Chính quyền Việt Nam vẫn đang truy tìm vợ chồng nghệ sĩ Ngọc Mai – Quốc Nghiệp sau chuyến lưu diễn tại Mỹ

Ba’o Dat Viet

August 15, 2024

Chiều ngày 15/8, Sở Văn hóa Thể thao TP.HCM đã chính thức lên tiếng về vụ việc gây tranh cãi liên quan đến vợ chồng nghệ sĩ Ngọc Mai và Quốc Nghiệp sau chuyến lưu diễn ở Mỹ. Trước đó, Sở đã liên lạc với hai nghệ sĩ và dự kiến sẽ làm việc khi họ trở về Việt Nam sau ngày 26/6. Tuy nhiên, đến ngày 4/7, các cơ quan chức năng thông báo rằng hai nghệ sĩ vẫn chưa xuất hiện để làm việc.

Trả lời câu hỏi của báo Thanh Niên về khả năng xử phạt nếu hai nghệ sĩ không chủ động trình báo và không hợp tác với cơ quan quản lý khi trở về nước, đại diện Sở Văn hóa Thể thao TP.HCM cho biết hiện các cơ quan chức năng vẫn đang xác minh liệu Quốc Nghiệp và Ngọc Mai đã trở về Việt Nam hay chưa. Sở cũng nhấn mạnh rằng sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan và sẽ cung cấp thông tin cụ thể cho báo chí sau khi có kết quả xác minh.

Trong thời gian qua, sau khi Quốc Nghiệp mở lại tài khoản Facebook và đăng một bài viết giải thích về vụ việc, anh không còn cập nhật thêm bất kỳ trạng thái nào mới. Trong khi đó, ca sĩ Ngọc Mai vẫn giữ trạng thái khóa các trang mạng xã hội của mình và cả hai nghệ sĩ đều chưa xuất hiện trước công chúng.

Vụ việc bắt đầu từ ngày 27/5 khi một đoạn video ghi lại cảnh gia đình Ngọc Mai vui đùa trong một căn phòng tại Mỹ bị lan truyền trên mạng xã hội. Video này gây chú ý do hình ảnh hai lá cờ, trong đó có một lá cờ chế độ cũ, xuất hiện ở đầu giường trong video. Dù đoạn video đã bị gỡ, nhưng hình ảnh này nhanh chóng lan truyền trên các nhóm bàn luận, gây ra nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận.

Ngày 30/5, đại diện Sở Văn hóa Thể thao TP.HCM xác nhận đã nắm bắt thông tin về sự việc. Sở cũng làm rõ rằng Ngọc Mai và Quốc Nghiệp là nghệ sĩ hoạt động tự do, không thuộc các đơn vị nghệ thuật công lập do Sở quản lý. Sở hiện đang phối hợp với các cơ quan chức năng để tiếp tục xác minh và làm rõ vụ việc khi hai nghệ sĩ trở về Việt Nam. 


 

Thánh Stêphanô Vua nước Hungary (975-1038).-Cha Vương

Chúc một ngày bình yên và hạnh phúc trong Chúa nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Stêphanô Vua nước Hungary (975-1038). Xin ngài cầu bầu cùng Chúa cho các nhà cầm quyền thế giới.

Cha Vương

Thứ 6: 16/8/2024

Giáo Hội là của chung mọi người, nhưng sự biểu hiện của Giáo Hội luôn luôn bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa địa phương – có thể tốt hoặc có thể xấu. Không ai được gọi là Kitô Hữu “thuần chủng”; nhưng là Kitô Hữu Việt Nam, Kitô Hữu Hoa Kỳ, Kitô Hữu Mễ Tây Cơ. Sự kiện này rất hiển nhiên trong cuộc đời của Thánh Stêphanô, vị anh hùng dân tộc và quan thầy của nước Hung Gia Lợi.

Sinh trong một gia đình ngoại giáo, ngài được rửa tội khi lên 10 tuổi cùng với người cha, là tù trưởng của sắc tộc Magyar, một bộ lạc chuyên nghề cướp bóc chiếm đóng vùng Danube trong thế kỷ thứ chín. Khi lên nối ngôi cha, Stêphanô đã thay đổi hẳn đường lối cai trị, đưa sắc tộc Magyar theo tinh thần Kitô Giáo và dồn mọi nỗ lực để quảng bá đức tin. Ngài bảo trợ các vị lãnh đạo Giáo Hội, giúp xây dựng các nhà thờ, và là một phần tử ủng hộ quyền lợi của Tòa Thánh.

Nhưng sự đối xử của ngài đối với người ngoại giáo có phần nào quá cứng rắn. Ngài đưa Kitô Giáo trở thành quốc giáo và trừng phạt nặng nề các thói tục dị đoan phát xuất từ ngoại giáo. Ngài cũng ra lệnh mọi người phải kết hôn, ngoại trừ hàng giáo sĩ, và cấm người Kitô giáo không được lấy người ngoại giáo.

Stêphanô cũng dẹp tan nhiều cuộc nổi loạn của các phe quý tộc ngoại giáo nổi lên chống với Kitô Giáo. Ðể thừa nhận công trạng của ngài, vào năm 1000, Stêphanô được Ðức Giáo Hoàng Sylvester II xức dầu tấn phong làm vua Hung Gia Lợi và được nhận vương miện cũng như thánh giá từ tay đức giáo hoàng.

Tuy là vua nhưng đời sống cá nhân của Stêphanô là một bài học thầm lặng cho những người biết đến ngài. Ai ai cũng có thể đến với ngài và mọi người, nhất là người nghèo được ngài đối xử cách công bằng. Ngài dùng tiền của để giúp đỡ người nghèo, nhiều khi ngài ngụy trang để giúp đỡ họ và có lúc tưởng đã thiệt mạng vì hoạt động này.

Stêphanô làm vua Hung Gia Lợi trong bốn mươi hai năm. Ngài từ trần năm 1038 và được Ðức Giáo Hoàng Grêgôriô VII phong thánh năm 1083.

LỜI BÀN: Ðể nên thánh cần có lòng yêu thương Thiên Chúa và tha nhân như Ðức Kitô. Ðức ái đôi khi mang một bộ mặt lạnh lùng nghiêm khắc vì mục đích thiện hảo. Ðức Kitô đả kích sự giả dối của người Pharisiêu, nhưng khi từ trần Ngài đã tha thứ cho họ. Thánh Phaolô ra vạ tuyệt thông một người loạn luân ở Côrintô “để hy vọng linh hồn của họ được cứu rỗi.” Một số Kitô Hữu chiến đấu trong các cuộc Thập Tự Chinh với sự hăng say cao quý, dù rằng có nhiều người tham gia với động lực bất chính. Ngày nay, sau các cuộc chiến vô nghĩa, và với sự hiểu biết sâu đậm hơn về các động lực phức tạp của con người, chúng ta dường như không dám dùng đến bất cứ hình thức bạo lực nào. Sự hiểu biết tốt đẹp này vẫn còn tiếp tục mỗi khi người ta tranh luận rằng, một Kitô Hữu thì có nên là người tuyệt đối yêu chuộng hòa bình, hoặc đôi khi sự dữ cần phải được dẹp tan bằng võ lực.

 (Hạnh Các Thánh) 

From: Do Dzung

***************************

TÌNH YÊU THƯƠNG- THÁNH CA MỚI NHẤT 2023 – SÁNG TÁC TƯỜNG KHANH – CA SĨ TUYẾT MAI

THUỘC VỀ-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ngươi thuộc về Ta!”.

“Hôn nhân không phải là thiên đường, chẳng phải là địa ngục; đơn giản, nó là luyện hình!” – Abraham Lincoln. “Người độc thân là một sinh vật không hoàn chỉnh; người ấy như một nửa kỳ quặc của chiếc kéo!” – Benjamin Franklin. Một nhà tu đức lại bảo, “Dù sống đời hôn nhân, hay độc thân; bạn không thuộc về mình mà thuộc về Chúa!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Sẽ khá bất ngờ khi “Thuộc Về” là một trong những chủ đề của Lời Chúa hôm nay. Bài đọc Êzêkiel là một áng văn tuyệt vời diễn tả Giêrusalem như một đứa trẻ sơ sinh giữa đồng vắng được Thiên Chúa nhặt về. Với Chúa Giêsu, dù ở bất cứ bậc sống nào, bạn và tôi ‘không thuộc về mình’ mà ‘thuộc về’ Chúa!

Qua miệng Êzêkiel, Thiên Chúa sánh Giêrusalem như một đứa trẻ rốn chưa cắt, giãy giụa trong máu, bị vứt giữa đồng… Ngài lượm về, tắm rửa, dưỡng nuôi và yêu thương nó. Nó lớn phổng, trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, được trang sức với những gì quý giá nhất. Nhưng, hỡi ôi! Cậy vào nhan sắc, nó làm điều ghê tởm. Dẫu thế, Thiên Chúa vẫn một dạ xót thương, “Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với ngươi thời ngươi còn thanh xuân!”. Ngài tha thứ tất cả, “Ngươi sẽ không còn mở miệng nói gì được nữa, khi Ta tha thứ tất cả những việc ngươi đã làm”. Thiên Chúa không để mất nó, nó ‘thuộc về’ Ngài! Thánh Vịnh đáp ca tỉ tê, “Giờ đây cơn giận đã nguôi rồi, và Chúa lại ban nguồn an ủi”.

Với bài Tin Mừng, nhân câu hỏi của giới biệt phái, “Có được phép rẫy vợ vì bất cứ lý do nào không?”, Chúa Giêsu trả lời bằng cách đưa họ về buổi đầu tạo dựng, nói cho họ kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa; rằng, hai người nam nữ kết hợp với nhau sẽ trở nên bất khả phân ly. Họ được tạo ra cho nhau; đó là những người sống trong tình yêu Chúa, sinh sôi nảy nở như ý định của Ngài. Họ thuộc về nhau, nhưng vẫn ‘thuộc về’ Ngài; bởi lẽ, họ có ra, gặp nhau, cốt cho vinh quang Ngài! Tuy nhiên, giữa họ, một khi ích kỷ của một người chiếm ưu thế thì tình yêu của họ mất hết ý nghĩa; bấy giờ là “luyện hình!”.

Chúa Giêsu còn đặt ra lý tưởng cao đẹp cho những ai bị coi là “sinh vật không hoàn chỉnh” vốn tự do từ bỏ hôn nhân vì Nước Trời. Ơn gọi trong mọi bậc sống đều đến từ Thiên Chúa, Ngài ban sức mạnh, ân sủng và niềm vui cho những ai hăm hở trên đường nên thánh riêng của mình – một con đường kỳ diệu – cho từng người, không ai giống ai.

Anh Chị em,

“Ngươi thuộc về Ta!”. Sẽ dễ hiểu khi nói những “nửa chiếc kéo kỳ cục” ‘thuộc về’ Chúa; nhưng xem ra khó hiểu khi nói những người sống đời hôn nhân – thuộc về nhau – nhưng vẫn ‘thuộc về’ Chúa! Nhưng đó là sự thật, vì ai cũng phải sống cho vinh quang Ngài! Ân sủng dẫy đầy trên mỗi người dù người ấy ở bậc sống nào. Nhờ ân sủng, những con trai con gái của Chúa được biến đổi trong Chúa Kitô, được ban quyền để sống trong sự thánh khiết và lẽ thật trọn vẹn. Vì thế, dù sống đời hôn nhân, hay dâng hiến, bạn hãy cộng tác với ân sủng; hãy để ân sủng mang lại sức sống và sự tươi mới! Từ đó, chúng ta có thể tạo nên một sự khác biệt, cống hiến một điều gì đó mới mẻ, đầy hy vọng. Tắt một lời, dù là gì, ở đâu, bạn và tôi vẫn ‘thuộc về’ Chúa, sống và làm vinh danh Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dù là “nửa chiếc kéo kỳ quặc” hay đang ở “luyện hình”, dạy con tận dụng ân sủng Chúa hầu có thể tạo nên một sự khác biệt cho cộng đồng, cho thế giới!”, Amen. 

