Bác l’Abbé Pierre – Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Bác l’Abbé Pierre

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

14/09/2024

Nhiều phụ nữ tố cáo ông l’Abbé lạm dụng tình dục

Nước Pháp có một nhân vật đã thực sự vĩ đại, l’Abbé Pierre. Nói về ông thì không biết đến bao giờ mới hết. Công trạng của ông như trời, như biến. Người Việt Nam nói chung cũng không biết nhiều về ông, nhưng ông thực sự đã nổi tiếng không những Pháp mà cả trên thế giới. Dưới đây là tóm tắt 1 phần cuộc đời và công trạng của ông.

.L’Abbé Pierre, tên thật là Henri Grouès, là một nhân vật tiêu biểu trong cuộc chiến chống đói nghèo và bất công xã hội ở Pháp. Sinh năm 1912, ông đã cống hiến cả cuộc đời mình cho những người nghèo, trở thành biểu tượng của sự đoàn kết tương thân và hào phóng.

Được thụ phong linh mục năm 1938, ông tham gia kháng chiến trong Thế chiến thứ hai, giúp đỡ người Do Thái và những người kháng chiến thoát khỏi Đức Quốc xã. Nhưng phải sau chiến tranh, ông mới cống hiến hết mình cho sự nghiệp của người nghèo. Năm 1949, ông thành lập phong trào Emmaüs, một mạng lưới hỗ trợ những người vô gia cư và những người bị loại trừ khỏi xã hội. Mục tiêu của phong trào là khôi phục phẩm giá và hy vọng cho những người không còn gì cả, bằng cách cho họ việc làm việc và tái hòa nhập họ trở lại xã hội.

.L’Abbé Pierre đã cống hiến cả cuộc đời mình để tố cáo sự bất bình đẳng trong xã hội Pháp và thường phải trả giá bằng sự hy sinh cá nhân to lớn của ông . Ông sống giản dị, từ chối mọi đặc quyền và không ngừng đấu tranh cho một thế giới công bằng hơn. Hành động của ông đã có tác động sâu sắc đến xã hội Pháp, ảnh hưởng đến các chính sách về nhà ở xã hội và việc bảo vệ những người nghèo nhất.

.Phong trào Emmaus, do Abbé Pierre thành lập năm 1949, đã trở thành một tổ chức quốc tế chống lại tình trạng nghèo đói. Có mặt tại hơn 40 quốc gia, phong trào hiện có gần 400 nhóm trên khắp thế giới. Phạm vi của nó vượt xa viện trợ nhân đạo đơn giản, bởi vì Emmaüs mang đến cho những người đang trong hoàn cảnh bấp bênh phương tiện để xây dựng lại cuộc sống của họ, đặc biệt thông qua việc làm và tái hòa nhập xã hội.

.Emmaüs hoạt động theo mô hình doanh nghiệp xã hội độc đáo. Những người được giúp đỡ, được nhận vào doanh nghiệp được gọi là «bạn đồng hành», họ sống và làm việc trong các cộng đồng Emmaüs. Những cộng đồng này phục hồi, sửa chữa và bán lại các đồ vật được quyên góp (đồ nội thất, quần áo, thiết bị điện tử, v.v.), từ đó tạo ra thu nhập để tài trợ cho các hoạt động của họ. Mô hình kinh tế tuần hoàn này cho phép Emmaüs độc lập về tài chính, đồng thời có tác động tích cực đến môi trường thông qua việc tái chế và tái sử dụng đồ vật. Khi phải vứt đồ dùng trong nhà mà còn có thể dùng được, người Pháp thường mang đến các trung tâm Emmaus để cho. Và khi cần mua đồ dùng rẻ tiền, người Pháp cũng lại đến các cửa hàng của Emmaus.

.Di sản của ông tiếp tục tồn tại thông qua phong trào Emmaus, phong trào vẫn hoạt động cho đến ngày nay để giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh bấp bênh trên khắp thế giới. Cho đến khi qua đời vào năm 2007, l’Abbé Pierre vẫn là tiếng nói mạnh mẽ ủng hộ những người bị lãng quên trong xã hội, thể hiện các giá trị của lòng nhân ái, sự đoàn kết tương thân và tính nhân văn.

.Ngoài ra, cộng đồng Emmaüs còn tham gia vào nhiều sáng kiến khác nhau như hỗ trợ người vô gia cư, bảo vệ quyền có nhà ở và giúp đỡ người nhập cư.

.Ngày nay, phong trào Emmaus có khoảng 18.000 người trên khắp thế giới. Trong số đó, có khoảng 7.500 bạn đồng hành sống và làm việc tại các cộng đoàn, cùng hàng nghìn tình nguyện viên và nhân viên hỗ trợ các hoạt động của phong trào.

.L’Abbé Pierre đã cống hiến cả đời mình cho xã hội nói chung. Hình ảnh của ông là hình ảnh của một con người miệt mài đấu tranh cho người nghèo, chống bất công trong xã hội. Uy tín và danh tiếng của ông cao ngất trời. Ông là một thần tượng vĩ đại. Người ta đã làm cả phim về ông. Để dễ hiểu và so sánh với Việt Nam, có thể nói bác l’Abbé Pierre cũng giống như bác hồ ở Việt Nam.

.Bác Abbé Pierre đã rời cõi đời năm 2007, nhưng di sản của bác vẫn còn đó, vẫn hoạt động, vẫn cứu sống được biết bao nhiêu con người. Để ghi nhớ công lao của bác, tên của bác đã được đặt cho biết bao đường phố, công trình, trường học….

.Thần tượng, sụp đổ

.Sự ra đi của thần tượng mở đường cho sự sụp đổ của thần tượng. Từ tháng 07/2024, nhiều phụ nữ đã mạnh dạn lên tiếng tố cáo bác l’Abbé Pierre lạm dụng tình dục đối với họ. Cho đến nay đã có 24 người và vụ việc đã bắt đầu từ năm 1950 cho đến năm 2.000. Nói chung vu việc này rất li kỳ và dài dòng, tôi không muốn mô tả ở đây để tránh làm bài dài. Chỉ biết rằng nhiều cuộc điều tra đã được tiến hành và đó là sự thật hiển nhiên. Có trường hợp xẩy ra khi nạn nhân mới 9 tuổi. Nhiều hội đoàn đòi truy tố và phải có 1 tòa án phán xét bác l’Abbé Pierre. Tuy nhiên, việc này đụng phải hai vấn đề cơ bản: 1. Kẻ phạm tội đã chết cách đây 17 năm. Luật pháp của Pháp không cho phép tố tụng một người đã chết vì cho rằng người đã chết không thể tự bảo vệ được mình. 2. Đa số các vụ việc đã quá thời hạn tố tụng. Cho đến nay, theo như tờ Figaro cho biết là chưa có ai kiện chính thức bác l’Abbé Pierre.

.Một chi tiết cần biết là, nếu không có vụ kiện bác Abbé Pierre thì vẫn có thể có vụ kiện những người khác biết về « tội trạng » của bác Abbé Pierre mà không chịu tố cáo.

Tuy không có bản án cho bác Abbé Pierre, nhưng các nạn nhân cũng sẽ được bồi thường. Các cơ quan chức năng đang làm việc điều tra để giải quyết việc này.

.Có hai câu hỏi đặt ra là:

.1. Tại sao các nạn nhân bây giờ mới lên tiếng ? Đa số các nạn nhân đều cho rằng bác l’Abbé Pierre là bậc thánh nhân. Nếu họ lên tiếng lúc đó, không ai nghe họ, nên họ không dám lên tiếng. Chuyện này thì đúng thật. Cũng như những năm 90 đổ về trước ở Việt Nam ta, nếu có ai đó nói bác hồ thế này thế kia thì chắc chắn sẽ bị cả xã hội lên án, con đường vào tù mở rộng thênh thang và cái chết gần như chắc chắn.

.2. Thánh nhân đã trở thành « tội phạm » thì bây giờ làm gì với các dấu vết của thánh nhân? Đa số người Pháp đồng tình với việc phải xóa tên bác l’Abbé Pierre trên các công trình công cộng. Được hỏi về vấn đề này trên đài truyền hình số 5 của Pháp hôm qua 12/09, cựu TT F. HOLLANDE cũng đồng tình với quan điểm này.

.Những lời buộc tội mới chống lại l’Abbé Pierre đã làm lung lay di sản của ông, đã thúc đẩy các tổ chức do ông thành lập, chẳng hạn như Emmaus và Quỹ Abbé Pierre, phải thực hiện các biện pháp quyết liệt. Họ tuyên bố đóng cửa vĩnh viễn bảo tàng dành riêng cho l’Abbé Pierre và thay đổi tên của quỹ. Cộng đồng Emmaus ở Toulouse hôm qua cũng quyết định dỡ tên bác l’Abbé Pierre trên tường và các tòa nhà của họ….

.NGƯỜI PHÁP KHÁC NGƯỜI VIỆT NAM: Bác L’ Abbé Pierre đối với người Pháp là cực kỳ thân thương, một thần tượng lớn. Nhưng người Pháp cũng rất cách mạng. Một khi thần tượng bị sụp đổ do chính lỗi lầm của họ thì người Pháp cũng không ngần ngại hạ bệ thần tượng. Tuy nhiên, hạ bệ thần tượng, người Pháp không xóa bỏ lịch sử cũng như sự nghiệp của thần tượng.

