùng nước và máu từ cạnh sườn mà “thanh tẩy lương tâm chúng ta sạch mọi vết nhơ tội lỗi”. Ngài muốn thanh tẩy Hội Thánh, xã hội, cộng đoàn và gia đình chúng ta; đặc biệt, tâm hồn mỗi người. Đừng sợ để cơn thịnh nộ thánh thiện của Ngài phát huy tác dụng. Hãy cầu nguyện để được tẩy sạch bên trong trên mọi cấp độ, hầu có thể cùng Ngài xây dựng Vương Quốc.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không xây dựng cuộc sống trên cẩm thạch, trên đồng thau; nhưng phần nào trên danh tiếng. Cứ mạnh tay thanh luyện con ở mọi cấp độ hầu con được sạch!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Kính các Thánh Tử Ðạo Việt Nam

Thứ 6 đen tối (back Friday), cẩn thận đừng để cháy túi nhé. Một ngày an lành vui vẻ trong Chúa.

Cha Vương

Thứ 6: 24/11/2023

Ngày hôm nay 24/11, Giáo hội mừng kính các Thánh Tử Ðạo Việt Nam, những bậc tiền bối của chúng ta, đã nhận lãnh cái chết để minh chứng Ðức Kitô và đã lấy máu đào để viết nên trang sử oai hùng của Giáo Hội Việt Nam. Hai câu hỏi cần được nêu ra để hiểu thêm về việc minh chứng cho Đức Kitô của các ngài:

1) Tử đạo là gì? Tử đạo là chết để làm chứng cho chân lý đức tin, nên là lời chứng cao quí nhất. Sống kết hợp với Đức Ki-tô, khi chịu chết, vị tử đạo làm chứng cho Đấng đã chết và đã sống lại. Những vị tử đạo làm chứng cho chân lý đức tin và đạo lý Ki-tô giáo bằng cái chết anh hùng. “Hãy để tôi trở nên mồi ngon cho ác thú. Chính nhờ chúng mà tôi sẽ được về với Thiên Chúa”

(T. Inhaxiô thành Antiôkia, Rom. 4,1 ). (Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, số 2473)

2) Phải có những điều kiện thiết yếu nào để được gọi là vị tử đạo? Ðể được gọi là vị tử đạo, một Kitô hữu phải thực sự chịu đựng những đau khổ, đang chết dần hay bị xử tử, vì đã làm chứng nhân cho Ðức Giêsu Kitô. Vậy cần có ba điều kiện thiết yếu như sau:

(1) đời sống thể lý đang đi dần đến cái chết;

(2) kẻ làm cho người Kitô hữu phải chết thực sự rất ghét đời sống Kitô Giáo và Chân Lý;

(3) cái chết đã được người Kitô hữu chấp nhận một cách tình nguyện để minh chứng đức tin.

Ngược giòng thời gian, Giáo Hội Việt Nam đã được khai sinh khi vị thừa sai đầu tiên đặt chân đến vào đầu thế kỷ XVI. Từ đó ánh sáng Phúc Âm được thắp lên trên quê hương tăm tối này. Nhưng chẳng bao lâu, giông bão phủ kín, và cơn bách hại tàn khóc xảy đến dưới chiêu bài chính trị và thời cuộc lúc bấy giờ. Sau 3 thế kỷ, không biết bao nhiêu người đã bị chiếm đoạt tài sản, bị lưu đày, hay lẩn lút sống trong rừng sâu nước độc, cắn răng chịu đựng khổ đau để giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa.

Hơn nữa, trên 130.000 đấng, thuộc mọi thành phần, đã được diễm phúc tử đạo, hiên ngang tuyên xưng đức tin. Trong số đó, 117 vị đã được các Ðức Giáo Hoàng Lêu XIII, Piô X, Piô XII tôn phong Chân Phước; và ngày 19-6-1988 đã được Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nâng lên hàng Hiển Thánh. Chúng ta có thể chia ra như sau: đời Trịnh Doanh 2 vị, đời Trịnh Sâm 2 vị, đời Cảnh Thịnh 2 vị, đời Minh Mạng 57 vị, đời Thiệu Trị 3 vị và đời Tự Ðức 51 vị; gồm 8 Giám Mục, 50 Linh Mục, 16 Thầy Giảng, 1 Chủng sinh và 42 Giáo dân. Cuộc tàn sát dã man tưởng chừng như muốn dập tắt ngọn lửa còn quá yếu ớt đó, nhưng máu tử đạo là hạt giống nẩy sinh các tín hữu. Vì thế, Giáo Hội Việt Nam đã lớn lên và trưởng thành trên nền tảng kiên vững đó. Nhìn lại dĩ vãng, chúng ta lấy làm hãnh diện vì cha ông chúng ta đã “can trường không kém các chiến sĩ ngày xưa trong thế kỷ khai nguyên của Hội Thánh”. Tuy nhiên, chúng ta hãy cố gắng noi gương các Ngài, biết can đảm chiếu sáng đức tin cho những người khác bằng một đời sống gương mẫu, đầy tình bác ái và sẵn sàng vác thập giá hằng ngày. Ðó cũng là một cách tử đạo anh dũng để minh chứng tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa. (Nguồn: Tinh Thần—Phụng Vụ Chư Thánh – Châu Kiên Long)

❦ Bạn đã và đang làm gì để khẳng định mình là người Ki-tô hữu?

❦ Lời nói và việc làm của bạn có ăn khớp với Sự Thật của Tin Mừng hay không?

Lạy  Chúa, xin cho con can đảm và khôn ngoan quyết tâm chọn Chúa mỗi ngày, dám đánh đổi sự sống trần thế vì đức tin, hầu có thể đạt được phần phúc trên Thiên Đàng với Các Thánh Tử Đạo Việt Nam yêu quý của con. 

From: Do Dzung

Đức Tin Son Sắt & Bài Ca Ngàn Trùng | ANGELO BAND & CA ĐOÀN MAI TÂM