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

******************************

Thứ Sáu Tuần XIX, Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

3 Khi ấy, có mấy người Pha-ri-sêu đến gần Đức Giê-su để thử Người, họ nói : “Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không ?” 4 Người đáp : “Các ông không đọc thấy điều này sao: thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ, 5 và Người đã phán: ‘Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.’ 6 Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” 7 Họ thưa với Người: “Thế sao ông Mô-sê lại truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ?” 8 Người bảo họ : “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu. 9 Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình.”

10 Các môn đệ thưa Người: “Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ, thì thà đừng lấy vợ còn hơn.” 11 Nhưng Người nói với các ông : “Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu. 12 Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng ; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn ; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu.”

TRÊN CẢ TUYỆT VỜI.-Truyen ngan HAY

Bùi Mạnh Toàn – Những câu chuyện Nhân Văn

TRÊN CẢ TUYỆT VỜI.

Nhà Tuấn thuộc hàng giàu có, ở đất Sài Thành . Người như anh thì rất dễ để lấy được vợ đẹp vợ giàu, nhưng người anh phải lòng lại là 1 cô gái rất bình thường tên là Uyên.

Uyên xinh đẹp, giỏi giang trong công việc lại có tấm lòng lương thiện, hay đi làm từ thiện, nhưng khổ nỗi nhà cô lại vô cùng nghèo khó. Mẹ cô bị bệnh xương khớp, đi lại khó khăn, còn ba thì bị tàn tật cụt chân do 1 lần bị điện giật khiến chân hoại tử, buộc phải cưa bỏ đôi chân vốn dĩ khỏe mạnh của mình. Nhà Uyên nghèo nhất xóm, nhưng được cái cô học giỏi nên mọi người đều nghĩ rằng cuộc đời của Uyên rồi sẽ tươi sáng hơn.

Nhớ lại ngày đó ba Uyên đi đâu cũng phải đưa 2 ghế nhựa theo để di chuyển từng bước. Ông khéo tay, giỏi đan lát và lấy nghề đó để nuôi chị em Uyên khôn lớn. Cứ nghĩ đến cảnh ba tàn tật, vẫn vất vả nuôi mình từng bữa là Uyên lại thấy thắt lòng. Uyên luôn cố gắng thật nhiều để bù đắp cho ba mẹ và nuôi em ăn học.

Thế rồi duyên phận, khiến Tuấn dành tình cảm cho Uyên. Mặc cảm mình là cô gái nghèo khổ, Uyên không dám đáp lại tình cảm với anh. Nhưng sự kiên trì bền bỉ suốt 2 năm của Tuấn khiến cô động lòng. Ngày Tuấn đưa bạn gái về nhà ra mắt, ba mẹ anh kinh ngạc vì không nghĩ con mình lại yêu 1 cô gái như vậy.

Uyên cũng kể với ba mẹ về Tuấn, thay vì vui mừng ba cô lại thở dài:

– Ba không mơ mộng con lấy chồng giàu vì sợ người ta khinh thường nhà mình rồi làm khổ con. Điều ba mong ước chỉ là con tìm được 1 nửa yêu thương và khiến con hạnh phúc. Nhưng nếu đây là lựa chọn của con thì ba cũng ủng hộ, ba mẹ chỉ hối tiếc vì đã không cho con được 1 mái ấm đầy đủ, ba xin lỗi.

Câu nói của ông nghẹn lại khiến Uyên và cả nhà đều khóc:

– Không, với con ba mẹ là người tuyệt vời nhất. Nhờ ba mẹ con mới được ăn học đàng hoàng như thế này. Con tự hào về ba mẹ nhiều lắm.

Sau đó nửa năm, đám cưới của Uyên và Tuấn được tổ chức, mọi chi phí đều do nhà trai lo. Đám cưới được diễn ra tại một khách sạn sang trọng ở Sài Gòn, nhưng ba mẹ cô dâu xin phép không đến do ông bà xấu hổ, sợ con gái mất mặt vì mình. Nhưng suy đi tính lại cuối cùng ba Uyên vẫn đến nơi tổ chức lễ cưới , ngồi sau lưng do người cháu cõng, đứng bên kia đường nhìn sang, không hiểu sao nước mắt ông cứ lặng lẽ rơi.

Đúng khoảnh khắc ấy, một người họ hàng nhận ra ba Uyên vội thông báo lại với ba mẹ chú rể, hai ông bà liền âm thầm đi ra ngoài.Khi cô dâu chú rể bắt đầu tiến lên phía sân khấu, cả hội trường đang vui vẻ vỗ tay chúc mừng thì chợt im lặng! Họ thấy ba chú rể cõng một người đàn ông tàn tật cụt 2 chân tiến vào theo phía sau.

Đám đông bắt đầu xôn xao, bình luận về người đàn ông tật nguyền:

– Ba cô dâu đó, thật tội nghiệp!

– Ồ vậy à, nhà ông Danh này giàu nổi tiếng mà lại chấp nhận chuyện này sao, thật khó tin. Hay cô dâu có bầu rồi.

– Chắc vậy quá.

– Ba Uyên mặt đỏ tía tai vì quá xấu hổ. Ông nhìn Uyên, rồi nhìn con rể đầy ái ngại, còn Uyên òa khóc nức nở vì thấy ba đến chúc mừng mình.

Khi đặt ông thông gia xuống ghế rồi, ba Tuấn bất ngờ lên tiếng:

– Xin giới thiệu với mọi người có mặt tại đây, hôm nay, người đàn ông này là 1 nhân vật rất quan trọng. Ông ấy chính là ba của cô dâu.

Cả hội trường xì xào, ba Uyên ngại ngùng nhìn con gái lí nhí:

-Ba xin lỗi con, đáng lẽ ba không nên đến đây.

-Có gì đâu ba, con rất vui khi ba đã đến dự.

Ba Tuấn nói tiếp:

– Ông ấy bị tai nạn phải cưa đi đôi chân quý giá của mình, dù vậy anh sui của tôi đây đã cố gắng hết sức để nuôi Uyên – con dâu tôi – khôn lớn thành người.

Tôi nghĩ có khi chúng ta rơi vào hoàn cảnh éo le ấy sẽ không đủ ý chí để làm trụ cột của gia đình như người đàn ông này, vậy mà ông đã làm được 1 cách xuất sắc.Tôi và gia đình thực sự khâm phục nghị lực của anh ấy. Nhân lễ thành hôn của 2 con, tôi thay mặt con trai tôi cũng như đại gia đình xin cảm ơn anh sui vì đã sinh ra và nuôi dạy cho chúng tôi 1 cô con dâu tuyệt vời thế này. Tôi xin cảm ơn.

Cả hội trường vỗ tay, có người còn khóc, cả Uyên, Tuấn cùng ông bà sui gia đều khóc. Ba Uyên cũng khóc nghẹn không nói được câu gì, nhìn con gái hạnh phúc và được gia đình chồng nể trọng, người làm cha như ông vui sướng vô cùng. Thật may, vì ba mẹ Tuấn không phải là người trọng phú khinh bần dù gia đình họ rất giàu có.

Ghi lại

Trần Khắc Tường. 


 

Tổng thống Biden và Phó tổng thống Harris công bố thỏa thuận lịch sử về giá thuốc

Ba’o Dat Viet

August 15, 2024

Ngày 15/8, Tổng thống Mỹ Joe Biden cùng Phó tổng thống Kamala Harris đã công bố một thỏa thuận mang tính “lịch sử” nhằm giảm giá 10 loại thuốc quan trọng đối với người cao tuổi. Thỏa thuận này được đánh giá là một bước tiến quan trọng trong việc giảm bớt gánh nặng chi phí y tế, đặc biệt là đối với người cao tuổi tại Mỹ.

Theo thông cáo chung của ông Biden và bà Harris, thỏa thuận với các công ty dược phẩm sẽ giúp người cao tuổi tiết kiệm 1,5 tỷ USD và giảm chi phí cho chương trình bảo hiểm y tế liên bang lên đến 6 tỷ USD trong năm đầu tiên. Đây được coi là “chiến thắng kinh tế” quan trọng đối với bà Harris, người đang chuẩn bị đại diện cho đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2024.

Thông báo về thỏa thuận này được đưa ra trong bối cảnh ông Biden và bà Harris chuẩn bị tham gia vào chiến dịch vận động tranh cử chung đầu tiên kể từ khi ông Biden rút khỏi cuộc đua vào Nhà Trắng. Thỏa thuận tập trung vào việc giảm giá 10 loại thuốc chủ yếu dành cho người cao tuổi, bao gồm các loại thuốc điều trị tiểu đường, suy tim và cục máu đông.

Mặc dù sáng kiến này bắt nguồn từ Tổng thống Biden, ông đã quyết định chia sẻ công lao với Phó tổng thống Harris, nhằm củng cố vị thế của bà trong cuộc đua với ứng viên Donald Trump của đảng Cộng hòa. Bà Harris đã lấy việc hạ giá thuốc làm một trong những mục tiêu chính trong chiến dịch tranh cử của mình, với hy vọng thu hút sự ủng hộ từ cử tri đang lo ngại về chi phí sinh hoạt.

Người dân Mỹ hiện đang phải đối mặt với giá thuốc theo toa cao nhất thế giới, khiến nhiều người buộc phải chi trả một phần lớn từ tiền túi, dù chi phí bảo hiểm đã rất cao. Thỏa thuận này được kỳ vọng sẽ mang lại sự ổn định tài chính và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân.

Ông Biden và bà Harris dự kiến sẽ nhấn mạnh thỏa thuận này trong chiến dịch vận động tại bang Maryland vào ngày 15/8 (giờ địa phương). Tổng thống Biden đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của bà Harris trong việc đạt được cột mốc lịch sử này, cho rằng điều này chỉ có thể thực hiện được nhờ Đạo luật Giảm lạm phát hậu Covid-19, một đạo luật được thông qua sau khi bà Harris bỏ phiếu phá vỡ thế bế tắc tại Thượng viện.

Phát biểu về thỏa thuận, bà Harris khẳng định: “Tổng thống Biden và tôi sẽ không bao giờ ngừng đấu tranh vì sức khỏe, phúc lợi và sự ổn định tài chính của người dân Mỹ.”


 

Mối liên hệ giữa Giá – Lương – Tiền và tham nhũng-Nguyễn Đình Cống

Ba’o Tieng Dan

Nguyễn Đình Cống

15-8-2024

Giá – Lương – Tiền là ba từ được đề cập nhiều nhất vào thập niên 1980, nhất là năm 1985, thời Tố Hữu giữ chức phó thủ tướng, qua kế hoạch đổi tiền, dẫn đến lạm phát hơn 700% trong năm 1986 và nhiều năm sau đó.

Đất nước ta đã từng trải qua một thời mà giá hàng hóa, đặc biệt là thực phẩm tăng hàng ngày, có khi hàng giờ, nhưng lương thấp, không đủ ăn, nên chính phủ ra quyết định “bù giá vào lương”.

Tôi tạm gọi công chức là những người nhận lương từ ngân sách nhà nước, dù họ đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu.

Để biết Giá – Lương – Tiền biến động như thế nào, xin điểm qua một chút lịch sử tài chính của Việt Nam.

Từ năm 1945 đến năm 1951, gọi đồng tiền là TIỀN TÀI CHÍNH (đồng TC).

Năm 1951, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) phát hành đồng tiền mới, gọi là đồng ngân hàng (NH) và giữ tên gọi ấy cho đến ngày nay, trải qua một số lần đổi tiền. Gọi NH1 là đồng tiền NH đầu tiên từ năm 1951. Có sự đổi tiền lần đầu tiên. Một NH1 = 10 đồng TC

Năm 1953, phát hành đồng NH2 = 10 đồng NH1 (Đổi tiền lần hai).