.NGƯỜI VIỆT NAM KHÁC NGƯỜI PHÁP: Người không đáng là thần tượng cũng trở thành thần tượng. Một khi đã trở thành thần tượng(nhiều khi toàn do các huyền thoại) thì thần tượng mãi mãi là thần tượng. Thần tượng là thánh, không hề có lỗi lầm gì và tuyệt đối cấm đụng vào thần tượng.

.Chúng ta nên hành xử như thế nào đối với thần tượng? Như người Pháp hay như người Việt Nam?

.Bác hồ với bác l’Abbé(đọc là La bê)

Trong hai bác đó nên chê bác nào?

.Hoàng Quốc Dũng


 

5 BÀI HỌC QUAN TRỌNG TỪ THÁNH NỮ TÊRÊSA AVILA

Lm. Roger Landry

 Sự thông thái vượt thời gian của vị nữ Tiến sĩ Hội Thánh đầu tiên.

Chúng ta đang tiến nhanh đến dịp kỷ niệm 400 năm ngày tuyên thánh ấn tượng nhất trong lịch sử Giáo Hội, sự kiện đã diễn ra vào ngày 12 tháng 3 năm 1622.

Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XV đã có được những vinh dự này.  Các cuộc tuyên thánh trong giai đoạn lịch sử này là những sự kiện tương đối hiếm.  Mặc dù Công đồng Trentô dạy rằng mẫu gương và lời chuyển cầu của các thánh là một sự trợ giúp đắc lực cho các tín hữu, nhưng phải mất 25 năm sau khi Công đồng kết thúc mới có một số người được tuyên thánh.  Trên thực tế, từ năm 1492 đến năm 1587, chỉ có ba người được tuyên thánh, mỗi thời mỗi khác.  Đức Giáo Hoàng Grêgôriô đã thay đổi điều đó, ngài đã tuyên thánh cùng một lúc cho bốn vị thánh vĩ đại của thời kỳ Phản Cải cách (hay còn gọi là thời kỳ Chấn hưng Công giáo), những người đã sống cùng thời với chính Đức Giáo Hoàng, những người không chỉ biểu trưng cho những gì Giáo Hội đang hướng tới mà còn đóng những vai trò quan trọng trong việc giúp Giáo Hội quay lưng lại với tội lỗi và trở nên trung thành với Tin Mừng.

Bốn người đó là Thánh Inhaxiô thành Loyola, nhà sáng lập Dòng Tên; người bạn cùng phòng thời đại học ngày xưa của Thánh Inhaxiô và nhà truyền giáo vĩ đại nhất mọi thời đại sau Thánh Phaolô, là Thánh Phanxicô Xaviê; người tái Phúc Âm hóa ở Rome vào thế kỷ 16 và người sáng lập Dòng Các Cha Diễn Thuyết (Oratory), là Thánh Philipphê Nêri; và nhà cải cách vĩ đại của đời sống tu trì và người sáng lập Dòng Cát Minh Chân Đất, là Thánh Têrêxa Avila.

Ý nghĩa của những gì đã xảy ra vào ngày 12 tháng 3 năm 1622 trở nên quan trọng đối với toàn thể Giáo Hội, vì gương mẫu của Thánh Inhaxiô, Thánh Phanxicô, Thánh Philipphê và Thánh Têrêsa tiếp tục truyền cảm hứng cho các tín hữu trong mọi bước đường cuộc sống, và các hội dòng mà các ngài và những đứa con tinh thần của mình đã thành lập – làm cho Giáo Hội có thể hiện diện khắp các quốc gia, các trường đại học, các tu viện và còn nhiều hơn thế nữa – đã trở thành nền tảng cho Giáo Hội kể từ đó.

Chúng ta có rất nhiều điều để học hỏi nơi từng người trong số các ngài.  Trong chừng mực ngày Thứ Sáu tới đây là Ngày Lễ của Thánh Têrêsa Avila, người đã qua đời vào ngày 15 tháng 10 năm 1582 (cũng chính ngày này, lịch Julius đổi thành lịch Gregory), nên việc tập trung vào vị thánh nữ này là điều phù hợp.

Mùa hè vừa qua, nhờ có một vài ngày nghỉ phép ở Madrid, tôi đã có cơ hội thực hiện một chuyến đi trong ngày với những người bạn linh mục đến Avila, nơi Thánh Têrêsa sinh ra và bước vào đời sống tu trì, và sau đó đến Alba de Tormes, nơi thánh nữ đã bước vào sự sống vĩnh hằng.  Vì một trong những người bạn đồng hành của tôi có những trách nhiệm đặc biệt trong Giáo Hội ở Tây Ban Nha, nên chúng tôi được đặc ân đi vào trong các khu vực hành lang của ba tu viện Cát Minh, nơi mà chúng tôi có thể đến gần để dõi theo những bước chân của Thánh Têrêsa và cầu nguyện tại chính những nơi mà ngài đã từng chiêm niệm, đã từng xưng tội, đã từng sống và chết.

Chúng tôi có thể tôn kính những thánh tích của thánh nữ, bao gồm cả trái tim không hư nát của ngài đã từng bị đâm thâu một cách mầu nhiệm – “được biến đổi” – bởi tình yêu Thiên Chúa.  Chúng tôi cũng có thể chứng kiến lòng nhiệt thành không phai nhạt của thánh nữ qua các cuộc trò chuyện với những người con thiêng liêng của ngài, có thể cảm nghiệm được tình yêu lớn lao và lời chuyển cầu của họ dành cho các nhu cầu của Giáo Hội, và cũng có thể chúc mừng họ vì dịp lễ kỷ niệm sắp tới.

Vào ngày 27 tháng 9 năm 1970, Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI đã phong ngài làm vị nữ tiến sĩ Hội Thánh đầu tiên.  Tôi muốn nêu bật năm bài học mà ngài dạy cho chúng ta.

Bài học đầu tiên là lòng khao khát thiên đàng mãnh liệt.  Tôi rất ấn tượng khi đến thăm tu phòng nơi thánh nữ qua đời ở Alba de Tormes, và đã nhìn thấy bức tranh tường được vẽ trên đầu giường của ngài về một khung cảnh xảy ra khi ngài 7 tuổi.  Ngài đã sớm xây dựng một ẩn thất nhỏ ở sân sau nhà mình.

Một ngày nọ ở đó, thánh nữ và em trai 5 tuổi Rodrigo bắt đầu chuyện trò về hạnh phúc của các vị thánh trên thiên đàng.  Họ đã sửng sốt bởi ý nghĩ về việc sống “đời đời.”  Rodrigo đã hỏi rằng làm thế nào họ có thể đến được với Thiên Chúa trên thiên đàng nhanh nhất, và Têrêsa đã trả lời rằng qua việc tử đạo.  Câu hỏi làm thế nào họ có thể trở thành những vị tử đạo và Têrêsa đã kể về những người Hồi giáo đang sát hại các Kitô hữu ở Marốc.

Và thế là họ bắt đầu tiến về phía nam để đến Marốc, quên đi sự phức tạp về địa lý của Địa Trung Hải nằm giữa Tây Ban Nha và Bắc Phi!  Họ đã đi ra ngoài các tường thành, đến tận Cầu Adaja theo phong cách Rôma cổ kính, nơi chú Francisco của họ, đang trở về sau một cuộc đi săn, đã nhìn thấy họ và hỏi họ sẽ đi đâu.  Khi họ nói với chú ấy rằng họ đang đến Châu Phi để chịu tử đạo dưới tay người Marốc, chú ấy đã khéo léo tình nguyện cho họ đi nhờ ngựa.  Sau khi nhảy lên ngựa, người chú đã phi nước đại đưa họ trở về nhà để chịu một kiểu tử đạo khác đang chờ đợi họ ở đó.

Đây là một câu chuyện đẹp nhất về tiểu sử của một vị thánh, minh chứng cho tình yêu giống như trẻ thơ mà chúng ta phải dành cho Thiên Chúa, cho thiên đàng, cho sự sống đời đời.  Tình yêu đó vẫn lan tỏa từ bên trong thánh nữ để rồi những hy vọng của ngài cuối cùng cũng đã được thực hiện vào năm 1582.

Bài học thứ hai là về tầm quan trọng và nghệ thuật của cầu nguyện.  Thánh nữ là một Tiến sĩ Hội Thánh chính vì, cùng với nhà cải cách Dòng Cát Minh là Thánh Gioan Thánh Giá, thánh nữ là một trong những người định hướng về đời sống nội tâm quan trọng nhất trong lịch sử Giáo Hội.

Thánh nữ sử dụng văn phong sống động và hình ảnh về một Lâu đài Nội tâm với bảy “tầng” (mỗi tầng gồm nhiều phòng) để truyền đạt những chân lý sâu sắc về đời sống cầu nguyện và đời sống thiêng liêng.  Thánh Têrêsa mời gọi tất cả các chị em của mình – và những người khác – đi qua từng chặng đường của tiến trình thiêng liêng này bằng cách mở lòng đón nhận công việc của Chúa Thánh Thần một cách trọn vẹn hơn.

Bài học thứ ba là về sự hoán cải liên tục.  Thánh nữ vào tu viện Cát Minh lúc 20 tuổi, nhưng cộng đoàn này lại đang ở trong tình trạng bất ổn về mặt thiêng liêng.  Một số nữ tu có nhiều dãy phòng, với cả người hầu và vật nuôi.  Cuối cùng, chính thánh nữ cũng đã từng đầu phục trước tình trạng thế tục, ngài đã dành rất nhiều thời gian để tiếp đãi những người đến thăm và bạn bè trong phòng khách, ngài còn dành cho mình những thỏa hiệp khác nhau với sự phù phiếm thế tục.  Khi thánh nữ 39 tuổi, Thiên Chúa đã thức tỉnh ngài một lần nữa khỏi đời sống nhạt nhẽo, nơi mà ngài đang phải chống chịu với những tội nhẹ, và làm sống lại nơi ngài khao khát về sự thánh thiện, về hạnh phúc.

