Mừng kính trọng thể Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả (Gioan Baotixita).

Chúc bình an! Hôm nay 24/06, Giáo Hội mừng kính trọng thể Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả (Gioan Baotixita). Ngài là con của bà Elizabeth và tiên tri Zacharia, đấng tiền hô, đấng đã làm phép rửa cho Chúa Kitô, đấng tử đạo đầu tiên khi Tin Mừng được rao giảng. Thánh Gioan Baotixita có hai ngày lễ kính trong lịch phụng vụ, ngày 24 tháng 6 là ngày sinh nhật và ngày 29 tháng 8 là ngày tử đạo. Chúng ta cùng hát Chúc Mừng Sinh Nhật Ngài đi nào!

Cha Vương

Thứ 2: 24/06/2024

Ðức Giêsu gọi Gioan là người cao trọng nhất trong tất cả mọi người và là người đến trước Ngài: “Ta nói với các ngươi, trong những người sinh ra bởi phụ nữ, không ai cao trọng hơn Gioan…” Nhưng có lẽ Thánh Gioan sẽ hoàn toàn đồng ý với điều Ðức Giêsu nói thêm sau đó: “Tuy nhiên, người nhỏ nhất trong nước Thiên Chúa còn cao trọng hơn ông ta” (Luca 7:28).

Có một thời gian Thánh Gioan sống trong sa mạc, là vị ẩn tu. Ngài loan báo nước trời đã gần đến, và mời gọi mọi người hoán cải đời sống.

Mục đích của ngài là chuẩn bị con đường cho Ðức Giêsu. Ngài nói, phép rửa của ngài là để ăn năn sám hối. Nhưng Ðấng sắp đến sẽ rửa với Thần Khí và lửa. Gioan không xứng đáng để xách dép cho Người. Thái độ của Thánh Gioan đối với Ðức Giêsu là: “Ngài phải gia tăng; tôi phải nhỏ đi” (Gioan 3:30).

Trong khi thanh tẩy những kẻ tội lỗi, Thánh Gioan đã khiêm tốn nhận ra Ðấng Thiên Sai và nói: “Tôi cần được thanh tẩy bởi Ngài” (Mt 3:14b). Nhưng Ðức Giêsu nhất định, “Hãy tiếp tục thi hành, vì như vậy chúng ta mới giữ trọn đức công chính” (Mt 3:15b). Ðức Giêsu, một con người đích thực và khiêm tốn cũng là Thiên Chúa hằng hữu, đã sẵn sàng thi hành bổn phận của bất cứ người Do Thái tốt lành nào. Thánh Gioan như vậy đã công khai đi vào tập thể của những người đang chờ đợi Ðấng Thiên Sai. Nhưng khi tự trở nên một phần tử của cộng đồng đó, ngài quả thực thuộc về Ðấng Cứu Tinh.

Sự cao trọng của Thánh Gioan, một địa vị then chốt trong lịch sử cứu chuộc, được nhận thấy qua tường thuật của Thánh Luca về sự sinh hạ và các biến cố sau đó của Thánh Gioan – cả hai yếu tố này đều xảy ra song song với cuộc đời của Ðức Giêsu. Thánh Gioan thu hút được rất nhiều người đến bờ sông Giođan, và một số người đã coi ngài như Ðấng Thiên Sai. Nhưng ngài luôn luôn chỉ đến Ðức Giêsu, ngay cả một số môn đệ của ngài cũng được sai đến để trở thành các môn đệ đầu tiên của Ðức Giêsu.

Có lẽ Thánh Gioan không nghĩ là Nước Trời được hoàn tất một cách tuyệt hảo trong sứ vụ rao giảng của Ðức Giêsu. Vì bất cứ lý do gì, (trong khi ở tù) ngài đã sai các môn đệ đến hỏi Ðức Giêsu xem có phải Người là Ðấng Thiên Sai hay không. Câu trả lời của Ðức Giêsu cho thấy Ðấng Thiên Sai mang hình ảnh Người Tôi Tớ Ðau Khổ trong sách tiên tri Isaia. Chính Thánh Gioan cũng đã chia sẻ trong sự đau khổ của Ðấng Cứu Tinh, ngài đã chết vì sự trả thù của Herodias.

(Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online)

Bạn rút ra bài học gì cho mình khi đọc qua tiểu sử của thánh nhân? Hãy áp dụng vào cuộc sống hằng ngày nhé.

From: Do Dzung

Nuns playing HAPPY BIRTHDAY on Piano

 Bằng tiến sĩ luật ở Việt Nam ‘cũng 5, 7 đường’

Ba’o Dat Viet

June 24, 2024

Thích Chân Quang (giữa) nhận bài tiến sĩ của Đại học Luật Hà Nội

“Cử nhân luật cũng có dăm bảy loại, thạc sĩ luật cũng có dăm bảy loại, tiến sĩ luật cũng theo đó mà có dăm bảy loại, phó giáo sư luật học còn bị phân loại tệ hơn nữa.“

Sau khi công luận bàn tán về tấm bằng tiến sĩ luật của Thích Chân Quang do Đại học Luật  Hà Nội cấp, báo đảng hôm 24/6 đăng lời bao biện của Tô Văn Hòa, hiệu phó Đại học Luật  Hà Nội, chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Vương Tấn Việt, tức Thích Chân Quang: “Người này này nhận bằng cử nhân Luật tại chức loại giỏi, đủ điều kiện để học thẳng lên tiến sĩ theo quy định.”

“Toàn bộ quá trình đào tạo, công nhận trình độ tiến sĩ của Thích Chân Quang đều được hội đồng đánh giá thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các bước theo đúng quy định,” Hòa nói.

Ông Ngô Huy Cương, một giảng viên khoa Luật bình luận: ‘Ở nước ta cũng giống như bao nước khác, có dăm bảy loại cơ sở đào tạo luật khác nhau dù đều phải tuân thủ chương trình đào tạo theo chuẩn chung quốc gia, bao gồm: khá có, trung bình có, kém có, cực kém cũng có, chỉ không có loại giỏi, loại xuất sắc.

Đó là thực trạng mà ảnh hưởng ngay tới nền luật học và tới vấn đề xây dựng pháp luật, và cũng do chính tác động của nền luật học cũng như của vấn đề xây dựng pháp luật gây nên, có nghĩa là chúng tác động xấu lẫn nhau.

Vì vậy, cử nhân luật cũng có dăm bảy loại, thạc sĩ luật cũng có dăm bảy loại, tiến sĩ luật cũng theo đó mà có dăm bảy loại, phó giáo sư luật học còn bị phân loại tệ hơn nữa.

Ấy thế mà giáo sư luật học lại chỉ có mỗi một loại với một số phẩm chất rất chung là tán rất hay trên căn bản “phi kiến thức nền tảng”, và tận dụng tối đa học hàm  cho mọi hoạt động sống.

Đừng nói là các giáo sư luật học không giúp gì được  cho ai. Vụ bằng tiến sĩ của Thích Chân Quang là một minh chứng sống động nhất cho công trạng của các giáo sư luật học!

Thủ tục sinh ra là để làm rõ được sự thật khách quan, đánh giá và áp dụng chính xác những kết quả tìm kiếm.

Nhưng mặt khác thủ tục cũng bị lạm dụng để làm khó cho người này, lại bao che cho sự thiếu khách quan trung thực, cũng như lại bảo vệ cho sự đánh giá sai và áp dụng sai kết quả tìm kiếm đối với người khác.

Nó cũng giống như một con dao khi mà nằm trong tay công an thì được dùng để bảo vệ con người, nhưng khi nằm trong tay kẻ xấu thì có thể bị dùng để giết người.

Vậy khi nhìn nhận một luận án tiến sĩ luật học thì hãy xem nội dung thực chất của luận án đó và xem kỹ các giáo sư luật học trong hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ đó nói gì về chuyên môn!”

Facebooker Lê Văn Đại nửa đùa nửa thật: “Đạt được thành quả nhanh quá cũng không tốt. Tốt nghiệp đại học 2019, năm 2021 lấy luôn tiến sĩ. Đại Học Luật  Hà Nội đào tạo quá tốt.

Anh em nào có mua bằng cũng lưu ý nên đúng quy trình như người thường để không bị phát hiện. Mà thời này bằng cấp dễ nên đi học đúng học đủ có tiền đóng học phí là có bằng ngay.” 


 

NGAY CẢ KHOA HỌC CŨNG KHÔNG THỂ GIẢI THÍCH

 Vương Điền

(Bạn chỉ còn một lựa chọn là TIN.)

Nữ tu Bernadette ở Lourdes qua đời năm 1879 ở tuổi 35, cơ thể của Nữ tu đã được đào lên trong quy trình phong Thánh.

Và khi khai quật lên, mọi sự đã gây ngạc nhiên cho các Bác sĩ, lạ thay ! di hài của Thánh nữ vẫn còn nguyên vẹn cả răng và móng tay. Tất cả thi thể của Ngài còn nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay. Tràng chuỗi Mân côi trong tay Thánh nữ Bernadette bị rỉ sét theo thời gian.

Ngay cả sau bao nhiêu năm kể từ khi chết Thánh nữ Bernadette vẫn còn máu lõng chảy trong cơ thể.

Nếu Thánh nữ còn sống đến hôm nay Thánh nữ sẽ 145 tuổi.

Lạy Thánh nữ Bernadette, xin cầu cho chúng con.

Lược dịch từ Je suis Catholique.


 

 Thế lực nào ‘chống lưng’ cho Thích Chân Quang?-Trúc Phương/Người Việt

 Ba’o Nguoi-Viet

June 23, 2024

Trúc Phương/Người Việt

Ngày 19 Tháng Sáu 2024, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, cơ quan tôn giáo của nhà nước CSVN, đã xoa dịu dư luận khi công bố phạt “khóa miệng” Thích Chân Quang, (cấm “thuyết giảng” hai năm). Án phạt Chân Quang chỉ mang tính hình thức. Thực tế thì Chân Quang không hề gỡ bỏ các bài giảng nhảm nhí “có nội dung gây hoang mang xã hội” khỏi fanpage Thiền Tôn Phật Quang như được yêu cầu. Trong thực tế, Chân Quang, kẻ từng công khai tự nhận là “cháu” của Hồ Chí Minh, vẫn bình chân như vại.

Thượng tọa Thích Chân Quang, trụ trì Thiền Tôn Phật Quang, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Hình: Báo Giác Ngộ Online)

Chẳng ai biết chính xác con đường nào dẫn Thích Chân Quang đến… cửa chùa, “xuống tóc đi tu” và thậm chí trở thành thượng tọa. Thông tin ít ỏi trên mạng cho biết Chân Quang tên thật là Vương Tấn Việt, sinh ngày 9 Tháng Mười Hai, 1959. Năm 1992, khi mới 33 tuổi, Chân Quang-Vương Tấn Việt về núi Dinh (thôn Chu Hải, xã Tân Hải, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) và bắt đầu xây Thiền Tôn Phật Quang. Thông tin chỉ có bấy nhiêu.

Trước 1992, Chân Quang-Vương Tấn Việt làm gì, ở đâu, “xuất gia” từ lúc nào, gia đình ra sao…, không ai biết. Tiền ở đâu mà Chân Quang-Vương Tấn Việt xây chùa, cũng chẳng ai biết. Năm 2009, tức 17 năm sau khi được thành lập, Thiền Tôn Phật Quang đã trở thành một “cơ sở Phật giáo” giàu sụ. Từ một vụ rắc rối liên quan pháp lý và được báo chí tường thuật, dư luận mới biết Thiền Tôn Phật Quang giàu có như thế nào. Tờ Pháp Luật Việt Nam ngày 26 Tháng Mười Hai, 2010 thuật:

“Sáng ngày 09/12/2009, ông Việt (tức Chân Quang-Vương Tấn Việt) đang làm việc tại công ty TNHH Văn Hóa Pháp Quang (một cơ sở của chùa tại 28 Hoàng Diệu, quận 10, TP.HCM) thì bốn đệ tử đã kéo theo khoảng 20 người xông vào lăng mạ và ép ông ký giấy bàn giao cho họ 8 hecta đất tại xã Tóc Tiên, hai căn hộ 600 m2 tại phường Kim Dinh, huyện Tân Thành, bốn chiếc ô tô…” Quá sợ hãi, ông Việt đã miễn cưỡng ký vào các giấy tờ do nhóm đệ tử soạn sẵn. Sự việc xảy ra, công an phường sở tại đến lập biên bản, rồi…thôi.

“Trong đơn tố cáo, ông Việt viết: ‘Sau đó, nhóm người này kéo về chùa Phổ Quang khống chế những đệ tử, tu sĩ trung thành của nhà chùa lấy đi hai két sắt chứa 2.8 tỷ đồng, 185 lượng vàng và nhiều ngoại tệ khác, 60 tấn sắt, một đầu máy kéo, hai máy trộn bê tông, ba máy tời, 30 tấn xi măng, sáu xe gắn máy, sáu vi tính để bàn, 20 vi tính xách tay, bảy máy quay phim, năm màn hình tinh thể lỏng, 10 tấn gạo, 14 máy may công nghiệp và vải vóc trị giá 800 triệu đồng; thậm chí, 5 triệu đồng của ông để trong túi áo cũng bị “móc” luôn và toàn bộ giường chiếu, bàn ghế, nồi niêu, bát đũa… cũng bị họ lấy đi…’”

***

Từ sau khi trở thành “quan chùa” (từng là phó trưởng Ban Kinh Tế Tài Chính Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam), tên tuổi Chân Quang-Vương Tấn Việt nổi như cồn. Bảng “thành tích” của Chân Quang rất ấn tượng: tiến sĩ luật học; từng thực hiện hơn 2,000 bài giảng về nhiều đề tài từ văn hóa, giáo dục, đạo đức, khoa học công nghệ, đến y học; là “giảng sư Phật giáo đầu tiên” thuyết pháp tại Nhà Hát Lớn Hà Nội và Văn Miếu Quốc Tử Giám; là tác giả của hơn 130 tựa sách: Kinh bộ, Nghiệp và kết quả, Luận về nhân quả, Giáo trình thiền học, Tâm lý đạo đức, Giáo trình Hoằng Pháp…

Ngoài ra, Chân Quang còn biết… chơi nhiều nhạc cụ như guitar, piano; và đã sáng tác gần 150 bài hát về Phật giáo. Chân Quang cũng gây dựng quỹ từ thiện Thiền Tôn Phật Quang từ năm 2013, kêu gọi đóng góp được ít nhất 307 tỷ đồng (hơn $12 triệu, tính đến năm 2023). Chân Quang còn thành lập môn phái Phật Quang Quyền, trực thuộc Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam. Ngày 14 Tháng Tám 2019, Chân Quang được trao bảng vàng với danh hiệu “Nhân tài đất Việt thời kỳ hội nhập quốc tế”!