Năm 1959, phát hành đồng NH3 = 1000 đồng NH2.  Lần đổi tiền này nhằm đánh vào những nhà giàu vì trước mắt chỉ cho đổi tối đa 2000 NH3.

Năm 1985, sau khi thống nhất đất nước, chính phủ CHXHCNVN phát hành đồng NH4 = 10 đồng NH3. Vụ đổi tiền chớp nhoáng năm 1985 cũng chỉ cho đổi ngay tối đa 2000 đồng NH4. Vụ này đã làm náo loạn thị trường.

Hãy thử tính xem từ năm 1959 đến nay đồng NH mất giá mấy lần.

Lấy bữa ăn làm chuẩn. Hồi năm 1959, chúng tôi ăn mỗi ngày hai bữa ở nhà ăn tập thể, phải trả 0,5 đồng NH3, (tiền ăn mỗi tháng 15 đồng), ăn sáng chỉ khoảng một hào.

Bây giờ, ăn hai bữa phải trả khoảng 50.000 NH4, bằng 500.000 NH3.

Tính ra tỷ lệ mất giá của đồng tiền NH3, bây giờ so với năm 1959 (sau 66 năm) là: 500 000 ÷ 0,5 = 1 triệu lần.

Vừa qua nhà nước tăng lương đồng loạt, người nhận lương hưu được tăng 15%. Mục tiêu của tăng lương là để cải thiện đời sống cho công chức, nhưng việc tăng lương như vậy xem ra chẳng cải thiện đời sống của họ được bao nhiêu, vì nhà nước đã không kiểm soát được giá cả thị trường, để cho một số mặt hàng thiết yếu như gạo, rau, thịt, cá… đều tăng giá.

Tăng lương mà không ổn định được giá cả thì tác dụng nâng cao đời sống rất ít, thậm chí không có. Truyền thông nhà nước nói rằng, kinh tế thị trường định hướng XHCN là có sự lãnh đạo của đảng Cộng sản và sự quản lý của nhà nước XHCN. Vậy, để cho tiểu thương tự do tăng giá thì thử hỏi lãnh đạo được ai, quản lý như thế nào?

Cho nên, nếu muốn nâng cao đời sống công chức thì phải làm cách khác. Làm như thế nào, đó là trách nhiệm của các nhà quản lý tài chính.

Trở lại chuyện Giá – Lương – Tiền, để đánh giá lương cao hoặc thấp, tôi đề nghị dùng tỷ số TS, trong đó TS = 12 L/G, với L là bình quân lương tháng của công chức và G là thu nhập quốc dân tính cho mỗi đầu người hàng năm.

Tôi không có số liệu thống kê của Việt Nam và các nước qua các thời kỳ, mà chỉ có nhận xét trên đại thể. Tôi chỉ nêu một gợi ý để bạn nào có điều kiện thì tiến hành nghiên cứu.

Ở Việt nam trước năm 1945 và ở Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975, tỷ số TS không dưới 3 vì một công chức có thể nuôi sống một gia đình trung bình với vợ và hai con, trong lúc tỷ số TS của Việt Nam trong giai đoạn 1945-1951 chỉ xấp xỉ 1 và có lúc còn tụt xuống dưới 1. Hồi ấy một gia đình nông dân có con làm công chức, thỉnh thoảng còn phải nhận trợ cấp thêm để con đủ sức làm việc cho nhà nước.

Trong xây dựng hòa bình, cả L và G đều tăng. Có lúc ngay sau khi tăng lương thì tỷ số TS có thế đạt đến trên 2 nhưng trong quá trình dài, G tăng nhanh, còn L tăng chậm hơn, nên cùng với việc tăng lương thì tỷ số TS giảm.

Vì sao lương công chức Việt Nam thấp? Để trả lời câu hỏi này, phải lui về năm 1945, ngay sau Cách Mạng Tháng Tám mới thành công.

Để tuyên truyền, một trong những lời lên án thực dân Pháp là sưu cao thuế nặng, nên chính quyền cách mang sẽ giảm thuế cho dân. Trong lúc ngân khố trống rỗng, lại phải kiếm nhiều vàng đút lót cho quân Tưởng Giới Thạch để chúng nhường quyền giải giáp quân Nhật cho Pháp (Việc này hay dở ra sao, có dịp sẽ bàn sau), thì lấy tiền đâu để trả lương cao? Chính phủ mới buộc phải dùng biện pháp động viên tinh thần dân chúng, chịu đựng gian khổ để phục vụ lý tưởng tươi đẹp.

Ở Singapore, ngay từ ngày đầu lập quốc, Lý Quang Diệu đã chủ trương trả lương cao cho công chức. Có như thế mới yêu cầu họ giữ được liêm chính và làm việc với năng suất và chất lượng cao.

Ban đầu lương công chức Việt Nam thấp, nguyên nhân là vì nhà nước lúc đó quá nghèo, lại lo dồn sức cho kháng chiến, nhưng cơ bản là do nhầm lẫn trong chủ trương, đường lối. Nhầm thứ nhất là chủ trương mị dân, cho rằng công chức là phải phục vụ nhân dân, càng chịu đựng gian khổ thì càng vẻ vang. Thứ nữa là Chủ tich nước gương mẫu nhận lương tương đối thấp, thế thì cấp dười, từ thủ tướng trở xuống không thể nhận lương cao.

Để bù đắp cho Chủ tịch, Thủ tướng, Bộ trưởng và nhiều công chức cấp cao khác, Nhà nước tổ chức ra hệ thống phân phối theo bao cấp, mà quyền lợi này nhiều khi vượt rất xa tiền lương chính thức. Đó là chưa kể những thu nhập hợp lệ khác. Còn những người lợi dụng quyền lực để tham nhũng thì có điều kiện kiếm tiền nhiều không kể xiết.

Ở chỗ tôi, một ông phó hiệu trưởng trường đại học được hóa giá đất ở, ông ta bán đi, thu lời hơn 20 tỷ, bằng hơn bốn lần tiền lương cả đời. Với công chức cấp cao hơn thì họ nhận được lợi lộc gấp nhiều lần hơn nữa, trong lúc nhiều giáo sư nhận được lội lộc không đáng kể. Như thế phải chăng là không công bằng?

Lương thấp làm cho nhiều công chức làm việc với năng suất kém. Để làm hết việc phải tăng biên chế, làm phình to tổ chức. Từ những năm kháng chiến chống Pháp, Chính phủ đã nhiều lần kêu gọi giảm biên chế, nhưng rồi nếu có giảm được chỗ này lại làm phình chỗ khác. Nguyên nhân chính của việc này là một số sơ hở trong điều lệ tổ chức mà thủ trưởng cơ quan có thể dễ giàng lợi dụng. Đó là tổ chức có càng nhiều người thì quyền và lợi của thủ trưởng càng cao. Vì thế những thủ trưởng kém năng lực thường tìm đủ trăm phương ngàn kế để tăng biên chế.

Lương thấp còn góp phần làm suy đồi đạo đức của công chức. Chuyện xảy ra như sau: Giả sử A là công chức chịu trách nhiệm dịch vụ công và B là người cần dịch vụ ấy. Để được A làm nhanh, B nghĩ ra cách bôi trơn bằng một chút quà vui vẻ. Nhưng rồi chút quà ấy biến thành hạt giống để tạo nên nhiều rừng cây tham nhũng.

Một giọt dầu bôi trơn phát triển thành suối dầu bất tận. Đến lúc này, thay cho việc làm dịch vụ thì A chỉ lo nghĩ ra những cách để làm khó B, buộc B phải ‘nôn ra’ những thứ mà A cần. Nạn tham nhũng tràn lan bắt đầu. A nguyên là một công chức bình thường, đã biến thành kẻ tội đồ lúc nào không biết.

Nạn tham nhũng ở Việt Nam hiện nay đã thành bệnh dịch lây lan kinh khủng mà chưa có thuốc chữa trị. Việc “đốt lò” chỉ trừng phạt được một số tên mà không có cách gì phòng chống.

Tìm hiểu việc phòng chống tham nhũng trên thế giới, tôi thấy cách làm của các nước phương Tây có hiệu quả, qua sự kiểm soát và cân bằng quyền lực, cộng với sự tự do báo chí, bảo đảm mọi thứ minh bạch, giúp phát hiện tham nhũng, hối lộ một cách dễ dàng.

Ngoài ra, tôi cũng tham khảo được cách làm của hoàng đế Ung Chính đời nhà Thanh bên Tàu. Sau đời Khang Hy, chính quyền nhà Thanh đầy rẫy tham nhũng ở mọi cấp, Ung Chính đã nghiên cứu, tìm được đúng nguyên nhân cơ bản và đã có biện pháp liên hoàn, đồng bộ để diệt trừ.

Ở Việt Nam hiện nay tuy cũng có nghiên cứu, tìm nguyên nhân cơ bản của tham nhũng, nhưng theo tôi, những người chịu trách nhiệm chính vẫn tìm chưa đúng hoặc chưa muốn diệt trừ tham nhũng.

Muốn tìm đúng nguyên nhân cơ bản của nạn tham nhũng cần mở rộng tự do ngôn luận và đối thoại với những người phản biện. Chính dân chúng là những người nhìn thấy rõ nạn tham nhũng, hối lộ diễn ra hàng ngày, ở đâu… Nếu họ có được nơi để cung cấp thông tin, chứng cứ, giúp chính quyền dẹp nạn tham nhũng, tôi tin rằng tham nhũng sẽ sớm bị diệt trừ. Nhưng tiếc rằng lãnh đạo nhà nước đang cấm người dân làm việc ấy.


 

Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời, Lễ trọng- Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời, Lễ trọng. Ước mong một ngày nào đó Bạn sẽ đạt tới nơi mà Đức Mẹ đã tới.

Cha Vương

Thứ 5: 15/08/2024

TIN MỪNG: Ðền thờ Thiên Chúa trên trời đã mở ra. Và một điềm lạ vĩ đại xuất hiện trên trời: một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao: Bà đang mang thai, kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con…(Khải Huyền 11, 19a; 12, 1-6a, 10ab)

SUY NIỆM: Ngày 1 tháng 11 năm 1950, qua Hiến chế Munificentissimus Deus Đức Giáo hoàng đã công bố chân lý đức tin sau đây: “Đức Maria vô nhiễm trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa, sau cuộc sống trần gian, đã được cất nhấc cả hồn và xác về vinh quang trên trời”. Chân lý đức tin này cũng được nhắc lại trong Sách Giáo Lý Công Giáo số 966: “Sau cùng, được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết tội nguyên tổ, và sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để nên giống Con Mẹ trọn vẹn hơn, là Chúa các Chúa (x. Kh 19,16), Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” (x. LG 59).

Được lên trời cả hồn và xác, Đức Ma-ri-a tham dự cách độc đáo vào cuộc Phục Sinh của Đức Ki-tô và thể hiện trước sự Phục Sinh của các Ki-tô hữu khác: Lạy Thánh Mẫu Thiên Chúa, khi sinh con, Mẹ vẫn khiết trinh; khi yên nghỉ, Mẹ vẫn không lìa bỏ thế gian. Mẹ đã cưu mang Thiên Chúa hằng sống và giờ đây trở về với Thiên Chúa nguồn sống, xin cầu cho linh hồn chúng con được thoát tay tử thần

( Phụng vụ By-dan-tin, điệp ca lễ Đức Mẹ an nghỉ ngày 15 tháng 08)

Biến cố này biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người và bảo đảm cho sự thánh thiện riêng của Bạn. Nếu đấng quyền năng đã làm cho Mẹ những điều vĩ đại thì Ngài cũng sẽ làm những điều vĩ đại tương tự như thế cho Bạn.