Kinh nghiệm hoán cải đó dẫn đến bài học thứ tư, đó là sự hoán cải trong Giáo Hội.  Thánh nữ đã chứng kiến và nghiệm thấy những gì có thể xảy đến cho con người ngay cả ở những nơi mà họ thề hứa sẽ dâng hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa.  Thánh nữ đã nhận thức được rằng các cơ cấu của Giáo Hội, bắt đầu từ những người thuộc dòng Cát Minh, cần phải được cải tổ sâu sắc đến mức nào, và bất chấp những đau khổ cá nhân to lớn, thánh nữ đã dành phần đời còn lại của mình cho việc cố gắng trở thành một công cụ để đem những chị em cùng dòng Cát Minh trở về với mối tình đầu của mình, thông qua Giáo Hội.

Giáo Hội lúc nào cũng cần đến sự cải cách và cần đến những nhà cải cách thánh thiện, những người là công cụ của Thiên Chúa để đưa chúng ta trở lại điều mà Chúa Giêsu ở Bêtania đã gọi là “phần tốt hơn” và “một điều cần thiết” (x. Lc 10,41-42).

Cuối cùng, trong Năm của Thánh Giuse này, thánh nữ còn chỉ cho tất cả chúng ta cách để gia tăng lòng sùng kính đối với Người.  Tình yêu của Thánh Têrêsa dành cho Thánh Giuse, Đấng đã được Chúa Cha đã tuyển chọn để dưỡng dục Con của Người theo nhân tính và để bảo vệ và chăm lo cho Thánh Gia, đã bắt đầu khi thánh nữ được chữa khỏi một căn bệnh thể lý sau khi cầu nguyện với Thánh Giuse vào năm 26 tuổi.

Thánh nữ đã viết, “Nhận thấy mình thật khốn cùng trong khi các bác sĩ trần thế còn quá non trẻ đã không thể chữa khỏi được cho tôi.  Tôi đã nhờ đến Thánh Giuse vinh hiển làm người bênh vực và bảo vệ, và đã giao phó chính mình cho Người…  Sự cứu giúp của Người đã mang lại cho tôi nhiều điều tốt đẹp hơn những gì tôi có thể hy vọng.  Tôi không nhớ đã từng cầu xin với Người bất cứ điều gì mà lại không được nhậm lời.”

Thánh nữ đã cố gắng rao truyền về một tình yêu bao la dành cho bạn trăm năm của Đức Trinh Nữ.

“Tôi ước mình có thể thuyết phục mọi người hết lòng với vị thánh vinh hiển này, vì kinh nghiệm lâu năm đã dạy cho tôi biết về những ơn lành mà Người có thể nhận được từ Thiên Chúa để dành cho chúng ta.  Trong tất cả những người tôi biết với một lòng mộ mến chân thành và một lòng sùng kính đặc biệt đối với Thánh Giuse, thì không ai lại không thăng tiến về mặt nhân đức; Người giúp sức cho những ai hướng về Người để đạt đến việc tiến bộ thực sự…  Tất cả những gì tôi mời gọi, vì tình yêu Thiên Chúa, là bất cứ ai không tin tôi thì hãy thử những gì mà tôi đã nói, và sau đó người đó sẽ tự nhận biết những lợi ích khi giao phó chính mình Thánh tổ phụ Giuse vinh hiển, và rồi người đó cũng sẽ có được một lòng mộ mến đặc biệt đối với Người.  Đặc biệt, những ai sống đời cầu nguyện nên yêu mến Người như một người cha.”

Khi chúng ta kỷ niệm ngày lễ của thánh nữ và chuẩn bị cho dịp kỷ niệm 400 năm ngày thánh nữ được tuyên thánh, chúng ta hãy cầu xin ngài cầu thay nguyện giúp để chúng ta có thể chia sẻ lòng khao khát của ngài dành cho thiên đàng, dành cho cầu nguyện, dành cho sự hoán cải liên tục, dành cho việc cải cách các cơ cấu của Giáo Hội và dành cho việc giao phó toàn thể Giáo Hội cho Thánh Giuse.

Lm. Roger Landry

Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên chuyển ngữ từ National Catholic Register (13.10.2021)

Nguồn: giaophanvinhlong.net


 

TÔN GIÁO TRANG ĐIỂM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bên ngoài chén đĩa, thì các người rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà!”.

“Những người theo ‘tôn giáo trang điểm’ chú trọng vẻ bề ngoài. Họ giả vờ xuất hiện theo một cách thức ‘vui mắt’ nào đó, đang khi bên trong – như Chúa Giêsu nói – là những ngôi mộ đầy xương người chết và mọi thứ ô uế!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu ‘bóc trần’ một người biệt phái mời Ngài dùng bữa. Ông này trách Ngài không rửa tay trước khi ăn; Ngài cho ông biết, ông giả hình! Với Đức Phanxicô, ông là người theo ‘tôn giáo trang điểm!’.

“Bên ngoài chén đĩa, thì các người rửa sạch, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà!”. Qua đó, Ngài muốn nói, luật có mục đích giải thoát con người – khỏi các thần ngoại và ách nô lệ tội lỗi – để con người có thể thờ phượng Thiên Chúa. Nhưng với những người Pharisêu, lề luật, các tập tục và các quy định bổ sung tự nó đã trở thành mục đích; vì thế, nó trở nên gánh nặng. Nó đã bị cắt xén và tách khỏi Đấng mà nó hướng đến. Phaolô mạnh mẽ cảnh báo, “Anh em tìm sự công chính trong Lề Luật, là anh em đoạn tuyệt với Đức Kitô và mất hết ân sủng!” – bài đọc một.

Ngày nay, Giáo Hội có đủ luật lệ, tập tục và các quy định khiến những người Pharisêu khắt khe nhất – và cả chúng ta – tự hào. Thế nhưng, mối nguy ở chỗ, chúng được tuân thủ một cách chặt chẽ đến nỗi chúng ta không còn nhìn thấy Đấng mà chúng giải thoát để chúng ta tôn thờ. Tuân theo chúng một cách mù quáng, chúng ta không cho phép trái tim và tâm trí mình được giáo dục và hình thành bởi chúng. Kết thúc bằng việc ‘lau sạch bên ngoài’ các thứ, chúng ta dừng lại ở đó mà không nhận ra tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa; chúng ta không để tình yêu đó thanh tẩy trái tim mình, trái tim của một người đang ‘cải đạo’ để theo ‘tôn giáo trang điểm’.

Cái bẫy thứ hai ở một thái cực khác: tự cho mình một lối thoát dễ dàng bằng cách cho rằng, “Điều quan trọng là tấm lòng của tôi! Nếu trái tim tôi đặt đúng chỗ, tôi không cần lo lắng về tất cả những quy tắc này và những thứ tương tự!”. Với thái độ lỏng lẻo, chúng ta dễ dàng cho phép mình khinh suất lề luật hầu cốt làm sao được thoải mái. “Tôi biết hôm nay là Chúa Nhật, tôi phải đi lễ; nhưng đây là kỳ nghỉ! Chúa biết tôi là người tốt!”. Tuy nhiên, trong Thánh Lễ Chúa Nhật, chúng ta nhận được bao ân sủng cần thiết để trở thành “người tốt!”. Luật giữ ngày Chúa Nhật và bất kỳ quy định nào của Giáo Hội đều có mục đích dẫn chúng ta đến với Chúa.

Anh Chị em,

“Bên ngoài chén đĩa, thì các người rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà!”. “Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mình luôn tỉnh táo và sáng suốt để không bao giờ mệt mỏi chống lại ‘chủ nghĩa vị kỷ’ khi đi theo tôn giáo ‘nệ luật’ này; và rằng, chúng ta không bao giờ mệt mỏi khi từ chối tôn giáo của vẻ bề ngoài, tôn giáo của sự giả vờ, ‘tôn giáo trang điểm!’. Thay vào đó, chúng ta cam kết tiến hành “thầm lặng, làm điều thiện”; và như thế – một cách tự do – chúng ta đã tự do nhận được sự tự do nội tâm của mình!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con chạy theo ‘thời trang tôn giáo’; vì như thế, con sẽ đoạn tuyệt với Đức Kitô và mất hết ân sủng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************

Thứ Ba Tuần XXVIII Thường Niên

Hãy bố thí thì mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.       Lc 11,37-41

37 Khi ấy, Đức Giê-su đang nói, thì có một ông Pha-ri-sêu mời Người đến nhà dùng bữa. Tới nơi, Người liền vào bàn ăn. 38 Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu lấy làm lạ vì Người không rửa tay trước bữa ăn. 39 Nhưng Chúa nói với ông ấy rằng : “Này, nhóm Pha-ri-sêu các người, bên ngoài chén đĩa, thì các người rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà. 40 Thật là ngốc ! Đấng làm ra cái bên ngoài lại đã không làm ra cái bên trong sao ? 41 Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.”