Trong buổi bảo vệ luận án tiến sĩ Luật học với đề tài “Nghĩa vụ con người trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam,” Chân Quang đã được “giáo sư tiến sĩ” Hoàng Chí Bảo, người luôn rao giảng “tư tưởng Hồ Chí Minh,” đích thân đến khen ngợi hết lời. Thiền Tôn Phật Quang cũng liên tiếp mở các khóa tu thiền tại nhiều chùa trong Nam ngoài Bắc, đặc biệt chùa được sự ủng hộ nhiệt tình của giới showbiz Việt Nam. Những người được Chân Quang nhận làm đệ tử gồm ca sĩ Tạ Minh Tâm chuyên hát nhạc đỏ; nghệ sĩ cải lương Kim Tử Long (người từng than thở khóc lóc về việc bị đánh rớt khỏi bảng xét duyệt “nghệ sĩ nhân dân”); diễn viên Angela Phương Trinh…

Các hoạt động của Thiền Tôn Phật Quang rất nhộn nhịp. Kênh YouTube “Truyền thông Thiền Tôn Phật Quang” cho biết, có hơn 33,000 người dự lễ Vu Lan 2023 tại Thiền Tôn Phật Quang… Tại lễ Vu Lan 2022, có khoảng 48,000 người dự, trong đó có đại tá Nguyễn Tâm Hùng – chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Võ Văn Tư – trưởng Ban Tuyên Giáo Thị Ủy Thị Xã Phú Mỹ…

Dù ít ai biết chính xác về thân thế Chân Quang-Vương Tấn Việt nhưng có điều chắc chắn rằng nhân vật này hẳn được chống lưng bởi thế lực chính trị nào đó. Ở một đất nước mà việc mở miệng không được xem là quyền mặc định của công dân, Chân Quang-Vương Tấn Việt lại có thể nói nhăng nhít mà chưa bao giờ bị sờ gáy, ngay cả khi công khai phát ngôn bênh Trung Quốc.

Chân Quang-Vương Tấn Việt nói: “Về nguồn gốc, không chối cãi được Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… Vì là em, theo tâm thức Á Đông, thì hễ là anh mình là em phải nhường nhịn. Mấy ngàn năm qua, người Việt Nam luôn có thái độ kính trọng người Trung Quốc đàng hoàng, không bao giờ mình mất cái lễ này, luôn kính trọng người anh. Chỉ một lần Lý Thường Kiệt hơi hỗn, đem quân đi đánh anh mình. Còn lại toàn bộ, tuyệt đối, đa số người Việt Nam đều bày tỏ lòng kính trọng đối với Trung Quốc…”

Với cương vị phó trưởng Ban Kinh Tế Tài Chính Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Thích Chân Quang cho thấy mình có tài buôn thần bán thánh. Ông ta thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn Văn Hóa Pháp Quang, kinh doanh đủ thứ, từ sách báo, băng đĩa ca nhạc của chính Thích Chân Quang, trang phục Phật giáo, đến thậm chí dược phẩm Đông y… Công ty Pháp Quang có hẳn ứng dụng (app) cài trên điện thoại và người dân có thể mua vật phẩm Phật giáo bằng hình thức… thẻ cào.

Trên mạng, dưới những clip thuyết giảng của Chân Quang, thường có dòng chữ: “Nhằm đảm bảo tính trung thực về nội dung cho các ấn phẩm của Thượng tọa Tiến sĩ Thích Chân Quang như bài giảng, sáng tác nhạc, khí công… thuộc “Pháp Quang – Sen Hồng” – công ty TNHH Văn hóa Pháp Quang quản lý và phát hành. Xin vui lòng không đăng lại dưới mọi hình thức. Nếu chúng tôi phát hiện có thể dẫn đến khóa kênh của bạn vĩnh viễn.” Sự đe dọa rất xa lạ với tinh thần Phật giáo còn có thể thấy ngay trên fanpage chính thức của chùa Thiền Tôn Phật Quang, khi kêu gọi các tín đồ trình báo tài khoản mạng xã hội nào nói xấu thầy Chân Quang.

Bao nhiêu năm nay Thích Chân Quang vẫn ung dung tại vị, thậm chí còn làm được điều mà khó có sư tăng nào làm được, đó là giành miếng bánh đặc quyền trong sự tranh chấp dữ dội với các vị chức sắc khác. Cần nhắc lại, khi Hòa Thượng Thích Thanh Tứ trụ trì chùa Bái Đính viên tịch, Thích Chân Quang đã nhắm đến việc kế nhiệm trụ trì Bái Đính, nhưng khi ấy đại gia Xuân Trường không đồng ý và lobby đưa người của mình là Hòa Thượng Thích Thanh Nhiễu lên làm trụ trì. Để dàn xếp, Chân Quang được chia cho chức phó trưởng Ban Kinh Tế Tài Chính Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Phạm Nhật Vũ (em trai Phạm Nhật Vượng) là cố vấn của ban này.

Trở nên lộng hành và tác oai tác quái từ thời Nông Đức Mạnh làm tổng bí thư, Chân Quang-Vương Tấn Việt từng huy động hàng trăm tín đồ đi trên bốn chiếc xe bus, hộ tống đương sự về Nam Đàn… để “nhận họ” với… Hồ Chí Minh! Ông ta nói tên thật của mình là Hồ Chí Việt. Vụ việc ồn ào từng có clip đưa lên YouTube nhưng đã bị xóa. Chân Quang-Vương Tấn Việt kể rằng khi Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Hồ Chí Minh, lang thang vào Sa Đéc kiếm sống bằng nghề bốc thuốc, đã đổi thành họ Vương để tránh tai mắt chính quyền. Tại đây, Nguyễn Sinh Sắc chữa khỏi bệnh cho một người dân. Để đền cái ơn đấy, gia đình ông này đã gả cô con gái tên là Mai cho Sinh Sắc. Ít tuổi hơn cả Nguyễn Tất Thành, cô Mai này sau đó sinh ra một con trai, đặt tên là Vương Chí Nghĩa. Và Chân Quang-Vương Tấn Việt chính là con của Vương Chí Nghĩa!

Chuyện này được đích thân Chân Quang-Vương Tấn Việt tuyên bố khắp nơi. Quái lạ nhất là chẳng tờ báo nào dám đặt câu hỏi về vấn đề này, không công an nào mời Chân Quang “lên phường làm việc” về việc đương sự tự nhận là cháu của Hồ Chí Minh. Hay là chuyện này có thật?!

Trở lại với câu hỏi thế lực nào chống lưng Chân Quang-Vương Tấn Việt, có lẽ Chân Quang không nằm dưới sự điều khiển trực tiếp hoặc núp dưới ô dù của nhân vật cụ thể nào mà ông ta là sản phẩm của cơ quan tôn giáo cộng sản. Với chính sách “đỏ hóa” Phật giáo, từ sau 1975, đảng đã đào tạo hàng loạt “ma tăng” chuyên nghiệp để vừa lũng đoạn Phật giáo, thao túng những “Phật tử” ngây ngô lẫn thực hiện công tác tuyên truyền bảo vệ chế độ. Chân Quang-Vương Tấn Việt là một trong số đó.

Trong vai trò “tu sĩ,” Chân Quang-Vương Tấn Việt là một yêu tăng; nhưng trên cương vị “sĩ quan tuyên huấn,” Chân Quang là một “cán bộ giỏi.” Mù tịt giáo lý nhà Phật, Chân Quang-Vương Tấn Việt thường xuyên nói xàm. Tuy nhiên, đương sự lại thành thục việc thực hiện những “bài giảng” ca ngợi chính quyền, tôn vinh Hồ Chí Minh và tỏ ra trung thành với đảng.

Bài “Sức mạnh dân tộc đến từ đâu” mà Chân Quang đọc tại khu di tích nhà tù Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, ngày 25 Tháng Tư 2015 có những lời lẽ không khác gì bài báo tuyên truyền trên tờ Nhân Dân. Để cai trị Phật giáo, đảng, do vậy, đã dung túng và chống lưng cho những kẻ phá hoại tinh vi như Chân Quang-Vương Tấn Việt. 


 

 Giao trứng cho ác-Lâm Công Tử

Ba’o Nguoi-Viet

June 19, 2024

Lâm Công Tử

“Giao trứng cho ác” là câu thành ngữ tượng hình và chính xác trong trường hợp tin người khác một cách mù quáng sẽ làm hại đến bản thân. Ác ở đây là con quạ rất thèm ăn trứng, khi giao một cái trứng cho nó ấp giùm thì không khác gì mang thức ăn khoái khẩu cho nó. Người Việt đang chứng kiến hình ảnh câu thành ngữ này vừa xảy ra công khai tại một ngôi chùa nổi tiếng của miền Bắc: Chùa Ba Vàng.

Ông Thích Trúc Thái Minh (phải), trụ trì chùa Ba Vàng, nói cô Khánh Linh (trái) không dự khóa tu, không sám hối thì sẽ phải lấy nhiều đời chồng và lấy những người vũ phu do quả báo. Bà Phạm Thị Yến (giữa) thuyết giảng về “oan gia trái chủ.” (Hình: Công Thương)

Ác ở đây là ác tăng Thích Trúc Thái Minh cùng với đệ tử ruột là Phạm Thị Yến đang huênh hoang ca ngợi “khóa tu mùa Hè năm 2024” được bắt đầu vào ngày 12 Tháng Sáu để lôi kéo hàng chục ngàn “quả trứng” sinh viên học sinh tới sinh hoạt và tu tập. Trên các tài liệu quảng cáo thì mục tiêu của khóa tu này nhằm: Rèn luyện thể chất; Rèn luyện kỹ năng, giao tiếp; Học hỏi kỹ năng, tiếp thêm động lực khi giao lưu với diễn giả, khách mời; Học lời Phật dạy, rèn luyện bản thân, sửa đổi tâm tính.

Phụ huynh không cần đóng tiền, mọi chi phí đều do chùa Ba Vàng đài thọ, chi tiết này là mồi nhử khiến hàng chục ngàn phụ huynh hớn hở giao con mình cho ông Thích Trúc Thái Minh huấn luyện kỹ năng và tu tập nhằm tạo thêm đạo đức cho con cái khi chúng ra trường. Họ quên một sự thật trong đời sống này “không có gì miễn phí ngoại trừ không khí.”

Câu hỏi đầu tiên: Tiền đâu mà một ngôi chùa có thể bỏ ra lo chỗ ăn ở cho hàng chục ngàn con người? Mục đích của việc miễn phí này là gì và ai là người hưởng lợi nhất?

Trả lời cho câu hỏi đầu tiên về nguồn tiền mà ngôi chùa tai tiếng này bỏ ra không khó: Chùa Ba Vàng là nơi nổi tiếng buôn thần bán thánh qua các dịch vụ oan gia trái chủ, bán vé cho chúng sinh vào nghỉ dưỡng hay du lịch, bán cả niềm tin giả hiệu là xá lợi tóc mang từ Miến Điện về, cũng như những bài thuyết pháp kêu gọi cúng dường đầy tội lỗi. Miễn phí cho hàng chục ngàn con người là cách đầu tư về sau khi bọn trẻ đã hoàn toàn bị những bài thuyết giảng nhồi sọ, những động thái hăm dọa hay những trò vui chơi mà tuổi trẻ yêu thích khống chế, sẽ quay trở lại chùa phục vụ không công cũng như trút hết tiền túi ra cho chùa mà không một câu hỏi nào đặt ra. Nếu sẽ như thế thì ai là người hưởng lợi nhất đã được khẳng định và kẻ nhận lại những mất mát tiền bạc và thời gian không ai khác hơn những “quả trứng” mà cha mẹ của chúng tự nguyện giao cho các ác tăng của ngôi chùa này.

Rất có thể nhiều phụ huynh cho rằng con cái mình theo tu tập trong khóa tu mùa Hè này không ít thì nhiều sẽ hiểu được thế nào là quy y tam bảo là Phật Pháp Tăng hay sự hướng thiện trong đời sống tâm linh. Nhưng họ sẽ không tin được câu chuyện mà hai thầy trò Thái Minh và Thị Yến dàn dựng để khủng bố những đứa trẻ chưa vào đời.

Trong một video đang rất nóng trên mạng xã hội người xem có lý trí sẽ không thể kềm nén sự tức giận khi hình ảnh một cô gái trên dưới 16 tuổi đang đóng vai một kẻ bị trừng phạt vì đã tạo ác nghiệp từ 14 kiếp trước. Cô gái tên là Khánh Linh như bị lên đồng, đầu luôn gục gặc một cách đáng sợ mà nói không được ba chữ “quy y tăng.” Trong khi đó ông Thái Minh ngồi trước vài ngàn tu sinh phát biểu rằng “14 kiếp trước con cùng bạn Khánh Linh tạo ác nghiệp ở chùa vì quyến rũ các sư. Hôm nay thầy cho con và bạn Khánh Linh sám hối để tiêu nghiệp…”

Sau đó là phần trình diễn của bà Yến. Bà đứng kế cô Khánh Linh luôn khuyến khích cho cô gái đọc ba chữ “quy y tăng” nhưng không tài nào đọc được. Bà dẫn chuyện: “Con bạch thầy, ở đây nói cho các bạn biết rằng khi mình làm việc ác rồi không phải chuyển hóa một cách dễ dàng đâu mà phải ăn năn ngay từ lúc mình đang có phước đang quả báo thì khi quả báo nó đến rồi thì rất là khó có thể chuyển được. May mà có lòng từ của thầy mà cái quả báo phá tăng nó như thế này đây, rất khó rất khổ như thế này đây nó không phải là dễ dàng đối với những người mà bị quả báo phá tăng khi quả báo đã đến thì rất đau khổ. Công đức như thế mà còn chưa được thì con xin phát nguyện thêm để con hồi hướng cho cái vong này. Con kính bạch thầy con đem cái công đức ngày mai con chia sẻ pháp với em khóa sinh để hồi hướng cho vong linh được chuyển hóa cái nghiệp chướng này để quy y tăng được. Tất cả ở đây mau hồi hướng tri ân thầy đi, ‘chúng con tri ân thầy. Chúng con tri ân công đức của chư tăng. Chúng con đem công đức này hồi hướng cho Lê Thị Khánh Linh và hồi hướng cho vong linh được đủ duyên phước quy y tăng.’”

Rồi bà Yến hỏi cô Khánh Linh:

“-Con khai đi con làm gì

-Con hát trước chùa!

Và rồi em nói được con xin quy y tăng!”

Nếu xem cho hết vở kịch này thì liệu phụ huynh các trại sinh có cảm giác thế nào khi con mình sẽ gặp trường hợp như thế? Chắc chắn là sợ hãi nếu yếu bóng vía và tin dị đoan. Sẽ giận dữ nếu có kiến thức về Phật pháp. Nhưng nhìn lại hàng trăm ngàn chúng sinh theo chùa Ba Vàng vô điều kiện như hiện nay thử hỏi họ có chút kiến thức gì về Phật pháp để đủ sáng suốt nhận ra cả sư lẫn vãi đều tẩy não con em mình hầu tập trung tiền bạc, niềm tin vô lối của chúng sinh?

Bà Yến luôn cao giọng thốt lên hai chữ hồi hướng nhưng bà hình như không hiểu chính xác hai chữ hồi hướng theo nghĩa của Phật dạy. Hồi hướng là dùng thiện căn công đức tu tập và hành thiện của mình để hướng về mục đích hoặc tự làm lợi ích cho chính mình hoặc làm lợi ích cho chúng sinh khác. Hiểu đơn giản, hồi hướng là nguyện đem công đức tu tập hoặc làm việc thiện lành hướng về người thân, cầu mong cho họ được an lành hoặc siêu thoát.

Với một lý lịch đầy ác nghiệp như kêu gọi đóng tiền oan gia trái chủ thử hỏi bà Yến có công đức gì mà hồi hướng cho người khác? Ngay cả ông Thích Trúc Thái Minh, người đang bị cả nước réo tên, thì có đáng ngồi trên cái bệ cao cao tại thượng kia mà phán xét người khác hay không?

Báo Công Thương vừa ra một phóng sự nói về sự kiện này, phóng viên tờ báo phát hiện ra thêm một chiêu trò của thầy trụ trì khi phát ngôn rằng: Không dự khóa tu, không sám hối thì sẽ phải lấy nhiều đời chồng do quả báo.