Vậy Bạn hãy áp dụng liệu pháp “3 T” (Thánh-Thiện, Thành-Tâm, Tin-Tưởng) vào thực tiễn để sống Thánh-Thiện,Thành-Tâm, và Tin-Tưởng hơn mỗi ngày nhé!

LẮNG NGHE: Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa. (Luca 1:50)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, nhờ lời cầu thay của Ðức Ma-ri-a hồn xác về trời, xin cho lòng con bừng cháy lửa mến yêu và luôn luôn hướng về Chúa.

THỰC HÀNH: Làm một quyết định cho chính bản thân bạn: ngày hôm nay tôi sẽ…

  1. Sống Thánh-Thiện hơn ngày hôm qua
  2. Sống Thành-Tâm hơn ngày hôm qua
  3. Sống Tin-Tưởng hơn ngày hôm qua 

From: Do Dzung

****************************

Mẹ về trời – Mai Thiên Vân 

Câu chuyện “ LOVEBANK ”-Truyen ngan HAY

Một tối, sau giờ dạy kèm, Nhân tranh thủ nói chuyện với Nam, anh từ tốn bảo:

–  Anh muốn kể em nghe câu chuyện nhỏ, có tựa là Lovebank.

–  Vâng, anh kể đi!

–  Chuyện rằng,

“Một chàng trai làng mười tám, học giỏi, có khiếu văn chương, thi đậu trường đại học danh giá nhất kinh đô như anh ta từng mơ ước. Gia đình nghèo, không đủ chi phí cho bốn năm học, anh quyết định học ở trường nhỏ trong tỉnh.

Bất ngờ, cái trường anh mơ ước kia gửi anh lá thư ngắn với nội dung: có một doanh nghiệp, căn cứ vào điểm thi hạng ưu, quyết định tài trợ toàn bộ chi phí học tập và ăn ở cho anh đến khi tốt nghiệp.

Vậy là anh ấy khăn gói lên đường, nhập học.

Một hôm, tò mò, anh ta lên phòng kế toán tài vụ nhà trường tìm hiểu xem doanh nghiệp nào tài trợ cho mình. Câu trả lời, rằng, nhà trường nhận thanh toán hàng tháng bằng chuyển khoản, do Lovebank gửi đến.

Anh lại trực tiếp đến ngân hàng ấy, song, người quản lý bảo, đây là thông tin riêng tư, doanh nghiệp yêu cầu giữ bí mật, không tiết lộ cho bất kỳ ai.

Anh ra về. Rười rượi.

Lễ phát bằng tốt nghiệp, anh mừng, bởi, với hạng ưu, anh không phụ lòng nhà tài trợ.

Điều anh nóng lòng nhất là muốn biết thông tin về doanh nghiệp hào phóng kia. Anh đảo mắt tìm mãi cho đến khi nhận ra mình là người cuối cùng rời buổi lễ vẫn chưa thấy một ai đến chúc mừng anh trong vai nhà tài trợ.

Ba tháng sau khi tốt nghiệp, dù rất ư thiếu thốn, anh vẫn đợi, vẫn chưa xin việc, là anh chờ doanh nghiệp ấy liên lạc, anh muốn cống hiến cho họ, anh muốn trả ơn.

Đến khi không chờ được nữa, anh tự tìm việc làm. Giỏi giang, chăm chỉ, cuộc sống ngày càng khá hơn. Anh tiếp tục vừa làm vừa học thêm. Không lâu sau, anh lấy bằng tiến sĩ, công việc và thu nhập càng trở nên thuận lợi.

Hơn ba mươi, giàu có, anh lập gia đình, sinh con cái, nhà cao cửa rộng, ở kinh đô. Thỉnh thoảng, anh đưa vợ con về làng thăm bố mẹ, thăm hàng xóm láng giềng.

Anh tích cực giúp những gia đình nghèo và lập quỹ khuyến học ở quê nhà. Làng anh, lượng sinh viên ngày càng nhiều hơn, anh vui, vậy mà cái doanh nghiệp quái quỉ bí ẩn kia vẫn không ngừng ám ảnh anh.

Thoảng đã sáu mươi, anh về hưu. Bố mất từ lâu, mẹ hơn tám mươi. Anh thường về quê hơn, vừa chăm sóc mẹ già vừa tránh cái không khí ồn ào ô nhiễm thị thành, tâm hồn anh lặng lẽ và cân bằng hơn. Mỗi lần về, anh đều đi thăm bạn bè, bà con, được mọi người yêu mến bởi anh góp công lớn trong việc đưa tri thức vào lớp trẻ, nhờ đó, nhà cửa trong làng ngày thêm khang trang, gần ngang hàng những gì gọi là dân trí.

Một chị hàng xóm ở quê, lớn hơn anh hai tuổi, cách nhà bố mẹ anh chừng 100m, khi anh bước vào đại học chị đã là giáo viên tiểu học, chị là bạn anh từ nhỏ, một người tốt.

Nhiều chàng trai tán tỉnh, thậm chí có người nhờ mai mối đến dạm hỏi, song chị đều từ chối.

Giờ chị đã nghỉ hưu, vẫn chưa chồng, hay đau ốm, mỗi lần về, anh đều đến thăm và tặng quà, chị ấy rất vui. Họ kể nhau nghe về thời thơ ấu, về những kỷ niệm.

Năm anh bảy mươi, nhận tin báo chị ấy qua đời, anh tức tốc về làng dự đám tang.

Chị nằm đó, anh bước vào thắp nhang, đến gần quan tài, nhìn mặt chị lần cuối, dường như chị đang cười với anh, nụ cười bình an và mãn nguyện.

Lễ xong, anh ra bàn khách, ngồi nhìn vào, ngay cạnh quan tài, một vòng hoa, ghi, ‘Lovebank kính viếng!’

Dòng chữ Lovebank làm anh giật mình, hỏi người nhà chị về vòng hoa, họ nói, trước khi mất vài ngày, chị trối hai điều, một là đặt làm sẵn vòng hoa với dòng chữ ấy và để nó cạnh quan tài, hai là trao lại chiếc hộp nhỏ này cùng với chìa khóa hộp cho người nào hỏi kỹ về vòng hoa Lovebank, nếu chẳng ai hỏi hãy cho tất vào huyệt mộ theo chị. Gia đình chúng tôi cũng không ai biết tại sao chị đặt làm vòng hoa ấy. Giờ, thật sự, chúng tôi rất bất ngờ vì người hỏi Lovebank lại là anh.

Mở hộp, là những lá thư, xếp thứ tự, ngay ngắn, có thư đã ố vàng. Anh đọc. Chẳng biết cuối mỗi lá thư có câu ‘Em yêu anh’ hay không mà ai cũng thấy dường như anh khóc, cũng có thể anh khóc vì đến giờ mới biết trong lễ tốt nghiệp đại học anh không trơ trọi, bởi chị đã âm thầm đến chúc mừng, giấu mình ở một góc khuất, không ai nhận ra, kể cả anh.

Riêng chị, tận hưởng hạnh phúc ngập tràn, rồi một mình lẳng lặng rời buổi lễ.

Anh nhớ lại, từ lúc mười sáu, anh thầm yêu chị song không dám nói. Chị quá hiền thục, đoan trang, xinh đẹp, lại là tiểu thư con nhà giàu trong làng.

Hơn năm mươi năm tìm kiếm, giờ anh mới biết, người tài trợ thường ở rất gần, thậm chí ở ngay trong trái tim mình.

Chị mang tình yêu đơn phương lên trời. Anh nghẹn lời, thì thào, chờ ta với, Quỳnh ơi, đi đâu xa thế, dấu yêu!

Khói sương gánh một gánh Quỳnh

em đi đâu phải một mình về không

nhà uyên ở cạnh mênh mông

bên kia mây trắng em trồng mây xanh

chờ hoài chưa thấy điểm danh

xin thôi dự bị khung thành thượng lưu

Em vườn trời áo mỏng vô ưu

ta ngồi ngắm lại những trừu tượng bay

tay Cựu Ước tay hồng đào

thấp cao đừng chen lấn

kẻo bẩn cả chỗ không.”

Kể xong, Nhân ngập ngừng giây lát, bảo, “Chuyện chỉ thế, em nói gì đi!”

…

Trích từ tác phẩm: SAU CÙNG LÀ MẸ LỚN HƠN

Tác giả: Lê Tuân

(Sắp xuất bản )

( Lượm trên FB.TN)

From: Tu-Phung

LÁ THƯ CUỐI CÙNG- Du Tử – Truyen ngan

 Du Tử

– Truyen ngan

(Kính tặng đến những bậc Cha Mẹ bất hạnh)

Tôi đến Mỹ như đã nói là rất muộn màng so với nhiều đồng đội, và những người bạn thân tình thủa nào cũng đã tản lạc mỗi đứa một nơi, và ở đây , trong vòng 50 dặm vuông hay vài trăm dặm dài, tôi cô đơn không bè bạn. Mỗi ngày, ngoài việc nhổ cỏ vườn sau, nhặt lá vườn trước, đưa đón bốn cô cháu đi học, tôi chỉ còn biết đi bộ, nhìn đồi núi nối tiếp nhau trên thành phố này để mơ mộng về núi rừng quê tôi, nơi mà hàng chục năm tôi và đồng đội chung sống, có khi gian nan, mà cũng có lúc thật thơ mộng. Và rồi trong một trường hợp ngẩu nhiên, tôi đã gặp được bác Thụy, một người Việt Nam cô độc, cũng lạc lỏng đến nơi này như tôi.

Cũng là một thói quen như nơi tôi đã từng sống, hễ gặp được người nào mà tôi đoán là dân nước tôi, thì tôi không ngại ngùng đến làm quen, và câu hỏi đầu tiên của tôi thường là ” Ông nói được tiếng Việt nam không? ” Nếu người đó trả lời họ là người Việt thì tôi nhất định rất vui mà hỏi chuyện. Tôi quen bác Thụy cũng trong trường hợp tương tự. Từ lần gặp đó, tôi hay tìm tới bác vào mỗi cuối tuần hoặc là những khi bác gọi tôi đến , và lúc nào bác cũng mở đầu bằng câu ”chúng nó đi cả rồi “, ý của bác là các con đã đi làm hết .

Tình thân của chúng tôi từ đó ngày càng thân thiết hơn, bác kể cho tôi 12 năm trong quân đội, phục vụ cho một đơn vị Quân báo, hoạt động trên lảnh thổ Quân Đoàn I, bị thương nhiều lần, nhưng lần nào cũng may mắn qua khỏi. Bác đến Mỹ không thuộc diện HO, vì thời gian bác được thả, Phòng công tác nước ngoài thuộc công an Thành phố Hồ Chí Minh ở 161 Nguyễn Du, Quận I, còn đóng cửa, nên bác vượt biên, bị bắt cho đến khi chương trình HO được thực hiện, bác vẫn còn ở trong tù, do vậy bác đến Mỹ theo chương trình Đoàn Tụ, con gái bảo lảnh hai vợ chồng nên không được hưởng một trợ cấp nào của Chính phủ Mỹ như diện HO, tất cả đều do thân nhân bao bọc.