 

THẾ À! – Truyện rất ngắn

Có một cô gái con nhà danh giá gần chùa bị chữa hoang, nên gia đình cô xem đây là việc xấu hổ, cha cô tra khảo, đánh đập rất bạo. Ban đầu cô định quyết tâm không khai nhưng sau đó cô thiết nghĩ nông cạn rằng khai đại thiền sư Hakuin ở chùa gần nhà là khỏe nhất. Vì thiền sư vốn nổi tiếng, đông đệ tử, ai cũng kính trọng, hơn nữa thiền sư vốn từ bi nên không chối, không kiện ngược hay làm khổ cô. Thế là cô khai đứa con ấy là con của thiền sư.

Gia đình cô tức giận nhưng kiên nhẫn chờ đứa con được sinh ra buộc cô gái phải mang tới trả cho thiền sư.

Khi gia đình cô mang đưa bé tới thả vào tay thiền sư và bảo: “Đấy, con của ông đấy, ông giữ mà nuôi lấy, đồ đạo đức giả”.

Hakuin: “Thế à!”

Thông tin được loan ra và dân chúng dị nghị, nghi ngờ, xầm xì, khinh thường. Họ cho rằng ông ấy mà tu hành gì, đồ đạo đức giả… rồi đệ tử cũng dần dần bỏ ra đi gần hết.

Không có sữa cho đứa bé, đệ tử xa lánh nên đích thân thiền sư phải bồng đứa bé ngày ngày đi xin sữa, bị người đời chê bai, dè bỉu.

Một thời gian, cô gái thấy điều ấy thật nhẫn tâm và tội lỗi nên quyết tâm nói ra sự thật. Cô khai đứa bé đó là con của cô và chàng bán cá tanh hôi ở chợ.

Cha mẹ cô nghe xong liền hoảng hốt, cảm thấy tội lỗi vô cùng nên tức tốc dẫn con gái tới chùa dập đầu sám hối với thiền sư và xin cháu về.

Thiền sư nghe xong, bảo: “Thế à!”.

Sự tình câu chuyện lại được loan ra và dân chúng cũng như đệ tử cảm phục đức nhẫn nhục và tâm lượng thản nhiên tốt đẹp của thiền sư nên lần lượt kéo về và danh tiếng lại hơn xưa.

S.T.


 

Thanh niên ở Lâm Đồng chém chết cha, đánh mẹ trọng thương

Ba’o Nguoi-Viet

October 14, 2024

LÂM ĐỒNG, Việt Nam (NV) – Do mâu thuẫn gia đình, thanh niên ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, đã dùng dao chém chết cha ruột, đánh mẹ ruột trọng thương.

Hôm 14 Tháng Mười, Công An Huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, đã bắt giữ nghi can Kiều Văn Châu, 27 tuổi, ở huyện Lâm Hà, để điều tra về tội “giết người.”

Nghi can Kiều Văn Châu tại cơ quan điều tra. (Hình: Hoài Thanh/Lao Động)

Báo Lao Động dẫn tin ban đầu cho biết tối hôm qua 13 Tháng Mười, Kiều Văn Châu từ huyện Lâm Hà sang xã Đa Rsal, huyện Đam Rông, thăm cha mẹ là ông Kiều Văn Hải, 58 tuổi, và mẹ là bà Bùi Thị Liền 62 tuổi, đang làm thuê cho một cơ sở sản xuất dâu tằm.

Tại đây, sau khi uống rượu, Kiều Văn Châu và cha xảy ra mâu thuẫn, sau đó anh ta cầm dao chém ông Hải chết tại chỗ.

Chưa dừng lại, nghịch tử này còn dùng chày đánh mẹ ruột trọng thương rồi chạy vào rẫy bỏ trốn. Bà Liền được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện.

Nhận tin được báo, Công An Huyện Đam Rông đã truy lùng và bắt được nghi can Châu khi anh ta đang lẩn trốn trong khu rẫy gần nhà.

Thời gian gần đây tại Việt Nam thường xảy ra các vụ con giết cha mẹ do mâu thuẫn nhỏ trong gia đình.

Mới đây, báo Người Lao Động hôm 3 Tháng Mười, cho biết Công An Tỉnh Gia Lai cũng đã bắt giữ nghi can Nguyễn Văn Tiến, 18 tuổi, ở xã Ia Le, huyện Chư Pưh, để điều tra về tội sát hại mẹ ruột của mình là bà Lê Thị Vân, 60 tuổi, rồi giấu xác phi tang trong vườn điều gia đình ở huyện Chư Pưh.

Khai với công an, nghi can Tiến cho biết vào sáng 18 Tháng Chín, cùng mẹ mình làm cỏ tại vườn điều sau nhà. Đến trưa, Tiến hỏi xin tiền để đi chơi game nhưng bà Vân không cho và la mắng.

Công an khám nghiệm hiện trường nơi bà Lê Thị Vân bị chôn lấp sơ sài trong vườn điều đêm 26 Tháng Chín. (Hình: VNExpress)

Bực tức, Tiến đã dùng dao rựa đang cầm trong tay chém nhiều nhát vào vùng mặt, đầu… khiến bà Vân chết tại chỗ.

Sau khi gây án, Tiến đào hố cạn ở vườn điều, chôn xác nạn nhân, rồi vào nhà tắm rửa, thay quần áo, gọi người đến bán hết bò, dê trong nhà được hơn 45 triệu đồng ($1,818).

Hôm sau, Tiến bình thản mua thẻ nạp chơi game hết 5.5 triệu đồng ($222) và mua điện thoại 17 triệu đồng ($687) rồi đón xe đò đi Hà Nội. Sau đó, đi xe đò từ Hà Nội vào Sài Gòn để lẩn trốn.

Chiều 26 Tháng Chín, xác bà Vân được người dân phát hiện đã không còn nguyên vẹn, lộ hộp sọ và một phần chân tay, được chôn lấp sơ sài và đang trong quá trình phân hủy.

Qua giảo nghiệm tử thi, giới hữu trách xác định bà Vân bị “chấn thương sọ não do tác động của ngoại lực.”

Công An Tỉnh Gia Lai sau đó xác định Tiến là nghi can và ra lệnh truy tìm trên cả nước. Sau năm ngày tìm kiếm, hôm 1 Tháng Mười, công an phát hiện anh ta đang lẩn trốn tại một khách sạn ở phường Thạnh Xuân, quận 12, Sài Gòn, và tiến hành bắt giữ. (Tr.N)


 

‘Sống hạnh phúc, chết bình an’ – Tạp ghi Huy Phương

Tạp ghi Huy Phương

Sau khi ông bác họ tôi chết được ít lâu, gia đình muốn lợp lại mái nhà. Khi người ta gỡ mái tranh cũ mang đi, họ tìm thấy ba lượng vàng được gói cẩn thận trong một miếng vải đỏ, nhét trong mái tranh. Người con trưởng, bỗng nhớ những giờ phút sắp ra đi của ông cụ thân sinh, lúc không còn cử động và nói năng được, nhưng đôi mắt ông cứ đăm đăm nhìn lên mái nhà, nơi mà ông giấu mấy lượng vàng.

Tôi cũng nhớ lại, sau năm 1975, hồi đi tù Cộng Sản, ngày được lệnh đổi tiền, nhiều anh sĩ quan đang bị tập trung, đã xin phép quản giáo cho về nhà, vì những người này lỡ giấu tiền trong bộ salon ở phòng khách hay ở một góc hẻm nào trong nhà, mà không cho vợ biết, và cứ nghĩ rằng mình đi tù một hai tuần rồi sẽ được về nhà.

Đến tuổi này rồi, bạn có giấu của cải, tiền bạc ở chỗ nào, con rơi con rớt ở đâu, xin “thành thật khai báo” kẻo không còn kịp nữa.

Quả tình là không ai biết mình sẽ giã từ cuộc đời này vào lúc nào, kể cả những bệnh nhân ung thư đến thời kỳ cuối, đã được bác sĩ thông báo ngày chết. Mới vài ngày trước đây thôi, người bạn trẻ của tôi đang khỏe mạnh, nói nói cười cười, thế mà hôm nay, qua một cuộc phẫu thuật tim, thông thường sau vài ba tiếng đồng hồ sẽ tỉnh lại, anh đã không bao giờ mở mắt ra để nhìn cuộc đời này nữa. Cũng trong lúc này tôi có những người bạn nằm trong “nursing home” đã trên 10 năm dài, có người phải dùng thức ăn lỏng bơm thẳng vào dạ dày, có người đôi mắt đã hư, chỉ còn nhận ra người quen qua tiếng nói.

Nghĩ cho cùng, cái chết là tất yếu, nhưng ai biết được bao giờ mình sẽ chết? Và cũng vì không ai biết trước được ngày mình chết, nên mỗi người đều đi tìm cho mình một cách sống.

Ví như loài người trên trái đất này đến tuổi 60 tất cả đều phải chết, thì không còn ai phải sửa soạn hay dành dụm cho mình để lo cho những ngày chưa chết. Chính vì cái điều mà người ta thường gọi là số mệnh, cuộc sống lâu mau của mỗi người đã làm nên, mỗi người một hoàn cảnh, không ai giống ai. Khoa tử vi cũng không giải thích được cuộc đời của hai người song sinh, cùng cha mẹ, chào đời trong một giờ, một ngày, một năm, một tháng giống nhau.

Có ai bỏ lại được mọi sự lo lắng lại cho cuộc đời này để thanh thản ra đi.

Phải chăng vì sự lo, sợ cung tần mỹ nữ sẽ không trung thành với mình hay ích kỷ muốn mang theo những vật sở hữu của mình, mà vua Khang Hy (1654-1722) đã “chôn theo” mình toàn bộ 48 phi tần của ông.