Chùa Ba Vàng lấy hình ảnh quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng không phải trong ý nghĩa của quy y Tam Bảo: “Quy” có nghĩa là quay về, “y” có nghĩa là nương tựa. Quy y nghĩa là quay về nương tựa. Trong Phật Giáo, quy y là nơi giúp cho chúng sinh tìm đến sự an toàn cho bản thân, tâm được thanh tịnh, thoát khỏi những khổ đau của cuộc sống. Quy y bao gồm quy y Phật-Pháp-Tăng và gọi chung là quy y Tam Bảo. Cô gái Khánh Linh trong kịch bản không phát âm được “quy y tăng” vì bị cho là đã xem thường giới tăng lữ mà giới tăng lữ trong câu chuyện này là ai nếu không phải là ông Thích Trúc Thái Minh? Thầy trò ông này dựng lên kịch bản này nhằm khủng bố tinh thần các em trại viên với thông điệp rất ngắn gọn: Phải tuân phục thầy bất cứ giá nào! Và từ đó bọn ác tăng nắm trong tay hàng chục ngàn sinh linh của Phật tử cuồng tín để khuấy động Phật Giáo Việt Nam.

Đây chính là nguyên nhân lớn nhất khiến cho sư Thích Minh Tuệ trở thành vị Phật sống vì đã buông bỏ thân xác mình cho Phật pháp. [qd] 


 

RỒI SẼ NÊN THẾ NÀO? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào? Vì quả thực, bàn tay Chúa đã ở với nó!”.

Suy niệm “Năm chiếc bánh và hai con cá”, Philip Clarke Brewer viết, “Chúa sử dụng những gì bạn có, để lấp đầy một nhu cầu bạn không bao giờ có thể lấp đầy; sử dụng nơi bạn ở, để đưa bạn đến một nơi bạn không bao giờ có thể đi đến; sử dụng những gì bạn làm, để hoàn tất những gì bạn không bao giờ có thể thực hiện. Ngài sử dụng bạn, dù bạn là ai, để trở thành một ai đó mà bạn không bao giờ có thể trở thành, và không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’”; đó cũng là những gì họ hàng của Zacharia – Êlisabeth tự hỏi về Gioan! Tin Mừng ngày lễ Sinh Nhật Vị Tiền Hô của Chúa Cứu Thế tường thuật cảnh nhộn nhịp dưới mái nhà của ông bà khi xóm diềng đến chúc mừng họ.

Một em bé chào đời là cách Thiên Chúa nói với thế giới rằng, “Nó sẽ tiếp tục!”; ngày sinh của một thơ nhi phản ánh vẻ đẹp và sự huyền nhiệm vô hạn của Ngài, Đấng nói rằng, “Đã có những phóng chiếu của Ta trên hình hài nó!”. Cha mẹ của em bé có thể coi đó là một nhầm lẫn, sai sót; nhưng Thiên Chúa thì không! Một đôi vợ chồng hiếm muộn ‘mong mỏi’ nó; Thiên Chúa thì ‘khát khao’ nó! Với bất cứ một sinh linh nào, chúng ta đều tin như vậy, phương chi đối với Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế! Tôma Aquinô viết, “Gioan đã được thánh hoá từ dạ mẹ”; còn Luca, “Em đã đầy Thánh Thần ngay trong lòng mẹ!”.

Isaia chia sẻ một trải nghiệm tương tự, “Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ; lúc tôi chưa chào đời, Người nhắc đến tên tôi”. Được tạo thành cách lạ lùng; Isaia được sai đi còn lạ lùng hơn, “Này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất!” – bài đọc một. Kỳ diệu thay, những lời này ứng nghiệm trên Gioan, trên Chúa Giêsu, Ánh Sáng Muôn Dân. Phaolô xác nhận, “Thiên Chúa đã đưa đến cho Israel một Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu. Để dọn đường cho Người, ông Gioan đã rao giảng kêu gọi toàn dân Israel chịu phép rửa tỏ lòng sám hối” – bài đọc hai. Trước huyền nhiệm của việc tạo thành và sai đi này, dẫu không biết ‘rồi sẽ nên thế nào’, Thánh Vịnh đáp ca cũng trào tràn tâm tình tạ ơn, “Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng!”.

Anh Chị em,

“Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào?”. Bàn tay Chúa ở với Gioan, Gioan được sinh ra trong một hoàn cảnh đặc biệt cho một sứ mệnh đặc biệt! Nhờ ơn Chúa, Gioan nghiêm túc chu toàn sứ mệnh và hoàn tất nó cách tuyệt vời. Cũng thế, sự xuất hiện của bạn và tôi trên hành tinh này không phải là ngẫu nhiên, nhưng phát xuất từ ý định ngàn đời của Thiên Chúa. Ân sủng và tình thương Ngài ‘không rời chúng ta nửa bước’. Ngài kỳ vọng mỗi người sẽ trở thành ‘một ai đó’ mà ngay cả chúng ta cũng không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’. ‘Một ai đó’, chúng ta không biết, nhưng Thiên Chúa biết! Vậy, hãy cộng tác với ân sủng, nghiêm túc chu toàn bổn phận theo đấng bậc mình và hoàn tất nó cho tuyệt vời! Và như vậy, bạn và tôi đã làm vui lòng Đấng đã nắn đúc mình như Ngài đã nắn đúc Gioan!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con làm Chúa thất vọng khi con không trở nên ‘một ai đó’ mà Chúa kỳ vọng!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

********************

NGÀY 24 THÁNG 6

LỄ SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

57 Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Ê-li-sa-bét sinh hạ một con trai. 58 Nghe biết Chúa đã rộng lòng thương xót bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.

59 Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Da-ca-ri-a mà đặt cho em. 60 Nhưng bà mẹ lên tiếng nói : “Không được ! Phải đặt tên cháu là Gio-an.” 61 Họ bảo bà : “Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả.” 62 Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em là gì. 63 Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết : “Tên cháu là Gio-an.” Ai nấy đều bỡ ngỡ. 64 Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa. 65 Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giu-đê. 66 Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi : “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây ?” Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em.

80 Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en. 


 

CON NGƯỜI MUỐN CẢ ĐỜI BÌNH AN, HẠNH PHÚC CHỈ LÀM ĐIỀU NÀY LÀ ĐỦ…!!

Antonio Son Tran

Thực chất, tận sâu thẳm của cõi lòng, tất cả mọi người đều mong muốn có được một cuộc sống an lành, hạnh phúc. Vậy thì tại sao từ xưa cho đến nay con người vẫn luôn sống trong lo sợ, bất an và đau khổ cũng như chiến tranh, bạo loạn, thù địch vẫn diễn ra liên miên? Nguyên nhân của vấn đề này là do đâu?.

Danh lợi, giàu sang chẳng thể mang theo đi được, chúng ta đến với cõi đời này với hai bàn tay trắng, khi rời khỏi nơi này cũng là hai bàn tay trắng. Vậy mà chúng ta cứ mê muội, đắm chìm và theo đuổi danh lợi đến cùng để được gì chứ? Nó càng khiến chúng ta tạo thêm nhiều nghiệp lực tội lỗi.

Trong cuộc sống, mọi việc đều có cái được và cái mất. Tình yêu đem đến niềm vui nhưng cũng làm ta đau khổ; tiền tài giúp ta hưởng thụ cuộc sống giàu sang nhưng cũng là nguyên nhân làm ta phiền não; thành công giúp ta hạnh phúc nhưng nỗi đau của thất bại cũng thật khôn lường.

Sở dĩ con người vượt lên trên tất cả muôn loài là bởi con người có lý trí, có ý thức. Hay nói cách khác là con người có tâm. Tâm là yếu tố quan trọng nhất, quyết định tính chất của cuộc sống. Thiện hay ác cũng do tâm, hạnh phúc hay khổ đau cũng xuất phát từ tâm. Và do vậy, con người có thể sống thanh bình, hạnh phúc hay không cũng chính do tâm đóng vai trò quyết định.

Nếu chúng ta nói năng hay hành động với tâm thanh tịnh thì chúng ta có được hạnh phúc, sống trong an bình; ngược lại, nếu nói năng hay hành động với tâm nhiễm ô thì chúng ta sẽ phải khổ đau, bất an, gây nên sự hận thù và bất hòa với người khác. Là bạn hay là thù cũng do chính chúng ta tạo nên.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến bất an, chiến tranh, bạo loạn, gây hận kết thù với nhau đó là lòng tham của con người. Dân gian ta thường bảo rằng “tham thì thâm”, quả thật là một sự đúc kết thâm thúy. Lòng tham làm cho con người mất hết lương tri, họ bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được tham vọng của bản thân. Vì lòng tham con người có thể tàn hại, chém giết lẫn nhau.

Có người có tiền tài nhưng lại thiếu sức khỏe, gia đình hoặc tình yêu; Có người sự nghiệp, thành tích không quá cao nhưng chất lượng cuộc sống, sức khỏe lại vô cùng tốt. Có những điều thoạt nghĩ ta sẽ thấy thiếu sự công bằng, nhưng thực tế nó lại rất công bằng với tất cả mọi người.

Vậy phải làm gì để luôn hạnh phúc, luôn an yên?

Mọi người chỉ cần đem bản tính lương thiện của mình tăng lên, mở rộng ra, tận lực làm thêm nhiều việc thiện, tích nhiều âm đức.

Đây là phúc mà do con người tự tạo ra, người khác có suy tính chiếm đoạt cũng không chiếm được, đấy chính là cái “ĐỨC” ở đời.

Hành thiện tích đức có thể làm ở bất kỳ nơi đâu, hoàn cảnh nào, cho dù là không có điều kiện tiền bạc.

Ví dụ như: Cứu người gặp nạn, bỏ đi những chướng ngại vật có thể gây nguy hiểm cho người khác, nhường đường đi hay nhường chỗ ngồi cho người già…, đó đều là hành thiện tích đức.

Kiên nhẫn làm việc thiện, tận tâm bố thí cứu giúp người khác và tin tưởng rằng ông trời không bao giờ “bỏ qua” người tốt!

“Đức” có thể bảo hộ con người suốt đời, còn “thiện” chính là chìa khóa để tích đức!

Cho nên, thay vì tính toán quá nhiều hãy “hành thiện tích đức” thì cuộc đời mới bình an, phú quý….

SƯU TẦM


 

 “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mc 4:41)- Cha Vuong

Mến chúc bạn ngày Chúa Nhật tràn đầy bình an và ân sủng của Chúa và Mẹ nhé.

Cha Vương

CN: 23/6/2024

TIN MỪNG: Các ông hoảng sợ và nói với nhau: “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mc 4:41)

SUY NIỆM: Người này là ai? Ông này là cái thớ gì mà làm được những chuyện như vậy? Đây là câu hạch hỏi về quyền năng của một người nào đó. Thái độ của các tông đồ thật là đáng trách. Các ngài đã từng thấy Chúa Giêsu chữa nhiều bệnh tật, và trừ được quỷ thế mà trong lúc lao đao giữa cơn bão biển, Chúa Giêsu lại ngủ, họ kết luận rằng Chúa Giêsu chẳng lo nghĩ gì đến họ! Họ hạch hỏi Chúa! Sách Cách Ngôn (3:24) dùng giấc ngủ an bình để tả lòng tin tưởng hoàn toàn nơi Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu có thể ngủ ngay lúc bão táp của cuộc đời là dấu chỉ vào lòng tin tuyệt đối vào Thiên Chúa của Ngài. Chữ “lòng tin” khi dùng trong xã hội Hy Lạp hay Do Thái thời đó có nghĩa là “lòng trung thành”. Chúa Giêsu trách các môn đệ đã để sự nhát gan làm lung lay lòng tin (trung thành) của họ đối với Người. Có bao giờ bạn có thái độ tương tự như vậy chưa qua lời than thở “Lạy Chúa sao Chúa lại để con đau khổ như thế này”?  Những cơn báo tố nào đang đến với bạn trong lúc này là gì? Có thể là một biến cố bên ngoài hay một cuộc chiến trong tâm hồn. Nếu như Chúa Giêsu ở bên cạnh bạn trên con thuyền khi bạn lao đao giữa giông tố ngoài biển khơi, thì bạn sẽ làm gì? Bạn có vẫn ngồi bên Ngài ngay khi nước trào vào thuyền? Bạn có đánh thức Người dậy để xin một phép lạ chăng? Hay bạn bỏ Ngài để đi tìm một quyền năng nào khác để làm lặng xuống những bão táp và sóng gió trong đời? Xin bạn đừng quên rằng quyền năng trên biển và bão tố là dấu hiệu một quyền năng đến từ Thiên Chúa. Chỉ có sự hiện diện của Chúa mới mang bình an thật đến cho tâm hồn bạn thôi. Đi với Chúa Giêsu là đi trong bình an, dù là đi giữa bão tố của cuộc đời. Hãy tin tưởng vào Chúa luôn luôn trong mọi hoàn cảnh nhé.

LẮNG NGHE: CHÚA là sức mạnh của dân CHÚA, là thành trì cứu độ

cho Đấng Người đã xức dầu tấn phong. Lạy CHÚA, xin cứu độ dân Ngài, trên gia nghiệp này, giáng muôn phúc cả dẫn dắt nâng niu đến muôn đời. (Tv 54:6,8)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ở lại với con khi bóng tối đang vây phủ con, buông tay Chúa ra con biết trông cậy vào ai? Lạy Chúa Giêsu con tin tưởng nơi Chúa. Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.

THỰC HÀNH: Mời Chúa vào những khó khăn đau khổ đang đến với bạn trong lúc này.

From: Do Dzung

Ở LẠI VỚI CON – NGUYỄN HỒNG ÂN  

Sử gia Trần Huy Liệu: ông thầy bịa sử-Tác Giả: Phan Thanh Tâm

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Phan Thanh Tâm

09/09/2021

Ông Trần Huy Liệu

“Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” là “một sản phẩm được chế ra bởi chính Viện Trưởng Viện Sử Học miền Bắc, Giáo sư Trần Huy Liệu”. Và chuyện “đề cờ” chung quanh câu này đã trở thành một thứ “sự thật lịch sử, “siêu tài liệu”, hay “siêu bằng chứng” là nhờ tài nghệ sáng tác cùng kinh nghiệm làm báo cũng như làm chính trị của “người anh cả” giới sử học Hà Nội. Luật Sư Winston Phan Đào Nguyên đã xác định như vậy trong cuốn “Phan Thanh Giản và vụ án “Phan Lâm Mãi Quốc, Triều Đình Khí Dân”. Tác giả đã dành một năm nghiên cứu quá trình nguồn gốc tám chữ được dùng để hạ nhục cụ Phan ”vì mục đích đánh chiếm miền Nam”.

Tác giả sách cho biết câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” xuất hiện lần đầu tiên tháng 8 năm 1955 trên số 9 tập San Văn Sử Địa tiền thân của tờ Nghiên Cứu Lịch Sử trong bài viết có tựa đề “ Việt Nam Thống Nhất Trong Quá Trình Đấu Tranh Cách Mạng” của ông Trần Huy Liệu. Tuy là bài nóí chuyện tại Câu Lạc Bộ Đảng Xã Hội Việt Nam, nhưng được coi như là một bài viết rất công phu với nhiều chú thích; riêng câu có tám chữ về cụ Phan thì ông Liệu không hề cho hay nguồn gốc câu đó ở đâu. Sinh năm 1964 tại Cần Thơ, là một thuyền nhân đến Mỹ năm 1980, Tiến sĩ Luật khoa Phan Đào Nguyên xác định câu này không có mặt trong cả nước trước 1954 và miền Nam từ 1954 cho đến năm 1975.