Thời gian ở lại Việt Nam, bác đi dạy học, cũng như trước khi động viên bác là một Giáo sư dạy Vật Lý tên tuổi tại Sài Gòn, lương giáo viên tuy không khá, nhưng cũng đủ cho hai vợ chồng bác sống tạm qua ngày, nhất là bác được các trung tâm chuyên Lý mời cộng tác, nên dạy cả sáng, chiều và tối , Vã lại mỗi năm, các con bác gởi cho một vài trăm đô la vào dịp Tết, hai vợ chồng lại dành dụm mua một chỉ hay 5 phân vàng hầu dùng cho việc ma chay sau này, cho đến năm 2003, con gái bác viết thư báo tin cho biết là đã làm hồ sơ bảo lảnh cho ba má , bác cũng chẳng hy vọng gì, vì thời gian đợi chờ dường như đã quá mòn mỏi, vã chăng tuổi đã cao, đi đâu cũng chỉ kiếm hai bữa cơm mà thôi, nên gần như vợ chồng bác không nghĩ tới chuyện ra đi, cho đến năm 2006, bác được gọi bổ túc hồ sơ, rồi cuối năm đó, bác được phỏng vấn, theo bác kể thì có lẽ vì lợi tức của con gái bác cao, nên họ cho đi nhanh và rồi đầu tháng 4 năm 2007 bác được sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình, nhưng tính cho đến nay, bác vẫn chưa hội đủ điều kiện thi nhập Quốc tịch Hoa Kỳ .

***

Thời gian đầu sống với con cái vui vẻ lắm, vì còn mới, tình cảm còn mới, mọi thứ còn mới và còn mới là còn vui vẻ, rồi từ từ bác được một người quen giới thiệu đi làm assembler cho một hảng điện tử, lương $10/ giờ, hai vợ chồng già thật là hạnh phúc, cứ cuối tuần là hai ông bà rủ nhau đi WaltMart hay Target mua áo quần và đồ chơi cho các cháu, nhưng rồi kinh tế ngày càng suy thoái, sau gần hai năm làm assembler, bác mất việc làm, không có cách nào xin được việc khác, vã chăng, những người trẻ còn chưa xin ra việc làm thì ông già 63 tuổi như bác dễ gì tìm được việc, nên bác đành xin tiền thất nghiệp, và được hưởng thất nghiệp hai năm, khoảng thời gian này bác cho biết rất là buồn, suốt ngày vợ chồng cứ mong cho hai đứa cháu đi học về để chơi với cháu cho đỡ buồn, rồi thì cứ vườn sau sân trước, vợ chồng thi nhau nhặt cỏ, tưới cây, hay lên đồi lượm những viên đá hình dáng đẹp đem về lót quanh mấy bụi hồng cho hết thời gian. Bác cũng năng nổ đi tham gia sinh hoạt các hội đoàn, như hội người già, Hội SQ/TBTD, nhưng rồi tiền trợ cấp thất nghiệp hết, và khó khăn đến với bác bây giờ là tiền đổ xăng, bác không biết xin ai hai chục bạc để mua xăng, bác nói, một đôi khi bổng dưng nghe thèm một tô phở, nhưng cũng không cách nào có được, “Ông ạ, có đêm tôi không ngủ được chỉ vì nghĩ tới mùi ngò gai và rau quế bỏ vào tô phở mà chảy nước miếng hoài không ngủ nổi, thèm như là thèm được ăn đường lúc ở trong trại tù.”

Tình cảm con người hình như rất mỏng manh, không phải bền chắc, và rất dễ gãy đổ, từ tình vợ chồng, cha con hay anh em, và nghèo đói là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với tình cảm. Cổ nhân cũng đã từng nói “phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc“, cái gì người ta bảo “tiền tài như phấn thổ, nghĩa trọng như thiên kim” có chăng, chỉ là trong đạo đức kinh hay sách vở của Thánh hiền mà thôi. *Không có tiền, nguyên lý nào cũng bị bỏ quên, đạo đức nào cũng dư thừa, và tình cảm nào cũng mai một.

* Đặc biệt là ở một xã hội mà mọi nền tảng đều lấy lợi nhuận làm chuẩn.

*Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục và hy sinh. Con cái ở chung với cha mẹ là tự nhiên, nhưng cha mẹ ở chung với con cái lại ưu phiền, vì lúc nào cũng phải nhìn mặt mủi con cái, phải xem chừng nó vui buồn bất chợt ra sao.

* Muốn mở cái TV cũng phải lựa lúc nó vui vẻ, muốn mở cái CD nghe nhạc cũng tùy thời cơ nó buồn hay giận, lại còn phải coi sóc con cái cho chúng, nhỏ thì cho đi tiêu đi tiểu, rửa đít, cho ăn, tắm giặt. Lớn thì đưa đón tới trường, có khi còn bị chưởi mắng, đành chỉ biết cúi mặt dấu nước mắt đi. Họa hiếm lắm, chúng cho vài ba trăm bạc vào dịp lễ nào đó thì lại coi như phúc ấm chúng ban cho . Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, *cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục*, chính là chổ này. Một buổi sáng bác gọi tôi tới nhà, chỉ cho tôi một tờ giấy con gái bác viết để lại trên bàn cho bác, tôi cầm lên đọc : “Theo luật bên nầy, chủ nhà có quyền gọi cảnh sát đến bắt buộc người thuê phải ra đi, nếu người chủ đã thông báo cho người thuê hai lần bằng thư. Ba không trả tiền nhà, nhưng con cũng coi ba như người thuê nhà, đây là lần thứ hai con yêu cầu ba dọn ra, ba đừng ép con phải gọi cảnh sát”.

Tôi đọc đến đây, bổng nhiên nước mắt tôi trào ra, bác nhìn tôi và nấc lên thành tiếng, bác cũng bật khóc. Tôi ôm hai vai bác và nói “Hãy yên tâm, không có luật như vậy đâu, nếu cô ấy gọi cảnh sát, bác có thể nói cô ấy ngược đãi người già, con bác chỉ hù bác thôi”. Và rồi bác bắt đầu kể cho tôi nghe hết tự sự.

Thoạt đầu là gạo, chúng nó than phiền, “nhà người ta một năm chỉ tốn hai bao gạo thôi, sao nhà mình mỗi tháng một bao”, Tôi mở cassette ngồi ngoài garage nghe nhạc, ngoài garage thì nóng, tôi mở cửa bên hong ra cho bớt nóng, nó đóng lại, và bảo mở cửa chuột chạy vào nhà. Tôi hiểu ý là nó sợ tốn điện, tôi tắt cassette vào nhà.

Ông cũng biết, ở bên này, người già chỉ lấy cái TV làm bạn, nhưng nó mắng vào mặt tôi và bảo không biết xài thì đừng xài, TV cứ mở hoài chịu sao nổi, thế nào cũng có ngày TV bị cháy.

Mỗi ngày, chúng nó đi làm về trễ, có khi 7:30 hay 8:00 tối mới về đến nhà , và tôi đều cố gắng ăn trước để không chạm mặt chúng nó trong bữa ăn, ăn trước thì thú thật chỉ ăn sơ sài cho no bụng thôi, thức ăn của chúng tôi không dám đụng vào, vợ tôi thì chờ cho chúng ăn hết đã, cái gì còn lại bà ấy mới ăn, chúng tôi chỉ dám ăn những thức ăn thừa thải mà thôi. Công việc lặt vặt trong nhà như lau dọn, rửa chén bát, đưa đón các cháu, chúng tôi đều làm hết, nhưng nó bảo với tôi là tội nghiệp thằng chồng nó phải còng lưng gánh hai ông bà già. Những ngày nghỉ, hay cuối tuần, vợ chồng con cái chúng đi ăn tiệm, những năm đầu khi cháu út chưa thể gởi đến trường, thì chúng còn gọi vợ tôi đi ăn với chúng, những ngày lễ Tết cũng tặng quà cho vợ tôi, nhưng từ khi cháu út lớn rồi, chúng cũng lơ là với vợ tôi luôn, cho đến sau này, chúng lạnh lùng đến như bỏ mặc, vợ tôi buồn quá đành đi tìm chổ giữ trẻ ở một tiểu bang khác, nên ông tới nhà không thấy vợ tôi là vậy.

Bác lấy dưới gối ra một lá thư khác đưa cho tôi, bác bảo lá thư không có một chút tình người, thú thật tôi không dám đọc hết, nhưng trong trí tôi như vẫn in sâu những dòng này “ba người ta chết thì con cái khóc lóc tiếc thương, nhưng nếu ba chết con sẽ thở ra một cách nhẹ nhỏm. Con thật không muốn bảo lảnh ba sang Mỹ đâu, chỉ vì bắt buộc mà thôi, Ba hãy dọn ra đi để còn một chút gì gọi là tự trọng”. Tôi cũng tự hỏi mình, bác đi đâu bây giờ? Một đồng bạc cũng không có, bà con, bạn bè cũng không luôn, bác dọn đi đâu? trong khi bác lại chưa phải là công dân Hoa Kỳ, làm cách nào để có thể xin trợ cấp, tôi đành an ủi bác, thôi bác cứ yên tâm, điều quan trọng bây giờ là hãy nhịn, nhẫn nhục đó mà, cứ coi như ngày nào bác bị bắt tại mặt trận, Việt cộng hành hạ bác kiểu gì, nhục mạ bác ra sao, bác cũng ngậm bồ hòn, thì nay, với con gái, bác ngậm lại bồ hòn một lần nữa đi rồi từ từ hãy tính. Một ông già tóc đã bạc hết rồi, nước da đã ngã màu đồi mồi, tay chân đã lọng cọng, dễ gì xin được một việc làm trên một đất nước đầy dẫy nhân lực và cạnh tranh.

Tôi biết có rất nhiều cơ quan, tổ chức thiện nguyện, sẵn lòng tiếp những người khó khăn, nhưng với hoàn cảnh của bác, thật không có tổ chức nào có thể giúp đỡ, vì có tổ chức nào có nhà cửa, cơm áo, để cung cấp cho bác trong lúc này, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái, ngân sách các cơ quan, giáo dục, y tế hay xã hội … đều bị cắt giảm. Và tôi chỉ còn một con đường để đi, đó là dẫn bác tới Sở Xã hội, để xin cấp thẻ EBT (Electronic Benifits Transfer), tức là mỗi tháng, Sở Xã Hội bỏ vào trong thẻ EBT $200 USD cho bác mua thực phẩm, gạo rau cá thịt, nước uống, trái cây…

Nhận được thẻ EBT bác liền hỏi nhân viên Xã Hội là có thể mua ngay thức ăn được không? và thực phẩm là những thứ gì? Người Cán Sự Xã Hội nhìn tôi, tôi dịch lại lời bác và nói thêm rằng, bác không có gì ăn từ hôm qua cho đến nay. Người Broker xin phép đi ra một lúc, rồi quay trở lại đem theo phần ăn trưa của cô để tặng bác. Quả thật tôi cũng xúc động rơm rớm nước mắt khi nói câu đó với người broker. Đúng là một miếng khi đói, bằng một gói khi no, bác cúi đầu cám ơn người Cán Sự Xã Hôi mà như muốn khóc. Tôi đem bác đi mua thực phẩm để hướng dẫn bác cách dùng thẻ EBT. Lần mua thử nghiệm đầu tiên của bác là 2 ổ bánh mì và 2 hộp cá Sardines rồi bác và tôi ra Parking chui vào xe ngồi ăn bánh mì cá hộp. Tôi thật không hiểu rõ những tư tưởng nào đã đến với bác, nhưng mà nỗi xúc động của bác thì tôi biết là rất mãnh liệt, vì nước mắt bác đã chảy đến nỗi dùng hết một hộp khăn giấy của tôi để trong xe, tôi ngồi yên để bác khóc và suy nghĩ về mình, không hiểu có một lúc nào đó tôi lại như bác hôm nay.

Trên đất nước tạm dung này, những người già đã trở thành gánh nặng cho con cái, những người già đã bị lãng quên hay bị xua đuổi của gia đình, mà xã hội dù có nhân đạo tới đâu cũng khó kham nỗi với số người cao niên ngày càng nhiều.

Một lần tôi đưa bác đi tái khám bệnh phổi, tôi ngồi chờ bác ở phòng đợi thật lâu, và khi bác trở ra cùng với một vị bác sĩ người Việt còn trẻ, vị bác sĩ này lấy ví ra 3 tờ bạc 20 đồng và nói “cháu chỉ còn bao nhiêu tiền mặt, nhưng cháu có một căn phòng trống trong Building này, có Microwave, khi nào bác cần thì gọi cho cháu, bác hãy nhớ là bác còn chúng cháu ở đây. Ông quay sang nhìn tôi và dặn chú làm ơn để ý tới bác này với, người già nào cũng có một nỗi khổ khi sang đây.”