Có người chết đi, “yêu mình” đến nỗi lo sợ sự nghiệp của mình không ai nhớ đến, nên lo đúc tượng mình khi còn sống. Nhà thơ Hàn Mặc Tử lãng mạn than khóc vì cuộc đời vốn đã bất hạnh của mình, sợ rồi khi mình nằm xuống, “không có nàng tiên mô đến khóc, đến hôn anh và rửa vết thương tâm!”

Nguyễn Du cũng ngậm ngùi “bất tri tam bách dư niên hậu, thiện hạ hà nhân khấp Tố Như?”

Làm chính trị cũng lo lắng chuyện dở dang, bất thành: -“Tôi chết thì trả thù cho tôi!”

Nhà văn Võ Phiến trước khi qua đời cũng băn khoăn: – “Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?” (Nguyễn Hưng Quốc, 1 Tháng Mười, 2015)

Thì ra, trước khi qua đời, ai cũng có cái lo, mỗi người lo một cách.

Chết rồi, có người chẳng muốn thiêu vì sợ nóng, nhưng cũng có người không muốn chôn, vì nằm đó, mà chẳng có đứa con nào viếng thăm, “thì buồn chết được!” Chết thì hẳn đã chết rồi, mà người chết rồi làm sao biết buồn nữa! Có người đã lớn tuổi, đau ốm quanh năm, muốn về Việt Nam thăm bà con một chuyến, nhưng bắt các con hứa, nếu lỡ có mệnh hệ nào, thì các con nhớ mang cha trở lại Mỹ. Có người ở tù Cộng Sản năm bảy năm, sang được Mỹ, bây giờ chết lại đòi mang quan tài về Việt Nam. Như vậy, chết vẫn chưa là hết, chết cũng còn nằm trong kế hoạch, chương trình, sau khi nắp quan tài được đậy lại.

Có những cái chết mang lại thương tiếc cho tất cả mọi người, có những tấm lòng và công việc của những người chết mà không ai có, không ai thay thế được, nhưng trái lại, có những người sống lâu, bị người đời nguyền rủa. Trong những cái “chẳng khoái ư!” của ông Lâm Ngữ Đường, tác giả kể chuyện ông Kim Thánh Thán, sáng sớm thức giấc, nghe đêm qua con người giảo quyệt, mưu mô nhất trong làng vừa chết, ông bèn “chẳng khoái ư?” Thoạt đầu, tôi trộm nghĩ, đã là con người với nhau, thằng xảo quyệt ấy chết, mình không buồn thì cũng dửng dưng, có đâu lòng dạ lại cảm thấy sung sướng được, như thế chẳng hóa ra bất nhân! Nhưng nghĩ lại, nếu mình không là nạn nhân, không là người chịu đựng những nỗi khổ đau trầm luân của người trong cuộc, thì không thể thông cảm với cái “vui” khi thấy người khác chết! Một con người hay một chế độ cũng vậy!

Sống bao lâu là đủ, chết lúc nào là vừa?

Phải chăng câu trả lời còn tùy theo sự sống của mỗi người.

Lợi ích của cây đa, cây đề là còn cho con người bóng mát, chứ không phải là nơi người ta gửi những cái ông bình vôi sứt mẻ để tạo ra một hình ảnh tôn kính quá đáng. Chúng ta chọn hình ảnh người tướng lãnh chết giữa trận tiền hay sống tàn tạ, chết già nua trong sự quên lãng của mọi người. Đối với một người lính, chúng ta chọn giữa cái chết hay sự sống dần dần phai nhạt?

Chưa có ai từ cõi chết trở lại cõi sống để mô tả cho con người biết cái chết, cũng không có bằng chứng khoa học về ý thức sự sống sau cái chết của một sinh vật, nhưng hầu hết tôn giáo đều cho rằng nếu chúng ta hình dung cái chết như là một sự biến mất, một sự chấm dứt, không còn lưu lại gì cả thì nhất định đó là một sự sai lầm.

Nhưng có một điều chúng ta ai cũng phải nghĩ đến là có sinh thì có diệt, có sống tất phải có cái chết!

“Chẳng ai sống đời đời, kiếp kiếp, chẳng cái gì vĩnh viễn không phai. Này, anh em nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống…” “Thi nhân, riêng mình, nào phải viết bài thơ trường cửu. Hoa nở rồi tàn. Và, ai đó đã cài hoa lên áo, cũng chẳng cần khóc thương mãi mãi làm gì. Đấy, anh em, nhớ kỹ điều đó, và vui lên mà sống.” (Rabindranath Tagore – Đỗ Khánh Hoan dịch)

Alan Phan là một doanh nhân nổi tiếng, từng tổ chức và hoàn tất chuyển giao 18,000 xe lăn tại Việt Nam và Indonesia, vừa qua đời, tạm khép lại giấc mơ ông đang ấp ủ cho quê nhà: “20 triệu máy tính cho trẻ em Việt Nam.” Tuy vậy, chỉ ba tháng trước khi ra đi, cảm nhận được những bất trắc của cuộc đời, Alan Phan đã bình thản nhận mình “rất bình an với những gì mình đã có, đã mất, đã thua, đã thắng, nghĩa là cái chuyện nó đã xảy ra rồi, thế thôi.”

Trên mọi sự, ông đã không những “forget” mà còn “forgive!”

(Nhân ngày tiễn đưa Tiễn Sĩ Alan Phan, 25 Tháng Mười Một, 2015)


 

Elon Musk ra mắt taxi rô-bốt-VOA

Ba’o VOA

12/10/2024

Taxi rô-bốt của Tesla ra mắt tại Los Angeles, California, ngày 10/10/2024.

Tỷ phú Elon Musk trình làng một chiếc taxi rô-bốt có hai cửa cánh chim mà không có vô lăng hoặc bàn đạp tại một sự kiện hoành tráng hôm 10/10 và bổ sung thêm một chiếc xe van rô-bốt vào danh sách khi mục tiêu của Tesla chuyển từ nhà sản xuất ô tô đại chúng giá rẻ sang nhà sản xuất xe rô-bốt.

Ông Musk cho biết chiếc taxi rô-bốt sẽ được đưa vào sản xuất vào năm 2026, với giá dưới 30.000 đô la.

Và ông cho biết xe tự lái thực sự cuối cùng cũng sẽ xuất hiện:

“Chúng ta sẽ chuyển từ xe tự lái hoàn toàn có giám sát sang xe tự lái hoàn toàn không có giám sát, khi đó xe… bạn có thể ngủ quên và thức dậy tại điểm đến của mình,” ông Musk nói.

Ông cũng giới thiệu một chiếc xe tự lái lớn hơn – gọi là Robovan – có thể chở tới 20 người.

Buổi ra mắt là một phần trong động thái đổi thương hiệu Tesla thành một công ty chế tạo rô-bốt, thay vì là một nhà sản xuất ô tô đại chúng.

Robot Optimus hình người của công ty cũng được trưng bày để nhấn mạnh quan điểm này.

Sự kiện này đã khơi dậy sự nhiệt tình lớn trong số những người hâm mộ, với lời hứa rằng chủ sở hữu sẽ có thể kiếm tiền bằng cách cho thuê xe của họ làm taxi.

“Xe chở khách trung bình của bạn chỉ được sử dụng khoảng 10 giờ một tuần trong tổng số 168 giờ. Vì vậy, phần lớn thời gian, ô tô không làm gì cả. Nhưng nếu chúng tự động, chúng có thể được sử dụng nhiều hơn năm lần. Có thể là 10 lần,” ông Musk nói.

Tuy nhiên, một số nhà quan sát tỏ ra hoài nghi hơn.

Một cổ đông nói với Reuters rằng ông thất vọng vì chưa có khung thời gian rõ ràng cho dịch vụ taxi rô-bốt.

Các nhà đầu tư khác lưu ý rằng Tesla không cung cấp thông tin chi tiết về tốc độ tăng sản lượng và cách công ty có thể vượt qua những lo ngại về quy định về an toàn.

Các chiếc taxi tự vận hành này dựa vào công nghệ AI và camera để di chuyển, loại bỏ các cảm biến khác mà các đối thủ như Waymo của Alphabet sử dụng.

Các chuyên gia cho biết cách tiếp cận đó cắt giảm đáng kể chi phí, nhưng cũng đặt ra những thách thức kỹ thuật rất lớn.

Năm 2019, ông Musk từng hứa sẽ đưa taxi rô-bốt ra thị trường vào năm sau. 


 

 Người dân bị triệu tập, hù dọa vì nêu phản đối trên Facebook ở Đà Lạt

Bao Dat Viet

October 13, 2024

Gần đây, ít nhất năm người dân tại Đà Lạt đã bị công an triệu tập vì đăng tải những bình luận chỉ trích trên Facebook về một hoạt động diễn tập chống bạo động do công an tổ chức. Buổi diễn tập này, diễn ra từ ngày 12/10, thuộc khuôn khổ Đại hội khỏe “Vì An ninh Tổ quốc” lần thứ IX và Hội thi điều lệnh, quân sự, võ thuật CAND lần thứ VI – Khu vực 3, với sự tham gia của 2.500 cán bộ chiến sĩ công an từ 20 tỉnh thành phía Nam.

Theo thông tin từ truyền thông Nhà nước, ba trong số những người bị triệu tập là ông N.Đ.T. (53 tuổi), ông B.V.T. (39 tuổi), và ông V.M.N. (40 tuổi), đều là cư dân Đà Lạt. Họ bị cáo buộc đăng tải nội dung sai sự thật và xuyên tạc về các hoạt động của đoàn mô tô hộ tống danh dự và Trung đoàn Cảnh sát Cơ động Kỵ binh Công an Nhân dân trên mạng xã hội. Những bình luận của họ đã thu hút sự chú ý với những lời chỉ trích gay gắt như việc lực lượng công an “chạy xe thả hai tay, lạng lách đánh võng” và “không tôn trọng pháp luật”.

Ngoài ra, hai người khác cũng bị triệu tập, là quản trị viên của các trang cộng đồng lớn tại Đà Lạt. Bà T.H. (42 tuổi) và ông M.Đ. (33 tuổi) đã đăng tải các nội dung mỉa mai, trong đó bà T.H. ám chỉ hoạt động của Trung đoàn Cảnh sát Cơ động Kỵ binh là “dịch vụ cưỡi ngựa ngắm hồ Xuân Hương”. Cả hai đều bị cáo buộc phát tán những thông tin sai lệch về sự kiện này.

Một chi tiết đáng chú ý khác trong vụ việc là sự so sánh giữa đoàn mô tô của công an với trường hợp của người mẫu Ngọc Trinh. Trước đó, vào tháng 2 năm nay, Ngọc Trinh bị tuyên án tù treo một năm về tội “gây rối trật tự công cộng” sau khi thực hiện hành vi điều khiển xe phân khối lớn trên đường phố TP Thủ Đức. Sự kiện này đã gây tranh cãi khi nhiều người cho rằng việc xử phạt không công bằng, đặc biệt khi so sánh với những gì xảy ra trong buổi diễn tập.

Công an Lâm Đồng đã lên tiếng cảnh báo rằng việc đăng tải các thông tin xuyên tạc và sai sự thật về hoạt động này là vi phạm pháp luật và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đại hội khỏe “Vì An ninh Tổ quốc” và Hội thi võ thuật, điều lệnh của Bộ Công an. Truyền thông Nhà nước nhấn mạnh rằng những bình luận trên mạng xã hội đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của lực lượng công an và sự kiện.

Vụ việc này một lần nữa cho thấy sự nhạy cảm của các hoạt động liên quan đến an ninh trật tự và cách mà chính quyền xử lý những thông tin chỉ trích trên không gian mạng.


 

Sổ Tay Thượng Dân K’ Tiên – Hà Giang

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

13/10/2024

Trước khi “tập kết ngược” (trở lại miền Nam) vào năm 1962, Nguyên Ngọc có thời gian lang thang ở cao nguyên Đồng Văn – Mèo Vạc. “Mùa Hoa Thuốc Phiện Cuối Cùng” là chuyện viết về người thật việc thật, nơi vùng giới tuyến (Việt/Hoa) này.

“Đây cũng là một truyện ngắn hay của ông. Cô gái Mèo Vàng Thị Mỹ ở với bố trên những đỉnh núi cao quanh năm mây phủ. Ở đó nếu có khách tới nhà thì chỉ là thú rừng thôi. Cô bé thấy thèm người. Rồi ông bố cho cô đến với người.

Đó là một phiên chợ. Cơ man nào là người. Ông bố bán thuốc phiện, một thứ vàng đen, mong giúp con gái đổi đời. Nhưng bị trả quá rẻ, ông không bán. Thế rồi dọc đường trở về, bố con ông bị bọn người đó chặn lại. Chúng cướp không số thuốc phiện rồi bắn chết ông.

Cô bé may mà thoát chết. Rồi cô được một bà goá đem về nuôi. Năm 13 tuổi, cô bị gả chồng. Chồng cô là thằng bé mới 7 tuổi, con lão chúa đất. Ngày về nhà chồng, cô khóc nhiều lắm. Khóc vì không được cô độc sống giữa các vách núi. Cô lại phải đến với người.

Ở nhà chồng, cô bỗng nhận ra bố chồng là một tên dã thú đã giết bố cô. Thế là cô bỏ trốn. Bây giờ thì cô sợ phải gặp người. Cứ thấy làng, thấy người là cô tránh. Cô đi lang thang rồi lạc vào rừng. Hoang mang và đói lả, cô ngồi thụp xuống bên hang đá, thiếp đi. Rồi cô chợt bừng tỉnh khi thấy trong hang lại có tiếng người.

Thế là cô bé lại vùng dậy chạy. Nhưng không còn sức chạy nữa. Cô lại phải gặp người. Không phải người thú mà người cách mạng. Chính người cách mạng đó đã cứu cô. Rồi cô gặp Đảng. Đảng chỉ cho cô đường đi, nước bước. Đảng bảo phải bỏ cây thuốc phiện. Nó chính là nguồn gốc mọi nỗi đau khổ của người Mèo. Phải phá bỏ cây thuốc phiện trồng ngô sắn. Rồi Nguyên Ngọc còn để cô Vàng Thị Mỹ nói với đồng bào Mèo nguyên văn như thế này: ‘Ngày xưa, người đối với người coi nhau như thú dữ, bây giờ có Đảng, có chính phủ, có Cụ Hồ, người với người mới tin nhau, giúp nhau như thể anh em một nhà vậy. Đó là bản chất của Chủ nghĩa xã hội đấy, bà con ạ…”  (Trần Đăng Khoa. Chân Dung Và Đối Thoại. NXB Thanh Niên: 1998).

Với thời gian, cái “bản chất của Chủ Nghĩa Xã Hội đấy” – mỗi lúc – được “bà con”  nhận thức rõ ràng hơn. Năm 1991, Nguyên Ngọc có dịp quay lại Hà Giang. Vẫn cảnh cũ, người xưa nhưng nỗi lạc quan của nhà văn thì đã hoàn toàn tan biến:

Phiên chợ Mèo Vạc nghèo và buồn. Phải nói thật điều này thôi: không bằng 30 năm trước. Không còn những chõ xôi vàng rực, chỉ nhìn đủ thèm. Không còn những gói hoàng tinh (mà ở đây người ta gọi là voòng chính) mỡ màng chất đầy các củi tấu.

Không còn những chú lợn béo ụ được dòng dây vào cổ, người bán người mua thách và mặc cả ầm ĩ… không còn thấy cảnh các đôi trai gái say mèm, người con trai cầm khèn vừa nhảy lò cò vừa thổi, người con gái cầm ô xanh đỏ hát dìu dặt Tu tè chí dù mưng, rồi dìu nhau vào các hốc đá tiếp tục cuộc tình đắm đuối cho đến tối mịt… Mới trưa chợ đã vãn. Không gì bộc lộ rõ rệt đời sống của người dân bằng cái chợ… (Nguyên Ngọc. “Trở Lại Mèo Vạc”).

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng “buông một tiếng thở dài” tương tự khi bước chân đến cái cao nguyên đá dựng này: “Người ta nói, đi qua một khu chợ sẽ biết đời sống của cư dân ở đó. Mình tin điều đó. Và nhìn món hàng bày trước mặt những người phụ nữ vùng cao, mình hình dung được nồi cơm, căn bếp, cuộc đời…”

Những sản phẩm mà Nguyễn Ngọc Tư “nhìn” được ở chợ Hà Giang hồi mười năm trước (“nụm nịu một hai nải chuối, co ro vài ba bó củi”) hay hình ảnh những em bé H’Mong đang ngồi vật vạ (bên mấy mớ rau rừng) ngày nay giúp cho kẻ ở miền xuôi “hình dung được nồi cơm, căn bếp, cuộc đời…” của đồng bào nơi mạn ngược.

Vấn đề của họ cũng không chỉ giới hạn vào “nồi cơm” hay “căn bếp.” Những cuộc nổi dậy liên tiếp (vào những năm 2001, 2004, và 2011) cho thấy sự bất ổn và khủng hoảng trầm trọng trong cuộc sống của người dân bản địa tại Việt Nam, ở rất nhiều nơi.

Phóng viên  Thanh Trúc (RFA) tường thuật: “Từ một thập niên trở lại đây, vì thường xuyên bị sách nhiễu và gây khó dễ trong cuộc sống, nhiều người H’mong, phần lớn đi đạo Tin Lành và thường tụ họp để thờ phượng Chúa như họ kể, từ Điện Biên, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang… vượt biên giới sang Lào rồi tìm đường sang Thái Lan xin tị nạn.”

Kể từ “Mùa Hoa Thuốc Phiện Cuối Cùng”, cho đến khi xẩy ra cuộc Chiến Tranh Biên Giới Việt – Trung (Sino -Vietnamese War) nhà đương cuộc Hà Nội – dường như – không hề có bất cứ một dự án hay hành động thiết thực nào để để giúp đỡ người H’Mong cả.

Hệ quả, hay hậu quả, nhãn tiền: “Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Ðó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc.” (Lý Hồng Xuân. Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn. NXB Văn Nghệ: 2000).

Thêm gần nửa thế kỷ đã qua, và những “chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” – xem chừng – mỗi lúc một thêm tệ hại. Người H’Mong vẫn bị bỏ mặc cho chính quyền địa phương áp bức hay dầy xéo. Công luận đã từng biết đến tên tuổi những quan chức “khét tiếng” ở Hà Giang (Sầm Đức Xương, Nguyễn Trường Tô, Triệu Tài Vinh, Vũ Trọng Lương) và vô số tệ trạng nơi đây.

“Thật sự chưa có con đường ra cho cái cao nguyên đá kỳ dị này” là nguyên văn lời của Nguyên Ngọc, cùng nỗi “ấm ức” của ông:.

Ba mươi năm trước, người H’mông chuyên trồng loại cây đắt giá nhất, kỳ ảo nhất, say đắm nhất trên đời này: cây thuốc phiện.

Bây giờ thuốc phiện bị cấm rồi. Thay bằng cây ngô. Trồng ngô ở đây, thì chết đói.

Trồng thuốc phiện – thì hư hỏng. Hư hỏng cả xã hội.

Làm sao?

Cuộc nổi phỉ và cuộc tiễu phỉ ác liệt năm 1959, với tất cả sự đan chen vô cùng phức tạp của các mưu đồ chính trị lớn và nhỏ, trong nước ngoài nước… đều dính líu chằng chịt đến chuyện trồng cái cây gì trên bụm đất nhỏ xíu còn sót lại giữa các hốc đá nham nhở nơi này.

 Trồng cây gì?

Câu hỏi chừng đơn giản vậy mà đẫm máu, mà chi phối khắc nghiệt số phận hàng vạn con người, từng số phận con người, từng chặng đường số phận mỗi con người…

Tôi liều mạng bục ra một câu hỏi kỳ thực vẫn ấm ức từ lâu:  Hay trở lại cây thuốc phiện?

“Trở lại” e đã muộn. Bây giờ thì chất gây nghiện có thể chế tạo bằng nhiều thứ hoá chất chứ không nhất thiết phải cần đến nhựa của hoa Anh Túc nữa. Và “xã hội thì hư hỏng” hết rồi. Ma túy đã được vận chuyển (theo đơn vị tấn) đi khắp mọi nơi:

Cái ảo vọng của Tố Hữu về tình hữu nghị (bên ni biên giới là mình/bên kia biên giới cũng tình quê hương) cũng đã tan vỡ từ lâu. Sớm muộn gì thì “bọn bành trướng Bắc Kinh” cũng sẽ “tràn sang” lần nữa thôi, trong khi “những chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” thì vẫn cứ tiếp tục xô đẩy người dân về phía kẻ thù!

Chả phải vô cớ mà tiếng nói của Nguyên Ngọc bỗng trở nên tiếng cú: “Chế độ này thế nào cũng sụp đổ. Nhưng không biết nó sẽ sụp đổ theo kịch bản nào?” Kịch bản nào cũng được vì ngày nào mà cái chính thể hiện hành còn tồn tại thì cả nước Việt sẽ không có lối ra, chứ chả riêng chi vùng cao nguyên Đồng Văn – Mèo Vạc. 


 

CÁI TÌNH NGƯỜI SÀI GÒN VẪN CÒN Ở ĐÂY…!

Quán cơm gà dọn tối muộn. Có chú bán hàng rong ngập ngừng bước vào hỏi giá..

Cô chủ quán, trả lời:

– 30.000 ngàn một phần, nếu thêm gà thì 40.000 ngàn.

Chú lại ngập ngừng:

– Hỏi cô làm tui một hộp 15.000 ngàn được không…? Chỉ cho tui tí xíu thịt gà thôi cũng được….!

Cô chủ cười cười, nói “ô kê…., chú chờ chút nha…!”

Lát sau, cô dúi vào tay chú một hộp cơm gà. Cái hộp cơm gà mà cô chủ mới làm xong đó… Chao ôi là đầy ắp cả gà lẫn cơm, chắc gấp đôi cái dĩa mình đang ăn…?

Chú ngại…, nói là để chú gửi thêm tiền. Nhưng cô xua tay bảo là quán sắp nghỉ, nên còn bao nhiêu đó, tui cho chú hết, chứ để qua ngày mai nó cũng không còn ngon… Cô nói vậy, để cho chú lấy thôi chứ mình thừa biết còn lâu cô mới nghỉ quán…

Chú cảm ơn cô rồi đạp xe đi, chẳng biết về phòng trọ trong xóm nhỏ hay lại dọc ngang những con đường phố thị để mưu sinh mình cũng không biết nữa…? Nhưng mình biết hôm nay, lòng chú cũng như lòng mình, đã có thêm một điều ấm áp…!

Hộp cơm gà đó, có lẽ lỗ mất mấy mươi ngàn rồi…!

Nhưng cô chủ quán biết không…?

Cô vừa “lời” được cả một tấm lòng rồi đấy…!

(Đinh Trực sưu tầm)


 

Quà Tặng Thứ Hai Của Cuộc Đời – Trần An Bình Lược Dịch-Truyện ngắn HAY

Ở bệnh viện tổng quát Massachusetts, cô gái 20 tuổi Alicia Sferrino cùng cha mẹ đang ngồi nghe bác sĩ Leslie Fang, bác sĩ chuyên khoa về thận chẩn bịnh: “Cô có chứng nephritis, một chứng sưng thận bất bình thường… thận cô bị hư hại đến 95%…”

Alicia bị biến sắc ngay. Hai hàm răng nghiến lại, trả lời trong cổ họng: “OK, thận tôi đang gặp biến chứng, khi nào thì tôi bắt đầu được chửa trị?

Bác sĩ Fang cho biết: “Tôi rất tiếc, trường hợp của cô không thể đảo ngược được. Trong thời gian tới cô sẽ phải dùng cách lọc thận (dialysis).

Alicia bị sốc mạnh. Chỉ vài tuần trước đây thôi cô rất khỏe.

– “Có cách nào thay thế không, thưa bác sĩ?” Mẹ cô vọt miệng hỏi thêm.

Bác sĩ trả lời:

– Chỉ có cách duy nhất. Nếu chúng ta tìm được người hiến thận thích hợp, thì chúng ta có thể giải phẩu ghép thận.

Sau đó bác sĩ mời Deanne và Vincent (mẹ và cha) cô gái sang phòng riêng hỏi chuyện.

Bác sĩ cho biết:

– Việc ghép thận rất hạn chế. Người xin ghép thận phải nằm trong danh sách chờ đợi hơn 2 năm. Nên nếu người thân trong gia đình có cùng loại máu, cùng loại mô thì việc ghép nhanh hơn. Nếu ông bà sẵn sàng, tôi sẽ cho thử ngay bây giờ để coi ai có thận phù hợp với cháu.

Mặt bà Deanne thay đổi nhanh.

Ông Vincent thì trả lời thầm thì:

– Alicia là con nuôi của chúng tôi. Chúng tôi không biết mẹ cháu giờ đang ở nơi đâu nữa.

Bác sĩ Fang, ngữa lưng ra ghế trong vẻ thất vọng:

– Chúng ta chỉ có thời gian rất ngắn để tìm ra ba mẹ cô ấy.

Vincent là kỷ sư làm việc cho đại học MIT thuộc phòng thí nghiệm Lincoln; và Deanne, mẹ nuôi của em là thư ký. Họ xin được Alicia lúc cô bé mới 5 tháng. Họ luôn mơ ước có thêm đứa con gái để cùng chơi với đứa trai, 4 tuổi, cũng là con nuôi. Đứa bé 5 tháng tuổi có mắt xanh đẹp vô cùng.

Alicia mang lại niềm vui, hạnh phúc, mang lại nhiều sinh khí cho cả gia đình. Mặc dù cô cao có 1.5m nhưng cô trở thành ngôi sao thể thao, môn hockey, cho trường trung học của cô. Sau đó cô học hai năm trường cao đẳng, ra trường cô làm cho công ty quần áo Calvin Klein, nơi đó cô phải làm theo những điều kiện rất khắc khe. Cô không bao giờ lùi bước trước những thử thách.

Bây giờ là giai đoạn Vincent và Deanne phải đối đầu với thử thách to lớn: Đi tìm cha mẹ ruột của Alicia. Deanne nghĩ về qua khứ em bé bị bỏ rơi và thì thầm với chồng

– “Nếu tìm gặp, họ không nhìn nhận, họ chối từ thì sẽ là một việc đớn đau hơn nữa. Cho nên tốt hơn không cho Alicia biết về vấn đề con nuôi, và cũng không cho biết họ đang đi tìm cha mẹ ruột Alicia ”.

*

Vincent xin và được sự cho phép của tòa án để lục lại hồ sơ cho và nhận con nuôi. Tìm được khai sanh gốc của em, tên người mẹ là Ruth Chiasson. Hồ sơ cũng cho biết bà Chiasson sống ở vùng Framingham, Massachusetts. Nhưng địa chỉ nầy đã 20 năm rồi.

Những ngày sau đó Vincent và Deanne liên lạc không ngừng nghỉ, điên thoại đến bất cứ người nào mang họ Chiasson trong vùng Framingham. Không kết quả, không ai biết bà Ruth Chiasson cả.

Đến cuối tháng Hai, căn bệnh của Alicia cần có sự truyền máu. Đây là một ác mộng của em. Em nói như một lời thề nguyền đến người chồng sắp cưới, là sinh viên học ngành kỷ sư :

– Em không muốn anh phải gánh vác trách nhiệm phải chăm sóc em suốt cả đời nữa.

Người chồng sắp cưới trả lời:

– Đừng nói như vậy.

Cái viễn ảnh sẽ mất Alicia làm Jeff đau khổ tột cùng.

Đến tháng Ba sức nặng của cô giảm đáng kể từ 43 kí xuống còn 36 kí. Cô ta quá yếu để làm việc. Những thuốc men để củng cố quả thận gây cho cô những cơn đau khủng khiếp.

Nhìn con đau đớn làm Vincent cảm thấy như đang ở bến bờ của tuyệt vọng. Nhưng ông nghĩ: ”Phải có một cách gì đó cứu được con chúng ta”.

Vào một buổi sáng, Vincent ngồi trong văn phòng làm việc, ông kiểm điểm lại danh sách hai vợ chồng đã liên lạc. Tất cả các người có họ Chiasson ở vùng Framingham, tất cả các cơ sở công mà nắm giữ hồ sơ khai sanh, khoảng một tá các văn phòng thư viện và các văn phòng lưu giữ danh sách các người bầu cử. Tất cả các số điện thoại đều gọi qua chỉ trừ một người ông chưa gọi. Người nầy tên là Michael Ward, ông nầy là thư ký tòa hành chánh thành phố Framingham. Vincent vừa vái lầm thầm vừa bấm số điện thoại.

Ông Ward trả lời, ông Vincent giải thích lý do tại sao ông gọi và nhờ sự giúp đở của ông.

Ngưng vài giây ngắn ngủi, Ward trả lời:

– Lâu rồi tôi biết một ông tên Paul Foisy, ông nầy cưới một bà tên Ruth Chiasson. Nhưng họ đã ly dị lâu rồi và dọn đi vùng khác sống từ lâu.

– Ông còn nhớ điều gì khác nữa không?

– Chúng tôi còn giữ một số hồ sơ cũ, tôi sẽ lục lạo tìm thêm, tôi sẽ điện lại ông sau nhe.

Vincent cám ơn rối rít và cúp máy. Một giờ trôi qua, đó là thời gian dài nhất trong cuộc đời của Vincent.

Rồi điện thoại reo. Ông Ward cho biết thêm:

– Tôi có thêm một ít thông tin này, Ông Cha Barrett đứng ra làm lễ kết hôn cho họ tại nhà thờ St George ở Framingham. Bây giờ anh liên lạc với ông linh mục nầy có thể ông ta biết bà Ruth hiện giờ ở đâu.

Vincent vội vàng cám ơn và cúp máy.

Ông vội vàng bấm số nhà thờ St George , giọng người đàn bà trả lời:

– Thưa ông, Cha Barrett đã không phục vụ tại đây hơn 10 năm rồi.

– Thế có ai biết Cha Barrett hiện giờ ở đâu không ?

Ông Vincent chờ trên đầu giây một hồi, bà trả lời:

– Cha Barrett hiện giờ phục vụ ở nhà thờ St John, Evangelist Catholic Church ở thành phố Chelmsford.

– Cám ơn bà thật nhiều.

Chelmsford chỉ là thành phố kế bên của Framingham thôi. Tim của Vincent đập thình thịch, hồi hộp ông rà từng dòng các số phone của nhà thờ. Bấm số xong, giọng người đàn ông trả lời.

Vincent đã mất bình tỉnh, giọng run run cho biết:

– Thưa ông, tôi xin được nói chuyện với Cha Barrett.

– Dạ vâng, tôi đang nói đây.

Vincent hít một hơi thở thật sâu rồi cho biết tự sự…

**

Vào buổi chiều ngày 29 tháng Ba, một người đàn bà quẹo vô và ngưng lại trước nhà ở Sunrise , Florida; bà vói lấy xấp thư từ thùng thư. Người đàn bà 37 tuổi, người đầy năng lực ấy là Ruth Foisy, hôm nay đã làm việc 10 giờ đồng hồ rồi. Bà quản lý một quán cà phê trong vùng.

Ba đứa con Barbie 17 tuổi, Renee 14 tuổi và Paul 11 tuổi – hôm nay chúng còn đang ở trường nên Ruth có vài giờ ở nhà cho đến giờ đi đón con. Bà ngồi vào ghế mở thư ra đọc. Bà ngạc nhiên khi nhìn vào bao thư tên người gởi là Cha Barrett.

Bà nghĩ: ”chúng ta đã mất liên lạc nhau hơn 10 năm nay rồi mà? Chuyện gì mà Cha lại liên lạc con?

Bà xé bao thư ra đọc, bên trong không phải thư của Cha Barrett. Trong thư bắt đầu với đoạn: “Lá thư nầy có thể làm bà ngạc nhiên ghê lắm, nhưng tôi tin rằng bà hiểu về lòng nhân ái và muốn được thực thi lòng nhân”.

Ruth tiếp tục đọc mà nước mắt lưng tròng. Trong thư cho biết thêm Alicia đang rất cần được sự hiến thận… “ Chúng tôi rất thông cảm nổi khó khăn cho bà khi đi đến quyết định.” Vincent và Deanne viết tiếp: ”Chúng tôi chỉ xin một điều duy nhất bà hãy quyết định cẩn thận với đầy lòng từ tâm”.

Ruth bắt đầu khóc và trí nhớ bà lùi lại 20 năm trước. Ở tuổi 17 bà sinh ra một đứa con gái thật đẹp bà đặt tên là Patricia Ann. Bà và người bạn trai đều muốn cưới nhau nhưng mẹ của bà nhất định từ chối và ép bà phải cho đi đứa con. Ở văn phòng tiếp nhận những đứa con rơi, Ruth đã do dự, đắn đo, suy nghĩ đến 4 giờ đồng hồ mới có thể đặt bút ký giấy cho con.

Nhiều tháng sau đó, Ruth khóc thường xuyên cho đứa con bị bỏ đi. Và mỗi năm cứ đến ngày 7 tháng 12 bà cứ đốt lên cây đèn cầy để tưởng nhớ về ngày sinh nhật của đứa con bỏ rơi.

Ruth suy nghĩ: “Bây giờ tên con là Alicia, và con đang cần mẹ”.

Lúc sau các con đi học về. Đôi mắt còn rươm rướm mà kể cho các con nghe. Và lần đầu tiên các con Ruth mới biết chúng có thêm người chị cùng mẹ khác cha.

Sau đó, Barbie đến ôm chầm lấy mẹ: “Mẹ cứ quyết định đi, mẹ quyết định thế nào con cũng ủng hộ mẹ hết mình”.

Cuối tháng 4, Vincent và Deanne quá nôn nóng vì đã 4 tuần lễ trôi qua từ khi hai ông bà đưa thư nhờ Cha Barrett chuyển đến Ruth. Lúc nầy Alicia đã quá yếu rồi. Vincent điện thoại đến Cha Barrett lần nữa để hỏi. Cha Barrett vừa nhấc điện thoại của Vincent là Cha nói như hét trong cơn vui mừng: “Lạy Chúa, bà Ruth Foisy đã đồng ý sẵn sàng hiến nội tạng”.

Ruth đến Boston ngày 2 tháng 6 và được thử máu ngay tại bệnh viện Massachusetts. Kết quả, thận của Ruth rất hợp với Alicia.

Alicia và Vincent đến gặp bác sĩ Fang, cho bác sĩ biết họ đã tìm được người hiến thận. Đó là người mẹ ruột của Alicia. Đến lúc nầy họ mới kể cho Alicia quá trình gian nan để đi tìm mẹ ruột và bấy giờ Alicia mới biết cô chỉ là con nuôi.

Hai ngày sau Ruth hồi hộp ngồi trong phòng chờ đợi của bác sĩ Fang. Ruth và Alicia sắp sửa gặp mặt nhau. Ruth nhớ lại, 20 năm trước, em bé nhỏ xíu nắm chặt lấy ngón út của mẹ và khóc không muốn rời. ”Liệu cô bé này sẽ còn tức giận ở ta?”

Vài phút sau, Ruth chạm mặt với cô gái trẻ đẹp. Ruth xúc động chảy nước mắt, bà thì thầm: ”Mẹ không biết nói sao nữa”.

Alicia ôm chầm lấy bà và thì thầm:

”Không sao mẹ”.

Tối hôm sau Alicia và Ruth gặp nhau tại nhà hàng cho buổi ăn tối. Sau phút đầu hồi hộp. Alicia đã nêu câu hỏi mà nàng ấp ủ:

– “Tại sao mẹ phải bỏ rơi con?”.

Ruth nhìn về hướng khác vài giây rồi nhìn thẳng vào mắt Alicia:

– “Làm ơn tin tưởng vào lời mẹ, mẹ đã không muốn vậy!”

Ruth kể cho Alicia biết về tuổi trẻ phải mang thai, về những thời gian đau khổ sau khi phải cho đi con mình…Alicia chồm người sang nắm chặt tay mẹ; với hành động nầy Ruth đã hiểu con đã tha thứ lỗi lầm của mẹ.

*

Cuộc giải phẫu lúc 11 sáng ngày 12 tháng 6 tại bệnh viện Massachusetts bởi hai nhóm bác sĩ. Bác sĩ cắt lấy quả thận của Ruth bỏ vô hộp chứa dung dịch lỏng đoạn đẩy sang phòng giải phẫu kế bên. Nhóm bác sĩ khác cắt phần bụng phía trước Alicia đưa vào quả thận lành mạnh.

Năm giờ sau, bác sĩ trưởng nhóm giải phẫu bước ra tiến đến nơi Vincent, Deanne, Michael và Jeff đang chờ đợi. Bác sĩ cười và lên tiếng, ”Cả hai đều khỏe”.

Ngày hôm sau, mặc dù vẫn còn đau các y tá đưa Ruth đến phòng Alicia. Đang nằm trên giường Alicia đưa tay nắm lấy tay Ruth:

– “Cám ơn mẹ đã cho con cuộc đời”.

Sau khi bình phục hoàn toàn, Alicia làm lễ kết hôn với Jeff. Năm 1966 họ sinh ra bé gái đặt tên là Ashley Ann.

Nguồn: FB Tran An Bình.