Khác với giáo sư Phan Huy Lê khi kể lại chuyện cây đuốc sống Lê Văn Tám là một nhân vật không có thật do ông Trần Huy Liệu chế tạo, giáo sư Lê đã không nói rõ, là Giáo sư Trần Huy Liệu đã nhắn nhủ với Giáo sư trong trường hợp nào. Đằng này, khi công bố chuyện sử gia Viện trưởng Viện sử học chế ra câu “Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khi Dân” với sự phụ hoạ của giáo sư sử học Trần Văn Giàu, tác giả Tiến Sĩ Luật Khoa Phan Đào Nguyên đã viết cả môt cuốn sách dày gần 400 trang. Sách được phát hành nhân buổi Hội Thảo và Triển Lãm về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản” và trao giải thhưởng Văn Học PhanThanh Giản 2021 tại Houston.  Buổi này do Gia Đình Cựu Học Sinh Trung Học Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm Cần Thơ tại Houston, Texas, tổ chức ngày 15/8/2021.

Trong sách Tiến sĩ Luật khoa Phan Đào Nguyên, Cử nhân khoa Lịch sử bằng danh dự năm 1987 tại UCLA, đã chỉ trích thế hệ giáo sư sử học ở Việt Nam do hai bậc trưởng thượng, ông Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu, đào tạo ra trong đó có “tứ trụ”  Hà Văn Tấn, Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, và Trần Quốc Vượng. Ba ông sau đã tiếp tay phổ biến câu “thần chú vạn năng” này. Cuốn sách là một thách đố cho các sử gia miền Bắc: “Họ đã không làm phận sự giáo sư bộ môn lịch sử – là phải tìm hiểu cặn kẽ về một câu có tầm vóc lịch sử. Giỏi lắm thì họ có đặt chút nghi ngờ về xuất xứ của câu này, nhưng rồi vẫn tiếp tục cho rằng đó là một nguồn dư luận cần phải được ghi nhận”.

phải phục vụ chế độ

Tại sao không nói đến xuất xứ tám chữ nói trên? Vì cứu cánh biện minh cho phương tiện. Đề ra những phương  pháp sử học cơ bản nhưng khi cần đạt được mục đích tối hậu thì sử gia cọng sản không làm nhiệm vụ của một sử gia là đưa ra những suy nghĩ vô tư dựa trên những tài liệu uy tín mà “ta chỉ thấy toàn những lời bịa đặt”. Tác giả Phan Đào Nguyên trang 348 trích dẫn tôn chỉ của sử gia Trần Huy Liệu khi ông chủ trương : chúng ta không phải nghiên cứu để nghiên cứu mà là nghiên cứu để phục vụ cho những công tác trước mắt; gắn chặt việc yêu nước với việc yêu chế độ xã hội chủ nghĩa; chứng minh chế độ ta là một chế độ tốt đẹp hơn chế độ thối nát của Mỹ –  Diệm ở miền Nam.

Trang 32 cuốn sách kể lại chuyện Giáo sư Trần Văn Giàu thổ lộ với nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh rằng “Đó là thằng Liệu, không phải tao” khi nghe nhắc tới chuyện khoảng năm 1960 – 1963 đảng Cộng Sản hạ quyết tâm dùng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam.  Phan Thanh Giản là một nhân vật “chủ hoà” bị mang ra đấu tố. Trong phiên toà ông Phan đã bị kết án xử tử.  Ông Trần Huy Liệu trước khi dàn dựng phiên toà đấu tố trên tờ Nghiên Cứu Lịch Sử năm 1963 do ông làm chủ nhiệm và Tổng Biên Tập, ông đã nghiên cứu cách đấu tố điạ chủ ở miền Bắc 10 năm trước. Điều này được tiết lộ qua con trai ông là Trần Chiến viết trong cuốn “ Cõi Người – Chân Dung Trần Huy Liệu” trang 367.

Phiên tòa đấu tố là “một vụ xử án một chiều rất trắng trợn”. Tác giả Phan Đào Nguyên viết, câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” đã được đem ra để làm bằng chứng duy nhất cho tội “mãi quốc”. Nó chứng minh cho việc Phan Thanh Giản đã đi ngược lại “nguyện vọng của nhân dân”; từ đó bác bỏ việc xin khoan hồng cho tội “mãi quốc”. Quan toà tuyên bố bản án tối hậu cho cụ Phan mà chỉ dựa vào  tám chữ mà tám chữ đó lại do chính giáo sư sử học và là quan toà bịa ra. Phiên toà không có sự đối thoại hay tranh luận nào hết.  Có một độc giả Hải Thu viết bài “góp ý về Phan Thanh Giản” cũng đã miệt thị và buộc tội cụ Phan. Sau này người tai khám phá Hải Thu là bút hiệu của Trần Huy Liệu.

Về tội “mãi quốc”, theo Luật sư Phan Đào Nguyên, đây là động từ cho thấy có sự trao đổi giữa kẻ bán và kẻ mua. Nếu cụ Phan bị tuyên án “mãi quốc” thì  quan toà Trần Huy Liệu ít nhất phải có một bằng chứng cho cuộc mua bán, đổi chác giữa cụ Phan và Pháp và đã là mua bán thì cái giá của sự trao đổi là gì? Có phải là tiền bạc, chức tước, hay đất đai cho chính Phan Thanh Giản hoặc con cháu gia đình ông để đổi lấy mấy tỉnh Nam Kỳ? Những điều kiện phải có cho tội danh “bán nước” đã không  được đếm xỉa tới. Đó là chưa nói tới việc Phan Thanh Giản chẳng làm gì có quyền gì mà bán. Tất cả quyết định tối hậu là ở vua Tự Đức. Hoà ước 1862  ký xong trong vòng một năm phải được  vua Napoleon III và vua Tự Đức chấp thuận.

 Điều 11 Hoà Ước 1862

Theo Luật sư Tiểu Bang California và Liên Bang Mỹ Phan Đào Nguyên các sử gia miền Bắc và sử gia Trần Huy Liệu không đọc hết hoà ước 1862 (Nhâm Tuất). Họ gọi Hoà ước này là “hàng ước” và Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp là những kẻ “đầu hàng” hay “bán nước”. Hoà ước có điều khoản 11, cực kỳ quan trọng. Viện trưởng Viện sử học và đàn em không bao giờ nhắc đến điều 11 vì “nó là một công trạng và thắng lợi về ngoại giao cũng như về chính trị của Phan Thanh Giản mà họ không hề biết, hoặc không muốn cho ai biết”. Theo điều này Pháp sẽ trả lại tỉnh thành Vĩnh Long cho vua An Nam, nếu vua An Nam ra lệnh và giải tán những lực lượng kháng Pháp tại hai tỉnh Gia Định và Định Tường.

Liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh bại Nguyễn Tri Phương tại đồn Chí Hoà năm 1861 và sau đó họ liên tiếp chiếm luôn bốn tỉnh lân cận Gia Đinh, Định Tường, Biên Hoà và Vĩnh Long chỉ trong vòng một năm. Gia Định là thủ phủ của ba tỉnh miền Đông. Vĩnh Long là thủ phủ của ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Do đó, việc mất tỉnh Vĩnh Long vào tay liên quân Pháp – Tây Ban Nha đồng nghĩa với việc sẽ mất trọn  Nam Kỳ. Lúc bấy giờ có những cuộc nổi loạn ở Bắc kỳ. Vua Tự Đức muốn rảnh tay đối phó với tình hình phiá Bắc, đành nhận chịu mất ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Việc Pháp trả tỉnh Vĩnh Long cho Việt Nam là một sự nhương bộ của Pháp- Tây- Ban Nha do tài ngoại giao của cụ Phan.

Để lấy lại được Vĩnh Long, Phan Thanh Giản phải thực thi điều 11 của Hoà Ước.   Ông buộc Pháp phải thực thi việc trả lại tỉnh này và cụ phải chứng minh cho người Pháp thấy là ông đã từng viết thư kêu gọi Trương Định giải giáp và bãi binh theo lệnh của vua. Đó là lý do tại sao khi Trương Định không chịu làm theo lệnh vua thì Phan Thanh Giản tuyên bố với phe Pháp là Trương Định là kẻ phản loạn để triều đình Huế hết chịu trách nhiệm về ông ta nữa. Nhờ sự khéo léo về chính trị của cụ Phan, nhà Nguyễn lấy lại Vĩnh Long trong vòng chưa đầy một năm sau khi ký Hoà ước 1862 mà không mất một mạng người nào. Các sử gia miền Bắc không đọc điều 11 nên tuyên bố cả 12 điều trong Hoà Ước là sự nhục nhã của nhà Nguyễn.

Trang 147 sách in lại Hịch Quản Định bản tiếng Việt của Petrus Trương Vĩnh Ký. Hịch Trương Định thông báo lý do ông đánh Pháp để đền ơn chúa và còn nói rõ ông tiếp nhận chiếu phụng của vua, nhận lãnh ấnTống Binh của triều đình đồng thời thừa lệnh vua kêu gọi mọi người chiến đấu chống Pháp. Ngoài ra, cũng qua bài hịch, tác giả Phan Đào Nguyên viết “ta còn được chính tác giả Trương Định cho biết rằng lá cờ của ông đã đề sẵn bốn chữ “Bình Tây Đại Tướng” chớ không phải “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” như hai sử gia Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu đã kể”.  Vẫn theo tác giả Phan Đào Nguyên, Trương Định biết cụ Phan cũng là “một phần tử của nhà vua đang tìm cách lấy lại đất bằng đường lối khác”.

Tại sao Viện Trưởng Viện Sử Học chọn Phan Thanh Giản làm mục tiêu tấn công và đem cụ làm nhân vật chính trong câu “ Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”?  Theo Luật sư Phan Đào Nguyên năm 1955 khi nhận thấy miền Nam không có tổng tuyển cử và miền Bắc chủ trương dùng chiến tranh để chiếm miền Nam thì Trần Huy Liệu chỉ trích đường lối ngoại giao của Phan Thanh Giản là “ảo tưởng” là “liều thuốc độc” và những người không chọn chủ chiến là thành phần “do dự hoang mang”.  Để tranh thủ người dân miền Nam và cán bộ tập kết phải cùng theo con đường đảng đề ra – ông Trần Huy Liệu răn đe – nếu không họ sẽ mang cái án bán nước, đầu hàng và cấu kết với giặc như Phan Thanh Giản bị kết án qua tám chữ nêu trên.

Cả nước ca ngợi quan Phan

Ngoài ra, vẫn theo Luật sư Phan Đào Nguyên, Phan Thanh Giản là một vị quan đức độ và có uy tín sâu rộng trong nhân dân Nam kỳ. Uy tín này có thể làm cho người dân Nam kỳ tin tưởng rằng đường lối ngoại giao của ông Phan là đúng. Do đó, ông Trần Huy Liệu phải chọn cụ Phan làm đối tượng phải diệt.Tiếp đó, ông ta đưa Phan Thanh Giản vào làm nhân vật chủ chốt hay là kẻ tội phạm đứng đầu sổ trong câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” mà đã do chính ông ta chế tạo ra.  Đây là một việc làm cần thiết cho mục tiêu tối hậu của ông Trần Huy Liệu- là giành lấy chính nghĩa và sự ủng hộ của dân miền Nam cho đường lối chủ chiến của phe ông ta ở miền Bắc trong cuộc chiến tranh đang diễn ra ở miền Nam.

Tiến sĩ Phan Đào Nguyên quả quyết, câu “Phan Lâm Mãi Quốc, Triều đình Khí Dân” không có trong sách báo bằng chữ quốc ngữ của cả nước từ trước và ở miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Theo ông Nguyễn văn Trấn (1914 – 1998) còn gọi Bảy Trấn, là một nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động cách mạng chống Pháp, Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9 và giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc viết trong cuốn “Chợ Ðệm Quê Tôi” thì câu nói đó là câu nói của đàng ngoài: “Chớ tôi từng đọc sách sử, chưa thấy ở trong Nam này có sĩ phu bốc đồng nào nói ra câu bia miệng đó”.

Luật sư Phan Đào Nguyên cho biết sau khi Phan Thanh Giản (1796–1867) qua đời cụ đã được tất cả các sĩ phu và dân chúng miền Nam cũng như cả nước ngợi khen, như có thể thấy qua thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Phạm Viết Chánh, Phạm Phú Thứ.  Chẳng có văn thơ nào lên án Phan Thanh Giản cả. Có một người duy nhất tạm cho là có giọng điệu phê phán quan Phan là Phan Văn Trị, với câu “ngậm cười hết nói nỗi oan (quan?) ta”. Câu này có thể diễn dịch là một câu trách móc nhẹ nhàng chớ không phải là một lời lên án hay kết tội gì cả. Chữ oan hay quan theo lối nói của người miền Nam thì hơi giống nhau.

Ở  Miền Bắc trước 1954 cũng không hề nghe nói đến câu này. Tác giả Phan Đào Nguyên đã cố tìm trong các báo có uy tín như Nam Phong Tạp Chí của Thương Chi Phạm Quỳnh, và bộ Tri Tân Tạp Chí của Ứng Hòe Ngô Tất Tố cũng không thấy có bài nào chê bai hay lên án Phan Than Giản mà toàn là  những bài viết ca ngợi về sự hy sinh và đức độ cũng như thông cảm cho hoàn cảnh của quan Phan.  Ở trong Nam, những tác giả chuyên nghiên cứu về PhanThanh Giản như Lê Thọ Xuân, Trực Phần, Trường Sơn Chí, Khuông Việt  cũng không thấy nói về tám chữ ở đầu bài. Ông Lê Thọ Xuân đã cùng một người Pháp viết cả một cuốn sách với rất nhiều tài liệu bằng tiếng Pháp về cụ Phan cũng không có chữ nào về Phan Lâm Mãi Quốc .

Sử gia hay sử tặc?

Miền Nam sau năm 1954 cho đến năm 1975 không có sách báo nào viết chê bai cụ Phan. Tạp San Sử Điạ tại Sài Gòn không thấy có bài nào đề cập tới câu này. Có một trường hợp ngoại lệ là bài của sử gia Phạm Văn Sơn viết về câu này Phan Lâm bán nước, triều đình khí dân. Ông cũng đã chú thích ở cuối bài là tham khảo từ Lịch sử 80 năm chống Pháp của T-H-L  trang 32 và Nam kỳ chống Pháp của T-V-G trang 160.  Thời này một trong những con đường lớn nhất ở Sài Gòn là đường Phan Thanh Giản nay là đường Điện Biên Phủ. Cần Thơ và Đà Nẵng có trường Phan Thanh Giản coi như cùng cỡ với trường Quốc Học ở Huế hay trường Petrus Ký ở Sài Gòn.  Ngoài ra, ở miền Tây cũng còn có một bệnh viện lớn mang tên Phan Thanh Giản.

Nhà văn Sơn Nam kể lại, hồi xưa khi đi ngang qua miếu Văn Thánh học trò phải cúi đầu chào ông Phan. Nhà văn nói:”Tôi lại vào bên hông miếu Văn Thánh để cúi đầu trước bức ảnh cụ Phan, chớ nào ai vào chánh điện để chào ông Khổng, ông Tăng Sâm, Tử Lộ”. Nhà văn đề nghị, “trong chương trình sử học cho học sinh, nên có một bài nói về ông, đủ tình đủ lý”.  Cố học giả Vương Hồng Sển, trong cuốn Nửa Ðời Còn Lại, chương “Trở lại, thử tìm hiểu cảnh ngộ quan Phan khi đi sứ sang Pháp”, ông viết, “bấy lâu nay (1990), tôi nghe đầy tai lời trách quan Phan làm cho mất nước và vua Tự Ðức đứng đầu tội ấy. Thấp cổ bé miệng, tôi có dại gì cãi họ duy trong thâm tâm riêng tưởng họ chưa tới mắt cá quan Phan”.

“Làm thầy thuốc mà sai lầm thì chỉ giết một người; làm chính trị mà sai lầm thì tàn hại cả đất nước; làm văn hoá mà sai lầm thì gây tai họa cho muôn đời.” Con làm sử gia ma xuyên tạc thì sao đây? Người viết bài này khẩn thiết mong giới sử gia Băc Hà nên lên tiếng về cuốn sách và ý kiến về  “người anh cả” của mình. Cùng với chiến thắng trong việc đổi tên thành phố Sai gon, những ngụy tạo của ông Trần Huy Liệu đã được đưa vào dạy ở trong Nam sau 1975. Cây đuốc sống Lê Văn Tám và câu “Phan Lâm mãi qốc, triều đình khí dân”đã thành một “siêu bằng chứng” mà mọi người Viết Nam đều nghe nói

Sử gia Trần Huy Liệu (1901-1969Đ thực hiện vụ án này có chỉ đạo. Vì sự công bình của lịch sử và là hậu duệ của cụ Phan, người viết bài này đòi hỏi Viện Sử Học Việt Nam phải có lời xin lỗi và đền bồi danh dự cho gia đình họ Phan chúng tôi về những cáo giác khi lên án cụ Phan Thanh Giản. Qua bút hièu Hải Thu Ỏng đã đã hạ thấp cụ xuống hàng súc vật, đòi nhốt cụ trong “chuồng”. Lừa cả nước khi tạo ra  Lê Văn Tám, Ông còn phịa ra vụ án “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khi dân”. Hơn 60 năm sau mới bị khui ra bởi Tiến sĩ Phan Đào Nguyên, Ông Trần Huy Liệu nên còn gọi ông là sử gia hay nên gọi là sử tặc?

Phan Than Tâm

California, tháng 8/2021.

————————-

THÔNG BÁO

THÂN TẶNG BẢN ĐIỆN TỬ (PDF) CỦA CUỐN SÁCH

“PHAN THANH GIẢN VÀ VỤ ÁN PHAN LÂM MÃI QUỐC TRIỀU ĐÌNH KHÍ DÂN”

Tác giả Winston Phan Đào Nguyên xin thân tặng bản điện tử của cuốn sách “Phan Thanh Giản Và Vụ Án Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khí Dân” cho tất cả mọi người.

Tác giả chỉ có một yêu cầu nhỏ là nhờ bạn thông báo về cuốn sách này và đường link download dưới đây cho tất cả bạn bè bà con muốn đọc:

https://app.box.com/s/bnfhc25c9folo172xozkv6f7oss9drjb

Nếu bạn ở nước ngoài và muốn sách giấy thì có thể order từ Amazon theo link này:

https://www.amazon.com/-/es/Winston-Phan/dp/1990434177/ref=sr_1_1?dchild=1&qid=1629348969&refinements=p_27%3AWinston+Phan&s=books&sr=1-1&text=Winston+Phan (paperback)

hay

https://www.amazon.com/-/es/Winston-Phan/dp/1990434231/ref=sr_1_2?dchild=1&qid=1629349031&refinements=p_27%3AWinston+Phan&s=books&sr=1-2&text=Winston+Phan (hardcover)

Còn người ở VN muốn mua sách giấy (giá 10 USD) thì xin liên lạc Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh tại han.le3359@gmail.com.

Mời đọc online sách “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”, tác giả LS Winston Phan Đào Nguyên:

https://app.box.com/s/bnfhc25c9folo172xozkv6f7oss9drjb

Mời đọc online sách “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”, tác giả LS Winston Phan Đào Nguyên: https://app.box.com/s/bnfhc25c9folo172xozkv6f7oss9drjb

 


 

 Rò rỉ bản tường trình của các sư cô tố Thích Chân Quang lạm dụng tình dục

Ba’o Nguoi-Viet

June 22, 2024

BÀ RỊA-VŨNG TÀU, Việt Nam (NV) – Vài ngày sau khi bị Giáo Hội Phật Giáo CSVN cấm thuyết giảng dưới mọi hình thức trong hai năm, Thượng Tọa Thích Chân Quang tiếp tục bị một số sư cô tố giác ông ta lạm dụng tình dục.

Sư Chân Quang, trụ trì Thiền Tôn Phật Quang ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, lâu nay gây tranh cãi với việc hù dọa Phật tử về thuyết nhân quả để họ cúng dường thật nhiều cho chùa của ông.

Thượng Tọa Thích Chân Quang đang bị áp lệnh cấm thuyết giảng hai năm. (Hình: Giác Ngộ)

Trong văn bản rò rỉ hôm 22 Tháng Sáu, một nhóm sáu sư cô tự nhận có thời gian tu tập tại Thiền Tôn Phật Quang, quyết định công khai danh tính và tố giác ông Chân Quang “có hành vi dâm dục trong suốt thời gian dài mà không bị phát giác.”

Theo mô tả của các nạn nhân, ông Chân Quang hỏi thăm các sư cô về “sinh lý,” “ngực lớn”…

Bản tường trình của các sư cô cho rằng bên cạnh những lời nói dụ dỗ, ông Chân Quang còn có các hành vi như sờ soạng ngực, cưỡng hôn, cầm tay sư cô đặt vào bộ phận sinh dục của ông, thậm chí xâm hại tình dục một sư cô rồi sau đó đưa nạn nhân 10 triệu đồng ($392) để đi phá thai tại bệnh viện Từ Dũ ở Sài Gòn…

Các sư cô trong vụ này cũng lý giải chuyện nhiều nữ đệ tử của ông Chân Quang lần lượt bị ông này xâm hại ngay tại Thiền Tôn Phật Quang “vì quá sợ thầy [Chân Quang] mà phải nghe lời và sau đó phải giữ im lặng.”

“…Nếu như một người dám nói ra sẽ lập tức bị đuổi khỏi chùa và cũng không một ai tin tưởng, vì các đệ tử vốn rất kính trọng và tin thầy,” bản tường trình viết.

Ngoài ra, các sư cô cho biết thêm sau mỗi vụ xâm hại tình dục, ông Chân Quang đều “năn nỉ,” yêu cầu nạn nhân “giữ gìn uy tín cho thầy và cho Phật pháp.”

Trước cáo buộc nêu trên, hôm 19 Tháng Sáu, theo báo Thanh Niên, lệnh cấm thuyết giảng còn bao gồm việc ông Chân Quang không được tổ chức các sự kiện tập trung đông người tại Thiền Tôn Phật Quang cũng như ở các địa điểm khác.

Chỉ thị của Giáo Hội Phật Giáo CSVN cũng yêu cầu Thiền Tôn Phật Quang và sư Chân Quang phải “thu hồi tất cả các phái quy y tam bảo có nội dung tự sửa một trong năm giới không đúng với giới luật ngũ giới của Đức Phật.” Ngoài ra, sư Chân Quang còn bị buộc gỡ bỏ tất cả các bài thuyết giảng “gây hoang mang trong xã hội” trên mạng xã hội.

Một phần trong bản tường trình cáo buộc sư Thích Chân Quang lạm dụng tình dục một số sư cô tại tại thiền tôn Phật Quang ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mà ông này làm trụ trì. (Hình: Chụp qua màn hình)

Lệnh cấm nêu trên được coi là đòn giáng mạnh vào “thu nhập” của sư Chân Quang.

Thời điểm đó, mạng xã hội xuất hiện đơn tố cáo sư Thích Chân Quang của ông Thái Phương, chúng trưởng của Đạo Tràng Phật Đắc tỉnh Đắk Lắk.

Trong lá đơn, ông Thái Phương cáo buộc sư Chân Quang “có âm mưu gây hại đến an ninh quốc gia,” “huấn luyện Đạo Tràng thành robot không có trái tim con người, bất chấp tất cả để làm theo mệnh lệnh của ông…”

Ông Chân Quang còn bị cho là biến Đạo Tràng thành “đội quân khủng bố chuyên nghiệp” để “đánh đập, bắt cóc, hăm dọa…” đối với những ai chống lại Thích Chân Quang. (N.H.K) [qd] 


 

 Dân khinh bỉ vụ ‘đốt lò’ của đảng

Ba’o Dat Viet

June 23, 2024

Đinh Tiến Dũng được cho “hạ cánh an toàn” dù tham nhũng

Nếu thực sự chống tham nhũng, không vùng cấm, có giỏi hãy lôi đám “có đơn xin thôi chức vụ, tự nguyện xin nghỉ việc” như Phúc, Thưởng, Huệ, Mai, Trần Tuấn Anh, Đinh Tiến Dũng ra đối diện pháp luật, xét xử một cách công bằng.

Hôm 21 – 22/6, báo chí mậu dịch đồng loạt đưa tin Bộ Chính trị, Ban Bí thư, và trung ương (dĩ nhiên đều của đảng) đồng ý để ông Đinh Tiến Dũng trong nhóm 20 được “thôi” các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội cùng nhiều chức vụ lằng nhằng dây điện khác. Đây là chuyện riêng của đảng, nhẽ ra dân không cần quan tâm. Tất nhiên, quốc hội sẽ theo chỉ thị, chỉ đạo của đảng bãi “chức” đại biểu quốc hội của ông Dũng nay mai, cũng kiểu cho “thôi”. Quốc hội chả là gì, khi đảng đã sức lệnh xuống, thì cứ thế mà làm.

Về sự việc này, có nhiều nhố nhăng. Nhẽ ra từ quan chí dân, ai làm sai làm bậy, cứ chiểu theo pháp luật mà xử lý, không phân biệt quan hay dân. Đâu có cái thói quan làm sai thì chỉ xin lỗi, còn dân sai thì chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tay Mai Tiến Dũng cả đời không biết có làm được điều gì để lại tiếng thơm hay không, nhưng phát ngôn được câu ấy quả thật lưu xú danh với đời.

Cả một bộ máy, từ ông cao nhất tới đứa cán bộ quèn, cả hệ thống chính trị với vô vàn tổ chức đoàn thể, cả hệ thống tuyên truyền truyên giáo dày đặc… lúc nào cũng mở loa ca ngợi cuộc chống tham nhũng, nào lò đượm củi gộc, củi khô củi tươi, kiên quyết đến cùng, không có vùng cấm, nhưng khi cần đốt thì lại than rơm ướt rạ ẩm, bật diêm không cháy, lách kiểu này, né kiểu khác. Rõ nhất là việc tạo điều kiện cho đương sự “tự nguyện” làm đơn xin nghỉ việc, xin thôi chức, xin nghỉ theo nguyện vọng cá nhân. Cứ như trò đùa, coi thiên hạ không ra gì.

Xưa nay, đám quan lại quyền cao chức trọng, đám chóp bu cả trung ương lẫn địa phương chả có đứa nào lúc đương chức, đang hét ra lửa, ngựa ngựa xe xe, vênh vênh váo váo, nói ra một lời làm muôn người kinh sợ, chỉ muốn kéo bè kéo cánh, cha truyền con nối… lại tự nguyện tự giác bỏ chức bỏ ghế, bỏ quyền lực cả. Họa có điên. Đốt đuốc giữa ban ngày chẳng tìm ra. Nó có phạm tội, nhúng chàm, nó cũng giấu biệt.

Khi đã biết mười mươi nó phạm tội, hại dân hại nước, chỉ vơ vét cho bản thân và gia đình, dòng họ, thì cứ việc lôi ra mà trảm, từ long đầu trảm tới cẩu đầu trảm. Như Bao Công thời xưa, đã đốt lò thì Bàng thái sư cũng không tha. Nhưng Bao Công biết tôn trọng luật pháp, thời nay thì không thế.

Ông hàng xóm nhà tôi bảo kỷ luật mà đếch dám nói thẳng là kỷ luật thì còn làm được trò gì.

Cứ tuyên truyền huyễn hoặc về lò chống tham nhũng, vùng cấm vùng kiếc, thực tế lại khác hẳn, chỉ toàn lừa mị. Công khai lừa mị những người cả tin, ngây thơ. Thật buồn, đám cả tin ấy lại khá đông, hoặc do không biết gì, hoặc vì chút lợi cá nhân mình.

Nếu thực sự chống tham nhũng, không vùng cấm, có giỏi hãy lôi đám “có đơn xin thôi chức vụ, tự nguyện xin nghỉ việc” như Phúc, Thưởng, Huệ, Mai, Trần Tuấn Anh, Đinh Tiến Dũng ra đối diện pháp luật, xét xử một cách công bằng.

Kẻ ngôi cao việc trọng cũng như đứa ăn trộm vịt, đều phải bình đẳng trước pháp luật. Đốt lò, cách mạng nửa vời, nói thật, giống như cuộc hí trường.

Cách mạng màu, nhưng là màu… đỏ. Còn không, thì nên dẹp lò.

Dân biết cả, chỉ bởi họ không thể làm gì, nhưng họ cười khinh bỉ.

Nguyễn Thông


 

 Một chuyến đi tìm hoài niệm-Lưu An-Vũ Ngọc Ruẩn/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

June 22, 2024

Lưu An-Vũ Ngọc Ruẩn/SGN

Một trong những thú vui của tôi khi về thăm Việt Nam là được lang thang một mình. Hoàn toàn tự do không bị gò bó với thời gian, nơi chốn hay phải theo một chương trình đã được xếp đặt trước cho cả nhóm.

Với tôi, rất đơn giản chỉ khoác lên vai cái ba lô nho nhỏ đựng hai bộ quần áo, vài vật dụng cá nhân, thế là đủ cho một cuộc du hành thích thú, hợp với bản tính lang bạt cố hữu của mình.

Mấy chục năm sống và làm việc ở hải ngoại, phải chạy đua với thời gian, công việc đầy nhàm chán của đời sống kỹ nghệ, tôi không muốn về Việt Nam để lập lại những gò bó khó chịu đó nữa. Tôi cũng không thích, thật ra cũng có chút dè xẻn, kiết chi mà không muốn cư trú ở một khách sạn sang trọng nhiều sao. Với tôi khi về Việt Nam, những cái hoa lệ đó thật nhàm chán, vô vị. Tôi muốn về để tìm lại những cái rất đơn sơ, mộc mạc mà ngày xưa tôi đã lầm lẫn coi thường mà không nhìn được giá trị của nó. Chẳng có gì thích thú hơn.

Ban đêm nằm trên chiếc chõng tre, trong một chiếc màn chống muỗi, nghe tiếng côn trùng ca vang, rúc rỉa như ru ngủ trong căn nhà mái lá, vách rơm trộn đất ở miền quê. Ban ngày len lỏi giữa những rạch nước đục phù sa trong những cồn đất giữa dòng sông bằng chiếc thuyền nho nhỏ. Khi mệt mỏi, đói bụng tạt vào quán ăn bên sông hay trên con đường mòn đồng quê, thưởng thức những món ăn dân dã, đặc sản của địa phương… Tất cả là những nét đẹp tuyệt vời của thiên nhiên mà tôi chưa một lần nào lãng phí, bỏ qua  mỗi khi có dịp về thăm quê.

Với cách du lịch đó, Tháng Tư năm 1995, tôi làm một chuyến đi xuống miền Tây Nam Bộ, nơi mà tôi đã có rất nhiều kỷ niệm trong vài năm cuối đại học và bốn năm bước vào đời công chức, khởi đầu con đường quan lộ của mình.

***

Vĩnh Long, thành phố đầu tiên tôi dừng chân, vào buổi xế trưa, dưới cái nóng như đổ lửa của một ngày nắng gắt. Công việc đầu tiên là tìm một khách sạn nho nhỏ gần trung tâm thành phố nghỉ ngơi bù lại nỗi khổ cực sau gần 3 tiếng đồng hồ bị nén trong chiếc xe đò chật chội.

Chính nơi đây tôi đã có một mối tình đúng nghĩa với Vân, một cô giáo trong thị xã.

Như phần lớn những cuộc tình, ban đầu chúng tôi cũng gặp những khó khăn, thách đố của hoàn cảnh. Đôi lần chúng tôi đã có cảm giác buông xuôi, để mặc cho cuộc tình đi vào đổ vỡ. Nhưng với sự lớn khôn và cứng mạnh của tình yêu đã giúp chúng tôi vượt qua những khó khăn. Chúng tôi dự tính sẽ thành hôn sau khi tôi hoàn tất công tác dài hạn ở hải ngoại trở về. Nhưng thời gian xa cách kèm theo những đổi dời của thời thế, cuối cùng mối tình của tôi và Vân chỉ là một giấc mơ không bao giờ thành sự thật. Ngày tôi từ giã Vân ra đi cũng là ngày buồn bã khởi đầu một lỡ làng dẫn đến vĩnh biệt xa nhau. Chuyến đi này, đến Vĩnh Long tôi muốn tìm lại những nơi mà ngày xưa chúng tôi đã sống, đã đi qua để mong được sống lại với những dấu tích kỷ niệm của một thời hạnh phúc nhất trong đời tôi.

Sau giấc ngủ trưa khá dài, mệt nhọc đã được lấy ra khỏi cơ thể, tôi làm một cuộc đi dạo để khởi động ký ức của mình về thành phố Vĩnh Long nhiều kỷ niệm này, nhìn lại những con đường ngày xưa, nơi đó vẫn còn mang đầy dấu vết của những năm tháng chúng tôi bên nhau. Bầu trời đã chớm hoàng hôn, nhưng hình như cái nóng gay gắt Tháng Tư chẳng có dấu hiệu gì thuyên giảm. Một góc phố, bến đậu xe lam trong thị xã hay vài quán cà phê nào đó ở trung tâm… Dù ngày nay thay đổi khá nhiều nhưng vẫn còn mập mờ trong trí nhớ, kéo tôi về với cảm giác hoài niệm của một thời đẹp đẽ, hoa mộng trong đời tôi.

Gần mấy tiếng đồng hồ lang thang, mệt mỏi đã thúc giục tôi phải tìm một chỗ nghỉ chân, uống nước. Hoàng hôn thật sự đã biến mất, cái nóng rát buổi chiều gần như đã được đuổi đi bằng làn gió dễ chịu, thoáng mát của trời đêm. Hàng cột đèn đường đã bật sáng, ánh điện cũng chỉ đủ tạo ra vẻ mù mờ của không gian. Hàng quán lưu động trên những chiếc xe thô kệch với những bộ bàn ghế thô sơ, thấp lè tè được bầy la liệt trên lề đường, dọc theo bờ sông. Những chiếc đèn dầu của những “chiếc xe hàng ăn” chiếu ra những ánh lửa bập bùng khi gió thổi. Trong cái bóng tối mông lung nhập nhèm đó, tiếng cười đùa, cụng ly, mời nhau uống rượu từ những nhóm khách ăn nhậu làm cho không gian trở nên náo nhiệt. Hoạt cảnh đó là bức tranh độc đáo rất giống nhau ở hầu hết các thành phố miền nam sông nước Cửu Long, nơi mà thực phẩm chẳng bao giờ thiếu thốn.

Tìm được chiếc bàn gần bờ sông, đưa mắt dõi theo những đám bèo lục bình bập bồng di chuyển theo dòng nước. Cảm giác cô đơn đã kéo trí nhớ tôi về quá khứ của hơn 30 năm, trước khi tôi rời xa Việt Nam. Ngày đó, chính tại nơi đây, tôi và Vân ngồi với nhau lần cuối để rồi tôi từ giã Vĩnh Long, từ giã Vân-người tình mà tôi đã xây rất nhiều mộng ước tương lai để ra đi theo tiếng gọi của phong hầu. Tôi còn nhớ rất kỹ ngày đó chúng tôi ngồi đối diện nhau bên một chiếc bàn nhựa. Cũng dưới ánh sáng đèn đường mù mờ, Vân đưa chiếc ly thủy tinh trống không lên ngang tầm mắt. Hướng về tôi, nàng xoay chuyển chiếc ly nhè nhẹ. Rồi với giọng buồn bã nói với tôi:

-Nhìn xuyên qua đáy chiếc ly, dưới ánh sáng mù mờ, hình bóng của anh như bị lòe đi. Mỗi khi em xoay đổi chiều hướng của nguồn sáng thì bóng hình của anh mờ dần rồi biến mất…

Bỏ chiếc ly xuống bàn, chuyển ánh mắt ra giòng sông, với giọng buồn bã, Vân nói tiếp:

-Anh ra đi, là chuyện chẳng thế nào đổi khác được. Nhưng em có linh cảm đây không phải là tạm biệt mà là lần chúng ta mãi mãi xa nhau.

Nghe Vân nói, tôi chợt nhìn thấy rõ áng mây buồn trong ánh mắt của Vân, tôi nắm nhẹ bàn tay của Vân, vuốt nhè nhẹ như muốn xác nhận  thêm lần nữa lời hứa hẹn, tôi sẽ trở về để cho mối tình của tôi và Vân toàn vẹn. Vân không nói gì, mắt vẫn mông lung, buồn bã nhìn theo vài đám lục bình trôi trên sông. Trong không gian tĩnh lặng, buồn bã đó, tôi đọc khẽ bên tai của Vân một bài thơ tôi làm vội vã, dùng tiết tấu tạo âm điệu diễn tả xúc cảm của tôi với Vân:

Hỡi người anh yêu, cho anh xin thêm một lần ước muốn

Em đừng vẽ cuộc đời anh bằng những con đường rất thẳng

Cũng đừng giam giữ anh trong một lâu đài hoa lệ,

Để những buổi hoàng hôn, qua lỗ châu mai

Anh chỉ biết ngồi nhìn đàn chim bay về tổ.

Như một tên tử tù, nhìn trời xanh qua khung cửa nhà giam,

Mà lòng tràn đầy những ước muốn của một người khao khát tự do.

Như em đã biết,

Trời sinh ra anh, không là người diễn viên trên sân khấu

Chỉ biết la hét, cười vui trong vai một kẻ sống trong nhung lụa

Mà lòng mình luôn luôn buồn rười rượi!

Anh sẽ về với em. Chắc chắn, anh sẽ về với em

Để tiếp nối cuộc tình bằng những ước mơ của chúng ta thành sự thật.

Anh sẽ dẫn em đi trên những đường kỷ niệm xa xưa đầy hoa bướm

Những con đường mà chúng mình đã cho nhau nụ hôn đầu tiên,

Anh sẽ làm thơ, đọc cho em nghe những vần thơ tình ái

Anh sẽ viết truyện ngắn, truyện dài lãng mạn,

Kể lể về những cuộc tình của những kẻ yêu nhau

Anh sẽ về với em

Như nước trên nguồn chảy xuống sông,

Sông lại về với biển cả .

Hỡi em yêu,

Hãy tạm biệt anh bằng nụ cười, dù đôi mắt có phải thấm ướt lúc xa nhau.

Hãy vẫy tay buồn làm gió lốc, thổi mây đen ảm đạm .

Hãy viết cho anh những lá thư thật dài,

Kể cho anh nghe toàn những chuyện yêu đương đẹp đẽ .

Để cho anh dù phải xa em mà quên được những tháng ngày tẻ nhạt.

Anh sẽ về với em,

Chắc chắn anh sẽ về với  em

Để chúng mình mãi mãi bên nhau.

Đúng như vậy tôi đã xa Vân để ra đi, mong thỏa mộng công hầu. Nhưng rồi hoàn cảnh đổi thay và mối tình của chúng tôi dang dở. Những giấc mơ, lời hứa hẹn của tôi và Vân chỉ còn là ảo mộng, vu vơ.

Chuyến đi này, chỉ một mình tôi trở lại Vĩnh Long mong tìm lại được phần nào những gì mà ngày xưa của chúng tôi còn lưu lại trong hiện thực hay trong ảo giác. Vĩnh Long ngày nay với tôi là một thành phố thật buồn, thành phố của dĩ vãng, thành  phố của đầy rẫy dấu tích kỷ niệm và dư âm rất buồn vì nó mang màu sắc và âm vang của chia ly.

Ở Vĩnh Long được 2 ngày,  tôi cảm thấy tất cả những gì của thành phố hiện ra đều khơi dậy nỗi buồn đau trong lòng tôi. Thời gian qua đã quá lâu, Vân cũng chẳng còn trên thế gian này nữa, câu tạm biệt ngày ấy đã biến thành vĩnh biệt. Nghĩ như vậy, tôi cảm thấy chẳng có lý do gì để ở lại thành phố quá buồn, nhiều hoài niệm này nữa. Tôi phải rời xa để trốn tránh một nỗi buồn không bao giờ biến mất trong lòng tôi.

***

Rời xa Vĩnh Long, tôi xuống Cần thơ, điểm đến kế tiếp của chuyến đi tìm hoài niệm của mình. Tôi sinh ra ở một làng quê miền Bắc, nhưng phần lớn tuổi ấu thơ được trôi qua ở Hà Nội cho đến khi vào miền Nam ở tuổi lên 9. Với gần 15 năm học hành, lớn khôn ở Sài Gòn, dù thế nào, ít hay nhiều tôi cũng phải có những kỷ niệm với cái thành phố xô bồ, bận rộn này. Nhưng Cần Thơ mới là nơi tôi yêu thích. Tôi đã tưởng rằng sẽ định cư mãi mãi nơi đây, nhận nó là quê hương của đời mình. Rồi những thế hệ tiếp theo của tôi sẽ sinh ra, lớn lên và sẽ đúng nghĩa là người bản địa.

Tôi không quên, ngày đầu tiên từ Sài Gòn xuống đây làm việc, khởi đầu con đường lập nghiệp của mình, Cần Thơ đã chờ đón tôi với vòng tay nồng nàn nhiều ưu ái. Rồi mấy năm sau, ngày tôi đi tu nghiệp hải ngoại, Cần Thơ vẫy tay chào tạm biệt, mong tôi thành tài để được đón chờ tôi ngày trở về. Nhưng thực tế tất cả đã đổi khác, những tính toán, ước mơ của tôi và của Cần Thơ chỉ còn là ảo tưởng. Tôi đã đi, đã tăng tiến tài năng nhưng ngày về lại là một tấu khúc có quá nhiều âm vang lỗi điệu. Mấy mươi năm  qua, sống trong nhung lụa, chu du gần khắp trái đất, nhưng  tôi vẫn không quên được nơi đã dành cho mình những ân tình nhiều gắn bó. Những lần về thăm đất nước, tôi vẫn tìm dịp để về thăm lại, nhìn lại Cần Thơ nhưng tôi vẫn thấy lòng mình vẫn có cái gì buồn buồn, khó nói!

Suốt hai ngày tại Cần Thơ, tôi đi thăm lại gần như hầu hết những nơi mà ngày xưa ít hay nhiều tôi đã  có dịp đi qua. Tạt vào thăm khu kỹ nghệ đồ sộ mới thành lập ở Ô Môn, Thốt Nốt. Với chiếc thuyền gỗ nhỏ, tôi đến chợ nổi Cái Răng, Phong Điền thăm bè nuôi cá, những cồn đất trù phú đủ loại trái cây, rải rác dọc theo giòng sông Hậu. Chiều tối, khi cái nóng đã giảm bớt tôi đi dạo ở khu trung tâm thành phố, nhìn sinh hoạt phố xá về đêm. Khi mỏi chân, hưởng thụ cái thú ngồi xe lôi chạy chầm chậm qua những nơi mà ngày xưa tôi đã làm việc để nhớ hay tìm những gì còn lại trong ký ức…

(Hình: Steve Douglas/Unsplash)

Dù vẫn còn một số bạn bè, quen biết ngày xưa đang sống ở thị xã nhưng tôi không đến thăm họ.Tôi muốn dành riêng cảm xúc của mình trong chuyến đi này cho Cần Thơ. Tôi muốn tìm lại những dấu vết xa xưa của chính tôi ở Cần Thơ dù biết rằng lòng mình vẫn có những âm thanh buồn bã khi nhớ về kỷ niệm thời quá khứ.

Buổi tối, tìm được một chiếc bàn trống ngay bên cạnh bờ sông, trên bến Ninh Kiều. Ngồi nghỉ chân uống nước, tôi dự tính nhìn lại một lần nữa nếp sinh hoạt của một nơi mà bất cứ ai đến Cần thơ đều biết. Chính nơi đây, lúc tôi còn làm việc ở Cần Thơ, đã bao nhiêu lần ngồi ăn nhậu với bạn bè, thân nhân, quen biết từ xa đến thăm tôi. Cũng nơi đây, tôi và Vân đã bao lần ngồi bên nhau nhìn dòng sông nước chảy mà nói chuyện ước mơ.

Ánh sáng từ mặt trăng tròn trịa treo giữa bầu trời ngàn sao lấp lánh hoà lẫn với đèn đường, rọi xuống mặt nước sông nhấp nhô sóng nhẹ. Tạo ra những giải sáng lung linh trên mặt nước sông, thật đẹp. Những cái đó hòa trộn với xúc cảm của kẻ giang hồ khi trở về nhìn lại Cần thơ, làm tôi chợt nhớ đến bài thơ tiền chiến“ Nhà Tôi“  của Yên Thao. Bài thơ nói đến ngày về của một người chiến binh, trên bước đường chinh chiến, anh ta nhìn lại quê nhà trong tâm trạng hào hùng của một kẻ nam nhi . Đây là bài thơ tôi thường ngâm cho Vân nghe, mỗi khi chúng tôi ngồi bên nhau bên dòng sông tâm sự:

Đêm hôm nay tôi trở về lành lạnh

Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa

Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ

Chắc tay súng tôi về mơ Nguyễn Huệ

Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ

Tuổi đôi mươi cưới buổi dâng cờ

Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín

Ai bước đi mà không từng bịn rịn

Rồi yêu thương nào có mấy ai vui

Em lặng hồn, nhìn với lúc chia phôi

Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ!

Tôi là anh lính chiến

Theo quân về giải phóng quê hương

Mái đầu xanh đầy bụi viễn phương

Này anh đồng đội

Người bạn pháo binh

Đã đến giờ chưa nhỉ?

Mà tôi nghe như trại giặc đã tan tành!

Tuyệt vời thay một bài thơ cao ngạo, kiêu hùng mang quá đầy ý nghĩa! Thời gian xa nhau được diễn tả bằng những vết vá trên ống quần nâu bạc màu chinh chiến. Lòng nhớ thương, bịn rịn dành cho người vợ trẻ đẹp như mơ mới cưới ngày ra đi, hiển hiện trong cái đau xót lúc chia ly. Nhưng ngạo nghễ bao nhiêu khi người chinh phụ vẫn mạnh bước rời xa dù trong lòng mình ướt lệ! Rồi ngày về, nhìn quê nhà mà tưởng đến quân thù đang giãy chết. Đúng như vậy, bài thơ quá hay! Không còn gì để mô tả hơn được cái tuyệt vời, đầy hùng tráng của giấc mơ Nguyễn Huệ trong những vần thơ “ Nhà tôi “ của Yên Thao nữa.

Thả hồn vào âm vang của những vần thơ quá hay, quá kiêu hùng đó, tôi chợt nhìn về chính mình, về hiện trạng của tôi lúc này. Cũng trong cái tâm trạng của kẻ tìm về nơi mình thương nhớ. Cũng có dòng sông trước mặt dưới ánh trăng sao lấp lánh. Cũng nơi đây đã ghi nhớ bao lần hò hẹn với tình nhân… Nhưng tôi về đây trong tâm trạng của một khách lãng du đi tìm lại hoài niệm của đời mình. Chẳng một tí gì mang ý nghĩa của hào hùng, ngạo nghễ, dù tâm hồn tôi vẫn có đôi chút lãng mạn nhưng cái lãng mạn đó nhuốm đầy vẻ ủy mị của một kẻ quá tầm thường:

Tôi sẽ về thăm em chiều nay hay chiều mốt

Cho dòng sông không ngái ngủ buổi bình minh

Và cả những con đường em đã đi qua dạo ấy

Vẫn mờ mờ bóng điện sáng ban đêm.

Tôi sẽ về với em dù trời mưa hay trời nắng

Thoáng vẽ trong hồn tôi con đường xưa thật nhỏ

Bước chân em nhẹ nhàng như chân chim se sẻ

Ngẩn ngơ nhìn, tôi tìm em trong giấc mộng hôm nay.

Tôi về đây, bập bềnh tóc trắng gió bay bay

Xin hãy mở giùm tôi cánh cửa thời dĩ vãng

Để tôi mơ, dù phải cúi đầu lệ ướt thấm vành môi

Cho ngày về, thoáng nụ cười, buồn dang dở?

Đúng như vậy, tôi đã dùng những câu thơ viết vội khi trở lại Cần Thơ với tâm trạng của kẻ làm thơ ủy mị đi tìm hoài niệm. Không có một tí gì kiêu hùng như của người lính chiến trong những vần thơ Yên Thao.

(Hình: Nhan Nguyen/Unsplash)

Hôm sau, khi mặt trời chớm ngả về chiều. Tôi vừa từ chiếc xe lôi bước xuống bến xe Cần Thơ, dự định lấy xe về lại Sài Gòn, chấm dứt chuyến lang thang. Từ phía con đường bên ngoài bến xe, một ông lão quần áo khá tề chỉnh, tay dắt một đứa bé trai, khoảng 12, 13 tuổi,  chạy vội đến chỗ tôi. Ông lão cầm lấy cánh tay tôi lắc lia lịa ra vẻ mừng vui tột cùng:

-Thầy Hai, trời ơi sao lại gặp được thầy ở đây? Thầy về nước bao giờ vậy?…

Ông ta hỏi tôi dồn dập, tôi chẳng biết trả lời ra sao vì chưa biết ông là ai. Trong khi tôi ngẩn ngơ giương mắt nhìn ông già rồi lại nhìn sang đứa cháu của ông ta. Tôi nhíu lông mày, cố kéo trí nhớ về để xác định một người quen biết nào đó mà mình đã vô tình lãng quên. Nhưng hoàn toàn vô ích. Một lúc sau, ông lão hình như nhìn thấy vẻ thắc mắc của tôi. Ông ta lay nhẹ cánh tôi mạnh hơn kèm theo lời nói:

-Thầy Hai, quên tôi rồi sao? Tôi là Châu, nhân viên nông trại ngày xưa mà có lần thầy cho tôi, ông ba Mỹ và chị Điệp cùng về Sài Gòn công tác, nhận hàng viện trợ của Nhật cho đại học đó. Chúng tôi ở nhà thầy mấy ngày, ông bà Hai, ba má thầy đã quá tốt, giết gà vịt đãi chúng tôi đó, thầy nhớ ra chưa?

Câu nói của ông lão đã khơi động trí nhớ giúp tôi nhận ra người quen biết của mình ngày xưa. Ngày đó, mỗi lần được cử về Sài Gòn công tác, tôi thường xin cho vài nhân viên về theo, lấy lý do cần họ để giúp đỡ, khuân đồ đạc. Nhưng thật ra tôi chỉ muốn giúp họ có tí tiền công tác và nhất là để họ có dịp thăm viếng con cháu hay thân nhân của sống trên Sàigòn. Hồi đó, nhà tôi ở bìa thành phố, khá rộng rãi lại có cơ sở chăn nuôi nho nhỏ vì vậy vấn đề cư trú của họ rất thoải mái. Bố mẹ tôi lại thuộc giới lao động, ít học, chẳng có tí gì ngăn cách kẻ trên, người dưới khi họ đến tạm trú. Đã vậy gia đình có sẵn gà vịt, vấn đề ăn uống dành cho họ luôn luôn thịnh soạn.

Từ đó, họ tự phân chia với nhau đi theo tôi khi có dịp về Sài Gòn công tác. Với bất cứ ai được tôi dẫn về nhà, bố mẹ  tôi đều đối xử rất chân tình. Chính vì vậy mỗi khi tôi về Sàigòn, họ đều mang gạo, rau, trái cây gửi biếu cho bố mẹ tôi. Hôm nay tình cờ gặp lại họ. Cuốn phim dĩ vãng giữa những người nhân viên cũ và gia đình tôi lần lượt hiện ra trong trí nhớ. Tôi vui mừng ôm chặt lấy đôi vai của ông lão, nhân viên cũ cùng làm việc của mình, cảm động tôi nói với ông ta:

-Ông Châu! Tôi đã nhận ra ông rồi. Mấy chục năm rồi chứ ít sao?

Nói xong, đưa tay lên nhìn đồng hồ thấy vẫn còn sớm, dư đủ thời gian để đón xe về Sài Gòn trong ngày, tôi muốn hỏi thăm về đời sống của những người quen biết ngày xưa rồi tôi mời hai ông cháu vào một quán nước gần bến xe.

Qua lời kể của ông Châu, gần như hầu hết những nhân viên lao động cũng như các chị thư ký nơi tôi làm việc ngày xưa đã về hưu, nhưng vẫn còn sống ở Cần Thơ. Cuộc sống của họ cũng như hàng triệu người Việt khác luôn luôn tùy thuộc vào sự thăng trầm của đất nước. Tôi cũng chẳng giấu giếm ông Châu, tôi kể cho ông ta biết về những nỗi cực nhọc, đắng cay, buồn vui mà tôi đã phải trải qua trong mấy chục năm sống ở hải ngoại.

Tôi rất xúc động nhìn thấy sự buồn bã trên khuôn mặt người nhân viên cũ của mình khi biết mẹ tôi đã mất trong giai đoạn thiếu thốn cực nhọc nhất của đất nước. Ông Châu cho biết, ông cũng như nhiều người nhân viên khác đã có dịp lên Sài Gòn, cư trú tại nhà tôi. Họ không quên lòng tốt của bố mẹ tôi dành cho họ. Từ những bữa cơm thịnh soạn đến việc lo lắng giường chiếu khi họ ngủ đều được bố mẹ tôi chu toàn tươm tất. Ngay cả những người khi có việc quan trọng phải dẫn theo thân nhân, họ dẫn đến nhà tôi tạm trú vẫn được gia đình tôi giúp đỡ tận tình.

Ngồi tâm sự khá lâu, có lẽ đã đến lúc chia tay để kịp về Sài Gòn vào buổi tối, tôi nắm bàn tay nhăn nhúm của ông lão với vẻ buồn bã tôi nói:

-Đã đến lúc tôi phải lên xe rồi ông Châu ạ. Nhờ ông nhắn lời hỏi thăm của tôi đến những người khác. Ông nhớ nói với mọi người tôi không quên những tình cảm mà họ đã dành cho tôi ngày xưa, thời tôi còn làm việc. Tôi chúc ông và mọi người mãi mãi khỏe mạnh, hy vọng chúng ta lại có dịp gặp nhau lại.

Nói xong tôi cầm lấy chiếc ba lô của mình, định bước ra khỏi chỗ ngồi. Ông Châu nhìn tôi có vẻ ngập ngừng tí chút, rồi ông chậm chạp nói với tôi:

-Thấy Hai, nếu thầy không có việc gì gấp, mời thầy đến  nhà tôi ăn cơm tối, ngủ lại rồi sáng mai thầy hãy về….

Tôi chưa kịp trả lời thì ông ta nói tiếp:

-Tôi sẽ báo tin cho những người khác biết. Chắc chắn họ rất vui mừng đến gặp gỡ, chào hỏi thầy.

Nhìn tôi đưa tay lên vò trán, như hiểu được sự lưỡng lự của tôi, ông Châu nói tiếp:

-Thật ra, ở quê chẳng có gì đặc biệt để mời thầy, nhưng đây là dịp để gia đình tôi đền đáp lại phần nào lòng tốt của ông bà thân sinh của thầy. Tôi mong thầy đừng từ chối.

Nghe ông Châu nói, tôi biết không còn đường nào để chối từ lời mời của ông ta được. Với hơn 3 năm làm việc, tiếp xúc bạn bè ở miền Nam, tôi đã hiểu khá rõ con người nơi đây. Họ đơn giản, họ nghèo ngôn ngữ để diễn đạt tâm hồn, cảm xúc nhưng họ rất chân tình, không biết màu mè, môi mép, đưa đẩy kiểu ngoại giao. Khi họ đã nhận ai là người thân thiết, thì chẳng bao giờ tính toán thiệt hơn. Họ dám cho những cái họ đang cần, đang thiếu mà không một chút nhăn mặt ngại ngần.

Bước xuống chiếc xe lôi, tôi theo ông cháu ông Châu đi qua chiếc cầu bằng bê tông bắc ngang qua rạch nước chạy dọc theo đường lộ liên tỉnh. Chúng tôi đi vào con đường đất khô ráo, khá rộng, khoảng vài chục mét. Quẹo vào con đường rẽ riêng biệt dẫn đến một căn nhà ngói bề thế đứng giữa một khu vườn trồng cây ăn trái rộng lớn. Vách và mái nhà vẫn còn màu đỏ nâu nguyên thủy, chứng tỏ căn nhà xây cất không lâu. Hình như thấu hiểu được sự ngạc nhiên của tôi khi nhìn thấy cơ ngơi hoành tráng của mình. Ông Châu không dấu được sự sung sướng, tự hào, quay sang tôi ông nói:

-Cũng nhờ mấy năm được mùa, nhất là nhờ mấy ổng cởi mở, thêm vào mấy đứa con lớn khôn, chịu làm ăn gom góp lại tôi mới xây được căn nhà  này đó, thầy Hai.

Nói xong ông Châu dẫn tôi đi một vòng thăm cơ ngơi của mình, trước khi vào nhà giới thiệu với vợ con.  Khu vườn bao quanh nhà với những  mương dẫn nước chạy ngang dọc như bàn cờ. Trên bờ mương những hàng cây ăn trái đang có giá trên thị trường như nhãn,  đu đủ, bưởi năm roi… trồng xen kẽ nhau. Những cành cây xum xuê trái nặng trĩu phải dùng cột chống đỡ để khỏi bị gãy. Tất cả nói nên sự màu mỡ của khu vườn và sự khá giả của chủ nhân. Ông Châu chỉ những thửa ruộng xanh tươi bao quanh khu vườn với những bông lúa mới chớm vàng rũ xuống vì nặng hạt, nói với tôi:

-Tất cả 7 công ruộng này tôi trồng lúa nàng thơm giống mới, hàng năm trừ chi phí cũng kiếm được xấp xỉ 50 triệu đó thầy Hai.

Đi bên cạnh ông Châu, tôi có cảm tưởng, niềm hạnh phúc dạt dào trong lời nói, dáng điệu, tiếng cười của ông đã êm nhẹ thấm cả vào thân thể tôi. Cho tôi cái cảm giác vui mừng, có chút tự hào về sự thành công của người nhân viên cũ. Đưa mắt kín đáo nhìn mái tóc trắng gần hết, khuôn mặt nhăn nheo sạm nắng của ông Châu, tôi muốn chia sẻ sự sung sướng  đang có nơi ông. Tôi nghĩ hiện tại, ở cái tuổi về già ông rất xứng đáng được đền bù sau gần một đời người lao lực.

Chúng tôi vào nhà được một lúc, khi ráng chiều đã thấp thoáng trên ngọn cây. Sáu người nhân viên khác lần lượt đến, trong đó có  chị thư ký trực tiếp của tôi ngày xưa. Họ ôm lấy tôi, hỏi thăm, kể lể cho tôi nghe những khó khăn cũng như những thành công vui vẻ trong mấy chục năm vừa qua.  Điều làm tôi cảm động rớm nước mắt đó là họ luôn luôn nhắc đến bố mẹ tôi với những câu nói quá chân tình. Họ chia xẻ sự xót đau, thương tiếc với tôi khi biết mẹ tôi đã mất từ lâu, lúc tôi còn đang khốn khổ ở hải ngoại không có điều kiện về đưa đám.

Họ nhắc lại  những lần lên Sài Gòn tạm trú ở nhà bố mẹ tôi, những bữa ăn thịnh soạn mà gia đình tôi đã tiếp đãi họ… Tôi cảm thấy gần họ, yêu cái chân chất, mộc mạc từ con người họ, những con người của đồng ruộng miền Nam.  Nhưng tôi cũng không giấu được cảm giác thoáng buồn khi nhìn về thực tế, hoàn cảnh của mình.  Họ vẫn là họ. Họ mãi mãi sống và chết nơi đây, quê hương, đất nước, dân tộc của họ và cũng là của tôi.  Còn tôi thì đã khác, quê hương vẫn trong lòng, nhưng cuộc đời tôi đã xa vời vợi. Ngay cả tình thân ái giữa tôi và họ hôm nay, có lẽ chỉ là một cuộc tao phùng thoáng qua trong đời tôi, đời họ mà thôi. Gặp nhau thoáng qua hôm nay nhưng rồi cũng sẽ đi vào quá khứ khi từ giã, xa nhau. Rất khó khăn nếu không muốn nói là không còn có dịp để tái ngộ, nếu có chỉ là những hoài niệm mỗi khi chợt nhớ đến nhau mà thôi.

Buổi tối, một bữa nhậu dĩ nhiên là phải có ở cái vùng miền Nam sông nước phong phú thực phẩm và đầy ắp tình người này. Những ly rượu vẫn còn thơm mùi nếp mới được chuyền cho nhau, hâm nóng bầu không khí của buổi gặp mặt sau hàng chục năm xa cách . Nhưng cũng để mở cửa tâm hồn cho những lời tâm sự thân thương, không gò bó, đuổi đi những cái vớ vẩn kẻ trên người dưới của ngày xưa lúc còn làm việc với nhau.  Những nụ cười giòn giã  khi nhắc đến kỷ niệm vui buồn hàng chục năm về trước, hoà nhập cùng với vị ngọt của những ly rượu… Hình như nó xóa nhòa đi hết những vết thời gian trên những mái tóc, khuôn mặt chúng tôi.

Nhưng cuộc vui thế nào thì cũng đến hồi kết thúc. Những cái bắt tay nồng nàn, ôm xiết nhau rất chặt nhưng thật buồn khi từ giã nhau. Tôi và họ có linh cảm cuộc chia tay  này chắc khó có bao giờ được gặp lại nhau nữa. Thời gian, tuổi tác và không gian  cũng như hoàn cảnh… là những dữ kiện mà chúng tôi đã mường tượng ra những rào cản cho lần tái ngộ tương lai.

Nhìn sáu người nhân viên ra khỏi căn nhà của ông Châu lòng tôi trĩu nặng, buồn rười rượi. Tôi đưa mắt nhìn họ, cố gắng ghi nhận thật rõ dáng điệu, hình dạng của từng người vào trí nhớ mà tự nói với mình, đó là những người bạn sẽ không bao giờ tôi quên nhưng buồn ơi ! Tôi cũng chẳng còn dịp để gặp lại được nữa. Xin Trời Phật hãy phù hộ cho họ, cho gia đình họ mãi mãi có những niềm vui trong một đất nước VN thanh bình, thịnh vượng.

Sáng hôm sau, khi bữa điểm tâm vừa xong, tôi đang sửa soạn để về Sài Gòn, ông Châu im lặng nhét vào cái ba lô của tôi một bịch giấy khá nặng, đưa thêm cho tôi một gói khác đựng nhãn và mấy trái bưởi Năm roi. Ông nói với tôi:

-Thấy Hai, tôi nhờ thầy mang biếu ông Hai, ba của thầy 5 ký gạo thơm. Còn nhãn và mấy trái bưởi này nhờ thầy làm đồ cúng bà Hai, mẹ của thầy hộ tôi. Món quà nho nhỏ trả ơn nghĩa của tôi đến bà.

Cá tính của tôi từ xưa rất ngại việc xách mang luộm thuộm khi đi xa, nhưng với lời lẽ của người nhân viên cũ đã làm tôi khó nghĩ. Nhìn gói quà ra vẻ ngần ngừ tôi nói với ông:

-Thay mặt bố mẹ tôi, xin cám ơn ông, nhưng tôi chỉ xin ông mỗi thứ chút ít mà thôi. Tình cảm của ông và tôi thì ông đã biết rồi, không phải là nhiều hay ít, mà chúng ta thông hiểu nhau mới là điều quan trọng .

Ông Châu nằng nặc không chịu, cuối cùng tôi đành phải nhận tất cả. Khoác chiếc ba lô có thêm 5 ký gạo, tay cầm bịch trái cây tôi nói lời từ giã gia đình họ. Lúc đưa tôi lên xe lôi, ông Châu ôm lấy vai tôi, cảm động ông nói:

-Thầy đi mạnh giỏi, mong có dịp được gặp lại thầy nữa. Thầy cho tôi hỏi thăm ông Hai nhe .

Trước khi chiếc xe lôi lăn bánh, ông Châu nói với theo:

-Tối hôm qua lúc chia tay anh ba Mỹ cho biết sáng nay họ sẽ ra bến xe tiễn đưa thầy, tôi nghĩ họ đang ở đó chờ thầy đó.

Đúng như vậy, khi vừa bước xuống khỏi chiếc xe lôi, tôi thấy từ quán nước gần cổng bến xe, ông ba Mỹ và mấy người khác chạy ra đón. Mỗi người xách theo một bịch, nào rau cải, nào trái cây đủ loại, Nhìn họ tôi biết chẳng phải là cuộc đưa tiễn đơn giản, tay không. Chắc chắn có những món quà luộm thuộm đồng quê, nặng tình thân thiết mà tôi khó chối từ.

Vẫn những câu nói tình cảm, làm quà trả nghĩa bố mẹ tôi ngày xưa. Vẫn những lời thoái thác vô ích của tôi. Tôi phải nhận!  Chỉ vì tôi không thể chối từ được tấm lòng chân chất,  thân tình của họ dành cho tôi được. Cuối cùng những bó rau xanh tươi, những trái đu đủ, ổi xá lỵ, mít trà nóc, bưởi năm roi… vẫn còn thơm mùi ruộng vườn được nhét chung với nhau, rất gọn gàng trong hai cái sọt bằng tre đan. Hình như nhìn thấy ánh mắt ngại ngần của tôi với số lượng quá lớn, kềnh càng đựng quà, ông ba Mỹ nói:

-Đằng nào tới Sài Gòn thầy cũng phải thuê xe về nhà, nặng nhẹ gì đâu mà thầy lo. Chút quà cho ông Hai vui mà thầy Hai.

Rồi cũng nhờ sự xếp đặt của họ với xe đò, hai sọt quà được xếp gọn gàng dưới chỗ ngồi của tôi, bên cạnh tài xế. Khi xe vào địa phận tỉnh Tiền Giang, gần đến ngã ba Trung Lương, tôi chợt muốn tạt vào thăm thành phố Mỹ Tho, một thành phố nhỏ bé, dễ thương nằm bên giòng sông Tiền Giang. Tôi biết sơ sài về Mỹ Tho từ thời còn là học sinh trung học, nhưng từ khi xuống Cần Thơ làm việc rồi quen và yêu Vân. Chúng tôi thường tìm đến thành phố hiền hoà này rong chơi mỗi khi trên đường về Sài Gòn.

Lúc xách ba lô xuống xe ở ngã ba Trung Lương, người lơ xe kéo từ dưới ghế ra 2 cái sọt quà, để xuống mặt đường lộ cạnh bên chân tôi. Lúc đó tôi mới nhớ ra ngoài cái ba lô trên vai, tôi còn thêm những món quà cồng kềnh mà tôi đã quên mất từ khi lên xe. Món quà này đúng là vật cản đôi chân và bản chất giang hồ của tôi.  Làm sao với nó đây? Không dễ dàng cho tôi lang thang như mong muốn được.

Cùng xuống xe với tôi có khoảng 4,5 người, trong đó có một bà già có lẽ trên 70 tuổi, người miền quê Nam bộ đúng nghĩa, đầu đội chiếc khăn quàng ca rô màu xanh lá mạ, miệng lép nhép nhai trầu, tay xách cái túi bằng cói lép xẹp. Bà già nhìn hai sọt quà của tôi, hướng về phía tôi, bà nói bâng quơ:

-Chà, mấy trái xoài tượng ngon ghê, chú mua ở đâu dzậy?

Tôi thật thà trả lời:

-Người quen dưới Cần Thơ cho con đó dì.

Bà già nói tiếp:

-Đúng dzậy! Ở chợ đâu dễ mua được thứ ngon và to như dzậy!

Nhìn vẻ chất phác, vui vẻ dễ bắt chuyện của bà già, tự nhiên tôi cảm mến. Hình ảnh những bà mẹ quê Nam bộ mà tôi đã từng quen biết ngày xưa. Trong những dịp về quê thăm viếng gia đình bạn bè vào dịp giỗ Tết hiện ra trong trí nhớ tôi với nhiều ấn tượng đẹp. Họ có thể là bà nội, bà ngoại, là mẹ, là cô, là dì hay là chị của bạn tôi, nhưng họ đều có một điểm chung là rất thân thiện, cởi mở. Gặp họ dù dưới một dạng quen biết rất sơ sài nhưng vẫn được họ đãi ăn uống no say không một tí ngăn cách. Với sự cảm mến trong tiềm thức đó, tôi buột miệng nói với bà già:

-Dì muốn không, con biếu dì đó.

Bà già hơi chau mày, giương mắt nhìn tôi, có lẽ bà nghĩ tôi nói đùa. Bình thản bà trả lời:

-Cám ơn chú Hai, chú dzỡn với tui hoài…

Nghiêm nghị tôi nói chắc:

-Con không dzỡn với dì đâu, nếu dì thích con cho dì hết đó!

Lúc này bà già không còn nghĩ mình nghe lầm nữa, nhưng trên khuôn mặt, ánh mắt của bà vẫn còn vẻ ngạc nhiên, có vẻ vẫn chưa  tin lời nói của tôi là thật. Đứng gần đó, một thiếu phụ cỡ tuổi trung niên, cùng xuống xe với tôi và bà già. Có lẽ chị ta đã theo dõi trọn vẹn cuộc đối thọai của chúng tôi. Chị ta nói xen vào:

-Chú ấy nói thật đó, dì cứ nhận đi rồi chia cho chúng tôi mỗi người một chút không tốt sao?

Nghe vậy, bà già sung sướng ra mặt, bước đến cầm lấy 2 sọt qùa xoay qua, xoay lại nhìn rõ những vật phẩm trong sọt, ngước cặp mắt lem nhem trong vui mừng, nói với tôi vài lời cám ơn. Tiếp theo là một sự phân chia rất hoà thuận giữa bà và mấy người cùng chuyến xe. Vài người quay lại nói vài lời cám ơn tôi trước khi vội vàng bước lên chiếc xe đò nhỏ khác vừa táp vào đón họ. Tôi cũng không hiểu sao bà lại không lên xe theo những người kia. Hình như bà ta cố ý nán lại chờ đợi tôi hay muốn nói với tôi điều gì thì phải? Nghĩ như vậy, tôi nhìn bà, hỏi:

-Ủa, sao dì không lên xe?

Bà nhìn tôi rất thân thiện, trả lời:

-Chú Hai đi đâu dzậy? Tôi về quận Chợ Gạo, cũng gần đây nếu chú Hai rảnh ghé tôi chơi.

-Cám ơn dì, con  định tạt vào Mỹ Tho chút xíu rồi mới về lại Sài Gòn.

Bà đưa mắt nhìn tôi, trong ánh mắt bà ta có vẻ suy tư, thoáng buồn buồn. Tôi định nói với bà ta vài câu từ giã, nhưng chưa kịp, bà ta đã nói với tôi:

-Chú giống thằng Sáu Út, con của tôi quá. Nó chết đã hơn 10 năm nay rồi, tội nghiệp quá!

Nghe bà lão nói, tôi cũng hơi ngạc nhiên, buột miệng tôi hỏi:

-Chú Sáu Út vì sao mà chết vậy dì?

-Nó chết vì tai nạn lao động, lúc mới 22 tuổi chưa có vợ con gì cả. Nếu còn sống chắc cỡ tuổi chú Hai.

Nghe bà lão xét đoán quá thấp tuổi tác của mình, tôi im lặng đưa mắt nhìn khuôn mặt già nua, thoáng gợn nỗi buồn của bà ta.  Ngẫu nhiên tôi nhìn vào chiếc giỏ cói của bà ta, một trái bưởi năm roi, một chùm nhãn và mấy trái xoài tượng, tôi buột miệng hỏi:

-Sao dì chỉ lấy ít vậy?

-Không ít đâu chú Hai, tôi lấy dzậy là nhiều hơn mấy người khác rồi đó.

Tôi mỉm cười, chẳng hiểu bà lão nói để tôi vui hay đúng thật . Nhưng khi nhắc cái ba lô của mình lên, tôi chợt nhớ là trong đó còn 5 ký gạo thơm. Chẳng có tí ngại ngần, tôi mở ra cầm gói gạo đưa tận tay bà:

-May quá, con còn sót lại 5 ký gạo, biếu dì luôn nè.

Bà lão đưa tay đẩy bịch gạo,nhất định không nhận. Sau mấy lần đẩy qua, đẩy lại cùng với nhiệt lòng của tôi cuối cùng bà lão để cho tôi nhét bịch gạo vào giỏ của bà. Đúng lúc đó, tôi thấy bà thừ người ra, im lặng. Từ khoé mắt bà lão tôi thấy hai dòng lệ chảy xuống khuôn mặt rám nắng, nhăn nheo cuộn dính với vài sợi tóc trắng lòa xòa. Tôi chẳng hiểu vì sao bà lão khóc? Có thể vì cảm động với lòng tốt nhỏ bé của tôi, người mà bà chưa hề quen biết. Hay bà khóc vì qua tôi bà đã  trở về với hình ảnh đứa con trai út bất hạnh của bà ngày xưa? Bà lão đưa bàn tay vuốt nhẹ khuôn mặt tôi, ánh mắt mơ hồ, buồn bã nhìn tôi. Bà nói rất nhỏ:

-Tội nghiệp thằng Sáu Út của tôi quá, nó là đứa con có nghĩa với tôi lắm chú Hai.

Ngẩn ngơ nghe bà lão nói. Tôi nghĩ rằng dù là thằng Hai, thằng Ba, con Năm, con Bẩy… bất cứ một đứa con nào chết đi với bà ta, cũng như với bất cứ bà mẹ, ông cha nào trên thế gian này đều là đứa con tuyệt vời, đáng thương và tiếc nhớ nhất. Chủ quan hay khách quan?  Sai lầm hay chính xác? Chẳng còn là điều quan trọng mà cái đáng ghi nhận, đáng tôn thờ đó là lòng mẹ thương con mà ai ai cũng có. Tôi ôm lấy đôi vai bà lão, muốn gửi đến bà sự cảm thông, an ủi của tôi vì nỗi đau buồn mất mát của bà.

Rồi tôi chợt nhớ đến hai sọt quà, 5 ký gạo thơm của những người nhân viên cũ đã nhờ tôi mang biếu bố mẹ tôi đã không còn nữa, đã được tôi phân phát cho những người không quen biết, trong đó có bà lão dễ mến, đáng thương. Trong lòng tôi thoáng gợn một chút áy náy vì tôi đã không làm theo lời dặn của họ. Tôi cũng biết chắc chắn họ đã phải lựa chọn cái tốt nhất, ngon nhất trong khu vườn, thửa ruộng của gia đình họ để tặng tôi. Nhưng tôi hy vọng họ hiểu rõ con người tôi.

Tôi đã lớn lên, đi làm việc ở miền Nam, đã bao nhiêu lần có được những ân hưởng từ những tấm lòng chân thật, không tính toán của người miền Nam, ít hay nhiều tôi cũng bị ảnh hưởng cái tính phóng khoáng, chân chất của người miền Nam mà họ là tiêu biểu. Vậy có gì lạ đâu, tôi cũng như họ mà thôi. Làm sao tôi có thể chi ly khi mình đã sống và nhận được bao nhiêu sư rộng rãi của những người dân nơi đây ?! Ông Châu, ông Sáu, ông Mỹ, chị Điệp và tất cả hãy hiểu và cảm thông cho tôi.

Tôi lại nhớ đến bố mẹ tôi, chắc chắn qua hàng chục năm nuôi dưỡng, giáo dục tôi, bố mẹ tôi đã quá hiểu rõ thằng con trai, tính tình ngỗ nghịch nhưng cũng là đứa con có chút thiện tâm. Cái thiện tâm đó đã được di truyền từ chính bố mẹ tôi mang đến. Với suy nghĩ như vậy tôi chắc chắn bố mẹ tôi chẳng có gì để tiếc rẻ món quà  nhỏ nhặt của mình mà tôi đã đem tặng cho một bà lão không hề quen biết. Một bà mẹ già đáng thương, đã nhìn qua tôi mà chảy nước mắt khi nhớ đến thằng con trai út bất hạnh của bà ta, nó đã mất vào lúc còn non trẻ.

Lại một lần nữa tôi đưa mắt nhìn bà, vẫn những nếp nhăn nheo của da mặt, vẫn màu sắc sạm nắng gió mưa, vẫn vài lọn tóc trắng lòa xòa trên khuôn mặt… Tất cả là biểu tượng của sự già nua, cực nhọc in hằn trên cuộc đời bà lão. Trong lòng tôi tự nhiên hiện lên một ước mơ rất đẹp để cho thế hệ sau này sinh ra, lớn lên nơi đây không gặp phải những nghịch cảnh như tôi. Ra đi biền biệt nhưng vẫn không quên được quê nhà, người đồng hương và kỷ niệm để rồi lại tìm về mong được sống với những hoài niệm trong đời mình khi mà mái tóc đã bạc màu vì gió mưa!

(Hình minh họa: Minh Pham/Unsplash)