Suốt quãng đường về tôi cứ mãi suy nghĩ về người bác sĩ đầy lòng nhân ái ấy. Y thuật và y đạo, điều nào được người ta coi trọng hơn trên đất nước này. Tôi hỏi bác Thụy về vị bác sĩ ấy, được biết ông ta tên là DR. Albert H. Lee, chuyên khoa về phổi, là bác sĩ đang làm việc tại hai bệnh viện lớn ở thành phố này, và rất được bệnh nhân quý trọng cả về chuyên môn lẫn đạo đức.

Bác Thụy cho biết, thường ngày bác dậy rất sớm vì không ngủ được, có đêm bác chỉ ngủ 3 tiếng đồng hồ, rồi cứ suy nghĩ lung tung về chuyện đời, chuyện gia đình, về thời gian đi tù cải tạo, thời gian đi dạy dưới chế độ cộng sản. Bác kể sau khi được thả ra tù, vì tốt nghiệp đại học trước 1975, nên bác không bị đuổi đi Kinh Tế Mới, mà được kêu đi dạy. Là một giáo sư dạy Lý Hóa nhiều năm, kinh nghiệm đặc biệt về phương pháp dạy Luyện thi, nên các Trung Tâm Luyện thi dạy ngoài giờ đều mời bác cộng tác, bác dạy cả sáng, chiều và tối, nhờ đó mà gia đình bác có được cuộc sống tương đối so với những anh em khác đi học tập về, và các con bác cũng từ đó mà học đến nơi đến chốn trước khi ra nước ngoài. Trước ngày sang Mỹ, bác bán đi căn nhà, thu gom tài sản lại, cũng đựoc vài ba chục ngàn đô la, đều đem cho con hết, bây giờ nếu quay về, không còn nhà để ở, và biết lấy gì làm kế sinh nhai, vì tuổi đã cao rồi, làm sao xin được việc làm, đó là chưa nói tới những phiền toái khác từ xã hội, thật là tiến thoái lưỡng nan, bác tâm sự.

Có một buổi trưa tôi tìm tới bác, chứng kiến bữa cơm trưa gọn gàng của bác mà mủi lòng, một tách uống cà phê đong đầy Oat Meal, đổ vào một tô lớn, rót nước nóng từ bình thủy ra, khuấy đều chừng 2 phút, chờ nguội và ăn, không cần nước mắm hay xì dầu, hoặc một loại gia vị nào khác.

Bác bảo từ khi có thẻ EBT, tôi không còn lo thiếu xì dầu nữa, nhưng nhịn được cái gì hay cái đó, với lại bác sĩ bảo ăn mặn cũng không tốt .

– Bác ăn như thế này mỗi ngày sao ?

– Vâng, chỉ vậy thôi, tôi đâu có cần gì thêm, chỉ cần một căn phòng nhỏ, đủ đặt một cái giường là được rồi, thế nhưng đời tôi quả là cùng khổ, mà thực ra tôi đâu có cầu sống lâu, sống thọ, sống không có gì vui, thì chết đâu có gì buồn, sỡ dĩ tôi vẫn đi bác sĩ là vì tôi sợ đau đớn, cũng như tôi không đủ can đảm để tự tử, còn chết ư, tôi nghĩ tới rất thanh thản, trên đời tôi không còn gì mê luyến thì chết đi tôi đâu có gì tiếc nuối, chỉ cầu sao cho được chết thật nhanh, không đau đớn, đó là nguyện vọng duy nhất còn lại của tôi.

Thường thường bác hay kể cho tôi về những bữa cơm dã chiến của bác, như bữa ăn của những người lính ngoài mặt trận. Bác mua một cái bếp gas nhỏ bỏ trong túi vải mang theo bên mình mỗi khi đi bộ, một bình thủy nước sôi, một tách cà phê Oat meal, một cái tô và muổng. Buổi trưa ngồi vào một góc nào đó trong Park, nơi người ta cho phép nướng BBQ, bác mở hộp cá ra, hâm nóng bằng bếp gas chừng 2 phút, rồi đổ nước sôi trong bình thủy vào tô và khuấy Oak meal lên ăn, bác chỉ về nhà vào xế chiều, làm thức ăn tối và nấu nước sôi đổ vào bình thủy, chuẩn bị thức ăn cho ngày hôm sau, và những việc này luôn luôn làm xong trước khi con gái bác về nhà, ăn chiều xong, bác lại chui vào căn phòng nhỏ dấu mình trong đó, để không phải gặp mặt con gái nghe nó nói nặng nói nhẹ và đuổi nhà.

Bác tâm sự rằng, đôi lúc muốn ôm mấy đứa cháu một chút, nhưng thật rất khó, vì chúng nó sợ má la, lâu lâu con cháu lớn lén vào phòng ông, đưa ngón tay lên môi làm dấu với ý bảo ông im lặng, ngồi chơi với ông một lúc rồi chạy ra. Có những khi chúng nó vào phòng ông, má nó biết được là la mắng chúng liền. Ông cháu gặp nhau như đi thăm tù cải tao, thật là một hoàn cảnh đặc biệt hiếm hoi.

Nghe bác kể lại, tôi đành tìm cách an ủi bác, kể cho bác nghe về những đứa cháu phá phách của tôi, mọi thứ trong phòng tôi mỗi ngày được xếp theo một kiểu, computer của tôi được load đầy các games “comp của ông ngoại dễ xài hơn, con thích games trong comp của ông ngoại hơn” thế là cái computer của tôi bận dài dài, chỉ trừ khi chúng đi học. Cho nên chơi với cháu chưa hẳn là hạnh phúc đâu bác ạ . Bác kể cho tôi những bữa cơm chấm xì dầu thật cảm động. Mới đầu bác hỏi tôi:

Bác kể lại vào những tháng bác chưa có thẻ EBT, bác ăn cơm với xì dầu hiệu đậu nành, nhưng không dám chan vào chén cơm, chỉ hai miếng cơm mới nhúng đầu đủa vào chén xì dầu một lần và mút lấy đầu đũa, vì nếu chan vào chén cơm hay mút nhiều lần thì sẽ hết mất, không có tiền mua nữa. Những ngày tháng ấy, anh Hồng, ngày xưa ở Biệt Động Quân, và một thời làm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Rừng Lá, trước ngày mất nước anh về Phủ Thủ Tướng, mỗi lần ghé thăm, anh thường mua xì dầu, rau muống, Broccoli cho tôi, tôi còn nhớ mãi, bây giờ anh move đi xa rồi, cách đây cũng vài ba tiếng lái xe nên anh không thường tới nữa, mà cũng tội nghiệp, anh ấy cũng chỉ sống với mấy trăm đồng tiền già mà thôi, nhưng khi nào tới cũng đưa tôi đi ăn phở, hay có khi anh mua sẵn 2 tô phở mang đến đây hai anh em cùng ăn. Nghĩ lại, chỉ có những người lính mới thương nhau và đùm bọc nhau trên đất nước tạm dung này.

Ông biết không, vào những ngày tháng đó, có khi tôi rất thèm bánh tráng có vừng đen, hay cơm trắng và xì dầu, mà phải là xì dầu đậu nành, đủ cho tôi ăn không sợ chết. Những đêm nằm không ngủ được, tôi lại ao ước có được một ổ bánh mì của chợ Vons để ăn, tôi thèm mùi thơm của bánh mì chưa kịp nguội, hoặc giã đã nguội đi, tôi lại thèm vị ngọt của bánh khi nhai còn thấm trên đầu lưỡi của mình, thèm đến chảy nước miếng.

Nghe bác kể, tôi thực sự không cầm được lòng mình, lại nghĩ tới thời gian đi tù cải tạo, tôi cũng đã từng thèm được ăn một bữa khoai mì cho thật no, và chỉ mơ ước ngày được thả về, tôi sẽ bảo vợ mua khoai mì cho tôi ăn một bữa cho đã thèm.

Khi thiếu thốn, con người sẽ thèm đủ thứ, cho nên nghe bác kể, tôi thực sự hiểu được cảnh ngộ ấy, và hiểu được sâu xa nỗi lòng của bác, chỉ có một điều mà không ai ngờ được, đó là sống trong một siêu cường bậc nhất, mà người dân chỉ thèm một ổ bánh mì thôi cũng không có để ăn, cái ước mơ nhỏ nhoi ấy đã ở dưới mức tầm thường rồi, vì kể cả những người vô gia cư trên thành phố này, cũng không ai có một ước mơ như bác Thụy. Có ai quanh đây đang lâm vào tình cảnh của bác hay không tôi không rõ, cũng có thể có người bị gia đình hắt hủi, con cái bỏ rơi và xua đuổi, nhưng đến một đồng xu dính túi cũng không có thì tôi không tin.

Rồi một ngày bác nhờ tôi chở đi xin việc, bác đọc được một mẫu rao vặt đăng tin cần một người đứng tuổi, có sức khỏe, để săn sóc một ông già 83 tuổi, bị bệnh mất trí, bao ăn ở, tiền lương sẽ thương lượng.

Tôi chở bác tới địa chỉ tìm gặp chủ nhà, cô chủ nhà tiếp chúng tôi và hỏi:

– Chú xin hay chú này xin?

– Tôi, bác nhanh nhẩu trả lời.

Chủ nhà dẫn chúng tôi đến phòng ông cụ, cô cho biết ông cụ đã quên hết mọi thứ, cần giúp ông cụ ăn uống, đi tiêu, đi tiểu, thay quần áo, và tắm cho ông cụ. Mọi sinh hoạt của ông cụ đều cần được giúp đỡ, nhất là về đêm, ông cụ hay thức dậy đi quanh quẩn trong nhà một mình, những lúc như thế cần có người bên cạnh, đề phòng khi ông cụ bị té. Nhiều khi ông cụ đi tiêu, đi tiểu trong quần mà không biết. Và cô hỏi:

– Chú có thể giúp ba tôi được không ? Hay chú làm thử vài ngay , vì có người nhận làm nhưng một hay hai ngày sau lại bỏ vì không chịu được tính tình của ông cụ.

– Không đâu, tôi làm được, tôi rất thích người già và trẻ con, cô cứ để tôi làm.

– Vâng, vậy chú có bằng lái xe không cho cháu xem thử?

Bác lấy bằng lái xe đưa cho cô chủ, cô ta xem xong rồi trả lại bác, cô nói, ba cháu nặng 65 ký Không hiểu chú có thể đỡ nổi không, chú làm thử một vài ngày đi, nếu không được, cháu vẫn tính lương cho chú.

Lương tháng là $800, bao ăn ở, mỗi tuần nghỉ một ngày, tốt nhất là thứ 7, cái giường phía trong là của ba cháu, chú nằm giường ngoài. Thức ăn hàng ngày cháu nấu sẵn để trong tủ lạnh hay trên bếp, chú muốn ăn thứ gì cứ ăn tự nhiên. Mỗi ngày ba cháu uống 12 loại thuốc, ăn cơm trưa, chiều, sáng. Ba cháu uống cà phê, khi chú pha cà phê, nên để nguội rồi mới đưa cho ba cháu, vì ba cháu thích khuấy cà phê bằng ngón tay rồi mút. Thuốc thì cháu sẽ viết tên, liều lượng, giờ uống để trên bàn, chú cho ba cháu uống đúng giờ là được rồi.

Sau khi chủ nhà và bác bàn bạc công việc xong, tôi chở bác ra về, hẹn thứ 2 tuần tới là bắt đầu đi làm. Thoạt đầu bác có vẻ rất vui vì tìm được công việc, nhưng một lúc sau, tôi thấy bác khóc, bác như bị hụt hơi cứ nấc lên từng tiếng, tôi lo sợ nên tìm cách đưa bác vào một shop bên đường, đậu xe lại và hỏi bác:

– Sao bác lại buồn?

– Con người ta thì thuê người săn sóc cho cha, còn tôi thì bị đuổi ra khỏi nhà đi chùi đít cho thiên hạ, ông nghĩ xem có tủi không?

Nói xong câu này bác lại khóc lên thành tiếng. Tôi ngồi im để bác khóc cho hết cơn xúc đông rồi mới bảo bác, mỗi người có một số phận, một đoạn trường, và một nỗi niềm phải gánh, không ai có thể có hạnh phúc hoàn toàn, chỉ có ông cụ 83 tuổi ấy mới thực sự hạnh phúc, vì ông đã quên hết mọi sự, đã không còn biết mọi sự.

Làm cha mẹ, được con cái yêu thương, gia đình hòa thuận dĩ nhiên là điều tốt, . Nỗi đau khổ bị con cái bỏ rơi hay xua đuổi chưa hẳn đã lớn hơn nỗi đau đớn khi phải nhìn thấy con mình dửng dưng với cha mẹ , Không hiểu bác có nghĩ như tôi không?

Bây giờ ở là mùa Hè, rải rác đó đây, trên những đồi hoang quanh nhà tôi đã trổ lên vài chùm hoa dại, màu vàng như hoa Cúc, càng làm tôi nhớ đến quê hương mình, như ngày Thu trên rừng núi cao nguyên, những khóm Quỳ hoang cũng nở vàng như vậy trên những triền đồi, và càng nhớ đến người sĩ quan thám báo bây giờ không phải đang nhật tu trận liệt, hay chăm sóc một đồng đội kém may mắn, mà là đang chăm sóc một cụ già mất trí…

Du Tử                       

From: NguyenNThu

 Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời – Linh mục Giuse Nguyễn Trung Thành

Linh mục Giuse Nguyễn Trung Thành

Tín điều về ‘Ðức Trinh Nữ Maria linh hồn và xác lên trời’ do Ðức Thánh cha Pio XII đã long trọng công bố ngày 01 tháng 11 năm 1950, với Sắc lệnh “Thiên Chúa vô cùng vinh hiển” (Munificentissimus Deus). Ngài nói: “Để danh Chúa được cả sáng và thành kính tôn vinh Đức Mẹ đầy ơn phúc, ta dùng quyền Thiên Chúa ban, quyền hai vị Tông đồ Phêrô và Phaolô, quyền riêng trong chức vụ Giáo hoàng mà công bố phán quyết: Đức Maria hồn xác lên trời là một tín điều”.Việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đã được sùng kính từ thế kỷ thứ II trong Giáo Hội. Qua suốt giòng lịch sử, tín điều này đã được các nhà thần học nghiên cứu và tranh luận. Sau khi nghiên cứu và tham khảo hàng Giám mục, các nhà thần học trên thế giới, Đức Piô đã trình bày rõ ràng như sau: “Ðây là một chân lý đã ăn rễ sâu vào trong lương tâm và truyền thống của Giáo hội. Ðây không phải là việc tạo nên một tín điều mới, một chân lý mới về Ðức Trinh Nữ Maria rất thánh” (Cha Nguyễn Văn Thư).

Đức Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II viết: “Đức Maria đã đi vào vinh quang thiên quốc, vì Người đã đón nhận Con Thiên Chúa trong cung lòng trinh khiết và trong trái tim của Người. Khi nhìn lên Đức Maria, người kitô hữu học cách khám phá ra giá trị của thân xác mình và gìn giữ nó như đền thờ của Thiên Chúa, trong khi đợi chờ ngày sống lại. Việc lên trời của Đức Maria, một đặc ân được dành riêng cho Đức Mẹ Chúa Trời, trở thành một giá trị vô song cho cuộc sống và thân phận của toàn thể loài người (Phan Tấn Thành chuyển ngữ, Những Bài Huấn Giáo Về Đức Maria,1999, trang 212)

Cha Phanxicô Federich, tên Việt Nam là Tế. Cha là người Tây Ban Nha. Ngày 28-8-1735, cha được sai sang Việt Nam truyền giáo. Cha học tiếng Việt ở giáo xứ Lục Thủy, Bùi Chu. Sau 6 tháng cha biết nói tiếng Việt, cha đi truyền giáo các vùng Giao Thủy, Xuân Trường, Trực Ninh. Được 2 năm, ngày 3-8-1737 cha bị bắt và bị giải về Thăng Long, bị tù, bị tra tấn.
Quan hỏi cha: “Chết rồi, ông hy vọng đi về đâu?”

Cha đáp: “Đi lên trời hưởng phúc trường sinh”.

Quan cự lại: “Chết rồi, xác chôn dưới đất, mà ông nói là lên trời. Ông nói vô lý quá”.

Cha giải nghĩa: “Xác nằm yên trong mộ, nhưng linh hồn là bản tính thiêng liêng. Linh hồn có hai đường đi: một là lên trời hưởng phúc đời đời; hai là xuống hỏa ngục chịu khổ muôn đời. Tùy theo tội phúc của mỗi người khi còn sống”.
Quan lại hỏi: “Có thật lên trời được không ?”

Cha đáp: “Nếu không thì làm sao tôi có can đảm sẵn sàng chịu đòn vọt, tra tấn, xỉ nhục, vui lòng chịu chết.”

Sau 8 năm bị giam cầm tra tấn, ngày 20-1-1745 cha bị chém đầu.

Sách Giáo Lý của Hội Thánh viết: “Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm được gìn giữ tinh tuyền khỏi mọi tì vết nguyên tội, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, đã được đưa lên hưởng vinh quang thiên quốc cả xác cả hồn, và được Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để Mẹ được đồng hình đồng dạng cách sung mãn hơn với Con mình, là Chúa các chúa và là Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. Cuộc lên trời của Đức Trinh Nữ rất thánh là sự tham dự độc nhất vô nhị vào sự phục sinh của Con mình và là việc trước sự phục sinh của các Kitô hữu khác: “Lạy Mẹ Thiên Chúa, khi sinh con Mẹ vẫn khiết trinh, khi yên nghỉ Mẹ vẫn không lìa bỏ trần gian: Mẹ đã đến với Đấng là nguồn mạch sự sống, chính Mẹ đã cưu mang Thiên Chúa hằng sống và chính Mẹ, bằng lời khẩn cầu của Mẹ sẽ cứu linh hồn chùng con khỏi chết (số 966).

Đức Mẹ Fatima hiện ra 6 lần, Hiện ra lần thứ ba, ngày 13-7, Đức Mẹ cho Ba Em thấy hỏa ngục. Em Luxia đã kể lại như sau: “Chúng em nhìn thấy một biển lửa bao la. Ma quỉ và các linh hồn hư mất bơi lội trong đó. Các linh hồn trông như những thanh củi cháy đỏ rên xiết than van”. Thấy cảnh hỏa ngục, Ba em run sợ, la lên, nhìn lên Đức Mẹ van xin. Đức Mẹ buồn bã nói: “Chúng con vừa thấy hỏa ngục nơi những người tội lỗi phải sa vào. Để cứu họ, Thiên Chúa muốn lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ trên trái đất này. Nếu điều Mẹ bảo được thi hành, nhiều linh hồn được cứu thoát và hòa bình sẽ đến với thế giới…Mẹ xin rước lễ vào mỗi thứ bảy đầu tháng…

Linh mục Giuse Nguyễn Trung Thành

From: Ngoc Bich & KimBang Nguyen


 

Chuyện lên Trời – Vấn đề tha thứ- Tác giả:  Trầm Thiên Thu

 Chuyện lên Trời – Vấn đề tha thứ

Tác giả:  Trầm Thiên Thu

CHUYỆN LÊN TRỜI

Trời là nơi con người không biết thế nào nhưng rất muốn khám phá cho thỏa lòng. Việc lên trời là điều người ta vẫn nghiên cứu để lên đó xem sao. Và rồi người ta chỉ mới lên được cung trăng chứ chưa biết gì hơn.

Khi Liên Xô chưa cáo chung, truyền thông cứ nhắc đi nhắc lại câu nói được gán cho phi hành gia Yuri Gagarin: “Ở trên này tôi chẳng thấy có Chúa nào cả.” Thật ra đó là lời tuyên truyền của Đảng Cộng Sản Liên Xô, do tổng bí thư Nikita Khrushchev phát biểu tại hội nghị Komsomol nhằm phát động chiến dịch đàn áp tôn giáo: “Yuri Gagarin đã bay lên vũ trụ, và chẳng thấy có Chúa nào cả.”

Yuri Gagarin theo Chính Thống giáo, sinh thời ông cũng thường đi lễ và cầu nguyện. Sau khi Khrushchev qua đời, Yuri Gagarin đã dùng uy tín của một phi hành gia nổi tiếng đề nghị nhà nước cho xây lại Nhà thờ Chúa Cứu Thế (Cathedral of Christ the Savior) tại Moscow bị phá từ thời Stalin. Sự thật mãi mãi vẫn là sự thật!

Đại lễ Đức Mẹ Lên Trời – Thánh Mẫu Mông Triệu – nhắc nhở và củng cố đức tin của chúng ta, những người có niềm tin tuyệt đối vào Chúa Giêsu Kitô và có tình yêu tha thiết dành cho Đức Mẹ.

TỪ CỔ TÍCH…

Truyện cổ tích kể rằng, ngày xưa ở một miền nọ có một tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như thường lệ, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây để chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội giật mình trông thấy một hang cọp. Nhìn trước nhìn sau chỉ thấy bốn cọp con đang vờn nhau. Cuội xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay. Vừa lúc đó, cọp mẹ về tới. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp bỏ rìu leo lên một ngọn cây cao.

Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng rồi cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn và đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Một lúc sau, bốn con cọp con sống lại. Cuội vô cùng kinh ngạc. Chờ cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc đem về.

Dọc đường, thấy một ông lão ăn mày nằm chết trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, bứt mấy lá nhai và mớm cho ông lão. Lạ thay, ông lão mở mắt và ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội thật lòng kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên:

– Trời ơi! Cây này chính là cây có phép “cải tử hoàn sinh” đây. Đúng là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cây, nhưng nhớ ĐỪNG TƯỚI BẰNG NƯỚC BẨN mà cây bay lên trời đó!

Nói rồi ông lão chống gậy đi. Cuội đem cây về nhà trồng ở góc vườn phía Đông, luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong veo. Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội đem lá cây đến cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi.

Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi lấy lá ra cứu chó sống lại. Chó quấn quýt theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn. Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, nài xin Cuội cứu cho con gái vừa chết đuối. Cuội theo về nhà, lấy lá cứu chữa. Chỉ một lát sau, mặt cô gái bỗng hồng hào lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ, lão nhà giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội.

Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm. Một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ lâu, mớm bao nhiêu lá vẫn vô hiệu, vì không có ruột nên không thể sống lại!

Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Chưa từng làm thế bao giờ nhưng Cuội cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội thử nặn một bộ ruột bằng đất rồi đặt vào bụng chó, lạ thay chó cũng sống lại. Vợ chồng với con vật lại quấn quýt với nhau. Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội thay đổi hẳn. Nói đâu, quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã nhiều lần dặn vợ rằng có “xả xăng” thì xả phía Tây, chớ xả phía Ðông kẻo cây dông lên trời. Nhưng vợ Cuội lú lẫn, nghe xong lại quên ngay.

Một chiều nọ, Cuội đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn nhưng không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà “xả xăng,” bất ngờ mặt đất chuyển động, gió ào ào, cây đa đảo mạnh rồi bật gốc bay lên trời. Vừa lúc đó Cuội về đến.

Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ đến để níu cây lại. Nhưng cây đã bật khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây để kéo xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không cản nổi. Cuội nhất định không chịu buông, thế nên cây kéo Cuội lên tới cung trăng. Từ đó, Cuội ở cung trăng với cây đa quý của mình.

…TỚI TÂM LINH

Cổ tích là truyền thuyết, không có thật. Nhưng đời sống tâm linh thì có thật. Trong truyện cổ tích Chú Cuội có chi tiết độc đáo: Phải CHĂM SÓC cây đa quý và KHÔNG DÙNG NƯỚC BẨN ĐỂ TƯỚI. Cái gì quý cũng phải trân trọng, giữ cho nó luôn sạch sẽ. Nghĩa là phải ý tứ và cẩn trọng.

Cây đa quý không thể chịu được tạp chất, ô uế hoặc bẩn thỉu, nên nó không thể ở đất nữa. Nó phải lên nơi cao hơn. Linh hồn cũng tương tự, linh hồn là Đền Thờ thiêng liêng của Chúa Thánh Thần thì phải trong sạch, không thể có bất cứ “chất” gì nhơ nhớp bám vào – dù chỉ một chút.

Chú Cuội là hình bóng mỗi chúng ta. Chú Cuội tìm mọi cách để giữ lại cây đa quý mà không được, nên Chú Cuội cương quyết bám theo nó, không luyến tiếc những gì phải bỏ lại. Chú Cuội một đi không trở lại, mãi mãi ở bên cây đa quý, vĩnh viễn ở nơi mà không gì có thể làm phiền mình và làm ô uế cây đa quý.

Mỗi tín nhân chúng ta cũng phải cố gắng giữ linh hồn mình giống như Chú Cuội bám giữ cây đa quý vậy. Nhờ đó, chúng ta cũng sẽ được theo Đức Mẹ lên trời đoàn tụ với Thánh Tử Giêsu, Đấng đã hứa với chúng ta: “Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:3) Ôi, hạnh phúc biết bao!

 TRẦM THIÊN THU

***********

VẤN ĐỀ THA THỨ

Nhân vô thập toàn. Không ai vô tội. Vì vậy, luôn cần tha thứ mọi nơi và mọi lúc.

Càng tha thứ càng giảm bớt sự thù hận. Sự tha thứ không chỉ tốt cho tinh thần mà còn tốt cho thể lý – ngăn ngừa bệnh. Giáo sư tâm lý học Everett Worthington, thuộc ĐH Virginia Commonwealth (Mỹ), nói rằng sự tha thứ làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Những người có “máu cừu địch” dễ bị béo phì và kháng insulin – các yếu tố gây bệnh tiểu đường và bệnh tim. Các nghiên cứu của Viện Sức khỏe cộng đồng tại California cho thấy rằng mức thù hận cao gây nguy cơ tử vong gấp đôi so với các nguyên nhân khác.

Ngoài lợi ích về tinh thần, sự tha thứ còn lợi ích về thể lý. Nhất cử lưỡng tiện. Tâm lý gia Worthington nói: “Sự tha thứ có thể làm giảm nguy cơ bị các chứng rối loạn liên quan stress như hệ miễn nhiễm hoạt động sai chức năng, rối loạn tự miễn nhiễm và ung thư.” Ông đưa ra 5 bí quyết tha thứ sau đây:

  1. NHƯỜNG NHỊN – Luôn tích cực nhường nhịn, vì “một câu nhịn, chín câu lành,” để tránh lăng nhục người khác hoặc trở thành nạn nhân. Nhường nhịn không có nghĩa là thua kém hoặc yếu thế!
  2. CẢM THÔNG – Tự đặt mình vào vị trí của người khác để dễ cảm thông và khách quan nhìn nhận vấn đề. Nếu không cảm thông thì không thể tha thứ.
  3. VỊ THA – Bạn rất hạnh phúc khi được tha thứ, vậy hãy trao tặng món quà tha thứ cho người khác. Hãy làm cho người khác những gì bạn muốn người khác làm cho mình!
  4. CÂN NHẮC – Điều này giúp bạn không quá lố, suy nghĩ và cân nhắc để xử lý tốt nhất trong mọi tình huống.
  5. 5. KIỀM CHẾ – Luôn biết kiềm chế “cái tôi.” Sự im lặng có vẻ “lạnh lùng” nhưng lại có thể giúp bạn tránh tức giận và sợ hãi. Nhờ vậy mà bạn mặc nhiên tha thứ.

Tha thứ liên quan yêu thương. Người đời còn phải tha thứ lẫn nhau, huống chi những người tự nguyện tin và theo Đức Kitô. Tất nhiên mức độ phải “cao” hơn, vì Sư phụ Giêsu dạy: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em,” (Mt 5:44) hoặc “hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em.” (Lc 6:27)

Tha thứ nhiều hay ít? Một lần nọ, ông Phêrô đến gần Đức Giêsu và hỏi: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” (Mt 18:21) Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” (Mt 18: 22) Ngài nói về dụ ngôn tên mắc nợ không biết thương xót. (x. Mt 18:23-35) Nghĩa là tha thứ mãi mãi, yêu thương vô hạn: Mức độ yêu là yêu vô hạn.

Thiên Chúa không ép ai phải yêu thương, không bắt ai phải tha thứ, vì Ngài không thích cái gì miễn cưỡng, đó chỉ là công bằng: “Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.” (Mt 6:14-15) Rất thuận lý.

Thánh Phaolô nói: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1 Cr 13:7) Có đức mến rồi thì tha thứ chỉ là “chuyện nhỏ.” Thánh Phaolô phân tích: “Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô.” (Ep 4:32)

Yêu thương và tha thứ là sống đức tin ngay trên thế gian này. Đó là lý do chúng ta phải yêu thương và tha thứ lẫn nhau, vả lại, Chúa Giêsu đã nói: “Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa.” (Mc 4:24)

Yêu thương nhau hay không, tha thứ cho nhau hay không, đó là tùy mỗi người, Chúa Giêsu chỉ khuyên chứ không ép buộc. Ai thi hành thì được phúc: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” (Mt 5:7)

Nhưng đó cũng là lệnh truyền về sự tha thứ ở mức độ cao: “Thầy không bảo tha thứ đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” (Mt 18:25) Biết xót thương thì biết tha thứ. Một hệ lụy tất yếu!

TRẦM THIÊN THU


 

NÂNG CON LÊN CAO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Mở đường là Đức Kitô, rồi đến những kẻ thuộc về Người!”.

Khi thi hài Lincoln được đưa từ Washington về Illinois, nó đi qua đại lộ Albany. Bên kia vỉa hè, một phụ nữ da đen nâng đứa con trai của cô lên cao nhất có thể qua đầu đám đông; cô hét lên, “Con yêu, mẹ nâng con lên cao. Nhìn kìa, ông ấy đã chết vì con!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Hôm nay, mừng kính Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, Mẹ Hội Thánh nâng bạn và tôi lên cao nhất có thể để nói với mỗi người chúng ta rằng, “Con yêu, nhìn kìa! Giêsu, không chỉ đã chết vì con nhưng còn ‘nâng con lên cao’ như đã nâng cao Đức Maria, Mẹ Ngài, cũng là mẹ của con!”.

Thánh Phaolô xác tín, “Mở đường là Đức Kitô, rồi đến những kẻ thuộc về Người!”. Maria thuộc về Chúa Kitô; và tuy là Thánh Mẫu, Mẹ còn là ‘Ái Nữ’ của Con. Maria đã dâng xác thân, linh hồn và trái tim cho Thiên Chúa; vì thế, sau cuộc lữ hành trần gian, Mẹ được Ngài ôm trọn xác hồn đưa lên trời vui hưởng thánh nhan. Hơn nữa, là một trong những môn đệ đầu tiên dự phần chiến thắng phục sinh của Chúa Con, Mẹ được vinh thăng với Con là điều phải lẽ. Như vậy, Mẹ Lên Trời là dấu chỉ phần thưởng cho mọi kẻ thuộc về Chúa Kitô; để rồi ai ai cũng nói được rằng, “Chúa sẽ ‘nâng con lên cao’ như đã nâng Maria lên tận cung lòng Ngài!”.

Đức Bênêđictô 16 nói, “Đức Maria Hồn Xác Lên Trời là biến cố vui mừng và hy vọng cho toàn nhân loại; biến cố này muốn nói rằng, đích đến của cuộc lữ hành trần gian là cùng Mẹ, chúng ta chiến thắng tuyệt đối trên tội lỗi và sự chết để bước vào hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa!”.

Trong Tin Mừng hôm nay, Mẹ hát mừng Chúa; qua đó, Mẹ không chỉ dâng vinh quang lớn nhất cho Ngài mà còn cho biết Mẹ là ai, là người mà “hết mọi đời” sẽ khen là “diễm phúc”; người mà trên đó, “Đấng Toàn năng đã làm những điều cao cả”; là người sẽ công bố đời đời “vĩ nghiệp của Chúa” và linh hồn Mẹ sẽ mãi vui mừng trong Ngài, Đấng cứu độ Mẹ. Sách Khải Huyền tiên báo vinh hiển của Mẹ, “Một điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao!” – bài đọc một. Với Thánh Vịnh đáp ca, Đavít cũng thấy trước Mẹ là “Nữ hoàng bên hữu Thánh Vương, điểm trang lộng lẫy toàn vàng Ôphia!”.

Anh Chị em,

“Mở đường là Đức Kitô, rồi đến những kẻ thuộc về Người!”. Lời đầu tiên của Mẹ – người thuộc về Chúa Kitô – là “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa!”. Có lẽ chúng ta đã quá quen với lời này, nên không còn để ý đến ý nghĩa của chúng. “Ngợi khen”, nghĩa đen là “phóng to”, “làm cho lớn”. Maria đã “làm cho Thiên Chúa lớn”; không thành vấn đề Ngài lớn bao nhiêu, nhưng Mẹ cảm thấy Thiên Chúa thật lớn và Ngài phải lớn hơn, vĩ đại hơn! Còn chúng ta, chúng ta thường làm cho Thiên Chúa nhỏ lại; bởi lẽ, chúng ta thường để mình ‘choáng ngợp’ bởi những khó khăn và bị ‘hấp dẫn’ bởi bao nỗi sợ! “Chúa Vĩ Đại” là tiền đề của Mẹ mà từ đó, Magnificat phát sinh, không phải do không có vấn đề, nhưng nó phát sinh từ sự hiện diện của Chúa, Đấng ở cùng Mẹ, trong Mẹ; cũng là Đấng cùng chúng ta, trong chúng ta. Và Đấng ấy, rồi đây cũng nâng mỗi người chúng ta lên cao!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, giúp con đừng la đà lệt đệt khi cuộc sống con cứ chiều theo những gì thuộc cõi thấp. Dạy con biết hướng thượng mỗi ngày, hướng tận đến Quê Trời!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

********************************

Ngày 15 tháng 8

ĐỨC MẸ LÊN TRỜI

lễ trọng

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

20 Thưa anh em, Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. 21 Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. 22 Quả thế, như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Ki-tô, cũng được Thiên Chúa cho sống. 23 Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình : mở đường là Đức Ki-tô, rồi khi Đức Ki-tô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. 24 Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha.

25 Thật vậy, Đức Ki-tô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. 26 Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết,  vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Đức Ki-tô.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

39 Hồi ấy, bà Ma-ri-a lên đường, vội vã đi đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. 40 Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào bà Ê-li-sa-bét. 41 Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy Thánh Thần. 42 Bà Ê-li-sa-bét kêu lớn tiếng và nói rằng : “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. 43 Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ? 44 Quả thật, này tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vì vui sướng. 45 Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”

46 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói :

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa

47thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.

48Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới ; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.

49Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn !

50Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.

51Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.

52Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.

53Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng.

54Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,

55như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời.”

56 Bà Ma-ri-a ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà.